THIỀN ĐỊNH VỀ ĐẠI THÀNH
TỰU
Ngài Dilgo Khyentse
Rinpoche
Được
sự cho phép của Shechen Gompa, Boudhanath,
http://
shechen.12pt.com/index.html
Cư sĩ Liên Hoa dịch
PHẬT
TÁNH
Có thực sự
tôi đang hành th́ền đúng không? Khi nào th́ tôi có thể đạt
được tiến bộ? Hay sẽ không bao giờ tôi đạt
đến tŕnh độ như Thầy Tâm Linh của tôi?
Tâm chúng ta sẽ không bao giờ an lạc khi bị giằng
co giữa hy vọng và ngờ vực,
Theo như
tâm t́nh chúng ta, có ngày chúng ta tu tập rất tinh tấn và
ngày kế, lại buông xuôi tất cả. Chúng ta bám víu vào những
kinh nghiệm dễ duôi khiến chúng ta rơi vào tâm trạng
ổn định, nên muốn bỏ hành thiền khi để
buông xuôi theo những ḍng chảy của tư tưởng.
Đó không phải là con đường đúng để thực
hành.
Bất cứ trạng thái tư tưởng
của chúng ta như thế nào, chúng ta phải kiên quyết
thực tập thường xuyên, từng ngày một, quan
sát những chuyển đổi của tư tưởng
và theo nó trở về đến tận nguồn. Chúng ta đừng
mong đợi khả năng duy tŕ ngay tức khắc những
ḍng tư tưởng qua sự thiền định trong suốt
ngày và đêm.
Khi chúng ta khởi
đầu thiền quán về chân tâm, nên chia thời để
hành thiền, vài lần trong một ngày. Với sự kiên
nhẫn, chúng ta sẽ đạt đến tâm được
thanh tịnh và sự chứng đắc nầy sẽ trở
nên vững bền. Vào giai đoạn nầy, vọng tưởng
sẽ mất năng lực làm quấy nhiễu và chế
ngự chúng ta.
Vô Ngă, bản
thể tối thượng của Pháp thân, đó là Tuyệt
đối Thân, không có nghiă là hư vô. Nó sở hữu bản
thể sáng suốt của tất cả mọi hiện tượng
tướng. Bản thể nầy là phương diện
sáng suốt hay nhận thức của Pháp thân được
biểu lộ tự nhiên. Pháp thân không phải là sản phẩm
của những nhân duyên hay điều kiện nào, mà là căn
nguyên của Chân tâm.
Nhận thức
được căn tính nầy như sự toả sáng của
mặt trời trí tuệ trong đêm tối vô minh: Bóng tối
tức khắc tan biến. Ánh sáng của Pháp thân không có khi
tṛn hay khuyết như mặt trăng, mà nó giống như
ánh sáng toả chiếu bất di bất dịch taị tâm điểm
cuả thái dương .
Dù bất cứ
khi nào bị mây mù che phủ, bản chất của bầu
trời không bị bại hoại, và khi mây tan, nó vẫn b́nh
thường. Bầu trời không phải trở nên thu hẹp
hay nở rộng ra. Nó vẫn như vậy, không thay đổi.
Nó cũng tương tự như Bản thể cuả tâm:
Nó không bị hũy hoại bởi những tư tưởng
đến hoặc phát triển thêm khi ḍng tưởng biến
mất. Bản thể của tâm là vô ngă, tự nó hiển
lộ trong sáng. Hai phương diện nầy rất thiết
yếu như một h́nh ảnh đơn cử để
chỉ cho những mặt khác nhau của tâm. Thật là vô ích
khi bám vào khái niệm về vô ngă và từ đó mà tánh sáng suốt,
như nó là một hữu thể tồn tại độc
lập. Căn tánh tối thượng vượt trên những
khái niệm, mọi định danh hay mọi chia cắt .
Một đứa
trẻ nói rằng: “Tôi có thể đi trên mây”. Nhưng khi nó
đi trên mậy, nó không thể t́m bất cứ chỗ nào
để đặt chân. Cũng như vậy, nếu một
hành giả không quán sát tư tưởng, thấy chúng biểu
lộ với một bề ngoài vững chắc, nhưng nếu
thường quán chiếu nó, tự tánh nó không có ǵ. Đó là
lư do tại sao nó được gọi cùng lúc là vô ngă và biểu
hiện. Tánh không của tâm không có nghiă là hư vô, hoặc là
trạng thái bất động, mà nó là bản thể sáng
suốt được gọi là Tánh giác. Hai mặt- vô ngă và
Tánh giác, không thể tách rời nhau. Cái nầy cần cho cái
kia, giống như cái mặt gương soi và h́nh ảnh
phản chiều từ trong nó.
Tư tưởng
tự tác động trong tánh không và bị tan biến giống
như là gương xuất hiện và biến mất trong
guơng. H́nh ảnh gương mặt không bao giờ có
trong gương và khi nó không c̣n hiện phản chiếu
trong gương nữa, nó phải biến mất v́ xuất
ra. Gương soi vẫn vậy, không bao giờ thay đổi.
Do đó, trước khi bước trên đường đạo,
chúng ta vẫn mang những nghiệp được gọi
là “bất tịnh” của luân hồi, v́ đó, trong mọi
hành động thường bị hướng dẫn bởi
vô minh. Khi chúng ta dấn thân vào đường tu hành, nghiă là
đang buớc qua trạng thái lưng chừng giữa tỉnh
thức và vô minh. Cuối cùng, lúc mà chúng ta Giác ngô, chỉ c̣n
lại Tánh giác có mặt. Nhưng tất cả pháp môn song
song với hành tŕnh tu tập nầy, ngay cả sự chuyển
hoá có xuất hiện, tánh giác vẫn không bao giờ biến
đổi.: Nó không bị suy diệt v́ bước đường
tu nầy, hay phát triển hơn vào thời điểm mà chúng
ta chứng ngộ.
Căn tánh vô
cùng tận và không thể diễn đạt của của
Trí tuệ tức “ Niết bàn chân thật” luôn luôn có trong tâm
chúng ta. Nó không cần thiết phải sáng tạo chúng hay dựng
xây cái ǵ mới. Sự chứng đạo chỉ duy nhất
là làm xuất hiện chúng qua sự thanh tịnh, đó là
con đường. Tóm lại, nếu một hành giả quan
sát về chúng qua nhận thức của trí tuệ tối
thượng th́ những tự tánh nầy của chúng chỉ
là vô ngă .
Do đó, luân
hồi cũng là vô ngă, cho đến Niết bàn cũng vậy.
Cho nên, không phải cái nầy “xấu” hay cái kia” tốt”.. Một
người khi đạt đuợc giác ngộ, sẽ giải
thoát ra khỏi sự lôi kéo vào ṿng luân hồi và đạt được
Niết bàn. Nguời đó giống như một trẻ thơ,
chiêm ngưỡng vạn hữu với sự ngây thơ đơn
thuần, không bị những ư niệm đẹp xấu,
tốt hoặc tồi tệ. Người đó không c̣n là
mồi săn cuả những khuynh hướng giằng xé
nhau, nguồn gốc của tham muốn và ganh ghét
Nó không v́ mục
đích ưu tư về những phiền nhiễu hằng
ngày, như đưá bé khác vui mừng khi xây cái lâu đài bằng
cát, và khóc than khi lâu đài bị sụp đổ. Giống
như vậy, hăy nh́n những chúng sinh đắm ch́m vào những
nặng nề của tham dục, như những con bướm
lao vào vào ánh sáng cuả ngọn đèn, do sự lôi kéo bởi
ḷng tham muốn, và quên lững với những ǵ nó ghét. Cách
tốt nhất là bỏ xuống gánh nặng của bóng dáng
tham chấp mà chúng ta mang vác từ vô thủy đến giờ.
Phật tánh
gồm có năm “thân” hay năm phương diện cuả
Phật quả: Hoá Thân, Đại Hỷ Lạc Thân, Pháp Thân, Ứng Thân và Kim Cang Bất
Hoại Thân.
Những Thân
nầy không thể t́m bên ngoài chúng ta: Có nghiă, tất cả đều
không tách rời khỏi thân chúng sanh, hay tâm của chúng ta. Chúng
ta càng sớm nhận thức sự hiện diện nầy,
tức sẽ chấm dứt sự phiền năo. Chúng ta không
cần phải t́m kiếm sự Giác ngộ từ bên ngoài.
Nhà hàng hải cập bến trên đảo được
làm toàn bằng vàng ṛng, sẽ không mong nhặt từng thỏi
vàng một, bất kể trước đó, họ có khó nhọc
t́m kiếm thế nào. Chúng ta cần hiểu rằng tất
cả tánh Phật luôn t́m ẩn trong nguời cuả
mỗi chúng sanh.
Ngày
Lập Thu
24.09.06