Thöa baïn,
TỦ SÁCH MẬT TẠNG

QUÁN THẾ ÂM

THẬP NHẤT DIỆN THẦN CHÚ TÂM KINH

 
DỊCH GIẢ: SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC

 NĂM 1982

Source: Trang nhà Quảng Đức

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

Thay lời tựa

Quan Thế Am Thập Nhứt Diện Thần Chú Tâm Kinh

Bất Không Quyến Tác Thần Chú Tâm Kinh

Trừ Tặc Nạn Đà La Ni Kinh

Kinh Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu Đà La Ni

Đại Thánh Diệu Cát Tường Bồ Tát Bí Mật Đà La Ni

Phụ lục: Sơ lược tiểu sử cố Thượng Toạ Thích Viên Đức

 

 

THAY LỜI TỰA

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính lễ Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni và ba đời Chư Phật Mười Phương

Kính lễ Tôn Pháp Đà La Ni trong ba đời mười phương

Kính lễ Chư Hiền Thánh Tăng trong ba đời mười phương

Chúng con – Một số môn đồ của cố Thượng Tọa Thích Viên Đức, người đă có công hoằng truyền và phiên dịch Kinh sách Mật Giáo trong những năm gần đây, đúng như lời nhận định của Ḥa thượng Thích Hành Trụ, hiệu Phước B́nh trong lời giới thiệu cuốn Kinh Mạt Pháp Nhất Tự Đà La Ni: “Tôi xét thấy Sa môn Viên Đức có nhiều công phu nghiên cứu, phiên dịch các Kinh thuộc Mật Bộ với ḷng mong muốn Pháp môn được lưu truyền cho hậu thế”. Trong thời gian chúng con theo người tu  học, Người thường nhắn nhủ chúng con: “Nếu ngày mai vô thường có đến với Ta, các con hăy y theo lời chỉ giáo của Ta tu tập để đạt đến bờ Giải Thoát, đồng thời tùy phương tiện lưu bố các bộ Kinh Mật Giáo thầy đă phiên dịch, để Pháp môn Tối thượng nầy măi măi làm lợi lạc cho chúng sanh”. 

Nay thầy đă vĩnh biệt chúng con ở cơi Ta bà nầy mà về cơi Phật, chúng con kính đảnh lễ Giác linh Ân Sư đă truyền Pháp cho chúng con. Để tưởng nhớ đến thâm ân dạy dỗ của Ân sư, chúng con phát nguyện ấn tống bộ “QUÁN THẾ ÂM THẬP NHẤT DIỆN THẦN CHÚ TÂM KINH” là một phần nhỏ của kho tàng Pháp bảo mà Thầy đă phiên dịch và đă được Đại đức Thích Đồng Hạnh là Pháp đệ của Thầy chúng con hứa khả. Chúng con chí thành đốt nén tâm hương dâng lên chư Phật, Tôn Pháp, chư Đại Bồ Tát và Giác linh của Thầy thấu rơ chứng minh cho ḷng chúng con và chúng con cũng xin thành tâm sám hối tất cả những lỗi lầm sai sót trong khi hoàn thành bộ Kinh nầy.

Chúng con nguyện đem công đức nầy hồi hướng cho hết thảy Pháp giới chúng sanh phát ḷng Bồ đề, đồng chứng quả Phật.

Mùa Báo Hiếu

Đại diện một số môn đồ

Cư sĩ ĐỨC ĐẠT

 

 

QUÁN THẾ ÂM THẬP NHỨT DIỆN

THẦN CHÚ TÂM KINH

 

        ĐẠI ĐƯỜNG TAM TẠNG HUYỀN TRANG PHÁP SƯ PHỤNG CHIẾU DỊCH PHẠN RA HÁN VĂN

        SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH HÁN RA VIỆT VĂN 

 

Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Bạt Già Phạm ở tại Trúc Y Đạo tràng trong thành Thất La Phiệt, cùng các vị Đại Tỳ Khưu chúng gồm có 1.250 người đều đầy đủ. Đại Bồ Tát th́ vô lượng vô số, Ngài Từ Thị Bồ Tát (1) làm Thượng Thủ. Lại có vô lượng Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Ba Tắc, Ưu Bà Di và Chư Thiên Long, Dược Xoa, Kiền Thác Bà, Tất Xá Gia, Nhơn cùng Phi Nhơn, v.v... Đại chúng vây quanh cúng dường cung kính, tôn trọng tán khen Đức Phật v́ họ nói Pháp.

Lúc bấy giờ Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát cùng vô lượng Câu chi na-du-da trăm ngàn tŕ chú thần tiên, trước sau doanh vây đi đến chỗ Phật. Đến rồi đănh lể hai chân Đức Thế Tôn, hữu nhiễu ba ṿng, lui về một bước. Đức Quán Tự Tại Đại Bồ Tát  bạch Đức Phật rằng: “Kính thưa Đức Thế Tôn! Con có Thần Chú Tâm gọi là Thập Nhứt Điện đủ đại oai lực, 11 câu chi chư Phật đă nói, con nay xin muốn nói để làm lợi ích an lạc cho hết thẩy hữu t́nh, trừ tất cả bệnh, diệt tất cả ác, chấm dứt tất cả việc bất tường, trừ tất cả các mộng tưởng, ngăn tất cả sự chết phi thời(2). Khiến tất cả ác kẻ tâm được thanh tịnh, kẻ có buồn khổ được an vui, kẻ có oán đối được ḥa giải. Ma Quỷ chướng ngại đều bị tiêu diệt, Tâm sở nguyện đều được xứng ư. Kính thưa Đức Thế Tôn! Con không thấy thế gian hoặc trời hoặc ma, hoặc Phạm, hoặc Sa môn, hoặc Bà La Môn v.v... dùng Thần chú này để pḥng hộ thân ḿnh, thọ tŕ đọc tụng chép viết lưu bố mà bị tất cả tai hoạnh ma chướng, đao trượng, độc dược, ếm mị chú thuật có thể làm hại họ, con cũng không thấy dùng thần chú nầy tùy ở chổ nào, hoặc xa hoặc gần kiết làm giới hạn rồi mà có thể vượt qua để nhiễu hại nhau, chỉ trừ ác nghiệp quyết định đă đến lúc thần thục. Kính thưa Đức Thế Tôn! Xin Thế Tôn chứng biết cho những việc chắc chắn như vậy. Chỉ nên tin thọ, không nên phân biệt, v́ thế khiến tất cả tai hoạnh thảy đều viển ly không thể xâm cận. Thần chú Tâm này, tất cả Chư Phật đồng đă xưng tán, đồng đă tùy hỷ. Tất cả Như Lai nhớ tŕ thủ hộ Thần chú Tâm này. Kính thưa Đức Thế Tôn! Con nhớ đời quá khứ quá căn-già-sa đắng tiền kiếp, có Đức Phật ra đời gọi là Bách Liên Hoa nhăn Vô chướng Ngại Đẳng Xí Thạnh Công Đức Quang vương Như Lai Ưng Chánh đẳng Giác, lúc ấy con làm vị Đại Tiên Nhân theo Đức Phật Thế Tôn kia để thọ tŕ chú nầy. Được chú nầy con thấy được mươi phương Phật, lập tức con chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, phải biết chú nầy có đủ đại oai lực. Vậy cho nên, nếu có kẻ Tịnh tín, thiện nam tử, thiện nữ nhơn v.v... Muốn thọ tŕ dọc tụng Thần chú nầy, phải nên cung kính chí tâm buộc niệm, mỗi lúc sang chiều như Pháp thanh tịnh niệm tụng chú nầy 108 biến, nếu thường hay như thế, hiện thân thu hoạh được 10 điều lợi ích thù thắng. Những ǵ là 10 điều lợi ích thù thắng?”

1)      Thân người ấy thường vô bịnh

2)      Thường được mười phương chư Phật nhiếp thọ

3)      Tài bảo, y thực thọ dụng vô tận

4)      Hay hàng phục oán địch mà không lo sợ

5)      Khiến các bậc Tôn quư “Trước ngôn cung kính”

6)      Cổ độc, quỷ mị không thể trúng thương

7)      Tất cả đao trượng không thể hại được

8)      Lửa không thể đốt

9)      Không bị chết hoạnh tử

Lại c̣n được 4 điều công đức thù thắng nữa:

1)      Khi mạng chung được thấy chư Phật

2)      Khi mạng chung không đọa vào đường ác thú

3)      Không nhân v́ sự hiểm nguy mà chết

4)      Được sinh Cực Lạc thế giới

Kính thưa Đức Thế Tôn! Con nhớ lại thời quá khứ, quá hơn 10 căn-già-sa (1) đẳng kiếp, lại gặp nơi có Đức Phật ra đời gọi là Mỹ âm Hương Như Lai Ưng Chánh Đẳng Giác, lúc ấy con làm thân Đại Cư Sĩ ở chổ đức Phật kia thọ được Thần chú nầy, con liền tụng tŕ, vượt qua được 4 vạn kiếp sinh tử, con lại được Chư Phật Đại Bi Trí Tạng Nhứt Thiết Bồ Tát Giải Thoát Pháp Môn. Do cai lục của chú nầy, con có thể cứu tất cả những cột trói, cùm trói, xiềng xích nơi chốn lao ngục, những kẻ sa vào h́nh lục (2), thủy Hỏa phong tặc, trùng độc ếm đăo, Nhơn cùng Phi nhơn v.v... Các thứ khổ nạn. Do Thần chú nầy, con đối với tất cả hữu t́nh hay làm chỗ quy y cứu hộ an ủi, làm hang sâu, pḥng nhà. Con dùng Thần chú này để nhiếp thủ (3) tất cả bạo ác, Dược xoa, La sát Bà,... v... trước khiến cho họ phát khởi từ tâm, mẫn tâm, vậy sau mới an lậ nơi Đạo Vô Thượng Bồ Đề Chánh Đẳng Chánh Giác. Kính thưa Đức Thế Tôn! Thần chú nầy của con có Đại oai lực. Nếu tụng một biến tức hay trừ diệt tứ căn bản tội (4) và ngủ vô gián khiến không c̣n dư sót, huống hay như lời nói mà tu hành; nếu đă từng trồng các căn lành ở trăm ngàn câu chi na-du-da Phật th́ ngày nay ở nơi đậy mới nghe được Thần chú nầy, huống nữa hay thọ tŕ, như lời nói mà tu hành. Nếu, có thể ngày đêm đọc tụng thọ tŕ Thần chú nầy, con sẽ khiến người đó đă có mong cầu điều chi đều được như ư, Nếu có thể mỗi nữa tháng, hoặc ngày 14, hoặc trong ngày rằm, thọ tŕ trai giới như Pháp thanh tịnh, buộc tâm nơi con tụng Thần chú này, liền ở trong sanh tử vượt 4 vạn kiếp. Kính thưa Đức Thế Tôn! Con do chú này được gọi hiệu là “Tôn Quư” khó có thể được nghe. Nếu có người xưng niệm trăm ngàn câu chi-na-du-đa danh hiệu chư Phật và nếu có người chỉ tạm thời đối với danh hiệu của con chí tâm xưng niệm th́ hai công đức kia b́nh đẳng, b́nh đẳng. Những người có xưng niệm danh hiệu của con th́ tất cả đều được địa vị Bất Thối Chuyển, xa ĺa tất cả bệnh, thoát tất cả chướng và tất cả lo sợ và hay diệt trừ thân ngữ ư ác, huống nữa có người đối với Thần chú của con đă nói mà thọ tŕ đọc tụng như lời nói tu hành, phải biết người đó, đối với Vô Thượng Bồ Đề lảnh thọ được như tại bàn tay”.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi Đức Quán Tự Tại Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông mới hay đối với tất cả hữu t́nh, phát khởi ư đại từ bi muốn khai thị Đại Thần chú này như thế. Thiện nam tử! Ông do phương tiện này, hay cứu thoát tất cả hữu t́nh đă có binh khổ chướng nạn, sợ sệt thân ngử ư ác cho đến an lập tất cả hữu t́nh vào đạo Vô Thượng Bồ Đề Chánh Đẵng Chánh Giác. Thiện nam tử! Ta cũng vui mứng cho phép ông nói Thần chú đó, ông nên nói đi”. Lúc bấy giờ, Đức Quán Tự Tại Bồ Tát Ma ha Tát liền từ toà đứng dậy, trịch vai áo bên hửu, gối hữu sát đất mà bạch Đức Phật rằng: “Kẻ tụng chú này nên nói như thế này:

 

        Kính lễ Tam Bảo.

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Ám, Đạt Ra Đạt Ra, Địa Lư Địa Lư, Đổ Rô Đổ Rô, Nhứt Lai Phạt Lai, Chiếc Lệ Chiếc Lệ, Nhứt Lí Nhí Lí, Chí Lí Chí Trí, Thạ La Ma Ba Nại Gia, Thật Đà Tát Đoả, Mạt Ca Lô Ní Ca, Toá Ha.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Đây là Căn Bản Thần Chú. Nếu có người tŕ tụng, th́ thu hoạch được những công đức thù thắng như trên đă nói.

        Kính lễ Tam Bảo.

        Kính lễ Thánh Tri Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Kha Kha Kha Kha, Nhút Lệ Nhí Lệ, Chỉ Lệ Bệ Lệ, Khí Lệ Hế Lệ, Sa Ha.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Đây là Thuỷ Chú và Y Chú. Nếu muốn vào Đạo Tràng, trước nên tắm rửa, sau lấy Thần chú này chú vào trong nước bảy biến, sái thân kết tịnh. Lại lấy Thần chú này chú trong áo mặc bảy biến, nhiên hậu mới mặc vào.  

        Kính lễ Tam Bảo.

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Trổ Rô Trổ Rô, Kha Kha Kha Kha, Sa Ha.    

Kính thưa Đức Thế Tôn! Chú này là Hương Chú, là Đăng Chú. Nếu khi vào Đại tràng, khi muốn thiêu hương cúng dường, trước dùng Thần Chú này trong hương bảy biến, nhiên hậu mới thêu. Khi muốn thắp đèn, trước dùng chú này chú trong dầu bảy biến, sau mới thắp đèn.

        Kính lễ Tam Bảo.

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Tử Lí Tử Lí, Địa Lí Địa Lí, Tử Lí Địa Lí, Sa Ha.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Đây là Hoa Hương Man(1) Chú. Nếu vào Đạo tràng. Khi muốn dùng hoa, hương man để cúng dường, trước lấy Thần Chú này chú trong hoa bảy dùng tán rải nơi Tôn Tượng, Lại lấy Thần Chú này chú vào tràng hoa 7 biến để đem trang nghiêm nơi Tôn Tượng.

        Kính lễ Tam Bảo.

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Ta Đệ Ta Đệ, Tử Địa Tử Địa, Tố Đổå Tố Đổ, Sa Ha.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Đây là cúng Phật hiến chú. Nếu muốn lấy đồ ẩm thực, hoa quả vv... để cúng dường Phật, trước trụng chú này 21 biến, nhiên hiệu mới phụng biến. 

        Kính lễ Tam Bảo.

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Mạc Tử Đạc Tử, Chiếc Lí Chiếc Lí, Hổ Rô Hổ Rô, Chủ Rô Chủ Rô, Tố Rô Tố Rô, Mẫu Rô Mẫu Rô, Sa Ha.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Đây là Tân Chú(1). Nếu muốpn trên căn bản Thần Chú tùy việc lúc làm, trước lấy chú này chú trong cây Xà Để Hoa một biến rồi mới đem mà nhúm lửa. Lại riêng lấy Xà Để Hoa cắt lấy làm 31 đoạn, mỗi đoạn dài một tấc Tàu, dùng sữa, bơ, mật thoa cho ướt và trải qua một đêm, mỗi khi lấy một đoạn th́ chú một biến, tức bỏ vào trong lửa cho đến hết 31 đoạn nhiên hậu mỗi tuỳ việc mà làm.  

        Kính lễ Tam Bảo.

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Nhứt Lí Nhí Lí, Tỉ Lí Để Lí, Chí Lí Hế lí, Sa Ha.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Đây là Kiết Giới Thần Chú. Khi muốn Kiết Giới, trước dùng chú này trong nước bảy bếin tán sái bốn phương, hoặc chú trong giới tử (2)hoặc chú trong tịnh khôi (3) đều đến 7 biến cũng rải bốn mặt, tuỳ tâm xa gần tức thành ranh giới mà làm pḥng hộ(4).

        Kính lễ Tam Bảo.

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Tỉ Đê Tỉ Đê, Để Đê Để Đê, Yết Xa Yết Xa, Bạc Già Phạm A Lị Gia Bà Lô Chĩ Đế Thập Phạt Ra Táp Phạ Bà Phạ Nẫm, Sa Ha. 

Kính thưa Đức Thế Tôn! Đây là Thần Chú Thỉnh Con Trở Về Tự Bổn Cung. Nếu đă làm việc ǵ rồi, khi thỉnh con về Bổn Cung nên dùng Thần Chú này chú trong nước 7 biến tán sái bốn phương, con liền trở về ngay.

Kính thưa Đức Thế Tôn!  Thần chú như vậy tuy không có thành lập (Đàn Pháp) Mà cũng có thể ra làm các sự nghiệp. chí tâm niệm tụng, nguyện ǵ cũng thành tựu, nếu bịnh sốt rét 1 ngày một lần lên cơn, hoặc hai ngày 1 lần lên cơn, hoặc ba ngày một lần phát, hoặc bốn ngày một lần phát, hoặc bịnh Quỷ Mị, Hoặc bộ Đa Quỷ làm bịnh, hoặc Trà Ky Ni làm bịnh, hoặc Tất Xá Giá làm bịnh, hoặc Yết Tra Bô Nát Đa làm bịnh, hoặc Điên Quỷ làm bịnh, hoặc Giản quỷ làm bịnh(1), hoặc các thứ Ác quỷ làm bịnh đều lấy Thần Chú này trị cho người bệnh kia 108 biến tức đựơc trừ lành. Nếu người bị chướng trong, dùng chỉ ngũ sắc tụng Thần chú làm gút, tŕ 1 biến gút 1 gút  cho đúng 108 gút, lấy đeo nơi tren cổ bịnh nhân  hoặc đeo trên tay th́ tội chứơng tiêu diệt, bệnh tật liền trừ lành. Nấu người bịnh bị bịnh đinh thủng, ung thủng, ghẻ cḥm, ghẻ phỏng, ung thư, nhọt sảy, ghẻ lở(1)... các thứ ác bịnh, hoặc bị đao, tên, gươm, thuẩn.v... làm bị thương, rắn, rít, ḅ cạp, ong độc cắn mổ v.v... Đều lấy Thần chú này chú 7 biến tức được trừ lành. nếu người bị chường trọng th́ chú nơi huỳnh thổ dẻo, tŕ đến 7 biến, thoa nơi chỗ bịnh th́ đau khổ liền trừ lành. nếu người bị bịnh nóng phong, thiên phong, chu phong, tai điếc mũi nghẹt cảm phong hết thảy bịnh .v.v... đều nên chí tâm tụng niệm chú này, chú người binh hoạn kia 108 biến, bịnh tức trừ lành. Nếu ngưới bị chướng trọng láy dầu hoặc, lấy dầu hoặc bơ ngâm với hoa b́ (2)và thanh mộc hương, mỗi thứ chú 7 biến, liền dùng thoa nơi thân, hoặc nhỏ nơi lỗ ta, lỗ mũi hoặc cho uống, người bịnh hoạn kia hiền lành. nếu c̣n có các thứ tật bịnh khác, đều nên chí tâm lấy.  Thần chú này mà chú hoặc tự niệm tụng, tức được trừ lành.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu muốn  thành lập Thần chú này (3)nên trước hết lấy cây bạch chiên đàn hương cứng tốt không có tỳ vết, khắc làm tượng Quán tự Tại Bồ Tát dài một nửa khuỷu tay(1). Tay tả cầm cái b́nh quân tŕ có cắm cành hoa sen hồng, tay hửu cầm câu chuỗi và tác ấn Thí Vô Uùy. Tượng này có 11 mặt: ba mặt trước tác hữu Từ Bi, Ba mặt bên tả tác tướng sân nộ, ba mặt bên hữu tác tướng nhe răng trên trắng(2), một mặt phía sau tác bạo ác đại tiếu tướng(3), một mặt trên đảnh tác Phật thân Quán Tự Tại Bồ Tát, đeo đầy đủ các thứ anh lạc trang nghiêm. Tạo tượng này rồi, muốn cầu nguyện th́ mặt y mới thanh tịnh, thọ tŕ trai giới theo tháng bạch nguyệt từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 8 mỗi ngày ba thời niệm tụng chú này 108 biến hoặc vô lượng biến. Từ đây về sau ở một chỗ tịnh thất, trải toà thanh tịnh, an trí tượng đă tạo, tượng Quán Tự Tại Bồ Tát mặt hướng về Tây Phương. Tuỳ sức bày biện hiến cúng các thứ ẩm thực, chỉ thiêu trầm thuỷ và tô hạp hương. Hành giả nên ăn đại mạch và sữa, như trước niệm tụng cho đến ngày 13, từ đây về sau cần phải bội phần thiết lễ cúng dường đầy đủ hơn trước, hành giả chỉ nên ăn ba thứ bạch thực là sữa, bơ và gạo trắng ngon nhất. Lấy củi cây Bồ đề dùng để nhúm lữa trước tượng. Lại lấy cây củi này cắt ra 1.008 đoạn, mỗi đoạn chừng 1 tấc Tàu dùng đổ – rô – sắc – ca hương thấm vào, mỗi lần lấy 1 đoạn tụng chú một biến, bỏ vào trong lửa cho đến hết. Lúc bấy giờ đại địa bổng dưng rung động. Tự thân tượng này cũng liền vận động(1), từ mặt trên cùng, trong miệng phát ra tiếng ngợi khen hành giả rằng: lành thay, lành thay Thiện nam từ! Con có thể chịu kh1o cầu nguyện một cách khẩn khiết như thế. Ta sẽ khiến cho con sở nguyện được đầy đủ, khiến cho con ở nơi đây bay lên hư không mà đi, hoặc lại khiến cho con du hành vô ngại, hoặc làm vua trong hàng tŕ chú Tiên Nhân, hoặc khiến được như Ta tự tại vô chướng ngại.

Lại nữa, hành giả ở trong tháng Bạch nguyệt ngày rằm, lấy tượng Quán Tự Tại Bồ Tát 11 mặt để trong Phật Đà Đô Chế Đa, mặt y mới thanh tịnh thọ tŕ trai giới, trải qua một ngày một đêm không ăn không uống lấy Tô-mạt-na hoa 1.008 cái, lấy mỗi cái hoa chú vào 1 biến ném trên tượng cho đến hết. Bấy giờ mặt trước tượng kia, trong miệng phát ra tiếng như sấm nổ, do cây liền khiến đại địa chấn động. Hành giả lúc bấy giờ nên tự an tâm, chớ sanh sợ hăi, chỉ niệm Thần chú, cầu xin điều chi th́ nói như thế này :”Kính lễ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại  Bi Giả con ở thời nào hay làm nơi nương dựa lớn cho tất cả hữu t́nh, hay măn tâm sở nguyện của tất cả hữu t́nh”. Bấy giờ Quán Tự Tại Bồ Tát liền ban cho nguyện kia. Khi Quán Tự Tại Bồ Tát liền ban cho nguyện kia. Khi Quán Tự Tại Bồ Tát ban cho nguyện ấy th́ chư Thiên Long v.v... không c̣n làm chướng ngại hành giả nữa. Lại nữa, hành giả nơi lúc nguyệt thực. Lấy 1 lượng bơ để đầy trong đồ đựng bằng bạc, đem để trước tượng này niệm tụng thần chú này cho đến khi mặt trăng hoàn sinh như cũ, liền lấy ăn vào, trong tân có các bịnh ǵ đều lành.

Lại nữa, hành giả nên lấy một ít hùng hoàng, ngưu hoàng để nơi trước tượng này, tụng niệm Thần chú này 1.008 biến, lấy nước hoà chung lại với nhau điểm nơi giữa chặng này th́ ba việc thành tựu như trước đă nói. Nếu hoà với nước nóng mà tắm rửa thân kia, thời tất cả chướng ngại, tất cả ác mộng, tất cả dịch binh đều được lành hẳn.

Lại nữa, nếu có oán tặc từ phương khác đến xâm lấn biên giới, nên lấy một cái yến chỉ(1) tụng chú chú vào đó 108 biến rồi đem trang điểm tượng này ở mặt sàn nộ, rồi xoay mặt này vẽ hướng có giặc khiến oán tặc quán không thể tiến tới được.

Lại nữa, nhân sức trong quốc lộ bị dịch khởi, nơi trước tượng này nhúm Lửa bằng cây nhậm bà, lại riêng lấy củi này cắt ra 1.008 đoạn  nhỏ bằng một tấc Tàu, rồi lấy mỗi đoạn thoa dầu hạt cải, chú 1 biến bỏ vào trong lửa cho đến hết. Lại lấy chỉ đào làm 7 chú-gút, chú 1 biến gút 1 gót đen trên đảnh tượng Phật(2) hay khiến cho bịnh dịch tất cả tiêu trừ. Khi tật bệnh đă được trừ rồi, hành giả mở bỏ chú dây cột ra.

Lại nữa, nếu có bọn Trà kỳ ni, Bộ Đa quỷ .v.... làm thành bịnh, nên lấy chỉ trắng làm 21 chú-gút, chú 1 biến, gút 1 gút, rồi đem để trên đỉnh mặt từ bi phía trước trải qua một đêm rồi mở lấy, đem đeo trên cổ bịnh nhân, bịnh tức liền lành. nếu nghiệp chướng nặng nề không trừ làm được, nếu lấy dây đả đủ, chú 108 biến đem cột vào chổ cột trước(1) trải qua một đêm rồi mở lấy đem đeo trên cổ bịnh nhân, th́ chắc chắn được trừ lành.

Lại nữa, nếu có người trường bịnh khốn khổ không lạnh hoặc ác thần quỷ vào nhà, nếu lấy 108 cái huân lục hương, ở trước tượng này, mỗi cái chú 1 biến, bỏ vào trong lửa cho đến hết; lại lấy dây làm 21 gút, mỗi chú gút 1 gút, đem để treo trước mặt từ bi trên đảnh, trải qua 1 đêm rồii mở lấy trên trên cổ người bịnh, bịnh ấy trừ lành ác quỷ chạy trốn.

Lại nữa, nếu bị oán thù ŕnh t́m muốn lai, tranh cải, ếm trù muốn làm suy hại, nên lấy các thứ hương hoa .v.v... Các vật cúng dùng hơi gượng, lấy cây Bà Phước Ca trước tượng mà thiêu đốt, lấyVân Đại Tử 108 cái, mỗi cái chú 1 biến bỏ vào trong lửa, lại lấy chỉ trắng gút làm 108 gút mỗi chú gút 1 gút, đem chỉ đó cột trên đảnh tượng mặt sân nộ bên tả, trải qua một đêm mở lấy dây này, xưng tên kẻ oán thù, cắt ra mỗi một gút đem bỏ một chỗ khác nhau, mỗi lần xưng th́ mỗi lần cắt cho đến hết, hiện tại kẻ oán cừu kia đă làm th́ bất toại ư, tự nhiên quy phục.

Lại nữa, có người muốn cầu các việc lành tốt, lấy chỉ ngũ sắc gút làm một chú-giây 108 gút, chú 1 biến gút 1 gút, lại ở nơi trước tượng chú 7 biến, đem giây đ1o cột trên đảnh mặt từ bi phía trước, trải qua một đêm, xong rồi mở lấy đeo trên thân của ḿnh th́ việc sở cầu đều được như ư.

Lại nữa, nếu biết trong thân có các chướng nạn, sở cầu thiện sự phần nhiều không như tâm, suy hoạ thường thường vô nhân(1) mà đến, nên lấy nước hương thuơm tắm thần tượng này, lại lấy nước tắm này chú 108 biến, rồi đem biến, rồi tự sái nơi thân ḿnh của người bị chướng nạn, th́ tất cả chướng nạn tự nhiên bị tiêu diệt, các điều mong cầu thảy đều như ư.

Khi Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha nói kinh này rồi, tất cả đại chúng đồng thời khen rằng: “Lành thay! Lành thay Đại sĩ! Ngài hay v́ muốn lợi ích an lạc các hữu t́nh nên nói Thần chú này, chúng con vui mừng tuỳ hỷ, cũng nguyện thọ tŕ.”

Bấy giờ Đại chúng vui mừng hớn hở, nhiễu Phật ba ṿng làm lễ mà trở về chỗ cũ.

 

 

 

NGHI QUỸ TR̀ TỤNG

THẬP NHỨT DIỆN THẦN CHÚ TÂM

 

1.                  THUỶ Y CHÚ

        Kính lễ Thập Phương thường trú Tam Bảo

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ứng Chánh Đằng Giác

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát ma Ha Tác Đại Bi Giả.

Đặc biệt Tha: Kha Kha Kha, Nhứt Lệ  Nhí Lệ, Chỉ Lệ Bệ Lệ, Khí Lệ Hế Lệ, Sa Ha.

            Đây là Thuỷ Chú và Y Chú. Nếu muốn vào Đạo tràng trước nên tắm rửa, sau lấy Thần Chú này chú vào trong nước 7 biến, sái thân kết tịnh. Lại lấy Thần Chú này chú trong áo mặc 7 biến, nhiên hậu mới mặc vào.

 

2.                  KẾT GIỚI CHÚ:

        Kính lệ Thập Phương Thường Trú Tam Bảo

        Kính Lễ Thánh Tr1i Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha, Tát Đại Bi Gỉa.

Đát Điệt Tha: Nhứt Lí Nhí, Tỉ Lí Để Lí, Chỉ Lí Hế Lí, Sa Ha.

Đây là Kiết Giới Thần chú. Khi muốn Kiết Gí¬I, trước dùng chú này chú trong nước 7 biển, tán sái bốn phương hoặc chú trong giới tử (hạt cải) hoặc chú trong tịnh khôi (tro sạch), đều đến 7 biến cũng răi 4 mặt, tuỳ tâm xa gần tức thành ranh giới mà làm pḥng hộ.

 

3.                  THÂN CHÚ

        Kính Lễ Thập Phương Thường Trú Tam Bảo.

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Ám, Đạt ra Đạt ra, Địa lư Địa Lư, Đồ Rô Đổ Rô, Nhứt Lai Phạt Lai, Chiếc Lệ Chiếc Lệ, Bát Ra Chiếc Lệ, Bát Ra Chiếc Lệ, Câu Tố Mê, Câu Tô Ma Phạt Lệ, Nhứt Lí Nhứt Lí, Chỉ Lí Chỉ Trí, Tha La Ma Ba Nại Gia, Thuật Đà Tát Đoả, Mạt Ha Ca Lô Ní Ca, Toá Ha.

            Đây là Thân Chú hay căn bản Chú, Tụng chú này 7 biến, hay thu hoạch được những công đức thù thắng.

4.                  HƯƠNG ĐĂNG CHÚ

        Kính lễ Thập Phương Thường trụ Tam Bảo

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến chiếu Trang Nghiêm Vương  Như Lai.

        Kính Lễ Nhứt Thiết Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Trổ Rô Trổ Rô, Kha Kha Kha Kha, Sa Ha.

Nếu khi vào Đạo tràng, khi muốn thiêu hương cúng dường, trước dùng Thần chú này chú trong hương 7 biến nhiên hậu mới thiêu. Khi muốn thắp đèn,  trước dùng chú này chú trong dầu 7 biến, sau mới thắp đèn.

 

5.                  HOA HƯƠNG MAN CHÚ

        Kính Lễ Thập Phương Thường Trú Tam Bảo

        Kính Lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu trang Nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả

Đát Điệt Tha: Tử Lí Tử Lím Địa Lí Địa Lí, Tử Lí Địa Lí, Sa Ha.

Đây là Hoa Hương Man Chú, nếu vào Đạo Tràng khi muốn dùng hoa, hương, man để cúng dường, trước lấy Thần chú này chú trong hoa 7 biến dùng tán răi nơi Tôn Tượng, lại lấy Thần Chú này chú vào hương bột 7 biến rồi thoa vào Tôn Tượng. Lại lấy chú này chú vào tràng hoa 7 biến để đem trang nghiêm nơi Tôn tượng.

 

 

6.                  TÁN CHÚ (dùng làm hộ ma)

        Kính lệ Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai

        Kính lễ Nhứt Thiết Như  Lai Ứng Chánh Đẳng Giác

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha, Mạc Tử Đạc Tử, Chiếc Lí Chiếc Lí, Hổ Rô Hổ Rô, Chủ Rô Chủ Rô, Tố Rô Tố Rô, Mẫu Rô Mẫu Rô, Sa Ha.

Đây là Tân chú. Nếu muốn trên căn bản tuư việc lúc làm, trước lấy chú này một biến trong cây Xà Để Hoa rồi mới lấy chú này chú một biến torng cây Xà Để Hoa rồi mới đem mà nhúm lửa. Lại riêng lấy cây Xà Để Hoa Cắt làm 31 đoạn, mỗi đoạn dài 1 tấc Tàu, dùng sữa, bơ, mật tho cho ước vào trải qua một đêm, mỗi khi lấy 1 đoạn th́ chú 1 biến, tức bỏ vào trong lửa cho đến hết 31 đoạn nhiên hậu mới tuỳ việc làm mà làm.

 

7.                  CÚNG PHẬT HIẾN CHÚ

        Kính Lễ Thập Phương Trụ Tam Bảo

        Kính lễ Thánh trí Hải Biến Chiếu Trang nghiêm Vương Như Lai

        Kính lễ Nhứt Thiết như lai Ứng chánh Đẳng Giác

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Ta Đệ Ta Đệ, Tử Địa Tử Địa, Tố Đổ Tố Đổ, Sa Ha.

Đây là cúng Phật Hiến Chú. Nếu muốn lấy đồ ẩm thực, hoa quả .v.v... để cúng dường Phật, trước tụng chú này chú 21 biến, nhiên hậu mới phụng hiến.

 

8.                  CĂN BẢN CHÚ

        Kính Lễ Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo

        Kính lễ Thánh Tr1i Hải Biến Chiếu Trang nghiêm Vương Như Lai.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ứng Chánh Đằng Giác

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả

Đạt Điệt Tha: Ám, Đạt Ra Đạt Ra, Địa Lí Địa Lí, Đổ Rô Đổ Rô, Nhứt Lai Phạt Lai, Chiếc Lệ Chiếc Lệ, Bát Ra Chiếc ệ, Bát Ra Chiếc Lệ, Câu Tố Mế, Câu Tô Ma Phạt Lệ, Nhứt Lí Nhứt Lí, Chỉ Lí Chỉ Lí, Thạ La Ma Ba Nại Gia, Thuật Đà Tát Đoả, Mạt Ha Ca Lô Ní Ca, Toá Ha.

Tụng căn bản chú đây 108 biến hay 1080 biến, hoặc vô lượng biến tŕ tụng.

 

9.                  HOÀN CUNG CHÚ

        Kính lễ Thập Phương Trụ Tam Bảo

        Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm.

        Kính lễ Nhứt Thiết Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

        Kính lễ Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.

Đát Điệt Tha: Tỉ Đệ Tỉ Đệ, Để Đê Để Đê, Chỉ Đê Chỉ Đê, Phỉ Đê Phỉ Đê, Yết Xa Yết Xa, Bạc Ǵa Phạm, A Lị Gia Bà Lô Chỉ Đế Thấp Phạt Ra Táp Phạ Bà Phạ Nẫm, Sa Ha.

Đây là Thần chú Phụng Tống Quán Thế Âm Bồ Tát hoàn tự Bồn cung. nếu đă làm việc ǵ rồi, khi muốn thỉnh Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trở về tự Bổn cung, nên dùng Thần Chú này chú trong nước 7 biến tán sái bốn phương. Ngài liên trở về ngay.

 

BẤT KHÔNG QUYẾN TẮC

THẦN CHÚ TÂM KINH(*)

 

        ĐẠI ĐƯỜNG TAM TẠNG HUYỀN TRANG PHÁP SƯ PHỤNG CHIẾU DỊCH PHẠN RA HÁN VĂN

        SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH HÁN RA VIỆT VĂN. 

 

Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Bạc Ǵa Phạm ở tại núi Bồ Đạt Lạt Ca, trong cung điện Quán Tự Tại Bồ Tát, trong đó có nhiều thứ cây báu như cây Ta-la, Đam-ma-la Chiêm-bác-ca, A-du-ca, Cực Giải Thoát. Lại có vô lượng các cây báu xen nhau trang nghiêm chung quanh, hương thơm hoa đẹp, cỏ lạ mềm dịu nơi nơi đều có. Lại có vô lượng suối ao khe báu, có nước tám thứ công đức đầy nhẫy, trong ấy có các hoa đơm trổ trang sức một cách rất thích thú. Lại có vô biên các loại cầm thú khác nhau, h́nh dung thù diệu, đều đủ từ tâm, phát ra các thứ âm thanh dường như âm nhạc: cùng các vị Tỳ Khưu chúng 8.000 vị đều đầy đủ, 99 câu chi na-du-da trăm ngàn Bồ Tát Ma Ha Tát, vô lượng trăm ngàn chúng như Thiên cơi trời Tịnh-cư, Tự Tại Thiên chúng, Đại Tự Tại Thiên chúng, vô lượng trăn ngàn trước sau vi nhễu nghe Phật thuyết Pháp.

Lúc bấy giờ, trong hội có một Vị Đại Bồ Tát gọi là Quán Tự Tạim từ toà đứng dậy, sữa sang y phục, trịch vai áo một bên, gối hữu sát đất, chắp tay hướng Phật, nét mặt vui vẻ, nở nụ cười mà bạch Đức Phật rằng: “Con có Thần chú tâm gọi là Bất Không Quyến Tác. Con ở thời xưa kia cách nay 91 kiếp, có thế giới gọi là Thù Thắng Quan, trong ấy có Đức Phật gọi là Thế Chủ Vương Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Măn, Thiên Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Trượng Phu, Điều Ngự Sĩm Phật, Bạc Già Phạm, Đức Phật Thế Tôn kia xin thương xót con, cho nên v́ con mà nói Đại Thần Chú Tâm này. Con liền thọ tŕ có oai Thần lực vậy, thường v́ vô lượng Tịnh Cư Thiên chúng, Tự Tại Thiên chúng, Đại Tự Đại Thiên Chúng, Đại Phạm Thiên Vương và nhiều Thiên chúng, vô lượng trăm ngàn cung kính cúng dường tôn trọng ngợi khen, con đều giáo hóa họ, khiến họ đến thẳng Đạo Vô Thượng Bồ Đề Chánh Đẳng Chánh Giác. Con nương sức công đức như thế nên liền thu hoạch mười ức Bất Không Diệu Trí Thượng Thủ Trang Nghiêm Đại Tam Ma Địa. Do được định lực này hiện thấy mười phương vô lượng vô số chư Phật thế giới, hết thảy Như Lai và các chúng hội, đều đi đến cúng dường và nghe học Chánh Pháp, lần lượt giáo hóa vô lượng hữu t́nh, đều khiến phát tâm thẳng đến Vô Thượng Giác, cho nên chú lực này không thể nghĩ bàn, hay cứu chúng sanh khỏi vô lượng khổ nạn, các kẻ hữu trí đều nên thọ tŕ. Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu chổ nào có Thần Chú Tâm này th́ phải biết là chổ đó có Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Phạm Thiên Vương... làm Thượng thủ, cùng 12 ức chư Thiên Thần chú thường cùng giữ ǵn cung kính cúng dường chư Phật Chế-đa(1) không khiến bạo ác, các Quỷ Thần thảy đều dạo chơi trong ấy. Kính thưa Đức Thế Tôn! Tùy theo quốc ấp nào lưu hành Bất Không Quyến Tác Thần – Chú Tâm Kinh như thế, phải biết rằng trong quốc ấp này các loài hữu t́nh đă trồng các căn lành ở chổ vô lượng câu chi na-du-đa trăm ngàn chư Phật, nay nương thừa Đại nguyện lực này trở lại đây.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh tạo các trọng tội, tập hành ác pháp, hủy nhục Hiền thánh, phỉ báng Chánh Pháp sẽ đọa trong Vô gián Đại Địa ngục, trải qua vô số kiếp thọ các kịch khổ. Chư Phật, Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn tuy đầy đủ Thần thông mà không thể cứu vớt. Chúng sanh kia nếu nghe Tâm Kinh Thần Chú này hay sinh ḷng hối hận trọn không dám tạo nữa. Nếu chúng sanh kia lại trải qua một ngày một đêm thọ tŕ trai giới tụng Tâm Chú này th́ hiện đời thọ nhẹ những tội nghiệp đă làm, không phải đọa Vô Gián Địa Ngục. Tại sao chúng biết người kia hiện tại thọ nhẹ quả báo. Không đọa địa ngục? Nghĩa là nếu thoạt gặp những bịnh lạnh nóng, hoặc trải qua một ngày, trải qua 2 ngày, hoặc lại cho đến trải qua 7 ngày, hoặc bịnh mắt, tai đau, mủi đau, răng đau, môi đau, lưỡi đau, hoặc nứu đau, hoặc tim ngực đau. Hoặc bụng rún đau, hoặc lưng vai đau, hoặc hông sườn đau, hoặc âm khoan đau (1), về gối đau, hoặc chi tiết đau, hoặc tay chân đau hoặc đầu mặt đau, hoặc yếu cổ (2) đau, hoặc vai cánh tay đau, hoặc gặp phong bịnh, khí bịnh, trỉ bịnh, lỵ bịnh, lâm bịnh, hoặc gặp suyển bịnh, tiển bịnh, bạch lại bịnh hắc lại và các giới tiền(3); hoặc mắc phải bảo sang, canh sang, hoa sang, lậu sang, độc sang, gặp ung thư, ung thủng, du thủng, đinh thủng, tiết thủng, độc thủng; hoặc bịnh điên giản, hoặc bịnh cam thấp; hoặc bị qủy mỵ, hoặc bị trù ếm, hoặc bị chú trù rủa, hoặc bị độc dược, hoặc bị tù trói, bị gông cùm xiềng xích, hoặc bị đánh mắng, hoặc bị phỉ báng, hoặc bị mưu hại, hoặc bị khủng bố, hoặc lại các việc tăng giảm bất nhiêu ích, tóm lại mà nói, đă có nhân tâm bứt thiết khổ nảo và thấy ác mộng, do đây chứng biết rằng người kia hiện thọ khinh báo, không bị đoạ vào Vô Gián Địa Ngục. Đă tạo tội nghiệp thảy được tiêu trừ, chúng sanh như thế, do chú lực đây, hiện đời thọ khinh báo, trọng tội th́ được tiêu trừ, huống ǵ các hữu t́nh thân tâm thanh tịnh, nghe tŕ chú này mà không thu hoạch được phước báo hay sao, tội nghiệp đời trước cũng được tiêu trừ, hiện tại vị lai thường được khoái lạc(1).

Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu có bốn chúng hoặc bốn gịng họ (2) giả như đem tâm dua nịnh dối trá mà nghe học Thần Chú Tâm Kinh như thế, thọ tŕ đọc tụng chép viết cúng dường, v́ người khác khen nói vậy khiến cho họ nghe thọ cho đến tự ḿnh đến bên tai của loài súc sanh khẩn thiết niệm tụng khiến cho loài súc sanh được nghe, lại c̣n thẩm xét suy tư chương cú Thần Chú này, không phỉ báng, không thủ tướng(3), không phân biệt, không có các khởi tâm; không chậm hàh tŕ, vô vi mà làm, xa ĺa nhiểm ô, tâm b́nh đẳng, không tăng giảm, ĺa ngủ uẩn. Do phương tiện này ở chổ Chư Phật lại tu tùy niệm(4) do người kia có sức công đức như thế, ở nơi mười phương, mỗi phương có ngàn Phật đến hiện trước mặt người kia dạy dỗ khiến cho họ ăn năn, hối hận, trừ những tội đă làm trước kia. Đă có sở nguyện ǵ đều khiến măn túc. Nếu không có làm những điều ở trên đă nói, mà chỉ chép viết Thần Chú Tâm Kinh này để trong nhà lễ bái cúng dường cũng được vô lượng vô biên công đức.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh v́ muốn thắng kẻ khác hoặc sở chủ, hoặc sợ oán cừu, sợ ác thú, sợ ách nạn, hoặc theo kẻ khác, hoặc cầu cao quư, nhiều tài bảo, nghe học Thần Chú Tâm Kinh như thế, tuy lại nghe học mà không cung kính, hoặc lại phỉ báng, khinh khi chê bai, người trí nên biết chẳng phải do tự lực của kẻ kia mà là do oai thần lực của Quán Tự Tại Bồ Tát cho nên khiến người kia nghe lọt vào tai, nên người kia hiện tại, vị lai được những việc lợi lạc như vậy. Kính thưa Đức Thế Tôn! Thí như có người đạp bẻ trầm hương hoặc lấy xạ hương hoặc lại vào trong rừng Chiên đàn, Long năo hương v.v... phỉ báng, khinh khi chê bai các thứ mà lại mài dùa trộn dùng để thoa thân thể. Song trầm hương, xạ hương không tác ư niệm ǵ, người kia đạp găy lăng mạ, con không cho họ mùi hương kia mà cai tánh tự nhiên hằng làm cái việc mùi thơm. Thần Chú Tâm này cũng lại như thế. Tuy có phỉ báng, khinh tiện, chê bai hoặc là đem cái tâm dua nịnh, cong quẹo như trên đă nói, chép, viết, thọ tŕ, cung kính cúng dường th́ cũng làm nhân duyên căn lành của người kia, khiến cho người kia đời đương lai tùy sinh chổ nào đều đầy đủ công đức diệu hương của Giới Định Huệ, cũng hay v́ kẻ khác mà làm những việc hương thơm đó. Vậy cho nên oai đức của Thần Chú này rất khó nghĩ bàn, tin báng (1) ǵ cũng hay đều hay làm những việc nhiêu ích. Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu có kẻ trai lành và người gái tín và Tỳ Khưu, Tỳ Khư Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di hoặc c̣n nhiều người khác nữa, vào ngày mùng 8 tháng Bạch nguyệt, thọ tŕ trai giới chuyên tâm tụng Đại Thần Chú Tâm Kinh này cho đến 7 biến không xen tạp ngữ khác th́ phải biết người đó hiện đời quyết định được 20 điều lợi ích thù thắng. Những ǵ là 20 điều?

1.      Thân không có các bịnh, yên ổn sung sướng

2.      Do những nghiệp lực đời trước tuy có bịnh sinh mà nay trừ lành

3.      Thân thể mềm mại, nhỏ nhiệm, da thịt trắng trẻo đẹp đẽ, mắt mặt trong sáng

4.      Mọi người kính thương

5.      Mật hộ các căn

6.      Thu hoạch nhiều tài bảo, tự ư thọ dụng

7.      Đă có tài bảo, Vương-tặc-thủy-hỏa không thể xâm tổn

8.      Ra làm sự nghiệp ǵ đều thành tựu tốt đẹp

9.      Đă có sự trồng trỉa, không sợ ác long, sương muỗi, băo lụt

10.  Nếu có ruộng lúa mạ bị tai hoạnh, lấy Thần chú này chú trong tro sạch hoặc nước sạch trải qua 7 biến xong rồi, đem răi trong ruộng kia  tám phương, trên dưới mà kiết giới, tai hoạnh lúc bấy giờ đều liền trừ diệt

11.  Không bị tất cả Qủy thần, La sát bạo ác hớp đoạt tinh khí

12.  Tất cả hữu t́nh thấy nghe hoan hỷ, ưa mến tôn trọng thường không biết nhàm chán

13.  Thường không lo sợ tất cả oán cừu

14.  Giả như có oán cừu, mau tự tiêu diệt

15.  Nhơn cùng Phi nhơn... không thể xâm hại

16.  Eám mị, trù rủa, cổ đạo không dính vào thân

17.  Phiền năo, triền cấu, không thể hiện hành

18.  Đao độc, hỏa thủy không thể thương mại (1)

19.   Chư Thiên, Thiện Thần thường theo hộ vệ

20.  Đời đời không xa ĺa Từ Bi Hỷ Xả

Người tu hành kia được 20 điều lợi ích thù thắng như thế. Lại c̣n thu hoạch được 8 pháp nữa. Những ǵ là 8 pháp?

1.      Khi mạng chung thấy Đức Quán Tự Tại Bồ Tát hiện tướng Tỳ Khưu đến trước mặt người tŕ chú này vui mừng khen ngợi mà an ủi.

2.      Mạng chung yên ổn, không có các điều đau khổ

3.      Khi sắp xả mạng, mắt trong trợn ngược, miệng không hả méo, tay buông thong thả, chân ĺa tướng mỏi mệt, không tiết ra những chất dơ uế của đại tiểu tiện, không ngớt nghiêng dưới giường.

4.      Khi sắp xả mạng thường an trụ chánh niệm, không loạn tưởng

5.      Khi mạng chung không che mặt mà chết

6.      Khi sắp xả mạng được vô tận biện

7.      Đả xả mạng rồi, tùy nguyện văng sanh Tịnh Độ của chư Phật

8.      Thường cùng bạn lành không xa rời nhau

Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu có kẻ trai lành, người gái tín v.v... hay đoạn đứt rượu thịt và các thứ ngũ tân, không ăn chút tàn dư dơ uế, thân thường thanh khiết, trong sạch, ngày ngày ba thời chuyên tâm tŕ tụng Bất Không Quyết tác Thần Chú Tâm Kinh như thế, người kia được ngày đêm tăng trưởng công đức thù thắng. Nếu hay đối với pháp xả ḷng san lẫn, ĺa tâm tật đố, chuyên làm lợi lạc tất cả hữu t́nh, quán xem các chúng sanh có tâm hữu lực hay vô lực, như đáng nên v́ họ mà nói Thần Chú Tâm Kinh này th́ phải biết rằng những hạng người đó mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, được vào các đẳng số liệt vào hạng Đại Bồ Tát. Những người đó gọi là Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề được nói đến có nghĩa là Bát nhă, Tát Đơa tức là phương tiện. Hai pháp như thế đối với các ác hữu t́nh hay làm tất cả lợi ích an vui.

Kính thưa Đức Thế Tôn! Con nay v́ muốn lợi ích an vui cho tứ bộ chúng và v́ trừ diệt các ác hữu t́nh đă tạo các tội nghiệp, ở trước Đức Như Lai mà nói Thần Chú này, cúi mong Đức Thế Tôn thương xót cho phép con”.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn dạy Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha tát rằng: “Đại chúng thanh tịnh, đă đến lúc nên nói. Ta cũng tùy hỉ, Thần Chú Tâm này là phụ mẫu của Bồ Tát đời đương lai, khiến các Bồ Tát đă làm các sự nghiệp mau được thành tựu, cũng khiến tất cả những việc khủng bố mau được trừ diệt”.

Lúc bấy giờ Quán Tự  Tại Bồ Tát Ma Ha nhờ Đức Phật cho phép nên vui mừng hớn hở, chiêm ngưỡng Tôn nhan, mắt chưa tạm rời, chắp tay cung kính mà bạch Đức Phật rằng: “Thần Chú Tâm này là chỗ các Bồ Tát nên tôn trọng, cung kính cúng dường v́ nó là tối Giải thoát viên măn Pháp môn, làm lợi ích an vui cho các chúng sinh. Các vị muốn thọ tŕ Tâm Chú này, nên trước hết kính lễ quá khứ, vị lai, hiện tại Chư Phật và chư Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn. Lại nên kính lễ Chánh Chí Chánh Hạnh, lại nên kính lễ Xá Lợi Tử v.v... Chư Đại Thanh Văn. Lại nên kính lễ Thánh Từ Thị v.v... chư Đại Bồ Tát. Lại nên kính lễ Vô Lượng Quang Phật(1). Lại nên kính lễ Phật Pháp Tăng Bảo. Lại nên kính lễ Phật Pháp Tăng Bảo. Lại nên kính lễ thánh Quan Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Cụ Đại Bi Giả. Đă kính lễ rồi, lại nên niệm rằng: “Thần Chú Tâm này gọi là Bất Không Quyến Tác, là Quán Tự Tại Bồ Tát ở trước Đức Như lai tại trong Đại chúng, thân tự diễn nói. Con nay đọc tụng, khiến con ra làm tất cả sự nghiệp mau được thành biện, khiến tất cả việc đă khủng bố con mau được trừ diệt, khởi niệm ấy rồi tức đọc tụng rằng:

Đát Điệt Tha: Ám Triết Lạc Triết Lạc, Chỉ Lí Chỉ Lí, Chủ Rô Chủ Rô

Khể thủ Cụ Đại Bi Giả

Tát Lạc Tát Lạc, Tử Lí Tử Lí, Chỉ Lí Chỉ Lí, Tỉ Lí Tỉ Lí

Khể thủ Đại Liên Hoa Thủ

Yết Lă Yếu Lă, Kiết Lị Kiết Lị, Khuất Lộ Khuất Lộ

Khể Thủ Đại Tịnh Hữu T́nh

Bột Điệt Bột Điệt, Tha Bà Tha Bà, Khẩn Ni Khẩn Ni

Khể Thủ Cực Lạc Hữu T́nh:

Yết Lạc Yết Lạc, Chỉ Lị Chỉ Lị, Củ Rô Củ Rô

Khể Thủ Đắc Đại Thế Giả:

Triết Lă Triết Lă, Triết Lă San Triết Lă, T́ Triết Lă T́ Triết Lă, Y Thiết Tra Y Thiết Tra, Bạt Lạc Bạt Lạc, Tỉ Lị Tỉ Lị, Bộ Rô Bộ Rô, Y Hế Y Hế

Khể thủ Đại Bi Đại Thủ Vương Tướng

Đạt Lạc Đạt Lạc, Tát Lạc Tát Lạc, Triết Lạc Triết Lạc, Bác Lạc Bác Lạc, Hát Lạc Hát Lạc, Kha Kha Hế Hế, Hô Hô Oâng Ca Lạc

Khể thủ Đại Phạm Vương Tướng

Đạt Lạc Đạt Lạc, Địa Lị Địa Lị, Đổ Rô Đổ Rô, Đát Lạc Đát Lạc, Tác Lạc Tát Lạc, Bác Lạc Bác Lạc, Phiệt Lạc Phiệt Lạc

Khể Thủ Bách Thiên Quang Trang Nghiêm Thân

Thập Phiệt Lă Thập Phiệt Lă, Đáp Bá Đáp Bá, Bạc Già Phạm

Khể Thủ Nhật Nguyệt Diêm Ma Phiệt Rô Nơa Củ La Thích Phạm, Dữ Tài Đẳng Thiên Tiên Chúng Sở Cúng Dường Chi

Mạt Lạc Mạt Lạc, Nhỉ Lí Nhỉ Lí, Mẫu Rô Mẫu Rô, Tốt Rô Tốt Rô, Chủ Rô Chủ Rô

Khể Thủ Tác Nại Đồng Tử Rô Đạt La Y Tỳ Sắc Nộ Đạt Nại Đà Tiên Na Dược Ca T́ Na Dược Ca Chúng Đa H́nh Tướng

Đạt Lạc Đạt Lạc, Địa Lí Địa Lí, Đổ Rô Đổ Rô, Thác Lạc Thác Lạc, Yết Lạc Yết Lạc, Bát Lạc Bát Lạc, Xả Lạc Xả Lạc, Thứ Lạc Thứ Lạc, Hát Lạc Hát Lạc, Mạt Lạc Mạt Lạc, Phiệt Lạc Phiệt Lạc

Khể Thủ Dữ Nguyện Phổ Quán Thắng Quán Thế Tự Tại Đại Tự Tại

Mẫu Hô Mẫu Hô, Mẫu Rô Mẫu Rô, Mẫu Da Mẫu Da, Muộn Giá Muộn Giá, Lạc Xoa Lạc Xoa

Khể Thủ Năng Linh Ngă Cập Nhứt Thiết Hữu T́nh Giải Thoát Nhứt Thiết Bố Uùy, Giải Thoát Nhứt Thiết Yểm Cổ, Giải Thoát Nhứt Thiết Tai Hoạnh, Giải Thoát Nhứt Thiết Tật B́nh, Giải Thoát Nhứt Thiết Tà Mị Vọng Lượng Giải Thoát Nhứt Thiết Oan Gia Sát Phược Khủng Hát Chúy Đả, Giải Thoát Nhứt Thiết Vương Nạn Tặc Nạn, Giải Thoát Nhứ Thiết Thủy Hỏa Phong Nạn, Giải Thoát Nhứt Thiết Đao Độc Đẳng Nạn Giả:

Yết Nơa Yết Nơa, Khẩn Ni Khẩn Ni, Khuất Nữu Khuất Nữu, Triết Lạc Triết Lạc

Khể Thủ Năng Khai Thị Nhứt Thiết Căn Lực Giác Chi Đạo Chi Tứ Thánh Đế Giả

Đáp Ma Đáp Ma, Táp Ma Táo Ma, Mạt Ta Mạt Ta

Khể Thủ Năng Trừ Chư Hại Hắc Ám, Sinh Trưởng Măn Túc Lục Ba La Mật Đa Giả:

Nhĩ Lí Nhĩ Lí, Tra Tra Tra Tra, Sá Sá Sá Sá, Trí Trí Trí Trí, Chú Chú Chú Chú

Khể Thủ Bị Phục Y Nê Da B́, Cụ Đại Từ Bi Tự Tại Đại Tự Tại, Năng Phá Nhứt Thiết Ác Quỷ Thần Giả, Tốc Lai Tốc Lai Cứu Hộ Ngă Đẳng

Củ Lô Củ Lô, Bác Lạc Bác Lạc, Tác Lạc Tác Lạc, Yếu Lạc Yết Lạc, Yết Tra Yết Tra, Mạt Tra Mạt Tra

Khể Thủ Trụ Tịnh Độ Cụ Đại Bi Giả, Thân Bội Bạch Kiết Tường Lũ, Cảnh Đới Chúng Bảo Anh Lạc, Thủ Quan Hoa Man Bảo Quan, Ư Bảo Quan Trung Đương Vu Đảnh Tượng Hữu Nhứt Thiết Tŕ Tượng, Thủ Chấp Hi Hữu Đại Bảo Liên Hoa, Ư Chư Tịnh Lự Đẵng Tŕ Giải Thoát Chúng Diệu Công Đức, Giai Bất Khuynh Động, Thiện Năng Thành Thục Nhứt Thiết Hữu T́nh, Cụ Đại Từ Bi, Năng Trừ Nhứt Thiết Nghiệp Chướng, Năng Cứu Nhứt Thiết Bịnh Khổ, Phổ Năng An Uùy Nhứt Thiết Hữu T́nh

Ám Hiệt Lị Đát Lai Lộ Ca Tỳ Ám Da. Uùm Mộ Già Bá Xa, Hiệt Lị Đạt Da, Uùm Bát Lạc Để Hát Đa, Yểm Phái Tóa Ha, Nạp Mổ A Mộ Dà Da Tóa Ha, Nạp Mô A Thị Đa Đa, Nạp Mô A Bác, La Thị Đa Da Tóa Ha, Nạp Mô Phiệt Lạc Bát Lạc Trá Da Hóa Ha, Nạp Mồ Tát Bà Yết Ma Tất Đạt Duệ Tóa Ha, Yểm Đổ Da Tráng Tóa Ha.

Tụng Thần Chú Tâm này quyết có linh nghiệm, hay thọ tŕ Thần Chú này, chỗ mong cầu đều thành tựu. Các người cứ mỗi ngày ba thời, mỗi thời tụng 108 biến, ngũ vô gián tội quyết được trừ diệt. Tất cả nghiệp chướng đều được thanh tịnh. Khi muốn tụng niệm, trước phải kiết giới. Muốn làm pháp kiết giới kia, lấy tro hoặc nước hoặc Bạch Giới tử (1) hoặc Đam sơn quyết (2) chú 7 biến khiến đóng bốn phương, thiêu trầm thủy hương, chí tâm niệm tụng. Các bịnh lạnh nóng và sốt rét nên chú trọng trong dây gút 21 biến, đeo trên cổ hoặc đeo trên tay tức được trừ lành. Có các người bịnh, chú trong bơ, trong dầu hoặc là chú trong nước 21 biến khiến cho người bịnh ăn uống, liền được trừ lành. Nếu muốn giải sự ếm đối trù rủa của kẻ khác, lấy bùn dẻo thanh tịnh hoặc bún hoặc mật hoặc sáp ong v.v... làm h́nh tượng người ếm đối, niệm tụng chú này, tay cầm dao bén, phát ḷng từ mẫn thương xót người ếm đối mà chặt cắt từng đoạn. Lại dùng Thần Chú chú trong chỉ rồi đeo vào thân người bị ếm, khiến các sự sợ hăi liền được trừ lành. Các bịnh đau bụng nên chú trong nước muối khiến cho người bịnh uống liền được trừ lành. Gặp các cổ độc hoặc rắn hoặc rít, sâu v.v... đă cắn mỗ, chú trong nước khiến uống, chú trong bùn dẽo khiến thoa, tức được trừ lành. Các bịnh đau mắt, nên chú trọng sợi chỉ trắng đeo trên lỗ tai của người bịnh, liền được trừ lành. Có các bịnh răng nướu, đau nhức nên chú trong cây Yết La Tỉ La 21 biến rồi bỏ vào miệng mà nhai, đều được trừ lành. Các chỗ sợ hăi, nên phải kiết giới mà ở trong đó, Giới pháp kết kia được thực hiện bằng cách chú trong chỉ ngũ sắc 21 biến, đem đeo trên cái cọc nhọn đă được đóng sâu ở bốn góc, liền được không sợ hăi. Muốn tự hộ các việc cho ḿnh, nên lấy chú này chú trong chỉ mà đeo trong thân thể, hoặc chú trong nước trong tán sái trên thân. Có các Qủy Thần, Mị bắt bớ nơi thân chủ chỉ ngũ sắc thường dùng đeo bên ḿnh, tức các Quỷ Mị này liền xả ly. Tất cả bịnh hoạn ghẽ, thủng v.v... lấy lá Tất Bát Mạt (1) ḥa với mật chú 21 biến, dùng thoa ở trên đó tức được lành. Các bịnh hoạn về con mắt, nên chú trong hương thủy hoặc cam thảo thủy, Bát Lă Xa Thủy 21 biến mà dùng để rữa con mắt, tức được trừ lành. Các bịnh về tai mũi, nên chú trọng dầu nóng 21 biến, nhỏ trong lỗ tai, lỗ mũi tức được trừ lành. Có các sự đấu tranh, oán cừu, mưu toan, các việc quan sự ép ngặt nên chú trong nước tịnh thủy 21 biến, rữa mặt sái thân, tức được ḥa giải. Khi có tai nạn khởi lên trong các quốc độ, vương đô thành ấp, nên kết đạo tràng, ngưu phẩm đồ địa, nước hương thơm rưới sái khắp nơi trong đạo tràng, ở bốn góc, mỗi góc để một b́nh, trong b́nh kia để hoa và nước, lấy cỏ thanh tịnh mới trải khắp Đạo tràng, dùng những trái ngon quả ngọt, đồ ẩm thực la liệt, trưng bày trên đó, bốn bánh đèn, du (1) hương thơm, tịnh chú (2) thắp lên để bốn góc, lấy các danh hoa rải khắp trong Đạo tràng, thiêu đốt thượng diệu hương mà cúng dường. Người tụng chú dùng nước hương thơm tắm rữa thân thể, mặc y mới thanh tịnh, ṭa ngồi sạch sẽ, đoan thân chánh niệm tụng Tâm Chú này. Chủ (3) nếu ch1i thành th́ tai nạn liền dứt. Có các tật dịch, yêu quái nổi lên các xứ v.v... chú trong b́nh nước sái chổ ấy và thân, tất cả tai hoạn thảy đều trừ diệt. Nếu bị Ma Mị, lấy nước trong b́nh, mài Chiên Đàn hương chú 21 biến dùng xoa trên tâm, Ma Mị liền dứt. Nếu thường niệm tụng Thần Chú Tâm này, tứ trọng, ngủ nghịch, báng pháp, các chướng thảy đều trừ diệt. Muốn hộ nước nhà khiến không tai ách, nên lấy hoa sen 108 cái, mỗi cái chú một biến bỏ vào bên trong hỏa đàn cúng dường Hiền Thánh, tai ách tức diệt, nước nhà yên ổn. Nếu muốn kẻ khác phát ḷng từ tâm không sanh tị hiềm tật đố, nên lấy 108 khúc Chiên đàn hương dài 2 tấc Tàu. Mỗi khúc chú 1 biến, bỏ vào trong hỏa đàn cúng dường Hiền Thánh, hay khiến cho người kia thương mến mà không sân hận. Nếu sợ dịch tật Quỷ Mị bắt bớ nơi thân, nên lấy Đổ da dược, Tỳ đổ da dược, Na Củ La dược. Kiền Đà Na Củ La dược, Bà Thích Ni dược, Uùm Ba Da Ba Ni Dược, Nhân Đạt La Ba Ni Dược, Kiền Đà Tất Lị Dạn Cù Dược, Huyệt Yết Lam Dược, Nghiên Ngật La Dược, Tỳ Sắc Nổ Ngật Lang Đa Dược, Tố Ma La Thời Dược, Tố Nan Đà Dược, Xà Diên Để Được, Bạch Đàn Hương Dược, Xá Lị Ma Dược, Xá Lị Bà Dược, Yết Tất Để Bà Thích Ni Dược, Yết Lệ Thứ Ca Dược, Kiền Đà Hiệt Yết Dược, Kim Cang Dược, Hắc Lam Dược, Phiệt Lă Kha Khất Lan Đa Dược. Các thứ thuốc dược như vậy đâm rất nhỏ và rây cho thật mịn, làm hoàn h́nh lớn như trái táo chú 108 biến để nơi trên đảnh hoặc đep nơi hai tay, tật dịch Quỷ Mị đều không dính thân. Nếu có trẻ nhỏ bị tà khí vọng lượng làm giật ḿnh sợ hăi, chú trong hoàn thuốc này 108 biến, rồi đeo dưới yết hầu liền không giật ḿnh sợ hăi nữa. Nếu có người nữ bạc phước đă đến tuổi mà mọi người thấy đều chán ghét, chú trong hoàn thuốc này 108 biến ḥa trong nước tắm rửa nơi thân ác tướng đều trừ, mọi người yêu kính, thân uế ác bịnh cũng được trừ lành. Nếu có các người phụ nhơn cầu sanh con trai, chú trong hoàn thuốc này 108 biến đeo trên thân kia, hoặc ḥa với nước mà tắm, liền được sanh con trai. Nếu chú hoàn thuốc này mà đeo trên thân th́ đao độc, thủy hỏa, ác thú, oan gia, ếm mị, cổ đạo, hết thảy tai hoạnh đều không làm hại. Nếu bịnh hoạn ghẻ, ung thư, chú hoàn thuốc này 108 biến ḥa với nước thoa chỗ ấy, liền được trừ lành. Nếu gặp ác phong bạo vũ, sương muối, mưa đá, chú trong nước thanh tịnh 21 biến, tán sái bốn phương, hoặc chú trong nhánh cây Yết La T́ La 21 biến miệng vẫn tụng chú, hướng về bốn phương mà quơ qua lại gió v.v... liền đỉnh chỉ.

Đại Thần Chú Tâm Quán Tự Tại này tuy không thọ tŕ chỉ y pháp trước mà tụng th́ quyết có linh nghiệm. Nếu hay thọ tŕ th́ ra làm sự nghiệp ǵ, không việc ǵ mà không thành tựu tốt đẹp. Người muốn thọ tŕ, lấy lụa trắng mới, dài mưới thước Tàu, rộng 5 thước Tàu, tổng thành một đoạn chớ nên cắt đoạn hay nối chỉ, họa làm tượng Phật, dùng màu sắc ḥa với dao (keo) hương dẻo, ngoài ra các thứ keo bên ngoài không được dùng. Bên hữu tượng Phật vẽ Quán Tự Tại Bồ Tát giống như Đại Tự Tại Thiên đảnh đầu có búi tóc, đội măo hoa, phủ áo phía cánh t ay trên bên tả, dùng anh lạc, ṿng xuyến để trang nghiêm các phần của cơ thể. Vị họa sư cần phải tắm rửa bằng nước hương thơm sạch sẽ, mặc y mới thanh tịnh, chớ ăn các món tạp uế, chuyên tinh trai giới, họa vẽ ở nơi tịnh thất. Nên đem tượng này để trong tịnh thất thanh tịnh, nơi trước tượng kia, ngưu phẩn đồ địa ngang rộng (bề ngang x bề rộng) chừng một trượng 90, bốn phương vuông vức bằng nhau, ở nơi trong đàn kia tán rải hoàn toàn hoa trắng. Lấy 8 cái b́nh thanh tịnh, mỗi cái chừng một lít đựng đầy hoa, hương thủy an trí tịnh. Mỗi cái chừng 1 lít đựng đầy hoa, hương thủy an trí tám phương. Lại ở nơi tám phương đó, trải 8 ṭa bằng cỏ, trên mỗi ṭa để 1 phần thực; và ở bên mỗi ṭa, để 8 phần thực. Món ăn cúng dường đó phải là những món ngon nhật trên đời được dùng để cúng dường, chỉ trừ ngũ tân, huyết nhục, tửu và các thứ tạp uế vật. Lăi thiêu trầm hương chí thành cúng dường. Người thọ tŕ chú, trước hết ba ngày ba đêm đoạn thực (1); như người kia nếu không thể được, chỉ một ngày một đêm không ăn, mỗi ngày trong  ba thời, tắm rửa sạch sẽ, mặc y mới thanh tịnh, ăn ba thứ bạch thực là sữa, bơ và gạo trắng ngon nhất. Ăn rồi súc miệng, xỉa răng sạch sẽ, đi đến trước tượng Phật thiêu trầm thủy hương chí thành đảnh lễ, chuyên tâm tụng Đại Thần Chú tâm này măn 8.000 biến, bấy giờ hành giả tự thất thân ḿnh khắp phóng hào quang sáng cũng như hỏa diệm sơn, thấy việc đó rồi vui mừng hớn hở. Lúc ấy Quán Tự Tại liền hiện trước mặt người kia, tùy sở nguyện cầu đều khiến măn túc. Nếu muốn tự ẩn, nên chú trong hùng hoàn hoặc an-thiện-na măn 8.000 biến, nghiền làm bột lấy thoa nơi con mắt. Nếu muốn bay lên hư không, nên dùng bột này xoa dưới chân. Do chú lực này, hành giả chứng bất không trí mà làm bậc Thượng Thủ Trang Nghiêm Đẳng Tŕ (2). Đă chứng được định tŕ này rồi, phàm ra làm sự nghiệp ǵ hết thảy đều thành tựu tốt đẹp”.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi Quán Tự Tại Đại Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay! Ông nay thương xót tất cả hữu tịnh mà nói Thần Chú này để khiến họ đều được lợi ích an vui. Ta càng rất mừng”.

Khi Bạc Già Phạm nói lời ấy rồi, Quán Tự Tại Đại Bồi Tát, Tịnh Cư Thiên chúng, Tự Tại Thiên chúng, Đại Tự Tại Thiên Chúng, Thanh Văn Bồ Tát đều đại hoan hỷ tín thọ phụng hành.


 

TRỪ TẶC NẠN ĐÀ LA NI KINH

 

        ĐẠI SƯ TRẦN PHÁP HIỀN TỤNG CHIẾU DỊCH PHẠN RA HÁN VĂN

        SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH HÁN RA VIỆT VĂN

 

Như thật tôi nghe: Một thời Đức Phật ở tại nước Ma Già Đà cùng các đại chúng vi nhiễu kinh hành, đến nơi vườn cây Yêm La bên sườn núi Vi Đề Hế, trong hanh Đế Thích. Bấy giờ Tôn Giả A Nan thoạt trông thấy bọn đại ác tặc tử xa đi đến, thấy rồi sanh đại kinh sợ, ḷng lo sợ hăi đến nỗi lông ḿnh đứng dựng. Lúc ấy Tôn Giả A Nan đi mau về chổ Phật, rồi chấp tay mà bạch Phật rằng: “Kính thưa Đức Thế Tôn! Con nay trông thấy có dại ác tặc, cúi mong Thế Tôn làm phép cứu hộ”

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nghe Tôn Giả An Nan thưa lời ấy rồi, dạy A Nan rằng: “Ông sợ ác tặc ư?”. A Nan bạch Phật rằng: “Rất sợ, thưa Thế Tôn!”. Phật dạy A Nan: “Ông chớ nên sợ! Ta có Đà La Ni hay trừ tặc nạn”. Lúc ấy Tôn Giả A Nan nghe Đức Phật nói, tâm sanh vui mừng, nói như thế này: “Cúi mong Thế Tôn v́ con tuyên nói”.

Bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói Đại Luân Kiết Giới Đà La Ni rằng:

Đát Ninh Giả Tha: A Dương Lộ Ca Bát Ra Lộ Kế, Y Cai A Đề Bát Để, Ngẩu Lị Hiến Đà Lị, Tán Noa Lị, Ma Đắng Nghĩ, Nhă Ngu Lị, Bổ Ca Tế

Khi Đức Thế Tôn nói Đà La Ni này rồi, liền bảo Tôn Giả A Nan: “Ông nay có thể đi, dùng Đà La Ni này để kiết giới trước mặt 12 do tuần, khiến được an ổn tức trừ tặc nạn cho đến đao kiếm, khí trượng v.v... đều không thể xâm hại, lại hay khiến các giặc ác không ĺa bổn xứ, xoay vần như bánh xe quay. Lại nữa A Nan! Nếu có người khi gặp tặc nạn, nên dùng chỉ trắng sạch gia tŕ Đà La Ni này 7 lần, tụng mỗi lần gút một gút đủ 7 gút, qua nạn liền giải, chổ có các giặc đều như bị cấm trói, không thể bị nạn”.

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói kinh này rồi, Tôn Giả A Nan và các đại chúng nghe Đức Phật nói, đều hoan hỉ tín thọ phụng hành.


 

KINH NHỨT THIẾT NHƯ LAI

DANH HIỆU ĐÀ LA NI KINH

 

        ĐẠI SỰ TRẦN PHÁP HIỀN PHỤNG CHIẾU DỊCH PHẠN RA HÁN VĂN

        SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH HÁN RA VIỆT VĂN

 

Như thật tôi nghe: Một thời Đức Phật ở tại Pháp Giả Đại Bồ Đề Đạo tràng thuộc nước Ma Già Đà (1), vừa  thành Chánh Giác cùng với Bồ Tát Ma Ha Tát chúng gồm có 8 vạn người đều câu hội đầy đủ, lại c̣n có tám vạn bốn ngàn Đại Phạm Thiên Tử cũng ở tại Đạo tràng này. Tất cả đều vi nhiễu chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn.

Bấy giờ trong hội có một Đại Bồ Tát tên Quán Tự Tại, từ ṭa đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối hữu sát đất, chắp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng: “Kính thưa Đức Thế Tôn! Có Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu Đà La Ni, trong Trang Nghiêm kiếp, Hiền kiếp, Tinh Tú kiếp, chư Phật Như Ni này. Con nay thừa oai lực của Phật, cũng v́ lợi ích an lạc các chúng sanh, cho nên muốn tuyên nói. Cúi mong Đức Thế Tôn thương xót phú hộ(2)

Bấy giờ Đức Thế Tôn khen ngợi Quán Tự Tại Đại Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay! Quán Tự Tại! Ông hay v́ lợi ích tất cả chúng sinh mà phát Đại Bi Tâm, hăy tuyên nói như ư”.

Lúc ấy Quán Tự Tại Bồ Tát mong chờ Phật đă cho phép rồi, lại bạch Đức Phật rằng: “Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu người muốn tụng Đà La Ni này, hăy trước nên chí thành tụng danh hiệu của chư Phật Như Lai sau đây:

        Nam Mô Bảo Sư Tử Tự Tại Như Lai

        Nam Mô Bảo Vân Như Lai

        Nam Mô Bảo Trang Nghiêm Tạng Như Lai

        Nam Mô Sư Tử Đại Vân Như Lai

        Nam Mô Vân Sư Tử Như Lai

        Nam Mô Tu Di Như Lai

        Nam Mô Sư Tử Hống Như Lai

        Nam Mô Sư Tử Lợi Như Lai

        Nam Mô Phạm Âm Như Lai

        Nam Mô Thiện Ái Như Lai

        Nam Mô Liên Hoa Thượng Như Lai

        Nam Mô Nhiên Đăng Như Lai

        Nam Mô Liên Hoa Sanh Như Lai

        Nam Mô Tốn Na Ra Như Lai

        Nam Mô Tŕ Hoa Như Lai

        Nam Mô Tŕ Bảo Như Lai

        Nam Mô Pháp Sanh Như Lai

        Nam Mô Nhựt Quang Như Lai

        Nam Mô Nhựt Chiếu Như Lai

        Nam Mô Nguyệt Quang Như Lai

        Nam Mô Vô Lượng Tạng Như Lai

        Nam Mô Vô Lượng Trang Nghiêm Tạng Như Lai

        Nam Mô Vô Lượng Quang Như Lai

        Nam Mô Liên Hoa Tạng Như Lai

        Nam Mô Thiên Diệu Âm Như Lai

        Nam Mô Câu Chỉ La Đẳng Như Lai

Nếu người được nghe tất cả những danh hiệu Phật như thế, v́ kẻ khác tuyên nói, người đó trong sáu mươi ngàn kiếp không nghe tên ác thú huống nữa là đoạ nơi A Tỳ Địa Ngục”.

Bấy giờ Quán Tự Tại Bồ Tát nói danh hiệu của chư Phật Như Lai rồi, liền nói Đà La Ni rằng:

Đát Nĩnh Dă Tha: Tạt Đổ Ra Thi Đế Du Nhạ Na Thiết Đa Tát Hạ Tát Ra Ni, Nhạ Trá Bà Ra Mạt Cô Tra Lăng Ngật Lị Đa, Đà Ra Ni Sa Hạ; Tạt Lị Phạ Đát Tha Pha Đa Mẫu Lị Để Đa, Đà Ra Ni Sa Hạ; A Phạ Lộ Kiết Đế Thuyết Ra Giả Sa Hạ, Tát Lị Phạ Đát Tha Nga Đô Oâ Sắc Nị Sa, Đà Ra Ni Sa Hạ; Tát Lị Phạ Đát Tha Nga Đa Bà Thỉ Đa, Đạt Lị Ma Tắc Kiên Đà, Đà La Ni Sa Hạ; Tát Lị Phạ Đát Tha, Nga Đa Bà Thỉ Đa Táp Bát Đa Đà Ra Ni Sa Hạ Bát Nạp Ma A Bà Nễ Ca Giă Sa Hạ, A Sắt Tra Ma Hạ, Bạt Giă Đà Ra Ni Sa Hạ, Duyệt Đa Phạ Lang Noa Giả Sa Hạ, Tát Lị Phạ Đát Tha Nga Đa Na Ma Đà Ra Ni Sa Hạ; A Thi Đế Bát Nạp Ma Thiết Nễ Ca, Giả Đát Tha Nga Đa Đà Ra Ni Sa Hạ, Bát Nạp Ma Hạ Tất Đa Giả Sa Ha, Tát Lị Phạ Măn Đát Ra Đà Ra Ni Sa Hạ”.

Lúc bấy giờ, Quán Tự Tại Bồ Tát nói Đà Ra Ni rồi, lại bạch Phật rằng: “Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu có kẻ trai lành, gái tín thọ tŕ, đọc tụng, tư duy, ghi nhớ Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu Đà La Ni này, v́ kẻ khác truyền nói, người ấy đă có nghiệp ngũ vô gián, thảy được tiêu trừ. Sau khi mạng chung, người ấy sinh lên làm vua chư Thiên, sống lâu tám mươi bốn trăm ngàn cu li kiếp số, vậy sáu mươi trung kiếp. Qua kiếp đó rồi, người ấy sẽ được thành Phật gọi là Liên Hoa Tạng Như Lai Ưng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác”.

Lúc ấy Đức Thế Tôn nói Kinh này rồi, tám vạn Đại Bồ Tát chúng và tám vạn bốn ngàn Đại Phạm Thiên Tử nghe Đức Phật nói, đều đại hoan hỷ tín thọ phụng hành.


 

ĐẠI THÁNH DIỆT CÁT TƯỜNG

BỒ TÁT BÍ MẬT ĐÀ RA NI

 

        SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH HÁN RA VIỆT VĂN

 

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn dạy Kim Cang Mật Tích Chủ rằng: “Tám chữ Tối Thắng Đại Oai Đức Tâm Chơn Ngôn đây trụ xứ ở chổ nào chư Phật c̣n ở đời không có khậc vậy. Có công năng hiện chư Phật các món Thần lực không thể nghĩ bàn, cũng hay làm Đại vô lượng Thần thông  biến hóa. Ta nay chỉ lược khen ngợi chút ít phần công đức Đà La Ni này. Ta nếu nói đủ th́ vô lượng trăm ức câu chi na-du-đa trăm ngàn đại kiếp nói không thể hết. Lúc ấy Đức Thế Tôn liền nói bát tự Đại Oai Đức Tâm Chơn Ngôn rằng:

ÚM ÁT VỊ RA HÙM KHƯ TẢ LẠC

Phật lại dạy Kim Cang Mật Tích chủ rằng: “Đà La Ni này nếu có kẻ nam người nữ không thể sắm sửa việc thừa tự cúng dường Pháp một cách đầy đủ, lại v́ hoàn cảnh gia duyên bức bách các nghiệp vụ sanh kế. Chỉ nên nhớ tŕ không quân, y thời niệm tụng, tùy phần không thiếu chút ít phần cúng dường, tùy ḿnh theo sức sắm chút cúng dường cũng được thành tựu, trừ không chí tâm, không chánh tính tâm, không phát tâm Đại thừa Bồ Đề, lại c̣n phỉ báng ngôi Tam Bảo, khởi lên những điều bất thiện, làm các ác nghiệp. Những tâm như thế th́ tất cả Pháp nhỏ c̣n không thể thành tựu được, huống nữa Đại Pháp lại có thể thành tựu được ư? ”

Khi ấy Như Lai dạy Kim Cang Mật Tích Chủ rằng: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn niệm tụng Đà La Ni này một biến, tức được hộ tự thân ḿnh. Nếu tụng hai biến hay hộ đồng bạn của ḿnh. Nếu tụng hai biến hay hộ đồng bạn của ḿnh. Nếu tụng ba biến tức đại hộ trụ xứ, hàng Thập địa Bồ Tát không thể vượt hơn, huống ǵ các tiểu loại chính sinh. Nếu tụng bốn biến tức được ủng hộ vợ con. Nếu tụng năm biến tức hay ủng hộ tất cả quyến thuộc. Nếu tụng sáu biến tức hay ủng hộ tất cả thành ấp, thôn phường tụ lạc v.v... Nếu tụng bảy biến tức hay ủng hộ tất cả các khổ nạn của chúng sinh. Nếu khi muốn mặc áo nên tŕ niệm bảy biến thời hay trừ tất cả ác độc và các tai nạn. Nếu khi rữa tay, hay khiến chúng sinh quư ngưỡng, các kẻ ác thấy thảy đều hàng phục tất cả mọi người đều kính trọng, trừ ác tâm, họ sanh ḷng vui mừng.

Nếu người bệnh bị thân thể nhức mỏi, gia tŕ trong nước nóng 108 lần rồi tắm rữa, tức được hảo mộng lại được trừ lành.

Nếu mỗi ngày buổi sáng, lấy một chén nước gia tŕ 7 lần, uống vào trong thân có chánh ác báo thảy đều tiêu trừ, huống ǵ tai ách và các nghiệp tội cấu cũng được tiêu diệt, thọ mạng sống lâu.

Nếu tŕ trong đồ ăn uống 7 lần rồi ăn vào, độc cũng không thể làm hại được. Nếu thấy kẻ ác oan gia phải cầu niệm tụng tức tự hàng phục, trừ bỏ ḷng giận dữ, từ tâm hướng về ḿnh. nếu có chổ nào khủng bố sợ hăi, chí thành niệm tụng tức được vô úy. Nếu khi nằm tụng 108 lần, tức được hảo mộng, hay biết việc thiện ác. Nếu người bệnh nóng sốt cao độ, người tŕ tụng ngó ngay vào mặt người bệnh tụng chơn ngôn này 108 biến, bệnh nóng ấy sẽ trừ lành. Nếu khi vào quân trận, lấy ngưu huỳnh viết Thần chú này đeo nơi trên thân, tất cả dao gậy cung tên dáo búa không thể thương hại. Nếu khi vào trận, nên họa tượng Đức Văn Thù Đồng Tử  và chân ngôn để trên xe ngựa dẫn quân đi trước, các quân giặc không thể làm hại, tự thoái tán.

Thường cần niệm tụng, đă có các tội ngũ vô gián, tứ trọng thập ác thảy đều tiêu diệt, sẽ được diện kiến Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, đi đứng nằm ngồi thường cần thọ tŕ, niệm tụng nhớ tŕ không quên, mỗi lần tụng đủ 108 biến chớ khiến gián đoạn, thường được tất cả chúng sanh hàng phục. Nếu gia tŕ trên mái tóc 7 biến, tất cả chúng sanh thấy ấy thảy sẽ hàng phục, người ác lánh xa.

Nếu hay mỗi ngày ba thời, y pháp vào Đạo Tràng, riêng mỗi thời tụng đủ 108 biến, việc sở cầu đều được xưng ư viên măn cụ túc, được đại phú quư, ra làm việc ǵ cũng được tự tại, khi lâm chung được chứng Phổ Môn Tam Muội và thấy Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

Nếu có người nào hay viết chép Thần Chú này để thờ trong nhà th́ được đại phú quư. Có các tai nạn đều được tiêu diệt. Mong cầu các nguyện đều được viên măn, thường được thiện Thần vi nhiễu gia hộ, không khiến quỷ ma đến xâm nhiễu. Đây là bí mật Đà La Ni không thể nghĩ bàn, Chư Phật oai đức cũng không thể nghĩ bàn.


 

PHỤ LỤC

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ

THƯỢNG TỌA THÍCH VIÊN ĐỨC

 

1.      Thân thế và quê hương

Thượng Tọa tên thật là Phạm Văn Nghi, húy là Thượng Đồng Hạ Viên, tự là Thông Lợi, hiệu là Viên Đức. Sinh vào giờ Tỵ ngày 26 tháng Chạp năm Nhâm Thân (1932). Quán làng Định Trung, Xă An Định, Quận Tuy An, Tỉnh Phú Yên.

Thân phụ của Thượng Tọa là cụ ông Phạm Giản, một bực túc nho thời bấy giờ. Thân mẫu là cụ bà Ung Thị B́nh, một Phật tử thuần thành từ hồi bé. Ông nội của Thượng Tọa không những là một kẻ sĩ, mà c̣n là một chiến sĩ trong phong trào Cần Vương kháng Pháp.

Thượng Tọa chào đời và lớn lên ở Phú Yên, một nơi địa linh nhân kiệt, không những v́ đời đă sản sinh ra nhiều anh hùng liệt sĩ, mà về Đạo cũng là nơi đời đời nối tiếp xuất sinh nhiều vị Tăng tài kế truyền hoằng hóa giáo Pháp của Đức Thế Tôn. Non nước Phú Yên như phần nào nói cho ta điều đó. Ngoài ḍng sông Ba Yên b́nh chảy ra biển cả, Phú Yên c̣n có hai ngọn núi là Ḥn Chuông và Ḥn Mỏ, h́nh giống như hai Pháp khí tu hành của nhà Phật. V́ vậy, Vua Minh Mạng khi nói về đất Phú Yên đă khen ngợi:

“Trung kỳ Phú Yên tỉnh, nải Thiên Địa tinh anh, sơn xuyên Chung Dục, thị dỉ tự cổ Cao Tăng điệp xuất, Đạo bá tam kỳ, thật vi công đức vô biên, tán thán mạc cập dă giả”

Tạm dịch

Trung kỳ có Phú Yên, non cao thật lih hiển, núi Chuông cũng núi Mỏ, xưa nay ai cũng biết, Cao Tăng luôn điệp xuất, đạo bá khắp ba miền, công đức vô biên kể, khen ngợi thật khó lường.

Thật vậy, Tổ Liểu Quán, trong lịch sự Phật giáo Việt Nam ai cũng biết là người làng Bạc Má, Huyện Đồng Xuân, Tỉnh Phú Yên. Ngoài ra bao nhiêu tự viện là ḷ đúc Tăng tài như Tổ Đ́nh Phước Sơn, Tổ Đ́nh Bảo Sơn v.v... qua nhiều thế hệ đă đóng góp rất nhiều về việc hoằng hóa Đạo Pháp.

 

2.      Cuộc đời

Theo lời tường thuật của Thân Mẫu Thượng Tọa, thời kỳ hoài thai của Người có những cảm giác kỳ lạ, ḷng không tham đắm trần cảnh, miệng chỉ ăn được muối rau. Thượng Tọa được sinh hạ nhẹ nhàng. Thai kỳ chỉ có bảy tháng mười ngày. V́ sanh sớm hơn những đứa trẻ khác nên khi c̣n nhỏ thể tạng rất ốm yếu, đau ốm măi tưởng như không thể nuôi được. Thượng Tọa lúc nhỏ đă tỏ ra có tư chất thông minh lanh lợi, có ư chí xuất trần hơn là công danh thế tục. V́ vậy, trong các tṛ chơi thường ngày, Bé Nghi thường lấy ốc ngao làm mơ nắp hộp thau làm chuông h́nh Phật b́ nhan làm Phật, hai ống quần làm tay áo rộng, rồi bảo các bạn bè nếu muốn đến cúng Phật th́ đến rước.

Thân phụ mất sớm (lúc Người mới 5 tuổi) tiếp theo là người anh thứ bảy mới mười ba tuổi cũng mất. Thân mẫu thấy bé Nghi ốm yếu khó nuôi nên đem kư bán quy y tại chùa Bảo Phong.

Năm 1942 (lúc 11 tuổi) Người xuất gia thọ Pháp với Ḥa Thượng Thích Phổ Huệ (ḍng Tâm Tế) tạo Tổ Đ́nh Bảo Sơn thuộc làng Phong Thăng, huyện Tuy An, Tỉnh Phú Yên, nhờ có tư chất thông minh mẫm tuệ, lại được Thầy Phổ Huệ tận t́nh chỉ dạy Phật Pháp, nên chẳng bao lâu Người thâm nhập phần lớn kinh kệ căn bản và hai thời Công Phu. Sau 3 năm, Người c̣n được Thầy Phổ Huệ chọn lựa cho đi học thêm chữ Quốc ngữ để sau này thuận lợi trong vấn đề hoằng dươn Phật Pháp. Sự chọn lọn Tăng sinh để học thêm văn hóa ở các chùa thời xưa là một vấn đề khó khăn, người được lựa chọn, phải đầy đủ giới hạnh. V́ vậy trong 12 chú Điệu ở Tổ Đ́nh Bảo Sơn chỉ một ḿnh người được chọn. Người học tiểu học tại trường Lưu Văn Chánh (Phú Yên) và là một trong những học sinh xuất sắc, có lần người đă trúng tuyển thứ tư trên 2000 học sinh trong kỳ thi lên trung học toàn Tỉnh.

        Từ năm 1946 – 1950: Thượng Tọa tiếp tục học văn hóa và học Kinh

        Từ năm 1950 (nhằm ngày 19 tháng 02 năm Canh Dần): Thượng Tọa chính thức được làm lễ “Thế Độ” do Ḥa Thượng Thích Phước Trí làm chủ lễ.

        Năm 1952: thầy của người là Ḥa Thượng Phổ Huệ viên tịch. Người vô cùng đau xót chưa biết tính thế nào về con đường tu học của ḿnh, th́ Ḥa Thượng Bảo Sơn (Thầy Bổn Sư của Ḥa Thượng Phổ Huệ) Đem Người gửi cho Ḥa Thượng Thích Phước Trí Trụ Tŕ Tổ Đ́nh Phước Sơn (Phú Yên) để Người tiếp tục tu học. Chính nhờ uy tín và đức độ của Ḥa Thượng Thích Phước Trí cũng như sự chăm sóc tận t́nh của Ngài, Người mới được tiến xa trên đường tu học.

        Năm 1953: Thượng Tọa được ra học Kinh tại chùa Thập Tháp (B́nh Định), sau 1 năm lại trở về Phú Yên. Sau đó Thượng Tọa lại ra Tổ đ́nh Từ Quang (Đá Trắng – Phú Yên) học Kinh với Ḥa Thượng Phước Hộ.

        Năm 1954: người được giới thiệu vào học tại Phật học viên Nha Trang, nơi đây Người được vào học ngay chương tŕnh Trung đẳng của Phật Học Viện. Tại Phật Học Viện Nha Trang, Thượng Tọa là một trong những Tăng sinh xuất sắc. V́ vậy có lần Pháp Sư Diễn Bồi, người Trung Hoa đến giảng tại Tăng Viện, khi thăm chúng Tăng đă nhận xét về Thượng Tọa như sau: “Thị giáo lợi hỷ, lưu danh hậu thế”. Quả thật, sau này, Thượng Tọa là một cột trụ trong phong trào hoằng truyền Mật Giáo. Thời gian học tại Phật Học Viện Nha Trang, Thượng Tọa đă bắt đầu tham cứu Kinh sách Mật Giáo và chuyên tŕ chú Chuẩn Đề

        Năm 1957 (Nhằm ngày rằm tháng Chạp năm Đinh Dậu): người được thọ Cụ Túc giới

        Năm 1958. Thượng Tọa tốt nghiệp Cao Đẳng Phật Học Viện Nha Trang

        Năm 1959. Thượng Toạ được Giáo Hội cử làm Giảng Sư tại tỉnh Đắc Lắc Ban Mê Thuộc

        Năm 1960 – 1962: Làm Chánh Hội Trưởng Phật Giáo Đắc Lắc Ban Mê Thuộc. Trong thời gian này, Thượng Tọa đă không nệ gian lao nguy hiểm, quyết đem ánh Đạo vàng đến cho chúng sanh ở vùng đất xa xôi này, Người đă khai sơn xây dựng chùa Quảng Đức và hơn 30 cảnh Chùa khác như các chùa quận Kiến Đức, Sùng Đức v.v... đều có bàn tay của Thượng Toạ góp công. Ngoài ra Người c̣n xây dựng và kiện toàn các cơ sở của Giáo Hội tại địa phương.

        Đầu năm 1963: Thượng Tọa c̣n kiêm làm giảng sư tại Vạn Giả Tu Bông Nha Trang. Nơi đây người lại xây dựng được một Đại Bảo tháp thờ Kinh Pháp Hoa và một tịnh thất khang trang.

        Vào năm 1963: giữ chức Chánh Hội trưởng Phật Giáo Tỉnh Quảng Đức

        Năm 1964: khai sơn xây cất chùa Dược Sư Ban Mê Thuộc, cũng trong năm này, Thượng Tọa đă vận động một số Phật tử cung thỉnh Đại Tạng Kinh cúng dường cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Phú Yên.

        Năm 1964: làm Chánh Đại diện Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Biên Ḥa kiêm Tổng Thư Kư Tổng Vụ Văn Hóa Xă Hội Viện Hóa Đạo Aán Quang

        Năm 1976: Thượng Toạ về nhập thất tại chùa Dược Sư (Ban Mê Thuộc), đồng thời nghiên cứu Mật Giáo, hoằng dương Chân Ngôn Tông, Thượng Tọa đă được Ḥa Thượng chùa Hương Tích (Phú Yên) một vị chuyên tu Bí Mật Hạnh của Thế Hệ Tước hiệu là Vạn Ân trao truyền Kinh điển Mật Giáo, nhằm ngày rằm tháng năm năm Đinh Mùi (22 tháng 6 năm 1967). Thượng Tọa được Ḥa Thượng chùa Thiền Sơn (Phú Yên) hiệu là Từ Thạch chính thức truyền giao Ấn Khế.

        Năm 1970: Thượng Tọa được Giáo hội cử làm phó Đặc Uỷ Phật Học Vụ trong Tổng Vụ Giáo Dục

        Năm 1972: khởi công trùng tu ngôi chùa Thiền Tịnh tại Thủ Thiêm

Về hoằng truyền Mật Giáo, sau nhiều năm suy nghĩ, nhập thất, thể nghiệm về phương tiện hoằng hóa độ sinh, mặc dầu Thượng Tọa thuộc ḍng Thiền Lâm Tế, nhưng ngài đă quyết chọn con đường Mật Thừa để hoằng truyền. V́ theo Người th́ đây là con đường ngắn nhất, thù thắng nhất để đạt đến Đạo quả Vô Thượng Bồ Đề và hợp cơ với chúng sinh trong thời Mạt Pháp. Thật  ra, Mật Giáo đă hiện diện ở Việt Nam từ lâu, nhưng chúng ta không rơ đích xác năm nào, nếu căn cứ vào những sử liệu c̣n lại th́ Mật Tông du nhập vào Việt Nam cùng lúc với các Tông khác như Thiền Tông, Tịnh Độ Tông... Đây đó trong lịch sử thỉnh thoảng các vị Cao Tăng thường dùng phương tiện thiện xảo để độ chúng sinh như Vạn Hạnh Thiền Sư, Giác Hải Thiền Sư, Giác Ngộ Thiền Sư v.v... ta mới thấy Mật Giáo đă đóng góp rất nhiều trong việc khai ngộ chúng sinh. Đến cuối thế kỷ XX, có thể nói Thượng Tọa là người đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam  đă công truyền Mật Giáo bên cạnh Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Pháp Tướng Tông... V́ vậy, có người đă cho mà Mật Giáo không c̣n xa lạ với nhân dân miền Nam, Kinh sách Mật Giáo lần lần xuất hiện. Trong gần 20 năm, một ḿnh Thượng Tọa đă âm thầm hoằng truyền Mật Giáo không biết mệt mỏi. V́ vậy một tay người đă dịch thuật và giới thiệu gần 100 quyển Kinh Luận về Mật giáo.

Sau đây là một số danh hiệu Kinh Mật Giáo đă được phiên dịch:

        Hiển mật viên thông thành phật tâm yếu                              2 quyển

        Kinh Chuẩn Đề Đà La Ni (Hội thích)                                 3 –

        Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương                         4 -

        Thất Cu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề                        1q

Đà La Ni Kinh

        Thất Cu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề                        1q

Đà La Ni Pháp

        Thất Cu Chi Độc Bộ Pháp                                                1q

        Chuẩn Đề Biệt Pháp                                                          1q

        Kinh Thánh Lục Tự Tăng Thọ Đại Minh Đà La Ni             1q

        Lục Tự Thần Chú Vương Kinh                                          1q

        Kinh Mạt Pháp Trung Nhứt Tự Tâm Chú Đà La Ni           1q

        Kinh Văn Thù Sư Lợi Căn Bản Nhứt Tự Đà La Ni            1q

        Mạng Thù Thất Lợi Bồ Tát Chú Tạng Trung                      1q

Nhứt Tự Chú Vương Kinh

        Uế Tích Kim Cang Thuyết Thần Thông Đại Măn                2q

Đà La Ni Pháp Thuật Linh Yếu Môn

        Bắc Đẩu Thất Tinh Diên Mạng                                          1q

        Thất Tinh Chơn Ngôn Thần Chú                                        1q

        Nhứt Thiết Công Đức Trang Nghiêm Vương                     1q

        Kinh Trang Nghiêm Vương Đà La Ni                                 1q

        Kinh Tŕ Cú Thần Chú                                                        1q

        Kinh Tăng Duệ Đà La Ni                                                  1q

        Quán Thế Âm Thuyết Trừ Nhứt Thiết Nhăn Thông Đà La Ni, Quán Thế Âm Linh Chư Căn Cụ Túc Đà La Ni, Hoạch Chư Thiền Tam Muội, Nhứt Thiết Phật Pháp Môn Đà La Ni (Đà La Ni Tạp Quyển 7 Trích Lược)  1q

        Phương Pháp Tu Tịnh Tọa                                                 1q

        Văn Thù Sư Lợi Pháp Bảo Tàng Đà La Ni                        1q

        Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni                                1q

        Gia Cú Linh Nghiệm Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kư, Triều Thị Đại Phu Kiêm Thị Ngự Sử       1q

        Kinh Đại Phương Đẳng Đà La Ni                                      1q

        Kinh Hoa Tụ Đà La Ni Chú                                              1q

        Kinh Đại Bảo Quảng Bát Lầu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni        3q

        Kinh Bất Không Quyến Tác Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Quán Đảnh Quang Chơn Ngôn           1q

        Đại Kiết Tường Thiên Nữ Thập Nhị Danh Hiệu                 1q

        Bồ Đề Tâm Bồ Tát Giới Yết Ma Nghi Quỹ                        1q

        Kinh Thất Phật Sở Thuyết Đại Đà La Ni Thần Chú            1q

        Kinh Nhứt Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Aán Đà La Ni            1q

        Đại Phật Đảnh Như Lai Phóng Quang Tất Đát Đa Bát Đát Ra Đại Thần Lực Đo Nhiếp Nhứt Thiết Chú Vương Đà La Ni Kinh, Đại Oai Đức Tối Thắng Kim Luân Tam Muội Chú 1q

        Kinh Câu Na Hàm Mâu Ni Phật Thuyết Thần Chú             1q

        Đa Rị Tâm Kinh                                                                1q

        Kinh Đại Luân Kim Cang Tổng Tŕ Đà La Ni                     1q

        Kinh Thâm Sa Đại Tướng Bồ Tát Đà La Ni                       1q

        Kinh Thánh Hư Không Tạng Đà La Ni                              1q

        Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Lục Tự Chú Công Năng Pháp Kinh 1q

        Kinh Bảo Tàng Thiên Nữ Đà La Ni Pháp                          1q

        Nhứt Kế Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử Đà La Ni Niệm Tụng Nghi Quỹ     1q

        Kinh Thường Cù Lợi Độc Nữ Đà La Ni Thần Chú            1q

        Đại Như Yù Bảo Châu Luân Ngưu Vương Thủ Hộ Thần Chú Kinh 1q

        Kinh Trừ Bách Bịnh Chư Độc Đà La Ni                            1q

        Mă Minh Bồ Tát Đại Thần Lực Vô Tỉ Nghiệm Pháp Niệm Tụng Nghi Quỹ 1q

        Kinh Ma Lị Chi Thiên Bồ Tát Đà La Ni                             1q

        Kinh Bạt Trừ Tội Chướng Chú                                         1q

        Kinh Túc Mạng Trí Đà La Ni                                            1q

        Kinh Trừ Tặc Nạn Đà La Ni                                             1q

        Kinh Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu Đà La Ni                 1q

        Kinh Bí Mật Bát Danh Đà La Ni                                       1q

        Kinh Bảo Sanh Đà La Ni                                                  1q

        Kinh Bảo Hiền Đà La Ni                                                   1q

        Kinh Tùy Cầu Tức Đắc Đại Tự Tại Đà La Ni Thần Chú 1q

        Kim Cang Đảnh Du Già Tối Thắng Bí Mật Thành Phật Tùy Cầu Tức Đắc Thần Biến Gia Tŕ Thành Tựu Đà La Ni Nghi Quỹ 1q

        Kinh Thánh Tối Thắng Đà La Ni                                        1q

        Kinh Liên Hoa Nhăn Đà La Ni                                          1q

        Kinh Thắng Tràng Anh Lạc Đà La Ni                                1q

        Kinh Toái Trừ Chư Ác Đà La Ni                                     1q

        Kinh Tôn Thắng Đại Minh Vương                                      1q

        Kinh Kim Thân Đà La Ni                                                  1q

        Kinh Tối Thắng Yù Đà La Ni                                            1q

        Kinh Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà La Ni   1q

        Kinh Thập Nhứt Diện Thần Chú Tâm                                1q

        Kinh Bất Không Quyến Tác Thần Chú Tâm                       1q

        Thành Tựu Mông Tướng Pháp                                          1q

        Vô Lượng Thọ Như Lai Tu Quán Hạnh Cúng Dường Nghi Quỹ      1q

        Kinh Bồ Đề Trường Trang Nghiêm Đà La Ni                    1q

        Kinh Bí Mật Tạng Quán Thế Âm Bồ Tát Như Yù Luân Đà La Ni Thần Chú            1q

        Kinh Tỳ Sa Môn Thiên Vương                                          1q

        Kinh Vũ Bảo Đà La Ni                                                     1q

        Kinh Đại Kiết Giới Thần Chú                                             1q

        Kinh Tŕ Minh Tạng Bát Đại Tổng Tŕ Vương                     1q

        Kiên Lao Địa Thần Nghi Quỹ                                            1q

        Kinh Cửu Phẩm Văng Sanh A Mi Đà Tam Ma Địa Tập Đà La Ni   1q

        Kinh Nhứt Thiết Phật Nhiếp Tương Ưng Đại Giáo Vương Kinh Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Niệm Tụng Nghi Quỹ 1q

        Kinh Quán Tự Tại Bồ Tát Tùy Tâm Chú                            1q

        Cuộc Đời Ngài Huyền Trang                                             1q

        Phật Đảnh Phóng Vô Cấu Quang Minh Nhập Phổ Môn Quán Sát Nhứt Thiết Như Lai Tâm Đà La Ni         1q

        Ma Hê Thủ La Thiên Kinh                                                 1q

Tổng cộng                       92 quyển

Năm 1974: Thượng Tọa Từ Buôn Mê Thuộc về Trụ Tŕ Chùa Thiền Tịnh Quận 9, Saigon. Người tiếp tục dịch Kinh, lập các Đạo tràng về Mật Giáo, như Đạo Tràng Đại Bảo Quảng Bác Lầu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni, Đạo Tràng Nhứt Thiết Như Lai Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Aán Đà La Ni v.v... Hoặc lập những Giới Đàn như Bồ Đề Tâm Giới, Truyền Pháp Hoán Đảnh... Ngoài ra, Thượng Tọa c̣n giao tiếp với các vị Cao Tăng Thiền Đức, Cư Sĩ  để lo hoằng truyền Mật Giáo, Thượng Tọa c̣n noi gương các Vị Cao Tăng Thời xưa đem uy lực nhiệm màu của Phật Pháp để độ sanh chữa bệnh, v́ vậy qua ngọn bút của Thượng Tọa đă có biết bao người chữa lành các bịnh về tim, tâm thần, cuồng loạn, v.v... một số trong những người ấy nay vẫn c̣n đó.

Nguyện vọng của Thượng Tọa trong lúc sinh thời là muốn gặp gỡ các vị Lạt Ma Tây Tạng, các pháp sư Mật Giáo Nhựt Bản để trao đổi các yếu chỉ về Mật Giáo. Nhưng Ước vọng chưa thành th́ Thượng Tọa đă Viên tịch vào giờ Sửu ngày 12 tháng 7 năm Canh Thân, thọ 49 tuổi.

Trước Giác Linh của Người, chúng con tề tựu  về đây tưởng niệm ân triêm công đức của Người, nhưng làm sao nói hết được. Đây đó khắp bốn phương trời, các môn đồ hiếu đệ mang chữ Giác chữ Chúc trong những ngày vào Thu hoài niệm Ân Sư ngày nào bóng áo Cà sa phất phối, giọng truyền pháp nhũ ngọt ngào, nay th́...

Than ôi! Ngọn đuốc Mật Thừa xao gió!

Vầng trăng giới hạnh lờ mây!

Bóng dáng oai nghiêm ngày nào nơi cửa Pháp

Giọng phạn âm Chơn Ngữ nghe càng thắm càng nồng

T́nh Môn Đồ, Nghĩa Sư Đệ chốn Thiền Môn, khi hủ hỉ khi đau buồn làm sao nói hết được niềm trần cảm!

 

AI CẢM

Ngưỡng bạch kính dâng lên Giác Linh Thượng tọa. Môn đồ hiếu đệ chúng con khấu đầu lễ bái. Nhớ Giác Linh xưa:

Từ Bi Vô lượng

Hỷ xả khôn cùng

Hạnh nguyện như thi cùng tuế nguyệt

Công phu nào ngại chốn trần đồ

Quyết nhập luân hồi, ươm mầm Đạo pháp, biết bao phen chướng nạn với trần lao.

Nào Sợ Tử Sinh giả hợp Vô thường, một lời nguyền nhập lưu cùng Tế độ.

Rồi một sáng cuối Đông, miền trung thắng địa, vùng núi Chung núi Dục oai hùng.

Hoa lá như xôn xao cùng Thiên Nhạc, cơi đất Linh sẽ đem Pháp lưu truyền.

Thầy vào đời như Tùng như bách, nào sợ phong sương băo táp dập vùi.

Thầy ra đi như gió mây, nào ngại ba đào hiểm nạn chắn lối.

Lê gót phong sương hồ hải, nay Khánh Hoà Vạn Giả, Mai Quảng Đức Tu Bông.

Pháp luân chơn nghĩa khai đông:

Môn đồ hiếu đệ thoát ṿng trầm luân!

Chí thầy quyết vươn cao ḍng Pháp Mật, để môn sinh kế thế thừa truyền.

Nguyện Thầy xoay khổ hải với Ta Bà, để đệ tử thấy được mùi Pháp Lạc.

Chí là thế, Hạnh là thế, nhưng Ta Bà nào phải cảnh thiếu chông gai?

Có những lúc t́nh đời bạc dẻo, nghĩa những môn sinh nào khác chú Đế Bà.

Có nhữngkhi lời nặng tiếng chê, nghĩa Sư Đệ không ra ngoài ấm lạnh.

Nhưng Thầy bảo: Ta bà là nhẫn nhục 

Phiền năo tức Bồ Đề

Gương xưa Di Lặc năo nề

Bị đánh bị chửi ê chế vẫn vui.

Rồi:

      Tuổi tên không để chôn vùi,

      Dịch Kinh thuyết Pháp an vui tháng ngày.

      Lấy tay Kim Cang rờ vào Mật Tạng,

      Dùng mắt Liên Hoa soi thấu nghĩa U huyền.

Nay Uế Tích Kim Cang Thần Thông Đại Măn,

      Mai Tuỳ Cầu Tức Bắc Thần Biến Gia tŕ,

      Chuẩn Đề Hội Thích c̣n ghi,

Viên thông Hiển mật, Đà La Ni nhiệm mầu.

Công của Thầy như thế, Đức của Thầy như thế, cũng ngổ rằng cái gót tuỳ duyên chưa vội trở, bánh xe cửa trụ hăy c̣n ngừng.

Nào hay một sớm đầu Thu, đường Huyền vội tách, chiếm cặp hữu t́nh c̣n lại đó, con thuyền vô để dạt về đâu?

Phải chăng Thầy đang vui chơi miền Đâu Suất Thiên cung? Hay đang dự Liên Tŕ Pháp Hội?

Có lẽ nơi đó có nhạc trời hầu hạ, có ngọc các kinh lâu. có giọng Phạm Âm thuyết pháp thâm trầm, có ánh Hào quang im trong hiền diệu.

Ôi! Văn biết ḍng đời là huyễn hoá, kiếp phù sinh sương gá đầu cành!

Nhưng t́nh Sư đệ, nghĩa Tông môn, trước cảnh Vô thường làm sao không chạnh ḷng chua xót?

- Có những lúc trăng mở đối bóng, bóng dáng ai thoang thoang dưới sân chùa.

- Tưởng là thầy đă trở laịa với chúng con, câu chuyện ra đi chỉ là mộng mi.

Nhưng,

      Đêm tàn ......

                  Trăng lặng......

Hư không chứ đâu phải là Người!

Phải: “Đập cổ kính ra t́m lấy bóng,

                        Xếp tàn y lại để dành hơi”.

            -Phận chúng con như đàn chim lạc mẹ, biết nhờ ai sớm dắt tối d́u.

  - Số Tông Môn như chiếc bách giữa ḍng, biết cậy ai chỉ đường dẫn lối.

Ôi thôi!       Đau xót nhẻ, lờ nào nói hết?

                  Quặn cả ḷng bút mực nào ghi?

Xin th́:        Bảo sơn Đường uy dũng

                        Phước Sơn Đường liệt hùng

                        Gậy thét vang sôn núi   

                        Un đúc một vương tùng.

Nay th́!     

Toàn thể Hiếu đồ trước Giác Linh tưởng niệm. Hương ngũ phần ba cây, nước bát công một chén, cơm rau lễ bạc nhưng chan chứa thâm t́nh.

Ngưỡng mong Giác Linh Thầy thuỳ chứng giám.

Hoà Nam Bái Bạch.

Kỷ niệm ngày Tiểu Tường

 Ngày 12 tháng 7 năm Tân Dậu

             HIẾU ĐỒ.


 

(1)     Di Lặc Bồ Tát

(2) Chết chưa đúng số

(1) Cát Sông Hằng

(2) Chết chém tử h́nh

(3) Thâu Phục, nắm lấy, thây lấy. Cũng gọi là nhiếp thọ

(4) Sát, đạo, dâm, vọng

(1) Man: Tràng hoa

(1) Tân: Củi

(2) Hạt cải

(3) Tro sạch

(4) Ngăn giữ

(1) Giản: động kinh

(1) Hắc lào

(2) Vỏ cây hoa

(3) Lập đàn

(1) Nửa cánh tay trước

(2) Tác Bạch Nha Tượng xuất tướng

(3) Tướng hung bạo cười to

(1) Cựa quậy

(1) Nhơn Chi

(2) Diện thứ 11

(1) Trên đảnh tượng mặt từ bi

(1) Không có nguyên nhân, duyên cớ

(*) Chư Sư ở Ấn Độ nói rằng các nước ở Ấn Độ đều tôn xưng Thần Chú này là như ư Thần Châu v́ sở cầu được xứng tâm toại ư, đọc tụng th́ có sự linh nghiệm

(1)  Caitya: Tháp nhiều từng

(1) Cơ quan sinh dục

(2) Yếu hầu, cổ họng

(3) Các thứ loại lác

(1) An lạc sung sướng

(2) Bốn đẳng cấp của xă hội Ấn độ bấy giờ là Bà La Môn (Brahmana), Sát-đế-lợi (Ksatyra), Phệ-xá (vaisya), Thủ-đà-la (soudra)

(3) Ôm lấy tướng

(4) Tu theo Pháp Môn mà ḿnh đă thích

(1) tin hay chê

(1) chết v́ bị thương

(1) A Di Đà Phật

(1) hạt cải trắng

(2) cọc nhọn để ếm là một khúc cây ở trên núi được chuốc nhọn một đầu

(1) lá lốt

(1) dầu

(2) tim đèn

(3) chủ nhà, chủ ấp

(1) không ăn

(2) Bất Không Diệu Trí Thượng Thủ Trang Nghiêm Đại Tam Ma Địa

(1) c̣n gọi là nước Ma Kiệt Đà

(2) che chở