THIỀN PHẬT GIÁO VÀ KHOA HỌC HIỆN
ĐẠI
TENZIN GYATSO, THE
DALAI LAMA
TRẦN NHƯ MAI
dịch
Nguồn :
Bài báo
này dựa vào bài nói chuyện của
Đức Đạt Lai Lạt Ma tại phiên họp
thường niên của Hội Khoa Học Thần Kinh
ngày 12- 11- 2005 ở Washington D.C.
Trong một
vài thập niên vừa qua, chúng ta đã
chứng kiến nhiều tiến bộ lớn lao trong
việc tìm hiểu một cách khoa học về
não bộ và cơ thể con người nói
chung. Hơn nữa, với sự xuất hiện của
ngành di truyền học hiện đại, kiến
thức của khoa thần kinh học về hoạt
động của những cơ cấu sinh học
giờ đây đã đạt đến mức
độ vi tế nhất của các di truyền
tử riêng biệt. Điều này đã mang
lại kết quả trong những khả năng kỹ
thuật chưa từng thấy dùng để vận
dụng những mã số của sự sống,
từ đó phát sinh tiềm năng sáng
tạo ra những thực thể hoàn toàn mới
mẻ cho nhân loại nói chung.
Ngày nay,
vấn đề tương giao giữa khoa học
với toàn thể nhân loại không còn
là chuyện được giới hàn lâm
chú ý mà thôi, vấn đề phải
được coi là khẩn cấp đối
với những ai quan tâm đến số phận
của sự hiện hữu con người. Vì
thế tôi cảm thấy một cuộc đối
thoại giữa khoa thần kinh học và xã
hội có thể mang lại những lợi ích
sâu xa ở chỗ nó có thể giúp chúng
ta đào sâu những hiểu biết cơ
bản về ý nghĩa của sự hiện hữu
con người và trách nhiệm của chúng
ta đối với thế giới tự nhiên mà
chúng ta chia xẻ với những loài hữu
tình (có cảm giác) khác. Như
một phần của mối tương giao rộng
lớn này, tôi rất vui mừng ghi nhận
rằng hiện nay các nhà thần kinh học
ngày càng quan tâm đến việc tham gia
đối thoại sâu sắc hơn với ngành
Thiền Phật Giáo.
Mặc
dù sở thích về khoa học của tôi
bắt đầu bằng tính tò mò của
một cậu bé hiếu động lớn lên từ
Tây Tạng, dần dần tôi đã nhận
ra tầm quan trọng lớn lao của khoa học và
kỹ thuật trong việc tìm hiểu thế
giới hiện đại. Không những tôi
tìm cách nắm được những tư
tưởng khoa học đặc biệt mà tôi
còn cố gắng khám phá ra những hàm
ý rộng lớn hơn của những tiến
bộ mới trong kiến thức nhân loại và
sức mạnh của kỹ thuật do khoa học đem
lại. Những lãnh vực khoa học đặc
biệt mà tôi đã tìm hiểu nhiều
nhất trong những năm qua là ngành vật lý
lượng tử, vũ trụ học, sinh học
và tâm lý học.
Đối
với những hiểu biết giới hạn của
tôi về những lãnh vực đó, tôi
rất biết ơn các nhà khoa học Carl Von
Weizacker và cố giáo sư David Bolm đã
dành thời giờ quý báu để chia
xẻ với tôi, tôi xem hai vị này là
bậc thầy cuả tôi về ngành cơ
học lượng tử; và trong lãnh vực sinh
học, nhất là khoa thần kinh học thì
có cố giáo sư Robert Livingstone và Francis Varela.
Tôi cũng rất biết ơn nhiều nhà khoa
học xuất chúng mà tôi có
được đặc ân tham gia những cuộc
đối thoại với họ dưới sự
bảo trợ của Viện Nghiên Cứu Tâm
Thức và Đời Sống, nơi đã
khởi xướng các cuộc hội nghị về
Tâm Thức và Đời Sống bắt
đầu từ năm 1987 tại trú xứ của
tôi tại Dharamsala ở Ấn Độ. Những
cuộc đối thoại này vẫn còn
tiếp diễn trong nhiều năm, và thật ra
cuộc đối thoại mới nhất của Viện
Nghiên Cứu Tâm Thức và Đời Sống
vừa mới kết thúc tại đây ở
Washington ngay trong tuần này.
Có lẽ
một số người tự hỏi “Nhà
sư Phật Giáo này làm gì mà
lại quan tâm đến khoa học như thế?
Có thể có liên hệ nào giữa
Phật Giáo, một truyền thống tâm linh
và triết lý của Ấn Độ cổ
đại, với khoa học hiện đại? Có
thể có lợi ích gì cho một ngành
khoa học như là khoa thần kinh học trong
việc tham gia đối thoại với Phật
Giáo?”
Mặc dù
truyền thống Thiền Phật Giáo và khoa
học hiện đại đã xuất phát
từ nhiều nguồn gốc văn hóa, nhận
thức và lịch sử khác nhau, tôi tin
rằng trong cốt lõi, cả hai đều chia
xẻ những điểm giống nhau đáng
kể, nhất là trong quan điểm triết học
cơ bản và phương pháp học. Về
phương diện triết học, cả Phật
Giáo lẫn khoa học hiện đại đều
chia xẻ mối nghi ngờ sâu xa đối với
bất cứ một ý niệm nào về sự
tuyệt đối, dù được khái
niệm hóa như một thực thể siêu
nhiên, một nguyên lý bất biến vĩnh
cửu như linh hồn, hoặc như một nền
tảng cơ bản của thực tại.
Cả Phật
Giáo lẫn khoa học đều muốn giải
thích sự tiến hóa và xuất hiện
của vũ trụ và đời sống theo mối
tương quan phức tạp của các định
luật Nhân Quả tự nhiên. Từ góc
độ phương pháp nghiên cứu, cả hai
truyền thống đều nhấn mạnh đến
vai trò của chủ nghĩa thực nghiệm.
Ví dụ, trong truyền thống nghiên cứu
của Phật Giáo, giữa ba nguồn kiến
thức được công nhận - kinh nghiệm,
lý luận và bằng chứng - thì kinh
nghiệm thực tại đứng hàng đầu,
kế đến là lý luận và cuối
cùng là bằng chứng. Điều này
có nghĩa là trong cuộc khảo cứu thực
tại của Phật Giáo, ít nhất là
trên nguyên tắc, kinh nghiệm thực tại
phải vượt trên lý thuyết kinh
điển, cho dù kinh điển được
sùng kính đến đâu đi nữa. Ngay
cả trong trường hợp kiến thức xuất
phát từ lý luận hay suy diễn, cuối
cùng giá trị của nó phải
được rút ra từ những thực chứng
kinh nghiệm đã được quan sát.
Vì lập trường phương pháp nghiên
cứu này, tôi thường lưu ý các
đồng nghiệp Phật Giáo của tôi
rằng những kiến thức đã
được minh chứng trong thực tế về
vũ trụ học và thiên văn học hiện
đại bắt buộc chúng ta bây giờ
phải điều chỉnh, hoặc trong môt vài
trường hợp, phải bác bỏ nhiều
phương diện của khoa vũ trụ học như
đã được tìm thấy trong văn
bản kinh điển Phật Giáo.
Bởi vì
động lực trước tiên thúc
đẩy việc khảo sát thực tại của
Phật Giáo là cuộc tìm kiếm cơ
bản để vượt thoát khổ đau
và toàn thiện điều kiện sống
của con người, cho nên định hướng
sơ khởi của truyền thống nghiên cứu
Phật Giáo là hướng đến sự
hiểu biết về tâm thức con người
và các chức năng của nó. Ở
đây, chúng tôi nhận định rằng,
bằng cách đạt được những
hiểu biết sâu sắc về tâm lý con
người, chúng ta có thể tìm ra những
phương cách để chuyển hóa tư
tưởng, tình cảm và những khuynh hướng
tiềm ẩn để có thể tìm ra một
lối sống toàn thiện và trọn vẹn
hơn. Chính trong bối cảnh này mà
truyền thống Phật Giáo đã đặt
ra một bảng phân loại phong phú về
các trạng thái tinh thần cũng như
các kỹ thuật Thiền để rèn
luyện những phẩm chất tinh thần đặc
biệt. Vì thế một cuộc trao đổi
đích thực những kiến thức và kinh
nghiệm đã được tích lũy
giữa Phật Giáo và khoa học hiện
đại về một số vấn đề rộng
lớn liên hệ đến tâm thức con
người, từ tri thức và tình cảm
đến sự hiểu biết khả năng chuyển
hóa bẩm sinh nơi não bộ con người,
sẽ vô cùng hấp dẫn và có
tiềm năng mang lại nhiều lợi ích lớn
lao.
Theo kinh
nghiệm của riêng tôi, tôi cảm thấy
kiến thức mình phong phú hơn rất
nhiều nhờ những cuộc đàm thoại
với các nhà thần kinh học và tâm
lý học về một số vấn đề như
là bản chất và vai trò của những
tình cảm tích cực và tiêu cực,
sự chú ý, khả năng tượng hình,
cũng như tính nhu nhuyến của não bộ.
Bằng chứng có sức thuyết phục cao từ
khoa thần kinh học và y khoa về vai trò then
chốt của sự xúc chạm thể chất
đơn giản đối với việc phát
triển sinh lý của não bộ thai nhi trong
vài tuần đầu tiên đã minh chứng
hùng hồn cho sự liên quan mật thiết
giữa lòng từ bi và hạnh phúc con
người.
Từ lâu
Phật Giáo đã tranh luận về tiềm
năng chuyển hóa lớn lao hiện hữu tự
nhiên nơi tâm thức con người. Với
cứu cánh này, truyền thống Phật
Giáo đã phát triển một loạt
những kỹ thuật hành thiền, hay thiền
tập, đặc biệt nhắm đến hai mục
tiêu – nuôi duỡng lòng từ bi và tu
tập khả năng quán chiếu sâu xa vào
bản chất của thực tại, thường
được đề cập đến như là
sự kết hợp của từ bi và trí
tuệ. Trọng tâm của các phương
pháp thiền tập có hai kỹ thuật
chính yếu, một mặt là tinh luyện
sức chú ý và duy trì nó trong
một thời gian dài, mặt khác là
việc điều hành và chuyển hóa
tình cảm.
Trong cả hai
trường hợp, tôi cảm thấy có thể
có tiềm năng lớn lao để hợp tác
nghiên cứu giữa truyền thống Thiền
Phật Giáo và khoa thần kinh học. Ví
dụ, khoa thần kinh học hiện đại
đã phát triển sự hiểu biết phong
phú về cơ cấu não bộ liên kết
với sự chú ý và tình cảm.
Mặt khác, nếu xét đến lịch sử
lâu dài chú trọng đến việc
rèn luyện tâm linh thì truyền thống
Thiền Phật Giáo cung cấp những kỹ
thuật thực tiễn để tinh luyện sự
chú ý và điều hành chuyển
hóa tình cảm. Vì vậy, cuộc gặp gỡ
của khoa thần kinh học và ngành Thiền
Phật Giáo có thể đưa đến
khả năng nghiên cứu tác động của
các sinh hoạt tinh thần có chủ đích
trên các kinh mạch của não bộ, vốn
đã được nhận diện, là rất
thiết yếu cho các tiến trình hoạt
động tinh thần đặc biệt. Ít nhất
thì cuộc gặp gỡ liên ngành như
vậy có thể giúp nêu lên những
vấn đề quan trọng trong nhiều lãnh
vực chủ yếu.
Ví dụ,
có phải mỗi cá nhân có khả
năng cố định để điều hành
tình cảm và sự chú ý, hoặc,
như truyền thống Phật Giáo tranh luận,
khả năng điều hành những tiến
trình tinh thần đó có thể dễ
dàng thay đổi, như vậy sẽ đưa
đến sự gợi ý là có thể
có một mức độ thay đổi tương
tự trong hệ thống não bộ và cách
ứng xử liên kết với các chức
năng đó? Một lãnh vực mà
truyền thống Thiền Phật Giáo có thể
có sự đóng góp quan trọng là
những kỹ thuật thực tiễn mà họ
đã phát triển để rèn luyện
lòng từ bi. Đối với việc rèn
luyện tâm thức và điều hành sự
chú ý và tình cảm, tôi thấy
cũng rất quan trọng khi đặt vấn đề
là không biết có những kỹ thuật
đặc biệt nào mà hiệu năng của
nó mang tính nhạy cảm với thời gian,
để người ta có thể thiết kế
những phương pháp điều chỉnh
thích hợp với nhu cầu tuổi tác, sức
khỏe, và các yếu tố đổi thay
khác.
Tuy nhiên,
có một điều cần phải lưu ý. Khi
hai truyền thống nghiên cứu cực kỳ
khác nhau như Phật Giáo và khoa thần kinh
học ngồi lại với nhau trong một cuộc
đối thoại liên ngành, điều này
sẽ liên hệ đến những vấn đề
thường hay gặp phải do việc trao đổi
xuyên biên giới văn hóa và chuyên
ngành. Ví dụ, khi chúng ta nói về
“khoa học Thiền”, chúng ta cần phải
nhạy cảm đối với ý nghĩa
đích thực của từ ngữ này. Về
phía các nhà khoa học, tôi cảm
thấy cần phải nhạy cảm trước
những ý nghĩa khác nhau của một từ
quan trọng như là “Thiền” trong bối
cảnh truyền thống của nó.
Ví dụ,
trong bối cảnh truyền thống, thì từ
‘Thiền’ theo tiếng Phạn (Sancrit) là ‘bhavana’
hoặc là ‘gom’ theo tiếng
Tây Tạng. Tiếng Phạn mang ý nghĩa về
sự tu tập, như là tu tập một thói
quen hay một cách thế hiện hữu đặc biệt
nào đó, trong lúc từ ‘gom’
của Tây Tạng mang ý nghĩa tu tập sự
quen thuộc với một đối tượng. Vì
vậy, nói một cách ngắn gọn, trong
bối cảnh truyền thống của Phật Giáo,
Thiền có nghĩa là một hoạt động
tinh thần có chủ đích, liên quan
đến việc tu tập sự quen thuộc với
một đối tượng, dù đó là
một đối tượng được lựa
chọn, một sự kiện, một chủ đề,
một thói quen, một quan điểm hay một
cách thế hiện hữu. Nói rộng ra, có
hai kiểu thiền tập - một kiểu tập trung
vào việc làm tỉnh lặng tâm, và
kiểu kia tập trung vào các phương
pháp quán chiếu để hiểu biết
sâu xa về một đối tượng. Cả hai
được đề cập đến như là
(i) Thiền Chỉ (Thiền Vắng Lặng) và (ii) Thiền Quán
(Thiền Minh Sát). Trong cả hai trường hợp,
thiền tập có thể có nhiều hình
thái khác nhau.
Ví dụ,
Thiền có thể mang hình thái là
dùng một cái gì đó như là
một đối tượng để hành giả
quán chiếu, như là thiền về tính
hay thay đổi của chính mình. Hay Thiền
có thể mang hình thái tu tập một
trạng thái tinh thần đặc biệt, như
là lòng từ bi, bằng cách làm
phát triển lòng vị tha, thành tâm
ước mong loại trừ khổ đau cho kẻ
khác. Hoặc, Thiền có thể mang hình thái
tưởng tượng, để khám phá
tiềm năng con người trong việc làm
phát sinh những ảnh tượng tinh thần
có thể được dùng bằng nhiều
cách khác nhau để nuôi dưỡng
niềm an lạc tinh thần. Vì vậy, tôi
thấy rất cần biết rõ những hình
thái Thiền đặc biệt nào mà con người
có thể khảo sát khi tham gia vào việc
hợp tác nghiên cứu, để cho các
hình thái thiền tập phức tạp
được sử dụng trong nghiên cứu
phù hợp với tính chất tinh tế của
công trình nghiên cứu khoa học.
Một lãnh
vực khác đòi hỏi các nhà khoa
học phải nhìn vấn đề từ một
góc độ rất quan trọng, đó là
khả năng phân biệt những khía cạnh
thực nghiệm của của tư tưởng Phật
Giáo và thiền tập và những nhận
định siêu hình và triết lý
liên kết với những phương pháp
thiền tập đó. Nói cách khác, trong
phương pháp khoa học, chúng ta phải
phân biệt giữa những giả định
lý thuyết, những quan sát thực tại
dựa trên thí nghiệm và các diễn giải
sau đó; cũng quan trọng như vậy trong
việc phân biệt những nhận định
lý thuyết, những biểu hiện của trạng
thái tinh thần có thể xác minh bằng
thực nghiệm, và những diễn dịch mang
tính triết lý trong Phật Giáo. Bằng
cách này, cả hai phía trong cuộc
đối thoại có thể tìm thấy
điểm chung đối với các sự kiện
về tâm thức con người có thể quan
sát thực nghiệm, mà không bị lôi
cuốn vào việc rút gọn khuôn khổ
của ngành này vào ngành kia.
Mặc dù
có thể có sự khác nhau giữa hai
truyền thống nghiên cứu về những tiền
đề triết lý và cách diễn dịch
những khái niệm ấy, đối với vấn
đề liên quan đến sự kiện thực
tại, thì thực tại bao giờ cũng
là thực tại, cho dù người ta
có chọn chúng để mô tả bằng
cách nào đi nữa. Cho dù sự thật
về bản chất chung cuộc của ý thức
là gì đi nữa – cho dù cuối
cùng bản chất ấy có thể
được giảm thiểu thành những tiến
trình vật lý hay không – tôi tin
rằng có thể chia xẻ những hiểu biết
về thực tại kinh nghiệm đối với
nhiều khía cạnh khác nhau của tri giác,
tư tưởng và tình cảm của chúng
ta.
Với những
suy xét thận trọng này, tôi tin rằng
một sự hợp tác chặt chẽ giữa hai
truyền thống nghiên cứu có thể thực
sự đóng góp vào việc mở rộng
hiểu biết của con người về thế
giới phức tạp của kinh nghiệm chủ quan
nội tại mà chúng ta gọi là tâm
thức. Những lợi ích của sự hợp
tác như vậy đang bắt đầu
được thể hiện.
Theo các
phúc trình sơ khởi, kết quả của
việc rèn luyện tâm thức, như là
việc thực tập đều đặn phép
tỉnh thức đơn giản, hay là việc
cố gắng tu tập lòng từ bi như
đã được triển khai trong Phật Giáo,
đang đem lại những thay đổi có
thể quan sát được trên não bộ
con người, tương ứng với những
trạng thái tinh thần tích cực có
thể đo lường được.
Những
khám phá gần đây của khoa thần kinh
học đã chứng tỏ tính nhu nhuyễn
bẩm sinh của não bộ, gồm cả việc
nối kết giữa các tế bào thần kinh
lẫn việc sản sinh những tế bào thần
kinh mới, như là kết quả của sự
tiếp nhận những kích thích bên
ngoài, chẳng hạn, tự nguyện luyện
tập thể dục và được sống trong
một môi trường phong phú hơn.
Truyền thống Thiền Phật Giáo có thể
giúp mở rộng lãnh vực nghiên cứu
khoa học này bằng cách đề nghị
những kiểu rèn luyện tâm thức có
thể liên hệ đến tính nhu nhuyễn
của não bộ. Như truyền thống Phật
Giáo đã gợi ý rằng việc rèn
luyện tinh thần ảnh hưởng đến
những đổi thay của tế bào thần kinh
có thể quan sát được ở não
bộ, điều này có thể mang nhiều
hàm ý rộng lớn. Kết quả của những
công trình nghiên cứu ấy sẽ không
chỉ giới hạn vào việc mở rộng
hiểu biết của chúng ta về tâm thức
con người, mà có lẽ quan trọng
hơn là chúng có thể mang ý nghĩa
lớn lao đối với hiểu biết của
chúng ta về vấn đề giáo dục
và sức khỏe tinh thần. Cũng vậy,
như truyền thống Phật Giáo đã
tuyên bố, nếu việc tu tập lòng từ bi
có thể dẫn đến sự thay đổi
lớn lao trong quan điểm của mỗi người,
đưa đến việc mở rộng lòng
xót thương đồng cảm đối với
người khác, thì điều này có
ý nghĩa rộng lớn đối với xã
hội nói chung.
Cuối
cùng, tôi tin rằng sự hợp tác giữa
khoa thần kinh học và truyền thống Thiền
Phật Giáo có thể làm sáng tỏ
vấn đề rất quan trọng về mối
tương giao giữa đạo đức và khoa
thần kinh học. Không kể đến bất
cứ khái niệm nào con người có
thể có về mối quan hệ giữa đạo
đức và khoa học, trong thực tế,
trước tiên khoa học đã phát
triển như một ngành học thực nghiệm
với lập trường trung lập, không chịu
ảnh hưởng của các giá trị
đạo đức. Bản chất của khoa học
đã được xem như là một
phương pháp tìm tòi nghiên cứu để
đạt được những hiểu biết chi
tiết về thế giới thực tại và
những định luật cơ bản của thiên
nhiên. Trên quan điểm khoa học thuần
túy, việc phát minh vũ khí nguyên tử
là một thành quả đáng kinh ngạc.
Tuy nhiên, vì việc phát minh này có
tiềm năng tạo nên nhiều khổ đau
với sự chết chóc và tàn phá
không thể tưởng tượng được,
chúng tôi xem đó là thứ vũ
khí huỷ diệt. Chính sự đánh
giá về đạo đức sẽ quyết
định cái gì là tích cực và
cái gì là tiêu cực. Mãi cho
đến gần đây, phương pháp
tách rời đạo đức và khoa học
hình như đã thành công khi cho rằng
khả năng con người suy nghĩ về đạo
đức phát triển song song với kiến
thức của nhân loại.
Ngày nay,
tôi tin rằng nhân loại đang đứng
trước một khúc quanh quan trọng. Những
tiến bộ lớn lao trong khoa thần kinh học
và đặc biệt là ngành di truyền
học vào cuối thế kỷ thứ 20 đã
dẫn đến một kỷ nguyên mới trong
lịch sử nhân loại. Kiến thức của
chúng ta về não bộ và cơ thể con
người xét ở mức độ tế bào
và di truyền tử, cùng với việc cung
cấp những khả năng kỹ thuật tương
ứng để vận dụng các tế bào,
đã đạt đến một giai đoạn
làm nẩy sinh những thách thức đạo
đức nghiêm trọng đối với những
tiến bộ khoa học ấy. Rõ ràng là
những suy nghĩ về đạo đức của
chúng ta không thể nào bắt kịp với
những tiến bộ nhanh chóng trong việc tiếp
thu kiến thức và sức mạnh kỹ thuật.
Tuy nhiên hậu quả của những khám
phá mới và việc áp dụng chúng
đã quá rộng lớn đến nỗi
chúng liên hệ đến chính cái khái
niệm về bản chất con người và
việc bảo tồn chủng loại con người.
Vì thế,
chúng ta thấy không còn thích hợp khi
chấp nhận quan điểm cho rằng trách
nhiệm của chúng ta như một xã hội
chỉ là cứ tiến xa hơn trong lãnh vực
kiến thức khoa học và nâng cao sức
mạnh của kỹ thuật, còn việc lựa
chọn phải làm gì với kiến thức
và sức mạnh này nên đặt vào
tay của từng cá nhân. Chúng ta phải
tìm ra một phương cách để
đưa những suy xét cơ bản về
đạo đức và nhân đạo vào
hướng phát triển khoa học, nhất là
trong các ngành khoa học về đời
sống.
Bằng
cách viện dẫn những nguyên tắc
đạo đức cơ bản, tôi không cổ
xúy cho việc sáp nhập đạo đức
tôn giáo vào việc nghiên cứu khoa
học. Đúng hơn là tôi đang nói
về cái mà tôi gọi là
“đạo đức thế gian”, bao gồm
những nguyên tắc đạo đức cơ
bản, như là lòng từ bi và bao dung,
một thái độ ân cần, biết quan
tâm đến kẻ khác, và việc sử
dụng kiến thức và sức mạnh với tinh
thần trách nhiệm - những nguyên tắc
vượt qua ranh giới của những người
có đức tin và những người không
có đức tin, tín đồ của tôn giáo
này hay tôn giáo khác. Riêng cá
nhân tôi, tôi thích tưởng tượng
tất cả sinh hoạt của con người, kể
cả khoa học, giống như những ngón tay
của cả bàn tay. Bao lâu mà mỗi
ngón tay vẫn còn được nối kết
với lòng bàn tay của vị tha và
bác ái căn bản của con người,
chúng sẽ tiếp tục phục vụ cho lợi
ích của nhân loại.
Thật sự
chúng ta đang sống trong cùng một thế
giới. Kinh tế, truyền thông điện tử,
du lịch quốc tế, cũng như những vấn
đề môi sinh hiện đại, tất cả
nhắc nhở chúng ta hằng ngày rằng
thế giới ngày nay đã tương quan
mật thiết với nhau như thế nào. Các
cộng đồng khoa học đóng một vai
trò quan trọng trong thế giới tương quan
này. Cho dù vì bất cứ lý do
lịch sử nào đi nữa, ngày nay các
khoa học gia được hưởng sự kính
trọng và tín nhiệm lớn lao trong xã
hội, lớn hơn nhiều so với ngành triết
lý và tôn giáo của chúng tôi.
Tôi kêu gọi các khoa học gia đưa
vào công tác chuyên môn của họ
những mệnh lệnh của các nguyên tắc
đạo đức cơ bản mà tất
cả mọi người chúng ta đều cùng
nhau chia xẻ.
Theo "SCIENCE AT
THE CROSSROADS"
Source : Society for
Neuroscience 35th Annual Meeting, Nov. 12. 2005 – Mind &
Life Institute