QUÁN THẾ ÂM
NĂM
1982
Source:
Trang nhà Quảng Đức

MỤC LỤC
Quan
Thế Am Thập Nhứt Diện Thần Chú Tâm Kinh
Bất
Không Quyến Tác Thần Chú Tâm Kinh
Kinh
Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu Đà La Ni
Đại
Thánh Diệu Cát Tường Bồ Tát Bí Mật Đà La Ni
Phụ
lục: Sơ lược tiểu sử cố
Thượng Toạ Thích Viên Đức
Kính lễ Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni và ba
đời
Kính
lễ Tôn Pháp Đà La Ni trong ba đời mười
phương
Kính
lễ
Chúng con – Một số môn đồ
của cố Thượng Tọa Thích Viên Đức,
người đă có công hoằng truyền và phiên dịch
Kinh sách Mật Giáo trong những năm gần đây,
đúng như lời nhận định của Ḥa
thượng Thích Hành Trụ, hiệu Phước B́nh trong
lời giới thiệu cuốn Kinh Mạt Pháp Nhất
Tự Đà La Ni: “Tôi xét thấy Sa môn Viên Đức có nhiều
công phu nghiên cứu, phiên dịch các Kinh thuộc Mật
Bộ với ḷng mong muốn Pháp môn được lưu
truyền cho hậu thế”. Trong thời gian chúng con theo
người tu học, Người thường
nhắn nhủ chúng con: “Nếu ngày mai vô thường có
đến với Ta, các con hăy y theo lời chỉ giáo
của Ta tu tập để đạt đến bờ
Giải Thoát, đồng thời tùy phương tiện
lưu bố các bộ Kinh Mật Giáo thầy đă phiên
dịch, để Pháp môn Tối thượng nầy măi
măi làm lợi lạc cho chúng sanh”.
Nay thầy đă vĩnh biệt chúng con
ở cơi Ta bà nầy mà về cơi Phật, chúng con kính
đảnh lễ Giác linh Ân Sư đă truyền Pháp cho
chúng con. Để tưởng nhớ đến thâm ân dạy
dỗ của Ân sư, chúng con phát nguyện ấn tống
bộ “QUÁN THẾ ÂM THẬP NHẤT DIỆN THẦN CHÚ TÂM
KINH” là một phần nhỏ của kho tàng Pháp bảo mà
Thầy đă phiên dịch và đă được Đại
đức Thích Đồng Hạnh là Pháp đệ của Thầy
chúng con hứa khả. Chúng con chí thành đốt nén tâm
hương dâng lên chư Phật, Tôn Pháp, chư Đại
Bồ Tát và Giác linh của Thầy thấu rơ chứng minh
cho ḷng chúng con và chúng con cũng xin thành tâm sám hối tất
cả những lỗi lầm sai sót trong khi hoàn thành bộ
Kinh nầy.
Chúng con nguyện đem công đức
nầy hồi hướng cho hết thảy Pháp giới
chúng sanh phát ḷng Bồ đề, đồng chứng
quả Phật.
Mùa Báo Hiếu
Đại diện một số môn đồ
Cư sĩ ĐỨC ĐẠT
ĐẠI ĐƯỜNG TAM
TẠNG HUYỀN TRANG PHÁP SƯ PHỤNG CHIẾU DỊCH
PHẠN RA HÁN VĂN
SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH
HÁN RA VIỆT VĂN
Tôi nghe như vầy: Một
thời Đức Bạt Già Phạm ở tại Trúc Y
Đạo tràng trong thành Thất La Phiệt, cùng các vị
Đại Tỳ Khưu chúng gồm có 1.250 người
đều đầy đủ. Đại Bồ Tát th́ vô
lượng vô số, Ngài Từ Thị Bồ Tát (1) làm
Thượng Thủ. Lại có vô lượng Tỳ
Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Ba Tắc, Ưu Bà Di và
Chư Thiên Long, Dược Xoa, Kiền Thác Bà, Tất Xá Gia,
Nhơn cùng Phi Nhơn, v.v... Đại chúng vây quanh cúng
dường cung kính, tôn trọng tán khen Đức Phật v́
họ nói Pháp.
Lúc bấy
giờ Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát cùng vô lượng
Câu chi na-du-da trăm ngàn tŕ chú thần tiên, trước sau
doanh vây đi đến chỗ Phật. Đến rồi
đănh lể hai chân Đức Thế Tôn, hữu nhiễu ba
ṿng, lui về một bước. Đức Quán Tự Tại
Đại Bồ Tát bạch Đức Phật rằng: “Kính
thưa Đức Thế Tôn! Con có Thần Chú Tâm gọi là
Thập Nhứt Điện đủ đại oai lực, 11
câu chi chư Phật đă nói, con nay xin muốn nói
để làm lợi ích an lạc cho hết thẩy hữu
t́nh, trừ tất cả bệnh, diệt tất cả
ác, chấm dứt tất cả việc bất
tường, trừ tất cả các mộng tưởng,
ngăn tất cả sự chết phi thời(2). Khiến
tất cả ác kẻ tâm được thanh tịnh,
kẻ có buồn khổ được an vui, kẻ có oán
đối được ḥa giải. Ma Quỷ
chướng ngại đều bị tiêu diệt, Tâm
sở nguyện đều được xứng ư. Kính
thưa Đức Thế Tôn! Con không thấy thế gian
hoặc trời hoặc ma, hoặc Phạm, hoặc Sa môn,
hoặc Bà La Môn v.v... dùng Thần chú này để pḥng
hộ thân ḿnh, thọ tŕ đọc tụng chép viết
lưu bố mà bị tất cả tai hoạnh ma
chướng, đao trượng, độc dược,
ếm mị chú thuật có thể làm hại họ, con
cũng không thấy dùng thần chú nầy tùy ở chổ
nào, hoặc xa hoặc gần kiết làm giới hạn
rồi mà có thể vượt qua để nhiễu
hại nhau, chỉ trừ ác nghiệp quyết định
đă đến lúc thần thục. Kính thưa Đức Thế
Tôn! Xin Thế Tôn chứng biết cho những việc
chắc chắn như vậy. Chỉ nên tin thọ, không
nên phân biệt, v́ thế khiến tất cả tai
hoạnh thảy đều viển ly không thể xâm
cận. Thần chú Tâm này, tất cả Chư Phật
đồng đă xưng tán, đồng đă tùy hỷ.
Tất cả Như Lai nhớ tŕ thủ hộ Thần chú
Tâm này. Kính thưa Đức Thế Tôn! Con nhớ đời
quá khứ quá căn-già-sa đắng tiền kiếp, có
Đức Phật ra đời gọi là Bách Liên Hoa nhăn Vô
chướng Ngại Đẳng Xí Thạnh Công Đức Quang
vương Như Lai Ưng Chánh đẳng Giác, lúc ấy
con làm vị Đại Tiên Nhân theo Đức Phật Thế Tôn
kia để thọ tŕ chú nầy. Được chú nầy
con thấy được mươi phương Phật,
lập tức con chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn,
phải biết chú nầy có đủ đại oai
lực. Vậy cho nên, nếu có kẻ Tịnh tín, thiện
nam tử, thiện nữ nhơn v.v... Muốn thọ tŕ dọc
tụng Thần chú nầy, phải nên cung kính chí tâm
buộc niệm, mỗi lúc sang chiều như Pháp thanh
tịnh niệm tụng chú nầy 108 biến, nếu
thường hay như thế, hiện thân thu hoạh
được 10 điều lợi ích thù thắng.
Những ǵ là 10 điều lợi ích thù thắng?”
1) Thân người ấy thường vô
bịnh
2) Thường được
mười phương chư Phật nhiếp thọ
3) Tài bảo, y thực thọ dụng vô
tận
4) Hay hàng phục oán địch mà không lo
sợ
5) Khiến các bậc Tôn quư “Trước
ngôn cung kính”
6) Cổ độc, quỷ mị không
thể trúng thương
7) Tất cả đao trượng không
thể hại được
8) Lửa không thể đốt
9) Không bị chết hoạnh tử
Lại c̣n được 4
điều công đức thù thắng nữa:
1) Khi mạng chung được thấy
chư Phật
2) Khi mạng chung không đọa vào
đường ác thú
3) Không nhân v́ sự hiểm nguy mà chết
4) Được sinh Cực Lạc thế
giới
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Con nhớ lại thời quá khứ, quá hơn 10
căn-già-sa (1)
đẳng kiếp, lại gặp nơi có Đức Phật
ra đời gọi là Mỹ âm Hương Như Lai
Ưng Chánh Đẳng Giác, lúc ấy con làm thân Đại Cư
Sĩ ở chổ đức Phật kia thọ
được Thần chú nầy, con liền tụng tŕ,
vượt qua được 4 vạn kiếp sinh tử,
con lại được Chư Phật Đại Bi Trí
Tạng Nhứt Thiết Bồ Tát Giải Thoát Pháp Môn. Do
cai lục của chú nầy, con có thể cứu tất
cả những cột trói, cùm trói, xiềng xích nơi
chốn lao ngục, những kẻ sa vào h́nh lục (2), thủy
Hỏa phong tặc, trùng độc ếm đăo, Nhơn
cùng Phi nhơn v.v... Các thứ khổ nạn. Do Thần chú
nầy, con đối với tất cả hữu t́nh hay
làm chỗ quy y cứu hộ an ủi, làm hang sâu, pḥng nhà.
Con dùng Thần chú này để nhiếp thủ (3) tất
cả bạo ác, Dược xoa, La sát Bà,... v... trước
khiến cho họ phát khởi từ tâm, mẫn tâm, vậy
sau mới an lậ nơi Đạo Vô Thượng Bồ
Đề Chánh Đẳng Chánh Giác. Kính thưa Đức Thế Tôn!
Thần chú nầy của con có Đại oai lực. Nếu
tụng một biến tức hay trừ diệt tứ
căn bản tội (4) và ngủ
vô gián khiến không c̣n dư sót, huống hay như lời
nói mà tu hành; nếu đă từng trồng các căn lành
ở trăm ngàn câu chi na-du-da Phật th́ ngày nay ở
nơi đậy mới nghe được Thần chú
nầy, huống nữa hay thọ tŕ, như lời nói mà
tu hành. Nếu, có thể ngày đêm đọc tụng
thọ tŕ Thần chú nầy, con sẽ khiến
người đó đă có mong cầu điều chi
đều được như ư, Nếu có thể
mỗi nữa tháng, hoặc ngày 14, hoặc trong ngày rằm,
thọ tŕ trai giới như Pháp thanh tịnh, buộc tâm
nơi con tụng Thần chú này, liền ở trong sanh
tử vượt 4 vạn kiếp. Kính thưa Đức
Thế Tôn! Con do chú này được gọi hiệu là “Tôn
Quư” khó có thể được nghe. Nếu có người
xưng niệm trăm ngàn câu chi-na-du-đa danh hiệu
chư Phật và nếu có người chỉ tạm
thời đối với danh hiệu của con chí tâm
xưng niệm th́ hai công đức kia b́nh đẳng, b́nh
đẳng. Những người có xưng niệm danh
hiệu của con th́ tất cả đều
được địa vị Bất Thối Chuyển,
xa ĺa tất cả bệnh, thoát tất cả chướng
và tất cả lo sợ và hay diệt trừ thân ngữ ư
ác, huống nữa có người đối với
Thần chú của con đă nói mà thọ tŕ đọc
tụng như lời nói tu hành, phải biết
người đó, đối với Vô Thượng
Bồ Đề lảnh thọ được như tại
bàn tay”.
Lúc bấy giờ, Đức
Thế Tôn khen ngợi Đức Quán Tự Tại Bồ Tát
rằng: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông mới hay
đối với tất cả hữu t́nh, phát khởi ư
đại từ bi muốn khai thị Đại Thần chú
này như thế. Thiện nam tử! Ông do phương
tiện này, hay cứu thoát tất cả hữu t́nh đă
có binh khổ chướng nạn, sợ sệt thân
ngử ư ác cho đến an lập tất cả hữu
t́nh vào đạo Vô Thượng Bồ Đề Chánh Đẵng
Chánh Giác. Thiện nam tử! Ta cũng vui mứng cho phép ông
nói Thần chú đó, ông nên nói đi”. Lúc bấy giờ,
Đức Quán Tự Tại Bồ Tát Ma ha Tát liền từ
toà đứng dậy, trịch vai áo bên hửu, gối
hữu sát đất mà bạch Đức Phật rằng:
“Kẻ tụng chú này nên nói như thế này:
Kính lễ Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.
Kính lễ
Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Ám, Đạt Ra
Đạt Ra, Địa Lư Địa Lư, Đổ Rô Đổ Rô, Nhứt
Lai Phạt Lai, Chiếc Lệ Chiếc Lệ, Nhứt Lí
Nhí Lí, Chí Lí Chí Trí, Thạ La Ma Ba Nại Gia, Thật Đà Tát
Đoả, Mạt Ca Lô Ní Ca, Toá Ha.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Đây là Căn Bản Thần Chú. Nếu có người tŕ
tụng, th́ thu hoạch được những công
đức thù thắng như trên đă nói.
Kính lễ Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Tri Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.
Kính lễ
Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Kha Kha Kha Kha,
Nhút Lệ Nhí Lệ, Chỉ Lệ Bệ Lệ, Khí Lệ
Hế Lệ, Sa Ha.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Đây là Thuỷ Chú và Y Chú. Nếu muốn vào Đạo Tràng,
trước nên tắm rửa, sau lấy Thần chú này chú
vào trong nước bảy biến, sái thân kết tịnh.
Lại lấy Thần chú này chú trong áo mặc bảy
biến, nhiên hậu mới mặc vào.
Kính lễ Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Trổ Rô
Trổ Rô, Kha Kha Kha Kha, Sa Ha.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Chú này là Hương Chú, là Đăng Chú. Nếu khi vào Đại tràng,
khi muốn thiêu hương cúng dường, trước
dùng Thần Chú này trong hương bảy biến, nhiên
hậu mới thêu. Khi muốn thắp đèn, trước
dùng chú này chú trong dầu bảy biến, sau mới thắp
đèn.
Kính lễ Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Tử Lí
Tử Lí, Địa Lí Địa Lí, Tử Lí Địa Lí, Sa Ha.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Đây là Hoa Hương Man(1) Chú. Nếu
vào Đạo tràng. Khi muốn dùng hoa, hương man để
cúng dường, trước lấy Thần Chú này chú trong
hoa bảy dùng tán rải nơi Tôn Tượng, Lại lấy
Thần Chú này chú vào tràng hoa 7 biến để đem trang
nghiêm nơi Tôn Tượng.
Kính lễ Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Ta Đệ Ta
Đệ, Tử Địa Tử Địa, Tố Đổå Tố
Đổ, Sa Ha.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Đây là cúng Phật hiến chú. Nếu muốn lấy
đồ ẩm thực, hoa quả vv... để cúng
dường Phật, trước trụng chú này 21 biến,
nhiên hiệu mới phụng biến.
Kính lễ Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Mạc Tử
Đạc Tử, Chiếc Lí Chiếc Lí, Hổ Rô Hổ Rô,
Chủ Rô Chủ Rô, Tố Rô Tố Rô, Mẫu Rô Mẫu Rô,
Sa Ha.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Đây là Tân Chú(1). Nếu
muốpn trên căn bản Thần Chú tùy việc lúc làm,
trước lấy chú này chú trong cây Xà Để Hoa một
biến rồi mới đem mà nhúm lửa. Lại riêng
lấy Xà Để Hoa cắt lấy làm 31 đoạn, mỗi
đoạn dài một tấc Tàu, dùng sữa, bơ, mật
thoa cho ướt và trải qua một đêm, mỗi khi
lấy một đoạn th́ chú một biến, tức
bỏ vào trong lửa cho đến hết 31 đoạn
nhiên hậu mỗi tuỳ việc mà làm.
Kính lễ Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Nhứt Lí Nhí
Lí, Tỉ Lí Để Lí, Chí Lí Hế lí, Sa Ha.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Đây là Kiết Giới Thần Chú. Khi muốn Kiết
Giới, trước dùng chú này trong nước bảy
bếin tán sái bốn phương, hoặc chú trong giới
tử (2)hoặc chú
trong tịnh khôi (3)
đều đến 7 biến cũng rải bốn
mặt, tuỳ tâm xa gần tức thành ranh giới mà làm
pḥng hộ(4).
Kính lễ Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ưng Chánh Đẵng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Tỉ Đê
Tỉ Đê, Để Đê Để Đê, Yết Xa Yết Xa, Bạc Già
Phạm A Lị Gia Bà Lô Chĩ Đế Thập Phạt Ra Táp
Phạ Bà Phạ Nẫm, Sa Ha.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Đây là Thần Chú Thỉnh Con Trở Về Tự Bổn
Cung. Nếu đă làm việc ǵ rồi, khi thỉnh con
về Bổn Cung nên dùng Thần Chú này chú trong nước 7
biến tán sái bốn phương, con liền trở
về ngay.
Kính thưa Đức Thế
Tôn! Thần chú như vậy tuy không có thành lập (Đàn
Pháp) Mà cũng có thể ra làm các sự nghiệp. chí tâm
niệm tụng, nguyện ǵ cũng thành tựu, nếu
bịnh sốt rét 1 ngày một lần lên cơn, hoặc
hai ngày 1 lần lên cơn, hoặc ba ngày một lần phát,
hoặc bốn ngày một lần phát, hoặc bịnh
Quỷ Mị, Hoặc bộ Đa Quỷ làm bịnh, hoặc
Trà Ky Ni làm bịnh, hoặc Tất Xá Giá làm bịnh,
hoặc Yết Tra Bô Nát Đa làm bịnh, hoặc Điên Quỷ
làm bịnh, hoặc Giản quỷ làm bịnh(1), hoặc
các thứ Ác quỷ làm bịnh đều lấy Thần
Chú này trị cho người bệnh kia 108 biến tức
đựơc trừ lành. Nếu người bị
chướng trong, dùng chỉ ngũ sắc tụng
Thần chú làm gút, tŕ 1 biến gút 1 gút cho đúng 108 gút,
lấy đeo nơi tren cổ bịnh nhân hoặc
đeo trên tay th́ tội chứơng tiêu diệt, bệnh
tật liền trừ lành. Nấu người bịnh
bị bịnh đinh thủng, ung thủng, ghẻ cḥm,
ghẻ phỏng, ung thư, nhọt sảy, ghẻ lở(1)... các
thứ ác bịnh, hoặc bị đao, tên, gươm,
thuẩn.v... làm bị thương, rắn, rít, ḅ cạp,
ong độc cắn mổ v.v... Đều lấy Thần chú
này chú 7 biến tức được trừ lành. nếu
người bị chường trọng th́ chú nơi
huỳnh thổ dẻo, tŕ đến 7 biến, thoa nơi
chỗ bịnh th́ đau khổ liền trừ lành.
nếu người bị bịnh nóng phong, thiên phong, chu
phong, tai điếc mũi nghẹt cảm phong hết
thảy bịnh .v.v... đều nên chí tâm tụng niệm
chú này, chú người binh hoạn kia 108 biến, bịnh
tức trừ lành. Nếu ngưới bị chướng
trọng láy dầu hoặc, lấy dầu hoặc bơ
ngâm với hoa b́ (2)và thanh
mộc hương, mỗi thứ chú 7 biến, liền
dùng thoa nơi thân, hoặc nhỏ nơi lỗ ta, lỗ
mũi hoặc cho uống, người bịnh hoạn kia
hiền lành. nếu c̣n có các thứ tật bịnh khác,
đều nên chí tâm lấy. Thần chú này mà chú
hoặc tự niệm tụng, tức được
trừ lành.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Nếu muốn thành lập Thần chú này (3)nên
trước hết lấy cây bạch chiên đàn
hương cứng tốt không có tỳ vết, khắc
làm tượng Quán tự Tại Bồ Tát dài một
nửa khuỷu tay(1).
Lại nữa, hành giả
ở trong tháng Bạch nguyệt ngày rằm, lấy
tượng Quán Tự Tại Bồ Tát 11 mặt
để trong Phật Đà Đô Chế Đa, mặt y mới thanh
tịnh thọ tŕ trai giới, trải qua một ngày
một đêm không ăn không uống lấy Tô-mạt-na hoa
1.008 cái, lấy mỗi cái hoa chú vào 1 biến ném trên
tượng cho đến hết. Bấy giờ mặt
trước tượng kia, trong miệng phát ra tiếng
như sấm nổ, do cây liền khiến đại
địa chấn động. Hành giả lúc bấy
giờ nên tự an tâm, chớ sanh sợ hăi, chỉ
niệm Thần chú, cầu xin điều chi th́ nói như
thế này :”Kính lễ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát
Đại Bi Giả con ở thời nào hay làm nơi
nương dựa lớn cho tất cả hữu t́nh, hay
măn tâm sở nguyện của tất cả hữu t́nh”.
Bấy giờ Quán Tự Tại Bồ Tát liền ban cho
nguyện kia. Khi Quán Tự Tại Bồ Tát liền ban cho
nguyện kia. Khi Quán Tự Tại Bồ Tát ban cho nguyện
ấy th́ chư Thiên Long v.v... không c̣n làm chướng
ngại hành giả nữa. Lại nữa, hành giả
nơi lúc nguyệt thực. Lấy 1 lượng bơ
để đầy trong đồ đựng bằng
bạc, đem để trước tượng này
niệm tụng thần chú này cho đến khi mặt
trăng hoàn sinh như cũ, liền lấy ăn vào, trong
tân có các bịnh ǵ đều lành.
Lại nữa, hành giả nên
lấy một ít hùng hoàng, ngưu hoàng để nơi
trước tượng này, tụng niệm Thần chú này
1.008 biến, lấy nước hoà chung lại với nhau
điểm nơi giữa chặng này th́ ba việc thành
tựu như trước đă nói. Nếu hoà với
nước nóng mà tắm rửa thân kia, thời tất
cả chướng ngại, tất cả ác mộng,
tất cả dịch binh đều được lành
hẳn.
Lại nữa, nếu có oán
tặc từ phương khác đến xâm lấn biên
giới, nên lấy một cái yến chỉ(1) tụng
chú chú vào đó 108 biến rồi đem trang điểm
tượng này ở mặt sàn nộ, rồi xoay mặt
này vẽ hướng có giặc khiến oán tặc quán
không thể tiến tới được.
Lại nữa, nhân sức trong
quốc lộ bị dịch khởi, nơi trước
tượng này nhúm Lửa bằng cây nhậm bà, lại
riêng lấy củi này cắt ra 1.008 đoạn
nhỏ bằng một tấc Tàu, rồi lấy mỗi
đoạn thoa dầu hạt cải, chú 1 biến bỏ
vào trong lửa cho đến hết. Lại lấy chỉ
đào làm 7 chú-gút, chú 1 biến gút 1 gót đen trên
đảnh tượng Phật(2) hay
khiến cho bịnh dịch tất cả tiêu trừ. Khi
tật bệnh đă được trừ rồi, hành
giả mở bỏ chú dây cột ra.
Lại nữa, nếu có
bọn Trà kỳ ni, Bộ Đa quỷ .v.... làm thành bịnh,
nên lấy chỉ trắng làm 21 chú-gút, chú 1 biến, gút 1
gút, rồi đem để trên đỉnh mặt từ
bi phía trước trải qua một đêm rồi mở
lấy, đem đeo trên cổ bịnh nhân, bịnh
tức liền lành. nếu nghiệp chướng nặng
nề không trừ làm được, nếu lấy dây
đả đủ, chú 108 biến đem cột vào
chổ cột trước(1) trải
qua một đêm rồi mở lấy đem đeo trên
cổ bịnh nhân, th́ chắc chắn được
trừ lành.
Lại nữa, nếu có
người trường bịnh khốn khổ không
lạnh hoặc ác thần quỷ vào nhà, nếu lấy 108
cái huân lục hương, ở trước tượng
này, mỗi cái chú 1 biến, bỏ vào trong lửa cho
đến hết; lại lấy dây làm 21 gút, mỗi chú gút
1 gút, đem để treo trước mặt từ bi trên
đảnh, trải qua 1 đêm rồii mở lấy trên
trên cổ người bịnh, bịnh ấy trừ lành
ác quỷ chạy trốn.
Lại nữa, nếu bị
oán thù ŕnh t́m muốn lai, tranh cải, ếm trù muốn làm
suy hại, nên lấy các thứ hương hoa .v.v... Các
vật cúng dùng hơi gượng, lấy cây Bà
Phước Ca trước tượng mà thiêu đốt,
lấyVân Đại Tử 108 cái, mỗi cái chú 1 biến
bỏ vào trong lửa, lại lấy chỉ trắng gút làm
108 gút mỗi chú gút 1 gút, đem chỉ đó cột trên
đảnh tượng mặt sân nộ bên tả,
trải qua một đêm mở lấy dây này, xưng tên
kẻ oán thù, cắt ra mỗi một gút đem bỏ
một chỗ khác nhau, mỗi lần xưng th́ mỗi
lần cắt cho đến hết, hiện tại kẻ
oán cừu kia đă làm th́ bất toại ư, tự nhiên quy
phục.
Lại nữa, có người
muốn cầu các việc lành tốt, lấy chỉ
ngũ sắc gút làm một chú-giây 108 gút, chú 1 biến gút 1
gút, lại ở nơi trước tượng chú 7
biến, đem giây đ1o cột trên đảnh mặt
từ bi phía trước, trải qua một đêm, xong
rồi mở lấy đeo trên thân của ḿnh th́ việc
sở cầu đều được như ư.
Lại nữa, nếu biết
trong thân có các chướng nạn, sở cầu thiện
sự phần nhiều không như tâm, suy hoạ
thường thường vô nhân(1) mà
đến, nên lấy nước hương thuơm
tắm thần tượng này, lại lấy nước
tắm này chú 108 biến, rồi đem biến, rồi
tự sái nơi thân ḿnh của người bị
chướng nạn, th́ tất cả chướng nạn
tự nhiên bị tiêu diệt, các điều mong cầu
thảy đều như ư.
Khi Quán Tự Tại Bồ Tát
Ma Ha nói kinh này rồi, tất cả đại chúng
đồng thời khen rằng: “Lành thay! Lành thay Đại
sĩ! Ngài hay v́ muốn lợi ích an lạc các hữu t́nh
nên nói Thần chú này, chúng con vui mừng tuỳ hỷ,
cũng nguyện thọ tŕ.”
Bấy giờ Đại chúng vui
mừng hớn hở, nhiễu Phật ba ṿng làm lễ mà
trở về chỗ cũ.
1.
THUỶ Y CHÚ
Kính lễ Thập
Phương thường trú Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ứng Chánh Đằng Giác
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát ma Ha Tác Đại Bi Giả.
Đặc biệt Tha: Kha Kha Kha,
Nhứt Lệ Nhí Lệ, Chỉ Lệ Bệ Lệ,
Khí Lệ Hế Lệ, Sa Ha.
Đây là Thuỷ Chú và Y Chú. Nếu muốn vào Đạo tràng
trước nên tắm rửa, sau lấy Thần Chú này chú
vào trong nước 7 biến, sái thân kết tịnh.
Lại lấy Thần Chú này chú trong áo mặc 7 biến,
nhiên hậu mới mặc vào.
2.
KẾT GIỚI CHÚ:
Kính lệ Thập
Phương Thường Trú Tam Bảo
Kính Lễ Thánh Tr1i Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha, Tát Đại Bi Gỉa.
Đát Điệt Tha: Nhứt Lí Nhí,
Tỉ Lí Để Lí, Chỉ Lí Hế Lí, Sa Ha.
Đây là Kiết Giới Thần
chú. Khi muốn Kiết Gí¬I, trước dùng chú này chú trong
nước 7 biển, tán sái bốn phương hoặc chú
trong giới tử (hạt cải) hoặc chú trong tịnh
khôi (tro sạch), đều đến 7 biến cũng răi
4 mặt, tuỳ tâm xa gần tức thành ranh giới mà làm
pḥng hộ.
3.
THÂN CHÚ
Kính Lễ Thập
Phương Thường Trú Tam Bảo.
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Ám, Đạt ra
Đạt ra, Địa lư Địa Lư, Đồ Rô Đổ Rô, Nhứt
Lai Phạt Lai, Chiếc Lệ Chiếc Lệ, Bát Ra
Chiếc Lệ, Bát Ra Chiếc Lệ, Câu Tố Mê, Câu Tô Ma
Phạt Lệ, Nhứt Lí Nhứt Lí, Chỉ Lí Chỉ Trí,
Tha La Ma Ba Nại Gia, Thuật Đà Tát Đoả, Mạt Ha Ca Lô Ní
Ca, Toá Ha.
Đây là Thân Chú hay căn
bản Chú, Tụng chú này 7 biến, hay thu hoạch
được những công đức thù thắng.
4.
HƯƠNG ĐĂNG CHÚ
Kính lễ Thập
Phương Thường trụ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính Lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Trổ Rô
Trổ Rô, Kha Kha Kha Kha, Sa Ha.
Nếu khi vào Đạo tràng, khi
muốn thiêu hương cúng dường, trước dùng
Thần chú này chú trong hương 7 biến nhiên hậu
mới thiêu. Khi muốn thắp đèn, trước
dùng chú này chú trong dầu 7 biến, sau mới thắp
đèn.
5.
HOA HƯƠNG MAN CHÚ
Kính Lễ Thập
Phương Thường Trú Tam Bảo
Kính Lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu trang Nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả
Đát Điệt Tha: Tử Lí
Tử Lím Địa Lí Địa Lí, Tử Lí Địa Lí, Sa Ha.
Đây là Hoa Hương Man Chú,
nếu vào Đạo Tràng khi muốn dùng hoa, hương, man
để cúng dường, trước lấy Thần chú
này chú trong hoa 7 biến dùng tán răi nơi Tôn Tượng,
lại lấy Thần Chú này chú vào hương bột 7
biến rồi thoa vào Tôn Tượng. Lại lấy chú này
chú vào tràng hoa 7 biến để đem trang nghiêm nơi Tôn
tượng.
6.
TÁN CHÚ (dùng làm hộ ma)
Kính lệ Thập
Phương Thường Trụ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha, Mạc Tử
Đạc Tử, Chiếc Lí Chiếc Lí, Hổ Rô Hổ Rô,
Chủ Rô Chủ Rô, Tố Rô Tố Rô, Mẫu Rô Mẫu Rô,
Sa Ha.
Đây là Tân chú. Nếu muốn trên
căn bản tuư việc lúc làm, trước lấy chú này
một biến trong cây Xà Để Hoa rồi mới lấy
chú này chú một biến torng cây Xà Để Hoa rồi mới
đem mà nhúm lửa. Lại riêng lấy cây Xà Để Hoa
Cắt làm 31 đoạn, mỗi đoạn dài 1 tấc
Tàu, dùng sữa, bơ, mật tho cho ước vào trải
qua một đêm, mỗi khi lấy 1 đoạn th́ chú 1
biến, tức bỏ vào trong lửa cho đến hết
31 đoạn nhiên hậu mới tuỳ việc làm mà làm.
7.
CÚNG PHẬT HIẾN CHÚ
Kính Lễ Thập
Phương Trụ Tam Bảo
Kính lễ Thánh trí Hải
Biến Chiếu Trang nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ Nhứt Thiết
như lai Ứng chánh Đẳng Giác
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Ta Đệ Ta
Đệ, Tử Địa Tử Địa, Tố Đổ Tố
Đổ, Sa Ha.
Đây là cúng Phật Hiến Chú.
Nếu muốn lấy đồ ẩm thực, hoa quả
.v.v... để cúng dường Phật, trước
tụng chú này chú 21 biến, nhiên hậu mới phụng
hiến.
8.
CĂN BẢN CHÚ
Kính Lễ Thập
Phương Thường Trụ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Tr1i Hải
Biến Chiếu Trang nghiêm Vương Như Lai.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ứng Chánh Đằng Giác
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả
Đạt Điệt Tha: Ám,
Đạt Ra Đạt Ra, Địa Lí Địa Lí, Đổ Rô Đổ Rô,
Nhứt Lai Phạt Lai, Chiếc Lệ Chiếc Lệ, Bát
Ra Chiếc ệ, Bát Ra Chiếc Lệ, Câu Tố Mế, Câu
Tô Ma Phạt Lệ, Nhứt Lí Nhứt Lí, Chỉ Lí Chỉ
Lí, Thạ La Ma Ba Nại Gia, Thuật Đà Tát Đoả, Mạt
Ha Ca Lô Ní Ca, Toá Ha.
Tụng căn bản chú
đây 108 biến hay 1080 biến, hoặc vô lượng
biến tŕ tụng.
9.
HOÀN CUNG CHÚ
Kính lễ Thập
Phương Trụ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải
Biến Chiếu Trang Nghiêm.
Kính lễ Nhứt Thiết
Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.
Kính lễ Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Bi Giả.
Đát Điệt Tha: Tỉ Đệ
Tỉ Đệ, Để Đê Để Đê, Chỉ Đê Chỉ Đê,
Phỉ Đê Phỉ Đê, Yết Xa Yết Xa, Bạc Ǵa Phạm,
A Lị Gia Bà Lô Chỉ Đế Thấp Phạt Ra Táp Phạ Bà
Phạ Nẫm, Sa Ha.
Đây là Thần chú Phụng
Tống Quán Thế Âm Bồ Tát hoàn tự Bồn cung.
nếu đă làm việc ǵ rồi, khi muốn thỉnh
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trở về tự Bổn
cung, nên dùng Thần Chú này chú trong nước 7 biến tán
sái bốn phương. Ngài liên trở về ngay.
THẦN CHÚ TÂM KINH(*)
ĐẠI ĐƯỜNG TAM
TẠNG HUYỀN TRANG PHÁP SƯ PHỤNG CHIẾU DỊCH
PHẠN RA HÁN VĂN
SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH
HÁN RA VIỆT VĂN.
Tôi nghe như vầy: Một
thời Đức Bạc Ǵa Phạm ở tại núi Bồ
Đạt Lạt Ca, trong cung điện Quán Tự Tại
Bồ Tát, trong đó có nhiều thứ cây báu như cây
Ta-la, Đam-ma-la Chiêm-bác-ca, A-du-ca, Cực Giải Thoát. Lại
có vô lượng các cây báu xen nhau trang nghiêm chung quanh,
hương thơm hoa đẹp, cỏ lạ mềm
dịu nơi nơi đều có. Lại có vô lượng
suối ao khe báu, có nước tám thứ công đức
đầy nhẫy, trong ấy có các hoa đơm trổ
trang sức một cách rất thích thú. Lại có vô biên các
loại cầm thú khác nhau, h́nh dung thù diệu, đều
đủ từ tâm, phát ra các thứ âm thanh dường
như âm nhạc: cùng các vị Tỳ Khưu chúng 8.000
vị đều đầy đủ, 99 câu chi na-du-da
trăm ngàn Bồ Tát Ma Ha Tát, vô lượng trăm ngàn chúng
như Thiên cơi trời Tịnh-cư, Tự Tại Thiên
chúng, Đại Tự Tại Thiên chúng, vô lượng trăn
ngàn trước sau vi nhễu nghe Phật thuyết Pháp.
Lúc bấy giờ, trong hội
có một Vị Đại Bồ Tát gọi là Quán Tự
Tạim từ toà đứng dậy, sữa sang y phục,
trịch vai áo một bên, gối hữu sát đất,
chắp tay hướng Phật, nét mặt vui vẻ,
nở nụ cười mà bạch Đức Phật rằng:
“Con có Thần chú tâm gọi là Bất Không Quyến Tác. Con
ở thời xưa kia cách nay 91 kiếp, có thế giới
gọi là Thù Thắng Quan, trong ấy có Đức Phật
gọi là Thế Chủ Vương Như Lai Ứng Chánh
Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Măn, Thiên Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Trượng Phu, Điều Ngự
Sĩm Phật, Bạc Già Phạm, Đức Phật Thế
Tôn kia xin thương xót con, cho nên v́ con mà nói Đại
Thần Chú Tâm này. Con liền thọ tŕ có oai Thần
lực vậy, thường v́ vô lượng Tịnh
Cư Thiên chúng, Tự Tại Thiên chúng, Đại Tự
Đại Thiên Chúng, Đại Phạm Thiên Vương và
nhiều Thiên chúng, vô lượng trăm ngàn cung kính cúng
dường tôn trọng ngợi khen, con đều giáo hóa
họ, khiến họ đến thẳng Đạo Vô Thượng
Bồ Đề Chánh Đẳng Chánh Giác. Con nương sức
công đức như thế nên liền thu hoạch
mười ức Bất Không Diệu Trí Thượng
Thủ Trang Nghiêm Đại Tam Ma Địa. Do được
định lực này hiện thấy mười
phương vô lượng vô số chư Phật thế
giới, hết thảy Như Lai và các chúng hội,
đều đi đến cúng dường và nghe học
Chánh Pháp, lần lượt giáo hóa vô lượng hữu
t́nh, đều khiến phát tâm thẳng đến Vô
Thượng Giác, cho nên chú lực này không thể nghĩ
bàn, hay cứu chúng sanh khỏi vô lượng khổ
nạn, các kẻ hữu trí đều nên thọ tŕ. Kính thưa
Đức Thế Tôn! Nếu chổ nào có Thần Chú Tâm này th́
phải biết là chổ đó có Tự Tại Thiên,
Đại Tự Tại Thiên, Phạm Thiên Vương... làm
Thượng thủ, cùng 12 ức chư Thiên Thần chú
thường cùng giữ ǵn cung kính cúng dường chư
Phật Chế-đa(1) không
khiến bạo ác, các Quỷ Thần thảy đều
dạo chơi trong ấy. Kính thưa Đức Thế Tôn! Tùy
theo quốc ấp nào lưu hành Bất Không Quyến Tác
Thần – Chú Tâm Kinh như thế, phải biết rằng
trong quốc ấp này các loài hữu t́nh đă trồng các
căn lành ở chổ vô lượng câu chi na-du-đa
trăm ngàn chư Phật, nay nương thừa Đại
nguyện lực này trở lại đây.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Nếu có chúng sanh tạo các trọng tội, tập hành ác
pháp, hủy nhục Hiền thánh, phỉ báng Chánh Pháp sẽ
đọa trong Vô gián Đại Địa ngục, trải qua vô
số kiếp thọ các kịch khổ. Chư Phật,
Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn tuy đầy đủ
Thần thông mà không thể cứu vớt. Chúng sanh kia
nếu nghe Tâm Kinh Thần Chú này hay sinh ḷng hối hận
trọn không dám tạo nữa. Nếu chúng sanh kia lại
trải qua một ngày một đêm thọ tŕ trai giới
tụng Tâm Chú này th́ hiện đời thọ nhẹ
những tội nghiệp đă làm, không phải đọa
Vô Gián Địa Ngục. Tại sao chúng biết người
kia hiện tại thọ nhẹ quả báo. Không
đọa địa ngục? Nghĩa là nếu thoạt
gặp những bịnh lạnh nóng, hoặc trải qua
một ngày, trải qua 2 ngày, hoặc lại cho đến
trải qua 7 ngày, hoặc bịnh mắt, tai đau, mủi
đau, răng đau, môi đau, lưỡi đau,
hoặc nứu đau, hoặc tim ngực đau. Hoặc
bụng rún đau, hoặc lưng vai đau, hoặc hông sườn
đau, hoặc âm khoan đau (1), về
gối đau, hoặc chi tiết đau, hoặc tay chân
đau hoặc đầu mặt đau, hoặc yếu
cổ (2) đau,
hoặc vai cánh tay đau, hoặc gặp phong bịnh, khí
bịnh, trỉ bịnh, lỵ bịnh, lâm bịnh,
hoặc gặp suyển bịnh, tiển bịnh, bạch
lại bịnh hắc lại và các giới tiền(3); hoặc
mắc phải bảo sang, canh sang, hoa sang, lậu sang,
độc sang, gặp ung thư, ung thủng, du thủng,
đinh thủng, tiết thủng, độc thủng;
hoặc bịnh điên giản, hoặc bịnh cam
thấp; hoặc bị qủy mỵ, hoặc bị trù
ếm, hoặc bị chú trù rủa, hoặc bị
độc dược, hoặc bị tù trói, bị gông cùm
xiềng xích, hoặc bị đánh mắng, hoặc bị
phỉ báng, hoặc bị mưu hại, hoặc bị khủng
bố, hoặc lại các việc tăng giảm bất
nhiêu ích, tóm lại mà nói, đă có nhân tâm bứt thiết
khổ nảo và thấy ác mộng, do đây chứng
biết rằng người kia hiện thọ khinh báo,
không bị đoạ vào Vô Gián Địa Ngục. Đă tạo
tội nghiệp thảy được tiêu trừ, chúng
sanh như thế, do chú lực đây, hiện đời
thọ khinh báo, trọng tội th́ được tiêu
trừ, huống ǵ các hữu t́nh thân tâm thanh tịnh, nghe
tŕ chú này mà không thu hoạch được phước báo
hay sao, tội nghiệp đời trước cũng
được tiêu trừ, hiện tại vị lai
thường được khoái lạc(1).
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Nếu có bốn chúng hoặc bốn gịng họ (2) giả
như đem tâm dua nịnh dối trá mà nghe học Thần
Chú Tâm Kinh như thế, thọ tŕ đọc tụng chép
viết cúng dường, v́ người khác khen nói vậy
khiến cho họ nghe thọ cho đến tự ḿnh đến
bên tai của loài súc sanh khẩn thiết niệm tụng
khiến cho loài súc sanh được nghe, lại c̣n
thẩm xét suy tư chương cú Thần Chú này, không
phỉ báng, không thủ tướng(3), không phân
biệt, không có các khởi tâm; không chậm hàh tŕ, vô vi mà
làm, xa ĺa nhiểm ô, tâm b́nh đẳng, không tăng
giảm, ĺa ngủ uẩn. Do phương tiện này ở
chổ Chư Phật lại tu tùy niệm(4) do
người kia có sức công đức như thế,
ở nơi mười phương, mỗi phương
có ngàn Phật đến hiện trước mặt
người kia dạy dỗ khiến cho họ ăn
năn, hối hận, trừ những tội đă làm
trước kia. Đă có sở nguyện ǵ đều khiến
măn túc. Nếu không có làm những điều ở trên
đă nói, mà chỉ chép viết Thần Chú Tâm Kinh này
để trong nhà lễ bái cúng dường cũng
được vô lượng vô biên công đức.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Nếu có chúng sanh v́ muốn thắng kẻ khác hoặc
sở chủ, hoặc sợ oán cừu, sợ ác thú,
sợ ách nạn, hoặc theo kẻ khác, hoặc cầu cao
quư, nhiều tài bảo, nghe học Thần Chú Tâm Kinh như
thế, tuy lại nghe học mà không cung kính, hoặc
lại phỉ báng, khinh khi chê bai, người trí nên
biết chẳng phải do tự lực của kẻ kia
mà là do oai thần lực của Quán Tự Tại Bồ
Tát cho nên khiến người kia nghe lọt vào tai, nên
người kia hiện tại, vị lai được
những việc lợi lạc như vậy. Kính thưa
Đức Thế Tôn! Thí như có người đạp
bẻ trầm hương hoặc lấy xạ
hương hoặc lại vào trong rừng Chiên đàn, Long
năo hương v.v... phỉ báng, khinh khi chê bai các thứ mà
lại mài dùa trộn dùng để thoa thân thể. Song
trầm hương, xạ hương không tác ư niệm ǵ,
người kia đạp găy lăng mạ, con không cho
họ mùi hương kia mà cai tánh tự nhiên hằng làm cái
việc mùi thơm. Thần Chú Tâm này cũng lại như
thế. Tuy có phỉ báng, khinh tiện, chê bai hoặc là đem
cái tâm dua nịnh, cong quẹo như trên đă nói, chép,
viết, thọ tŕ, cung kính cúng dường th́ cũng làm
nhân duyên căn lành của người kia, khiến cho
người kia đời đương lai tùy sinh chổ
nào đều đầy đủ công đức diệu
hương của Giới Định Huệ, cũng hay v́
kẻ khác mà làm những việc hương thơm đó.
Vậy cho nên oai đức của Thần Chú này rất khó
nghĩ bàn, tin báng (1) ǵ cũng
hay đều hay làm những việc nhiêu ích. Kính thưa
Đức Thế Tôn! Nếu có kẻ trai lành và người
gái tín và Tỳ Khưu, Tỳ Khư Ni, Ưu Bà Tắc,
Ưu Bà Di hoặc c̣n nhiều người khác nữa, vào
ngày mùng 8 tháng Bạch nguyệt, thọ tŕ trai giới chuyên
tâm tụng Đại Thần Chú Tâm Kinh này cho đến 7
biến không xen tạp ngữ khác th́ phải biết
người đó hiện đời quyết định
được 20 điều lợi ích thù thắng.
Những ǵ là 20 điều?
1. Thân không có các bịnh, yên ổn sung
sướng
2. Do những nghiệp lực đời
trước tuy có bịnh sinh mà nay trừ lành
3. Thân thể mềm mại, nhỏ
nhiệm, da thịt trắng trẻo đẹp đẽ,
mắt mặt trong sáng
4. Mọi người kính thương
5. Mật hộ các căn
6. Thu hoạch nhiều tài bảo, tự ư
thọ dụng
7. Đă có tài bảo,
Vương-tặc-thủy-hỏa không thể xâm tổn
8. Ra làm sự nghiệp ǵ đều thành
tựu tốt đẹp
9. Đă có sự trồng trỉa, không sợ
ác long, sương muỗi, băo lụt
10. Nếu có ruộng lúa mạ bị tai hoạnh,
lấy Thần chú này chú trong tro sạch hoặc
nước sạch trải qua 7 biến xong rồi, đem
răi trong ruộng kia tám phương, trên dưới mà
kiết giới, tai hoạnh lúc bấy giờ đều
liền trừ diệt
11. Không bị tất cả Qủy thần, La sát bạo
ác hớp đoạt tinh khí
12. Tất cả hữu t́nh thấy nghe hoan hỷ, ưa
mến tôn trọng thường không biết nhàm chán
13. Thường không lo sợ tất cả oán cừu
14. Giả như có oán cừu, mau tự tiêu diệt
15. Nhơn cùng Phi nhơn... không thể xâm hại
16. Eám mị, trù rủa, cổ đạo không dính vào thân
17. Phiền năo, triền cấu, không thể hiện hành
18. Đao độc, hỏa thủy không thể
thương mại (1)
19. Chư Thiên, Thiện Thần thường theo
hộ vệ
20. Đời đời không xa ĺa Từ Bi Hỷ Xả
Người tu hành kia
được 20 điều lợi ích thù thắng như
thế. Lại c̣n thu hoạch được 8 pháp nữa.
Những ǵ là 8 pháp?
1. Khi mạng chung thấy Đức Quán
Tự Tại Bồ Tát hiện tướng Tỳ Khưu
đến trước mặt người tŕ chú này vui
mừng khen ngợi mà an ủi.
2. Mạng chung yên ổn, không có các
điều đau khổ
3. Khi sắp xả mạng, mắt trong
trợn ngược, miệng không hả méo, tay buông thong
thả, chân ĺa tướng mỏi mệt, không tiết ra
những chất dơ uế của đại tiểu
tiện, không ngớt nghiêng dưới giường.
4. Khi sắp xả mạng thường
an trụ chánh niệm, không loạn tưởng
5. Khi mạng chung không che mặt mà
chết
6. Khi sắp xả mạng
được vô tận biện
7. Đả xả mạng rồi, tùy
nguyện văng sanh Tịnh Độ của chư Phật
8. Thường cùng bạn lành không xa
rời nhau
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Nếu có kẻ trai lành, người gái tín v.v... hay
đoạn đứt rượu thịt và các thứ
ngũ tân, không ăn chút tàn dư dơ uế, thân thường
thanh khiết, trong sạch, ngày ngày ba thời chuyên tâm tŕ
tụng Bất Không Quyết tác Thần Chú Tâm Kinh như thế,
người kia được ngày đêm tăng
trưởng công đức thù thắng. Nếu hay
đối với pháp xả ḷng san lẫn, ĺa tâm tật
đố, chuyên làm lợi lạc tất cả hữu
t́nh, quán xem các chúng sanh có tâm hữu lực hay vô lực,
như đáng nên v́ họ mà nói Thần Chú Tâm Kinh này th́ phải
biết rằng những hạng người đó mau
chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề,
được vào các đẳng số liệt vào hạng
Đại Bồ Tát. Những người đó gọi là
Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề được nói
đến có nghĩa là Bát nhă, Tát Đơa tức là phương
tiện. Hai pháp như thế đối với các ác hữu
t́nh hay làm tất cả lợi ích an vui.
Kính thưa Đức Thế Tôn!
Con nay v́ muốn lợi ích an vui cho tứ bộ chúng và v́
trừ diệt các ác hữu t́nh đă tạo các tội
nghiệp, ở trước Đức Như Lai mà nói Thần
Chú này, cúi mong Đức Thế Tôn thương xót cho phép con”.
Lúc bấy giờ, Đức
Thế Tôn dạy Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha tát
rằng: “Đại chúng thanh tịnh, đă đến lúc nên
nói. Ta cũng tùy hỉ, Thần Chú Tâm này là phụ mẫu
của Bồ Tát đời đương lai, khiến các
Bồ Tát đă làm các sự nghiệp mau được
thành tựu, cũng khiến tất cả những việc
khủng bố mau được trừ diệt”.
Lúc bấy giờ Quán
Tự Tại Bồ Tát Ma Ha nhờ Đức Phật cho
phép nên vui mừng hớn hở, chiêm ngưỡng Tôn nhan,
mắt chưa tạm rời, chắp tay cung kính mà bạch
Đức Phật rằng: “Thần Chú Tâm này là chỗ các
Bồ Tát nên tôn trọng, cung kính cúng dường v́ nó là
tối Giải thoát viên măn Pháp môn, làm lợi ích an vui cho các
chúng sinh. Các vị muốn thọ tŕ Tâm Chú này, nên
trước hết kính lễ quá khứ, vị lai, hiện
tại Chư Phật và chư Bồ Tát, Độc Giác, Thanh
Văn. Lại nên kính lễ Chánh Chí Chánh Hạnh, lại nên
kính lễ Xá Lợi Tử v.v... Chư Đại Thanh Văn.
Lại nên kính lễ Thánh Từ Thị v.v... chư Đại
Bồ Tát. Lại nên kính lễ Vô Lượng Quang Phật(1). Lại
nên kính lễ Phật Pháp Tăng Bảo. Lại nên kính
lễ Phật Pháp Tăng Bảo. Lại nên kính lễ thánh
Quan Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát Cụ Đại Bi Giả.
Đă kính lễ rồi, lại nên niệm rằng: “Thần
Chú Tâm này gọi là Bất Không Quyến Tác, là Quán Tự
Tại Bồ Tát ở trước Đức Như lai
tại trong Đại chúng, thân tự diễn nói. Con nay
đọc tụng, khiến con ra làm tất cả sự
nghiệp mau được thành biện, khiến tất
cả việc đă khủng bố con mau được
trừ diệt, khởi niệm ấy rồi tức
đọc tụng rằng:
Đát Điệt Tha: Ám Triết
Lạc Triết Lạc, Chỉ Lí Chỉ Lí, Chủ Rô
Chủ Rô
Khể thủ Cụ Đại Bi
Giả
Tát Lạc Tát Lạc, Tử
Lí Tử Lí, Chỉ Lí Chỉ Lí, Tỉ Lí Tỉ Lí
Khể thủ Đại Liên Hoa
Thủ
Yết Lă Yếu Lă, Kiết
Lị Kiết Lị, Khuất Lộ Khuất Lộ
Khể Thủ Đại Tịnh
Hữu T́nh
Bột Điệt Bột
Điệt, Tha Bà Tha Bà, Khẩn Ni Khẩn Ni
Khể Thủ Cực Lạc
Hữu T́nh:
Yết Lạc Yết
Lạc, Chỉ Lị Chỉ Lị, Củ Rô Củ Rô
Khể Thủ Đắc Đại
Thế Giả:
Triết Lă Triết Lă,
Triết Lă San Triết Lă, T́ Triết Lă T́ Triết Lă, Y
Thiết Tra Y Thiết Tra, Bạt Lạc Bạt Lạc,
Tỉ Lị Tỉ Lị, Bộ Rô Bộ Rô, Y Hế Y
Hế
Khể thủ Đại Bi
Đại Thủ Vương Tướng
Đạt Lạc Đạt Lạc,
Tát Lạc Tát Lạc, Triết Lạc Triết Lạc, Bác
Lạc Bác Lạc, Hát Lạc Hát Lạc, Kha Kha Hế
Hế, Hô Hô Oâng Ca Lạc
Khể thủ Đại Phạm
Vương Tướng
Đạt Lạc Đạt
Lạc, Địa Lị Địa Lị, Đổ Rô Đổ Rô, Đát
Lạc Đát Lạc, Tác Lạc Tát Lạc, Bác Lạc Bác
Lạc, Phiệt Lạc Phiệt Lạc
Khể Thủ Bách Thiên Quang
Trang Nghiêm Thân
Thập Phiệt Lă Thập
Phiệt Lă, Đáp Bá Đáp Bá, Bạc Già Phạm
Khể Thủ Nhật
Nguyệt Diêm Ma Phiệt Rô Nơa Củ La Thích Phạm, Dữ
Tài Đẳng Thiên Tiên Chúng Sở Cúng Dường Chi
Mạt Lạc Mạt
Lạc, Nhỉ Lí Nhỉ Lí, Mẫu Rô Mẫu Rô, Tốt Rô
Tốt Rô, Chủ Rô Chủ Rô
Khể Thủ Tác Nại
Đồng Tử Rô Đạt La Y Tỳ Sắc Nộ Đạt
Nại Đà Tiên Na Dược Ca T́ Na Dược Ca Chúng Đa H́nh
Tướng
Đạt Lạc Đạt
Lạc, Địa Lí Địa Lí, Đổ Rô Đổ Rô, Thác Lạc
Thác Lạc, Yết Lạc Yết Lạc, Bát Lạc Bát
Lạc, Xả Lạc Xả Lạc, Thứ Lạc Thứ
Lạc, Hát Lạc Hát Lạc, Mạt Lạc Mạt
Lạc, Phiệt Lạc Phiệt Lạc
Khể Thủ Dữ Nguyện
Phổ Quán Thắng Quán Thế Tự Tại Đại Tự
Tại
Mẫu Hô Mẫu Hô, Mẫu
Rô Mẫu Rô, Mẫu Da Mẫu Da, Muộn Giá Muộn Giá,
Lạc Xoa Lạc Xoa
Khể Thủ Năng Linh Ngă
Cập Nhứt Thiết Hữu T́nh Giải Thoát Nhứt
Thiết Bố Uùy, Giải Thoát Nhứt Thiết Yểm
Cổ, Giải Thoát Nhứt Thiết Tai Hoạnh, Giải
Thoát Nhứt Thiết Tật B́nh, Giải Thoát Nhứt
Thiết Tà Mị Vọng Lượng Giải Thoát Nhứt
Thiết Oan Gia Sát Phược Khủng Hát Chúy Đả,
Giải Thoát Nhứt Thiết Vương Nạn Tặc
Nạn, Giải Thoát Nhứ Thiết Thủy Hỏa Phong
Nạn, Giải Thoát Nhứt Thiết Đao Độc Đẳng
Nạn Giả:
Yết Nơa Yết Nơa,
Khẩn Ni Khẩn Ni, Khuất Nữu Khuất Nữu,
Triết Lạc Triết Lạc
Khể Thủ Năng Khai
Thị Nhứt Thiết Căn Lực Giác Chi Đạo Chi
Tứ Thánh Đế Giả
Đáp Ma Đáp Ma, Táp Ma Táo Ma,
Mạt Ta Mạt Ta
Khể Thủ Năng Trừ
Nhĩ Lí Nhĩ Lí, Tra Tra Tra
Tra, Sá Sá Sá Sá, Trí Trí Trí Trí, Chú Chú Chú Chú
Khể Thủ Bị Phục Y
Nê Da B́, Cụ Đại Từ Bi Tự Tại Đại Tự
Tại, Năng Phá Nhứt Thiết Ác Quỷ Thần
Giả, Tốc Lai Tốc Lai Cứu Hộ Ngă Đẳng
Củ Lô Củ Lô, Bác Lạc
Bác Lạc, Tác Lạc Tác Lạc, Yếu Lạc Yết
Lạc, Yết Tra Yết Tra, Mạt Tra Mạt Tra
Khể Thủ Trụ Tịnh
Độ Cụ Đại Bi Giả, Thân Bội Bạch Kiết
Tường Lũ, Cảnh Đới Chúng Bảo Anh Lạc,
Thủ Quan Hoa Man Bảo Quan, Ư Bảo Quan Trung
Đương Vu Đảnh Tượng Hữu Nhứt Thiết
Tŕ Tượng, Thủ Chấp Hi Hữu Đại Bảo
Liên Hoa, Ư Chư Tịnh Lự Đẵng Tŕ Giải Thoát
Chúng Diệu Công Đức, Giai Bất Khuynh Động, Thiện
Năng Thành Thục Nhứt Thiết Hữu T́nh, Cụ
Đại Từ Bi, Năng Trừ Nhứt Thiết Nghiệp
Chướng, Năng Cứu Nhứt Thiết Bịnh Khổ,
Phổ Năng An Uùy Nhứt Thiết Hữu T́nh
Ám Hiệt Lị Đát Lai
Lộ Ca Tỳ Ám Da. Uùm Mộ Già Bá Xa, Hiệt Lị
Đạt Da, Uùm Bát Lạc Để Hát Đa, Yểm Phái Tóa Ha,
Nạp Mổ A Mộ Dà Da Tóa Ha, Nạp Mô A Thị Đa Đa,
Nạp Mô A Bác, La Thị Đa Da Tóa Ha, Nạp Mô Phiệt
Lạc Bát Lạc Trá Da Hóa Ha, Nạp Mồ Tát Bà Yết Ma Tất
Đạt Duệ Tóa Ha, Yểm Đổ Da Tráng Tóa Ha.
Tụng Thần Chú Tâm này
quyết có linh nghiệm, hay thọ tŕ Thần Chú này,
chỗ mong cầu đều thành tựu. Các người
cứ mỗi ngày ba thời, mỗi thời tụng 108
biến, ngũ vô gián tội quyết được trừ
diệt. Tất cả nghiệp chướng đều
được thanh tịnh. Khi muốn tụng niệm,
trước phải kiết giới. Muốn làm pháp
kiết giới kia, lấy tro hoặc nước hoặc
Bạch Giới tử (1) hoặc
Đam sơn quyết (2) chú 7
biến khiến đóng bốn phương, thiêu trầm
thủy hương, chí tâm niệm tụng. Các bịnh
lạnh nóng và sốt rét nên chú trọng trong dây gút 21
biến, đeo trên cổ hoặc đeo trên tay tức
được trừ lành. Có các người bịnh, chú
trong bơ, trong dầu hoặc là chú trong nước 21
biến khiến cho người bịnh ăn uống,
liền được trừ lành. Nếu muốn giải
sự ếm đối trù rủa của kẻ khác,
lấy bùn dẻo thanh tịnh hoặc bún hoặc mật hoặc
sáp ong v.v... làm h́nh tượng người ếm
đối, niệm tụng chú này, tay cầm dao bén, phát ḷng
từ mẫn thương xót người ếm
đối mà chặt cắt từng đoạn. Lại
dùng Thần Chú chú trong chỉ rồi đeo vào thân
người bị ếm, khiến các sự sợ hăi
liền được trừ lành. Các bịnh đau
bụng nên chú trong nước muối khiến cho
người bịnh uống liền được
trừ lành. Gặp các cổ độc hoặc rắn
hoặc rít, sâu v.v... đă cắn mỗ, chú trong
nước khiến uống, chú trong bùn dẽo khiến
thoa, tức được trừ lành. Các bịnh đau
mắt, nên chú trọng sợi chỉ trắng đeo trên
lỗ tai của người bịnh, liền
được trừ lành. Có các bịnh răng
nướu, đau nhức nên chú trong cây Yết La Tỉ La
21 biến rồi bỏ vào miệng mà nhai, đều
được trừ lành. Các chỗ sợ hăi, nên phải
kiết giới mà ở trong đó, Giới pháp kết kia
được thực hiện bằng cách chú trong chỉ
ngũ sắc 21 biến, đem đeo trên cái cọc
nhọn đă được đóng sâu ở bốn góc,
liền được không sợ hăi. Muốn tự
hộ các việc cho ḿnh, nên lấy chú này chú trong chỉ mà
đeo trong thân thể, hoặc chú trong nước trong tán
sái trên thân. Có các Qủy Thần, Mị bắt bớ
nơi thân chủ chỉ ngũ sắc thường dùng
đeo bên ḿnh, tức các Quỷ Mị này liền xả ly.
Tất cả bịnh hoạn ghẽ, thủng v.v...
lấy lá Tất Bát Mạt (1) ḥa
với mật chú 21 biến, dùng thoa ở trên đó tức
được lành. Các bịnh hoạn về con mắt,
nên chú trong hương thủy hoặc cam thảo thủy,
Bát Lă Xa Thủy 21 biến mà dùng để rữa con
mắt, tức được trừ lành. Các bịnh
về tai mũi, nên chú trọng dầu nóng 21 biến,
nhỏ trong lỗ tai, lỗ mũi tức được
trừ lành. Có các sự đấu tranh, oán cừu, mưu
toan, các việc quan sự ép ngặt nên chú trong nước
tịnh thủy 21 biến, rữa mặt sái thân, tức
được ḥa giải. Khi có tai nạn khởi lên trong
các quốc độ, vương đô thành ấp, nên
kết đạo tràng, ngưu phẩm đồ
địa, nước hương thơm rưới sái
khắp nơi trong đạo tràng, ở bốn góc,
mỗi góc để một b́nh, trong b́nh kia để hoa và
nước, lấy cỏ thanh tịnh mới trải
khắp Đạo tràng, dùng những trái ngon quả ngọt,
đồ ẩm thực la liệt, trưng bày trên đó,
bốn bánh đèn, du (1)
hương thơm, tịnh chú (2) thắp
lên để bốn góc, lấy các danh hoa rải khắp
trong Đạo tràng, thiêu đốt thượng diệu
hương mà cúng dường. Người tụng chú dùng
nước hương thơm tắm rữa thân thể,
mặc y mới thanh tịnh, ṭa ngồi sạch sẽ,
đoan thân chánh niệm tụng Tâm Chú này. Chủ (3) nếu
ch1i thành th́ tai nạn liền dứt. Có các tật dịch,
yêu quái nổi lên các xứ v.v... chú trong b́nh nước sái
chổ ấy và thân, tất cả tai hoạn thảy
đều trừ diệt. Nếu bị Ma Mị, lấy
nước trong b́nh, mài Chiên Đàn hương chú 21 biến
dùng xoa trên tâm, Ma Mị liền dứt. Nếu thường
niệm tụng Thần Chú Tâm này, tứ trọng, ngủ
nghịch, báng pháp, các chướng thảy đều
trừ diệt. Muốn hộ nước nhà khiến không
tai ách, nên lấy hoa sen 108 cái, mỗi cái chú một biến
bỏ vào bên trong hỏa đàn cúng dường Hiền
Thánh, tai ách tức diệt, nước nhà yên ổn.
Nếu muốn kẻ khác phát ḷng từ tâm không sanh tị
hiềm tật đố, nên lấy 108 khúc Chiên đàn
hương dài 2 tấc Tàu. Mỗi khúc chú 1 biến, bỏ
vào trong hỏa đàn cúng dường Hiền Thánh, hay
khiến cho người kia thương mến mà không sân
hận. Nếu sợ dịch tật Quỷ Mị bắt
bớ nơi thân, nên lấy Đổ da dược, Tỳ
đổ da dược, Na Củ La dược. Kiền Đà
Na Củ La dược, Bà Thích Ni dược, Uùm Ba Da Ba Ni
Dược, Nhân Đạt La Ba Ni Dược, Kiền Đà
Tất Lị Dạn Cù Dược, Huyệt Yết Lam
Dược, Nghiên Ngật La Dược, Tỳ Sắc
Nổ Ngật Lang Đa Dược, Tố Ma La Thời
Dược, Tố Nan Đà Dược, Xà Diên Để
Được, Bạch Đàn Hương Dược, Xá Lị Ma
Dược, Xá Lị Bà Dược, Yết Tất Để
Bà Thích Ni Dược, Yết Lệ Thứ Ca Dược,
Kiền Đà Hiệt Yết Dược, Kim Cang Dược,
Hắc Lam Dược, Phiệt Lă Kha Khất Lan Đa
Dược. Các thứ thuốc dược như vậy
đâm rất nhỏ và rây cho thật mịn, làm hoàn h́nh
lớn như trái táo chú 108 biến để nơi trên
đảnh hoặc đep nơi hai tay, tật dịch
Quỷ Mị đều không dính thân. Nếu có trẻ
nhỏ bị tà khí vọng lượng làm giật ḿnh
sợ hăi, chú trong hoàn thuốc này 108 biến, rồi đeo
dưới yết hầu liền không giật ḿnh sợ
hăi nữa. Nếu có người nữ bạc
phước đă đến tuổi mà mọi
người thấy đều chán ghét, chú trong hoàn
thuốc này 108 biến ḥa trong nước tắm rửa
nơi thân ác tướng đều trừ, mọi
người yêu kính, thân uế ác bịnh cũng
được trừ lành. Nếu có các người
phụ nhơn cầu sanh con trai, chú trong hoàn thuốc này 108
biến đeo trên thân kia, hoặc ḥa với nước mà
tắm, liền được sanh con trai. Nếu chú hoàn
thuốc này mà đeo trên thân th́ đao độc, thủy
hỏa, ác thú, oan gia, ếm mị, cổ đạo,
hết thảy tai hoạnh đều không làm hại.
Nếu bịnh hoạn ghẻ, ung thư, chú hoàn thuốc
này 108 biến ḥa với nước thoa chỗ ấy,
liền được trừ lành. Nếu gặp ác phong
bạo vũ, sương muối, mưa đá, chú trong
nước thanh tịnh 21 biến, tán sái bốn
phương, hoặc chú trong nhánh cây Yết La T́ La 21
biến miệng vẫn tụng chú, hướng về
bốn phương mà quơ qua lại gió v.v... liền
đỉnh chỉ.
Đại Thần Chú Tâm Quán
Tự Tại này tuy không thọ tŕ chỉ y pháp
trước mà tụng th́ quyết có linh nghiệm. Nếu
hay thọ tŕ th́ ra làm sự nghiệp ǵ, không việc ǵ mà
không thành tựu tốt đẹp. Người muốn
thọ tŕ, lấy lụa trắng mới, dài mưới
thước Tàu, rộng 5 thước Tàu, tổng thành
một đoạn chớ nên cắt đoạn hay nối
chỉ, họa làm tượng Phật, dùng màu sắc ḥa
với dao (keo) hương dẻo, ngoài ra các thứ keo bên
ngoài không được dùng. Bên hữu tượng
Phật vẽ Quán Tự Tại Bồ Tát giống như
Đại Tự Tại Thiên đảnh đầu có búi tóc,
đội măo hoa, phủ áo phía cánh t ay trên bên tả, dùng anh
lạc, ṿng xuyến để trang nghiêm các phần của
cơ thể. Vị họa sư cần phải tắm
rửa bằng nước hương thơm sạch
sẽ, mặc y mới thanh tịnh, chớ ăn các món
tạp uế, chuyên tinh trai giới, họa vẽ ở
nơi tịnh thất. Nên đem tượng này để
trong tịnh thất thanh tịnh, nơi trước
tượng kia, ngưu phẩn đồ địa ngang
rộng (bề ngang x bề rộng) chừng một
trượng 90, bốn phương vuông vức bằng
nhau, ở nơi trong đàn kia tán rải hoàn toàn hoa
trắng. Lấy 8 cái b́nh thanh tịnh, mỗi cái chừng
một lít đựng đầy hoa, hương thủy an
trí tịnh. Mỗi cái chừng 1 lít đựng đầy
hoa, hương thủy an trí tám phương. Lại ở
nơi tám phương đó, trải 8 ṭa bằng cỏ,
trên mỗi ṭa để 1 phần thực; và ở bên
mỗi ṭa, để 8 phần thực. Món ăn cúng
dường đó phải là những món ngon nhật trên
đời được dùng để cúng dường,
chỉ trừ ngũ tân, huyết nhục, tửu và các
thứ tạp uế vật. Lăi thiêu trầm hương
chí thành cúng dường. Người thọ tŕ chú,
trước hết ba ngày ba đêm đoạn thực (1); như
người kia nếu không thể được, chỉ
một ngày một đêm không ăn, mỗi ngày trong ba
thời, tắm rửa sạch sẽ, mặc y mới
thanh tịnh, ăn ba thứ bạch thực là sữa,
bơ và gạo trắng ngon nhất. Ăn rồi súc
miệng, xỉa răng sạch sẽ, đi đến
trước tượng Phật thiêu trầm thủy
hương chí thành đảnh lễ, chuyên tâm tụng
Đại Thần Chú tâm này măn 8.000 biến, bấy giờ hành
giả tự thất thân ḿnh khắp phóng hào quang sáng
cũng như hỏa diệm sơn, thấy việc đó
rồi vui mừng hớn hở. Lúc ấy Quán Tự
Tại liền hiện trước mặt người
kia, tùy sở nguyện cầu đều khiến măn túc.
Nếu muốn tự ẩn, nên chú trong hùng hoàn hoặc
an-thiện-na măn 8.000 biến, nghiền làm bột lấy
thoa nơi con mắt. Nếu muốn bay lên hư không, nên
dùng bột này xoa dưới chân. Do chú lực này, hành
giả chứng bất không trí mà làm bậc Thượng
Thủ Trang Nghiêm Đẳng Tŕ (2). Đă
chứng được định tŕ này rồi, phàm ra làm
sự nghiệp ǵ hết thảy đều thành tựu
tốt đẹp”.
Lúc bấy giờ, Đức
Thế Tôn khen ngợi Quán Tự Tại Đại Bồ Tát
rằng: “Lành thay! Lành thay! Ông nay thương xót tất
cả hữu tịnh mà nói Thần Chú này để
khiến họ đều được lợi ích an vui.
Ta càng rất mừng”.
Khi Bạc Già Phạm nói
lời ấy rồi, Quán Tự Tại Đại Bồi Tát,
Tịnh Cư Thiên chúng, Tự Tại Thiên chúng, Đại
Tự Tại Thiên Chúng, Thanh Văn Bồ Tát đều
đại hoan hỷ tín thọ phụng hành.
ĐẠI SƯ TRẦN PHÁP
HIỀN TỤNG CHIẾU DỊCH PHẠN RA HÁN VĂN
SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH
HÁN RA VIỆT VĂN
Như thật tôi nghe: Một
thời Đức Phật ở tại nước Ma Già Đà
cùng các đại chúng vi nhiễu kinh hành, đến nơi
vườn cây Yêm La bên sườn núi Vi Đề Hế, trong
hanh Đế Thích. Bấy giờ Tôn Giả A Nan thoạt trông
thấy bọn đại ác tặc tử xa đi
đến, thấy rồi sanh đại kinh sợ, ḷng lo
sợ hăi đến nỗi lông ḿnh đứng dựng. Lúc
ấy Tôn Giả A Nan đi mau về chổ Phật,
rồi chấp tay mà bạch Phật rằng: “Kính thưa
Đức Thế Tôn! Con nay trông thấy có dại ác tặc,
cúi mong Thế Tôn làm phép cứu hộ”
Lúc bấy giờ, Đức
Thế Tôn nghe Tôn Giả An Nan thưa lời ấy rồi,
dạy A Nan rằng: “Ông sợ ác tặc ư?”. A
Bấy giờ Đức Thế
Tôn liền nói Đại Luân Kiết Giới Đà La Ni rằng:
Đát Ninh Giả Tha: A
Dương Lộ Ca Bát Ra Lộ Kế, Y Cai A Đề Bát
Để, Ngẩu Lị Hiến Đà Lị, Tán Noa Lị, Ma
Đắng Nghĩ, Nhă Ngu Lị, Bổ Ca Tế
Khi Đức Thế Tôn nói Đà La Ni
này rồi, liền bảo Tôn Giả A Nan: “Ông nay có thể
đi, dùng Đà La Ni này để kiết giới trước
mặt 12 do tuần, khiến được an ổn
tức trừ tặc nạn cho đến đao kiếm,
khí trượng v.v... đều không thể xâm hại,
lại hay khiến các giặc ác không ĺa bổn xứ, xoay
vần như bánh xe quay. Lại nữa A Nan! Nếu có
người khi gặp tặc nạn, nên dùng chỉ
trắng sạch gia tŕ Đà La Ni này 7 lần, tụng mỗi
lần gút một gút đủ 7 gút, qua nạn liền
giải, chổ có các giặc đều như bị
cấm trói, không thể bị nạn”.
Bấy giờ Đức Thế
Tôn nói kinh này rồi, Tôn Giả A Nan và các đại chúng
nghe Đức Phật nói, đều hoan hỉ tín thọ
phụng hành.
DANH HIỆU ĐÀ LA NI KINH
ĐẠI SỰ TRẦN PHÁP
HIỀN PHỤNG CHIẾU DỊCH PHẠN RA HÁN VĂN
SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH
HÁN RA VIỆT VĂN
Như thật tôi nghe: Một
thời Đức Phật ở tại Pháp Giả Đại
Bồ Đề Đạo tràng thuộc nước Ma Già Đà (1),
vừa thành Chánh Giác cùng với Bồ Tát Ma Ha Tát chúng
gồm có 8 vạn người đều câu hội
đầy đủ, lại c̣n có tám vạn bốn ngàn
Đại Phạm Thiên Tử cũng ở tại Đạo tràng
này. Tất cả đều vi nhiễu chiêm ngưỡng
Đức Thế Tôn.
Bấy giờ trong hội có
một Đại Bồ Tát tên Quán Tự Tại, từ ṭa
đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối
hữu sát đất, chắp tay hướng Phật mà
bạch Phật rằng: “Kính thưa Đức Thế Tôn! Có
Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu Đà La Ni, trong Trang
Nghiêm kiếp, Hiền kiếp, Tinh Tú kiếp, chư
Phật Như Ni này. Con nay thừa oai lực của
Phật, cũng v́ lợi ích an lạc các chúng sanh, cho nên
muốn tuyên nói. Cúi mong Đức Thế Tôn thương xót phú
hộ(2)”
Bấy giờ Đức Thế
Tôn khen ngợi Quán Tự Tại Đại Bồ Tát rằng:
“Lành thay! Lành thay! Quán Tự Tại! Ông hay v́ lợi ích
tất cả chúng sinh mà phát Đại Bi Tâm, hăy tuyên nói như
ư”.
Lúc ấy Quán Tự Tại
Bồ Tát mong chờ Phật đă cho phép rồi, lại
bạch Đức Phật rằng: “Kính thưa Đức Thế
Tôn! Nếu người muốn tụng Đà La Ni này, hăy
trước nên chí thành tụng danh hiệu của chư
Phật Như Lai sau đây:
Nếu người
được nghe tất cả những danh hiệu
Phật như thế, v́ kẻ khác tuyên nói, người
đó trong sáu mươi ngàn kiếp không nghe tên ác thú
huống nữa là đoạ nơi A Tỳ Địa
Ngục”.
Bấy giờ Quán Tự
Tại Bồ Tát nói danh hiệu của chư Phật
Như Lai rồi, liền nói Đà La Ni rằng:
Đát Nĩnh Dă Tha: Tạt
Đổ Ra Thi Đế Du Nhạ Na Thiết Đa Tát Hạ Tát Ra Ni,
Nhạ Trá Bà Ra Mạt Cô Tra Lăng Ngật Lị Đa, Đà Ra Ni Sa
Hạ; Tạt Lị Phạ Đát Tha Pha Đa Mẫu Lị
Để Đa, Đà Ra Ni Sa Hạ; A Phạ Lộ Kiết Đế
Thuyết Ra Giả Sa Hạ, Tát Lị Phạ Đát Tha Nga Đô Oâ
Sắc Nị Sa, Đà Ra Ni Sa Hạ; Tát Lị Phạ Đát Tha Nga
Đa Bà Thỉ Đa, Đạt Lị Ma Tắc Kiên Đà, Đà La Ni Sa
Hạ; Tát Lị Phạ Đát Tha, Nga Đa Bà Thỉ Đa Táp Bát Đa Đà
Ra Ni Sa Hạ Bát Nạp Ma A Bà Nễ Ca Giă Sa Hạ, A
Sắt Tra Ma Hạ, Bạt Giă Đà Ra Ni Sa Hạ, Duyệt Đa
Phạ Lang Noa Giả Sa Hạ, Tát Lị Phạ Đát Tha Nga Đa
Na Ma Đà Ra Ni Sa Hạ; A Thi Đế Bát Nạp Ma Thiết
Nễ Ca, Giả Đát Tha Nga Đa Đà Ra Ni Sa Hạ, Bát Nạp Ma
Hạ Tất Đa Giả Sa Ha, Tát Lị Phạ Măn Đát Ra Đà Ra
Ni Sa Hạ”.
Lúc bấy giờ, Quán Tự
Tại Bồ Tát nói Đà Ra Ni rồi, lại bạch Phật
rằng: “Kính thưa Đức Thế Tôn! Nếu có kẻ trai
lành, gái tín thọ tŕ, đọc tụng, tư duy, ghi
nhớ Nhứt Thiết Như Lai Danh Hiệu Đà La Ni này, v́
kẻ khác truyền nói, người ấy đă có
nghiệp ngũ vô gián, thảy được tiêu trừ.
Sau khi mạng chung, người ấy sinh lên làm vua chư
Thiên, sống lâu tám mươi bốn trăm ngàn cu li
kiếp số, vậy sáu mươi trung kiếp. Qua
kiếp đó rồi, người ấy sẽ
được thành Phật gọi là Liên Hoa Tạng Như
Lai Ưng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác”.
Lúc ấy Đức Thế Tôn nói
Kinh này rồi, tám vạn Đại Bồ Tát chúng và tám vạn
bốn ngàn Đại Phạm Thiên Tử nghe Đức Phật
nói, đều đại hoan hỷ tín thọ phụng
hành.
BỒ TÁT BÍ MẬT ĐÀ RA NI
SA MÔN THÍCH VIÊN ĐỨC DỊCH
HÁN RA VIỆT VĂN
Lúc bấy giờ, Đức
Thế Tôn dạy Kim Cang Mật Tích Chủ rằng: “Tám
chữ Tối Thắng Đại Oai Đức Tâm Chơn Ngôn
đây trụ xứ ở chổ nào chư Phật c̣n
ở đời không có khậc vậy. Có công năng
hiện chư Phật các món Thần lực không thể
nghĩ bàn, cũng hay làm Đại vô lượng Thần
thông biến hóa. Ta nay chỉ lược khen ngợi
chút ít phần công đức Đà La Ni này. Ta nếu nói
đủ th́ vô lượng trăm ức câu chi na-du-đa
trăm ngàn đại kiếp nói không thể hết. Lúc
ấy Đức Thế Tôn liền nói bát tự Đại Oai
Đức Tâm Chơn Ngôn rằng:
ÚM ÁT VỊ RA HÙM KHƯ
TẢ LẠC
Phật lại dạy Kim Cang
Mật Tích chủ rằng: “Đà La Ni này nếu có kẻ nam
người nữ không thể sắm sửa việc
thừa tự cúng dường Pháp một cách đầy
đủ, lại v́ hoàn cảnh gia duyên bức bách các
nghiệp vụ sanh kế. Chỉ nên nhớ tŕ không quân, y
thời niệm tụng, tùy phần không thiếu chút ít
phần cúng dường, tùy ḿnh theo sức sắm chút cúng
dường cũng được thành tựu, trừ
không chí tâm, không chánh tính tâm, không phát tâm Đại thừa
Bồ Đề, lại c̣n phỉ báng ngôi Tam Bảo, khởi
lên những điều bất thiện, làm các ác nghiệp.
Những tâm như thế th́ tất cả Pháp nhỏ c̣n
không thể thành tựu được, huống nữa
Đại Pháp lại có thể thành tựu được
ư? ”
Khi ấy Như Lai dạy Kim
Cang Mật Tích Chủ rằng: “Nếu thiện nam tử,
thiện nữ nhơn niệm tụng Đà La Ni này một
biến, tức được hộ tự thân ḿnh.
Nếu tụng hai biến hay hộ đồng bạn
của ḿnh. Nếu tụng hai biến hay hộ
đồng bạn của ḿnh. Nếu tụng ba biến
tức đại hộ trụ xứ, hàng Thập
địa Bồ Tát không thể vượt hơn,
huống ǵ các tiểu loại chính sinh. Nếu tụng
bốn biến tức được ủng hộ vợ
con. Nếu tụng năm biến tức hay ủng hộ
tất cả quyến thuộc. Nếu tụng sáu biến
tức hay ủng hộ tất cả thành ấp, thôn phường
tụ lạc v.v... Nếu tụng bảy biến tức
hay ủng hộ tất cả các khổ nạn của
chúng sinh. Nếu khi muốn mặc áo nên tŕ niệm bảy
biến thời hay trừ tất cả ác độc và các
tai nạn. Nếu khi rữa tay, hay khiến chúng sinh quư
ngưỡng, các kẻ ác thấy thảy đều hàng
phục tất cả mọi người đều kính
trọng, trừ ác tâm, họ sanh ḷng vui mừng.
Nếu người bệnh
bị thân thể nhức mỏi, gia tŕ trong nước
nóng 108 lần rồi tắm rữa, tức
được hảo mộng lại được trừ
lành.
Nếu mỗi ngày buổi sáng,
lấy một chén nước gia tŕ 7 lần, uống vào
trong thân có chánh ác báo thảy đều tiêu trừ,
huống ǵ tai ách và các nghiệp tội cấu cũng
được tiêu diệt, thọ mạng sống lâu.
Nếu tŕ trong đồ ăn
uống 7 lần rồi ăn vào, độc cũng không
thể làm hại được. Nếu thấy kẻ ác
oan gia phải cầu niệm tụng tức tự hàng
phục, trừ bỏ ḷng giận dữ, từ tâm
hướng về ḿnh. nếu có chổ nào khủng bố
sợ hăi, chí thành niệm tụng tức được vô
úy. Nếu khi nằm tụng 108 lần, tức được
hảo mộng, hay biết việc thiện ác. Nếu
người bệnh nóng sốt cao độ, người
tŕ tụng ngó ngay vào mặt người bệnh tụng
chơn ngôn này 108 biến, bệnh nóng ấy sẽ trừ
lành. Nếu khi vào quân trận, lấy ngưu huỳnh
viết Thần chú này đeo nơi trên thân, tất cả
dao gậy cung tên dáo búa không thể thương hại.
Nếu khi vào trận, nên họa tượng Đức Văn
Thù Đồng Tử và chân ngôn để trên xe ngựa
dẫn quân đi trước, các quân giặc không thể
làm hại, tự thoái tán.
Thường cần niệm
tụng, đă có các tội ngũ vô gián, tứ trọng
thập ác thảy đều tiêu diệt, sẽ
được diện kiến Đức Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát, đi đứng nằm ngồi
thường cần thọ tŕ, niệm tụng nhớ tŕ
không quên, mỗi lần tụng đủ 108 biến
chớ khiến gián đoạn, thường
được tất cả chúng sanh hàng phục. Nếu
gia tŕ trên mái tóc 7 biến, tất cả chúng sanh thấy
ấy thảy sẽ hàng phục, người ác lánh xa.
Nếu hay mỗi ngày ba
thời, y pháp vào Đạo Tràng, riêng mỗi thời tụng
đủ 108 biến, việc sở cầu đều
được xưng ư viên măn cụ túc, được
đại phú quư, ra làm việc ǵ cũng được
tự tại, khi lâm chung được chứng Phổ
Môn Tam Muội và thấy Đức Văn Thù Sư Lợi
Bồ Tát.
Nếu có người nào hay
viết chép Thần Chú này để thờ trong nhà th́
được đại phú quư. Có các tai nạn
đều được tiêu diệt. Mong cầu các
nguyện đều được viên măn, thường
được thiện Thần vi nhiễu gia hộ, không
khiến quỷ ma đến xâm nhiễu. Đây là bí mật Đà
La Ni không thể nghĩ bàn, Chư Phật oai đức
cũng không thể nghĩ bàn.
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ
THƯỢNG TỌA THÍCH VIÊN ĐỨC
1. Thân thế và quê hương
Thượng Tọa tên
thật là Phạm Văn Nghi, húy là Thượng Đồng
Hạ Viên, tự là Thông Lợi, hiệu là Viên Đức. Sinh
vào giờ Tỵ ngày 26 tháng Chạp năm Nhâm Thân (1932). Quán
làng Định Trung, Xă An Định, Quận Tuy An, Tỉnh Phú Yên.
Thân phụ của
Thượng Tọa là cụ ông Phạm Giản, một
bực túc nho thời bấy giờ. Thân mẫu là cụ bà
Ung Thị B́nh, một Phật tử thuần thành từ
hồi bé. Ông nội của Thượng Tọa không
những là một kẻ sĩ, mà c̣n là một chiến
sĩ trong phong trào Cần Vương kháng Pháp.
Thượng Tọa chào
đời và lớn lên ở Phú Yên, một nơi
địa linh nhân kiệt, không những v́ đời
đă sản sinh ra nhiều anh hùng liệt sĩ, mà về
Đạo cũng là nơi đời đời nối
tiếp xuất sinh nhiều vị Tăng tài kế
truyền hoằng hóa giáo Pháp của Đức Thế Tôn. Non
nước Phú Yên như phần nào nói cho ta điều
đó. Ngoài ḍng sông Ba Yên b́nh chảy ra biển cả, Phú Yên
c̣n có hai ngọn núi là Ḥn Chuông và Ḥn Mỏ, h́nh giống
như hai Pháp khí tu hành của nhà Phật. V́ vậy, Vua Minh
Mạng khi nói về đất Phú Yên đă khen ngợi:
“Trung kỳ Phú Yên tỉnh,
nải Thiên Địa tinh anh, sơn xuyên Chung Dục, thị
dỉ tự cổ Cao Tăng điệp xuất, Đạo
bá tam kỳ, thật vi công đức vô biên, tán thán mạc
cập dă giả”
Tạm dịch
Trung kỳ có Phú Yên, non cao
thật lih hiển, núi Chuông cũng núi Mỏ, xưa nay ai
cũng biết, Cao Tăng luôn điệp xuất,
đạo bá khắp ba miền, công đức vô biên
kể, khen ngợi thật khó lường.
Thật vậy, Tổ Liểu
Quán, trong lịch sự Phật giáo Việt Nam ai cũng
biết là người làng Bạc Má, Huyện Đồng Xuân,
Tỉnh Phú Yên. Ngoài ra bao nhiêu tự viện là ḷ đúc
Tăng tài như Tổ Đ́nh Phước Sơn, Tổ Đ́nh
Bảo Sơn v.v... qua nhiều thế hệ đă đóng
góp rất nhiều về việc hoằng hóa Đạo Pháp.
2. Cuộc đời
Theo lời tường
thuật của Thân Mẫu Thượng Tọa, thời
kỳ hoài thai của Người có những cảm giác
kỳ lạ, ḷng không tham đắm trần cảnh,
miệng chỉ ăn được muối rau.
Thượng Tọa được sinh hạ nhẹ nhàng.
Thai kỳ chỉ có bảy tháng mười ngày. V́ sanh
sớm hơn những đứa trẻ khác nên khi c̣n
nhỏ thể tạng rất ốm yếu, đau ốm
măi tưởng như không thể nuôi được.
Thượng Tọa lúc nhỏ đă tỏ ra có tư
chất thông minh lanh lợi, có ư chí xuất trần hơn
là công danh thế tục. V́ vậy, trong các tṛ chơi
thường ngày, Bé Nghi thường lấy ốc ngao làm
mơ nắp hộp thau làm chuông h́nh Phật b́ nhan làm Phật,
hai ống quần làm tay áo rộng, rồi bảo các
bạn bè nếu muốn đến cúng Phật th́
đến rước.
Thân phụ mất sớm (lúc
Người mới 5 tuổi) tiếp theo là người
anh thứ bảy mới mười ba tuổi cũng
mất. Thân mẫu thấy bé Nghi ốm yếu khó nuôi nên
đem kư bán quy y tại chùa Bảo Phong.
Năm 1942 (lúc 11 tuổi)
Người xuất gia thọ Pháp với Ḥa Thượng
Thích Phổ Huệ (ḍng Tâm Tế) tạo Tổ Đ́nh Bảo
Sơn thuộc làng Phong Thăng, huyện Tuy An, Tỉnh Phú
Yên, nhờ có tư chất thông minh mẫm tuệ, lại
được Thầy Phổ Huệ tận t́nh chỉ
dạy Phật Pháp, nên chẳng bao lâu Người thâm
nhập phần lớn kinh kệ căn bản và hai
thời Công Phu. Sau 3 năm, Người c̣n được
Thầy Phổ Huệ chọn lựa cho đi học thêm
chữ Quốc ngữ để sau này thuận lợi
trong vấn đề hoằng dươn Phật Pháp.
Sự chọn lọn Tăng sinh để học thêm
văn hóa ở các chùa thời xưa là một vấn
đề khó khăn, người được lựa
chọn, phải đầy đủ giới hạnh. V́
vậy trong 12 chú Điệu ở Tổ Đ́nh Bảo Sơn
chỉ một ḿnh người được chọn.
Người học tiểu học tại trường
Lưu Văn Chánh (Phú Yên) và là một trong những học
sinh xuất sắc, có lần người đă trúng tuyển
thứ tư trên 2000 học sinh trong kỳ thi lên trung
học toàn Tỉnh.
Từ năm 1946 – 1950:
Thượng Tọa tiếp tục học văn hóa và
học Kinh
Từ năm 1950 (nhằm ngày
19 tháng 02 năm Canh Dần): Thượng Tọa chính
thức được làm lễ “Thế Độ” do Ḥa
Thượng Thích Phước Trí làm chủ lễ.
Năm 1952: thầy của
người là Ḥa Thượng Phổ Huệ viên tịch.
Người vô cùng đau xót chưa biết tính thế nào
về con đường tu học của ḿnh, th́ Ḥa
Thượng Bảo Sơn (Thầy Bổn Sư của
Ḥa Thượng Phổ Huệ) Đem Người gửi cho
Ḥa Thượng Thích Phước Trí Trụ Tŕ Tổ Đ́nh
Phước Sơn (Phú Yên) để Người tiếp
tục tu học. Chính nhờ uy tín và đức độ
của Ḥa Thượng Thích Phước Trí cũng như
sự chăm sóc tận t́nh của Ngài, Người
mới được tiến xa trên đường tu
học.
Năm 1953: Thượng
Tọa được ra học Kinh tại chùa Thập Tháp
(B́nh Định), sau 1 năm lại trở về Phú Yên. Sau
đó Thượng Tọa lại ra Tổ đ́nh Từ
Quang (Đá Trắng – Phú Yên) học Kinh với Ḥa Thượng
Phước Hộ.
Năm 1954: người
được giới thiệu vào học tại Phật
học viên Nha Trang, nơi đây Người
được vào học ngay chương tŕnh Trung
đẳng của Phật Học Viện. Tại Phật
Học Viện Nha Trang, Thượng Tọa là một trong
những Tăng sinh xuất sắc. V́ vậy có lần Pháp
Sư Diễn Bồi, người Trung Hoa đến
giảng tại Tăng Viện, khi thăm chúng Tăng
đă nhận xét về Thượng Tọa như sau:
“Thị giáo lợi hỷ, lưu danh hậu thế”.
Quả thật, sau này, Thượng Tọa là một
cột trụ trong phong trào hoằng truyền Mật Giáo.
Thời gian học tại Phật Học Viện Nha Trang,
Thượng Tọa đă bắt đầu tham cứu
Kinh sách Mật Giáo và chuyên tŕ chú Chuẩn Đề
Năm 1957 (Nhằm ngày rằm
tháng Chạp năm Đinh Dậu): người
được thọ Cụ Túc giới
Năm 1958. Thượng
Tọa tốt nghiệp Cao Đẳng Phật Học Viện
Nha Trang
Năm 1959. Thượng
Toạ được Giáo Hội cử làm Giảng Sư
tại tỉnh Đắc Lắc Ban Mê Thuộc
Năm 1960 – 1962: Làm Chánh
Hội Trưởng Phật Giáo Đắc Lắc Ban Mê
Thuộc. Trong thời gian này, Thượng Tọa đă
không nệ gian lao nguy hiểm, quyết đem ánh Đạo
vàng đến cho chúng sanh ở vùng đất xa xôi này,
Người đă khai sơn xây dựng chùa Quảng
Đức và hơn 30 cảnh Chùa khác như các chùa quận
Kiến Đức, Sùng Đức v.v... đều có bàn tay của
Thượng Toạ góp công. Ngoài ra Người c̣n xây
dựng và kiện toàn các cơ sở của Giáo Hội
tại địa phương.
Đầu năm 1963:
Thượng Tọa c̣n kiêm làm giảng sư tại
Vạn Giả Tu Bông Nha Trang. Nơi đây người
lại xây dựng được một Đại Bảo
tháp thờ Kinh Pháp Hoa và một tịnh thất khang trang.
Vào năm 1963: giữ chức
Chánh Hội trưởng Phật Giáo Tỉnh Quảng
Đức
Năm 1964: khai sơn xây
cất chùa Dược Sư Ban Mê Thuộc, cũng trong
năm này, Thượng Tọa đă vận động
một số Phật tử cung thỉnh Đại Tạng
Kinh cúng dường cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất tỉnh Phú Yên.
Năm 1964: làm Chánh Đại
diện Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Biên Ḥa kiêm Tổng
Thư Kư Tổng Vụ Văn Hóa Xă Hội Viện Hóa
Đạo Aán Quang
Năm 1976: Thượng
Toạ về nhập thất tại chùa Dược Sư
(Ban Mê Thuộc), đồng thời nghiên cứu Mật
Giáo, hoằng dương Chân Ngôn Tông, Thượng Tọa
đă được Ḥa Thượng chùa Hương Tích
(Phú Yên) một vị chuyên tu Bí Mật Hạnh của
Thế Hệ Tước hiệu là Vạn Ân trao truyền
Kinh điển Mật Giáo, nhằm ngày rằm tháng năm
năm Đinh Mùi (22 tháng 6 năm 1967). Thượng Tọa
được Ḥa Thượng chùa Thiền Sơn (Phú Yên)
hiệu là Từ Thạch chính thức truyền giao Ấn
Khế.
Năm 1970: Thượng
Tọa được Giáo hội cử làm phó Đặc
Uỷ Phật Học Vụ trong Tổng Vụ Giáo Dục
Năm 1972: khởi công trùng tu
ngôi chùa Thiền Tịnh tại Thủ Thiêm
Về hoằng truyền
Mật Giáo, sau nhiều năm suy nghĩ, nhập thất,
thể nghiệm về phương tiện hoằng hóa
độ sinh, mặc dầu Thượng Tọa thuộc
ḍng Thiền Lâm Tế, nhưng ngài đă quyết chọn
con đường Mật Thừa để hoằng
truyền. V́ theo Người th́ đây là con
đường ngắn nhất, thù thắng nhất
để đạt đến Đạo quả Vô
Thượng Bồ Đề và hợp cơ với chúng sinh
trong thời Mạt Pháp. Thật ra, Mật Giáo đă hiện
diện ở Việt Nam từ lâu, nhưng chúng ta không rơ
đích xác năm nào, nếu căn cứ vào những
sử liệu c̣n lại th́ Mật Tông du nhập vào
Việt Nam cùng lúc với các Tông khác như Thiền Tông,
Tịnh Độ Tông... Đây đó trong lịch sử thỉnh
thoảng các vị Cao Tăng thường dùng phương
tiện thiện xảo để độ chúng sinh
như Vạn Hạnh Thiền Sư, Giác Hải Thiền
Sư, Giác Ngộ Thiền Sư v.v... ta mới thấy
Mật Giáo đă đóng góp rất nhiều trong việc
khai ngộ chúng sinh. Đến cuối thế kỷ XX, có
thể nói Thượng Tọa là người đầu
tiên trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam đă
công truyền Mật Giáo bên cạnh Thiền Tông, Tịnh
Độ Tông, Pháp Tướng Tông... V́ vậy, có người
đă cho mà Mật Giáo không c̣n xa lạ với nhân dân
miền
Sau đây là một số danh
hiệu Kinh Mật Giáo đă được phiên dịch:
Hiển mật viên thông thành
phật tâm yếu
2 quyển
Kinh Chuẩn Đề Đà La Ni
(Hội
thích)
3 –
Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm
Bảo Vương
4 -
Thất Cu Chi Phật Mẫu
Tâm Đại Chuẩn Đề
1q
Đà La Ni Kinh
Thất Cu Chi Phật Mẫu
Tâm Đại Chuẩn Đề
1q
Đà La Ni Pháp
Thất Cu Chi Độc Bộ
Pháp
1q
Chuẩn Đề Biệt Pháp
1q
Kinh Thánh Lục Tự Tăng
Thọ Đại Minh Đà La Ni
1q
Lục Tự Thần Chú
Vương
Kinh 1q
Kinh Mạt Pháp Trung Nhứt
Tự Tâm Chú Đà La Ni
1q
Kinh Văn Thù Sư Lợi
Căn Bản Nhứt Tự Đà La Ni
1q
Mạng Thù Thất Lợi
Bồ Tát Chú Tạng Trung
1q
Nhứt Tự Chú Vương
Kinh
Uế Tích Kim Cang Thuyết
Thần Thông Đại Măn
2q
Đà La Ni Pháp Thuật Linh Yếu
Môn
Bắc Đẩu Thất Tinh Diên
Mạng
1q
Thất Tinh Chơn Ngôn
Thần Chú
1q
Nhứt Thiết Công Đức
Trang Nghiêm
Vương 1q
Kinh Trang Nghiêm Vương Đà La
Ni 1q
Kinh Tŕ Cú Thần Chú
1q
Kinh Tăng Duệ Đà La Ni
1q
Quán Thế Âm Thuyết Trừ
Nhứt Thiết Nhăn Thông Đà La Ni, Quán Thế Âm Linh Chư
Căn Cụ Túc Đà La Ni, Hoạch Chư Thiền Tam
Muội, Nhứt Thiết Phật Pháp Môn Đà La Ni (Đà La Ni
Tạp Quyển 7 Trích Lược) 1q
Phương Pháp Tu Tịnh
Tọa
1q
Văn Thù Sư Lợi Pháp
Bảo Tàng Đà La Ni
1q
Kinh Phật Đảnh Tôn
Thắng Đà La
Ni
1q
Gia Cú Linh Nghiệm Phật
Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kư, Triều Thị Đại Phu
Kiêm Thị Ngự Sử 1q
Kinh Đại Phương
Đẳng Đà La
Ni
1q
Kinh Hoa Tụ Đà La Ni Chú
1q
Kinh Đại Bảo Quảng Bát
Lầu Các Thiện Trụ Bí Mật Đà La
Ni 3q
Kinh Bất Không Quyến Tác
Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Quán Đảnh Quang Chơn Ngôn
1q
Đại Kiết Tường
Thiên Nữ Thập Nhị Danh
Hiệu
1q
Bồ Đề Tâm Bồ Tát
Giới Yết Ma Nghi Quỹ
1q
Kinh Thất Phật Sở
Thuyết Đại Đà La Ni Thần Chú
1q
Kinh Nhứt Thiết Như Lai
Tâm Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Aán Đà La
Ni 1q
Đại Phật Đảnh Như
Lai Phóng Quang Tất Đát Đa Bát Đát Ra Đại Thần Lực Đo
Nhiếp Nhứt Thiết Chú Vương Đà La Ni Kinh, Đại
Oai Đức Tối Thắng Kim Luân Tam Muội Chú 1q
Kinh Câu Na Hàm Mâu Ni Phật
Thuyết Thần Chú
1q
Đa Rị Tâm
Kinh
1q
Kinh Đại Luân Kim Cang Tổng
Tŕ Đà La Ni
1q
Kinh Thâm Sa Đại Tướng
Bồ Tát Đà La
Ni
1q
Kinh Thánh Hư Không Tạng Đà
La Ni
1q
Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát Lục Tự Chú Công Năng Pháp Kinh 1q
Kinh Bảo Tàng Thiên Nữ Đà La
Ni
Pháp
1q
Nhứt Kế Văn Thù Sư
Lợi Đồng Tử Đà La Ni Niệm Tụng Nghi Quỹ
1q
Kinh Thường Cù Lợi
Độc Nữ Đà La Ni Thần
Chú 1q
Đại Như Yù Bảo Châu
Luân Ngưu Vương Thủ Hộ Thần Chú Kinh 1q
Kinh Trừ Bách Bịnh
Mă Minh Bồ Tát Đại
Thần Lực Vô Tỉ Nghiệm Pháp Niệm Tụng Nghi
Quỹ 1q
Kinh Ma Lị Chi Thiên Bồ Tát
Đà La
Ni
1q
Kinh Bạt Trừ Tội
Chướng
Chú 1q
Kinh Túc Mạng Trí Đà La
Ni
1q
Kinh Trừ Tặc Nạn Đà La
Ni
1q
Kinh Nhứt Thiết Như Lai
Danh Hiệu Đà La
Ni 1q
Kinh Bí Mật Bát Danh Đà La
Ni
1q
Kinh Bảo Sanh Đà La
Ni
1q
Kinh Bảo Hiền Đà La
Ni
1q
Kinh Tùy Cầu Tức Đắc
Đại Tự Tại Đà La Ni Thần Chú 1q
Kim Cang Đảnh Du Già Tối
Thắng Bí Mật Thành Phật Tùy Cầu Tức Đắc
Thần Biến Gia Tŕ Thành Tựu Đà La Ni Nghi Quỹ 1q
Kinh Thánh Tối Thắng Đà La
Ni
1q
Kinh Liên Hoa Nhăn Đà La Ni
1q
Kinh Thắng Tràng Anh Lạc Đà
La Ni
1q
Kinh Toái Trừ Chư Ác Đà La
Ni 1q
Kinh Tôn Thắng Đại Minh
Vương
1q
Kinh Kim Thân Đà La
Ni
1q
Kinh Tối Thắng Yù Đà La
Ni 1q
Kinh Đại Thừa Thánh Vô
Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương
Như Lai Đà La Ni 1q
Kinh Thập Nhứt Diện
Thần Chú Tâm
1q
Kinh Bất Không Quyến Tác
Thần Chú
Tâm
1q
Thành Tựu Mông Tướng
Pháp
1q
Vô Lượng Thọ Như
Lai Tu Quán Hạnh Cúng Dường Nghi Quỹ
1q
Kinh Bồ Đề Trường
Trang Nghiêm Đà La Ni
1q
Kinh Bí Mật Tạng Quán
Thế Âm Bồ Tát Như Yù Luân Đà La Ni Thần Chú
1q
Kinh Tỳ Sa Môn Thiên
Vương
1q
Kinh Vũ Bảo Đà La
Ni
1q
Kinh Đại Kiết Giới
Thần Chú
1q
Kinh Tŕ Minh Tạng Bát Đại
Tổng Tŕ
Vương
1q
Kiên Lao Địa Thần Nghi
Quỹ
1q
Kinh Cửu Phẩm Văng Sanh A Mi
Đà Tam Ma Địa Tập Đà La Ni 1q
Kinh Nhứt Thiết Phật
Nhiếp Tương Ưng Đại Giáo Vương Kinh Thánh
Quán Tự Tại Bồ Tát Niệm Tụng Nghi Quỹ 1q
Kinh Quán Tự Tại Bồ
Tát Tùy Tâm
Chú
1q
Cuộc Đời Ngài Huyền
Trang
1q
Phật Đảnh Phóng Vô Cấu
Quang Minh Nhập Phổ Môn Quán Sát Nhứt Thiết Như
Lai Tâm Đà La Ni 1q
Ma Hê Thủ La Thiên
Kinh
1q
Tổng
cộng
92 quyển
Năm 1974: Thượng
Tọa Từ Buôn Mê Thuộc về Trụ Tŕ Chùa Thiền
Tịnh Quận 9,
Nguyện vọng của
Thượng Tọa trong lúc sinh thời là muốn gặp
gỡ các vị Lạt Ma Tây Tạng, các pháp sư Mật
Giáo Nhựt Bản để trao đổi các yếu
chỉ về Mật Giáo. Nhưng Ước vọng
chưa thành th́ Thượng Tọa đă Viên tịch vào
giờ Sửu ngày 12 tháng 7 năm Canh Thân, thọ 49
tuổi.
Trước Giác Linh của
Người, chúng con tề tựu về đây
tưởng niệm ân triêm công đức của
Người, nhưng làm sao nói hết được. Đây đó
khắp bốn phương trời, các môn đồ
hiếu đệ mang chữ Giác chữ Chúc trong những
ngày vào Thu hoài niệm Ân Sư ngày nào bóng áo Cà sa phất
phối, giọng truyền pháp nhũ ngọt ngào, nay th́...
Than ôi! Ngọn đuốc
Mật Thừa xao gió!
Vầng trăng giới
hạnh lờ mây!
Bóng dáng oai nghiêm ngày nào nơi
cửa Pháp
Giọng phạn âm Chơn
Ngữ nghe càng thắm càng nồng
T́nh Môn Đồ, Nghĩa Sư
Đệ chốn Thiền Môn, khi hủ hỉ khi đau
buồn làm sao nói hết được niềm trần
cảm!
AI CẢM
Ngưỡng bạch kính dâng
lên Giác Linh Thượng tọa. Môn đồ hiếu
đệ chúng con khấu đầu lễ bái. Nhớ Giác
Linh xưa:
Từ Bi Vô lượng
Hỷ xả khôn cùng
Hạnh nguyện như thi cùng
tuế nguyệt
Công phu nào ngại chốn
trần đồ
Quyết nhập luân hồi,
ươm mầm Đạo pháp, biết bao phen chướng
nạn với trần lao.
Nào Sợ Tử Sinh giả
hợp Vô thường, một lời nguyền nhập
lưu cùng Tế độ.
Rồi một sáng cuối Đông,
miền trung thắng địa, vùng núi Chung núi Dục oai
hùng.
Hoa lá như xôn xao cùng Thiên
Nhạc, cơi đất Linh sẽ đem Pháp lưu
truyền.
Thầy vào đời như
Tùng như bách, nào sợ phong sương băo táp dập vùi.
Thầy ra đi như gió mây,
nào ngại ba đào hiểm nạn chắn lối.
Lê gót phong sương hồ
hải, nay Khánh Hoà Vạn Giả, Mai Quảng Đức Tu
Bông.
Pháp luân chơn nghĩa khai
đông:
Môn đồ hiếu
đệ thoát ṿng trầm luân!
Chí thầy quyết vươn
cao ḍng Pháp Mật, để môn sinh kế thế thừa
truyền.
Nguyện Thầy xoay khổ
hải với Ta Bà, để đệ tử thấy
được mùi Pháp Lạc.
Chí là thế, Hạnh là
thế, nhưng Ta Bà nào phải cảnh thiếu chông gai?
Có những lúc t́nh đời
bạc dẻo, nghĩa những môn sinh nào khác chú Đế Bà.
Có nhữngkhi lời nặng
tiếng chê, nghĩa Sư Đệ không ra ngoài ấm
lạnh.
Nhưng Thầy bảo: Ta bà là
nhẫn nhục
Phiền năo tức Bồ
Đề
Gương xưa Di Lặc năo
nề
Bị đánh bị chửi ê
chế vẫn vui.
Rồi:
Tuổi
tên không để chôn vùi,
Dịch
Kinh thuyết Pháp an vui tháng ngày.
Lấy
tay Kim Cang rờ vào Mật Tạng,
Dùng
mắt Liên Hoa soi thấu nghĩa U huyền.
Nay Uế Tích Kim Cang Thần
Thông Đại Măn,
Mai
Tuỳ Cầu Tức Bắc Thần Biến Gia tŕ,
Chuẩn Đề Hội Thích c̣n ghi,
Viên thông Hiển mật, Đà La Ni
nhiệm mầu.
Công của Thầy như
thế, Đức của Thầy như thế, cũng
ngổ rằng cái gót tuỳ duyên chưa vội trở,
bánh xe cửa trụ hăy c̣n ngừng.
Nào hay một sớm
đầu Thu, đường Huyền vội tách,
chiếm cặp hữu t́nh c̣n lại đó, con thuyền vô
để dạt về đâu?
Phải chăng Thầy
đang vui chơi miền Đâu Suất Thiên cung? Hay đang
dự Liên Tŕ Pháp Hội?
Có lẽ nơi đó có
nhạc trời hầu hạ, có ngọc các kinh lâu. có
giọng Phạm Âm thuyết pháp thâm trầm, có ánh Hào quang
im trong hiền diệu.
Ôi! Văn biết ḍng
đời là huyễn hoá, kiếp phù sinh sương gá
đầu cành!
Nhưng t́nh Sư đệ,
nghĩa Tông môn, trước cảnh Vô thường làm sao
không chạnh ḷng chua xót?
- Có những lúc trăng mở
đối bóng, bóng dáng ai thoang thoang dưới sân chùa.
- Tưởng là thầy đă
trở laịa với chúng con, câu chuyện ra đi chỉ
là mộng mi.
Nhưng,
Đêm tàn
......
Trăng lặng......
Hư không chứ đâu
phải là Người!
Phải: “Đập cổ kính ra
t́m lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi”.
-Phận chúng con như đàn chim lạc mẹ, biết
nhờ ai sớm dắt tối d́u.
- Số Tông Môn như
chiếc bách giữa ḍng, biết cậy ai chỉ
đường dẫn lối.
Ôi thôi!
Đau xót nhẻ, lờ nào nói hết?
Quặn
cả ḷng bút mực nào ghi?
Xin
th́: Bảo sơn
Đường uy dũng
Phước Sơn Đường liệt hùng
Gậy thét vang sôn núi
Un đúc một vương tùng.
Nay th́!
Toàn thể Hiếu đồ
trước Giác Linh tưởng niệm. Hương
ngũ phần ba cây, nước bát công một chén, cơm
rau lễ bạc nhưng chan chứa thâm t́nh.
Ngưỡng mong Giác Linh
Thầy thuỳ chứng giám.
Hoà
Kỷ niệm ngày Tiểu Tường
Ngày 12 tháng 7
năm Tân Dậu
HIẾU ĐỒ.
(1) Di Lặc Bồ Tát
(2) Chết chưa đúng
số
(1) Cát Sông Hằng
(2) Chết chém tử h́nh
(3) Thâu Phục, nắm
lấy, thây lấy. Cũng gọi là nhiếp thọ
(4) Sát, đạo, dâm,
vọng
(1) Man: Tràng hoa
(1) Tân: Củi
(2) Hạt cải
(3) Tro sạch
(4) Ngăn giữ
(1) Giản: động kinh
(1) Hắc lào
(2) Vỏ cây hoa
(3) Lập đàn
(1) Nửa cánh tay trước
(2) Tác Bạch Nha Tượng
xuất tướng
(3) Tướng hung bạo
cười to
(1) Cựa quậy
(1) Nhơn Chi
(2) Diện thứ 11
(1) Trên đảnh
tượng mặt từ bi
(1) Không có nguyên nhân, duyên
cớ
(*) Chư Sư ở Ấn
Độ nói rằng các nước ở Ấn Độ
đều tôn xưng Thần Chú này là như ư Thần Châu
v́ sở cầu được xứng tâm toại ư,
đọc tụng th́ có sự linh nghiệm
(1) Caitya: Tháp nhiều
từng
(1) Cơ quan sinh dục
(2) Yếu hầu, cổ
họng
(3) Các thứ loại lác
(1) An lạc sung sướng
(2) Bốn đẳng cấp
của xă hội Ấn độ bấy giờ là Bà La Môn
(Brahmana), Sát-đế-lợi (Ksatyra), Phệ-xá (vaisya),
Thủ-đà-la (soudra)
(3) Ôm lấy tướng
(4) Tu theo Pháp Môn mà ḿnh đă
thích
(1) tin hay chê
(1) chết v́ bị
thương
(1) A Di Đà Phật
(1) hạt cải trắng
(2) cọc nhọn để
ếm là một khúc cây ở trên núi được
chuốc nhọn một đầu
(1) lá lốt
(1) dầu
(2) tim đèn
(3) chủ nhà, chủ ấp
(1) không ăn
(2) Bất Không Diệu Trí
Thượng Thủ Trang Nghiêm Đại Tam Ma Địa
(1) c̣n gọi là nước Ma
Kiệt Đà
(2) che chở