Là một hiện hữu trong thế giới hiện tượng, lẽ tất
nhiên, Phật giáo phải tuân thủ đầy đủ mọi đặc tính
được chi phối dành cho một bộ phận nằm trong tổng
thể ấy. Nghĩa là nó cũng phải chịu sự vô thường biến
hoại, có thành thì ắt có trụ, có phát triển thì sẽ
có diệt vong. Đó là một quy luật chung cho tất cả
vạn pháp. Nhưng cũng chính điều đó lại đặt ra cho
những hàng đệ tử Phật, những người mang sứ mệnh “Đại
Phật Tuyên Hành”, một trách nhiệm thật to lớn khi
muốn giữ vững sự phát triển của ngôi nhà mà Đức
Phật đã tận tay giao phó. Làm thế nào? Và làm sao?...
luôn là những thao thức của mọi thời đại Phật giáo.
Nhất là trong thời kỳ hiện đại này, sự phát triển
như vũ bão về các giá trị vật chất, sự tụt hậu của
các giá trị đạo đức, sự sống dậy và nguy cơ bành
trướng của các thế lực trong thế giới ngầm, quá
trình giao lưu, xâm thực và đào thải tôn giáo một
cách hết sức quyết liệt... đang đe dọa các giá trị
truyền thống tốt đẹp của Phật giáo. Bên cạnh đó,
những chính sách, phương pháp hành động của Phật
giáo đang càng ngày càng thể hiện nhiều vấn đề mang
tính mâu thuẫn nội hàm to lớn. Và càng mâu thuẫn bao
nhiêu thì những vấn đề đó lại càng nổi trội hơn. Các
phạm trù vốn là những đặc sắc của Phật giáo như giải
thoát, niết bàn, hòa hợp, vô ngã,... đang có nguy cơ
bị đem ra định giá bởi những ước lượng của cân, đo,
đong, đếm. Có thể nói, chưa bao giờ trong Phật giáo,
sự giải đáp cho những định đề mang tính chất của một
công án như trên lại trở nên cấp thiết như hiện nay.
Chẳng hạn như “phải làm gì để Phật giáo phát triển
với những giá trị vốn có ?”, “ có nên thay đổi một
số các phong cách truyền thống hay không”, “có nên
tiêu chuẩn hóa các chuẩn mực đạo đức Phật giáo theo
xu hướng phát triển của xã hội hay không”,... hay
nói khác hơn “sự phát triển của Phật giáo trong sự
phát triển của xã hội phải được hiểu như thế nào và
xu hướng của sự phát triển ấy là gì?” Đây quả là
những đề tài có tầm vóc quá lớn của một bài viết,
nhưng cũng xin được góp một chút suy nghĩ, dẫu biết
rằng nó thật quá đơn giản so với những gì mà tất cả
các thế hệ Phật môn, trong đó có các bạn đã và đang
nghiệm xét.
Nhìn trên bình diện của thực tế, Phật
giáo đã và đang vượt qua phạm vi của một tôn giáo.
Nó đang được đón tiếp ở khắp mọi nơi, trong đó có
thể vì lý do này hoặc lý do khác. Điều đó cũng đủ
cho thấy những nỗ lực to lớn của các hàng đệ tử Phật
trong sự nghiệp đưa Phật giáo đến với mọi người. Thế
nhưng, vì là một bộ phận không thể tách rời của xã
hội, nên tất nhiên trong quá trình cộng hưởng với xã
hội, nó đã phải chịu những tác lực phản hồi, nhất là
từ nơi những đối tượng có cùng chức năng với Phật
giáo. Chính điều đó đã làm cho bản thân Phật giáo có
nhiều biến đổi sâu sắc về chất, về lượng và các hình
thái biểu hiện. Sự biến đổi ấy có khi tạo ra những
lợi thế để Phật giáo được phổ cập hay chí ít cũng đủ
sức tồn tục. Tuy nhiên, nhiều lúc nó lại làm nảy
sinh nhiều mâu thuẫn nội tại về bản chất và tính
nguyên thủy nếu các thế hệ Phật giáo được “phản quan
tri tự kỷ” bởi chính Phật giáo. Đây chính là một
khúc mắc quan trọng, mà theo người viết, đang cần
được các thế hệ Phật tử quán triệt một cách đồng bộ.
Bởi một lẽ, nó chính là tiền đề để Phật giáo có được
một định hướng tốt đẹp cho tương lai.
Xu Hướng Hội Nhập và Phát Triển của Phật
Giáo
Nói đến hội nhập thì quả thật Phật giáo đã có một
quá trình lịch sử đáng kể. Suốt hơn 2500 năm tồn tại,
nó đã tự mình thể hiện một phong cách mà qua đó đã
làm cho tất cả những con người trong những thời đại
ấy phải hiểu rằng Phật giáo đã là một phần không thể
thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của họ. Nhìn
vào những gì còn sót lại như một chứng cứ vĩnh viễn
thì không ai có thể phủ nhận được điều đó. Một Ấn Độ
lung linh huyền bí với giáo lý Vệ Đà già nua đã trở
thành sống động với những chủ thuyết mang đầy tính
sáng tạo của Phật giáo, một văn hóa Nhật Bản đậm đà
thiền vị, một Trung Hoa cởi mở, phóng khoáng khi nó
vốn dĩ đã được bao phủ trong cái khung lễ giáo cố
hữu của học thuyết Khổng Mạnh, hay một Việt Nam nhân
bản, đơn sơ mà thấm đượm tình người.... Tất cả những
thành quả đó được gọi là gì nếu không có sự đóng góp
to lớn của các thế hệ Phật giáo!
Thế nhưng, triển chuyển qua những giai đoạn khác
nhau của lịch sử, sự thăng trầm, thịnh suy đã cho
thấy sự cần thiết là phải có một định hướng phù hợp
khi Phật giáo muốn bắt kịp trào lưu của xã hội. Quá
khứ đã trôi qua để lại một dấu son đẹp và chúng ta
cũng không cần thiết phải luyến tiếc. Bởi đơn giản
hiện tại vĩnh viễn là những gì đang trôi chảy. Sự
bất cập sẽ giết chết và đào thải tất cả ra khỏi sân
chơi của vũ trụ. Cho nên, hơn tất cả vẫn là chờ đợi
sự chuyển mình của Phật giáo khi đứng trước vòng
quay vĩ đại của thời cuộc hôm nay.
Nhưng chuyển mình như thế nào? Nhu yếu của xã hội
đòi hỏi Phật giáo không thể an trụ trong những tháp
ngà của quá khứ. Nó đánh động tất cả để rồi chi phối
tất cả bằng quy luật hỗ tương, đào thải và chọn lọc.
Chỉ có những cá thể nào ưu tú mới có khả năng tồn
tại và phát triển. Sự tùy thuận luôn là công thức
được đặt ra để trong đó các thành viên vận hành theo
một trật tự của tổng thể xã hội đó. Và trong hiện
tại, Phật giáo cũng phải bắt buộc phải chuyển mình
theo một quỹ đạo như vậy. Nghĩa là sự tùy thuận cần
phải được chú trọng hơn bao giờ hết.
Thật ra, phương thức này không phải xa lạ gì với các
thế hệ Phật giáo. Nó đã được các bậc tiền bối vận
dụng và đã thành công. Người đầu tiên trong tất cả
chính là Đức Phật. Biết bao nhiêu phương tiện thiện
xảo, bao nhiêu ngôn từ lập giáo cũng như rất nhiều
những hình thái tổ chức mà Đức Phật đã để lại đều
cho thấy rằng Ngài là một bậc Đạo sư có tầm nhìn xa
trông rộng hơn bất kỳ một đạo sư nào của Ấn Độ và
của thế giới.
Tuy nhiên, cơ cấu xã hội luôn thay đổi theo định
luật vô thường: bao hình thái trồi sụt, bao thế hệ
đi qua, bao dấu ấn còn để lại đâu đó trong lòng văn
minh nhân loại... Mỗi một cơ chế xã hội đi qua đều
phản ánh những nhu cầu riêng về tâm linh và vật chất
của nó. Nếu trong quá khứ, những hình thái Phật giáo
đã đóng góp vào đó như là những nguyên lý được xem
là thích hợp nhất cho những thời đại ấy thì ngày nay
tại sao không thể là như vậy nhĩ ? Có thể nói rằng
sự lặp lại hay cố thủ bất cứ một cái gì đều được gọi
là sai lầm hay ít ra là không đúng với chính giáo lý
của Đạo Phật. Cho nên, sự tạo dựng các hình thái mới
của Phật giáo là điều tất nhiên. Nó nói lên được
tính sáng tạo cần thiết khi Phật giáo cũng tồn tục
bằng chính nguyên lý Duyên khởi mà Phật giáo đã đề
ra. Vì vậy chắc hẳn chúng ta cũng phải đồng ý với
nhận xét của HT. Nhất Hạnh khi đề cập đến vấn đề
này:
“Chúng ta thấy có Phật giáo Bắc tông, Phật giáo
Nam tông, Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Trung Hoa,
Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Nhật Bản, Phật giáo
Tích Lan, Phật giáo Ấn Độ… Các nền Phật giáo nầy có
những sinh hoạt khác biệt về phương diện hình thức v
cũng có khi cả về phương diện nội dung tư tưởng nữa,
nhưng tất cả đều nhắm tới một mục đích là làm sống
những nguyên lý Phật học trong đời sống nhân
loại”[1].
Vâng! Làm sống dậy những nguyên lý Phật học trong
đời sống nhân loại chính là con đường và nhiệm vụ
duy nhất mà từ đó Phật giáo tồn tại. Bởi đơn giản,
Phật giáo ra đời chỉ vì mục đích phục vụ cho lợi ích
của nhân sinh. Rời xa con người, Phật giáo đâu còn
lý do để tồn tại. Cho nên, những con người trong
Phật giáo, trước hết, phải là những người của xã hội.
Họ là những người biết cảm thông với nỗi khổ đau của
tất cả con người trong xã hội. Có cảm thông ta mới
thấy được rằng đâu là những giá trị chân hạnh phúc
mà Phật giáo đã cố gắng giúp con người thể hiện. Đạo
Phật vì thế không chỉ toàn là giáo lý mà còn là sự
thực hiện một cách trọn vẹn tinh thần của giáo lý ấy
vào trong cuộc sống. Ở đó, nó không đòi hỏi sự bàn
cao nói rộng mà chỉ đơn thuần là sống một cách trọn
vẹn với hiện hữu sanh diệt này. Nhưng mà sống như
thế nào? Đó có phải chăng là sự thông thoáng, cởi mở,
thân thiện, hòa nhập.... Thiết nghĩ Phật giáo có đủ
điều kiện để thể hiện những điều tốt đẹp đó trong
đời sống bình nhật của con người. Đồng quan điểm
này, Stephen Batchelor đã phát biểu như sau:
"…Các truyền thống Phật giáo có thể cung cấp một
nền tảng vững chắc về những giá trị triết học, tư
duy và đạo đức, hướng đến đời sống tỉnh thức và giác
ngộ. Phải giữ gìn và phát huy những gì mà Đức Phật
đã thực nghiệm để duy trì và phát triển một nền văn
hóa giác ngộ, có thể giải quyết những vấn đề bức
thiết của cá nhân và thế giới hiện đại; và những
truyền thống Phật giáo buộc phải nhảy một bước nhảy
quyết định để làm cho Phật giáo trở nên là một tôn
giáo mang tính thực nghiệm, hơn là một tôn giáo dựa
vào tín ngưỡng và thần quyền. Điều đó là sự biểu
hiện của Phật giáo không mang màu sắc tín
ngưỡng."[2]
Ý Nghĩa của Khổ Đau
Một khía cạnh khác nữa đã được đề cập ở trên cũng
đáng để chúng ta lưu tâm. Đó là quan niệm về đau khổ
trong Đạo Phật. Nếu bỏ qua tất cả những biểu hiện
truyền thuyết mang tính huyền thoại, ta sẽ bắt gặp
được một Đạo Phật hoàn toàn thực tế với con người.
Hiện thực đó được phản ánh bằng những thông số của
các hiện tướng khổ đau. Bạn có lý do để nói rằng đời
là một biển khổ nếu bạn được Đạo Phật chỉ cho thấy
những sự thật mà chúng ta đang phải đối diện hằng
ngày. Bằng những phân tích dựa vào những dữ liệu cụ
thể từ thực tế, Đạo Phật đem đến cho đời sống một
quan niệm rất thực về những hiện trạng khổ đau này.
Nhưng, hình như đây lại là một điều cấm kỵ mà hầu
như tất cả ai cũng cố gắng không đề cập đến dẫu rằng
phải đối diện hằng ngày. Nếu điều đó đúng thì có thể
nói rằng chúng ta đã và đang bưng bít về một sự thật
vĩ đại mà lẽ ra ta đã có thể hiểu từ lâu rồi. Sự
quay lưng lại với sự thật đó làm cho chúng ta cứ
quay cuồng trong vòng xoay của sanh tử. Tệ hại hơn
nữa là nhiều khi mình cứ tưởng đó là bến bờ hạnh
phúc. Điều này cũng giống như một dân tộc bị nô lệ
mà cứ tưởng mình đang được tự do thì quả là thật
đáng thương và hết sức khôi hài. Và Phật giáo đã
không ngần ngại chỉ ra rằng sự bưng bít ấy chính là
nguyên nhân trong tất cả nguyên nhân làm cho ta
không nhận chân được hạnh phúc thật sự của đời mình.
Vì vậy, Phật giáo đã lấy khổ đau làm cơ sở để xây
dựng hệ thống giáo lý của mình. Bản thân của Đạo
Phật biết rằng, việc ý thức được về khổ đau sẽ đem
đến một cảm giác không dễ chịu chút nào nhưng vùi
thân trong sự giả tạo của ăn, mặc, ngủ.... thì Phật
giáo lại càng không thể chấp nhận được. Vì sao? Câu
trả lời có thể được dễ dàng tìm thấy qua câu chuyện
Bảy Ngày Làm Vua của chàng trai trẻ Tissa, em ruột
của vua Asoka vào thế kỷ thứ III BC. Trong câu
chuyện đó nói rằng, chàng Tissa luôn chế diễu các
thầy, các sư chỉ biết ăn no ngủ kỹ mà cứ luôn mồm
nói thiên nói địa. Cần phải nói thêm rằng, trong
giai đoạn này, Phật giáo đã bước vào một bước ngoặt
mới với sự trà trộn các thành viên của các tôn giáo
khác đã phản ánh một khía cạnh nào đó của Tăng đoàn
Phật giáo thời kỳ này. Và rất có thể nhận xét về
hình ảnh Tăng đồ Phật giáo của hoàng thân Tissa xuất
phát từ thực trạng ấy. Điều này trong lịch sử cuộc
kết kinh điển lần thứ ba vào triều vua Asoka có đề
cập cụ thể trong phần nói về nguyên nhân dẫn đến
cuộc kết tập này. Vua Asoka biết được nên đã dùng
mưu kế để làm cho Tissa phải mang tội tử hình và ra
lệnh rằng Tissa sẽ được hưởng ân huệ cuối cùng là
được làm vua trong 7 ngày trước khi bị hành quyết.
Qua 7 ngày sau, vua Asoka đến hỏi trong 7 ngày qua
được làm vua, cảm thấy thế nào thì Tissa trả lời
rằng có sung sướng gì khi biết mình chỉ còn 7 ngày
nữa là phải chết mặc dầu trước đó chàng ta rất muốn
biết cảm giác được làm vua. Câu chuyện không phải
kết thúc ở đó nhưng cũng đủ cho thấy rằng hướng đến
một sự kiện khác ngoài khổ đau để tìm hạnh phúc là
điều mà Phật giáo khó có thể chấp nhận được. Ngược
lại, Phật giáo còn chủ trương phải tìm hạnh phúc
ngay trong bản thân của khổ đau. Lấy khổ đau làm
động lực để nuôi dưỡng ý chí vươn lên. Và cũng chỉ
có nó mới là môi trường duy nhất để từ đó những giá
trị hạnh phúc thật sự được thăng hoa. Tổ Hoàng Bá
ngày xưa đã chẳng nói như vậy sao:
“Trần lao quýnh thốt sự phi thường
Hệ bã thằng đầu tố nhất trường
Bất thị nhất phin hn triệt cốt
Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương.”
Thiền sư Nhật Hạnh dich:
Vượt ci trần lao việc chẳng thường
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngát mùi hương.
Và nếu không như vậy thì Việt vương Câu Tiễn ba
năm nằm gai nếm mật để làm gì? Phải chăng tất cả là
để rèn luyện cho mình một sự thôi thúc vươn lên. Ở
điểm này, rõ ràng thật đúng như nhận định của HT.
Nhất Hạnh:
“Đó là những chất liệu cần thiết để nuôi dưỡng lý
tưởng. Không phải chỉ có lý tưởng giải thoát mới cần
được nuôi dưỡng bằng ý thức khổ đau. Lý tưởng nào
cũng phải được nuôi dưỡng bằng ý thức khổ đau. Cái
khổ đau xót xa của một Việt vương Câu Tiễn chẳng hạn
là chất liệu nuôi dưỡng lý tưởng phục thù của vương.
Tại sao phải bảo tên hầu cận mỗi ngày nhắc cho mình
nghe ci nhục mất nước ? Tại sao phải treo một bọc
mật đắng trước cửa để nếm mỗi khi đi ra đi vào? Đó
là Câu Tiễn muốn nuôi dưỡng lý tưởng phục thù vậy.”[3]
Cho nên, Đức Phật đã có lý khi Ngài dạy cho các
hàng đệ tử trước tiên phải giác ngộ rằng: “Thế gian
vô thường. Quốc độ nguy thúy. Tứ đại khổ không. Ngũ
ấm vô ngã. Sanh diệt biến dị. Hư ngụy vô chủ... ”.
Ngài thường dạy chư vị Tỳ kheo thực hành đời sống
giản dị với tiêu chí “tam thường bất túc” (ba việc
thường là cơm ăn, áo mặc, nhà ở không bao giờ đầy đủ
quá). Quan niệm này thường được hiểu lầm là khổ hạnh
ép xác, nhưng thật ra đấy là phong cách sống trong
sự ý thức trọn vẹn về một phần nhỏ khổ đau mà nhân
loại đang phải gánh chịu. Nếu cho rằng đấy là một sự
khổ hạnh thì đó chính là một sự khổ hạnh cần thiết
để phát triển lý tưởng xu hướng giải thoát từ những
hiện trạng khổ đau và nuôi dưỡng lòng bi mẫn một
cách liên tục vậy.
Hiện Đại Hóa hay là Tân Thời Hóa
Ngày nay, sự đổi mới cách tư duy, nhận thức về
thế giới hiện tượng của xã hội hiện đại đã làm thay
đổi các nếp sống của rất nhiều lĩnh vực. Và Phật
giáo cũng đã có những biến chuyển đáng kể. Đó có thể
là sự quyền biến cần thiết để phù hợp với trào lưu
xã hội. Xã hội càng hiện đại hóa thì Phật giáo cũng
phải tỷ lệ thuận theo. Đó là quy luật tất nhiên.
Nhưng thiết nghĩ cần phải phân biệt thế nào là hiện
đại hóa và thế nào là tân thời hóa hay cải lương hóa.
Hiện đại hóa(actualisation) tức là sự đổi thay một
cách mạnh mẽ và tích cực làm bộc phát những chất
liệu tiềm ẩn đã bị lãng quên. Hiện đại hóa Phật giáo
chính là chuyển hiện vào đời những thông điệp cao
đẹp một cách hợp lý và hiệu quả nhất để giúp con
người chuyển hóa những gì còn tồn đọng. Sự chuyển
hiện ấy không nhất thiết phải là những công thức cổ
xưa hay những gì đã được sáng tạo mà quan trọng ở
chỗ nó phải là phương pháp phù hợp nhất. Nó có thể
được chấp nhận dù rằng có khi phải làm thay đổi một
số hình thái sinh hoạt vốn có nhưng đã khô héo và
thiếu sinh khí của bản thân Phật giáo. Cho nên,
trong quá trình đi lên, lịch sử cũng đã chứng kiến
bao lần lột xác như vậy của Phật giáo. Cứ sau một
lần biến động của xã hội là lại một lần Phật giáo
thay đổi. Từ một mô hình ban đầu khi còn Phật tại
thế, thời gian đã chứng tỏ sự tồn tại quá lâu của
cái xác cũ kỹ ấy đã không còn thích hợp. Nên chi, sự
vùng dậy của Đại chúng bộ là tất yếu. Mãi đến khi bị
diệt vong trên toàn cõi Ấn Độ, những tưởng Phật giáo
sẽ không còn thể nào vực dậy được sau cơn “địa chấn”
khủng khiếp của thế lực Ấn giáo, Hồi giáo, nhưng một
lần nữa Phật giáo lại nhanh chóng phục hồi với sự
góp công của chư vị Tổ sư như các Ngài Mã Minh, Long
Thọ, Vô Trước, Thế Thân.... Đến khi bị đẩy ra khỏi
Ấn Độ, nó lại mang một chiếc áo mới ở Trung Hoa,
Tích Lan, Miến Điện, Nhật Bản, Việt Nam, Mã Lai....
Ở những nơi đó, Phật giáo lại sống với những hoàn
cảnh mới nên nó cũng không ngừng thay đổi để thích
nghi. Và mỗi lần đổi thay là một lần Phật giáo trỗi
dậy với toàn bộ sức sống của mình. Nếu không có
những lần vượt thoát ấy thì có lẽ Phật giáo đã không
còn được như hôm nay.
Phật giáo vốn dĩ là một truyền thống tốt đẹp mà
xã hội con người sở hữu được. Nó được khai sinh để
truyền cho con người những âm hưởng tuyệt vời nhất
của cung đàn hạnh phúc. Như Tiến sĩ S.N. Dasgupta đã
xưng tụng: “Trước khi Phật giáo ra đời, không có một
tôn giáo nào của Ấn Độ được nói đến là đã có thể
thiết lập một hệ thống đạo đức và tôn giáo được phổ
biến rộng rãi có giá trị cho tất cả”[4]. Cho nên,
không thể nào để Phật giáo bị đẩy lùi về một góc nào
đó của những việc cúng lễ, từ thiện hay một vài hình
thức giản dị đơn điệu được. Nó phải có giá trị thiết
thực trong đời sống của nhân quần. Những lĩnh vực
hiện nay Phật giáo còn bỏ ngõ rất nhiều như kinh tế,
chính trị, văn hóa, giáo dục. Đặc biệt là giáo dục.
Nó chính là cửa ngõ để cho con người tiếp cận với
những giá trị thực thụ của Phật giáo. Nhưng đáng
tiếc thay, nó đã không nói lên được vai trò vĩ đại
của mình. Nó được thay bằng những sinh hoạt mang
tính tín ngưỡng nhiều hơn. Thật hài hước khi niềm
tin được nâng lên mà sự hiểu biết còn quá nông cạn
thì phỏng có ích gì. Chính vì lý do ấy mà Phật giáo
đang bị nghèo nàn hóa về cả hình thức lẫn nội dung
mặc dầu trong nhà lại sở hữu cả một gia tài khổng lồ.
Nếu tiếp tục như vậy, sớm muộn gì Phật giáo cũng sẽ
bị gạt ra khỏi tư trào của xã hội.
Từ thực trạng ấy mà chúng ta luôn có cảm tưởng
rằng: Phật giáo đã bị xã hội lãng quên. Và nhiều
người đã cố gắng để thể hiện bằng cách cổ xúy cho
những hình thức từ thiện hay tổ chức thật rầm rộ
những buổi lễ hội, rồi đến những báo cáo, . . . Có
thể nói đó là những nỗ lực đáng ghi nhận, nhưng rất
tiếc những sự kiện ấy không thể nào làm động lực để
Phật giáo trở mình được. Phật giáo được phát triển
không thể dựa vào những tiêu chí ấy. Ngược lại, nó
phải thể hiện bằng chất liệu của nền giáo dục hướng
về thực tập. Và chỉ có thế mới có thể được mang một
sinh khí mới khi đi vào trong cuộc sống thường nhật.
Đạo Phật tuy rằng đã được khai nguồn từ hơn 25
thế kỷ và chính nó đã góp phần làm tươi nhuận đời
sống con người nhưng đứng trước trào lưu phán xét và
đào thải của tư tưởng nhân loại hiện nay, Phật giáo
phải thể hiện được tính năng động, tùy duyên đầy
sáng tạo của mình.Và người Phật tử năng động phải là
những người luôn ý thức được sự thay đổi không ngừng
của vạn hữu. Chỉ khi nào đặt mình trước sự thay đổi
đó, người con Phật mới có thể thấy rằng Đạo Phật
không phải là những cái khung cứng nhắc, không phải
là sự đông lạnh của tâm hồn, nó cũng không phải là
sự bảo thủ một cách kiên cố những gì không còn phù
hợp mà chính là sự vùng dậy cùng hiện hữu. Hiện hữu
thì luôn sanh diệt thay đổi nên Đạo Phật cũng không
có lý do gì để dừng lại. Nói như vậy không có nghĩa
là đạp đổ tất cả những gì tốt đẹp. Vì sao? Vì sự
hiện đại hóa(actualisation) hoàn toàn khác xa với
tân thời hóa(modernisation) cả về ngữ nghĩa lẫn hình
thức. Nếu như hiện đại hóa làm gia tăng sức sống cần
thiết thì ngược lại, chính tân thời hóa làm cho thêm
lố bịch những gì tốt đẹp. Xin đừng vì những “tự ái
tôn giáo” , đừng vì vô tình hay cố ý mà làm thay đổi
ý nghĩa sâu sắc của tinh thần tùy duyên nhi bất biến
của Đạo Phật. Muốn như vậy thì phải là những con
người có hùng tâm bảo tồn Đạo pháp một cách kiên
định. Chính họ là những người mà Phật giáo đang cần.
Hi vọng trong tương lai gần nhất, Phật giáo sẽ sản
sinh được một lớp các thế hệ như vậy để có thể phục
hưng và phát huy những giá trị vốn có trong kho tàng
vô giá của Phật giáo nói riêng và nhân loại nói
chung.
Chú thích:
[1] - HT. Thích Nhất
Hạnh, Đạo Phật Ngày Nay, Nguyên Thủy và Đại Thừa
[2] - Nguyên Hạnh (dịch), tiểu phẩm Phật Giáo và Các
Vấn Đề Tín Ngưỡng (The Buddhist Review - Spring 97
by Stephen Batchelor).
[3]- HT. Thích Nhật Hạnh, sđd
[4]- S.N. Dasgupta, Những Nền Văn Minh Ấn Hằng,
Delli: Stargrup Std, 1998.