Thế tục hóa Phật giáo – vấn đề hôm nay

Thích Thông Độ

Ảnh sưu tầm

Là một hiện hữu trong thế giới hiện tượng, lẽ tất nhiên, Phật giáo phải tuân thủ đầy đủ mọi đặc tính được chi phối dành cho một bộ phận nằm trong tổng thể ấy. Nghĩa là nó cũng phải chịu sự vô thường biến hoại, có thành thì ắt có trụ, có phát triển thì sẽ có diệt vong. Đó là một quy luật chung cho tất cả vạn pháp. Nhưng cũng chính điều đó lại đặt ra cho những hàng đệ tử Phật, những người mang sứ mệnh “Đại Phật Tuyên Hành”, một trách nhiệm thật to lớn khi muốn  giữ vững sự phát triển của ngôi nhà mà Đức Phật đã tận tay giao phó. Làm thế nào? Và làm sao?... luôn là những thao thức của mọi thời đại Phật giáo. Nhất là trong thời kỳ hiện đại này, sự phát triển như vũ bão về các giá trị vật chất, sự tụt hậu của các giá trị đạo đức, sự sống dậy và nguy cơ bành trướng của các thế lực trong thế giới ngầm, quá trình giao lưu, xâm thực và đào thải tôn giáo một cách hết sức quyết liệt... đang đe dọa các giá trị truyền thống tốt đẹp của Phật giáo. Bên cạnh đó, những chính sách, phương pháp hành động của Phật giáo đang càng ngày càng thể hiện nhiều vấn đề mang tính mâu thuẫn nội hàm to lớn. Và càng mâu thuẫn bao nhiêu thì những vấn đề đó lại càng nổi trội hơn. Các phạm trù vốn là những đặc sắc của Phật giáo như giải thoát, niết bàn, hòa hợp, vô ngã,... đang có nguy cơ bị đem ra định giá bởi những ước lượng của cân, đo, đong, đếm. Có thể nói, chưa bao giờ trong Phật giáo, sự giải đáp cho những định đề mang tính chất của một công án như trên lại trở nên cấp thiết như hiện nay. Chẳng hạn như “phải làm gì để Phật giáo phát triển với những giá trị vốn có ?”, “ có nên thay đổi một số các phong cách truyền thống hay không”, “có nên tiêu chuẩn hóa các chuẩn mực đạo đức Phật giáo theo xu hướng phát triển của xã hội hay không”,... hay nói khác hơn “sự phát triển của Phật giáo trong sự phát triển của xã hội phải được hiểu như thế nào và xu hướng của sự phát triển ấy là gì?” Đây quả là những đề tài có tầm vóc quá lớn của một bài viết, nhưng cũng xin được góp một chút suy nghĩ, dẫu biết rằng nó thật quá đơn giản so với những gì mà tất cả các thế hệ Phật môn, trong đó có các bạn đã và đang nghiệm xét.

Nhìn trên bình diện của thực tế, Phật giáo đã và đang vượt qua phạm vi của một tôn giáo. Nó đang được đón tiếp ở khắp mọi nơi, trong đó có thể vì lý do này hoặc lý do khác. Điều đó cũng đủ cho thấy những nỗ lực to lớn của các hàng đệ tử Phật trong sự nghiệp đưa Phật giáo đến với mọi người. Thế nhưng, vì là một bộ phận không thể tách rời của xã hội, nên tất nhiên trong quá trình cộng hưởng với xã hội, nó đã phải chịu những tác lực phản hồi, nhất là từ nơi những đối tượng có cùng chức năng với  Phật giáo. Chính điều đó đã làm cho bản thân Phật giáo có nhiều biến đổi sâu sắc về chất, về lượng và các hình thái biểu hiện. Sự biến đổi ấy có khi tạo ra những lợi thế để Phật giáo được phổ cập hay chí ít cũng đủ sức tồn tục. Tuy nhiên, nhiều lúc nó lại làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn nội tại về bản chất và tính nguyên thủy nếu các thế hệ Phật giáo được “phản quan tri tự kỷ” bởi chính Phật giáo. Đây chính là một khúc mắc quan trọng, mà theo người viết, đang cần được các thế hệ Phật tử quán triệt một cách đồng bộ. Bởi một lẽ, nó chính là tiền đề để Phật giáo có được một định hướng tốt đẹp cho tương lai.

Xu Hướng Hội Nhập và Phát Triển của Phật Giáo

Nói đến hội nhập thì quả thật Phật giáo đã có một quá trình lịch sử đáng kể. Suốt hơn 2500 năm tồn tại, nó đã tự mình thể hiện một phong cách mà qua đó đã làm cho tất cả những con người trong những thời đại ấy phải hiểu rằng Phật giáo đã là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của họ. Nhìn vào những gì còn sót lại như một chứng cứ vĩnh viễn thì không ai có thể phủ nhận được điều đó. Một Ấn Độ lung linh huyền bí với giáo lý Vệ Đà già nua đã trở thành sống động với những chủ thuyết mang đầy tính sáng tạo của Phật giáo, một văn hóa Nhật Bản đậm đà thiền vị, một Trung Hoa cởi mở, phóng khoáng khi nó vốn dĩ đã được bao phủ trong cái khung lễ giáo cố hữu của học thuyết Khổng Mạnh, hay một Việt Nam nhân bản, đơn sơ mà thấm đượm tình người.... Tất cả những thành quả đó được gọi là gì nếu không có sự đóng góp to lớn của các thế hệ Phật giáo!

Thế nhưng, triển chuyển qua những giai đoạn khác nhau của lịch sử, sự thăng trầm, thịnh suy đã cho thấy sự cần thiết là phải có một định hướng phù hợp khi Phật giáo muốn bắt kịp trào lưu của xã hội. Quá khứ đã trôi qua để lại một dấu son đẹp và chúng ta cũng không cần thiết phải luyến tiếc. Bởi đơn giản hiện tại vĩnh viễn là những gì đang trôi chảy. Sự bất cập sẽ giết chết và đào thải tất cả ra khỏi sân chơi của vũ trụ. Cho nên, hơn tất cả vẫn là chờ đợi sự chuyển mình của Phật giáo khi đứng trước vòng quay vĩ đại của thời cuộc hôm nay.

Nhưng chuyển mình như thế nào? Nhu yếu của xã hội đòi hỏi Phật giáo không thể an trụ trong những tháp ngà của quá khứ. Nó đánh động tất cả để rồi chi phối tất cả bằng quy luật hỗ tương, đào thải và chọn lọc. Chỉ có những cá thể nào ưu tú mới có khả năng tồn tại và phát triển. Sự tùy thuận luôn là công thức được đặt ra để trong đó các thành viên vận hành theo một trật tự của tổng thể xã hội đó. Và trong hiện tại, Phật giáo cũng phải bắt buộc phải chuyển mình theo một quỹ đạo như vậy. Nghĩa là sự tùy thuận cần phải được chú trọng hơn bao giờ hết.
Thật ra, phương thức này không phải xa lạ gì với các thế hệ Phật giáo. Nó đã được các bậc tiền bối vận dụng và đã thành công. Người đầu tiên trong tất cả chính là Đức Phật. Biết bao nhiêu phương tiện thiện xảo, bao nhiêu ngôn từ lập giáo cũng như rất nhiều những hình thái tổ chức mà Đức Phật đã để lại đều cho thấy rằng Ngài là một bậc Đạo sư có tầm nhìn xa trông rộng hơn bất kỳ một đạo sư nào của Ấn Độ và của thế giới.

Tuy nhiên, cơ cấu xã hội luôn thay đổi theo định luật vô thường: bao hình thái trồi sụt, bao thế hệ đi qua, bao dấu ấn còn để lại đâu đó trong lòng văn minh nhân loại... Mỗi một cơ chế xã hội đi qua đều phản ánh những nhu cầu riêng về tâm linh và vật chất của nó. Nếu trong quá khứ, những hình thái Phật giáo đã đóng góp vào đó như là những nguyên lý được xem là thích hợp nhất cho những thời đại ấy thì ngày nay tại sao không thể là như vậy nhĩ ? Có thể nói rằng sự lặp lại hay cố thủ bất cứ một cái gì đều được gọi là sai lầm hay ít ra là không đúng với chính giáo lý của Đạo Phật. Cho nên, sự tạo dựng các hình thái mới của Phật giáo là điều tất nhiên. Nó nói lên được tính sáng tạo cần thiết khi Phật giáo cũng tồn tục bằng chính nguyên lý Duyên khởi mà Phật giáo đã đề ra. Vì vậy chắc hẳn chúng ta cũng phải  đồng ý với nhận xét của HT. Nhất Hạnh khi đề cập đến vấn đề này:

“Chúng ta thấy có Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Nam tông, Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Trung Hoa, Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Nhật Bản, Phật giáo Tích Lan, Phật giáo Ấn Độ… Các nền Phật giáo nầy có những sinh hoạt khác biệt về phương diện hình thức v cũng có khi cả về phương diện nội dung tư tưởng nữa, nhưng tất cả đều nhắm tới một mục đích là làm sống những nguyên lý Phật học trong đời sống nhân loại”[1].

Vâng! Làm sống dậy những nguyên lý Phật học trong đời sống nhân loại chính là con đường và nhiệm vụ duy nhất mà từ đó Phật giáo tồn tại. Bởi đơn giản, Phật giáo ra đời chỉ vì mục đích phục vụ cho lợi ích của nhân sinh. Rời xa con người, Phật giáo đâu còn lý do để tồn tại. Cho nên, những con người trong Phật giáo, trước hết, phải là những người của xã hội. Họ là những người biết cảm thông với nỗi khổ đau của tất cả con người trong xã hội. Có cảm thông ta mới thấy được rằng đâu là những giá trị chân hạnh phúc mà Phật giáo đã cố gắng giúp con người thể hiện. Đạo Phật vì thế không chỉ toàn là giáo lý mà còn là sự thực hiện một cách trọn vẹn tinh thần của giáo lý ấy vào trong cuộc sống. Ở đó, nó không đòi hỏi sự bàn cao nói rộng mà chỉ đơn thuần là sống một cách trọn vẹn với hiện hữu sanh diệt này. Nhưng mà sống như thế nào? Đó có phải chăng là sự thông thoáng, cởi mở, thân thiện, hòa nhập.... Thiết nghĩ Phật giáo có đủ điều kiện để thể hiện những điều tốt đẹp đó trong đời sống bình  nhật của con người. Đồng quan điểm này, Stephen Batchelor đã phát biểu như sau:

"…Các truyền thống Phật giáo có thể cung cấp một nền tảng vững chắc về những giá trị triết học, tư duy và đạo đức, hướng đến đời sống tỉnh thức và giác ngộ. Phải giữ gìn và phát huy những gì mà Đức Phật đã thực nghiệm để duy trì và phát triển một nền văn hóa giác ngộ, có thể giải quyết những vấn đề bức thiết của cá nhân và thế giới hiện đại; và những truyền thống Phật giáo buộc phải nhảy một bước nhảy quyết định để làm cho Phật giáo trở nên là một tôn giáo mang tính thực nghiệm, hơn là một tôn giáo dựa vào tín ngưỡng và thần quyền. Điều đó là sự biểu hiện của Phật giáo không mang màu sắc tín ngưỡng."[2]

Ý Nghĩa của Khổ Đau

Một khía cạnh khác nữa đã được đề cập ở trên cũng đáng để chúng ta lưu tâm. Đó là quan niệm về đau khổ trong Đạo Phật. Nếu bỏ qua tất cả những biểu hiện truyền thuyết mang tính huyền thoại, ta sẽ bắt gặp được một Đạo Phật hoàn toàn thực tế với con người. Hiện thực đó được phản ánh bằng những thông số của các hiện tướng khổ đau. Bạn có lý do để nói rằng đời là một biển khổ nếu bạn được Đạo Phật chỉ cho thấy những sự thật mà chúng ta đang phải đối diện hằng ngày. Bằng những phân tích dựa vào những dữ liệu cụ thể từ thực tế, Đạo Phật đem đến cho đời sống một quan niệm rất thực về những hiện trạng khổ đau này. Nhưng, hình như đây lại là một điều cấm kỵ mà hầu như tất cả ai cũng cố gắng không đề cập đến dẫu rằng phải đối diện hằng ngày. Nếu điều đó đúng thì có thể nói rằng chúng ta đã và đang bưng bít về một sự thật vĩ đại mà lẽ ra ta đã có thể hiểu từ lâu rồi. Sự quay lưng lại với sự thật đó làm cho chúng ta cứ quay cuồng trong vòng xoay của sanh tử. Tệ hại hơn nữa là nhiều khi mình cứ tưởng đó là bến bờ hạnh phúc. Điều này cũng giống như một dân tộc bị nô lệ mà cứ tưởng mình đang được tự do thì quả là thật đáng thương và hết sức khôi hài. Và Phật giáo đã không ngần ngại chỉ ra rằng sự bưng bít ấy chính là nguyên nhân trong tất cả nguyên nhân làm cho ta không nhận chân được hạnh phúc thật sự của đời mình. Vì vậy, Phật giáo đã lấy khổ đau làm cơ sở để xây dựng hệ thống giáo lý của mình. Bản thân của Đạo Phật biết  rằng, việc ý thức được về khổ đau sẽ đem đến một cảm giác không dễ chịu chút nào nhưng vùi thân trong sự giả tạo của ăn, mặc, ngủ.... thì Phật giáo lại càng không thể chấp nhận được. Vì sao? Câu trả lời có thể được dễ dàng tìm thấy qua câu chuyện Bảy Ngày Làm Vua của chàng trai trẻ Tissa, em ruột của vua Asoka vào thế kỷ thứ III BC. Trong câu chuyện đó nói rằng, chàng Tissa luôn chế diễu các thầy, các sư chỉ biết ăn no ngủ kỹ mà cứ luôn mồm nói thiên nói địa. Cần phải nói thêm rằng, trong giai đoạn này, Phật giáo đã bước vào một bước ngoặt mới với sự trà trộn các thành viên của các tôn giáo khác đã phản ánh một khía cạnh nào đó của Tăng đoàn Phật giáo thời kỳ này. Và rất có thể nhận xét về hình ảnh Tăng đồ Phật giáo của hoàng thân Tissa xuất phát từ thực trạng ấy. Điều này trong lịch sử cuộc kết kinh điển lần thứ ba vào triều vua Asoka có đề cập cụ thể trong phần nói về nguyên nhân dẫn đến cuộc kết tập này. Vua Asoka biết được nên đã dùng mưu kế để làm cho Tissa phải mang tội tử hình và ra lệnh rằng Tissa sẽ được hưởng ân huệ cuối cùng là được làm vua trong 7 ngày trước khi bị hành quyết. Qua 7 ngày sau, vua Asoka đến hỏi trong 7 ngày qua được làm vua, cảm thấy thế nào thì Tissa trả lời rằng có sung sướng gì khi biết mình chỉ còn 7 ngày nữa là phải chết mặc dầu trước đó chàng ta rất muốn biết cảm giác được làm vua. Câu chuyện không phải kết thúc ở đó nhưng cũng đủ cho thấy rằng hướng đến một sự kiện khác ngoài khổ đau để tìm hạnh phúc là điều mà Phật giáo khó có thể chấp nhận được. Ngược lại, Phật giáo còn chủ trương phải tìm hạnh phúc ngay trong bản thân của khổ đau. Lấy khổ đau làm động lực để nuôi dưỡng ý chí vươn lên. Và cũng chỉ có nó mới là môi trường duy nhất để từ đó những giá trị hạnh phúc thật sự được thăng hoa. Tổ Hoàng Bá ngày xưa đã chẳng nói như vậy sao:

“Trần lao quýnh thốt sự phi thường
Hệ bã thằng đầu tố nhất trường
Bất thị nhất phin hn triệt cốt
Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương.”

Thiền sư Nhật Hạnh dich:

Vượt ci trần lao việc chẳng thường
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngát mùi hương.

Và nếu không như vậy thì Việt vương Câu Tiễn ba năm nằm gai nếm mật để làm gì? Phải chăng tất cả là để rèn luyện cho mình một sự thôi thúc vươn lên. Ở điểm này, rõ ràng thật đúng như nhận định của HT. Nhất Hạnh:

“Đó là những chất liệu cần thiết để nuôi dưỡng lý tưởng. Không phải chỉ có lý tưởng giải thoát mới cần được nuôi dưỡng bằng ý thức khổ đau. Lý tưởng nào cũng phải được nuôi dưỡng bằng ý thức khổ đau. Cái khổ đau xót xa của một Việt vương Câu Tiễn chẳng hạn là chất liệu nuôi dưỡng lý tưởng phục thù của vương. Tại sao phải bảo tên hầu cận mỗi ngày nhắc cho mình nghe ci nhục mất nước ? Tại sao phải treo một bọc mật đắng trước cửa để nếm mỗi khi đi ra đi vào? Đó là Câu Tiễn muốn nuôi dưỡng lý tưởng phục thù vậy.”[3]

Cho nên, Đức Phật đã có lý khi Ngài dạy cho các hàng đệ tử trước tiên phải giác ngộ rằng: “Thế gian vô thường. Quốc độ nguy thúy. Tứ đại khổ không. Ngũ ấm vô ngã. Sanh diệt biến dị. Hư ngụy vô chủ... ”. Ngài thường dạy chư vị Tỳ kheo thực hành đời sống giản dị với tiêu chí “tam thường bất túc” (ba việc thường là cơm ăn, áo mặc, nhà ở không bao giờ đầy đủ quá). Quan niệm này thường được hiểu lầm là khổ hạnh ép xác, nhưng thật ra đấy là phong cách sống trong sự ý thức trọn vẹn về một phần nhỏ khổ đau mà nhân loại đang phải gánh chịu. Nếu cho rằng đấy là một sự khổ hạnh thì đó chính là một sự khổ hạnh cần thiết để phát triển lý tưởng xu hướng giải thoát từ những hiện trạng khổ đau và nuôi dưỡng lòng bi mẫn một cách liên tục vậy.

Hiện Đại Hóa hay là Tân Thời Hóa

Ngày nay, sự đổi mới cách tư duy, nhận thức về thế giới hiện tượng của xã hội hiện đại đã làm thay đổi các nếp sống của rất nhiều lĩnh vực. Và Phật giáo cũng đã có những biến chuyển đáng kể. Đó có thể là sự quyền biến cần thiết để phù hợp với trào lưu xã hội. Xã hội càng hiện đại hóa thì Phật giáo cũng phải tỷ lệ thuận theo. Đó là quy luật tất nhiên. Nhưng thiết nghĩ cần phải phân biệt thế nào là hiện đại hóa và thế nào là tân thời hóa hay cải lương hóa. Hiện đại hóa(actualisation) tức là sự đổi thay một cách mạnh mẽ và tích cực làm bộc phát những chất liệu tiềm ẩn đã bị lãng quên. Hiện đại hóa Phật giáo chính là chuyển hiện vào đời những thông điệp cao đẹp một cách hợp lý và hiệu quả nhất để giúp con người chuyển hóa những gì còn tồn đọng. Sự chuyển hiện ấy không nhất thiết phải là những công thức cổ xưa hay những gì đã được sáng tạo mà quan trọng ở chỗ nó phải là phương pháp phù hợp nhất. Nó có thể được chấp nhận dù rằng có khi phải làm thay đổi một số hình thái sinh hoạt vốn  có nhưng đã khô héo và thiếu sinh khí của bản thân Phật giáo. Cho nên, trong quá trình đi lên, lịch sử cũng đã chứng kiến bao lần lột xác như vậy của Phật giáo. Cứ sau một lần biến động của xã hội là lại một lần Phật giáo thay đổi. Từ một mô hình ban đầu khi còn Phật tại thế, thời gian đã chứng tỏ sự tồn tại quá lâu của cái xác cũ kỹ ấy đã không còn thích hợp. Nên chi, sự vùng dậy của Đại chúng bộ là tất yếu. Mãi đến khi bị diệt vong trên toàn cõi Ấn Độ, những tưởng Phật giáo sẽ không còn thể nào vực dậy được sau cơn “địa chấn” khủng khiếp của thế lực Ấn giáo, Hồi giáo, nhưng một lần nữa Phật giáo lại nhanh chóng phục hồi với sự góp công của chư vị Tổ sư như các Ngài Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân.... Đến khi bị đẩy ra khỏi Ấn Độ, nó lại mang một chiếc áo mới ở Trung Hoa, Tích Lan, Miến Điện, Nhật Bản, Việt Nam, Mã Lai.... Ở những nơi đó, Phật giáo lại sống với những hoàn cảnh mới nên nó cũng không ngừng thay đổi để thích nghi. Và mỗi lần đổi thay là một lần Phật giáo trỗi dậy với toàn bộ sức sống của mình. Nếu không có những lần vượt thoát ấy thì có lẽ Phật giáo đã không còn được như hôm nay.

Phật giáo vốn dĩ là một truyền thống tốt đẹp mà xã hội con người sở hữu được. Nó được khai sinh để truyền cho con người những âm hưởng tuyệt vời nhất của cung đàn hạnh phúc. Như Tiến sĩ S.N. Dasgupta đã xưng tụng: “Trước khi Phật giáo ra đời, không có một tôn giáo nào của Ấn Độ được nói đến là đã có thể thiết lập một hệ thống đạo đức và tôn giáo được phổ biến rộng rãi có giá trị cho tất cả”[4].   Cho nên, không thể nào để Phật giáo bị đẩy lùi về một góc nào đó của những việc cúng lễ, từ thiện hay một vài hình thức giản dị đơn điệu được. Nó phải có giá trị thiết thực trong đời sống của nhân quần. Những lĩnh vực hiện nay Phật giáo còn bỏ ngõ rất nhiều như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục. Đặc biệt là giáo dục. Nó chính là cửa ngõ để cho con người tiếp cận với những giá trị thực thụ của Phật giáo. Nhưng đáng tiếc thay, nó đã không nói lên được vai trò vĩ đại của mình. Nó được thay bằng những sinh hoạt mang tính tín ngưỡng nhiều hơn. Thật hài hước khi niềm tin được nâng lên mà sự hiểu biết còn quá nông cạn thì phỏng có ích gì. Chính vì lý do ấy mà Phật giáo đang bị nghèo nàn hóa về cả hình thức lẫn nội dung mặc dầu trong nhà lại sở hữu cả một gia tài khổng lồ. Nếu tiếp tục như vậy, sớm muộn gì Phật giáo cũng sẽ bị gạt ra khỏi tư trào của xã hội.

Từ thực trạng ấy mà chúng ta luôn có cảm tưởng rằng: Phật giáo đã bị xã hội lãng quên. Và nhiều người đã cố gắng để thể hiện bằng cách cổ xúy cho những hình thức từ thiện hay tổ chức thật rầm rộ những buổi lễ hội, rồi đến những báo cáo, . . . Có thể nói đó là những nỗ lực đáng ghi nhận, nhưng rất tiếc những sự kiện ấy không thể nào làm động lực để Phật giáo trở mình được. Phật giáo được phát triển không thể dựa vào những tiêu chí ấy. Ngược lại, nó phải thể hiện bằng chất liệu của nền giáo dục hướng về thực tập. Và chỉ có thế mới có thể được mang một sinh khí mới khi đi vào trong cuộc sống thường nhật.

Đạo Phật tuy rằng đã được khai nguồn từ hơn 25 thế kỷ và chính nó đã góp phần làm tươi nhuận đời sống con người nhưng đứng trước trào lưu phán xét và đào thải của tư tưởng nhân loại hiện nay, Phật giáo phải thể hiện được tính năng động, tùy duyên đầy sáng tạo của mình.Và người Phật tử năng động phải là những người luôn ý thức được sự thay đổi không ngừng của vạn hữu. Chỉ khi nào đặt mình trước sự thay đổi đó, người con Phật mới có thể thấy rằng Đạo Phật không phải là những cái khung cứng nhắc, không phải là sự đông lạnh của tâm hồn, nó cũng không phải là sự bảo thủ một cách kiên cố những gì không còn phù hợp mà chính là sự vùng dậy cùng hiện hữu.  Hiện hữu thì luôn  sanh diệt thay đổi nên Đạo Phật cũng không  có lý do gì để dừng lại. Nói như vậy không có nghĩa là đạp đổ tất cả những gì tốt đẹp.  Vì sao? Vì sự hiện đại hóa(actualisation) hoàn toàn khác xa với tân thời hóa(modernisation) cả về ngữ nghĩa lẫn hình thức. Nếu như hiện đại hóa làm gia tăng sức sống cần thiết thì ngược lại, chính tân thời hóa làm cho thêm lố bịch những gì tốt đẹp. Xin đừng vì những “tự ái tôn giáo” , đừng vì vô tình hay cố ý mà làm thay đổi ý nghĩa sâu sắc của tinh thần tùy duyên nhi bất biến của Đạo Phật. Muốn như vậy thì phải là những con người có hùng tâm bảo tồn Đạo pháp một cách kiên định. Chính họ là những người mà Phật giáo đang cần. Hi vọng trong tương lai gần nhất, Phật giáo sẽ sản sinh được một lớp các thế hệ như vậy để có thể phục hưng và phát huy những giá trị vốn có trong kho tàng vô giá của Phật giáo nói riêng và nhân loại nói chung.

Chú thích:
[1] - HT. Thích Nhất Hạnh, Đạo Phật Ngày Nay, Nguyên Thủy và Đại Thừa
[2] - Nguyên Hạnh (dịch), tiểu phẩm Phật Giáo và Các Vấn Đề Tín Ngưỡng (The Buddhist Review - Spring 97 by Stephen Batchelor).
[3]- HT. Thích Nhật Hạnh, sđd
[4]- S.N. Dasgupta, Những Nền Văn Minh Ấn Hằng, Delli: Stargrup Std, 1998.

Source: damthoaiphatgiao

Bài Tháng Một - 2008


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com