Vũ Hoàng Chương là một thi sỹ lớn, từ thập niên ba mươi.
Tất nhiên, lớn không phải chỉ do số lượng thi phẩm xuất bản
mà
còn lớn ở phẩm chất văn chương, nét sáng tạo xuất thần,
phong
phú đã khai sinh được linh hồn cho từng dòng chữ, từng câu
thơ.
Bút mực thế gian đã tốn nhiều giấy mực với thi sỹ họ Vũ này.
Ở đây, chỉ xin khiêm tốn pha một bình trà, mời bạn cùng mạn
đàm đôi nét về thơ Vũ Hoàng Chương, ở những ngã rẽ tình cờ,
trên một khía cạnh khác. Khía cạnh của “Tâm cảnh thăng hoa”.
Bạn cũng biết đó, thời đi học, không cuốn Lưu Bút Ngày Xanh
nào truyền tay nhau mà không có dăm câu thơ VHC. Những bài
thơ tình nồng nàn say đắm, nếu chép nguyên bài, có thể không
thích hợp lắm với tuổi học trò, nhưng “nhặt” ra những câu
thơ mộng thì nhiều vô số kể, đám học trò trung học tha hồ
chọn lựa mà lưu bút cho nhau, tùy theo tình cảm của chủ nhân
cuốn lưu bút và người được mời viết.
Ấy thế mà, thú thật, suốt tuổi học trò, tôi chưa từng trích
câu thơ nào của VHC vào những cuốn tập mầu xanh, mầu tím ấy.
Không biết tại sao! Có lẽ vì tôi cù lần quá, đọc những bài
thơ tình nổi tiếng đó, tôi chưa hiểu, hay chưa cảm được, nên
tâm trạng cứ “ Rằng hay thì thật là hay. Vừa toan chép
xuống, lại, loay hoay thế nào!”, dựa theo lời thi
hào Nguyễn Du khi tả tiếng đàn của Thúy Kiều “Rằng hay
thì thật là hay. Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!”
Nhưng đến nay, lấp ló trước cánh cửa “thất thập cổ lai hy”,
ngẫm đời mình, ngẫm đời người, chợt thoảng nghe tiếng nấc
của thi sỹ trong niềm cô đơn cùng cực. Cùng cực để thăng
hoa.
“Ta còn để lại gì không?
Kìa non núi lở, kìa sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về!” (*)
Đi suốt những khổ đau, nhận trăm cay nghìn đắng, rượu và
nước mắt hòa nhau như mưa trời, rồi người làm thơ đó mới may
mắn nhận ra “Ta còn để lại gì không?”
Câu hỏi, nhưng thực đã là câu trả lời.
Nếu chưa đi suốt dặm trường khổ đau, có chắc gì chấp nhận,
ta có mặt nơi thế gian này chỉ là “lang thang luân hồi”
không? Hay vẫn còn mải mê níu bắt những ảo tưởng “Như
mộng, huyễn, bào, ảnh. Như lộ diệc như điện” mà kinh Kim
Cang không ngừng từ bi nhắc nhở!
Vũ Hoàng Chương là con quan một tri huyện nên đã được đời ưu
đãi từ tấm bé. Cái thuở mà nhiều gia đình không đủ sức cho
con đi học trường làng thì VHC đã đậu bằng tú tài Pháp, thập
niên 30.
Chàng thanh niên hội đủ tiêu chuẩn “con nhà giầu, đẹp trai,
học giỏi” như thế, lại bị một cô gái con nhà nghèo khước từ
tình yêu thì có uất nhục không? Khối tình tuyệt vọng này là
động lực khai ngòi núi lửa, tuôn trào miên man dòng phún
thạch bất tận trong lịch sử thi ca thất tình thời đó. Những
câu thơ xuất thần tới mức, chỉ đọc lên, mà nghe rõ ràng như
tiếng khóc, tiếng nấc:
“Tố của Hoàng ơi! Tố của Hoàng ơi!
Tố của Hoàng ơi! Hỡi nhớ thương!
…………………………………….
Em xa lạ quá! Đâu còn phải,
Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi!”(*)
Rồi khi nàng Tố không còn, tiếng khóc của Hoàng còn bi ai
bội phần:
“Mây khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu, ghi mười hai
Tình ta ta tiếc, cuồng ta khóc
Tố của Hoàng, nay Tố của ai?!”(*)
Những trang thơ thuở thanh xuân của VHC dường như chỉ chan
chứa lệ và rượu. Mượn rượu để quên sầu mà “Nào hay sầu ấy
càng sâu, càng đầy”:
“Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa,
Say không còn biết chi đời
Nhưng em ơi,
Đất trời nghiêng ngửa,
Mà trước mắt, thành sầu chưa sụp đổ,
Đất trời nghiêng ngửa,
Thành sầu không sụp đổ em ơi!”(*)
Say tới không còn biết chi đời nhưng vẫn cay đắng nhận ra,
từ chút hy vọng mong manh “thành sầu CHƯA sụp đổ”,
thành tuyệt vọng ảo não, thở hắt mà nhận rằng “thành sầu
KHÔNG sụp đổ, em ơi!”
Bi thương thật là cùng cực rồi.
May thay! Đâu phải chỉ có tình yêu vị kỷ là đáng ngợi ca.
Tận thẳm sâu tuyệt vọng của tình yêu giới hạn đã bung ra
cánh cửa của cái đẹp vô hạn để thi sỹ họ Vũ dùng trí tuệ và
tài năng thi ca, vẽ lên những tuyệt tác mênh mông hơn:
“Hào khí người còn sang sảng
Đâu đây lòa chói giấc mơ
Nước sông Dịch còn trôi hay đã cạn
Gương anh hùng vằng vặc sáng thiên thu”(*)
Hình ảnh tráng sỹ mài kiếm dưới trăng, quyết đơn độc lên
đường diệt bạo chúa, cứu muôn dân, đã lồng lộng bi tráng
trong “Bài ca sông Dịch ” một thời chứa chan dũng khí của
tiếng gọi hồn thiêng sông núi “Reo lên! Hỡi ngọn lửa hồng!
Cháy lên đi! Hỡi muôn lòng nguội tanh!”
Khi cửa ngục khổ đau đã bung ra, là lúc bao cánh cửa khác
hiển bầy, chỉ tại cửa tâm ta đóng chặt nên chưa tỏ mà thôi!
Thế giới ngoài kia mênh mông, nào phải chỉ là thế giới “Tố
của Hoàng ơi! Tố của Hoàng!”
“Bao nhiêu hạt cát bến sông này
Đã bấy nhiêu ngàn thế kỷ nay
Từ vượt ngàn năm, đường ánh sáng
Tự ngoài vô tận đến nơi đây
Đêm đêm ta dõi mắt tầng cao
Tìm một không gian mới lạ nào
Lấp lánh Quê Trời, thơ hẹn bến
Giam mình Quả Đất mãi hay sao?”(*)
Từ đây, người đọc thơ thấy được thấp thoáng những hạt Bồ Đề
bâng quơ gieo xuống ruộng tâm u uẩn, từng chỉ tưới tẩm bằng
men và lệ.
Bâng quơ thôi, nhưng là bâng quơ của tánh bản thiện tiềm ẩn
mà Đức Thế Tôn chỉ dạy trong kinh Pháp Hoa, khi trẻ nhỏ vọc
cát chơi, lại chỉ phác họa tháp Phật:
“Nhẫn đến đồng-tử giỡn
Nhóm cát thành tháp Phật
Những hạng người như thế
Đều đã thành Phật-đạo”
Vì hạt được gieo bằng Trí Tuệ Bát Nhã nên đông qua, xuân
lại, ruộng đó đã bừng xanh rừng tùng bách bi tráng của Đại
Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi:
“Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ,
Quỳ cả xuống,
Hai vầng sáng rưng rưng,
Đông Tây nhòa lệ ngọc
Chắp tay đón một mặt trời mới mọc
Ánh Đạo Vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên
Ôi đích thực hôm nay trời có mặt
Giờ là hoàng đạo nguy nga
Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt
Nhìn nhau: tình huynh đệ bao la
Nam Mô Đức Phật Di Đà
Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay …”(*)
Ôi! Tiếng thơ xưa vẫn nức nở, nhưng dòng lệ nay đã là những
hạt kim cương vì lệ không rơi cho tình riêng nữa. Cảnh tượng
cực kỳ bi tráng toát ra từ vị Bồ Tát an nhiên ngồi xuống, tự
hóa thân thành lửa đỏ, cứu muôn người - đối với nhà thơ - đã
có mãnh lực ngàn lần hơn tiếng thét của thiền sư giúp học
trò hoắt nhiên đại ngộ.
Và người thi sỹ từng chìm đắm trong biển tình sầu đau, bỗng
như ai chắp cánh.
Cảnh đối tâm, và tâm cảnh thăng hoa.
Bấy giờ, hồn thơ kia mới thực viên mãn khi con tằm nhả được
những tơ vàng óng quý:
“Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi
Chỗ người ngồi: một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét từ bi”(*)
Hạt Bồ Đề đã gieo. Cây đã trổ. Thơ đã thơm Đạo Vị. Tâm đã
lắng xôn xôn. Nên những ngày tháng cuối đời, người thi sỹ
tài hoa đó đã có thể thanh thản truyện trò với đá, bạn với
mây, đối ẩm với trăng.
Lần nọ, ghé thăm một bạn văn xưa, được bạn đãi cốc trà quý
thơm lừng. Rồi giữa không gian chật hẹp của một nhà xe được
sửa lại thành không gian bát ngát của chữ nghĩa, sách vở,
bạn lục báo cũ, cho tôi dăm tờ.
Về Am, tôi nhẩn nha đọc, và thấy trong dăm tờ đó, một bài
thơ của Vũ Hoàng Chương được nhận định, có lẽ là bài “Khai
bút đầu năm” cuối cùng của thi sỹ, đăng trên tạp chí Nhà
Văn, Xuân Ất Mão, tháng hai năm 1975.
Vũ Hoàng Chương mất ngày 6 tháng 9 năm 1976, sau khi CSVN
thả ông ra khỏi tù ít lâu!
Thi sỹ viết bài khai bút này bằng Hán tự, cũng được chính
tác giả chuyển sang lục bát với những sáng tạo tuyệt vời,
xuất thần ở cách ngắt câu, khiến vẫn giữ được sự mượt mà của
lục bát mà lại thoảng dư vị đắng cay, thường chỉ ẩn hiện
trong âm điệu song thất nghẹn ngào.
Chỉ với bài thơ này, đọc chậm, từng câu, chúng ta có thể
thấy nỗi cô đơn, nhưng an nhiên tự tại của thi sỹ, khi không
còn gì để nói với người thì đất đá, cỏ cây, trăng sao mây
nước là bằng hữu vẫn chờ ta đó:
Nguyên bản Hán tự:
Khai Xuân thạch vấn
“Tường vân mãn tọa nguyệt bôi minh
Hy chúc xuân khai dạ bán quỳnh
Đông liễu Tây đào song tận mỹ
Tần tang Yên thảo nhất hà thanh
Tẫn giao cố quốc hoài kim phấn
Tự hữu cuồng ngôn xuất thạch bình
Đồi ngọa, dữ sa trường túy ngọa
Cổ lai thùy dã chiếm cao danh?”(*)
Chuyển sang lục bát:
Đá mở lời Xuân
Bạn đầy mây, chén đầy trăng
Xuân vào đêm, giữa lòng băng nở quỳnh
Liễu tơ đào, gấm như tranh
Dâu Tần biếc, cỏ Yên xanh, một trời
Quê xưa phấn rụng vàng rơi
Có nghe vách đá vang lời hỏi duyên:
Say nằm trước ngõ là tiên
Hoặc say nằm cát ngoài hiên mới hào?(*)
Nghệ sỹ với giác quan nhạy bén hơn người, thường là tiên tri
trước những biến động nhân gian, nên từ bài khai bút cuối,
chỉ hai vầng nguyệt tỏ, trước cơn hồng thủy tháng tư 75, thi
sỹ đã chỉ còn nói chuyện với đá!
Nay, dù ở đâu trong mênh mông u tịch, nếu có sát na nào
nhìn về quê xưa, có lẽ thi sỹ không khỏi ngậm ngùi nhớ tới
câu thơ từng viết:
“Quê xưa phấn rụng vàng rơi!... ”
Vâng, thi sỹ ơi, quê xưa không chỉ đang “phấn
rụng vàng rơi” mà còn, “từng trong tấc đất, tả tơi oan hờn!”
Muốn thấy rõ hơn, mời thi sỹ ghé tỉnh Lâm Đồng, hỏi
thăm tu viện Bát Nhã nơi đâu. Có lẽ đứng trước sự sụp đổ tận
gốc rễ của tình người, nghĩa đạo, thi sỹ sẽ thấm thía hơn
với tiếng bật khóc của chính mình khi xưa: “Sông Hằng kia
bởi đâu mà cát bay!?”
(Tháng 10/2009-Phong Vân Am)
(*) Thơ Vũ Hoàng Chương trích từ những bài chọn lọc)