Lama Yeshe
CON ĐƯỜNG THANH TẨY
theo MẬT TÔNG

Vô Huệ Nguyên trích dịch
Mục
lục
1.
Thanh tẩy, con
đường song song với thiền
định
2.
Qui y
3.
Nội qui y và
thiền định trong tính không
4.
Phần chính
của phương pháp tu tập
5.
Sự thanh tẩy
6.
Kết thúc
sự thực tập
Phụ
Lục
Tu Tâm
THANH TẨY
CON ĐƯỜNG
SONG SONG VỚI THIỀN ĐỊNH
Trong lễ điểm đạo,
vị thầy thường kêu gọi
những nguồn lực tâm linh,
những nguồn đại lạc và
trí tuệ trong vũ trụ, được thị
hiện như những vị thần linh, trong
trường hợp này là Heruka
Vajrasattva ( Ngài Kim Cang Tát Đỏa ).
Nguồn năng lực này kích
động nguồn năng lực sẵn
tiềm ẩn trong hệ thống thần kinh
của người học trò, bây
giờ được đánh thức
dậy và bắt đầu rung động.
Nếu học trò đã sẵn có
một tâm từ bi và một tâm
rỗng lặng, cùng tụng niệm những
câu mật chú của Vajrasattva thì
người học trò sẽ nhận
lãnh và nuôi dưỡng
được những rung động
từ vị thầy. Rồi nếu, qua thời gian tu tập,
người học trò phát triển
tâm thanh tịnh, xa lánh những dòng
đời mờ tối, những
lối sống không tỉnh thức, thì
sự an lạc nội tâm sẽ từ
từ khởi phát một cách
tự nhiên.
Nhưng,
một lời cảnh cáo cho những
bậc thức giả, những
người chỉ muốn nghiên cứu
mật tông để thoả mãn trí
thông minh, nếu qúy vị chỉ tự
đọc những lời dạy bảo
của mật tông mà không lãnh
nhận một sự điểm đạo,
quán đảnh nào thì sẽ chẳng
được ích lợi gì. Chỉ
khi nào qúy vị được
hướng dẫn bởi một vị
chân tu đầy kinh nghiệm tâm linh thì
qúy vị mới có thể
bước vào lãnh vực này
mà không cần một sự thông minh,
không cần một định thức suy
tưởng nào, để hòa nhập vào
con đường chân hạnh phúc, con
đường an nhiên tự tại.
Tôi không muốn huyền bí hóa hay
độc đoán trong vấn đề
này, nói một cách rất thành
thực là nếu qúy vị nghĩ
như thế nào thì qúy vị chỉ
có thể hiểu được như
vậy, qúy vị hãy tự kinh nghiệm
lấy! Phương pháp tu tập Hòa Nhập
của Mật Tông (Tantric Yoga - Mật tông Du
gìa) không đến từ sự
đọc một vài cuốn sách,
đọc sách chỉ cho chúng ta một
sự hiểu biết rỗng tuếch, như
một bệnh nhân uống lại cùng một
thứ thuốc mà họ nghĩ rằng
căn bệnh này cũng giống như
căn bệnh cũ.
Phương
pháp Heruka Vajrasattva Yoga (hòa nhập vào Kim
Cang Tát Đỏa) chỉ được
thực hành khi đã được
dạy bảo và được điểm
đạo bởi một vị thầy kim cang.
Vì thế những lời dạy bảo
viết ra ở đây là một cơ
hội vô cùng tốt đẹp cho chúng
ta đọc trước khi thật sự
đi vào con đường này.
Nếu không hiểu như vậy thì
những lời trình bày ở
đây chỉ là những lời
khô cằn không có một chút
lợi ích gì.
Dharmavajra,
một vị đại hành gỉa Tây
Tạng, nhận xét rằng trong truyền
thống Gelug của Phật giáo Tây Tạng
phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga là một
phương pháp tối thượng và
độc đáo. Theo phương pháp này
chúng ta có thể đạt giác ngộ
ngay trong đời hiện tại, như
trường hợp của Lạt ma Tsong Khapa
chỉ có ba năm. Dĩ nhiên, lời
dạy bảo tối thượng này
đã không được phổ
biến thành sách vở nhưng nó
vẫn tồn tại trong tâm của những
vị hành giả mật tông. Phật
pháp chỉ được truyền
từ tâm qua tâm giữa thầy
và trò. Một số người tin
rằng phương pháp này hiện nay
vẫn được truyền dạy trong
tông phái Gelug ở Tây Tạng.
Theo
truyền thống thì tất cả những
vị hành gỉa Tây Tạng đều mong
muốn biến chuyển phương pháp Heruka
Vajrasattva thành kinh nghiệm sống thực trong đời
sống hằng ngày. Trước khi
chúng ta thực sự thực hành,
phát triển và hoàn thành con
đường tu tập, chúng ta cần
phải thanh tẩy thân khẩu và ý qua
phương pháp tối thượng này.
Sau khi lãnh nhận sự điểm
đạo, chúng ta bước chân
vào sự tu tập bằng cách tụng
niệm hàng ngày bách tự mật
chú Vajrasattva thì con đường tu
tập của chúng ta sẽ có kết
qủa hơn. Nếu chúng ta chỉ để
hết tâm trí vào việc thiền
định và mong cầu giác ngộ
mà không lo thanh tẩy những thói
quen, nghiệp chướng của thân khẩu
và ý thì ta sẽ chẳng đạt
được một kết qủa nào,
vì trong tâm ta vẫn còn qúa nhiều
vướng víu chướng ngại.
Do
đó, ta nên bước từng
bước một trên con
đường thiền định bằng
cách thanh lọc cả thân và tâm. Ngay
cả khi ta đang áp dụng phương
pháp thiền quán là cố gắng
tập trung vào một điểm (nhất
tâm) mà không lo thanh tẩy
trước thì đây cũng là
một nguyên nhân làm ta chán nản
và sẽ không còn chút hy vọng tiến
triển nào. Vì ta không nhận ra
được những chướng
ngại đã tồn tại lâu
đời trong thân khẩu và ý
của ta.
Một
số người khi bước chân
vào con đường thiền
định đã bị hướng
dẫn sai lầm, họ cố gắng thu thập
kinh nghiệm về không tánh bằng
cách từ bỏ, buông bỏ, vất
bỏ những hiện tượng hiện
có, những gía trị hiện có
vì họ cho rằng không tánh là
một gía trị nào đó của
cái không có gì, của cái
không là gì. Nếu ta thực sự
muốn kinh nghiệm không tánh, ví dụ
theo lối Madhyamaka (Trung Đạo) hoặc
trường phái Zen (Thiền) trong Phật giáo, thì ta
cũng vẫn cần phải dùng cả hai:
phương pháp và trí tuệ. Rất
nhiều người mong muốn đạt
giác ngộ ngay nhưng chẳng ai muốn
dùng phương tiện để đi, họ
giống như những con chim đang bay bằng
đôi cánh gẫy.
Khi
nào ta gặp phải những
chướng ngại trong lúc thực
tập, đừng thất vọng,
đừng nản chí. Thay vì chán
nản, ta nên hiểu rằng ta cần phải
thanh lọc con người ta và tập trung
nhiều hơn vào phương pháp tu tập
thay vì chỉ mong muốn đạt giác
ngộ. Dần dần ta sẽ tiến bộ
hơn trên con đường ta đang
tìm kiếm.
Tại Sao Cần Thanh
Tẩy ?
Thanh Tẩy Như
Thế nào ?
Bài học này có là do
lời yêu cầu của qúy vị,
chứ không phải tự nhiên tôi
kêu gọi qúy vị đến đây;
trên con đường tu tập từng
bước một đến giác ngộ, ta
cần phải hiểu sức mạnh của
tâm và sự tạo ra những
hành động tốt xấu của nó
như thế nào. Theo kinh nghiệm, khi quan sát
đời sống ta sẽ nhìn thấy
những hành động tự nhiên
của thân khẩu và ý. Như vậy,
với sự thúc đẩy của
lương tri, chúng ta đã yêu cầu
có bài học này để có
thể thanh tẩy những nghiệp lực
xấu đang hiện có trong chúng ta.
Cái
lối yêu cầu có bài học này
của qúy vị rất là hay. Đặt
trên căn bản hiểu biết của
qúy vị về đặc tính của
một cái tâm xấu thì sự
yêu cầu này không thể đến
từ sự vô minh hay từ một
cảm hứng nào. Vì điểm
tốt lành và sự thông minh
đó mà qúy vị có thể
thực hành phương pháp thiền
này để phá vỡ hoàn
toàn những năng lực xấu
đã tồn trữ trong con
người của qúy vị, tôi
có cảm tưởng là bài học
này sẽ đem đến cho qúy vị
những ơn ích vĩ đại.
Trước
hết, chúng ta phải nhìn nhận chúng
ta rất là may mắn khi chúng ta biết
chắc chắn rằng tất cả những
nghiệp lực xấu đều khởi
phát từ tâm vô minh. Hầu như
tất cả mọi người đều
không ý thức và không hiểu
nghiệp được tạo ra như thế
nào, cũng không hiểu thế nào là
sự khác biệt giữa một hành
động xấu và một hành
động tốt và những hậu
quả hạnh phúc hay đau khổ mà
nó đem lại. Qúy vị đã
biết tất cả những điều
này, đó là lý do tại sao
qúy vị là những người
may mắn. Ngay cả những người
đã khám phá ra điều này,
cũng rất khó mà tìm ra
được một phương pháp để
tẩy rửa hoàn toàn nghiêïp
lực hầu thoát ra khỏi vòng
cương tỏa của luật nhân quả.
Điều này không phải dễ, nó
cần một thời gian rất dài.
Thật là may mắn cho chúng ta khi biết
được một phương pháp
tuyệt hảo để thanh tẩy toàn
diện thân và tâm.
Càng
may mắn hơn nữa vì chúng ta
sẽ có được một phương
tiện tối thiện xảo của mật tông.
Được phương tiện này vô
cùng khó. Tại sao khó? Vì như
những người Tây phương
lần đầu tiên tiếp xúc
với Phật giáo họ không hiểu
mục đích của sự quỳ lạy
nên đã thốt ra câu: “ Tại sao
phải quỳ lạy? Xin lỗi, không phải
cho tôi !” Quỳ lạy là một
điều quá ư là đơn giản,
quá dễ hiểu! Phương pháp này
vô cùng sâu thẳm và đầy
sức mạnh để giúp chúng ta
thực hành công việc thanh tẩy
toàn thể con người chúng ta (quỳ lạy để
đối trị tính ngạo mạn, kiêu
ngạo, cái tôi -Dg).
Nói
một cách khác, khi chúng ta thiền
định theo phương pháp Lamrim từng
bước một ( Lamrim -con
đường tuần tự từng
bước một đưa đến
giải thoát và giác ngộ, còn
được gọi là Tiệm Tu -Dg) chúng ta thường gặp
rất nhiều chướng ngại. Chúng
ta không thể hiểu được tại
sao thiền định lại qúa khó
khăn. Tại sao khó kiểm soát tâm,
tại sao khó đạt giác ngộ, tại
sao tôi gặp qúa nhiều trở ngại
khi muốn làm
một vài điều tốt? Chỉ huy một
công việc trần gian thì sao qúa dễ
mà chỉ thiền một chút thôi
thì qúa khó?
Điều
này không có nghĩa là ta thiếu
vắng niềm an lạc. Nó chỉ có
nghĩa là từ vô lượng
kiếp ta đã tích tụ biết bao
nghiệp xấu qua thân khẩu và ý
đến nỗi bây giờ ta như
bị chìm lặn trong biển khổ. Nếu
những nghiệp chướng đó
được thị hiện ra bằng hình
tướng, ta sẽ thấy nó dầy
đặc cả không gian. Nếu ta không
có một chút trí tuệ nào hoặc
trí tuệ qúa yếu kém như một
ngọn đèn leo lét thì làm sao
có thể soi chiếu vào đêm
đen lồng lộng gío.
Ngọn
đèn trí tuệ qúa yếu
ớt đó không đủ
để soi đường dẫn lối,
không đủ để lôi kéo ta ra
khỏi biển trầm luân của nghiệp
lực. Vì thế, những năng
lực của những ý niệm sai
lầm, của ác tâm đã gây
trở ngại cho ta trên con
đường giải thoát và
giác ngộ rất nhiều. Do đó, ta
cần có một sức mạnh của
sự thực hành tẩy rửa,
bằng phương pháp Heruka Vajrasattva Yoga,
để có thể phá hủy tận
gốc rễ những nguồn năng
lượng vô minh và những
hành động xấu của thân khẩu
và ý.
Phương
pháp Heruka Vajrasattva Yoga có một nguồn
năng lực vô biên để thanh
lọc tất cả những nghiệp lực
xấu, đó là những
chướng ngại chính trên con
đường tu tập. Những nguồn
năng lực không trong sạch đã
ảnh hưởng và để lại
những dấu ấn đau khổ trên
thân xác và tâm hồn chúng ta.
Một cách triết lý hơn, chúng ta có
thể nói rằng những nghiệp
lực này chẳng phải ở bên
trong (nội tâm) cũng chẳng phải
từ bên ngoài (ngoại cảnh). Nếu
chúng ta muốn nghiên cứu thêm,
chúng ta có thể trở lại vấn
đề này trong một dịp khác.
Lý do mà tôi muốn nêu nó ra
đây là vì khi tôi đề cập
đến điều xấu, điều
tiêu cực, tôi có ý nói
nó khác với lối hiểu biết
thông thường của phần
đông những người Tây
phương thường nghĩ nó là
những cảm xúc, nhưng thực ra
nó có một ý nghĩa sâu xa hơn,
một tầm mức rộng lớn hơn
nhiều.
Hãy
lấy một ví dụ về thể xác
của chúng ta, lần đầu tiên
người ta đến với
những lớp thiền, họ có
một trở ngại rất lớn trong
vấn đề ngồi thiền, vì hệ
thần kinh kéo nguồn năng lượng
xuống chỗ tận cùng của xương
sống. Sở dĩ chúng tôi khuyên
nên ngồi bắt chéo chân và
thẳng lưng là vì khi chúng ta ngồi
thẳng lưng thì những nguồn năng
lượng tâm linh trôi chảy dễ
hơn nên chúng ta dễ dàng kiểm
soát được tâm của chúng
ta. Tuy nhiên, sự thay đổi trong hệ
thần kinh làm chúng ta có cảm
tưởng rằng nguồn năng
lượng tâm linh tuôn chảy từ
luân xa đỉnh đầu (luân xa 7)
xuống luân xa địa đại (luân xa
1). Điều này làm cho một số
người lầm tưởng họ bị
hụt hẫng, bị mất kiểm soát.
Những người mới học
không những chỉ gặp khó khăn
trong cách ngồi mà còn gặp
trở ngại trong vấn đề tập trung
tư tưởng lâu dài để nghe
những bài học mới. Đây
là điều vô cùng khó khăn.
Những khó khăn của thể xác
và tâm hồn thực sự làm
những người này thắc
mắc và ngạc nhiên tại sao họ lại
phải ngồi ở đây trên
trái đất.
Cái
áp lực ở luân xa địa
đại là do nguồn năng lực
âm của cơ thể, chúng xuất
phát từ những tâm ý
xấu. Trong truyền thống Đại
thừa Phật giáo, chúng tôi
không để ý nhiều đến
sự phản ứng của cơ thể
mà chúng tôi chú ý nhiều
hơn đến những nguyên nhân
của vấn đề, của vô minh, của
nghiệp.
Trên
con đường thiền định
từng bước một đi đến
giải thoát, một khi ta không thể
ngồi thiền - vì quá nhiều trở
ngại - ta hãy nhớ rằng ta có
một phương pháp tuyệt diệu
để hóa giải những
chướng ngại này, đó là
phương pháp tẩy lọc thân tâm.
Theo kinh nghiệm của các vị Lạt ma Tây
tạng, con đường thiền
định phải đi đôi với
việc thanh tẩy, như phương pháp Heruka
Vajrasattva Yoga. Thực tập hai việc cùng
một lúc sẽ giúp ta đạt
được kết quả mong muốn
mà không một chút ngăn ngại
nào.
Nhưng
cũng đừng hy vọng một
điều không thực tế: “
Ngày hôm nay tôi xấu, tối nay tôi
thiền là ngày mai tôi sẽ hoàn
toàn trong sạch.”
Chúng ta không thể thanh lọc nội trong
một đêm. Đây không chỉ
là một điều hy vọng sai mà
chính sự mong cầu này đã
trở nên một chướng ngại!
Một điều quan trọng là trong khi tu
tập chúng ta không nên chờ
đợi bất cứ một
điều gì ( càng mong
cầu càng gặp ma chướng - Dg) Hãy nghỉ ngơi, hãy
nới lỏng, hãy cởi mở,
hãy buông thả, hãy thoải mái !
Hãy luôn luôn nghĩ tới
điều này là chúng ta nên
cố gắng, cố gắng và cố
gắng. Nếu chúng ta làm
được như vậy, chắc chắn
kết quả tốt sẽ đến mặc
dù chúng ta mong cầu hay chẳng mong
cầu. Chúng ta không nên tiếp tục
hỏi hoặc yêu cầu vị thầy cho
một điều tiên đoán: “
Nếu con kiểm soát được
thân khẩu ý, không làm những
điều xấu mà chỉ làm
những điều tốt thì con có
đạt được kết quả ngay
không ?” Có rất nhiều
người đã đặt ra vấn
đề này. Tại sao? Vì họ không
hiểu một chút gì về nghiệp ! Nếu
lúc nào ta cũng hành động
khôn ngoan, luôn luôn thực hiện
điều tốt lành thì cần gì
phải hỏi, phải không quý vị?
Chỉ
nên nghĩ : “ Từ bây giờ
đến lúc chết, dù có giác
ngộ hay không, tôi luôn luôn thực
hiện những điều tốt lành
mà tôi có thể thực hiện
được, tôi sẽ cố gắng
sống hữu ích cho chính tôi và
cho những người khác.”
Chúng ta còn hy vọng gì nữa?
Chỉ mong muốn và thực hiện một
điều đó thôi cũng đạt
đạo rồi còn đòi hỏi chi:
“ Nếu thiền định một tháng,
tôi sẽ trở thành Heruka Vajrasattva.”
Điều này chỉ thêm ràng buộc
mà thôi.
Mặc
dù trong cuộc sống chúng ta sẽ tạo
thêm rất nhiều nghiệp mới nhưng
niềm an lạc lúc lâm chung sẽ bảo
đảm chúng ta không phải tái sinh
vào một kiếp thấp hơn kiếp
hiện tại. Chắc chắn chúng ta sẽ
nhận được sự bảo
đảm này nếu chúng ta cố
gắng tu tập và thanh lọc những
nghiệp xấu đã làm. Không
phải như những lời bảo
đảm của trần gian, đây là
sự bảo đảm của tâm linh.
Trên đời này, mọi sự
việc luôn luôn đổi thay, chúng ta
không thể tin vào nhữngï
đổi thay đó, chỉ là một
mớ giấy! Sự bảo đảm
của nội tâm cho chúng ta một sự an
bình thật và trong lúc chết chúng
ta sẽ kiểm soát được thân
tâm để không bị ảnh
hưởng xấu của tham sân si lôi
kéo.
Để
có được kết qủa tốt
trong thiền định, điều quan trọng
là chúng ta hãy thực tập ngay
phương pháp thanh tẩy Heruka Vajrasatta Yoga.
Tất cả các vị Lạt ma đều
nhận định rằng đây là
một phương pháp tuyệt diệu
để tiêu trừ các chướng
ngại và những dấu ấn khổ
đau mà nghiệp đã mang lại.
Trong
khi những phương pháp Vajrasattva khác
chỉ chú trọng vào việc thanh tẩy
thân xác, thì phương pháp Heruka
Vajrasattva Yoga lại đặc biệt chú trọng
đến việc thanh tẩy tâm linh.
Đó là tất cả sức mạnh
của nó !
Bốn sức mạnh đối nghịch
Diệu
pháp Heruka Vajrasattva được chia làm 3
phần: qui y, phát tâm bồ đề
và thực hành phương pháp Heruka
Vajrasattva. Tại sao phải qui y và phát tâm
bồ đề trong diệu pháp thanh tẩy
này ? Bởi vì, ngay cả trong lúc
liên hệ với những đối
tượng thánh thiện, như qui y Tam
Bảo, cũng như với chúng sinh,
thì những hành động xấu
vẫn luôn luôn được tạo ra.
Chúng
ta có thể kiểm chứng sự
thật này ở ngay chính chúng ta.
Hầu như tất cả những rắc
rối trong đời đều
đến từ những người
chung quanh chúng ta, không phải từ
cục đá, cục gạch hoặc cây
cối và hầu như tất cả
những rắc rối thông
thường đều bắt nguồn
từ những người thân
cận. Sự liên hệ càng gần
thì ảnh hưởng tình cảm
càng phức tạp. Ví dụ, nếu
chúng ta tránh xa dầu nhớt thì
không sao, nhưng nếu chúng ta đến
gần, đụng chạm vào nó thì
chắc chắn sẽ dính đầy người
và khó tẩy rửa sạch. Cũng
giống như vậy, chơi dao có ngày
đứt tay, gần mực thì đen
gần đèn thì sáng; gần
người nào thì dễ bị ảnh
hưởng bởi người
đó.
Một
ví dụ khác, chính chúng ta, chủ
nhân một hành động, cũng bị ảnh
hưởng bởi tâm xấu của
chính mình, rồi đôi khi cũng
muốn ảnh hưởng điều
đó trên người khác; như
khi giết người, ta đi kiếm một
người khác để giết; khi
ăn cắp, chúng ta đi ăn cắp
của người khác; khi nói dối,
chúng ta nói dối một người
khác. Dĩ nhiên, sự vô minh,
sự tham lam không bao giờ
được thỏa mãn, vì tâm
ích kỷ đang hiện diện ở
đó và những người
khác cũng đang hiện diện ở
đó. Trong trường hợp này,
nghiệp xấu của chúng ta gây ra cho
người nào tùy theo duyên nghiệp
của chúng ta với người
đó. Chúng ta thanh tẩy nghiệp
lực xấu đó bằng sự
phát nguyện tâm bồ đề.
Chúng
ta cũng tạo ra những hành động
xấu ngay cả với những
đối tượng thánh thiện.
Đôi khi, với một ác tâm,
chúng ta không ưa Phật, không thích
Bồ Tát, khinh thường ảnh
tượng, kinh sách và dèm pha, phỉ
báng sư tăng.
Có muôn ngàn lối để tạo ra
những kiểu ác nghiệp này,
chúng ta thanh lọc nó bằng cách qui y Phật,
Pháp và Tăng.
Để
phát nguyện bồ đề tâm,
chúng ta phải tập và nuôi
dưỡng lòng từ bi đến
muôn loài chúng sinh, không phân
biệt chủng tộc, tôn giáo, tín
ngưỡng hoặc một quốc gia nào.
Chúng ta phải vững mạnh, hăng say
trên đường tu tập cho chính
mình và khuyến khích những
người khác cùng làm theo.
Hãy thường xuyên có
những thái độ này để
cởi bỏ những nghiệp lực
xấu trong chúng ta.
Nhiều
khi chúng ta vững mạnh nhưng chúng ta
không kiểm soát được
những liên hệ nghiệp quả
với cha mẹ chúng ta. Họ rất
tốt với chúng ta nhưng chúng ta
luôn luôn đem lại sự buồn
đau cho họ. Chúng ta không thể dễ
dàng cắt đứt sợi giây
liên hệ với họ bằng cách
nói một câu từ giã đơn
sơ rồi cao bay xa chạy, để rồi
không bao giờ muốn nhìn lại họ
nữa. Điều đó không
đủ để tách rời chúng
ta với họ. Để chấm dứt
liên hệ nghiệp quả với họ, chúng
ta phải thanh tẩy nó bằng tình yêu
bao la dành cho họ là phát nguyện
tâm bồ đề tới họ trong
tâm của chúng ta. Tương tự như
vậy, chúng ta không thể xóa bỏ
nghiệp với người khác
bằng một lời từ biệt
để không bao giờ muốn gặp
lại. Sự liên hệ này phải
được chuyên cần thanh tẩy.
Điều
tốt đẹp nhất để thanh lọc
nghiệp lực xấu là dùng Bốn sức mạnh
đối trị nhau. Sức mạnh
đầu tiên là sức
mạnh của đối tượng,
đó là qui y và phát nguyện
tâm bồ đề. Phương pháp
mà tôi diễn tả ở đây
là: đối tượng qui y chính
là Heruka Vajrasattva, Ngài là sự
hợp nhất của qui y tam bảo: Phật, Pháp và
Tăng. Ngài cũng chính là vị
thầy, vị thầy tuyệt đối mà
chúng ta sẽ đề cập đến sau
này. Trí tuệ của Ngài hiểu
thấu được bản tính của
cả hai nguồn năng lượng tốt
và xấu. Ngài sẽ giải thoát
chúng ta nên chúng ta qui y Ngài.
Sức
mạnh thứ hai là sức
mạnh của sự buông xả.
Đôi khi còn gọi là sức
mạnh của lòng nuối tiếc, nhưng
từ ngữ này đôi khi làm
mất đi cái ý nghĩa sâu xa
của nó. Sức mạnh này phát ra
từ nội tâm, nó không phải
là một cảm xúc buồn đau hay
tội lỗi, mà là những dấu
ấn tác động lâu dài trên
những vấn đề của chúng ta,
những dấu ấn đó là
những nguyên nhân làm chúng ta
tích lũy thêm những khuynh
hướng xấu mỗi ngày. Hãy
tưởng tượng một
người vừa chợt khám
phá ra hắn nuốt phải thuốc
độc thì lập tức hắn muốn
uống thuốc giải độc ngay. Sức
mạnh của sự buông xả giúp
chúng ta thấu triệt được
những dư âm của từng hành
động không tỉnh thức của
chúng ta và ngay lúc đó chúng ta
ý thức được rằng
chúng ta đã tạo nghiệp nên
chúng ta muốn thanh lọc ngay.
Sức
mạnh thứ ba là sức
mạnh của sự điều trị
(chuyển hóa). Với sức mạnh
này chúng ta điều trị tất
cả những nghiệp lực xấu
đã tồn trữ trong chúng ta. Khi
thiền định, chúng ta chú tâm
vào một điểm duy nhất là Heruka
Vajrasattva - sự thị hiện của an lạc,
của siêu việt, của trí tuệ
được kết tụ trong vị thầy
của chúng ta - rồi chúng ta thực
hành phương pháp thanh tẩy cùng
tụng niệm những câu mật chú.
Về
sức mạnh thứ tư, tôi không biết
có một từ ngữ Anh ngữ
nào tương đương hay không,
đó là sức
mạnh của sự bền vững, không
thể phá hủy được, khi
nào chúng ta có được
sức mạnh này thì sẽ không bao
giờ, không bao giờ còn bị
ảnh hưởng bởi những
thói hư tật xấu nữa. Đó
là một lời nguyện, một
lời hứa, một sự quyết
tâm. Cùng một lúc với
sức mạnh này, chúng ta sẽ
không bao giờ tạo thêm nghiệp
xấu nữa. Mọi công việc coi như
hoàn tất. Đó là một
điều vững chắc và mãnh
liệt đến từ trí tuệ. Trong
mỗi người chúng ta có một
nguồn năng lực vi tế luôn luôn
bảo vệ chúng ta thoát khỏi
những tệ trạng xấu. Nói xa hơn
nữa, nó là một mãnh lực
ngược hẳn lại những thói
quen cũ của chúng ta, nó bảo vệ
chúng ta một cách tuyệt đối.
Dĩ nhiên, sức mạnh này cũng
tùy theo sự quyết tâm của
chúng ta, nếu là một quyết tâm
mãnh liệt, toàn triệt, nó sẽ
được bảo đảm hoàn
toàn.
Ví
dụ, khi chúng ta thực hành tám
điều tâm niệm của Đại
thừa mỗi ngày, thì ngay từ
buổi sáng vừa thức dâïy
chúng ta đã lập lại lời
nguyện hứa. Từ lúc đó,
chúng ta phải tỉnh thức và
nuôi dưỡng nó trong cả một
ngày. Nếu những lời nguyện
hứa chỉ được giữ trong
lúc tham dự lễ thì không
lợi ích gì cả, nó phải
được nuôi dưỡng trong
từng giây phút của đời
sống. Nếu không, khi buổi lễ
vừa tan là chúng ta lại bị rơi
ngay trở lại lối sống cũ, trở lại
với vô minh và sẽ chẳng
hiểu những công việc chúng ta
vừa làm.
Lời
nguyện hứa không được
đứt đoạn. Bất cứ
một hành động nhỏ nào cũng
có thể phá vỡ lời
nguyện trong tâm chúng ta. Cả một
đời chúng ta đã không
kiểm soát nguồn năng lực này.
Do đó, nếu mỗi sáng chúng ta
xác nhận lại sự tỉnh thức
này thì không có cách chi phá
hủy được những lời
nguyện của chúng ta. Trong chúng ta có
một thân vi tế, được tích
lũy những năng lượng
để bảo vệ chúng ta.
Nghiệp
Cũng theo đường
lối đó để hiểu luật
nhân quả. Khi chúng ta đã qui y thì
bổn phận chúng ta là phải nhận
định ngay ra nghiệp lực để
từ đó chúng ta có thể
ngăn ngừa những hành động
xấu và những cám dỗ của
chúng. Nhưng thường thường
chúng ta khó có thể làm
được như vậy. Chúng ta biết
rằng nếu chúng ta tiếp tục tạo ra
nghiệp thì chúng ta tiếp tục rơi
trở lại vòng luân hồi khổ
đau. Vì quan niệm như vậy nên
chúng ta không có một sự hiểu
biết sâu xa về bản tính của
nghiệp. Người nào hiểu thông
suốt gốc rễ của nghiệp lực
thì sẽ không bao giờ tạo thêm
nghiệp mà sẽ từ bỏ nó
một cách tự nhiên không nuối
tiếc. Cho tới khi nào chúng ta
còn để cho những ràng buộc
và lòng ích kỷ hướng dẫn
những hành động của chúng ta,
thì mặc dầu hiểu biết cặn kẽ
nghiệp, chúng ta cũng vẫn bị nó
lôi kéo và sẽ hành động
theo nó.
Tôi
hiểu người Tây phương rất
rõ. Họ thông minh, nhưng tâm của
họ qúa phân tán. Một mặt họ
muốn đạt đạo, một mặt họ
vẫn giữ nghiệp. Nói cách
khác, họ bị xúi dục, bị lôi
cuốn bởi những thói hư tật
xấu nên không có cách chi ngăn
ngừa được nghiệp quả.
Đấy là nguyên nhân của đau
khổ, của than khóc! Họ là những
người quá mẫn cảm. Khi tình
trạng khổ đau khởi phát ra,
năng lượng xấu sẽ bao trùm
năng lượng tốt vì họ
đã không thường xuyên
liên tục tạo cho họ một sức
mạnh tốt đẹp sâu xa, một sự
hiểu biết cốt tủy về nghiệp lực,
hay của luật nhân quả.
Có
thể có người nói: “ Oâi,
nghiệp chỉ là kinh nghiệm của
những người nào tin nó.
Người nào không tin, sẽ không
bị nó hành.”
Rất nhiều người Tây
phương đã tranh luận với
tôi về vấn đề này.
Đây là một quan niệm hoàn
toàn sai lầm. Luật nhân quả tác
đôïng trên tất cả mọi
người, dù tin hay không tin. Nếu
chúng ta liên tục làm một công
việc nào đó, chắc chắn
chúng ta sẽ có kinh nghiệm về kết
quả của nó, uống thuốc độc
thì sẽ bị đau - rất có thể
chúng ta nghĩ rằng đây cũng
là thuốc. Một khi chúng ta đã
tạo ra nghiệp thì chúng ta sẽ nhận
lãnh hậu quả, đó là lý do
tại sao chúng ta bị hết vấn
đề này đến vấn đề
khác trong đời sống.
Con
bò, con heo, con bọ cạp chẳng có một
ý niệm nào về nghịêp - không
tin chuyện gì cả- nhưng chúng vẫn
sống trong nghiệp quả của chúng.
Mỗi một hành động của chúng
được hướng dẫn
bởi tham sân si và mỗi một hành
động sẽ mang đến một nghiệp
quả khác nhau. Vì thế, chúng ta
không nên nghĩ rằng nghiệp chỉ
dành cho những Phật tử, cho những
Lạt ma. Nghiệp là luật tự nhiên
tác động trên tất cả mọi
hiện tượng - vật chất hay không
vật chất - ở trong vũ trụ.
Đây là một nguyên lý vô
cùng quan trọng mà bắt buộc chúng
ta phải hiểu.
Khi
tôi giảng dạy về nghiệp, tôi
không giải thích nó một cách
kỹ thuật như một vài cuốn sách
qúy vị tìm thấy ở Tây
Tạng. Tôi trình bày nó một
cách hết sức đơn giản
là qúy vị hãy theo dõi cái
chiều hướng mà tâm của
qúy vị đang hành động lúc
đó. Qúy vị có thể nhìn ra
một cách rất dễ dàng tâm
của qúy vị lên xuống như thế
nào, đặc biệt trong lúc thiền
định. Một khi chúng ta tỉnh thức
trong vấn đề này, chúng ta sẽ
dễ dàng hiểu được những
kinh nghiệm đến từ trong quá
khứ như thế nào, nghiệp quả y
hệt như vậy. Điều này thật
rõ ràng, không cần phải cầu
kỳ giải thích kiểu này hay kiểu
khác. Nói một cách đơn giản,
không kiểm soát thân khẩu và
ý thì nghiệp tự do diễn xuất!
Tự do hoành hành!
Vì
thế, dù tin hay không tin, nghiệp luôn
luôn ảnh hưởng trên chúng ta.
Đừng nghĩ rằng những
người Thiên Chúa giáo, Do
Thái giáo, Hồi giáo thì ở
ngoài vòng ảnh hưởng của
nghiệp và không cần để ý
đến nó. Điều đó
không đúng. Hãy lấy một ví
dụ, dân Do Thái và Ả Rập
đã tạo nghiệp cho nhau nên bây
giờ họ đang có những
vấn đề ở Trung Đông.
Những tên đồ tể không tin
rằng việc giết quá nhiều súc
vật sẽ ảnh hưởng đến
họ, tin hay không tin, họ đã gây
đau khổ quá nhiều cho chúng sinh
khác thì chắc chắn đau khổ
sẽ đến với họ.
Lần
đầu tiên chúng ta đến Kathmandu,
quý vị thưởng ngoạn phong cảnh
rất thoải mái. Rồi khi quý vị
lên tu viện Kopan, quý vị cảm thấy
rúng động. Quý vị thấy nó
quá dơ bẩn, không có một nhà
vệ sinh nào ở đây. Sự
rúng động của quý vị là
kết quả của sự bám víu
trước kia về một sự tiện nghi,
sạch sẽ. Đó là nghiệp
đấy! Nếu không bị ràng buộc
vào những kinh nghiệm tiện nghi
trước kia thì quý vị sẽ
không bị rúng động vì những
sự kiện dơ bẩn xẩy ra ở chung
quanh. Vì thế, chúng ta có thể
hiểu nghiệp và những hậu quả
của nó một cách rõ ràng
nếu chúng ta biết phân tích
những kinh nghiệm của chúng ta trong
đời sống hàng ngày.
Một
điều rất tốt là chúng ta
nên phát triển tâm tỉnh thức
trên tất cả mọi hành động
của chúng ta hơn là cứ
để bị ám ảnh về phương
pháp thiền, đây là thiền
chỉ hay thiền quán như một số
người đã bị. Nếu
tình trạng này xẩy ra, chúng ta hãy
thoát khỏi tình trạng này bằng
cách nghĩ rằng thiền chỉ là
một phương pháp thực hành
Phật Pháp còn tất cả những
hành động khác như ăn uống, nói
chuyện, ngủ nghỉ... toàn là những
hành động của luân hồi.
Điều
tôi muốn đề cập đến
là có rất nhiều phương pháp
thiền.Thiền quán không phải là
một phương pháp duy nhất để
thiền. Trí tuệ có thể đạt
được bởi bất cứ phương
cách thiền nào, trên bất cứ
hiện tượng nào trong vũ trụ.
Như vậy, chúng ta không phải chỉ
có một phương pháp ngồi thiền
bằng cách bắt chéo chân, cảnh
giác nghiệp lực hàng ngày cũng
là thiền và có thể nói
rằng đấy là một phương cách
rất tốt để phát huy trí tuệ.
Bằng cách này, toàn thể cuộc
đời của chúng ta sẽ
được dùng để dẫn
đưa chúng ta đến gần sự
hiểu biết về vô ngã.
Khi
hiểu được bản tính của
nghiệp, chúng ta sẽ tự ý
thức được tất cả
những công việc chúng ta đang
làm. Vì thế chúng ta có thể
thiền ở bất cứ nơi nào.
Như chúng ta đã biết, nếu
chúng ta không tỉnh thức trong tất
cả những hành động của
thân khẩu và ý thì chúng ta
sẽ tạo ra hết nghiệp này đến
nghiệp khác và chúng ta sẽ nhận
lãnh qủa báo đau khổ mà không
thể trốn thoát. Chính điều
này làm chúng ta luôn luôn tỉnh
thức trong lúc nói chuyện, trong khi
ở tiệm ăn, khi làm việc, ngay cả
khi đang đi chợ.
Thông
thường chúng ta nghĩ cái tâm
nhị nguyên không thể dùng làm
đối tượng cho việc thiền
định -- tâm nhị nguyên là tâm
phân biệt của chúng ta dùng
để diễn dịch những sinh hoạt thường
ngày, như
đời sống luân hồi,
sự bất mãn, sự đau khổ
và những việc ngoài ý muốn
-- Đó là ý nghĩ vô cùng
sai lầm. Phật giáo Đại thừa
dạy rằng nếu những cảm giác
của thân xác như cảm xúc có
thể dùng để phát triển trí
tuệ, thì bất cứ những
hình thức kinh nghiệm khác cũng
có thể dùng được, nếm
thức ăn cũng có thể dùng
để phát triển trí tuệ.
Một
số người cho rằng quán
tưởng không thể dùng trong lúc
thiền định vì chúng là
những phóng chiếu của trí
óc, theo dõi hơi thở hay những
cảm giác thì thực tế hơn
và có thể dùng được.
Đối với Phật thì cảm
xúc, cảm giác hay quán tưởng
cũng đều là huyễn ảo!
Những cảm giác của thân xác
thì không thường hằng, chúng
thay đổi từng giây phút, vì
tâm biến chuyển không ngừng nghỉ.
Những cảm giác của thân và của
tâm, nhất là của ác tâm đều
là những hình ảnh phóng
chiếu của vô minh. Tâm nhị nguyên,
cái tâm phân biệt của chúng ta
tự động phóng chiếu ra hai hình
ảnh cho bất cứ một cái gì mà chúng ta kinh qua.
Thường
thường một người mới
thực hành thiền theo phương pháp
thiền quán đều coi những cảm
giác của thân xác là thực.
Nhưng không sao, bất cứ những
gì họ dùng (nội cảnh hay ngọai
cảnh) trong việc thiền đều xuất hiện
như là những sản phẩm của
tưởng tượng và đều
có liên hệ đến tâm. Nói
một cách căn bản hơn, không có
gì khác biệt giữa nội và
ngọai của một hiện tượng:
chúng có thể thật mà cũng
có thể không thật. Cho đến khi
nào chúng ta chưa có một tâm
rỗng lặng, không phân biệt - tánh
không - thì
bất cứ cái gì chúng ta kinh
nghiệm về thể chất hay tinh thần
cũng đều là huyễn ảo,
cũng đều là những quan niệm
sai lầm.
Thực
ra, vấn đề vị giác ở
lưỡi cũng là một cảm giác
của thân xác, truyền thống
đại thừa thực hành thiền
trên tất cả mọi trạng huống,
mọi sinh hoạt. Thiền mật tông dạy chúng
ta rằng trước khi ăn, chúng ta
nên cúng dường và độ
sinh cho thức ăn. Trong khi ăn, chúng ta nên
ăn thật thoải mái và ý
thức từng động tác, luôn
luôn nhớ rằng chúng ta có
liên hệ với thức ăn mà
chúng ta đang ăn, không nên ăn
vì ham muốn, thèm khát như chúng ta
thường làm. Bất cứ
sự kiện nào cũng là một
đề tài để phát triển
trí tuệ. Tụng niệm mật chú cũng
giúp chúng ta rất nhiều trong vấn
đề thực hành thiền. Chúng
giúp ta dễ dàng tập trung, do đó
không bị phân tán bởi
những lôi kéo khác. Tuy nhiên,
việc tụng niệm không hẳn phải
đọc ra bằng lời. Mật chú
là những âm thanh xuất hiện ra
ở bên trong hệ thần kinh của
chúng ta, vì thế trước khi sinh ra,
chúng ta có thể nghe nếu chúng ta
biết lắng nghe. Mật chú không phải
là những gì chúng ta nhận
được từ vị Lạt ma,
tất cả đều đột khởi,
tự khởi phát. Nếu không
có những rung động tự nhiên
ở bên trong hệ thần kinh, chúng ta
đều điếc hết - mỗi loại
năng lượng có một âm thanh
riêng biệt. Đây không phải là
tín điều tôn giáo mà là
khám phá của khoa học. Chúng ta
không thể từ bỏ những âm
thanh tự nhiên trong hệ thần kinh của
chúng ta. Hãy thử bỏ cái
đầu đi xem nào!
Tuy
nhiên, đây là những kinh nghiệm
không vững chắc lắm của rất
nhiều Lạt ma, những đối
tượng tạm thời của ngũ quan
cho ta nhiều chướng ngại hơn là
giúp ta trong thiền định. Nếu
chúng ta còn tiếp nhận sự vật
qua tâm và từ ngũ quan, thì
chúng ta vẫn không thể tập trung
vào một điểm theo đúng nghĩa
của nó. Chúng ta không phải là
một thiền chỉ gia cũng không phải
là một thiền quán gia. Hãy kiểm
soát xem điều này đúng hay
sai.
Vì
thế, ngớ ngẩn làm sao khi nghĩ
rằng ngồi đây, cố gắng đi
vào đại định mới là
đường lối duy nhất để
thực hành Phật pháp còn làm
bất cứ điều gì khác
trên cuộc đời này cũng
đều sai, đều không phải
Đạo pháp. Chúng ta nên cẩn
thận và hãy thường xuyên
ý thức những sinh hoạt trong
đời sống như ăn, uống,
ngủ, đi đứng, làm việc ...
bằng sự hiểu biết của trí
tuệ. Bất cứ khi nào chúng ta
gần những bậc thầy, những
tăng sĩ, cha mẹ, hay ngay cả những
lúc ở một mình, chúng ta cũng
phải ý thức được
nghiệp càng nhiều càng tốt. Thật
là sai lầm khi nghĩ rằng chúng ta
có thể trốn thoát được
nghiệp khi vào trong phòng khóa kín
cửa lại, để rồi làm bất
cứ cái gì chúng ta muốn.
Không thể chạy trốn được!
Dù ở một mình hay với
người khác, nghiệp qủa
đến một cách tự động,
xẩy ra một cách tự nhiên dù
muốn hay không muốn.
Nếu
chúng ta đã được dạy
một đường lối duy nhất
để thiền là hãy ngồi đó
và đừng nghĩ gì cả thì
chúng ta sẽ không còn thời
giờ để thực hành nó
nữa. Nghiệp cho biết rằng hầu
hết những người Tây
phương đều dùng cuộc
đời của họ để làm
việc hay để cho những sinh hoạt
bên ngòai. Do đó, họ không
có thì giờ để ngồi,
chúng ta nên hiểu rằng thực
hành Phật Pháp là một thực
hành lâu dài. Thiền không phải
là để tâm trống rỗng rồi đăm
đăm nhìn vào một chỗ. Khi
đã hiểu được cốt
tủy của Phật Pháp thì chúng ta
sẽ hiểu được có rất
nhiều việc cho chúng ta làm, có
rất nhiều việc để chúng ta
phát triển. Điều này giúp
chúng ta luôn luôn phấn khởi
trên đường tu tập, ngay cả khi
không thể tập trung tư tưởng
chúng ta vẫn có thể thực hành
Phật Pháp. Ở bất cứ
đâu, đi bất cứ chỗ
nào, với bất cứ ai hay với
bất cứ một thiền giả nào,
chúng ta đều có thể sống trong
Phật Pháp. Khả năng này đến
từ trí tuệ.
Không
có trí tuệ, làm sao ta có thể hòa
nhập trong Phật Pháp và có thể
giải thoát khỏi những ràng
buộc về ăn, ngủ và bài tiết
? Khi có trí tuệ, không cần phải
ở bên một vị thầy mới
nhận lãnh được những
lời dạy bảo, ta có thể học
hỏi từ tất cả những vật
chung quanh ta. Chúng ta có thể học
từ sự chuyển động của các
hành tinh, của sự thay đổi
thời tiết, sự lớn lên
và chết đi của cây cối, hay
của bất cứ một hiện
tượng nào. Điều này sẽ
thực sự xẩy ra khi chúng ta có
trí tuệ. Trí tuệ của ta sẽ cho ta biết
vị thầy thực của ta là ai,
đây là một điều rất
thực tế. Đó là điều
Phật Giáo Tây Tạng muốn dạy cho
chúng ta.
Hãy
dành trọn cuộc đời của
chúng ta để học hỏi và kinh
nghiệm Phật Pháp. Đó là
sức mạnh duy nhất mà chúng ta
có thể làm được. Đó
là con đường đi đến
giác ngộ trong một đời hiện
tại, vì thế chúng ta không nên
tiêu phí một phút nào trong cuộc
đời chúng ta. Đây là
một lý luận tuyệt vời. Nếu
chúng ta tin tưởng tuyệt đối
vào một ý niệm sai lầm là
dành một giờ trong ngày để
thiền, như vậy còn lại 23 giờ
kia sẽ là giờ của tối tăm,
của u mê, giờ của luân hồi,
thì chắc chắn chúng ta sẽ phải
cần vô số lượng thời gian
để giác ngộ. Tin vào cái gì
thì cái đó sẽ thành sự
thật, cho dù điều đó
đúng hay sai!
QUI Y
Chúng ta đã chia sẻ
với nhau tại sao chúng ta cần phải
thanh tẩy và thanh tẩy như thế nào.
Chúng ta cũng hiểu rất rõ là
chúng ta luôn tạo thêm những
nghiệp mới qua thân khẩu và
ý, bởi vì chúng ta chưa thấu
hiểu nguyên nhân nội tại, luật
của nghiệp lực.
Có
một sự khác biệt rất lớn giữa
sự hiểu biết thuần lý thuyết
và sự hiểu biết bằng kinh
nghiệm sống thực. Một số học
trò hiểu thấu đáo những
lời dạy bảo về nghiệp và tin
tưởng mãnh liệt rằng “Điều
đó rất đúng vì Lạt ma
của tôi đã nói như vậy!”
Nhưng họ không có một chút kinh
nghiệm sống nào, nên khi bị thử
thách họ đã thất bại. Họ
không có một phương pháp giải
quyết khi một vấn đề trầm
trọng xẩy ra. Họ rất thỏa mãn khi
nói về nghiệp, họ còn khuyên cha
mẹ và bạn bè họ: “Thôi, như
vậy đủ rồi ! ” nhưng họ
không thể làm được
những điều mà họ đã
nói vì họ chưa từng bao
giờ thực hành.
Tuy
nhiên, một số học trò khác
không hoàn toàn thỏa mãn
với những lý thuyết mà
họ đã học, ngược lại, họ thực tâm
muốn hiểu thấu vấn đề
bằng chính kinh nghiệm sống của họ.
Có thể họ đã không học
về nghiệp nhưng họ lại luôn luôn
tỉnh thức trong mọi hành động,
như vậy họ đã thực sự
nếm mùi vị của Phật Pháp, như
nếm mật ngọt bằng chính
lưỡi của họ. Khi sự khó
khăn xẩy đến, họ biết cách
đối phó, biết cách giải
quyết. Chúng ta phải hiểu thấu
vấn đề này. Thật là nguy
hiểm, nếu chúng ta chỉ bám víu,
ôm giữ, tích tụ Phật Pháp
mà không thực hành nó.
Điều này không giúp chúng ta
được chút gì trong cuộc
sống.
Rất
nhiều vị học giả, giáo sư,
từ Đông sang Tây, đã
giảng dạy về tất cả triết
lý nhà Phật, mà chưa hề
thực hành chút nào. Đặt
câu hỏi là họ trả lời ngay,
nhưng những câu trả lời
của họ giống như những
người hướng dẫn du lịch,
họ chuyên nghiệp như một cái máy.
Khi một người thực sự kinh
nghiệm Phật Pháp nói, lời nói
của họ tràn đầy sức mạnh
của ơn phước, của chuyển
hóa. Có thể họ cũng nói
cùng một vấn đề như
những vị học giả nhưng khi họ
diễn tả vấn đề là họ
truyền đạt đến tận con tim của
thính giả, làm con tim của
người nghe thực sự rung
động. Lời nói không có kinh
nghiệm giống như một cơn gió
thoảng qua tai.
Nếu
không hiểu luật nhân quả bằng
chính kinh nghiệm bản thân, thì ta
không thể tỉnh thức trong bất
cứ việc gì ta làm. Mặc dầu
những người này có thể
giảng dạy rất uyên bác cho hàng
ngàn thính giả, nhưng thính giả
không cảm thấy gì, không tin
được những lời thuyết
pháp, vì họ chưa thực sự
nếm được mật ngọt của
vấn đề. Họ đã không
thật sự sống với điều họ
tranh luận. Đây là một điều
đáng buồn. Khi được hỏi
một vấn đề thực tế của
nghiệp quả như thế nào, các vị
học giả chỉ có thể dẫn
chứng bằng những gì họ
đã đọc trong một vài cuốn
sách. Vì không có kinh nghiệm nên họ
không thể giải thích được
một cách rõ ràng: quan sát nghiệp
như thế nào, làm thế nào
để thực hành, cách chuyển
hóa một hành động xấu qua
tốt như thế nào? Có những
câu hỏi thực tế về nghiệp
đến từ bên ngoài sách
vở, nên những học giả này
không thể trả lời. Cuối cùng
họ chỉ nói cho qua chuyện: “ Anh không
thể hỏi như vậy, Phật Pháp không
có vấn đề đó.”
Thực sự vấn đề không
đơn giản như họ đã đọc
được trong sách vở.
Tôi
chắc chắn rằng phần đông
chúng ta đã hiểu rõ những
hành động xấu của thân khẩu
và ý là những chu kỳ tự
nhiên, mang đến cho đời những
đau khổ, những bối rối và
những xấu xa. Đây là sự
thật chúng ta không còn nghi ngờ
gì nữa. Qúy vị có thể
giải thích vấn đề này rõ
hơn tôi. Khi ngồi nghe cái giọng Anh
văn què quặt của tôi, qúy vị
tự nghĩ: “Cái ngôn ngữ
gì quái gở vậy? Nếu ông
ấy để tôi nói, tôi có
thể giải thích hay hơn.” Đó
là một sự thật. Nhưng tại sao chúng
ta không thể chấm dứt những
thói quen tật xấu của chúng ta?
Điều đó chứng minh hiểu
biết bằng lý thuyết thôi, không
đủ, cần phải có thực
hành.
Một
số phật tử tuy hiểu rất ít
về Phật Pháp, nhưng họ có một
trình độ tâm linh rất cao, vì
họ chú tâm chăm chỉ thực
hành Phật Pháp. Nhưng có rất
nhiều giáo sư, học gỉa uyên thâm
về lý thuyết nhà Phật, đã
từng đi thuyết pháp nhiều nơi
mà chẳng có một trình độ
tâm linh nào. Do đó, tôi khuyên
qúy vị nên vô cùng thận trọng
trong vấn đề này. Khi chỉ nói
về, chỉ bàn về những
lời dạy bảo thì nó chẳng
có ích lợi gì. Chúng ta cần
phải thực hành. Những lời
dạy bảo phải mang những rung động
của ơn phước, của chuyển
hóa trong từng kinh nghiệm cá nhân,
và phải có khả năng chuyển
những nguồn năng lực đó
đến người nghe.
Ở
Tây Tạng, trên con đường
dạy bảo những phương pháp tu
tập, những bậc thầy thường
không chú trọng dạy lý thuyết,
mà đặc biệt chỉ chú tâm
đến vấn đề thực hành
Phật Pháp. Ngay trong lúc thuyết giảng,
họ cũng để học trò thiền
định. Kết qủa là có một
số học trò đã chứng
nghiệm ngay trong lúc nghe giảng.
Thường thường một khóa
học là 20 ngày, sau 20 ngày học hỏi,
họ đã hiểu trọn vẹn vấn
đề từ đầu đến
cuối, tâm đầy tràn năng
lực, họ gấp gấp rời bỏ tu
viện, đi vào những hang động
trong núi thẳm để thiền
định trong cô liêu. Nói khác
đi, những vị học gỉa có
thể dạy chúng ta cả 20 năm mà
không gây được một rung
động nào trong trái tim của chúng
ta.
Tôi
cũng đã thấy một số học
trò Tây phương rất phấn
khởi trong phương pháp tu tập Lam-rim,
họ cũng muốn đi vào hang động
để thiền định trong cô liêu.
Tuy nhiên, tiếp tục kiên nhẫn tu tập
trong nhiều năm để thanh tẩy
những nghiệp chướng thì vẫn
tốt hơn là đi vào núi thẳm
để thiền định , vì sự
thúc đẩy của cảm xúc hay của
cảm hứng thì nhất thời
không bền lâu.
Vì
thế, khi qui y và phát tâm bồ đề,
chúng ta không nên để một
khoảng trống giữa chúng ta và
những công việc này. Nếu
chúng ta không hợp nhất với
những công việc này, chúng ta
sẽ không tẩy rửa được
những nghiệp của chúng ta, như
sự trình bày ở trên kia. Khi qui
y, chúng ta hãy trở nên làm
một với việc qui y. Khi phát nguyện
tâm bồ đề, chúng ta hãy trở
nên làm một với tâm bồ
đề. Không phải khi làm lễ qui y,
ngồi trên tấm nệm mà tâm lại
suy nghĩ những gì ở đâu
đâu. Hãy để tâm hoà
nhập với Phật Pháp mà chúng
ta đang thực hành. Điều này
tuy khó nhưng không phải là
không làm
được, điều này thực
sự cần thiết nếu chúng ta
thực tập để mang lại lợi ích
cho tâm hồn chúng ta và cho mọi
người.
Bởi
vì không những chỉ nghe mà còn
cố gắng thực hành, nên một
số rất đông những
người Tây phương đã
đạt được những thành
qủa tốt trên đường tìm
giác ngộ và họ đã có
những chứng nghiệm rất cao. Những
học trò này rất thành thực
và bén nhậy trong lúc nói chuyện
với Lạt ma Zopa và với cá
nhân tôi, tâm của họ thực
sự đã được cảm
hoá bởi những điều họ
nghe. Nếu trong lúc học hỏi,
người nói như cái máy
phát thanh, người nghe như bức
tường, thì làm sao có
được những ơn ích
này? Nói một cách sâu xa hơn, với
bản tính đa nghi của người
Tây phương, họ không dễ dàng chấp
nhận bất cứ điều gì cho
đến khi họ đã hoàn toàn hiểu
và thấm nhập những ơn ích
của lời dạy bảo. Tôi thích nghe
họ phát biểu: “ Thầy nói như
vậy, tôi không chấp nhận.”
Chúng tôi có cảm tưởng
rằng họ ái mộ ông thầy vì
lòng tin nhất thời hơn là
có sự hiểu biết sâu xa hầu
có đủ điều kiện để
nghe Pháp.
Qui y và phát
tâm bồ đề
Nguyện mãi mãi, Con
xin qui y Phật, Pháp, Tăng, Tăng sĩ trong
cả 3 truyền thừa, cùng chư Nam
Tiên và Nữ Tiên của mật
chú, những vị Anh Hùng, Chư Thiên,
Chư Bồ Tát và đăïc biệt
là Thầy con
“Thừa”
được phiên dịch từ
chữ Phạn yana, có nghĩa là “con
đường, cỗ xe, phương
tiện.” Theo nghĩa rộng thì đó
là một phương tiện để nâng
tâm thức của chúng ta lên một
cấp độ cao hơn. Thí dụ, nếu
chúng ta phát nguyện tâm bồ
đề và thực hành sáu
hạnh bồ tát, chắc chắn chúng ta
sẽ đạt giác ngộ. Cỗ xe
lớn, Đại thừa, đưa chúng
ta đi từ chỗ khởi đầu,
tâm bồ đề qua sáu hạnh và
từ thập địa bồ tát lên
đến giác ngộ. Nếu chúng ta
bắt đầu một cách thật hoàn
hảo và hành động đúng, chắc
chắn chiếc xe sẽ đưa chúng ta
đến chỗ mong muốn. Yana còn có
nghĩa là con đường: con
đường đi đúng sẽ
dẫn đến đúng chỗ. Nếu
vì vô minh, chúng ta chọn con
đường đi sai, chúng ta sẽ
đi lạc.
Ba
cỗ xe Phật giáo là hai cỗ thuộc
Tiểu thừa và một cỗ thuộc
Đại thừa. Chúng ta qui y Tăng trong
cả ba thừa. Mặc dù chúng ta
đang theo truyền thống Đại
thừa và đặc biệt hơn, trong
cái chiều hướng sâu thẳm
nhất của Mật tông, chúng ta cũng
không nên kiêu ngạo mà nghĩ
rằng “ Tôi thuộc Đại thừa,
tôi không cần qui y Tăng bên Tiểu
thừa.” Mặc dầu chư vị La
hán bên Tiểu thừa còn bám
víu vào sự giải thoát cho riêng
họ, nhưng họ cũng đã
vượt thoát khỏi ngã chấp để
chứng nghiệm tánh không và họ
cũng có khả năng hướng
dẫn chúng ta ra khỏi kiếp luân
hồi. Vì thế, chúng ta không nên
kỳ thị mà chúng ta nên qui y các
ngài.
Tiểu
thừa và Đại thừa không
phải là những phát minh của
các vị Lạt ma Tây Tạng. Hai truyền
thống Phật giáo này được
sáng lập bởi chính Đức
Phật và như vậy nó đã
tồn tại từ lâu đời
trước khi được truyền
vào Tây tạng. Có một số
người nghĩ rằng Đức
Phật chỉ truyền dạy bằng tiếng Pali
và cho rằng những bản kinh
được ghi chép bằng ngôn
ngữ khác là sai. Có những
người khác lại tin vào tiếng
Phạn (Sanskrit). Cả hai luận cứ này
đều sai lầm. Một khi Phật pháp
được truyền sang nước khác,
được thực hành bởi
các vị hành giả, thì nó
vẫn được giữ nguyên
vẹn lời dạy bảo, nhưng rồi
dần dần được làm cho
thích hợp với tâm hồn
dân địa phương, và vì
vấn đề truyền thông sao cho dễ
hiểu. Như vậy, có một sự
khác biệt lớn giữa xứ
tuyết Tây tạng và bình nguyên
nóng cháy Aán độ, do đó
chúng ta có thể hiểu được
sự thay đổi của Đạo Pháp
khi nó di chuyển từ chỗ này
đến chỗ khác.
Ngày
xưa, có một ông vua là môn
đệ của Đức Phật, một
đêm vua mơ thấy 18 người tranh
giành nhau một cuộn vải, ai cũng cố
gắng tranh phần thắng về mình. Sau
cùng, ai cũng chiếm được trọn
cuộn vải. Vua đến hỏi Phật về
ý nghĩa của giấc mơ đó.
Ngài giải thích rằng cuộn vải
tượng trưng cho những lời dạy
bảo của Ngài, sau khi Ngài qua
đời, mười tám
trường phái sẽ nắm giữ
theo sự hiểu biết riêng của họ
để giải thích giáo lý của
Ngài. Mỗi người nhận
được một cuộn vải có
nghĩa là mỗi một tông phái
sẽ nắm giữ một con
đường đúng riêng và
sẽ thực hành theo để đi
đến giải thoát. Như vậy, sự
thành lập mười tám tông
phái Tiểu thừa là do lời
tiên tri của Đức Phật.
Tông
phái Phật giáo nguyên thủy (Theravada)
là một trong 18 tông phái đó.
Một số tín đồ của Tiểu
thừa cảm thấy buồn khi
được gọi là “ tín
đồ Tiểu thừa” và yêu
cầu được gọi là Phật
giáo nguyên thủy -- điều này
vô lý, vì Phật giáo nguyên
thủy chỉ là một trong số 18 tông
phái kia, Thevada không nắm giữ tất
cả triết lý của Tiểu thừa,
nên không thể coi như bằng nhau
–Ngược lại, một số khác
lại tự đắc khi nghĩ mình
thuộc Phật giáo Đại thừa.
Sự phân biệt nhị nguyên này
phát khởi do tâm vô minh và
đi ngược hẳn lại sự an
bình nội tại của Phật Pháp.
Sự
khác biệt căn bản giữa Tiểu
thừa và Đại thừa nằm
ngay tại tâm của họ. Nguyên tắc
căn bản của Tiểu thừa là
chú trọng vào sự giải thoát
một mình họ, trong khi đó những
người theo Đại thừa quan
niệm đạt giác ngộ để giải
thoát tất cả muôn loài chúng
sinh. Một số người phân biệt
mặc áo màu vàng là Tiểu
thừa, áo màu đỏ là
Đại thừa, nhưng đó là
một sự sai lầm. Tất cả
những ai tu tập không vì sự
giác ngộ cho riêng mình mà cho muôn
loài chúng sinh thì là Đại
thừa, không phân biệt họ mặc áo
mầu gì. Nếu ai mặc áo đỏ
mà chỉ tu tập cho riêng họ, lo giải
thoát khỏi luân hồi sinh tử cho
riêng cá nhân họ thì đó chính
là môn đồ của Tiểu
thừa.
Chúng
ta qui y Tăng thuộc Đại thừa
cũng như Tiểu thừa, chư vị
thần tiên và chư vị bồ tát -
tất cả những vị này
đã chứng nghiệm và thành
tựu con đường cao nhất của
Mật tông. Có vị xuất hiện như
một vị thần từ bi, có
những vị xuất hiện dưới
dung mạo giận dữ.
Khi
một vị bồ tát thị hiện
dưới hình thức giận
dữ, chúng ta không nên nghĩ
rằng họ phải luôn luôn hiền
hòa. Ngay cả trong đệ nhất địa
của thập địa bồ tát,
được gọi là “Hoan Hỉ
Địa”, họ cũng có thể
thị hiện ra hàng trăm cách khác
nhau. Từ những hình dạng này, những
lời dậy bảo có thể thị
hiện từ Báo Thân Phật ra 100 vị
Phật khác nhau hoặc hóa hiện ra 100
cảnh giới khác nhau để giáo
hóa chúng sinh. Trong tiến trình bồ
tát hạnh, khả năng của họ tăng
lên gấp mười ở mỗi
một cấp bậc; những gì họ
có thể làm được
vượt xa sự lý giải của
chúng ta. Vì thế, chư vị bồ
tát có thể thị hiện ra trong bất
cứ dung mạo nào, một vị thần
hiền lành hay một vị thần hung
dữ ...vân vân..., chúng ta nên qui y
các ngài.
Thực
ra, chư bồ tát có thể thị hiện
ra là người Đông phương hay
người Tây phương, người
da mầu hay người da trắng,
người Thiên chúa giáo,
người Hồi giáo hay người
Do thái giáo - bất cứ hình
dạng nào. Ngày nay, có quá nhiều
tín đồ tôn giáo với
tâm hẹp hòi, họ không muốn
đến với những vị thầy
tâm linh khác chủng tộc, khác màu
da, khác tôn giáo hay khác quốc gia. Khi
họ đã theo một vị thầy riêng,
đã trở thành đệ tử
của vị thầy đó, họ cho tất
cả những vị thầy khác và
tín đồ của ông ta là quỉ ma.
Tôi gọi những người này
là “chủ nghĩa Thầy.” Đây
thật là một điều sai lầm, họ
qui y với một tâm kỳ thị.
Đây không phải là
đường lối qui y của Phật
giáo.
Dĩ
nhiên, một số khác lại tự
tôn mình là vị thầy số một
và độc nhất trên thế
giới, rồi đồ đệ của
họ cũng tự nhiên tin như vậy. Trong
trường hợp này, thay vì
trở nên một chiếc xe chuyên
chở tín đồ đến giải
thoát, tôn giáo mà họ rao giảng
lại làm ngộp thở tín đồ,
họ trở nên hẹp hòi hơn và
sau cùng trở thành một loại
cuồng tín. Tốt hơn hết là
không theo một tôn giáo nào, còn
hơn là có đạo theo kiểu này.
Ít ra, những người vô tôn
giáo không có những quan điểm
quá khích như vậy, với họ,
họ nghĩ rằng chỉ cần trở
nên một người bình
thường là quá đủ, quá
tốt rồi.
Chúng
ta qui y phật và bồ tát trong 10
phương, qui y những vị đã
đạt ngộ tánh không, bất kể
họ thuộc màu da nào, quốc gia nào
hay tín ngưỡng nào. Hãy
nhớ rằng, cấp bậc thứ
nhất trong hàng bồ tát có thể
là người Phi châu đàn
ông hay đàn bà, có thể là
một bác tài xế lạc đà
Ả Rập, cũng có thể là một
tên khủng bố, khi nghĩ
được như vậy, chúng ta sẽ
phục vụ người khác tốt
hơn.
Sau
cùng, như trong lời cầu nguyện, chúng
ta qui y vị thầy của chúng ta, đặc
biệt hơn nữa là vị thầy
nguyên thủy của chúng ta, người
sẽ hướng dẫn chúng ta trên
con đường đến giải
thoát. Hãy luôn luôn nhớ
rằng vị thầy duy nhất của chúng
ta theo phương pháp này là Heruka
Vajrasattva (Ngài Kim Cang Tát Đỏa) Danh
từ Tây tạng Lob-pon có nghĩa
là một người chỉ cho chúng ta
con đường ngay thật và
hướng dẫn chúng ta đi theo con
đường đó, Ngài uốn
nắn những hành động của
thân khẩu ý của chúng ta và
đem chúng ta ra khỏi những hành
động mù quáng, vô minh. Ngài
có thể hướng dẫn chúng ta
đến giác ngộ ngay trong đời
hiện tại hoặc chỉ trong ba năm. Hãy
gọi tên Ngài bằng một tiếng
tôn kính và qui y Ngài mãi mãi.
Khi
qui y, chúng ta hãy quán tưởng
như sau, bên phải là cha tôi, bên
trái là mẹ tôi. Kẻ thù số
một của tôi, người nào
gây trở ngại cho chúng ta nhiều
nhất, ở ngay trước mặt
tôi. Người bạn thân nhất
của tôi, người mà gắn
bó với ta nhất, ở
đằng sau tôi. Tất cả những
chúng sinh khác ở chung quanh tôi.
Theo
Đại thừa, đây là sự
quán tưởng tốt nhất. Nếu
chúng ta thắc mắc chúng ta nên
đặt người bạn thân của
chúng ta ở đâu? Chúng ta
thường trả lời “ Ồ, ngay
ở đây, trước mặt tôi
!” và kẻ thù ở sau lưng
hoặc tít ngoài xa kia. Thay vì làm như
vậy, khi qui y, chúng ta nên đặt kẻ
thù ở ngay trước mặt. Hãy
nhìn họ, hãy chiêm nghiệm
đời sống của họ. Nói một
cách chân thành, chúng ta hãy
nghĩ đến những vấn đề
riêng tư của chúng ta, trong cái
riêng tư này có những nguyên
nhân gây ra những hành động
không thể kiểm soát được,
rồi chúng ta hãy nghĩ rằng kẻ
thù của chúng ta cũng ở trong
hoàn cảnh đó. Hãy nghĩ như
vậy cho kẻ thù của ta, “Tôi
nghĩ rằng, người này xấu
nhưng những khó khăn của họ
cũng giống y hệt của tôi, thì
tại sao tôi lại nổi giận mỗi khi
tôi thấy họ? Vấn đề xấu
nhất của họ chính là ngã
chấp vô minh. Nghĩ rằng ghét cái
gì thì sẽ ghét cái đó.
Tôi không nhìn thấy tâm vô minh
của họ thì tại sao tôi lại có
những hành động xấu khi thấy
họ? Thân xác của họ chỉ
đại diện cho một cái tâm xấu,
tôi không thích họ chỉ vì cái
tâm xấu này sao? Họ có thể
nhìn ra điều này nếu tâm vô
minh của họ được thanh tẩy
rồi họ cũng sẽ được
giải thoát.”
Do
đó, chúng ta nên phát tâm
từ bi đến kẻ thù của
chúng ta khi chúng ta qui y. Đây là
một quan niệm đúng đắn nhất,
tuyệt vời nhất của qui y. Thực
hành qui y theo đường lối này
là cách tốt nhất để giải
quyết những vấn đề của tham
sân si. Nếu không, chúng ta lại tích
tụ thêm âu lo cho hiện tại và lại
làm tăng thêm những bám viú,
những ràng buộc trong lúc qui y.
Chúng ta nói rằng chúng ta đang thực
hành Phật pháp, nhưng Phật pháp
mà chúng ta đang thực hành
chẳng mang lại ơn ích gì mà chỉ
tăng thêm sự ràng buộc cho cuộc
sống. Với thái độ như
vậy, niềm an lạc của Phật sẽ
trở thành một vật sở
hữu, thay vì giải thoát chúng ta ra
khỏi những phiền toái, những
khó khăn của cuộc sống thì lại
ràng buộc và gây cho chúng ta
nhiều phiền toái hơn nữa.
Lúc đó họ sẽ bực
tức: “ Phật Pháp của ông
như cục cứt!” Như vậy cái
ngã lại tăng lên.
Trí
tuệ là trí tuệ! Tại sao nó lại
gây trở ngại cho chúng ta nếu
có một vài kẻ vô minh bảo
chúng ta là cục cứt? hay gọi Lạt
ma của chúng ta là đồ quỉ
sứ? Chúng ta không thể dễ
dàng trở nên một cục phân hay
đồ quỷ sứ khi bị gọi như
vậy. Do đó, chúng ta hãy thâïn
trọng! Nếu chúng ta tức giận khi
một vài kẻ nhục mạ sự
thực hành Phật Pháp của chúng
ta, vô tình chúng ta đã mang Phật
xuống thành một sự vật.
Điều này chẳng những áp
dụng cho đạo Phật mà còn cho
tất cả những tôn giáo khác
nữa. Nếu tín đồ của một
tôn giáo nào mà tức giận
gọi tôn giáo khác là không
tốt rồi đi đốt chùa,
đốt nhà thờ của họ,
là những hành động điên
rồ, cuồng tín và hoàn toàn sai
lầm. Hãy kiểm chứng xem chúng ta
phản ứng như thế nào khi
đối diện với những hành
vi này? Một khi tức giận thì
đã quá muộn để kiểm
soát!
Việc
quán tưởng muôn loài chúng
sinh ở chung quanh chúng ta khi chúng ta
làm lễ qui y là một việc làm
đầy sức mạnh hầu che chở
và lôi kéo chúng ta ra khỏi
những vấn đề khó khăn trong
cuộc sống. Rất nhiều người
trong chúng ta luôn luôn bị ám ảnh
bởi những hành động xấu.
Ta không thể quên nó được
và không bao giờ dám nghĩ
đến những kinh nghiệm của họ.
Cuối cùng, ta phải thành thật mà
nhìn nhận rằng ta cũng giống y hệt
những người khác. Chúng ta
bắt đầu tự nhủ “ Ít ra,
tôi không phải là người xấu
nhất trần gian, tôi không cô
đơn trong sự buồn khổ, có
nhiều người giống tôi, tôi
nên có những hành động
từ bi hỉ xả với họ cũng
như cho chính tôi.”
Làm
thế nào Phật, Pháp, Tăng cứu
chúng ta ra khỏi biển luân hồi sinh
tử ? Tất cả đều tùy
thuộc vào thái độ tinh thần
của chúng ta! Chúng ta phải hiểu
thấu đáo bản tính hiện
hữu của luân hồi và nguồn
sức mạnh vô biên của Phật,
Pháp và Tăng
sẽ dẫn chúng ta ra khỏi cái
vòng luẩn quẩn này. “ Tôi
không thể cứu nổi tôi. Mặc
dầu tôi có đủ thông minh để
làm cho cuộc sống đầy đủ
hơn, sung túc hơn, nhưng tôi không đủ
trí tuệ để lôi kéo tôi ra
khỏi sức thu hút, sự bám
viú vào
những thú vui vật chất, chúng
trói buộc tôi vào kiếp sống
luân hồi. Tôi không có cách
nào giải thoát tôi ra khỏi cái
vòng luân hồi này. Nhưng chư vị
Phật có thể hướng dẫn
tôi. Các Ngài có những
phương pháp, có ánh sáng siêu
việt để phá tan bức màn
vô minh đang bao phủ tôi, các Ngài
có chìa khóa mở cửa tâm
hồn tôi, như vậy cây trí tuệ
trong tôi sẽ lớn mạnh. Tôi
qúa mệt mỏi vì những vấn
đề không thể kiểm soát
được mà cứ kéo dài
mãi mãi chẳng bao giờ ngừng.
Chư vị Phật sẽ chỉ cho tôi con
đường thích hợp nhất
để đem tôi từ chỗ tối
tăm ra ánh sáng. Chư Tăng sẽ
hướng dẫn tôi và các
chúng sinh ra khỏi vòng u mê. Và
Phật Pháp là giáo lý tối
thượng, là con đường
chân thật, là sự chấm dứt
mọi khổ đau của chúng sinh.”
Có
rất nhiều ý nghĩa và cấp
độ của danh từ Phật Pháp,
tùy theo sự hiểu biết và trình
độ của mỗi chúng sinh, và
tôi chắc chắn rằng qúy vị
đã từng học hỏi trong kinh
sách của Phật giáo. Khi chúng ta qui y
Phật Pháp, đối tượng qui y
chính là Trí Huệ Bát Nhã, qua
trí huệ đó, chúng ta sẽ hiểu
thấu được chân tính và
hòa nhập làm một với tánh
không, hoàn toàn vượt ra khỏi
ý thức nhị nguyên. Chúng ta
luôn luôn nói về Phật Pháp,
nhưng Phật Pháp là gì? Phật
Pháp chính là Trí huệ, Trí Huệ
Bát Nhã. Tuy nhiên, chúng ta phải
mất một thời gian rất lâu và
cần tích lũy rất nhiều
chứng nghiệm thì mới đạt
đến Trí Huệ Siêu Việt này.
Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau
thảo luận vấn đề này. Một
cái xe hơi, muốn chạy tốt, nó
phải tùy thuộc vào rất nhiều
bộ phận, rất nhiều thành phần.
Mỗi bộ phận đều không phải
là cái xe. Cũng giống như vậy,
trí tuệ là một sự tổng
hợp của rất nhiều nguồn hiểu
biết, mỗi một nguồn là một
thành phần trong toàn bộ của con
đường trí tuệ.
Vì
thế, chúng ta có thể hiểu rằng
có một sự khác biệt giữa
công việc mà chúng ta qui y -Trí Huệ
Bát Nhã, một sự hiểu biết
toàn diện bản thể tuyệt đối, Tánh Không- và Phật
Pháp mà chúng ta thảo luận ở
đây -trí tuệ để giải
quyết những vấn đề thuộc tinh
thần- Trí Huệ Bát Nhã là một
đối tượng toàn tri mà
chúng ta qui y. Có rất nhiều học
trò khiếu nại họ đã
chờ đợi quá lâu
để được học Tánh
Không. Nhưng như chúng ta đã thấy,
tôi đã giảng dạy Tánh Không
ở đây! Có điều tôi
không tuyên bố và đánh
lừa qúy vị bằng một lời
lẽ đơn giản: “ Hãy lại
đây! Tôi sẽ chỉ cho qúy vị Tánh
Không, ngày mai qúy vị sẽ giác
ngộ!!!”
Chư
Phật dậy chúng ta Phật Pháp và cho
chúng ta biết nó tác động
ở nội tâm ta như thế nào
để thực sự chấm dứt
khổ đau. Qua việc thực hành liên
tục chúng ta sẽ trở thành
Phật. Tăng sĩ giúp chúng ta thành
lập những điều kiện tốt cho
việc thực hành để chắc
chắn chúng ta sẽ thanh tẩy
được nghiệp chướng mà
chấm dứt khổ đau. Như tôi
đã trình bày trên kia, chư vị
Bồ Tát thị hiện bằng vô vàn
cách khác nhau với một mục
đích duy nhất là giúp chúng ta
trên con đường thực hành
Phật Pháp. Khi các ngài thị hiện ra
trong hình thù hung dữ, chúng ta
đừng sợ hãi, đừng
tức giận mà nghĩ rằng các
ngài không còn yêu thương
chúng ta nữa. Thay vì thế, chúng ta
nên suy nghĩ : “ Vị Bồ Tát
này đang cho tôi biết tôi xấu
như thế nào khi tôi tức giận.
Nếu Ngài không làm như vậy thì
không bao giờ tôi biết
được chính tôi, tôi nên
cám ơn Ngài về lòng tốt
của Ngài.” Bất cứ lúc
nào, bất cứ ai giận chúng ta,
chúng ta cũng nên nghĩ rằng ông
đó, bà đó... là sự
thị hiện của Bồ Tát để
dạy chúng ta về sự nóng giận.
Giống như thế, khi nào chung quanh chúng
ta có những người dễ
thương, chúng ta nên nghĩ đến
những sự an vui và đó
chính là Bồ Tát đang chỉ cho
chúng ta cách trở nên một
người an lạc.
Chúng
ta biết rằng có những
người khi chúng ta gặp, chúng ta
cảm thấy vui vẻ, an lành, nhưng có
những người khi gặp, chúng ta
lại cảm thấy khó chịu, không
một chút tình cảm nào. Nghiệp
đấy, nghiệp nó tác động
đấy! Trong nội tâm của chúng ta
có những nguồn năng lực
gây ra tình trạng này, chúng ta
hoàn toàn không kiểm soát
được nó. Một anh đẹp trai,
một cô duyên dáng tự nhiên
nó đã như vậy dù ở
bất cứ đâu, một
người xấu tự nhiên nó
xuất hiện như vậy. Đó là
nghiệp của họ, mặc dầu họ không
muốn, rất khó mà thay đổi
được nó. Người Tây
phương giải thích bằng khoa học
vấn đề này như thế nào?
Nghiệp làm cho đời sống của
chúng ta khó hơn, bực bội hơn,
nghiệp cũng làm cho đời sống
của chúng ta dễ hơn, thoải mái
hơn.
Tuy
nhiên, không thể nói rằng nghiệp
luôn luôn như vậy, nghiệp không
thể thay đổi. Thực ra nghiệp là
một hiện tượng có thể thay
đổi được. Khi một nghiệp
lực xuất hiện, thì ngay lúc
đó một lực khác cũng
xuất hiện để cân bằng.
Hãy
lấy một thí dụ, Gomchen, một con chó
nhỏ ở tu viện; tất cả mọi
người yêu thương nó, Phật yêu
thương nó, Chúa Jesus cũng yêu
thương nó. Nếu không như vậy,
thì không một ai có thể nói
chuyện hoặc đến gần nó
được; đến khi nào họ thay
đổi một hình dạng thích hợp
hơn thì sẽ lại gần nó
được. Đó là nghiệp
của họ. Tất cả chúng sinh trong cõi
luân hồi đều phải chấp nhận
những sự việc xẩy ra cho tới
khi nào có một sức mạnh ở
phía sau của kinh nghiệm này, của
nghiệp lực này làm cho nó tan
biến đi. Tất cả đời sống
của chúng ta đều tùy thuộc
vào nguồn năng lượng này. Khi
nguyên động lực của một
hành động đã tan biến, nó
sẽ không còn mang lại hậu quả.
Hãy quan sát cuộc đời của ta,
ta sẽ hiểu được luật nhân
quả. Đời sống của mỗi
chúng sinh tùy thuộc vào
đường lối suy nghĩ riêng,
cấp độ ý thức riêng,
thái độ riêng và hoàn cảnh
sống chung quanh họ. Đó là nghiệp.
Tôi dùng danh từ nghiệp ở
đây hơi nhiều, mong rằng qúy
vị hiểu thấu đáo.
Để
kết luận, chư Phật chỉ cho ta con
đường chân thật và sự
chấm dứt tối hậu, Phật Pháp
giải thoát ta ra khỏi luân hồi sinh
tử. Các Ngài chỉ cho chúng ta
biết nhận định ra đâu là
sự hướng dẫn đúng
và đâu là hành động
đúng để phù hợp
với con đường tu tập của
chúng ta. Điều này có nghĩa
là cho chúng ta, không phải cho Phật, ta
phải thực sự có trách nhiệm
trên con đường giải thoát
của chính ta. Chúng ta phải hiểu rõ
vấn đề này.
Chư
Tăng trong ba thừa, gồm cả chư
vị hộ pháp như Mahakala và Kalarupa
đều là những người
bạn của chúng ta; họ có thể
giúp chúng ta bất cứ khi nào,
bất cứ ở đâu. Do
đó chúng ta nên hiểu ý
nghĩa thật của danh từ Tăng.
Phần đông chúng ta hiểu Tăng
là những người mặc tăng
bào, nhưng không có một sách
vở nào nói đến điều
này. Vì thế, chúng ta có thể
nói rằng tất cả những ai
đã hiến mình cho Phật Pháp qua
một nghi lễ đều là Tăng.
Những vị Tăng tối cao là
những người đã
chứng nghiệm được chân
tính, Tánh Không; bất kể loại
áo nào họ mặc, bất kể màu da
nào họ có, bất kể quốc gia
nào họ ở...vân vân..., họ
đều thực sự là Tăng
sĩ, là những người bạn quí
nhất của chúng ta.
Chúng
ta thường cảm thấy cô
đơn, nhưng chúng ta không cô
đơn. Bởi vì, chư Tăng bất
diệt luôn luôn đang ở với
chúng ta, đó là chư vị thần
tiên, chư vị bồ tát trong mọi
hình dáng và chư vị tăng sĩ
trong cả ba truyền thừa. Họ có thể
hướng dẫn chúng ta thoát khỏi
những biến động, những
lầm lẫn trong cuộc sống. Một khi
chúng ta nhận thức được
điều này là chúng ta không bao
giờ thiếu bạn, không bao giờ
cô đơn. Hãy thiền định,
hãy đi vào bên trong: người
bạn chân thật không bao giờ bỏ
chúng ta đang ở đó.
Đối tượng quán
tưởng khi qui y
Phương
pháp thực hành quán tưởng
Ngài Kim Cang Tát Đỏa khác
với phương pháp mà chúng ta
thường quán tưởng trên con
đường tiệm tu đến giác
ngộ, trong phương pháp tiệm tu
đối tượng chính để
quán tưởng là Đức
Phật Thích Ca. Nhưng Đức Phật
mà chúng ta quán tưởng ở
đây là Heruka Vajrasattva (Kim Cang Tát
Đỏa) hay Vajradhara (Kim Cang Thủ), tùy theo
vị nào dễ cho chúng ta quán
tưởng.
Hãy
quán tưởng Ngài Kim Cang Tát
Đỏa màu xanh, đứng, đang
ôm choàng nữ Phật tính của
Ngài, Vajra Varahi màu đỏ (có nơi dịch là Phật
Mẫu --Dg). Chung
quanh Ngài là chư tiên nam và
nữ, 62 vị thần trong mạn đà la
Heruka, cùng vô lượng Phật, vô
lượng Bồ Tát và các vị
A la hán đã chứng ngộ cảnh
giới an lạc bất diệt.
Nếu
chúng ta chọn Vajradhara để quán
tưởng thì Ngài ngồi trên
tòa sen ôm choàng nữ Phật tính
của Ngài, Vajradhatu Ishvari. Ngài mang màu
xanh, nữ Phật tính màu đỏ,
chung quanh Ngài cũng giống như sự
thị hiện ở trên, ngoại trừ
không có 62 vị thần của Heruka mạn
đà la. Tuy nhiên, dù quán
tưởng Heruka hay Vajradhara, hãy nhớ
kỹ một điều là vị thầy
của chúng ta cũng xuất hiện y như
vậy. Vị thần này là đối
tượng chính để chúng ta
quán tưởng khi qui y và chúng ta
sẽ trở nên làm một với
Ngài (thầy của chúng ta.) Như vậy,
Vajrasattva hay Vajradhara chính là Phật; chư
vị thần tiên, chư tăng của ba dòng
truyền thừa chính là Tăng và
Phật Pháp chính là Trí Huệ của
các Ngài.
Ơn
phước của sự quán
tưởng Heruka trong tư thế
đứng sẽ được ban
phát, sẽ được thấm vào
hệ thần kinh của chúng ta và nó
sẽ đánh thức nguồn năng
lực nội tại (kundalini, tâm hỏa)
của chúng ta. Công việc này giúp
chúng ta trong việc thực hành maha-anuttara
yoga mật tông. ( maha là
vĩ đại, to lớn; anuttara là không
gì sánh bằng, tối thượng, Trung
hoa dịch là A Nậu Đa La. Trong Kim Cang
Thừa có tất cả 6 thừa,
bậc hạ: Kriyayoga, Upayoga và yoga. Bậc
thượng: Mahayoga, Anuyoga và Atiyoga. Anuttara yoga
là sự tổng hợp của ba tầng
yoga bậc hạ -- Dg).
Sự
quán tưởng không phải là
công việc của đôi mắt, chúng
ta không thể nhìn đăm đăm
vào hình ảnh của Ngài để
ở trước mặt chúng ta.
Thần xác của Heruka là sự thị
hiện chân bản thể của Ngài trong
hình tướng thần linh trước
mặt chúng ta. Do đó, sự quán
tưởng là một sự biến
đổi, là một sự chuyển hóa
để trở nên làm một
với tâm bản nhiên an lạc,
đó là chân tính. Chúng ta không thể
cảm nhận chân tính bằng con mắt
trần hay bằng giác quan của chúng ta.
Vì thế, để cảm thông
với chúng ta, nguồn năng
lượng siêu việt mới thị
hiện thành hình dáng này, trong
suốt như ánh sáng. Sự thị
hiện không xuất hiện thường
xuyên nhưng đột khởi như một hình
ảnh trên màn ảnh hoặc như một
người đột nhiên thoáng đi
qua cửa sổ. Qua sự quán
tưởng này, chúng ta sẽ dễ
dàng liên lạc được
với Pháp Thân Phật (Dharmakaya).
Sau
khi qui y, chư Phật
và Tăng trong ba thừa -- Thần Tiên,
chư Bồ Tát trong hình thể an lạc
hoặc hung dữ cùng các vị Hộ
Pháp...vân...vân -- sẽ hòa tan trong
ánh sáng và hòa nhập trong vị
thần chính Heruka. Vajra Varahi cũng trở
nên ánh sáng rồi hòa nhập trong
Heruka. Cuối cùng, chính Heruka cũng hòa
tan trong ánh sáng rồi kết tụ lại
ở trái tim của Ngài thành một
qủa cầu sáng. Quả cầu sáng
này sẽ đến trên đỉnh
đầu (luân xa 7) của ta và tuôn
chảy vào đường kinh mạch
chính, đi qua luân xa cổ họng (luân xa
5) để hòa tan vào luân xa trái tim
(luân xa 4) của ta. Như thế là toàn
thể con người của ta trở
nên làm một với ánh sáng,
đó là vị thầy nguyên thủy
Heruka của chính ta. Tiếp tục tập trung
vào đó càng lâu càng tốt,
đừng để những tư
tưởng nhị nguyên, cái này
cái kia, quấy phá ta.
Khi
thực hành, chúng ta có thể tập
trung vào một điểm như vậy khoảng
nửa giờ. Khi những ý niệm
xấu bắt đầu xuất hiện, hãy
ngưng thiền và phát nguyện Tâm
Bồ Đề:
Con muốn trở nên
Heruka để hướng dẫn muôn
loài chúng sinh đến cảnh
giới an lạc của Heruka.
Ba phương pháp qui y
Có
ba phương pháp qui y: bên ngoài, bên
trong và bí mật. Thông thường,
phần đông chúng ta nghĩ rằng kinh
điển hay Ba la mật, là phương
pháp duy nhất để qui y. Đó
là phương pháp mà chúng ta gọi
là qui y bên ngoài, hiện nay phương
pháp này thường được
giảng dậy. Theo cách này, qui y Phật
là một vị Phật ở bên
ngoài chúng ta: một người
đạt quả vị Phật, như Phật
Thích Ca. Qui y Pháp là những
lời dạy bảo của vị đó.
Qui y Tăng là qui y các vị đã
được chỉ định hay các
vị đã chứng ngộ
được pháp tánh trong sự
dạy bảo, như tôi đã giải
thích ở trên. Phật, Pháp và
Tăng đã hiện diện như vậy
thì sẽ có đầy đủ
quyền lực để hướng
dẫn chúng ta là những kẻ sợ
hãi luân hồi sinh tử, chúng ta
nên qui y các Ngài.
Còn
lại hai phương pháp qui y kia là của
Mật tông. Qui y ở bên trong là qui y
đức Phật mà chính ta sẽ trở
thành. Đối tượng Trí Huệ,
Phật Pháp tương lai, là chính Phật
Pháp nội tại. Khi ta chứng ngộ
được cảnh giới đó,
chính ta sẽ trở thành Tăng:
đó là đối tượng,
vị Tăng nội tại. Theo phương pháp qui
y này thì ta không chỉ là một
vị Tăng mà thực ra ta đã hợp
nhất với Tam Bảo và ta cũng
không cần phải qui y một cách riêng
biệt nào bên ngoài nữa.
Khi
qui y theo phương pháp nội tại này,
tâm của ta sẽ trở nên làm
một với chân tâm; tất cả
đều chuyển thành cảnh trí
của Heruka hay của
Vajradhara, cùng với chư Bồ
Tát, Thần Tiên như đã trình
bày ở trên. Để theo phương
pháp này, ít nhất ta cần phải
có một sự hiểu biết sâu
rộng về những ý niệm sai lạc
và những phóng chiếu của bản
ngã, như thế ta mới có thể
thanh tẩy được những vấn
đề khi ta qui y. Đây không phải là
một điều dễ dàng.
Qui
y bí mật là phương pháp
thứ ba. Phương pháp này là phương
pháp khó nhất. Ta phải biết rằng
khi đã qui y hệ thần kinh của ta
đã được thấm nhập
bởi những nguồn năng
lượng an lạc thay vì những
nguồn năng lượng ô nhiễm
của những lôi kéo, của
những bám víu vào cảm giác.
Ở đây ta sử dụng cái nguồn
năng lượng đã sẵn có trong
hệ thần kinh của ta, để phát
khởi cùng một lúc với
niềm hỷ lạc và hợp nhất
với chân tính để tiến
lên con đường giải thoát. Kinh
nghiệm này sẽ thực sự giải
thoát ta khỏi những bất mãn
và trí phân biệt nhị nguyên.
Phần đông chúng ta không ai ý
thức được cái nguồn
năng lượng đã sẵn tiềm
ẩn ở bên trong chúng ta. Nhưng khi chúng
ta đã tạo được một
trạng thái đúng qua việc thực
hành, như phương pháp thiền này
hoặc phương pháp thiền Tum-mo (luyện tâm
hỏa) là chúng ta có thể kinh nghiệm
được sự hoạt động
của nguồn năng lượng an lành
này mà trước đây chúng
ta không bao giờ nghĩ đến
nó. Tôi được nghe có
nhiều người đã đạt
được những kinh nghiệm vĩ
đại về nguồn năng lượng
này ở bên trong hệ thần kinh
của họ khi họ thực tập phương
pháp tu dưỡng Chu-len của tôi.
Đây
là ba phương pháp qui y mà chúng ta
không còn phải thảo luận thêm
gì nữa, nó đã được
dạy bảo để cho những
người muốn thực hành
Đạo pháp chọn lựa phương
pháp nào thích hợp nhất trên
con đường phát triển tâm linh
của họ. Phương pháp qui y bên
ngoài phổ thông nhất, phương
pháp bí mật dành cho những
người có cơ duyên, cho
những người có căn cơ.
Nếu
chúng ta hiểu được ý
nghĩa chân thực của sự qui y,
chúng ta sẽ nhận được kết
quả tốt đang xẩy ra trong tâm chúng
ta và sẽ kinh nghiệm được
những ơn phước của nó.
Như vậy chúng ta sẽ thực sự
hạnh phúc khi qui y và mỗi lần
chúng ta làm việc này, nguồn năng
lượng hỷ lạc sẽ lớn
dần trong trái tim của chúng ta. Nếu
chúng ta không biết qui y thì dù
thiền bất cứ cách nào đi
nữa cũng chỉ như tuyết rơi
trên đường, nhìn thì hấp
dẫn lắm, đẹp lắm nhưng sẽ tan
biến mau. Giống như vậy, sự thiền
định của chúng ta sẽ không
có kết quả lâu dài. Với
sự hiểu biết sâu xa về qui y,
chúng ta sẽ bắt đầu nếm
mật ngọt của Phật quả.
Nội Qui Y và Thiền Định trong Tính
Không
Tìm hiểu Tính Không
Tại sao thực hành
phương pháp nội qui y của mật tông
quá khó? Tại vì nó
được hoàn thành bởi tâm,
ở trong tâm. Để bắt
đầu công việc này, qui y phải
được thực hiện bằng
tất cả trái tim, trọn vẹn cả
tâm hồn. Qui y không phải là lặp
đi lặp lại một vài câu nói
trong khi tâm không có một chút rung
động nào. Có nhiều
người qui y vì tập tục, xã giao.
Miệng thì tụng: “ Namo Thầy, namo Phật,
namo Pháp, namo Tăng ” mà không hiểu
một chút ý nghĩa gì và tâm
không một chút rung cảm nào. Một
số người khác thì lặp đi
lặp lại theo những người chung
quanh như một con vẹt. Đó không
phải là qui y, nó giống như dùng
một bữa ăn sáng, như đi
nhà thờ theo thói quen hoặc vì
bắt buộc, mà không có một
chút thay đổi gì, không có
một chút cảm nhận nào, là
chúng ta đang đặt chân lên con
đường giải thoát.
Như
tôi đã nhấn mạnh ở
trên, khi chúng ta dùng phương pháp
nội qui y thì tâm của ta trở nên
làm một với Phật tính, làm
một với Đại lạc, làm một
với Trí tuệ và chúng ta
chuyển tất cả vào cảnh giới
thánh thiện thanh tịnh của Heruka. Đừng
kiếm tìm những đối
tượng nào khác ở bên
ngoài để qui y! Tôi biết rằng
qúy vị đang nghĩ nó ở
đâu đó trước mặt qúy
vị. Tâm nhị nguyên của chúng ta
nghĩ, “Tôi
đang qui y.” Chúng ta đang
ngồi đây,
nhưng làm một
vài việc ở ngoài kia. Tâm nhị nguyên của chúng
ta phân biệt chủ thể và đối tượng (nhị nguyên: tôi/qui y, chúng
ta/đây....--Dg). Ngay khi
chúng ta nghĩ chúng ta đang làm một
việc gì thì lập tức, một
cách rất tự nhiên, chúng ta
nghĩ đến một hành động
ở bên ngoài. Điều này
xẩy ra bởi vì chúng ta đã
có quá nhiều dấu vết nhị
nguyên, dấu vết hay phân tích và
so sánh trong tâm khảm của chúng ta (đây chính
là những tiền ý niệm
đã có sẵn ở trong đầu
chúng ta, đã huân tập do tập
quán, thói quen, kinh nghiệm... từ
muôn vàn kiếp trước --Dg).
Vì
thế, khi áp dụng phương pháp nội
qui y thì chính tâm ta trở nên
niềm an lạc cho chính tâm ta. Khi ta phát
khởi lòng tin mãnh liệt vào
chân tính thì ngay lập tức nó
biến chuyển và xuất hiện trong ta như
là Heruka. Ta hoàn toàn cảm nhận ta
và Heruka là một. Trong tinh thần
đó ta qui y. Phương pháp này
cực kỳ hữu hiệu và ơn
ích. Có thể rất khó hiểu
nhưng chúng ta nên làm thử.
Để
hiểu phương pháp qui y này, bắt
buộc chúng ta phải hiểu Tính Không.
Nếu không, công việc chuyển hóa
của tâm ta vào đại lạc, vào
sự vĩnh cửu của trí tuệ
sẽ khô cằn như một ý niệm
bình thường, thay vì đó
chính là sự sung mãn của một
kinh nghiệm nội tại. Nếu ta đã
hiểu rõ ràng về tâm bản
nhiên, nếu tâm ta đã từng
có những kinh nghiệm về tính
không thì đó là mối liên
hệ thật dễ dàng cho tâm ta trở
nên làm một với trí tuệ,
để chuyển hóa và hòa nhập ta
là một với Heruka. Với
phương pháp này tâm ta hòa nhập
trong nguồn năng lượng đại
lạc của Heruka thay vì những ganh
ghét, những tham lam và những
bám víu thông thường.
Nếu
thực sự tâm ta đã hòa
nhập trong niềm an lạc đó thì ta
không cần phải cầu nguyện, không
cần phải tụng những câu: “ Namo
Phật... vân vân...” Lời nói
không qui y! Những kẻ yếu hèn
thường cần ngôn từ
để truyền thông nhưng ngôn
từ chỉ có ý nghĩa, giá
trị của ngôn từ. Nếu ta
đã thực sự kết hợp
với nguồn đại lạc thì ta
đâu cần qui y bằng những
lời thốt ra từ môi miệng.
Như vậy, dù ở bất cứ
đâu, làm bất cứ gì, trong
bất cứ thời điểm nào,
ta vẫn có thể qui y trong từng giây
từng phút, vì ta đã là
một với những sự việc
này rồi. Chúng ta biết rằng
sự vĩnh cửu, niềm an lạc của
trí tuệ thì vô cùng sâu thẳm
và trong sáng. Qui y không phải là
ngồi bắt chéo chân như trong lúc
thiền định. Sự thành tựu của
con đường này là một
sự tiềm ẩn tự nhiên không
tùy thuộc vào những hành vi
bên ngoài. Như vậy qua phương pháp
tu tập thanh tẩy này chúng ta có
thể đạt giác ngộ một cách nhanh
chóng và dễ dàng.
Sự
đạt ngộ tính không có một
giá trị hạnh phúc vĩnh cửu
thường hằng. Ngược lại,
niềm vui của thế gian thì ngắn
ngủi và thường để lại
đớn đau khi nó biến mất.
Nếu chúng ta không bám víu vào
những thú vui vật chất thì
chúng ta sẽ không đau khổ khi nó
ra đi.
Nếu
chúng ta không hiểu thấu đáo tính
không bằng những thực chứng
thì ít ra chúng ta cũng phải có
một ý niệm rõ ràng về nó,
để chúng ta có thể vượt
qua được những ý niệm sai
lầm trên con đường chúng ta
đi, đó là những vết
hằn đã in sâu trong tâm khảm
chúng ta. Thông thường, những
ý niệm mà chúng ta đã có
về chúng ta thì rất tự nhiên.
Tôi nghĩ, “Tôi là Thubten Yeshe”
nên trong tâm tôi đã có một
hình ảnh rõ rệt nào đó
về cái đầu, tay chân cùng
những giác quan của tôi. Cho
tới khi nào chúng ta còn nhìn
chúng ta theo kiểu này thì chúng ta
không thể nào hòa hợp tâm
thức của chúng ta với sự
bất diệt, với niềm an lạc. Khi
có sự hiểu biết về tính
không thì chính sự hiểu biết
này sẽ là nguyên nhân để
phá vỡ những hành động
xấu xẩy ra hàng ngày, đây
là luật liên đới của
dòng tư tưởng, nó làm việc
một cách tự nhiên, tự
động trong tâm của chúng ta.
Nếu
chúng ta có một trí thông minh bén
nhậy, thì không khó lắm để
hiểu tính không. Chúng ta không cần
phải học những bài triết
phức tạp, cũng không cần phải
nghiên cứu những bài tập
của các vị Lạt ma. Dĩ nhiên,
chúng ta có thể học trong sách hoặc
qua một vị thầy, nhưng nếu chúng ta
có khả năng, chúng ta có thể
học qua phương pháp vô cùng
đơn giản này: đừng tin
những gì do ngũ quan đem lại.
Không cần phải nghiên cứu sâu xa
hơn cũng không cần phải khôn ngoan
hơn nữa để biết rằng
cái gì đã ngăn che không cho
chúng ta nhìn ra được tính
không. Hãy nhận xét đơn giản
rằng tất cả những gì chúng
ta cảm nhận được hàng ngày
trong cuộc sống qua thế giới cảm
giác thì hoàn toàn sai lầm.
Đó là những nhận thức
sai lầm của cái tôi. Ngay khi chúng ta
phát giác ra điều này thì
những quan điểm sai lầm tự
nó sẽ biến mất. Điều cốt
tủy mà phương pháp tu tập tuyệt
diệu này mang lại là nó sẽ giúp
chúng ta nhìn ra ngay được
những phóng chiếu sai lầm của
cái tôi để rồi cắt
đứt nó hoàn toàn.
Chúng
ta luôn luôn cảm thấy bất an, lo
lắng. Trên
đường đến gặp một
người, ta thường nghĩ, “ có
thể cô ta không thích tôi, không
biết anh ta có thiện cảm với
tôi không? ước gì tôi là
người dễ thương” hoặc “
có thể cô ta không thích giọng
nói của tôi,” ...vân...vân...
Những tư tưởng đa nghi như
vậy thường đến từ những
ý niệm sai lầm, từ những
lối diễn dịch sai lạc của một tâm
vô minh. Chúng ta nên sớm nhận ra rằng
tất cả sự vật đều bị
sơn một lớp bởi tâm vô
minh của chúng ta, những quan niệm
hão huyền, những tư tưởng
và những cảm xúc của chúng
ta đều không có một liên hệ
thực tế nào. Chúng hoàn toàn
cá biệt, ta nên chấm dứt ngay
những cảm nghĩ bất tịnh này.
Ngay cả khi người khác khinh
thường ta, gọi ta là kẻ trộm
cắp, ta cũng nên kiểm soát lại
và không nên buồn khổ. Đó
là những ơn ích thực tế
mà sự hiểu biết này mang lại.
Vì
đang sống trong thế giới cảm
giác nên ta cho rằng những ý
niệm sai lầm và những phóng
chiếu của tâm vô minh là thật.
Chúng ta thường nghĩ nhìn
được là tin được:
“Tôi đã nhìn thấy cái
đó thì nó phải thật
chứ!” Lại có những
người tin một cách say mê, mù
quáng rằng triết thuyết của họ
mới thực là lý tưởng
cho xã hội, cộng sản hay tư bản,
đều sai lầm hết, đều là
ảo tưởng hết! Nếu chúng ta
cứ tin theo kiểu này, chúng ta sẽ
không bao giờ khám phá
được tính không, nó sẽ
ở xa mãi tận đâu đâu.
Khi chúng ta nhận ra được quan
điểm của chúng ta về thế
giới này hoàn toàn là
huyễn ảo, quan điểm của chúng ta
về thực tại thì lờ
mờ như một tấm màn hư ảo
dầy đặc thì cái quan niệm sai
lầm đó sẽ tự biến
mất, cái còn lại là những
nghịch lý của nó, đó là
quan niệm đúng về tính không.
Ở ngay giây phút vượt
thoát ra ngoài tâm nhị nguyên, là
lúc chúng ta kinh nghiệm tính không.
Vì
thế, chúng ta có thể học
được tính không trong từng
giây phút, trong từng ngày. Ngũ
quan của ta không thể rời khỏi
những bám víu vào thế
giới cảm giác, chính vì thế
mà ta vẫn thường tin rằng
bất cứ cái gì ta thấy
được đều thật như nó
xuất hiện. Nhưng nếu chúng ta
cứ tiếp tục nghiên cứu
những nhận thức và những
điều mà chúng ta tin thì chúng ta
sẽ biết được rằng không
có lúc nào mà chúng ta không
học tính không, tiếp cận tính
không. Đôi khi sách vở và
triết học còn làm chúng ta rối
mù hơn là giúp chúng ta hiểu
được tính không; vì nếu
chúng ta không biết làm cách nào
để phối hợp chữ nghĩa
với kinh nghiệm thì chữ nghĩa
sẽ gây ra rất nhiều trở ngại,
phiền toái cho tâm ta. Nếu ta ý
thức được công việc
này thì ngay một chữ cũng
đủ cho ta hiểu trọn cả vấn
đề.
Những
người nào nghĩ rằng để
hiểu được tính không, cần
phải nghiên cứu hàng ngàn vạn
tài liệu, phải nhớ từng
chữ của những bài tập,
thì họ sẽ bị nhàm chán và
điên đầu. Rồi họ cho rằng,
cố gắng hiểu tính không trong cuộc
đời của họ là một
điều không tưởng. Nhưng
chúng ta có thể hiểu tính không
một cách dễ dàng khi chúng ta nhìn
nhận bất cứ điều gì,
bất cứ quan niệm nào
được nhận xét bởi một
tâm vô minh thì đều huyễn
ảo, đều không có thật, ngay
cả những gì liên hệ đến
nó. Mặc dù, trong vô lượng
kiếp cái tôi của chúng ta
đã thâu thập, đã bám víu
vào những sự kiện mà bây
giờ nó bắt chúng ta phải tin
rằng “cái này thật, cái kia
thật,” đó là nguyên nhân
của đau khổ. Cho tới khi nào
tâm ta còn vô minh thì ta sẽ nhìn
thấy bất cứ một đối
tượng nào cũng đều nằm
trong vòng nhị nguyên, trong vòng phân biệt.
Bất cứ đối tượng
nào được cảm nhận theo kiểu
này cũng đều là những
cảm nhận không có thật.
Tuy
nhiên, chúng ta cũng không thể nói
rằng chẳng cái gì có thực:
“ Mũi tôi, lưỡi tôi, miệng
tôi -- không có cái gì của
tôi là thực.” Làm thế
nào chúng ta có thể nói rằng
không có ánh sáng, không có
cái bàn? Cái kiểu lý luận
phủ nhận này hoàn toàn sai. Tốt
hơn, chúng ta hãy nhận xét: dù
có hay không có quan niệm của tôi
về cái bàn thì cái bàn
vẫn có thực, lúc đó ta
sẽ thấy rằng cái nhận xét
của ta hoàn toàn không có thực.
Hãy nhận xét, tất cả những
quan niệm của chúng ta về bất
cứ sự việc gì, chúng ta
cũng đều nhận thấy rằng
không có một cái nào tồn tại
(thực có) như nó xuất hiện.
Chúng ta luôn luôn nói về sự
vật theo kiểu này: “ Nước Nepal
như thế này, nước Mỹ như
thế này, Aâu châu giống như
thế này...vân...vân...” Chúng ta
đang nói một điều vô nghĩa
lý. Nước Nepal, nước Mỹ
và Aâu châu mà chúng ta đang
nói đều không có thật như
vậy, rồi chúng ta lại nghĩ: “
Ồ, cái lớp thiền này khó
quá!” hay “ tu tập theo kiểu này
cũng mang lại đau khổ thôi! ”
Chúng ta đang sống trong một thế
giới mộng tưởng của
những đối tượng huyễn
ảo. Cái tâm mộng mị của chúng
ta đang làm chúng ta đau khổ,
Quan
điểm này không có nghĩa là
chúng ta hãy từ chối sự
hiện diện của thế giới cảm
quan. Điều này hoàn toàn không
hợp lý. Chúng ta không nên quan
tâm về một nước Nepal có hay
không có; công việc của chúng ta
là hãy kiểm chứng xem sự diễn giải
của tâm ta về một nước Nepal
như thế nào? có thực hay là
không? Vấn đề ở đây
là, những ý niệm sai lầm của
chúng ta đã xây dựng lên
một quan điểm về một nước
Nepal mà nó hoàn toàn không
giống một chút nào với một
nước Nepal thực ở ngoài
thiên nhiên, ngay cả những vấn đề
liên quan đến nó, chúng ta
đã hoàn toàn bám víu vào
nó. Cái tâm vô minh của tôi
xây dựng về tôi như thế
này: “ Thubten Yeshe như thế này,
thế này, thế này....” -- nhưng
điều này hoàn toàn không
đúng một chút nào so với
bản tính chân thật của tôi --
tôi đã bám víu vào
những điều không có thực
này, thật là tội nghiệp cho
những phóng tưởng này!
Chúng ta đã phát triển những
bám víu qua muôn vàn kiếp sống,
vì tin rằng nếu không có cái
gì để bám vào thì sẽ
bị mất mát, bị hụt hẫng. Khi
chúng ta tin vào sự vật vô
thường thì chúng ta sẽ bị
mất, thí dụ, trong tiến trình của
sự chết, ta thực sự sợ
hãi vì ta cảm thấy mất tất
cả.
Để
chứng nghiệm được chân
tính, tính không, trước nhất
chúng ta phải tìm kiếm và khám
phá ra nó đang ở trong tâm
của chúng ta. Nếu chúng ta tìm
kiếm chân tính ở những
hiện tượng bên ngoài như cây
cối, cái bàn hoặc ở một
người nào khác thì chúng ta
sẽ không bao giờ tìm được.
Theo kinh nghiệm của các hành giả
Aán độ và các vị Lạt ma
Tây Tạng, tính không không bao
giờ được chứng nghiệm theo
kiểu này.
Chúng
sinh trong luân hồi tự nhiên là
thích nhìn ra bên ngoài. Chúng ta
thường nghĩ rằng, chúng ta có
thể hiểu được thực tại
bằng cách nhìn vào những gì
người khác làm. Chúng ta cố
gắng có được những
tiến bộ bằng cách dòm ngó
những người hàng xóm. Họ
có cái gì? Làm sao họ có
được những thứ
đó? Chính những xu hướng
này đã nói lên chúng ta
không thể tìm được thực
thể. Nếu đây là những
thái độ của chúng ta thì
chúng ta sẽ không bao giờ chứng
nghiệm được tính không, mặc
dù có học hỏi cả một
đời.
Để
khám phá nội tâm, để có
được những chứng nghiệm
nội tại của tính không, chúng ta
phải bắt đầu bằng cách tìm
kiếm bản lai diện mục của chúng ta. Khi
đã khám phá được
thực thể nội tại đó, chúng
ta sẽ dễ dàng khám phá ra
thực thể của thế giới hiện
tượng này. Nguyên lý căn
bản của tính không không đến
từ trí thông minh, như việc nghiên
cứu những lời dạy bảo
của các vị thầy hay từ
những buổi thảo luận tâm linh.
Nếu chỉ qua những phương tiện
đó, chúng ta không thể chứng
nghiệm được tính không.
Chúng ta cũng phải kiểm soát tâm
để xác định được
những ý niệm sai lầm, những
quan điểm mù quáng và nên
thực hành phương pháp thanh tẩy.
Chân
tính, tính không, nằm ngay ở
tâm mà tại sao chúng ta chưa khám
phá ra được, mặc dầu
chúng ta đã học hỏi cả nhiều
năm trời? Tại vì những rung
cảm xấu xa, tội lỗi đang che kín,
đang ngăn cản chúng ta làm việc
này. Do đó, để cho chân tính
được hiển lộ trong tâm, một
điều vô cùng quan trọng khi học hỏi
những lời dạy bảo về tính
không và kiểm soát tâm là
chúng ta nên tẩy rửa những
chướng ngại bằng phương
pháp thanh tẩy, như phương pháp
thờ lạy tôn kính và phương
pháp hợp nhất với Phật Kim Cang
Tát Đỏa. Nói cách khác,
để tinh tiến trong việc nghiên
cứu tính không và thực
chứng, chúng ta cần thực hành
hai điểm: phát triển sự hiểu
biết về tính không và thanh tẩy
những căn bệnh tâm thần, như
những ý niệm sai lầm, những
quan điểm mù quáng mà chúng ta
đã khám phá ra chúng khi chúng
ta phân tích tâm. Sức mạnh của
sự phối hợp này sẽ dẫn
chúng ta trên con đường
chứng ngộ tính không một cách
dễ dàng hơn.
Ngày
xưa, khi đại lạt ma Tây tạng Tsong Khapa
đang nghiên cứu và phân tích
tính không theo sự dạy bảo của
phái Madhyamaka (Trung đạo), thì Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát xuất
hiện trước mặt ngài và
nói: “ Không có ai trên quả
đất này có thể dạy con tính
không.” Vì thế,Lạt ma Tsong Khapa
đã đi vào những hang cốc
cô tịch, thực hành phương
pháp thanh tẩy và thiền định, sau
cùng ngài đã trực ngộ tính
không, nó vượt hẳn ra ngoài
những ý niệm về tính không
theo quan điểm Trung đạo của Long Thọ.
Như vậy, phương pháp Heruka Vajrasattva
chẳng những vô cùng tuyệt diệu
trong lãnh vực thanh tẩy mà còn
giúp chúng ta khám phá chân tính
một cách dễ dàng, nội tâm của
chúng ta có một mãnh lực tự
phá hủy những ý niệm sai lầm.
Sở
dĩ chúng ta phải bàn thảo dài
dòng về tính không là để
cắt nghĩa vấn đề nội qui y.
Để thực hiện nghi lễ nội qui y
một cách đúng đắn, chúng ta
phải hiểu được tính không
và thanh tẩy những quan niệm sai lầm
của chúng ta về những phóng
chiếu, về những vọng tưởng
của bản ngã. Khi chúng ta nghĩ “
Tôi như thế này, thế khác, sinh
ở đây, mang những đặc
tính này... vân...vân...” là
những trở ngại bắt đầu
kéo đến. Những phóng chiếu
của bản ngã là nguyên nhân
của những vấn đề. Thí
dụ, một người sinh ra trong một gia
đình Do thái, ngay khi họ xác nhận
họ thuộc chủng tộc Do thái là
ngàn năm lịch sử đến
với họ. Cho tới khi nào cái
tôi còn đó, là những
vấn đề, những trở ngại
tự động xẩy ra.
Gía
trị tuyệt vời của tâm lý
học Phật giáo là nó có thể
diệt trừ tận gốc rễ mọi
vấn đề, chấm dứt hoàn
toàn và mãi mãi tất cả
những nguyên nhân của vấn
đề. Như vậy, gía trị này
hoàn toàn khác biệt với giá
trị tâm lý học của Tây
phương, tâm lý học Tây phương
chỉ làm giảm bớt những
triệu chứng của khổ đau, nhưng
gốc rễ của khổ đau vẫn còn
đó, khi thay đổi một sự
kiện nhỏ trong một toàn thể rộng
lớn lại là nguyên nhân cho một
vấn đề khác nổi dậy. Chúng
ta nên hiểu thấu vấn đề
này và hãy biết ơn
Đức Phật đã chỉ dạy cho
chúng ta một phương pháp tâm lý
học tuyệt vời để điều
trị tận gốc những vấn
đề của con người.
Khi
chúng ta thành tâm thực hành
phương pháp tu tập này là
chúng ta tự chuyển hoá chúng ta trong
thần tính của Heruka, chúng ta nên
hiểu rằng tất cả tiến trình
chuyển hoá này đều
được tự thể hiện qua
sức mạnh của tính không trong
chính tâm của chúng ta. Nó tuyệt
đối không là gì cả nếu
đem so sánh với sự kiện
trở nên một cái gì, thí
dụ, trở nên một cây nến. Hai
vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Chúng ta phải tuyệt đối hiểu
thấu vấn đề này. Rất nguy
hiểm nếu chúng ta không sáng tỏ
vấn đề. Tôi nghĩ rằng
những người Tây phương
phải mất một thời gian rất
dài mới hiểu được.
Chúng ta bắt buộc phải nhìn ra
được sự khác biệt
này.
Khi
hiểu được tính không,
chúng ta sẽ có một sức mạnh đem
tâm chúng ta kết hợp làm một
với đại lạc của chân
tính, điều này hoàn toàn
khác biệt với những phóng
chiếu, với những vọng
tưởng của bản ngã. Đại
lạc này được chuyển hoá
trong thần tính. Chúng ta có thể
nhìn được sự khác biệt
to lớn giữa sự trở
nên Heruka Vajrasattva và trở nên một
cây nến. Nếu chúng ta không có
sự hiểu biết sâu thẳm về
sự tự phát triển của
phương pháp này thì khi có
người phê bình sự thực
hành của chúng ta “cái gì là sự khác biệt
khi trở nên một Heruka hay một cây
nến? Tốt hơn hết hãy trở
nên một đoá hoa hồng, ít ra anh
còn có mùi thơm!”, chúng ta
sẽ cứng họng mà không trả
lời được. Rồi chúng ta bắt
đầu nghi ngờ việc tu tập: “ Đây là một
ý kiến hay. Tôi không trả
lời được câu hỏi.
Có lẽ toàn thể công việc
thực hành của tôi sẽ không mang
lại ơn ích gì mà chỉ cố
gắng trở nên một cây nến.”
Nếu đây là trình độ
hiểu biết của chúng ta trong vấn
đề này thì nó còn kém
hơn cả cái chẳng có gì.
Chúng ta nên hiểu sự khác biệt
này.
Hầu
như tất cả chúng ta khi thực
hành những phương pháp thiền
định đều quán tưởng
Đức Phật Thích Ca hay Quan Thế
Aâm Bồ Tát. Nếu chúng ta có
một chút hiểu biết về tính không,
chúng ta sẽ quán tưởng
được dễ dàng. Nếu không
như vậy thì với những ý
niệm sai lầm và những vọng
tưởng vật chất sẽ là
những trở ngại rất lớn
cho chúng ta trong việc quán tưởng
về sự chuyển hoá của chân
tính vào thần tính Heruka. Nói một
cách khác, nếu lúc nào chúng ta
cũng ấp ủ, cũng mang hình ảnh
Phật đi khắp mọi nơi, thì chính
niềm tin tưởng này sẽ làm
chúng ta dễ quán tưởng
đến Ngài, rồi một ngày nào
đó bất chợt Ngài sẽ hiện
diện ngay trước mặt chúng ta. Như
tôi đã từng giải thích
ở trên, toàn bộ sự quán
tưởng sẽ xuất hiện cùng một
lúc, chúng ta không cần bắt
đầu quán tưởng về một
Đức Phật nhỏ rồi từ
từ lớn dần, lớn dần
thành một Đức Phật lớn.
Như
vậy, con đường qui y theo phương
pháp mật tông không dễ dàng
chút nào. Nó khó hơn nếu so
sánh với phương pháp qui y
thông thường (bề ngoài) theo kinh
sách mà chúng ta thường
đọc. Tuy nhiên, một khi tâm chúng ta
đã đạt đến một trình
độ nào đó trong việc phát
triển trí tuệ thì chúng ta có
thể thực hiện phương pháp nội
qui y một cách dễ dàng hơn. Chúng
ta cũng nên hiểu rằng phương
pháp nội qui y này không có gì
đi ngược lại Phật Pháp.
Phương pháp mật tông không phê
bình phương pháp kinh điển là
tốt hay xấu! Phương pháp khác
biệt này được mang ra dạy
bảo là vì tâm của chúng sinh
có nhiều trình độ phát triển
khác nhau. Đến đây tôi
thiết nghĩ không còn gì phải
giải thích thêm về sự qui y bí
mật nữa.
PHÁT TÂM BỒ
ĐỀ
Tiếp
theo nghi lễ qui y, chúng ta phát nguyện
Tâm Bồ Đề theo phương pháp
mật tông. Điều này có nghĩa
là chúng ta cần phát khởi lòng
hăng say đạt quả vị Heruka càng nhanh
càng hay, như thế chúng ta mới
có đủ khả năng hướng
dẫn những chúng sinh khác
đến quả vị Heruka, cũng trong một
thời gian rất ngắn. Làm như vậy thì
không bao giờ chúng ta còn
lười biếng. Thí dụ, chúng ta
sẽ làm gì nếu một con nai mẹ
đang bị kẹt trong bụi lửa. Chúng
ta không thể ngồi thoải mái mà
nói: “ Hãy để nó cháy
đi, tôi không có thời
giờ để lôi nó ra bây
giờ, tôi sẽ làm lát
nữa.” Dĩ nhiên là chúng ta phải
ngưng ngay những công việc mà
chúng ta đang làm, không cần biết
nó quan trọng đến thế nào,
chúng ta phải vội vàng cứu con nai ra
khỏi đống lửa ngay. Cũng
giống như vậy, một khi chúng ta biết
chúng sinh đang bị trói buộc và
cháy trong lửa dục vọng, trong lửa
mê lầm thì chúng ta không thể
lười biếng được
nữa. Chúng ta sẽ mau mau chuyển hóa
tất cả những sinh hoạt trong
đời sống như ăn, ngủ,
làm việc vào Đạo Pháp. Ta sẽ
không cho phép ta đắm chìm trong
biển trầm luân một giây phút
nào nữa.
Nhưng
thực sự chúng ta vẫn
lười biếng. Cái tâm xấu xa
của chúng ta vẫn đẩy chúng ta
vào cuộc sống đầy hưởng
thụ: “ Hãy để mẹ tôi
cháy, tôi sẽ cứu bà ấy ra
sau khi tôi hưởng thụ xong.” Dĩ
nhiên là chúng ta không nói
những lời như vậy, nhưng
những thái độ của chúng ta
trong đời sống phản ảnh
những cảm nghĩ ở nội tâm
của chúng ta. Hãy thận trọng! Chúng
ta thường có những thái
độ này. Hãy tưởng
tượng : Tôi đang ngồi
thưởng thức những món cao
lương mĩ vị trong một nhà hàng
sang trọng thì học trò của tôi
hối hả thông báo mẹ tôi đang
bị cháy. Tôi vẫn ngồi thản
nhiên trả lời, “ khoan đã,
tôi còn ăn tráng miệng
nữa!” Có phải qúy vị
nghĩ ngay đến lòng ích kỷ
của tôi phải không? Dĩ nhiên,
lời nói trên hơi quá
đáng nhưng nó cho chúng ta biết
một chút về thái độ của
chúng ta trong đời sống
thường ngày.
Dĩ
nhiên, chúng ta không nên tức
giận, không nên quá xúc động
trong vấn đề này. Nếu tôi
khích động qúy vị thật mạnh,
qúy vị sẽ chẳng muốn làm
bất cứ điều gì mà chỉ
muốn từ bỏ hết để đi
vào rừng núi sâu mà thiền
định. Nếu làm như vậy, chúng
ta lại tạo thêm một vấn đề
nữa rồi. Tôi không muốn làm
qúy vị qúa hăng say, tốt hơn
hết chúng ta nên từ tốn,
thoải mái, nên tìm hiểu và
giải quyết mọi vấn đề bằng
trí tuệ. Như tôi nói ở
trên, thường thường ở
Tây tạng, sau những buổi học tập
về phương pháp tu tập, các
thiền sinh trở nên qúa hăng say,
họ vội vã muốn rời lớp
học, từ giã tu viện để đi
vào những hang động trong núi
sâu để sống và thiền định
như Milarepa. Thực
ra, có rất nhiều người
đã ra đi và dĩ nhiên, hầu
hết đã quay trở về sau vài
ngày.
Điều
này cho chúng ta biết sức mạnh
của Đạo Pháp như thế nào.
Có nhiều người nghĩ rằng
đây là quyền lực của Lạt
ma có thể thay đổi đời
sống của con người. Nhưng
đây chính là sức mạnh
của Đạo Pháp đã thay
đổi tâm của con người.
Đạo Pháp tác động tâm
thức của chúng ta làm thái
độ tâm linh của chúng ta thay
đổi. Đó là sức mạnh
của Đạo Pháp, chẳng phải bùa
phép của Lạt ma. Chúng tôi không
biết một chút huyền thuật nào!
Khi
chúng ta thực tập diệu pháp Heruka
Vajrasattva, chúng ta lặp lại lời tụng
niệm 3 lần mỗi khi qui y và phát
nguyện Tâm Bồ Đề. Tại sao phải
lập lại như vậy?
Chúng ta làm như vậy để
khẳng định rằng chúng ta có
thời giờ để thiền và
để thẩm thấu ý nghĩa của
từng lời tụng vào tâm
chúng ta. Nếu không như vậy, chúng ta
sẽ làm cho qua lệ và tâm hồn
sẽ trở nên khô cằn, không có
một chút rung cảm nào với
những lời cầu nguyện.
Tuy
nhiên, như tôi đã từng
nhắc và khuyên bảo nhiều lần, qui
y không phải đơn giản là lặp
đi lặp lại những lời tụng
niệm. Chúng ta có thể tụng lên
bằng tiếng Anh, tiếng Tây tạng,
tiếng Phạn...vân vân... hay chúng ta
có thể im lặng. Một điều vô
cùng quan trọng là hãy ý
thức cái gì đang xẩy ra trong
tâm của chúng ta. Nếu chúng ta có
một niềm tin mãnh liệt và có
một trí hiểu biết liên tục lâu
dài thì đạt quả vị Phật chính
là mục đích của chúng ta trên
con đường tu tập. Nếu không
như vậy, dù có niệm “ Nam mô
Phật, nam mô Thầy ...” cả triệu
lần cũng chẳng có gì xẩy ra.
Thật là phí giờ và tốn
công sức!
Theo
truyền thống Phật giáo Đại
thừa, chúng ta nên thực hiện nghi
lễ qui y cả ngàn lần, tiến dâng
mạn đà la (đạo tràng) cả
ngàn lần, quì lạy cả trăm ngàn
lần ...vân vân... Làm như vậy
có nghĩa là chúng ta tu tập, qui y
bằng tất cả thân khẩu và
nhất là trọn vẹn cả tâm hồn
của chúng ta. Nếu miệng lẩm bẩm
“ Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô
Tăng ” rồi nghĩ rằng chúng ta
đã qui y xong thì rất có thể
miệng thì qui y mà tâm thì uống coca
cola. Như vậy chúng ta sẽ
được những ơn ích gì
khi tụng niệm những lời chú
đó? Có thể một vài câu
chú có những mãnh lực
riêng, nhưng dầu vậy, chúng ta vẫn
có quyền nghi ngờ nó không
có ơn ích gì cả nếu tâm
chúng ta còn bận rộn, bám víu
vào những vấn đề khác
mà không thực tâm chú ý
vào lời tụng niệm.
Vì
thế, qui y không dễ chút nào. Khi qui y
tập thể, mỗi người lo chuyện
riêng của mình, mỗi người
để tâm một nơi khác nhau. Tùy
theo sự hiểu biết và tùy theo
ý thức mà mỗi người qui
y khác nhau. Mặc dầu chúng ta tụng
những câu chú giống nhau, lặp
đi lặp lại những lời cầu
nguyện giống y hệt nhau mà mỗi
người có sự rung cảm, có
những chứng nghiệm khác nhau,
điều này nói lên mỗi
người trong chúng ta có những
kinh nghiệm, có những tâm cảm
khác nhau.
Khi
bắt đầu thực hành Tâm
Bồ Đề, chúng ta sẽ biết
có rất nhiều đường
để cứu độ chúng sinh.
Bổn phận của Bồ Tát là
thực thi sáu hạnh nguyện (bố thí,
trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định và trí huệ.) nhưng
phải cần một thời gian rất lâu
để những hạnh nguyện này
thực sự thấm nhập vào tâm
hồn chúng sinh. Nó không có kết
quả liền trong một ngày, một
giờ. Khi thực hành những
hạnh nguyện, chúng ta sẽ cảm thấy
chúng ta đã làm được
một công việc hữu ích trong cuộc
đời chúng ta. Mỗi khi ta cảm
thấy ta đã không làm
được công việc gì hữu
ích, không giúp gì được
cho chúng sinh thì ta phải biết rằng ta
đã không từ bi chút nào.
Một khi ta chỉ để ý đến
những vấn đề riêng tư
thì ta càng trở nên ích kỷ
hơn, hẹp hòi hơn, cô đơn
hơn. Chúng ta sẽ bị ám ảnh “
Tôi có quá nhiều vấn
đề... trở ngại này... khó
khăn kia... vấn đề của tôi...
vấn đề của tôi...” và
như vậy chúng ta sẽ không còn
để ý đến những vấn
đề của người khác chung quanh
chúng ta nữa. Kết quả là ta
không còn một chút từ bi nào
dành cho họ.
Những
ám ảnh đó là những
nguyên nhân đem đến sự
tự hủy hoại mình. Đừng
bận tâm về họ vì ta nghĩ rằng
cuối cùng họ sẽ hiểu
được những vấn đề
của họ chăng? Những người
muốn tự tử không hiểu một
chút gì về những vấn
đề của họ. Đó là lý
do họ tự giết mình. Cái nhìn
của họ quá hẹp hòi, quá chật
hẹp, quá nhỏ bé. Tự tử
không bao giờ là kết quả của
thực tế.
Trong
thời cổ Aán độ, có một
ông vua giết cha của mình, khi ông
trực nhận ra điều ông đã
làm, ông bắt đầu hối hận,
bắt đầu hối tiếc, buồn
đến độ ông không còn
dám nghĩ đến bất cứ
điều gì khác. Cuối cùng,
ông ta đến với Phật, Phật hỏi
ông “Giết cha của anh có
đáng giá không.” Tự nhiên,
ông xúc động, tâm ông bắt
đầu tỉnh lại. Oâng suy nghĩ sâu
xa về câu nói của Phật, và
cuối cùng ông ngộ ra rằng mục
đích chính của lời Phật
dạy là ông nên giết đi cái
tâm bám víu và cái tâm
lường gạt, chính tâm vọng
tưởng đã đem ông vào
cuộc sống luân hồi này. Qua sự
thực chứng đó, ông
đã trở nên một la hán.
Điểm quan trọng ở đây là
ông ta đã quá bận tâm,
đã bị ám ảnh quá nhiều
bởi những vấn đề riêng,
những cảm xúc vô minh này
đã tràn đầy tâm ông
đến nỗi không còn một chỗ
trống nào cho sự bình an thanh thản.
Nếu tâm chúng ta quá hẹp hòi,
quá nhỏ bé thì sẽ không
còn một chỗ nào cho cả chính
chúng ta, còn nói chi dành cho
người khác?
Chiếc-bình-thiền-định :
thực tập chín vòng hơi thở
Sau
khi qui y và đối tượng qui y
đã chảy tan thành ánh sáng
rồi hòa tan vào ta, ta hãy tập trung
thiền định vào một điểm
là Heruka Vajrasattva hay Vajradhara (tùy theo sự
chọn lựa đối tượng
để quán tưởng và qui y
của mỗi người --Dg ) cho
đến khi nào ta trở nên làm
một với Ngài. Nếu những
ý tưởng nhị nguyên bắt
đầu phát khởi, hãy phát
nguyện Tâm Bồ Đề, như tôi
đã giải thích ở trên.
Bắt
đầu từ điểm này của
diệu pháp, ta không còn quán
tưởng như những hình
thức thông thường; thay vì
như vậy, vì đã trở nên
làm một với Heruka nên ta xuất
hiện như Heruka hoặc Vajradhara. Do đó, ta
không còn nghĩ rằng “ tôi là
thế này...thế khác...” hay
tưởng tượng đây là
thể xác được tạo bởi
xương, thịt, máu nữa...-- nhưng
cũng đừng bám víu vào
những hình tượng thần
thánh này. Điều này có nghĩa
là ta quán tưởng ta là Heruka
nhưng đừng phát triển lòng tin
ta là Heruka (nếu bám víu vào
đối tượng, chấp vào
đối tượng sẽ tạo cho ta
chấp vào cái tôi, kiêu căng
ngã mạn - Dg). Sau
này, ta sẽ làm giống như vậy khi ta
tụng niệm mật chú trong lúc thực
hành phương pháp sức mạnh
của sự điều chỉnh.
Bây
giờ, trong lúc quán tưởng
mình là thần linh, ta hãy thực
hiện phương pháp
chiếc-bình-thiền-định. Theo
phương pháp này, hãy chỉ
thở bằng mũi, miệng ngậm lại.
Thở vào và thở ra chậm
chậm, tự nhiên, hoàn toàn không
đứt quãng, nhưng khúc
giữa của hơi thở hơi mạnh
hơn khúc đầu và khúc cuối.
Nó giống như hình dạng của hạt
gạo, hai đầu nhỏ lại, khúc
giữa phình ra một chút.
Đừng sử dụng cách
thở gò bó mà ta thường
thấy trong một vài phương pháp
của Aán độ giáo.
Có
rất nhiều kênh thần lực (psychic
energy channels) trong con người chúng
ta. Ở
đây chúng ta chỉ để ý
đến ba kênh chính (ba đường
kinh mạch chính -Dg).
Kinh mạch trung tâm là một ống sáng
trong suốt to khoảng ngón tay út, chạy
ở giữa cột xương sống
thẳng từ luân xa trên đỉnh đầu (luân xa 7,
huyệt bá hội-Dg)
xuống luân xa dưới cùng (luân
xa 1, huyệt trường cường -Dg). Ở bên phải và
bên trái của kinh trung tâm này
cũng có hai ống sáng nhưng nhỏ
hơn ống giữa, chúng chạy
từ hai lỗ mũi lên luân xa đỉnh
đầu, ở đây chúng uốn
vòng xuống như cái cán của
cây dù, rồi chạy xuống dọc theo hai
bên của kinh trung tâm, đến một
điểm cách phía dưới rốn
chừng 4 ngón tay chúng chạy vòng
vào bên trong rồi nhập vào kinh trung
tâm.
Hãy
quán tưởng những kênh
thần lực này, hơi thở
thứ nhất khí vào qua lỗ mũi
trái: chậm chậm, từ từ
mạnh, rồi chậm chậm. Quán
tưởng khí đi vào kinh mạch
bên trái, tràn đầy, đi
xuống rồi bắt vào kinh mạch bên
phải, đi trở lên và ra ở
lỗ mũi phải. Hãy đẩy khí
này ra bên ngoài hấp lực của
trái đất, bên ngoài thái
dương hệ, ra đi mãi mãi, mang theo
tất cả những nguồn năng
lượng tiêu cực như những
bám víu, những tham vọng, những
nghiệp chướng của chúng ta. Hãy
làm như vậy 3 lần.
Hãy
tập trung và theo dõi sự chuyển
động của khí trong đường
kinh mạch này, hãy để tâm
trở nên làm một với
sự di chuyển của luồng khí
lực này. Đừng nghĩ đến
những vấn đề nào khác.
Đừng cho rằng những
đường kinh mạch này là
thể chất được cấu tạo
bằng xương thịt, mà hãy
nhớ rằng ta đang quán
tưởng chính ta đang là thần
linh và những kinh mạch này là
những đường thần lực.
Nhưng ta cũng đừng nắm
giữ, đừng bám víu vào cái thể tinh
thần này mà hãy thanh lọc nó
như đã trình bày ở trên.
Hãy lặp lại sự thực tập
này 3 lần cho lỗ mũi bên phải,
khí đi vào lỗ mũi phải và
đi ra bằng lỗ mũi trái. Khí
đi xuống bằng kinh mạch bên phải
rồi chạy ngược lên bằng kinh
mạch bên trái, đẩy ra ngoài
không gian vô tận tất cả những
ám chướng, tham lam, sân hận và
ngu si, có nghĩa là tất cả
những gì ta không muốn có
ở trong ta.
Rồi
bây giờ hít vào bằng cả hai
lỗ mũi, khí đi vào cả hai
đường kinh mạch bên phải
và bên trái tới cái
điểm mà nó nối với
đường kinh mạch trung tâm (dưới rốn
4 ngón tay). Để
giúp ta theo dõi dễ dàng, ta có
thể nuốt nước miếng khi khí
đi xuống. Khi khí đi đến
chỗ kinh mạch trung tâm, hãy hóp
bắp thịt khu xương chậu lại rồi
dẫn luồng khí lực đi
ngược lên, từ luân xa cuối
cùng vào đường kinh mạch trung
tâm, lên luân xa hoả đại (luân
xa 3, vùng đan điền -Dg ),
ở đây nó sẽ gặp và
hoà tan vào khí lực từ
trên xuống. Một luồng khí an lạc
sẽ xuất hiện ở đây,
hãy giữ hơi thở và tập
trung vào điểm này. Điều
này rất quan trọng. Cho tới khi nào
không còn cảm thấy thoải mái
thì hãy thở ra một cách tự
nhiên bằng mũi. Nhưng thay vì
thở ra ngay, khí mà ta đã
giữ sẽ đi trở lên và
hòa tan trong đường kinh mạch
ở trung tâm. Hãy làm như vậy 3
lần.
Việc
thực tập này rất hữu ích
trong khi phát huy nguồn năng lượng an
lạc trong hệ thần kinh của chúng ta. Kinh
nghiệm an lạc là một phần quan trọng
của phương pháp thực hành
mật tông. Do đó việc thực
tập này vô cùng cần thiết
và mang lại nhiều ơn ích. Đây
là suối nguồn an lạc, xẩy ra trong
tâm của chúng ta - chính tâm của
chúng ta, không phải của ai khác -
nó được chuyển hoá vào
tòa sen cùng với chủng tử HUM
khi chúng ta tiếp tục thực hành
diệu pháp này.
Như
vậy, chắc chắn một điều là
chúng ta sẽ được an lạc
và thanh thản khi đến đoạn
cuối của việc thực tập
chiếc-bình-thiền-định này.
Tâm của chúng ta sẽ không còn
cơ hội để nghĩ đến
những hoạt động mờ ám hay
trở về con đường xưa
đau khổ nữa. Chúng ta có thể
kiểm soát được tâm của
chúng ta và chúng ta có thể chọn
bất cứ đối tượng
thiền định nào mà chúng ta
muốn. Chúng ta không thể thiền
nếu tâm còn bị quấy nhiễu,
còn bị lay động. Ngòai ra còn
một ơn ích khác do công việc thực
tập này mang lại là nó sẽ
phá hủy bản tính hung hăng, kiêu
ngạo, thích khoe khoang của chúng ta; nó
sẽ giảm bớt những mê
tín dị đoan và giúp chúng ta
vững mạnh trên con đường
hoàn thành phương pháp tu tập
này.
Do
đó, điều quan trọng để kinh
nghiệm sự an lạc là chúng ta nên
giữ hơi thở và tập trung
nó tại luân xa 3 (
khí tụ đan điền -Dg ). Hãy
chú ý thường xuyên đến
niềm an lạc. Niềm an lạc này đi
ngược lại với những
cảm giác thích thú thường
tình mà chúng ta thường kinh
nghiệm trong đời sống vô minh
hàng ngày, chúng chỉ là
những kinh nghiệm vô ý thức.
Tại sao hai kinh nghiệm này lại khác nhau?
Tại vì một đến từ trí
tuệ, một đến từ vô minh.
Một trở thành con đường
giải thoát, còn một đưa
đến đau khổ, bám viú, tham lam.
Qua sự thực tập này, chúng ta
có thể khám phá ra chúng ta là
ai, cũng không cần tôi phải nói,
qúy vị sẽ tự biết.
Quán
tưởng nguồn năng lực hòa
tan trong kinh mạch trung tâm khi chúng ta
thở ra là hình ảnh của công
việc thực hành phương pháp
luyện nguồn tâm hỏa kundalini. Vì
thế, hãy thận trọng khi làm việc
này và đừng nghĩ rằng
chúng ta sẽ tiêu phí khí lực
trong lúc thực hành. Sau khi đã
thực tập xong 9 vòng hơi thở
của chiếc-bình-thiền-định,
chúng ta có thể tiếp tục bước
vào con đường chính của
phương pháp tu tập.
Phần chính của phương pháp tu
tập
Mở đầu sự quán
tưởng
Trên khoảng
không, cách đỉnh đầu khoảng
6”, xuất hiện chủng tử PAM, sẽ biến
hóa vào đóa sen ngàn cánh.
Trên đỉnh đóa sen này xuất
hiện chủng tử AH, sẽ biến hóa vào
vầng nguyệt trắng. Trong trung tâm của
vầng trăng có chủng tử HUM.
Đột nhiên, chủng tử này
biến hóa thành chày kim cang trắng
ở giữa có chủng tử HUM.
Aùnh sáng từ chày kim cang và
chủng tử Hum tỏa sáng khắp
mười phương để hoàn
thành hai mục đích. Cả vũ trụ
chan hòa vào ánh sáng. Rồi ánh
sáng thu hồi vào chủng tử HUM trong
chày kim cang. Chủng tử HUM và chày
kim cang tan hòa vào ánh sáng rồi
chuyển hóa thành Ngài Kim Cang Tát
Đỏa.
Thân Ngài
màu trắng, một mặt và hai tay. Ngài
cầm chày kim cang ở tay phải, tay
trái ngài cầm chiếc linh (chuông
nhỏ). Ngài ngồi trong tư thế
kiết già, tay bắt ấn. Nữ
phật tính của Ngài, Dorje Nyem-ma, ôm
choàng thân Ngài. Nữ phật tính
màu trắng, một mặt và hai tay; tay
phải cầm dao hình cong, tay trái cầm ly
hình sọ người.
Cảø hai mặc
thiên y và đeo nữ trang, chủng
tử OM trên luân xa đỉnh
đầu, chủng tử AH ở luân
xa cổ, chủng tử HUM ở luân xa
trái tim. Ánh sáng từ chủng tử
HUM ở trái tim Kim Cang Tát Đỏa
tỏa sáng, thỉnh cầu nguồn đại
lạc của các chư Phật trong
mười phương.
Trên đỉnh đầu,
xuất hiện chủng tử PAM mầu
trắng rồi được biến hóa
trong hoa sen trắng ngàn cánh. Trên hoa sen,
xuất hiện chủng tử AH, rồi
được biến hóa vào vầng
trăng sáng. Vầng trăng này không
giống như vầng trăng đã
được khám phá bởi
các khoa học gia mà là ánh sáng
tuyệt đối. Trên vầng trăng, ngay
ở giữa, xuất hiện chủng
tử HUM, sẽ được chuyển
hóa vào chày kim cang trắng, ở
giữa chày có chủng tử HUM.
Chày kim cang tượng trưng cho sự
bền chắc không thể hủy diệt.
Từ
chày kim cang, đặc biệt từ chủng
tử HUM ở giữa chày, ánh
sáng tỏa ra khắp mười
phương, bao trùm cả vũ trụ. Ánh
sáng được tỏa ra để
hoàn thành hai nhiệm vụ: cúng
dường Chư Phật và Chư Bồ
Tát, đồng thời ban
phước lành cho tất cả chúng
sinh để thanh tẩy thân khẩu và
ý. Tất cả muôn loài chúng sinh
hữu tình và vô tình tan hòa
vào ánh sáng, rồi lại kết
tụ vào chủng tử HUM ở trung
tâm chày kim cang.
Chày
kim cang cũng tan hòa trong ánh sáng,
rồi đột nhiên Ngài Kim Cang Tát
Đỏa xuất hiện. Ngài có thân
hình màu trắng, một mặt và hai tay.
Ngài cầm chày kim cang ở tay phải,
tay trái ngài cầm chiếc linh. Ngài
ngồi trong tư thế kiết già, hai
bàn tay bắt ấn quyết.
Ngài
ôm choàng nữ phật tính Dorje Nyem-ma (Tạng
ngữ, có nơi gọi là Phật
Bà, Phật mẫu, consort, phối ngẫu
tính, dù gọi là gì, dịch thế
nào đi nữa cũng không diễn
tả hết được ý nghĩa
BẤT NHỊ của PHẬT TÍNH, đây
chỉ là hình ảnh, một biểu
tượng của bất nhị - Dg), nữ phật tính cũng
màu trắng và ngồi trong tư thế
ôm choàng Ngài Kim Cang Tát Đỏa.
Nữ phật tính một mặt và hai tay,
tay phải cầm dao, tay trái cầm ly
rượu thần hình sọ
người. Con dao tượng trưng cho
trí tuệ, mục đích để cắt
đứt những tạp niệm và
những bám víu vào những
thú vui vật chất. Ly rượu thần
tượng trưng cho sự an lạc mà
ngài đạt được trong giác
ngộ, đây không phải là
người đàn bà say sưa của
thế gian. Mặc dù đây chỉ là
một hình ảnh tượng trưng nhưng
nó tạo cho chúng ta một ấn
tượng rất sâu đậm.
Nếu
chúng ta đi ngược dòng lịch
sử, chúng ta sẽ biết
người đàn bà trong quá
khứ bị coi như không có giá
trị nào cả, mà chỉ là một
người phục vụ cho đàn ông.
Nhưng thực ra không phải vậy.
Truyền thống tâm lý học Phật
giáo, nhất là mật tông, chỉ cho
chúng ta biết một cách vô cùng
rõ ràng rằng đàn ông và
đàn bà như nhau, cả hai đều
có khả năng khám phá phật
tính nằm trong tâm mình. Xa hơn
nữa, đàn bà còn có
một tiềm lực mãnh liệt để
phát triển nguồn sức mạnh của
trí tuệ và có thể chia sẻ
nguồn an lạc đó cho những yogi (nam).
Cùng lúc đó, yogini (nữ)
cũng nhận lại nguồn an lạc từ
yogi. Do đó, nếu chúng ta có
những kinh nghiệm nội tâm về
sự tượng trưng của nữ
phâït tính, thì mỗi khi chúng ta
nhìn thấy tranh ảnh của Đại
thừa chúng ta sẽ cảm nhận
được những nguồn an lạc,
chiều sâu của những cảm nghiệm
này tùy theo tâm của mỗi
người. Thực ra, những
bức tranh này cho chúng ta một sự
cảm thông ở bên ngoài ngôn
ngữ.
Tâm
vô minh và tâm giới hạn của
chúng ta luôn luôn nghĩ rằng: “
Tôi không thể làm được
bất cứ việc gì ... tôi không
thể làm cái này, tôi không
thể làm cái kia...,” điều
này hoàn toàn sai lầm. Chúng ta
có thể làm bất cứ
điều gì chúng ta muốn !!! Khi sinh ra
chúng ta đã mang sẵn nhiều khả
năng: chúng ta có thể suy nghĩ,
chúng ta có thể truyền đạt
những tư tưởng của chúng ta
cho những người khác và
chúng ta có thể phát triển một
cách không giới hạn những
tài năng của chúng ta. Nếu chúng
ta nghĩ chúng ta lười biếng,
chúng ta sẽ lười biếng.
Chúng ta sẽ phung phí cuộc
đời và sẽ chẳng làm
gì cả. Nghĩ như vậy chúng ta sẽ
tiếp tục nhận chìm chúng ta xuống.
Thực sự, chúng ta không như
vậy, chúng ta có khả năng làm
được nhiều thứ !
Phương
pháp mật tông sẽ chỉ cho chúng ta
những khả năng tiềm ẩn sẵn
có trong chúng ta và giúp chúng ta
ngăn cản những tư tưởng
tiêu cực, những tư tưởng
này chỉ làm cho chúng ta buồn nản
mà không thực hiện được
điều gì tốt đẹp trong cuộc
đời. Chúng ta đã có
nhiều cơ hội để gặp gỡ
và học hỏi những lời dạy
bảo cũng như những sự
hướng dẫn thực hành.
Chúng ta hãy tận dụng những cơ
hội và những hoàn cảnh thuận
tiện này.
Nếu
một người bình thường
nhìn bức tranh Dorje Nyem-ma cầm ly
rượu thần hình sọ
người, tượng trưng cho suối
nguồn an lạc, biểu tượng cho
sự chứng đắc chân tính,
họ sẽ nghĩ rằng đây là
một ma nữ uống máu. Họ sẽ kinh
tởm và sợ hãi, họ sẽ
nghĩ rằng đây là một chiếc
sọ đầy máu người và cho
rằng Đại thừa Phật giáo tin
vào sự hiến tế nhân mạng.
Họ còn sợ bị chúng ta cắt
cổ ! Nếu họ nhìn bức tranh Yamantaka mang
bộ xương người, có lẽ
họ sẽ sợ đến mang bệnh;
chính lòng mê tín của họ tố
cáo Yamantaka giết người. Tuy nhiên,
ngược lại với lòng mê tín
đó, đây là những biểu
tượng cho chúng ta một ý nghĩa
vô cùng thâm sâu mà nó phản
ảnh một sự thực chứng cao
độ.
Trong
diệu pháp Heruka Vajrasattva hay trong 6 bước
tu tập của một đạo sĩ, có
một phần mà chúng ta phải quán tưởng
chúng ta là Kim Cang Tát Đỏa đang
ôm choàng nữ/nam phật tính (
phối ngẫu tính). Hiện tại trong các
tu viện, các vị sư nam và sư
nữ đã thề nguyền không
có vấn đề đụng chạm
thân xác và có thể hiểu rằng
họ không bao giờ thực hành
phương pháp này với nhau. Tuy
nhiên, nữ phật tính ở
đây không phải là một
người đàn bà bằng
xương bằng thịt mà là một
âm tính (năng
lượng âm) trong
tam ma địa (đại định), và do
đó, họ được phép
hoà nhập trong lúc thiền định.
Phái nữ có thể quán
tưởng mình là Kim Cang Tát
Đỏa hay là người đang ôm
Vajrasattva là Dorje Nyem-ma, một người
sẽ trở nên làm một với
Heruka Vajrasattva và hoà tan trong đại trí
tuệ an lạc của Ngài. Như vậy là
chúng ta chuyển hoá những nguồn
năng lượng xấu thành Trí
Bát Nhã của Vajrasattva.(từ
đây sẽ không dịch là Kim Cang Tát
Đỏa nữa mà sẽ giữ
nguyên âm Vajrasattva cho phù hợp khi
tụng mật chú – Dg)
Mục
đích của việc thực tập này
là để phát triển Trí Bát
Nhã Tánh không. Điều này
hoàn toàn khác với sự
ôm ấp bình thường của
đôi trai gái. Để có thể
hòa nhập trong sự tỉnh thức
của an lạc, một điều vô cùng
quan trọng là phải từ từ
phát triển tâm tỉnh thức. Do
đó, điều trước tiên
là những người tu sĩ nam
nữ nên cắt đứt tất
cả những liên hệ thể xác
mà chỉ thực tập phương pháp
này với âm/dương tính
tam-ma-địa cho đến khi nào
đạt được những
thực chứng cao hơn. Chỉ khi nào
họ đã phát triển tâm
thức ở mức độ cao họ
mới có thể có những
liên hệ bình thường, nhưng
cũng không phải là những
sự thỏa mãn phàm tục. Phải
một thời gian thật lâu chúng ta
mới có thể đạt đến
đó, mà cũng không cần
thiết cho chúng ta phải thực tập
như vậy. Vì thế, chúng ta không
cần giải thích thêm chi tiết
ở đây.
Điểm
cần phải nhấn mạnh ở
đây là biểu tượng ôm
choàng đó giúp người
thực tập phát triển Trí Bát
Nhã. Nếu phái nữ có thể
làm như vậy, không sao, nhưng nếu
nó ảnh hưởng đến phái
nam như là một sự khêu gợi,
ngã lòng, chán nản thì tất
cả những tâm trạng đó
là tâm trạng phàm tục. Dĩ
nhiên nó cũng ảnh hưởng
đến phái nữ khi quán
tưởng hình ảnh nam.
Heruka
Vajrasattva và nữ phật tính của
Ngài mặc thiên y và đeo những
bảo châu tuyệt đẹp. Dĩ nhiên,
“tuyệt đẹp” ở đây
có tính cách tương đối.
Cái gì làm cho một người ở
nước này gọi là đẹp
thì lại xấu ở nước kia
và ngược lại. Đối
với triết lý nhà Phật thì
đẹp, xấu, tốt, dở tùy theo
tâm của chúng sinh. Cái gì là
nữ trang và cái gì không phải
là nữ trang đều bắt nguồn
từ tâm.
Chúng
ta có thể hiểu cái điều
đơn giản này khi nhìn vào
sự phát triển văn hóa của
người Tây phương và vào
những thời điểm mà
người ta cho là đẹp hay xấu.
Qúy vị có thể hiểu điều
này rõ hơn tôi. Tôi chỉ có
thể biết được những điều
này qua sự học hỏi triết lý
Phâït giáo; còn qúy vị
đã trực tiếp biết và quan
sát chúng. Chúng ta chỉ cần quan
sát những người làm
ở những cửa hàng, họ thay
đổi cách trang trí, cách trưng
bày hàng hóa mỗi ngày. Cái
gì đẹp của ngày hôm qua, hôm
nay đã xấu rồi! Qúy vị thật
may mắn! Vì qúy vị chứng
nghiệm được lời dạy
bảo của Phật ngay ở đó,
nó luôn luôn xảy ra chung quanh qúy
vị. Qúy vị vừa được
hưởng đời vừa
được hiểu chân lý.
Như
vậy, người từ những
quốc gia khác nhau sẽ có những
quan niệm về cái đẹp khác nhau;
có thể qúy vị không đồng
ý với tôi về lối diễn
tả vẻ đẹp của Vajrasattva và
nữ phật tính cuả Ngài. Tuy
nhiên, qúy vị có thể quán
tưởng vẻ đẹp và đồ
trang sức của các Ngài tùy theo
ý kiến riêng của qúy vị.
Nhưng những biểu tượng trang
sức là những quán
tưởng nội tại và do đó
nên quán tưởng theo sự diễn
tả trong bài thực tập này.
Điều quan trọng là chúng ta không
nên bỏ nó và không quán
tưởng đến nó, vì chúng
ta thường nghĩ rằng nó qúa
phức tạp cho việc quán tưởng.
Heruka
Vajrasattva có tất cả 6 loại trang
sức khác nhau, nữ phật tính
của ngài có 5 loại. Vật trang
sức thứ 6, màu sáng trắng,
chính là thân thể của Ngài,
nó nói lên Ngài đã
đạt nguồn chân hỏa (kundalini).
Nguồn năng lượng chân hỏa
này không lem luốc đầy
người như chúng ta thường
thấy ở những ông đạo
sĩ Aán độ có một lớp tro
trắng trên thân thể họ. Có
những ông trông yếu xìu chẳng
có một chút năng lực nào,
dương tính của họ không hoạt
động. Nguồn năng lượng nội
hỏa của Vajrasattva hoạt động mãnh
liệt nên thân thể Ngài sáng,
điều này chứng tỏ Ngài
đã đạt nguồn chân hỏa
(kundalini), cũng là nguồn đại lạc.
( Tôi nói “nguồn năng lượng
nội hỏa” thay vì chỉ nói “
nội hỏa” để qúy vị
đừng hiểu lầm đây là
sức lực bình thường
của phái nam).
Cả
Heruka Vajrasattva và nữ phật tính của
Ngài đều có chủng tử OM
trên đỉnh đầu (luân xa 7),
chủng tử AH ở cổ họng (luân
xa 5), và chủng tử HUM ở trái
tim (luân xa 4). Chủng tử HUM ở trung
tâm của vầng trăng. Vầng trăng
rất tròn và là biểu tượng
của niềm đại lạc, của Trí
Tuệ. Trong những đêm trời
nóng, chúng ta ra ngắm vầng trăng
tròn đầy tự nhiên chúng ta cảm
thấy khoan khoái dễ chịu. Đó
là một trong những lý do tại sao
vầng trăng lại được chọn
làm biểu tượng cho sự an lạc.
Chung quanh vầng trăng là những mật
tự của Heruka Vajrasattva, được
đọc theo ngược chiều kim
đồng hồ. Thường thường
trong những phương pháp mật tông,
mật tự được đọc theo
chiều kim đồng hồ, từ trái
qua phải; nhưng ở đây lại đọc
ngược chiều kim đồng hồ,
từ phải qua trái, điều này
nói lên Heruka Vajrasattva đặc biệt
để ý đến nguồn năng
lượng âm hơn là dương.
Lý do này nói lên phái nữ
dùng năng lượng bên trái
của cơ thể hơn là bên phải,
trong khi đó phái nam lại dùng năng
lượng ở bên phải của cơ thể
nhiều hơn là bên trái.
Khi
Phật tử đi vòng quanh một ngôi
tháp, họ thường đi theo chiều
kim đồng hồ, nên ngôi tháp bao
giờ cũng ở bên tay phải
của họ. Là một người
thực hành phương pháp tính
âm của mật tông, chúng ta nên
sáng suốt trong từng sự việc
chúng ta làm, chúng ta có thể đi
theo hướng ngược lại.
Những người không có một
sự hiểu biết sâu rộng sẽ cho
là chúng ta làm sai và
thường thường họ làm
khác đi; nhưng những người có
một tâm cởi mở, hiểu biết
rộng rãi, họ sẽ thông cảm
những sự hiểu biết của
chúng ta về mật chú. Tuy nhiên,
chúng ta không nên khoe khoang, mà nên
khiêm tốn, đơn sơ và hành
động đúng theo nghi thức được
dạy bảo.
Từ
chủng tử HUM ở tim của Heruka Vajrasattva,
có rất nhiều tia sáng chiếu ra
muôn phương để thỉnh cầu
phước tuệ từ các Chư
Phật rồi những tia sáng này
lại trở về tim và hòa tan trong
chủng tử HUM.
Lễ cúng dường Heruka Vajrasattva
OM KHANDA ROHI HUM HUM PHAT
OM
SVABHAVA SHUDDAH SARVA DHARMA SVABHAVA SHUDDHO HAM
Tất cả
đều vắng lặng. Chủng tử AH
xuất hiện trong Tánh Không rồi
biến thành một ly hình sọ
người rất lớn đựng 5
loại thịt và 5 loại rượu
thần. Chúng hòa tan vào nhau thành
một biển trí lực siêu việt.
OM
AH HUM HA HO HRI
Tiếp
theo chúng ta niệm mật chú để thanh
tẩy và cúng dường,
đồng thời nguyện cho những
vật cúng dường không mất
đi những phẩm chất của nó (OM
KHANDA...) , giống như sự cúng dường
từ nội tâm. Nhớ rằng
chúng ta đang là hình ảnh của
Heruka Vajrasattva nên chúng ta ban phước
và độ trì cho những hiến
vật này.
Rồi
hãy tụng chú Tánh Không (OM SVABHAVA ...).
Tất cả trở thành Tánh Không.
Với mật chú này và
với một quan niệm đúng
đắn về Tánh Không, chúng ta
chuyển hóa tất cả những vật
được dâng hiến và toàn
thể các hiện tượng trong vũ
trụ thành trí tuệ và an lạc. Trong
tinh thần bất nhị, xuất hiện chủng
tử AH trắng sáng, rồi biến
thành một ly hình sọ vĩ đại.
Bên trong chứa đựng 5 loại
thịt và 5 loại rượu thần.
Chúng hòa tan vào nhau rồi biến
thành một đại dương của an
lạc và trí tuệ.
Sau
đó tụng OM AH HUM HA HO HRI ba lần. Ở
đây chúng ta thanh tẩy những
năng lượng không thanh khiết của
những phẩm vật dâng hiến
để trừ khử những
mùi vị, màu sắc dơ bẩn và
để thăng tiến chúng.
Tôi
nghĩ rằng rất nhiều người
trong chúng ta đã có một số kinh
nghiệm về Tánh Không trong khi thiền
định, nhưng trí phân biệt của chúng
ta tự động nắm bắt vấn
đề mỗi khi có một ý niệm
xuất hiện, để rồi chúng ta
lại trở về những thói quen
của đời sống thường
ngày. Nhưng khi chúng ta đã
đạt được niềm an lạc
của thần trí thì nó lại hoàn
toàn khác, bất kể những gì
chúng ta nhận được, tâm của
chúng ta vẫn không hề bị lay
chuyển, vẫn không bị vướng
mắc và nắm giữ; ngược
lại chúng ta hoàn toàn an lạc,
chúng ta nhận ra được tuyệt
đối tính của tất cả
những hiện tượng trong vũ trụ
và cảm nghiệm được chúng
trong niềm an lạc tự nhiên.
OM VAJRASATTVA ARGHAM...SHABDA
PRATICCHA HUM SHAVA
Như
vậy là chúng ta đã thực
hiện 8 lần dâng cúng Heruka Vajrasattva.
Chúng ta cần có trí tuệ để
biến chúng thành hoàn mỹ, tuyệt
diệu; chúng ta cần một sự hiểu
biết thật sâu sắc để hiểu
thấu vấn đề.
Bình
thường những người du
lịch khi nhìn thấy những ảnh
tượng trong chùa hay trong các tu viện
tại Tây tạng, họ đều phê
bình bằng những cảm quan bề
ngoài theo những thói quen sẵn có.
Họ thực sự tin rằng chúng ta
dâng cúng thịt, giấy, nước
và quần áo cho những hồn ma.
Đôi khi họ còn bực mình khi
thấy những ảnh tượng
được xếp đặt chung
với những hình tượng
kỳ quái khác và họ không
thế nào hiểu được tại sao
lại có những người đi
dâng cúng cho những hình tượng
này. Hãy thận trọng: nếu
đức tin của chúng ta quá yếu,
nếu trí tuệ của chúng ta quá
mù mờ thì chúng ta cũng sẽ
nghĩ như vậy.
Do
đó, dâng cúng phẩm vật là
một cách thực hành mang lại
nhiều ơn ích. Đây là cách
để đối trị những sự
lười biếng, đạo đức
giả và đầu óc duy lý:
“ôi, đạo tại tâm mà”,
rồi chẳng bao giờ dám bỏ ra
một xu để mua phẩm vật. Tôi mong
rằng quý vị hiểu những
điều tôi muốn nói. Khi chúng ta
dâng cúng phẩm vật, dù chỉ là
một cây nến, bằng tất cả
tấm lòng chân thành, hiểu biết
và cung kính thì nó có giá
trị như là dâng hiến trọn vẹn
tất cả những gì chúng ta có
trong toàn thể vũ trụ này. Nhưng
vì chúng ta thường có
những ý nghĩ nhỏ mọn nên
không bao giờ chúng ta có thể
tưởng tượng được
chúng ta dâng cúng cả vũ trụ.
Vì thế tám lần dâng cúng
tạo cho chúng ta những điều
căn bản để dễ dàng chuyển hóa
tâm thức hòa nhập vào vũ
trụ.
Chúng
ta không nên dâng cúng theo thói quen
thông thường kiểu thế gian; thay
vì làm như vậy, chúng ta hãy
chuyển hóa tất cả những phẩm
vật vào sự an lạc thanh tịnh mà
chúng được thị hiện như
là nước, ánh sáng, âm thanh,
mùi vị và cảm giác. Qua sự
thực hành này, chúng ta có
thể chuyển hóa tất cả mọi
sự vật trên thế gian này thành
niềm an lạc tuyệt diệu, mặc dù
chúng mang bất cứ hình thái,
sắc tướng bên ngòai nào. Khoa
học đã chứng minh rằng tất
cả năng lượng đều là
sự biến đổi trạng thái
không ngừng nghỉ; một năng
lượng luôn luôn biến chuyển
thành một năng lượng khác.
Thí dụ như năng lượng của
mặt trời tác dụng hỗ tương
trên cây cối và những
đóa hoa tươi đẹp. Tất cả
mọi sự vật trên vũ trụ
đều có thể thay đổi !
Dù
chúng ta quán tưởng niềm an lạc
dưới bất cứ hình
thức nào, hình dạng nào, tâm
của chúng ta cũng tự động
phản ảnh nó; như thế, tất cả
những năng lượng xấu,
những ô nhiễm của những
ý niệm sai lạc đều
được thay thế bằng những
năng lượng tốt; những
nguồn năng lượng tươi vui
này sẽ tự nhiên phát khởi
lên trong tâm của chúng ta, chẳng
phải vì có một cục kẹo hay một
thỏi chocolate ở trong tay. Nếu chúng ta
làm một thử nghiệm, chúng ta sẽ
rất dễ dàng nhận ra được
sự hiệu nghiệm của vấn đề
tâm lý này.
Nhiều
người muốn tự tử. Vấn
đề của họ là do những
gì họ tưởng tượng ra,
nghĩ ra. Họ chỉ thấy toàn là
đau khổ, trở ngại; họ không
thể quên được những
nỗi khắc khoải, những phiền
muộn, họ không thể ngủ
được hoặc chẳng bao giờ
có được một giấc ngủ an
lành. Tự tử không phải là
lối giải quyết những vấn
đề trong cuộc sống. Họ cắt tay, bắn
vào đầu. Đây là một
điều quan trọng mà chúng ta phải
thấu hiểu tâm lý sâu xa của
vấn đề tự tử.
Tâm
lý sâu xa trong việc dâng cúng cũng
vậy, phải hiểu rõ mục đích
chính của cúng dường là
gì, nếu không hiểu được,
nếu không nhìn ra được phật
tính của sự vật thì sự
vật cũng chỉ là sự vật vật
chất mà thôi và sự dâng
cúng cũng chỉ là vật chất như
vậy. Nhưng nếu chúng ta hiểu
được siêu việt tính này,
chúng ta có thể giao cảm sâu xa khi
thực hành sự dâng cúng để
công việc tu tập của chúng ta
đạt được thành qủa,
tâm trở nên an lạc hơn, trí
tuệ phát triển hơn. Nếu chúng ta tu
tập theo chiều hướng này thì
chúng ta sẽ không bao giờ còn
buồn phiền, uất ức và sẽ
nhìn cuộc đời hoàn toàn
đổi mới tươi đẹp hơn.
Đừng
bao giờ bi quan trong việc thực hành
phương pháp chuyển hóa. Uống
một ngụm nước cam lồ sẽ
tươi mát hơn một ly nước
bình thường rất nhiều. Một ly
trà hay một ly cà phê chỉ cho chúng
ta một chút mùi vị khoan khoái
ở miệng và bao tử. Sự khoan
khoái này chỉ nhất thời và
chẳng bao lâu chúng ta lại phải đi
tiểu. Ngược lại, sự an lạc
sẽ tác động sâu xa vào toàn
thể hệ thần kinh, làm thanh tịnh năm
giác quan và nguồn năng lượng
này không có gì có thể so
sánh được. Đó là
sự thật! Tôi không hề nói
quá đáng.
Một
số người nghĩ rằng quý
vị tăng ni đã không còn
màng gì tới âm nhạc,
đã từ bỏ tấât cả.
Chúng tôi không từ bỏ gì
cả!!! Chúng
tôi thưởng thức, hưởng
thụ và chia sẻ tất cả mọi loại
âm nhạc trong vũ trụ. Chúng tôi
vẫn ca hát và nhảy múa với
nhau. Chúng tôi có thể ca hát và
nhảy múa khi nào chúng tôi thích,
khi nào chúng tôi còn ở trong
tình trạng tỉnh thức, còn trên
con đường giải thoát và
còn biết rằng chúng tôi không
gây bực bội cho hệ thần kinh của
chúng tôi. Trong những tu viện nam
cũng như nữ ở Tây tạng,
chúng tôi vẫn chơi những loại
nhạc khí trong những dịp hội hè
và ngay cả trong những lễ nghi tôn
giáo nữa. Chúng tôi không
thiếu sót gì trong đời
sống, chúng tôi thưởng
thức và an hưởng tất
cả!!!
Dĩ
nhiên, nếu chúng ta cứ mãi
giải thích những điều này cho
người đời thì họ
sẽ nghĩ rằng chúng ta điên
hoặc mơ mộng. Nhưng điều này
chẳng điên khùng chút nào,
đó là sự thật. Nếu họ
không đồng ý, hãy hỏi họ,
“vậy thì cái gì mới là
sự thật?” Họ không trả
lời được. Họ nghĩ
rằng họ rất thông minh và hãnh
diện vì họ cho rằng những gì
họ đã làm đều là
sự thật còn những gì chúng
ta làm đều là những
điều kỳ dị, không tưởng.
Đó là một ý niệm sai lạc. Nếu
chúng ta phân tích vấn đề
bằng trí tuệ, chúng ta sẽ thấy
rằng cả hai bên đều làm
cùng một công việc: huyễn ảo,
vọng tưởng; tất cả chúng ta
đều làm những việc hão
huyền. Vì thế, cái gì đúng
cho người này thì cũng có
cái đúng cho người khác.
Những
phẩm vật ta dâng cúng mang lại ba
đặc tính: thứ nhất là
niềm an lạc, thứ hai là sự an
lạc này được thể hiện qua
những hiến vật và mỗi hiến
vật có những đặc tính
riêng vô tận của chính nó,
thứ ba là nó không bao giờ
chấm dứt sự phúc lạc nơi
ta.
Chúng
ta có thể tưởng tượng
tám hiến vật được làm
bởi tám vị thần. Khi chúng ta
bắt đầu bắt ấn quyết
để dâng cúng phẩm vật thì
một vị thần tương ứng
với phẩm vật đó liền
xuất hiện từ trái tim của chúng
ta để làm việc dâng cúng,
rồi ngay sau khi chấm dứt ngài lại
tan biến trở lại trái tim của
chúng ta. Vị thần chính là sự
thị hiện của trí siêu việt, khi
các ngài tan biến trong tim của chúng
ta, các ngài thanh tẩy và làm cho
trái tim của chúng ta trở nên
tốt đẹp, an lạc, những nguồn
năng lượng này không thể
bị phá hủy. Mỗi vị đều
có bốn tay: hai tay trên cầm chày kim
cang và chiếc linh (chuông nhỏ) còn hai
tay kia dâng cúng phẩm vật.
Tám
hiến vật và 8 vị thần tương
ứng là:
argham Nữ
thần rượu tiên mang
mầu trắng
padyam Nữ thần chân sạch trắng
pushpe Nữ thần hoa trắng
dhupe Nữ thần nhang mầu
khói
aloke Nữ thần ánh sáng đỏ
gandhe Nữ thần hương thơm xanh
lục
naivedya Nữ thần thực phẩm nhiều
mầu
shabda
Nữ thần
âm thanh xanh lam
JAH HUM BAM HO. Trở
nên làm một, trở thành bất
nhị.
Trong
lúc dâng cúng hiến vật, chúng ta
tụng mật chú JAH HUM BAM HO. Với JAH,
Trí Tuệ được kêu gọi;
với HUM, Trí Tuệ đi vào;
với BAM, nó được hòa
nhập làm một; và với HO, nó
trở nên phúc lạc không thể
bị phá hủy.
Như
vậy, nguồn lực trí tuệ từ
chư Phật mà chúng ta đã kêu
gọi được thu hút bởi
những tia sáng từ chủng tử
HUM ở trái tim của Heruka Vajrasattva. Ngay
lập tức và rất dễ dàng,
nó hòa tan vào trái tim của
Ngài, nó liền trở nên niềm
an lạc của thần trí Ngài, như
giọt nước hoà tan trong đại dương,
chẳng còn cách biệt và phân chia
nữa.
Thực
ra, Heruka Vajrasattva không cần phải hoà tan
trong thần trí bởi vì Ngài
đã là một với các chư
phật. Thực là sai lầm nếu
chúng ta nghĩ rằng Heruka Vajrasattva là
một thực thể riêng biệt đối
với các chư phật. Chỉ vì
tâm nhị nguyên của chúng ta
đã không hiểu nổi hình ảnh
thần linh mà chúng ta quán
tưởng trên đỉnh đầu
và sự thị hiện của thần
trí là một. Chính chúng ta
đã phân biệt, đã chia rẽ
sự kiện này. Vì thế, chúng ta
cần thay đổi tâm nhị nguyên
của chúng ta bằng phương cách
quán tưởng này.
Nhưng
nếu nói: “ Ồ, chúng là một
và hoàn toàn giống như nhau,”
thì cũng không được, vì
sự hiểu biết này, lời
nói này hoàn toàn do trí thông
minh mà ra. Nó không giúp gì cho
tâm của chúng ta. Nhưng, nếu chúng
ta kinh nghiệm sự hợp nhất qua
sự thực tập phương pháp du
gìa này thì sự nhận thức
của chúng ta sẽ hoàn toàn là
trực giác. Heruka Vajrasattva là sự
hợp nhất giữa các nguồn
năng lượng đang được
thị hiện của các chư Phật trong
trạng thái thần thánh để
nói chuyện với chúng ta. Một khi
chúng ta đã hoàn toàn thanh tẩy
tâm nhị nguyên thì chính chúng ta
cũng sẽ trở nên làm một
với sự an lạc của thần
trí.
Sự
quán đảnh
Lại nữa,
những tia sáng từ chủng tử
HUM tại trái tim của Ngài đang kêu
gọi các vị thần quán đảnh
của gia đình năm vị thiền
Phật.
OM
PANCHA KULA SAPARIVARA ARGHAM... SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
“Kính lạy
Đức Như Lai, xin ban phước cho
sự quán đảnh của con [Heruka
Vajrasattva].” Theo lời cầu khẩn
này, tất cả chư Như Lai cầm
bình nước cam lồ trên tay, bình
nào cũng tràn đầy tuệ
lực sẵn sàng chảy ra. Mỗi khi
câu mật chú OM
SARVA TATHAGATA ABHISHEKATA SAMAYA SHRIYE HUM được tụng lên là
sự quán đảnh được ban
phát.
Thánh thể
toàn tri, Heruka Vajrasattva, được tràn
ngập bởi nước cam lồ,
nguồn tuệ lực tiên thiên.
Những giọt nào chảy tràn ra
ngoài liền thấm nhập lại vào Đức
Phật A Súc Bệ (Akshobhya), đang ngự
trên đỉnh đầu Ngài.
Chủng tử HUM
ở tại trung tâm của vầng trăng
trong trái tim Ngài, vòng chung quanh là
một trăm mật tự (đứng
vòng chung quanh vầng trăng theo ngược
chiều kim đồng hồ).
Một
lần nữa, tại trái tim của Heruka
Vajrasattva, chủng tử HUM lan tỏa ánh
sáng chiếu rạng khắp mười
phương để kêu gọi những
vị thầy quán đảnh - năm vị
thiền phật ( xem phần
phụ lục về gia đình thiền Phật )- và các chư phật trong
cảnh giới bí mật riêng của
các ngài chứng giám cho sự
quán đảnh. Được
hướng dẫn bởi ánh sáng,
các ngài liền hiện diện ngay trên
đỉnh đầu của Heruka Vajrasattva.
Bây
giờ, trước khi cầu xin các
ngài chấp nhận sự quán
đảnh, chúng ta hãy dâng lên
các ngài tám phẩm vật như
đã trình bày ở trên. Khi
chúng ta tụng PRATICCHA HUM SVAHA là chúng ta xin
các ngài chấp nhận tất cả
những phẩm vật này, mà bản
tính tự nhiên của chúng cũng
là thần trí và những cảm
nghiệm tuệ lạc tiên thiên cũng hiện
diện nơi thánh tâm của các
ngài.
Khi
dâng hiến những phẩm vật,
chúng ta xin được quán
đảnh. Mỗi khi tụng mật chú OM SARVA TATHAGATA...., thì
những vị thần quán đảnh
sẽ nhận lời cầu xin của
chúng ta, các ngài nâng những
chiếc bình nước cam lồ lên
rót nước thanh tịnh của thần
trí tiên thiên vào đường
kinh mạch chính của Heruka Vajrasattva và Dorje
Nyem-ma qua luân xa đỉnh đầu của hai
vị này.
Thần
quán đảnh nhìn xuống chúng ta
như chúng ta ở dưới này
đang quán tưởng Heruka Vajrasattva
ở trên kia, nhận lễ quán
đảnh cho chúng ta. Nhắc lại,
đây chỉ là dấu ấn phân
biệt nhị nguyên đã in sâu trong
tâm khảm chúng ta: “Tôi là
thế này, ngài là thế kia.” Để phá tan
những ý niệm thông thường
này và những vọng tưởng
của tâm nhị nguyên, chúng ta cần
thanh tẩy sự quán tưởng như
đang được dậy bảo.
Tất
cả sự dạy bảo thực tập
phương pháp này là để thanh
tẩy tâm của chính chúng ta. Mặc
dầu chúng ta quán tưởng Heruka
Vajrasattva trong sáng nhưng thực ra chúng ta
đang thanh tẩy chính chúng ta, ảnh
hưởng tâm lý, chuyển hóa
tự nhiên. Sự quán tưởng
của chúng ta về Heruka Vajrasattva là
cái nhìn không trong sáng của chính
chúng ta. Bởi vì thanh tẩy ngài
trong tầm mức sâu thẳm, nguồn
năng lực trong sáng của giác
ngộ, nên chúng ta sẽ tự
trở nên trong sáng. Sự kiện
này sẽ ghi lại một dấu ấn
thật sâu đậm trong tâm thức
của chúng ta và sẽ giải thoát
chúng ta khỏi những nguồn năng
lượng xấu một cách rất
tự nhiên.
Sau
khi quán đảnh, Thánh thể Heruka Vajrasattva
tràn đầy năng lượng của
thần trí, được vị thần
quán đảnh đổ trên luân xa
đỉnh đầu đi vào kinh mạnh
chính của ngài. Nếu chúng ta
đạt được nguồn đại
trí qua mật điển du gìa, chúng ta
cũng sẽ có những kinh nghiệm
giống như vậy.
Tuy
nhiên, chúng ta nên biết rằng
toàn hệ thần kinh của chúng ta đã tràn
ngập nguồn an lạc này, đúng như
vậy. Nhưng bởi vì, chúng ta luôn
nghĩ rằng chúng ta qúa nghèo nàn
thấp kém, đời sống chúng
ta luôn luôn thiếu: “Tôi không
có cái này, tôi không có
cái kia, tôi chẳng có gì
cả.” Nên, chúng ta nghĩ: “Nếu
tôi có cái đó, tôi
đã vui biết chừng nào.”
Tự chúng ta, chúng ta đã bất
mãn, nên chúng ta luôn luôn đi
kiếm tìm bất cứ cái gì
chúng ta cho là chúng ta đang thiếu,
đang không có.
Luân
xa dưới cùng của chúng ta đang
bị tắc nghẽn, đen tối, đau
và không có nguồn an lạc. Luân xa
rốn (luân xa số 3,
hoả đại --Dg) của
chúng ta đang bị đóng, đen
tối và bị đè nén. Luân xa trái
tim (luân xa số
4, phong đại --Dg) đang tan vỡ
vì máu bị ô nhiễm bởi
những cảm xúc và tuyệt vọng.
Luân xa cổ họng (luân xa
số 5, không đại --Dg) thì tràn đầy ô
nhiễm, không có điều gì
chúng ta nói mà tốt lành. Còn
luân xa đỉnh đầu (luân
xa số 7 --Dg) thì
bị đông đặc, cứng, lạnh
ngắt, không cởi mở, không
hòa tan trong nội hỏa được.
Toàn thân đắm chìm trong ô
trược nên nguồn đại lạc
không thể đổ vào, không thể
thấm vào chúng ta và cho chúng sinh
khác. Hoàn toàn đen tối, hoàn
toàn bị tắc nghẽn và dầy
đặc nhiễm ô.
Vì
thế, qua phương pháp thực tập thanh
tẩy này, chúng ta mới có
thể nhận được nguồn
đại trí và đem nguồn
đại lạc miên viễn này vào
sâu thẳm trong trái tim ta. Chúng ta có
thể dùng phương pháp thanh tẩy
tuyệt diệu này từ bây giờ
cho đến khi qua đời. Ngay cả trong
lúc chết chúng ta cũng vẫn dùng
được, bởi vì tự
nó thường phát triển. Nếu ta không
phát triển, tâm ta luôn luôn thay
đổi, lúc thế này lúc thế
khác, khi lên khi xuống, như thế
chúng ta sẽ chẳng vui được.
Hãy nhìn thẳng vào chính ta: mặc
dầu đã được học
Đạo pháp mà chúng ta vẫn
còn chạy lòng vòng làm cái
này làm cái kia. Những sinh hoạt
trong cõi luân hồi không bao giờ
ngừng. Ngay cả những người
đang sống trong những tu viện hay trong
những thiền viện, những nơi
đó đáng lẽ phải là
những nơi thanh tịnh, an lành mà
cũng luôn luôn bận bịu, rộn
ràng. Cuộc sống chắc chắn sẽ
chấm dứt một ngày nào
đó. Thế thôi.
Theo
nghi quỹ tu tập, Tây Tạng có từ
ngữ ku; kaya theo
Sanskrit (Phạn ngữ). Chúng ta dịch sang Anh
ngữ là “holy body”, Việt
ngữ là “thánh thể”, nhưng
thực ra nên dịch là “hệ
thần kinh thanh khiết, hệ thần kinh trong
sáng” thì đúng hơn. Tôi không
biết tự điển khoa học dịch
thế nào cho chính xác danh từ
này của Tạng ngữ hay Phạn
ngữ nhưng tôi chắc chắn rằng
chúng tôi đã có những kinh
nghiệm, những chứng nghiệm rõ
ràng về ý nghĩa của nó. Ku ám chỉ hệ
thần kinh trong sáng của Heruka Vajrasattva
đã thấm nhập, thẩm thấu
được đại lạc của
nguồn tâm hỏa (kundalini).
Hệ
thần kinh của chúng ta cũng
được thấm nhuần đại
lạc này, nhưng chúng ta đã
không biết đến nó. Tuy nhiên, tất
cả chúng ta đều cảm nhận
được niềm hạnh phúc trong
tâm và trong hệ thần kinh mỗi khi
năng lượng xấu được
chuyển hóa thành an lạc và mỗi khi
chúng ta không còn đeo dính, bám
víu vào đối tượng ở
bên ngoài và mỗi khi còn tỉnh
thức. Nhưng mỗi khi chúng ta trở
lại với những ảnh
hưởng của nghiệp lực hay của
những ý niệm cũ là chúng ta
lại tự hủy hoại những kinh
nghiệm an lạc này. Dĩ nhiên, vì
biết những ý niệm này rất
mạnh, nên chúng ta phải cố gắng
vượt qua chúng càng mạnh hơn
nữa càng tốt, tuỳ theo sự
hiểu biết thâm sâu của chúng ta
về kinh nghiệm đại lạc này như
thế nào. Thật đáng nghi ngờ
những lợi lạc này, thật dễ
thắc mắc về những cơ hội ơn
ích này, phải không? Chúng ta nên
học hỏi, suy gẫm từ chính
những kinh nghiệm an lạc đơn giản
trong chúng ta.
Thí
dụ, nếu có người hỏi ta
nên chọn ăn trưa ở một nhà
hàng sang trọng 5 sao trong một khách sạn hay
một cửa hàng xập xệ trong khu bình
dân Aán độ, chúng ta sẽ không
ngần ngại gì mà không chọn
cửa hàng sang trọng kia. Cũng giống
như vậy, ở đây chúng ta
có cơ hội để kinh nghiệm niềm
an lạc vô biên 5 sao trong hệ thần kinh
của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn cứ
chọn cái quán tồi tàn kia. Tại sao?
Lý do chính yếu là chúng ta còn
bám víu vào tình cảm của
chúng ta, vào những thói quen và
những ý niệm sai lầm đã
tích tụ trong chúng ta. Sự kiện
này cho chúng ta biết chúng ta
đã vô minh u tối như thế nào
và hệ thần kinh của chúng ta
thực sự ra sao. Hãy tìm hiểu xem
sao, hãy thử suy nghĩ xem sao, quý vị
sẽ nhận ra, qúy vị sẽ nhìn
thấy!
Và
giờ đây nước cam lồ
không những chỉ tràn ngập trong
hệ thần kinh của Heruka Vajrasattva mà nó
còn tràn ngập trong vị Thiền Phật Akshobya (A súc bệ
Phật) nữa, Ngài đang ngự trên
đỉnh đầu của Vajrasattva. Có
nhiều cách để diễn tả trạng
thái này, nhưng ở đây chỉ
nên hiểu rằng Heruka Vajrasattva đang
ở trong dòng đại lạc của A
súc bệ Phật. Nên biết rằng trong
lễ quán đảnh sẽ có một
lúc mà chúng ta sẽ khám phá ra
vị thiền Phật nào mà chúng ta
cảm thấy gần nhất, thích hợp
nhất, có duyên nhất trong 5 vị
thiền Phật, rồi sau đó, chúng ta
nên gìn giữ sự liên lạc
với dòng năng lượng của vị
Phật này. Sự cảm nhận của chúng
ta có liên hệ đến điều
đó.
Đã
chấp nhận sự quán đảnh, chư
Phật đã hòa nhập vào thánh
tâm thanh tịnh của Heruka Vajrasattva, niềm đại
lạc tiên thiên của các ngài
trở nên là một và không bao
giờ xa rời Heruka Vajrasattva. Lại
nữa, linh ảnh của chư vị quán
đảnh Phật không bị phai nhòa
đi mà sẽ hòa nhập vào trái
tim của Heruka Vajrasattva, tâm đang tràn
đầy tuệ lực và ơn
phước, rất cần cho sự
trưởng dưỡng, sự hòa
nhập.
Tại
trung tâm của vầng trăng nơi thánh
tâm thanh tịnh của Heruka Vajrasattva có
chủng tử HUM, chung quanh là 100 mật
tự của Ngài, đọc theo
ngược chiều kim đồng hồ
trên viền của vầng trăng.
HIẾN
DÂNG VÀ CẦU NGUYỆN HERUKA VAJRASATTVA
OM VAJRASATTVA ARGHAM... SHABDA
PRATICCHA HUM SVAHA
OM VAJRASATTVA OM AH HUM
Trong thần trí
bất nhị, trong cảnh huy hoàng rực
rỡ nơi nội tâm thanh tịnh của
các bà mẹ của tất cả chúng
sinh; trong niềm tuyệt diệu không thể thay
đổi, trong niềm đại lạc viên
mãn; cùng thần trí không thể
huỷ hoại sẽ giải phóng tất
cả chúng sinh khỏi mọi sự xấu
của thân khẩu và ý, đặc
biệt cho cả những lỗi lầm của
lời nguyện ước này, thưa
Thầy con xin qui y Thầy.
Đạo Tràng
Bí Mật
Quan điểm
chính xác của tánh không là
sự hợp nhất trong tuệ lạc.
Trí tuệ này chuyển biến vào
núi Tu Di, mặt trời, mặt trăng
và vào tất cả những hiện
tượng trong vũ trụ. Con xin dâng
tất cả những gì tốt đẹp
nhất lên cho Thầy, đấng tràn
đầy lòng từ ái, đấng
đã tự giải thoát và
đang cứu giải muôn loài.
Nội Đạo
tràng
Xin Ngài hãy
giải thoát con và muôn loài chúng
sinh ra khỏi biển trầm luân của tam
độc ngay bây giờ, con xin dâng
lên Ngài không một chút sợ
hãi và không một chút gì
bám víu vào tham lam, ganh ghét và
vô minh; con xin dâng lên Ngài tất
cả bạn con, kẻ thù của con và
những người xa lạ với con;
thân xác con đây cùng tất
cả những gì con có. Kính xin
Thầy chấp nhận.
Hãy
hiến dâng tám phẩm vật như
chúng ta đã làm ở trên.
Tiếp theo là sự hiến dâng trong
nội tâm.
Tâm
trần tục, vọng tâm của chúng ta quan
niệm tất cả các hiện tượng
có thanh tịnh hoặc không thanh tịnh,
có tốt và xấu, rồi chúng ta
bám víu vào đó hoặc đeo
đuổi chạy theo sự nhị nguyên
của đối tượng mà cấu
tạo nên tính cách vô
thường của ngũ uẩn. Qua sự
thực hành phương pháp du già
chúng ta chuyển hóa ngũ uẩn của
chúng ta vào đại lạc của trí
siêu việt, trí này vượt ra
ngoài nhị nguyên tính và đây
chính là bản tính uyên nguyên
của năm vị thiền phật, chúng ta
hãy hiến dâng cho tuệ lạc này.
Đó là lý do tại sao gọi là sự
hiến dâng trong nội tâm.
Tiếp
theo, chúng ta cầu nguyện trí siêu
việt bất nhị, những bảo châu
tráng lệ nội tại của tất cả
các bà mẹ của tất cả chúng
sinh, bản tính không thể thay đổi,
đại lạc thường hằng.
Đây chính là Heruka Vajrasattva, Ngài
với quyền năng của tuệ lạc
sẽ giải thoát tất cả các
bà mẹ của tất cả chúng sinh
thoát khỏi những nguồn năng
lượng xấu của những hành
động xấu của thân khẩu ý
và ngay cả sự bất toàn của
lời nguyện hứa này. Chúng ta
qui y và khấn lạy trí thường
hằng siêu việt .
Rồi
chúng ta dâng mạn đà la. Trong lễ
hiến dâng mạn đà la bí mật,
chúng ta khấn nguyện rằng trí siêu
việt, tánh không là sự hợp
nhất của tuệ lạc, trí tuệ tự
hữu. Tuệ này cũng chuyển hóa
vào núi Tu Di, vào mặt trăng vào
mặt trời và vào tất cả
những hiện tượng trong vũ
trụ. Chúng ta hiến dâng tất cả
lên Heruka Vajrasattva, Ngài là biển nhân
ái, Ngài đã tự giải
thoát, Ngài sẽ cứu độ
và giải thoát tất cả muôn
loài chúng sinh.
Sự Thanh Tẩy
“Bhagawan Vajrasattva,
kính xin Ngài hãy thanh tẩy tất cả
những ô nhiễm, thói hư tật
xấu và ngay cả sự bất toàn
trong lời nguyện hứa này của
con và của muôn loài chúng sinh.”
Vì lời
cầu khẩn thành thật thiết tha này,
ánh sáng rọi chiếu rực lên
từ chuỗi mật tự và
từ chủng tử HUM trong thánh tâm
Ngài. Nó tẩy sạch tất cả ô nhiễm
xấu xa của muôn loài chúng sinh
rồi trở nên phẩm vật cúng
dường chư Phật và Bồ tát.
Bản tính thanh khiết của thân khẩu
và ý thánh thiện biến thành ánh
sáng thâm nhập lại vào chủng
tử HUM và chuỗi mật tự.
[Rồi từ
chủng tử HUM và từ chuỗi
mật tự] một dòng năng
lượng an lạc trắng (white kundalini) bắt
đầu tuôn tràn xuống các
luân xa của hai Ngài. Nó tuôn chảy
xuống các luân xa của sự
hợp nhất (biểu tượng bất
nhị ôm choàng của Vajrasattava và Dorje
Nyem-ma) rồi tràn xuống luân xa
đỉnh đầu con. Suối nguồn
đại lạc siêu tuyệt này tràn
ngập toàn thân con, thanh tẩy toàn
diện ô nhiễm xấu xa của thân
khẩu và ý của con. Thanh tẩy toàn
diện.
Trước
tiên chúng ta cầu xin Heruka Vajrasattava - thần
hủy diệt ô nhiễm, đấng cai
quản tất cả tri thức và
thánh hóa thế giới này –
thanh tẩy chúng ta và muôn loài
chúng sinh sạch hết mọi ô nhiễm
của thân khẩu và ý cùng
những sai trái và suy đồi trong
lời nguyện hứa cam kết này.
Rất
nhiều tia sáng từ chủng tử HUM
và từ chuỗi mật tự ở
thánh tâm Heruka Vajrasattva và Phật mẫu
tỏa chiếu mười phương, thanh
tẩy hết ô nhiễm của tất cả
chúng sinh rồi làm cho phẩm vật
cúng dường thành tuyệt hảo
dâng lên chư Phật cùng chư Bồ
tát. Bản chất thanh khiết của trí
tuệ siêu việt của thân khẩu và
ý thánh thiện biến thành ánh
sáng rồi thẩm thấu vào chủng
tử HUM và vào chuỗi mật tự
tại thánh tâm Vajrasattava và Phật
mẫu. Rồi từ đây, muôn
vàn dòng năng lượng an lạc
trắng tuôn chảy vào kênh thần
lực trung tâm của Ngài. Bản
chất nguồn lực đại lạc
này chính là tuệ lạc siêu việt
của Ngài. Đây chính là
nguồn lực vô tận, không bao
giờ cạn – ngược lại
với năng lực giới hạn của
chúng ta, luôn luôn tiêu hao nên cần
phải ăn để bù đắp
lại.- Khi quán tưởng sự việc
này, chúng ta cũng nên quán
tưởng dòng năng lượng an
lạc trắng đang chảy tràn vào kinh
mạch trung tâm của Phật mẫu, Dorje Nyem-ma.
Nguồn
lực đại lạc trắng rót vào
kinh mạch trung tâm của hai Ngài rồi
đi xuống các luân xa phía
dưới và rời khỏi thân
xác thanh khiết của hai Ngài tại
điểm hợp nhất. Nó tiếp
tục chảy xuống vầng trăng và
tòa sen, đây là sự tuôn
chảy tự nhiên của nguồn tuệ
lạc, không có gì ngăn cản
được. Nó chảy vào ta qua
luân xa đỉnh đầu rồi đi
xuống những luân xa phía
dưới theo kinh mạch trung tâm như
thác nước chảy. Điều quan
trọng là ta nên quán tưởng
dòng đại lạc trắng tuôn chảy
rất mạnh, như thác lũ, nó
tràn vào cơ thể ta và toàn
hệ thần kinh ta. Nguồn đại lạc
trắng này không thấy như vật
chất nhưng cảm nhận rất thực. Ta
cảm thấy tràn ngập ánh sáng
và hỉ lạc. Tất cả ô nhiễm,
xấu xa của thân khẩu và ý
hoàn toàn tan biến hết.
Tụng niệm mật chú
OM VAJRA HERUKA SAMAYAM ANUPALAYA. HERUKA TENOPATISHTHA. DRIDHO ME
BHAVA, SUTOSHYO ME BHAVA, SUPOSHYO ME BHAVA, ANURAKTO ME BHAVA. SARVA SIDDHIM
ME PRAYACCHA. SARVA KARMA SUCHA ME CHITTAM SHREYAH KURU, HUM ! HA HA HA HA HOH
! BHAGAVAN VAJRA HERUKA MA ME MUNCHA. HERUKA BHAVA MAHA SAMAYA SATTVA AH HUM
PHAT !
Bây giờ
chúng ta tụng bách tự mật chú
của Heruka Vajrasattva. Có ba phương pháp quán
tưởng khi tụng niệm mật chú
này.
Phương pháp
thứ nhất gọi là yan-de. Nguồn đại lạc trắng
đi vào kinh mạch chính. Nó tràn
ngập toàn thân và hệ thần kinh,
tẩy rửa và tống ra ngoài tất
cả ô nhiễm qua các lỗ chân
lông và những chỗ hở
trên cơ thể. Có nhiều cách
quán tưởng ô nhiễm khi nó
thoát ra khỏi thân xác, ta có thể
chọn cách nào thích hợp nhất
với tâm ta. Chúng ta cũng có
thể quán tưởng tam độc tham
sân si đi ra khỏi thân xác
dưới dạng ba con vật tương
ứng là con heo, con gà và con rắn.
Hoặc chúng ta quán tưởng một cách
đơn giản dưới bất
cứ hình dạng nào xấu xa nhất
mà chúng ta có thể nghĩ ra, như
bọ cạp, cua, giun, hắc ín, bùn…..
Có
người hỏi rằng làm sao tống
con này con khác, những con vật có
lớp da dầy cứng ra khỏi thân
xác của chúng được,
thực tế cho biết có rất
nhiều sinh vật đang sống trong cơ thể
chúng ta. Chúng ta có liên hệ mật
thiết với những sinh vật này,
chúng ta không thể sống nếu không
có chúng.
Thân xác
của chúng ta là nơi trú ẩn,
nương náu của những côn
trùng như giun sán, con dài, con ngắn
cùng rất nhiều loài khác
nữa. Chúng ta đang trả nợ
chúng vì nghiệp quả. Trong quá
khứ chúng ta đã lấy của
chúng, bây giờ chúng lấy
lại. Chúng ta đã lấy thức
ăn của chúng, vì thế bây
giờ chúng vào trong cơ thể
của ta chúng ăn lại. Ngay cả những
người tham lam nhất thế giới,
họ nghĩ rằng cứ nắm thật
chặt, cứ bám thật chặt thì chẳng ai lấy
được cái gì của họ,
họ có ngờ đâu giun sán
đang ăn thức ăn trong bao tử
ruột gan của họ. Nghiệp lực rất
mạnh, không ai cưỡng
được. Nếu ta lấy chúng ra
khỏi cơ thể, chúng cũng vào lại.
Chúng lấy sức khỏe của ta,
đôi khi còn lấy cả mạng sống
của ta. Chúng ta chết bằng rất
nhiều cách, đừng nghĩ rằng
có ai giết ta bằng dao, bằng súng
đạn chúng ta mới chết.
Nghĩ như vậy
chúng ta mới hoàn toàn thanh tẩy
được, đặc biệt là tẩy
rửa những ô trược ám
chướng, những ô nhiễm
xấu xa trong tâm. Chúng ta thường
nói rất khó mà thanh tẩy
những thói hư tật xấu đã
thâm căn cú đế trong ta, nhưng
không đúng như vậy, không
thực chút nào, tất cả
những khó khăn trong đời đều
do tâm ta tạo ra. Chúng ta tự nhiên
cảm thấy an lạc, chúng ta luôn luôn
thích ứng với những cảm
giác. Chúng ta cho rằng rất khó mà
thích ứng với những
sự kiện ở bên ngoài. Khi
sự kiện xẩy ra không tốt, chúng
ta đổ lỗi cho cha mẹ: “Mẹ tôi
đã làm thế này, bố tôi
đã làm thế kia. Mẹ tôi như
thế này, bố tôi như thế
kia…” Đây không phải tại
thân xác chúng ta mà tất cả
đều do tâm ta đã tạo ra
những khó khăn cho đời.
Nếu thực
sự chỉ tại thân ta tạo ra vấn
đề thì tại sao chúng ta không
ngồi xếp chân lâu được? Tại
sao chúng ta lại thắc mắc về cách
ngồi này? Tâm ta đã nêu ra
vấn đề. Khi ngồi thiền, nếu
cảm thấy thoải mái, tâm ta sẽ được
kiểm soát dễ hơn và sẽ có
hứng thú tiếp tục ngồi hơn. Rồi
cảm giác thoải mái lại tăng
lên. Không phải tại cái xác
này mà tại chính tâm ta. Vì
thế, phương pháp tu tập này là
để cho năng lực an lạc siêu
việt tẩy rửa đi những chấp
ngã và những hấp lực,
trọng lực đang có trong ta, để ta
cảm thấy dễ chịu hơn, hạnh phúc
hơn, nhẹ nhàng hơn, thanh tẩy toàn
diện.
Phương pháp
kế tiếp là man-de.
Theo phương pháp này nguồn
đại lạc tràn ngập toàn thân
và hệ thần kinh, phát xuất
từ dưới đi lên đỉnh
đầu. Khi nó dâng lên, tất
cả ô nhiễm xấu xa nổi trên
mặt của năng lượng đại
lạc này – như rác nổi trên
mặt nước khi nước dâng
lên – rồi thoát ra ngoài cũng qua
lỗ chân lông và những chỗ
hở ở phân trên của cơ
thể. Khi nước cam lồ chảy tràn
cơ thể, ta cảm thấy an lạc, hạnh
phúc. Hãy cảm nhận sự thanh tẩy
toàn khắp con người của ta,
đặc biệt là những nhiễm
ô siêu vi tế.
Phương pháp
quán tưởng thứ ba là phung-de. Quán
tưởng đến ánh sáng thay
vì nguồn năng lượng trắng.
Vô lượng tia sáng an lạc phát ra
từ thánh tâm của Heruka Vajrasattva,
bùng cháy đến luân xa cuối
cùng của Ngài, đi vào luân xa
đỉnh đầu rồi vào kinh mạch
trung tâm trong xương sống của ta. Nó
mầu trắng điểm mầu sắc
cầu vồng đỏ vàng xanh lá
cây và xanh dương. Những tia
sáng rực rỡ này chan hòa
khắp thân thể ta, xóa tan hết tất
cả những nghi ngờ, lưỡng
lự trong tâm ta cùng với tam
độc tham sân si; chúng sẽ biến
mất mãi mãi không bao giờ
trở lại. Sự kiện này giống
như ta bật đèn ở một căn
phòng tối tăm, bóng tối tan ngay
lập tức. Bóng tối không thoát
ra ngoài cửa sổ, phải không?
Nó tự tan mất. Do đó, không
còn một chỗ nào trong thân thể ta
từ óc não, cổ, ngực ...
còn tối tăm, còn ô nhiễm, ngay
cả hệ thần kinh. Thanh tẩy hoàn
toàn, trong sáng như pha lê. Hãy cảm
nhận ta đã hoàn toàn được
thanh tẩy, không còn một chút tì
vết, nhất là những tì vết
siêu vi tế trong tâm ta.
Trong những
buổi tĩnh tâm, những ngày nhập
thất, chúng ta có thể thực
hành từng phương pháp cho mỗi
lần tụng niệm mật chú hay dùng
một phương pháp cho suốt thời tĩnh
tâm, nhập thất, rồi thực hành
phương pháp khác cho kỳ khác.
Ngoài
thời kỳ tĩnh tâm, chúng ta
có thể áp dụng những
phương pháp này khi ngồi thiền
hàng ngày, thật là ơn
phước, hãy tụng niệm mật
chú Heruka Vajrasattva 21 lần cho mỗi phương
pháp. Thời gian tốt nhất là
vào buổi tối, trước khi đi
ngủ. Ngồi thiền ban ngày
thường hay bị lãng trí. Vì
thế, như là một công việc cuối
cùng của một ngày, chúng ta hãy
thanh tẩy tất cả những hành vi
xấu, những sinh hoạt không đạo
đức mà chúng ta đã tạo
ra trong ngày; hãy đi ngủ trong một
tâm thái an lành, thoải mái thay
vì buồn phiền, chán chường
đã xẩy ra trong ngày. Bởi vì
thường ngày chúng ta đã
luôn luôn va chạm với những
hoạt động không thanh khiết nên
chúng ta cần những phương pháp
tẩy rửa như thế này. Chúng ta
đã dành quá ít thời
giờ cho công việc này.
Nghiệp
chướng in sâu vào tâm ta tăng
theo lũy tiến nhưng nếu ta tụng niệm mật
chú Vajrasattva 21 lần một ngày, thì
chúng sẽ bị tẩy rửa và
không thể tăng được, kể
cả những lời nguyện hứa
bất toàn trong ngày. Nếu phương
pháp này có sức mạnh ngăn
cản sự tăng tiến của nghiệp
lực tạo ra trong lúc nguyện hứa,
qui y – đại nguyện hoặc những
trọng tội – thì dĩ nhiên nó
cũng có thể chấm dứt sự
tăng trưởng của những hành
động ô nhiễm tự nhiên, như
vô tình sát sinh hay những lời
nguyện hứa cho qua. Hơn nữa, nếu
chúng ta tụng niệm mật chú này
đầy đủ một trăm ngàn
lần –vô lượng lần - thì
chắc chắn sẽ thanh tẩy trọn vẹn
ô trược ám chướng của
nghiêïp quả.
Khi tụng niệm
mật chú, điều quan trọng là
chú tâm, đừng để ý
đến chuyện gì khác ngoài việc
thiền định. Nếu ta thực hành trong
trạng thái an định nhất tâm như
vậy thì chắc chắn chúng ta sẽ
thanh tẩy được những dấu
ấn bất tịnh thâm căn cú đế
trong tâm ta cùng những chướng
ngại trên con đường tu tập.
Kết quả thanh tẩy này đến
từ sức mạnh thiền định
và từ sức mạnh của mật
chú. Đôi khi nó cho ta những linh
ảnh xẩy ra bên ngoài trái
đất này. Khi tâm đã thanh
tịnh, khi những chướng ngại
ngăn che không còn, ta có thể nhìn
được những phương
trời mới lạ.
Mật chú
còn cho ta khả năng đọc
được tâm người khác.
Hạnh phúc hay đau khổ tùy theo
sự cảm nghĩ của họ. Rất
nhiều hiện tượng khác cũng
có thể xẩy ra – tùy theo từng
cá nhân, từng trường
hợp. Trong khi nhập thất, mỗi
người có được kinh
nghiệm khác nhau, mỗi người có
được nhận thức khác nhau.
Rất khó mà biết được ai
sẽ kinh qua nhận thức gì. Có
người sẽ là Vajrasattvas Mỹ,
có người sẽ là Kim Cang Tát
Đỏa Á Đông, có
người sẽ là Vajrasattvas Tây
phương, hoặc Úc châu.... ai mà
biết được!!!
Kết
thúc sự Thực Tập
OM
VAJRASATTVA ARGHAM...SHABDA
PRATICCHA HUM SVAHA
OM VAJRASATTVA OM
AH HUM
Từ
Trí Bất Nhị... con kính lạy Thầy.
Vì
vô minh và vọng tưởng con
đã hủy hoại lời nguyện
hứa của con. Hỡi Thầy, Ngài
có sức mạnh giải thoát con,
Ngài nắm giữ sự bất hoại,
bản tính của lòng đại bi,
Ngài là Chúa Tể của muôn
loài chúng sinh, con xin qui y Thầy.
Vajrasattva
nói, “ Ôi con yêu quý, tất
cả ô trược ám chướng,
tất cả tính tiêu cực và
sự thất hứa của con đã
được thanh tẩy hoàn toàn.”
Rồi Ngài hòa nhập vào tôi. Ba cửa
thân, khẩu và ý của tôi
trở thành một với thân,
khẩu và ý của Vajrasattva.
Tiếp theo sau sự tụng
niệm chúng ta lại dâng lên Vajrasattva
những phẩm vật bên ngoài và
bên trong cùng những lời cầu
khẩn của chúng ta như lúc
đầu.
Ta đã thưa với Heruka
Vajrasattva rằng vì vô minh nên ta không
tỉnh thức, ta không biết những
gì ta đã làm nên đã
hành động ngược lại
những gì ta đã nguyện
hứa. Đúng vậy, khi chúng ta
vào sống trong một tu viện hay một
thiền viện, chúng ta không thể xác
định chúng ta đã tinh tấn như
thế nào. Nhưng khi về nhà hay về
thành phố chúng ta sẽ nhận ra ngay. Khi
đang thực tập với một nhóm
người, chúng ta cảm thấy
chúng ta mạnh, đầy năng lực
nên chúng ta cho rằng ta có thể
thực hành mỗi ngày một cách
dễ dàng, sẽ thiền mỗi buổi
sáng sớm, sẽ tụng niệm
đầy đủ...vân vân....
Nhưng khi về nhà, chúng ta
đi ngủ trễ, thức dậy trễ,
uể oải, nói chuyện, tính chuyện
đi chơi với bạn, ăn sáng...
ôi, 9 giờ rồi! không còn
giờ để thiền, vội vàng
đi làm. Rồi, đến giờ
ăn trưa, đi uống trà, ăn tối
và cuối cùng tới giờ
đi ngủ – trễ rồi, không
thiền nữa. Cuộc đời
cứ kéo dài như vậy. Thực
sự chúng ta muốn thiền nhưng
chẳng bao giờ chúng ta sửa
soạn, xếp đặt thì giờ cho
thiền. Chúng ta dành hết thì
giờ để kiếm tiền. Chúng ta
không cho đời sống tâm linh
một cơ hội. Hãy phân tích đời
sống hàng ngày, hãy nhìn thẳng
vào những sinh hoạt thường
ngày, chúng ta sẽ thấy ngay, sẽ
hiểu đời sống trần tục
của chúng ta như thế nào.
Thực ra chúng ta không
muốn phá hủy đời sống
của chúng ta, chúng ta cũng không
vô minh tới độ từ chối
đời sống tâm linh, tìm kiếm
an lạc. Nhưng chúng ta đã tạo ra
một đời sống bên ngoài
quá hấp dẫn đến nỗi phải
dành cả đời đễ chăm
sóc nó. Vì thế, chúng ta không
bao giờ cho đời sống tâm linh
một cơ hội, ngồi xuống, thiền
định với thế giới nội
tâm. Thế giới bên ngoài chạy
tới chạy lui, hết ngày đến
đêm không bao giờ ngừng.
Mặc dầu chúng ta không muốn như
vậy nhưng trí tuệ của chúng ta
đang suy tàn, Đạo pháp đang sa
sút.
Giống như những gì đã
xẩy ra tại tu viện Kopan của chúng tôi
ở Nepal. Khi mùa mưa đến, vì
mưa nhiều nên nước cũng
quá nhiều, rồi khi nắng lên,
nước dần dần hết, đất
khô, gió thổi bụi mù.
Đời sống Đạo của chúng
ta cũng như nước: nó bốc
hơi tới lúc để lại trong
tâm ta đầy bụi bặm, ô nhiễm.
Lúc đó chúng ta mới ngạc
nhiên, “Tôi nghĩ tôi có, nhưng
tôi chẳng thấy gì, tại sao lại
như vậy?” Chúng ta cảm thấy
trống rỗng ở nội tâm. Trí
tuệ ở đó nhưng chúng ta
đã không cho nó một cơ hội
nào để hé mở, phát
triển. Trí tuệ không thể đến
trong một ngày. Trước tiên
chúng ta phải cởi bỏ, phải tẩy
rửa những ý niệm cũ đi
rồi từ từ, từ từ
những làn sóng, những tác động
trí tuệ mới lớn dần
để hướng dẫn chúng ta.
Chuyện này đã xẩy ra
khi những người Tây phương
qua Đông phương sống một
thời gian để học Đạo. Họ
tiếp nhận được Đạo
pháp nhưng rồi từ từ mất
mà chẳng một chút quan tâm. Họ
cũng chẳng hiểu hoặc khó hiểu
tại sao nó lại xẩy ra như vậy.
Rồi họ biện minh, “ Ồ những
gì tôi học được từ những
Lạt ma là những đặc sản
của Đông phương, nó không
áp dụng được ở Tây
phương.”
Cái gì không áp dụng
được? Nếu chúng ta không
dùng nó thì làm sao áp dụng
được nó? Thực sự
áp dụng được, nếu chúng
ta dùng trí tuệ của Phật; nếu
chúng ta không dùng nó thì làm
sao mà áp dụng được nó;
nó sẽ thành lạc hậu! Lại
nữa, rất khó mà nhận ra
từng thay đổi nhỏ trong trí tuệ.
Chúng ta cần nhạy cảm và quan sát
tinh tế. Lúc đó chúng ta
mới nhận ra được tâm ta
lên xuống như thế nào.
Nếu không bén nhậy
hoặc không quan sát tâm, chúng ta
sẽ chẳng bao giờ nhận ra
được sự làm việc của
tâm. Giống như con chó, tâm của
nó thay đổi cả ngàn lần trong
một ngày, nhưng đến buổi chiều
nó không biết nó đã trải
qua những gì trong ngày. Nó không
nhớ được. Nó không
thể biết được tâm của
nó hoạt động như thế nào, ngay
cả chúng ta. Chúng ta không nên như
vậy. Một khi tâm đã bị ám
ảnh, đã bị tràn ngập
bởi những vọng tưởng
của cái tôi thì đời ta tan
mất.
Trong phần thứ hai của
sự cầu nguyện, chúng ta qui y
với vị thầy (lạt ma) của
chúng ta, người có năng
lực hướng dẫn chúng sinh
trên con đường giải thoát.
Người Ấn độ hay
người Nepal thường dùng danh
từ lạt ma cho những vị sư
Tây tạng. Ở đây ý nghĩa
thực sự của danh từ này
là vị thầy tâm linh, guru. Ngài
nắm giữ nguồn đại lạc
siêu việt không thể hủy hoại trong
tâm ngài, chính là lòng bi mẫn
và đại nguyện từ bi bao la,
ngài cũng là vị lãnh đạo
chúng sinh.
Heruka Vajrasattva trả lời
chúng ta, “Hỡi con yêu dấu,
tất cả ô trược ám
chướng, ô nhiễm xấu xa và
sự thất hứa của con đã
được thanh tẩy hết.” Sau
đó, Phật mẫu
tan thành ánh sáng rồi hòa
nhập vào thánh tâm Ngài. Heruka Vajrasattva
cũng tan thành ánh sáng rồi tuôn
vào kinh mạch chính của ta và tràn
ngập trái tim ta. Ba cửa (tam mật) thân
khẩu và ý của ta và của Heruka
Vajrasatta trở thành một. Hãy ở
yên trong tâm thái bất nhị,
hợp nhất, hưởng hỉ lạc
của kinh nghiệm tính không, hoàn
toàn khác tâm thái nhị nguyên
tôi và người khác, chủ
thể và đối tượng.
Đây chính là trạng thái an lạc
cao nhất, tuyệt đỉnh.
Chúng ta nên thiền trong khi
cầu nguyện, niệm chú. Sau khi cầu
nguyện, vẫn tiếp tục thiền, chú
tâm vào cảm giác hợp nhất,
bất nhị, tránh có những tư tưởng
nhị nguyên như cái
này cái kia và “ tôi
là.....” Chúng ta hay có những
ý nghĩ đó trong lúc cúng
dường, sư Tây tạng tụng kinh
rồi ngừng, sư Tây tạng tụng kinh
rồi ngừng... Có người cho
rằng kỳ cục, nhưng các ngài
đang thiền trong trạng thái hợp
nhất tối cao, họ không vội vã
tụng cho hết rồi ngừng để
nghĩ. Khi thực tập nghi quỹ Heruka Vajrasattva,
ta cũng nên làm như vậy. Rồi sau khi
hồi hướng, chúng ta không nên
vội vã chạy ra khỏi phòng, nên đi
ra một cách từ từ và giữ
tâm trạng vẫn đang hợp nhất
với Heruka Vajrasattva, Ngài cũng đang
hợp nhất với thầy của ta.
Chúng ta hãy hiểu một
cách vững chắc đây chính
là trí tuệ siêu việt thân khẩu
và ý của Heruka Vajrasatta, chứ
không phải phóng chiếu “tôi
là.” Còn nữa, như tôi
đã nhấn mạnh trước
đây, đừng vọng tưởng,
đừng tin tưởng, như “
Ồ, hôm nay tôi sẽ gặp Heruka
Vajrasattva.”
Điều này không cần thiết,
chỉ tạo thêm mê tín dị đoan
mà thôi. Vì thế hãy bỏ đi
những ý nghĩ như vậy. Thêm
nữa, trong lúc nhập thất hay trong
thời tĩnh tâm, đừng lo
sẽ bị bệnh, chính sự lo sợ
làm chúng ta bị bệnh. Hãy thoải
mái, an nhiên, hãy tin tưởng
mãnh liệt vào Heruka Vajrasattva và nghiệp lực.
Hồi
hướng
Vì ơn
phước này, xin cho con mau chóng
trở thành Heruka Vajrasattva để
hướng dẫn mỗi một và
muôn loài chúng sinh vào con
đường giác ngộ.
LAMA YESHE
___________________________________________________________________
Người dịch xin chấm
dứt sự trích dịch ở
đây. Cuốn sách này còn ba
phần nữa:
Thời tĩnh
tâm
Thuyết giảng
Giải thích
mật chú.
Con
Đường Thanh Tẩy theo Mật Tông
Nguyên tác The Tantric Path of Purification
của Lama Yeshe
Do Wisdom Publications xuất bản
Vô Huệ
Nguyên trích dịch
Email: vohuenguyen@yahoo.com
“ CON XIN HỒI HƯỚNG TẤT CẢ
CÔNG ĐỨC NÀY ĐẾN MUÔN
VÀN CHÚNG SINH TRONG MƯỜI PHƯƠNG
PHẬT VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ
TÁT, CON KHÔNG GIỮ LẠI MỘT CHÚT
GÌ CHO RIÊNG CON. ”
Phụ
Lục của
người dịch
[Nam mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật, Thầy đã dạy “ Con
hãy tự đốt đuốc lên
mà đi.” và “Con đừng tin
những gì Ta nói mà hãy
chứng nghiệm trong đời con
những gì Ta nói là đúng
lúc đó con hãy tin.” Con
đường tu tập của mỗi
người mỗi khác, nghiệp của
mỗi người mỗi khác nên
phương pháp tu tập cũng khác,
nhưng khi đã ngộ thì chỉ nếm
có một vị: Giải Thoát! Xin cho
những gì con viết ở đây
là ngọn đuốc và sự
chứng nghiệm cho con, khi con đã tin
rồi, con xin hồi hướng hết cho
muôn vàn chúng sinh, mà không
giữ lại một chút gì cho riêng
con. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật.]
TU TÂM
(Con Đường
Chuyển Hóa Tâm Thức)
(Con
Đường Thiền Định
với Gia Đình Thiền Phật)
(Con
Đường Giải Thoát)
(Sự Hòa Nhập
Trong Đời Sống Hàng Ngày)
OM AH HUM SHAKYAMUNI HUM
OM AH HUM MANJUSHRI HUM
OM AH HUM AVALOKITESHVARA HUM
OM AH HUM VAJRADHARA
HUM
OM AH HUM MAITREYA HUM
OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI
HUM
Mục
đích của tu tập là giải
thoát. Nhưng giải thoát cái gì?
Thế nào là giải thoát? Nếu
không thấu hiểu và liễu ngộ
tuyệt cùng về sự giải thoát
thì cũng chỉ là cảnh ra tù
vào khám mà thôi. Chẳng khác
gì đưa hai tay lên lạy Phật nhưng
thực ra đưa tay để bị
còng!!! Giải thoát là giải thoát
tâm, tâm của chính mình chứ
không phải tâm của bất cứ ai
khác, không phải giải thoát cái
thân xác tứ đại này cho
đẹp đẽ hơn, cho giầu có
hơn. Nghĩ rằng tu để
được khỏi bệnh,
được phước,
được giầu, được
vào niết bàn,
được-được, đắc-đắc...
là chỉ tìm thêm ràng buộc, là
vào một cái nhà tù khác
cái nhà tù mà ta đang ở.
Cái sợi giây đang trói buộc
mình chưa cởi bỏ được
thì lại trói thêm một sợi
giây khác nữa, khác nữa,
khác nữa... và cứ thế
mà trói liên tu bất tận không bao
giờ ngừng, không ai trói ta
cả, chính ta tự trói ta! Không
hiểu rõ vấn đề thì tu tập,
thiền định là một sự
ràng buộc, là vào một nhà
tù vĩ đại! Một nhà tù chung
thân muôn vàn kiếp! Nhà tù
tâm linh!
Đạo
Phật là đạo thực hành
những điều Phật dạy trong cuộc
sống hàng ngày chứ không
phải đạo cầu xin để
được cái này cái kia (thật
sự thực hành, thật sự
thực tập trong cuộc sống, chứ
không phải chỉ ngồi thiền mà
chứng ngộ được, nếu
chỉ ngồi mà ngộ được
thì những thiền sinh không phải
điên đầu vì những công
án của thầy cho, không phải khổ
sở để xây nhà cho thầy
như Milarepa!) Phật chưa
từng cho, Phật chưa từng nhận,
Phật là Như Thị, Như Lai !!! Tu tâm
thế nào để không còn có cái
gì gọi là tâm, không còn có
cái gì gọi là tu, tu mà chẳng
phải là tu mới chính là tu,
tập mà chẳng phải là tập mới
chính là tập. Tu để cái không
tự nhiên thành tự nhiên, tập
để cái gò bó trong cuộc đời
thành thoải mái an nhiên. Quán tới
độ không còn có cái gì
gọi là Tâm Bát Nhã thì
mới “ Phật
và chúng sinh tính thường
rỗng lặng !” Ngày nào cũng
đi trên con đường sỏi
đá gồ ghề với một
niềm tin với một nụ cười thì
dầu con đường có gồ
ghề sỏi đá đến đâu
cũng trở thành thân thương (nhiều
người hỏi rằng, nghĩ rằng
đi đường sỏi đá
gồ ghề thì làm sao mà
cười được, cuộc
đời tràn đầy khổ
cực vất vả thì làm sao mà
cười được, câu trả lời
là không cười mà cứ
hỏi cứ nghĩ thì đời
thực sự khổ thật.) Vì thế cái ý nghĩa
tối thắng của Tâm Kinh Bát Nhã
là “ Bồ
tát quán tự tại, hành thâm
Bát Nhã Ba La Mật” và “Yết Đế,
Yết Đế, Ba la Yết Đế, Ba La
Tăng Yết Đế, Bồ Đề
Tát Bà Ha.” Trên con đường
tu tập, hành gỉa quán cho thấu
suốt, cho kỳ cùng những hiện
tượng đang xẩy ra hàng ngày
ở ngay trong cuộc đời, ở
ngay từng giây phút hiện tại và
thực hành thâm sâu, thâm
sâu, thực hành rất thâm sâu
những lời Phật dậy để
rồi “Chuyển
hóa, chuyển hóa, chuyển hóa đi,
chuyển hóa nữa đi, thì sẽ
ngộ được niết bàn là ở
đó.” “Đạo Phật không
xuất thế và cũng không nhập
thế: đạo Phật vẫn liên tục
chuyển thế trong từng giây phút
trôi qua trên mặt đất và trong
toàn thể vũ trụ với hàng
trăm tỷ thiên hà bao la.” (1) Hạnh
phúc ở ngay chỗ chuyển dịch
của dòng sông, ở giữa
dòng sông chứ không phải
ở bờ bên đây hay ở
bờ bên kia, giả thử có
đến được bờ bên kia
thì đó cũng chính là
bờ bên đây mà thôi.
Hạnh phúc ở chỗ trung đạo
chứ không phải ở đầu
cực này hay đầu cực kia.
Hạnh phúc ở đây, ngay bây
giờ chứ không phải ở
ngày hôm qua hay chờ đến
ngày mai hay chờ đến khi nào
đắc đạo. Cốt tủy của
đạo giải thoát là không có
một cái gì để đắc,
không có cái gì để
đạt, không có cái gì
để giải thoát, vì căn bản
của nó là buông xả, là
từ bỏ, là buông bỏ ngay cả
sự giải thoát tối hậu. Thực
tại cuối cùng của sự giải
thoát cũng là không. Hạnh phúc
đang hiện diện trong từng hơi
thở của đời sống, trong
từng sinh hoạt của cuộc
đời, ngay trong sự tỉnh thức
bây giờ, bây giờø.
Đạo Tỉnh Thức của
Đức Phật là Trí Huệ (đang
biết và đang hiểu thấu suốt
mọi hiện tượng trong từng giây
phút, từng sát na ngay bây
giờ) và lòng
Từ Bi (khi đã hiểu thấu
suốt rồi thì chỉ còn tình
yêu thương rộng mở bao la hoà
nhập trong mọi hiện tượng, mọi
chúng sinh. Lúc đó Trí Huệ
và Từ Bi chính là một, KHÔNG
TÍNH!)
Tất
cả kinh sách đều là phương
tiện. Tiểu thừa, Đại thừa
và Mật thừa đều là Phật
thừa, đều là những cỗ
xe chở đến nhà Phật, xe là
xe, đi như thế nào tùy
người lái xe, khi chưa thấu hiểu
thì lăng xăng chấp chước
đủ điều, khi ngộ rồi thì:
“Ồ, hoá ra mình đang ngồi trong
nhà Phật, mình đang hạnh phúc
mà cứ bảo mình đang lái xe
đến nhà Phật hoặc đang chạy
đi tìm hạnh phúc!!!” Phương
tiện chính là cứu cánh, con
đường chính là nhà, cuộc
đời chính là niết bàn, chướng
ngại phiền não tức bồ
đề, nghiệp chính
là đạo! Nghiệp chính là con
đường dẫn đến giải
thoát. Nghiệp chính là mặt bên kia của
hạnh phúc mà cũng chính là
hạnh phúc. Ta đang hạnh phúc, ta đang
là Phật, chỉ vì ta vọng
tưởng có một cái hạnh
phúc ở đâu đó ngoài
kia nên ta mải miết đi tìm; ta cho
là (chấp) Phật phải
như thế này thế kia nên ta không
nhìn ra được Phật tính đang
hiện diện trong ta và trong mỗi một
chúng sinh, nên ta cứ mãi hoài
đi tìm ở bên ngoài kia. Tất
cả cũng chỉ tại cái tâm
điên đảo vô minh mà ra, tất
cả chỉ vì cái tâm vọng
tưởng mà ra, tất cả chỉ
vì cái tâm nhị nguyên mà ra.
Tâm là gì?
Tâm! Tâm có hai phần,
có hai mặt (hai mặt của cùng một
thực tại Tâm): Chân tâm và Vọng tâm; Thanh tịnh và
Ô nhiễm; Chân
như tuyệt đối và phần kia là tương đối,
bất tịnh; Rỗng
lặng và đầy
ắp, ồn ào. Tâm giống như
bầu trời trước mặt, thanh
tịnh mà cũng đầy ô nhiễm;
trống rỗng, lặng thinh mà cũng
đầy ắp, ồn ào!
Chân
tâm (còn gọi là Bản thể, Tuyệt
đối thể, Phật tính, Chân như,
Siêu việt tính, Tâm bản nhiên,
Diệu tâm, Tâm rỗng lặng, Tâm thanh
tịnh...) không thể
dùng lời nói để luận
bàn, người tu tập phải tự
chứng ngộ lấy, khi ngộ thì biết
liền, không có một phương tiện
nào ở hiện tượng giới
này có thể diễn tả
được, dù có diễn tả
đến đâu đi nữa thì
nó cũng chỉ là sản phẩm của
tâm ô nhiễm, của tâm vọng
tưởng, hơn nữa hiện
tượng giới chính là thế
giới của ô nhiễm, thế
giới của những hiện
tượng, là nơi để
những năng lượng thị hiện,
từ vi tế ra thô kệch rồi thô
kệch lại tạo ra vi tế, chuyển biến
không ngừng nghỉ... Khởi Tín
Luận diễn tả về Chân tâm:
“Tất cả các pháp từ vô
thủy tới nay, xa lìa tướng
nói năng, xa lìa tướng danh
tự, xa lìa tướng tâm duyên,
rốt ráo là bình đẳng;
không có thay đổi biến dị,
không thể phá hoại; chỉ là
nhất tâm cho nên gọi là Chân
Như.” Thực tướng thì vô
tướng. Thực thể thì vô
thể. Thực dụng thì vô dụng.
Ngôn ngữ có khuynh hướng
vật chất hóa các sự kiện,
ngôn ngữ chỉ là phương tiện
chuyển đạt, diễn đạt, chỉ
là phương tiện để cụ thể
hóa bản thể thành sự thể, vi
tế thành thô kệch để cho cái
tâm bình thường có thể
hiểu được (2).
Hốt
nhiên đạt ngộ có nghĩa hốt
nhiên là-bản-thể. Ngày xưa, Tsong
Khapa, người sáng lập ra truyền
thống Geluk mà Đức Đạt Lai
Lạt Ma đời thứ 14 xuất
thân từ đây, đang nghiên
cứu và phân tích không tính (tính
không, tánh không, shunyata, emptiness) theo sự dạy bảo của
phái Madhyamaka (Trung Đạo), thì Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát xuất hiện
trước mặt ngài và nói: “
Không có một người nào
trên quả đất này có thể
dạy con tính không!” Chân tính
vượt ra ngoài ý niệm thông thường,
bất khả tư nghì, chỉ có thể
chứng nghiệm bằng thực hành
đạo pháp, bằng tu tập, bằng thiền
định, bằng hành thâm Bát
Nhã Ba La Mật.
Hành
thâm Bát Nhã Ba La Mật để tẩy
vọng (tưởng), khi tẩy
được vọng thì chân hiện ra.
Sóng yên thì nước phẳng
lặng. Chất “trong” đã có
sẵn trong ly nước đục, dù
vô cùng đục, đục lắng
thì “trong” hiện ra, chỉ có vậy
thôi ! Khi “trong” thì tự biết
là “trong” và nhìn thấu suốt
được tất cả, chưa
“trong” thì dù có bàn luận,
dù có nói năng diễn đạt
đến thế nào đi nữa
cũng chỉ là “nói về cái
trong” mà thôi. “ Trong trược (ô) thì có thanh (tịnh, thanh
khiết) nhưng trong thanh
thì không có trược”. Chưa là mặt
trăng thì dù có chỉ thế nào
đi nữa cũng chỉ là ngón tay
chỉ mặt trăng mà thôi. Khi chưa
ngộ thì thích xây nhiều chùa,
thích thuyết pháp khắp nơi, muốn
cứu độ tất cả mọi
người, thấy ai cũng cho là họ
khổ, cũng cho là họ chẳng hiểu
gì... khi ngộ rồi thì thõng tay đi
vào chợ, đi vào cuộc
đời, đi vào hang cùng ngõ
hẻm của đời sống với
trí huệ, với lòng từ bi, vui
vẻ, hòa nhã, chia sẻ, an nhiên và
khuyến khích mọi người tự tu, tự độ, Đức Phật
Thích Ca nói:
“ Con hãy là ngọn đuốc cho
chính con”, “ Con hãy tự
đốt đuốc lên mà đi.”
Hình ảnh của vị Phật tương lai
là Đức Di Lặc, mỗi chúng
sinh là một vị
phật tương lai, vì thế chúng ta
đừng ngồi đó mà
chờ đợi đức Di Lặc đến
để đưa chúng ta vào niết
bàn, chúng ta hãy hành thâm Bát
Nhã Ba La Mật để là Di Lặc trong
tương lai ! Phật từ đâu
mà có? Từ chúng sinh! (Vì
thế, không thể sống, không thể tu
tập nếu không vì chúng sinh.)
Vọng
tâm (tâm thức, tâm giả, tâm
lừa đảo, tâm vọng
tưởng, tâm ô nhiễm, tâm
nhị nguyên, tâm mà con người
thường nói)
có thể nghĩ bàn được.
Chúng ta hãy nói về vọng tâm,
tất cả có 8 cái biết, tám
thức, tám loại vọng tâm, tám
ông vua cai quản 8 vùng, thường
được gọi là Tám Tâm
Vương.
TÂM VƯƠNG:
* Thức 1 đến
thức 5: nhãn thức (mắt, thị
giác, màu sắc)
nhĩ thức (tai, thính giác, âm thanh) tỷ thức (mũi,
khứu giác, mùi hương) thiệt thức (lưỡi,
vị giác, mùi vị) và thân thức (thân
xác, xúc giác)
đây là cái biết của năm giác quan.
Nhờ 5 giác quan mà chúng ta biết
được những gì ở chung
quanh chúng ta, chúng ta đối thoại,
chúng ta tiếp xúc được
với trần cảnh, với ngoại
cảnh ở hiện tượng giới
này. Những cái “nhận”
biết của 5 giác quan hoàn toàn
không có một chút phê bình,
tính toán phân biệt nào, năm
giác quan như năm cánh cửa
mở sẵn để tiếp nhận ngoại
cảnh, để cảnh đi vào. Vì
trong cảnh giới hiện tượng
thô kệch vật chất này, năm
thức trên không có đủ
tự tại lực để nhận
thức, nên chúng không nhận xét
được điều gì, có
nhận xét được chăng
nữa thì cũng chỉ biết
được những cái rất
thô sơ như nhìn một bông hoa thì chỉ
biết bông hoa có mầu hay không có
mầu, có hương hay không có
hương..... rồi phải nhờ
tới YÙ thức (thức
thứ 6 sẽ bàn ở
dưới) mới
phân biệt được rõ rệt
hơn đẹp xấu, hoa loại gì,
để làm gì, để tặng ai
...vân vân...
Ở
cảnh giới này 5 giác quan
thường thích đuổi theo ngoại
cảnh và thường bị ngoại
cảnh lôi cuốn quyến rũ, đây
đúng là cảnh ta bà mê ảo,
trùng trùng điệp điệp sự
kiện, trùng trùng điệp điệp
sự vật. Chúng trôi lăn không ngừng
nghỉ trong dòng hiện tượng theo
thói quen của ái dục, theo thói quen
của ô nhiễm như tập tục, giáo
dục, truyền thống, ý niệm...vân
vân... Nhờ tu tập, nhờ thanh
tẩy, nhờ thực hành thâm
sâu và nhờ thiền định
mà chúng ta dần dần biết
được, dần dần nhận ra
được, dần dần thực
nghiệm được hoặc chứng ngộ
được 5
“cái-biết-giả” này, 5 cái
vọng tưởng này, khi đó
sự hiểu biết thô kệch được
chuyển hóa thành “Cái Biết” mà sách nhà
Phật gọi tên là “ Thành-Sở-Tác-Trí ”.
Vì
trôi lăn theo ngoại cảnh nên dĩ
nhiên là chấp “có”
đến cùng cực, coi các sự
vật, các sự kiện, các hiện
tượng nhất định là có
thật. Chủ thể để đối
tượng lôi cuốn! Để cho
đóa hoa hồng quyến rũ. Vì
thế khi đã ngộ, khi đã phát
hiện ra sự gỉa dối này, khi
đã hiểu tường tận tâm
vọng tưởng này thì trí tuệ
hiểu biết này được
tượng trưng là Đức Phật Amoghasidhi -
Bất-Không-Thành-Tựu Như Lai. Aán
của Ngài là Vô Uùy Aán. Trong
Mandala (Đàn tràng, Đạo tràng,
môi trường sống...) Ngài ngự ở
phương Bắc, mang mầu xanh lá cây
xẫm, chủng tử AH. Bất-Không
nhưng mà là Bất-Không-Thành-Tựu
Như Lai, thành tựu được
cái bất-không ấy, nhìn nhận ra
được 5 “cái-biết-gỉa”
ấy mà không bị chướng
ngại ngăn che
gì. Lúc đó đi vào cõi ta
bà, đi vào cái không cùng gỉa dối, đi vào
cõi trùng trùng điệp điệp
huyễn ảo của đời sống
mà chẳng hề bị dính mắc gì
cả, không chấp gì cả, không
hề sợ hãi điều gì cả,
vì biết rằng đó chỉ là
trò như lai, chúng đến như vậy! Sự kiện,
sự vật xuất hiện như vậy,
chúng đến như vậy, như nó
là! ( do luật nghiệp
lực, luật duyên khởi, sự
kiện này là sự tự nhiên
của năng
lượng trong vũ trụ) Diệu dụng của trí này
không có biên giới, nó có
thể thực hiện những phép
mầu để giúp người giác
ngộ đi độ sinh, độ sinh một
cách tự nhiên như nhiên. Tuệ
giác của họ không còn là cái
biết thường tình, họ vào
đời chỉ có trí tuệ và
từ bi, vào đời một cách
tự nhiên an nhiên, vào
đời mà không rời Phật
Tính. Vào đời cùng
với Phật Tính ! Có nghĩa là: Phật Tính vào
đời! Phật Tính thị hiện!
* Thức thứ
6 - YÙ thức: khi
không tiếp xúc với trần
cảnh (ngoại cảnh, đối tượng) mà tư tưởng vẫn
phân biệt tính toán, vẫn biết
những sự kiện đang xẩy ra, như
khi ngồi thiền mắt nhắm mà vẫn
biết mọi sự việc đang diễn ra
trong đầu, cái biết đó gọi
là ý thức. Thức này vô
cùng lanh lợi, cái biết này
phân biệt, suy tính đủ thứ.
YÙ thức không phải là
những thực thể thường
hằng bất biến, mà chỉ là
những dòng-lưu-chuyển biến
đổi từng giây phút, từng
sát na (nói một cách rõ hơn, đây
chính là sự liên
tục không ngừng của dòng năng lượng tinh
thần.) Sự biến
chuyển này là định luật chung
của mọi hiện tượng, nghĩa là
những hiện tượng được
thành lập, tồn tại và phân
tán theo nguyên lý nhân qủa, duyên
khởi, chúng chịu điều kiện
hóa bởi những hiện
tượng liên hệ, cái này có
thì cái kia có, cái này không
có thì cái kia không có, cái
này diệt thì cái kia diệt. Đây
là luật tự nhiên, sự tự
nhiên của vũ trụ, không do ai sáng
tạo ra.
YÙ
thức phát sinh do căn
(của
cả thô kệch và vi tế) và cảnh, do nhân
và duyên, nó
nương tựa trên căn cứ
mà phát sinh (căn)
và đối tượng của căn
cứ đó (cảnh) để tồn tại. Năm
thức trên có những căn
và cảnh vật chất của chúng;
căn ở đây là sinh lý
và cảnh ở đây là vật
lý. YÙ Thức lấy YÙ Căn (Mạt na
thức, căn thức, thức
thứ 7 sẽ nói sau) làm căn bản. YÙ Căn
lấy Tàng Thức (A Lại Da thức,
vô thức, thức thứ 8 sẽ
nói sau) làm căn
bản.
Trên
con đường tu tập ý thức
đóng một vai trò quan trọng, nó
phải đi từ địa
(đất, land, stage, bhùmi) này đến địa khác, từ cảnh
giới này đến cảnh
giới khác, từ giai đoạn
này đến giai đoạn khác,
từ tình trạng này đến
tình trạng khác (3). Có thể gọi
đây chính là tiến trình tu
tập, tiến trình chuyển hóa của
tâm thức theo từng trạng thái,
theo từng giai đoạn. Với sự
kiên trì tu sửa thực tập,
với sự hành thâm Đạo
Pháp cùng với thiền định, dần dần YÙ
thức có thể quán chiếu
được tính không của ngã
và pháp, của chính chủ thể và
đối tượng, biết
được thực
tại cuối cùng của tất cả mọi
hiện tượng là không. Khi
đó nó có khả năng ngăn
cản được 4 loại phiền não,
không cho những phiền não này
hiện hành hoạt động và nhất
là không được hợp
tác với YÙ Căn nữa.
Bốn loại phiền não này là 4
khuynh hướng nhận thức sai lạc
về ngã (cái tôi, chủ thể): ngã si (vô minh), ngã kiến (chấp), ngã mạn (ngạo mạn) và ngã aí (tham, dục). Kết quả của sự
quán chiếu này là Căn thức
mất dần sức mạnh và do
đó mất dần tính cách ô
nhiễm, mất dần tính cách ảnh hưởng
đến ý thức.
Nếu
chúng ta dừng lại ở đây
mà không tiếp tục con
đường tu tập giải thoát
nữa thì chúng ta cũng vẫn chỉ
ở bờ bên đây mà
thôi, chưa ra được giữa
dòng hoặc chưa sang tới bờ
bên kia. Vì thế, chúng ta lại phải
tiếp tục vượt qua, lại phải
tiếp tục chuyển hóa (yết
đế trong kinh Bát Nhã), lại tiếp tục đi
đến một giai đoạn khác, một
chặng đường khác
được gọi tên là viễn hành địa,
ở đây YÙ thức
mới bắt đầu an trú
thường trực trong nhị không chân như, tức
là trong sự trong suốt về tính
không của ngã và pháp, của
cả chủ thể lẫn đối
tượng. Khi YÙ thức tiến
tới địa này, khi ý
thức chuyển hóa đến trạng
thái này thì YÙ Căn liền bị
tách rời ra khỏi Tàng thức,
không còn nhận Tàng Thức làm
đối tượng, làm nơi
nương tựa nữa. Bao nhiêu tà
kiến về sự tồn tại của
ngã giờ đây hoàn toàn
bị tiêu tán, không còn bị
vướng mắc, không còn chấp
vào cái tôi nữa. Một khi những
tâm bệnh của chúng ta đã
được chuyển hóa, chúng ta
sẽ có những sự nhận xét
chính xác và tỉnh thức nhạy
bén. Cái ly nước đục
giờ đây đã trong, những
năng lượng xấu (negative) đã được
biến đổi, đã được
chuyển hóa. Lúc đó tất cả
thế giới hiện tượng sẽ
được nhận biết qua bản tính
như thị của chúng, như chúng
là. Chúng không còn là sản
phẩm của tâm vọng tưởng
phân biệt nữa. Khi ý thức
thực chứng được
“cái biết không thực” của
chính nó, khi ý thức hiểu
thấu được thực tại
cuối cùng của chính nó là
không thì “cái biết” này
được gọi tên là Diệu Quan Sát Trí (trí tuệ
nhận biết nhiều khía cạnh, nhận
biết toàn diện pháp giới). Trong gia đình Thiền Phật Diệu-Quan-Sát-Trí được
tượng trưng là Đức Phật
Amitabha, A-Di-Đà
Phật, Vô-Lượng-Quang Như Lai. Ấn
của Ngài là Thiền Aán. Trong
Mạn đà la, Ngài ngự ở
phương Tây, mang mầu đỏ chói, (Tây
phương cực lạc, Tây phương
tịnh độ, ý thức đã
đi vào định, đã đi
vào tịch nhiên
vắng lặng, đã đi vào thanh
tịnh tuyệt đối) chủng tử của Ngài là AH
hay HRIH. (4)
* Thức thứ 7 -
YÙ căn : ý thức
thường bị gián đoạn,
đứt quãng như khi ngủ mơ, khi
bất tỉnh... lúc đó nó không
còn tính toán phân biệt gì
nữa, nhưng nó không mất hẳn
mà nó trở về cái gốc của
nó là YÙ Căn (còn
được gọi là mạt na
thức, căn thức, đệ thất
thức, gốc của ý thức). Công năng của thức
này là chấp Ta, lúc nào cũng
bảo thủ cái ngã, lúc nào
cũng qui về cái tôi, những
hành động tự nhiên tự
động, những phản ứng
tự nhiên là do thức này
điều khiển. Nó tượng trưng
cho sự giầu sang, vừa ý, bành
trướng thế lực, nên trong phương
diện tích cực, đặc tính này
vô cùng tự mãn, vô cùng
viên mãn. Ta
luôn luôn cảm thấy và tự cho ta
là cái rốn của vũ trụ, luôn
luôn bao trùm tất cả từ thế
giới vật chất đến thế
giới tâm linh, không ai có thể qua mặt
ta được. Khi YÙ thức chuyển
thành Diệu Quan Sát Trí thì cũng
là lúc YÙ Căn chứng
được cái-biết-không-thực
của chính nó, chứng
được cái trống rỗng của
chính nó. Sự giác ngộ của
“cái biết” này gọi là
trí tuệ chấp nhận - Bình-Đẳng-Tánh-Trí. Diệu
dụng của tuệ giác này là khả
năng thấy được tính cách
bình đẳng và đại hòa
của vạn pháp rộng mở bao la
để có thể hóa hiện tự do
trong công tác độ sinh chia sẻ
hòa đồng.
Bình-Đẳng-Tánh-Trí được tượng
trưng là Đức Phật Ratnasambhava, Bảo-Sanh-Như Lai. Trong tính
cách giầu có, đầy đủ (vị có
nhiều châu báu, đây là
nguyên nhân xuất hiện Tam bảo trong
cõi đời này: Phật, Pháp,
Tăng) và nhìn
mọi người, mọi vật bình
đẳng như nhau, Ngài chia sẻ và
mời gọi muôn loài chúng sinh
cùng an hưởng. Trong mandala, Ngài
ngự ở phương Nam, phương Nam
tượng trưng cho mặt trời
giữa trưa, mặt trời mang màu
vàng chói đầy đủ sức
nắng ấm chan hòa trên mọi cảnh
vật. Ấn của
Ngài là Bố Thí Aán, trong tư
thế thiền
định bàn tay phải của Ngài
để trên đầu gối chân
phải và chấm xuống đất,
lòng bàn tay quay ra ngoài, năm ngón tay
mở xòe ra để ban phát và
chia sẻ. Chủng tử của Ngài là
TRAM.
* Thức thứ
8 - Tàng thức :
là cái kho để chứa
đựng những
“cái-chấp-ngã” muốn
chứa, dưới dạng những
chủng tử, cũng gọi là A-Lại-Da
thức, vô thức hay đệ bát
thức.
Sự
chấp thủ chủ thể và đối
tượng là những nhận
thức sai lạc về ngã và pháp.
Những nhận thức sai lạc này
hoạt động như những pháp hiện
hành, nhưng chúng có gốc rễ
sâu xa ở Tàng thức. Trong lúc
hoạt động, chúng vẫn tiếp tục
được huân tập vào cái kho
chứa này, vì vậy gốc rễ
của chúng càng ngày càng
vững mạnh hơn. Chừng nào
chấp ngã, chấp pháp còn có
tiềm lực ở Tàng thức
chừng ấy chúng vẫn còn cơ
hội phát hiện để hành
động. Khi chúng đã bị tiêu
diệt, chúng ta có thể thấy trong
lúc thiền quán của mình có
một cái gì mầu nhiệm mà
chúng ta tưởng là chân như.
Nhưng nếu cái gì đó mà
còn được nhận thức như
là một vật sở đắc, không
được tự nhiên thì
chúng ta vẫn còn chưa an trú trong
chân như, vẫn còn đứng
ở vòng ngoài mà nhìn vào,
chưa phải là chính chân như. Trong
chân như, không có chủ không
có khách, không có sở
đắc, không có người
chứng ngộ cũng như đối
tượng được chứng
ngộ, không có Phật không có chúng
sinh. Đó là “vô đắc,
dĩ vô sở đắc cố” (không
đắc, bởi không có cái
gì để đắc ) trong kinh Bát Nhã.
Vô
phân biệt trí chỉ có thể
chứng nghiệm khi sự phân biệt
chủ thể và đối tượng
không còn. Tuệ giác này không thể
nghĩ bàn, bất khả tư nghì, nó
là kết quả của sự tu sửa
và thực tập, của sự dập
tắt hoàn toàn chấp thủ, của
sự phá vỡ tất cả
những cái chấp có ta và
chấp cái bị chấp. Được
như vậy, chúng ta chứng
được quả Chuyển
Y (không phải có một cái qủa
tên là chuyển y để chúng ta
nhìn, nhưng tới đây chúng ta
có thể hiểu và kinh nghiệm
được có một cái gì
đang biến chuyển trong tâm thức
và trong cả cuộc sống của chúng ta,
từ kinh nghiệm này chúng ta có
thể đem áp dụng vào chính cuộc
đời của chúng ta khi chúng ta
đối diện với từng hoàn
cảnh, chúng ta biết cách chuyển
biến được sự kiện và
có thể chia sẻ được
với muôn loài chúng sinh). Chuyển
có nghĩa là chuyển biến mọi
ô nhiễm, ô trược, mọi nghiệp
lực thành thanh tịnh, thành rỗng
lặng. Y là những nguyên lý
duyên sinh, căn cứ trên nguyên
lý này chúng ta phá trừ
những chấp ngã, chấp pháp và đạt
đến sự thanh tịnh, đến
chân như. Sự giải phóng của
Tàng thức là sự chuyển bất tịnh thành
tịnh. Cũng
nên biết rằng tịnh và bất
tịnh cùng trong một thực thể.
Trên
đường đi tới giải
thoát, Tàng thức thường
bị Căn thức ràng buộc. Chỉ khi
nào Căn thức nhìn ra
được sự bình đẳng
của sự vật thì Tàng thức
mới ngưng đóng vai trò làm đối
tượng, làm chỗ dựa cho Căn
thức, nhưng ảnh hưởng của
các ác nghiệp mà nó tàng chứa
vẫn chưa hoàn toàn được
loại bỏ, chưa hoàn toàn được
thanh tẩy, phải đợi đến khi
“cái-biết-chân-thực”
được kết tụ và bền
chắc như Kim
Cương bất hoại nó mới được
giải thoát ra khỏi hai loại
chướng ngại : phiền não
chướng và sở tri chướng.
Sở tri chướng là
chướng ngại của tri thức,
chướng ngại của tri thức
ở đây là chính tri thức,
bởi vì nếu chúng ta bị kẹt
trong một tri thức và cho tri thức
đó là chân lý tuyệt
đối (chấp pháp, cái-biết
chấp cái-biết),
chúng ta sẽ không đi xa hơn
được trên con đường
giải thoát, không yết đế
được. Nếu tất cả các
chủng tử đã được
chuyển từ bất tịnh sang tịnh
rồi thì Tàng thức sẽ
được chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, tịch
tịnh rỗng lặng như một tấm
gương trong sáng tròn đầy,
phản chiếu trọn vẹn tất cả mà
không dính mắc với một sự
vật nào, cũng không bị các
sự vật ấy động chạm hay lay
chuyển. Vì cái khả năng có
thể đứng lặng sáng ngời
phản chiếu trọn vẹn và vững
bền đó nên được gọi
tên như vậy. Trong gia đình thiền
Phật trí tuệ này được
tượng trưng là Đức Phật
Asobya,
Bất-Động-Quang Như Lai, Ngài ngự
ở Phương Đông, Aán của
Ngài là Súc Địa Aán, chủng
tử HUM. Để biểu thị tính
không nao núng của Ngài, Ngài ngồi
trong tư thế kiết già đại
định bàn tay phải ở
đầu gối phải chạm đất,
lòng bàn tay quay vào trong, diệu sắc
thân của Ngài mang mầu trắng chói
lọi, nổi bật trên nền trời xanh
lơ thăm thẳm của diệu tâm -
màu xanh lơ là mầu của
Đức Đại Nhật Như Lai, Maha
Vairocana - ( sau 49 ngày nhập định ở
gốc bồ đề, Phật Thích Ca ngộ
đạo cũng ngồi trong tư thế
này).
Trong
8 thức chỉ có thức thứ 7 (Căn
thức) và 8 (Tàng
thức) là tiếp
nối không gián đoạn, còn
các thức khác đều có
thể gián đoạn - trong trường
hợp ngủ, năm thức đầu
không hoạt động và có thể
cả ý thức nữa, nếu
người ngủ không nằm mộng.
Tàng thức vì vừa biến
chuyển vừa liên tục nên
được gọi là hằng chuyển (hằng
là liên tục, chuyển là biến
đổi). Hình bóng
của Tàng thức là hình bóng
của dòng sông, nước trong sông
thay đổi luôn nhưng con sông vẫn
liên tục.
Trong
8 thức, 5 thức đầu giống
như 5 anh làm
công ở ngoài cửa tiệm
chuyên tiếp xúc với khách ( 5 trần
cảnh của 5 giác quan) , anh thứ 6 khôn lanh suy
tính, kiểm soát, phân biệt, phân
loại, lựa chọn ...vv... anh thứ 7
là ngã si, ngã ái, chỉ biết
chấp, chấp ngã, chấp cái bị
chấp, chấp pháp...vv... anh này đem
cất tất cả vào kho tàng
thức, dưới dạng chủng
tử, rồi từ cái kho tinh thần
vô hình, vô tận đó, đưa
chủng tử các pháp ra khởi
hiện hành, hoạt động. Chúng
sinh bị trầm luân
không thoát ra khỏi biển sinh tử
luân hồi được hoặc bị
bế tắc trên con đường tu
tập, là cứ luẩn quẩn trong thức
thứ 6 và thức thứ 7. Tu
tập là cũng dùng hai thức
này, lấy gậy ông đập lưng
ông, tu sửa thói hư tật xấu,
thực tập những hạnh nguyện
tốt và thiền định chính là
tạo ra những nguồn năng
lượng tốt, tích cực (positive), những chủng tử
tốt để biến chuyển, để thay
thế những nguồn năng lượng
xấu, tiêu cực (negative),
những chủng tử xấu đang
nằm trong căn thức và tàng
thức, cũng như ngăn ngừa
những chủng tử xấu sắp
đến. Thiền quán, như
phương pháp thanh tẩy quán Ngài Kim
Cang Tát Đỏa (Vajrasattva) của mật
tông là để chuyển hóa những
chủng tử xấu trong căn thức
và tàng thức thành thanh tịnh,
trong sáng. Quán
nhân-vô-ngã để phá trừ
si mê chấp ngã, dứt phiền
não chướng; quán
pháp-vô-ngã để trừ
pháp chấp, dứt sở tri
chướng (thực tại cuối cùng
của nhân và pháp cũng là
không, không ở đây không
phải là không của nhị nguyên
-không đối với có- mà là bản lai diện
mục, chân tính, không tính của
nhân và pháp.)
Niết
bàn là sự dập tắt mọi vọng
tưởng phân biệt. Niết bàn
là tự thân thực tại, an nhiên
tự tại, là chân như. Con
đường tu tập là con
đường tự chiến thắng
chính mình, là con đường hủy
diệt gốc rễ của sự chấp
thủ vào chủ thể và đối
tượng. Một người mà
không phá hủy được tận
gốc rễ của cái “tôi”,
của tham sân si và ngã mạn thì
làm sao có thể tiếp cận hòa
nhập được với vĩnh
cửu thường hằng. Buông xả
là một tiến trình phá hủy,
tiêu hủy tam độc tham sân si và
ngã chấp. Sống cởi mở,
vị tha, sống yêu thương muôn
loài muôn vật là một tiến
trình phá hủy tận cùng ngã
aí. Càng hủy diệt cái tôi bao
nhiêu thì tâm từ bi càng hiển
lộ bấy nhiêu, cho đến khi Asanga (Vô
Trước, một thánh tăng của
Aán Độ sống vào thế kỷ
thứ tư)
biểu lộ tình thương đến
cùng độ là cúi xuống ôm
hôn con chó ghẻ thì con chó ghẻ
liền biến thành Đức Di Lặc;
khi bắt tay ôm hôn kẻ thù
với một tấm lòng chân thành
yêu thương tha thứ thì chính
kẻ thù biến thành người
bạn thân thiết! Phá chấp cho tới
kỳ cùng thì sẽ hiểu
được tính không. Nhưng hiểu
là một chuyện mà sống trong tính
không lại là chuyện khác, giống
như cái hiểu của Naropa về Phật
pháp trước khi gặp Tilopa và sau khi
gặp Tilopa thật khác xa nhau. Milarepa, một bậc
thầy về thiền định, nói
rằng: “ Khi thiền định con hãy
nhìn thấu suốt vào không gian,”
nhìn thấu suốt là nhìn phá
bỏ, nhìn gạt bỏ những gì
có ở trong không gian, những gì
không phải là không gian thì
không-gian-thật sẽ hiện ra (một ý
nghĩa huyền diệu khác của buông
xả.)
Trong
Mật tông có những phương
pháp quán chủng tử, quán các
vị Phật và chủng tử của
các Ngài, những phương pháp
này rất hữu hiệu,
diệu dụng trong vấn
đề chuyển hóa các nguồn
năng lượng để hòa nhập
vào Phật tính. Cũng có một
phương pháp thiền định khác vô
cùng hữu hiệu để nhận
biết, để khám phá ra
cái-biết-giả của các thức
trình bày ở trên, đó
là khi ngồi thiền chúng ta cứ ngồi
yên mà không làm gì cả,
thiền chỉ có một ý nghĩa đơn giản là
hãy để tâm đi vào tình
trạng an nhiên tự nhiên của chính
nó. Chogyam Trungpa Rinpoche, một bậc thầy
của Mật tông, nói: “ Trong lúc
ngồi thiền, chúng ta có thể ngồi
yên mà không làm gì cả, chỉ
ngồi yên mà không làm gì
cả. Chúng ta hãy ngưng tất cả
mọi hoạt động, hãy ngưng vội
vã, bồn chồn mà cứ ngồi
yên. Hãy ngồi xuống và yên
lặng! Chúng ta nên hãnh diện là
chúng ta đã làm một công việc
tuyệt vời trong cuộc sống là
không làm gì cả.” Không nghĩ,
không quán tưởng, không tham gia,
không theo dõi, không không...vv...Hãy
để tâm rỗng lặng như vậy,
một thời gian sau chúng ta sẽ hiểu
được cái diệu dụng tuyệt
vời của nó và sẽ thấu
hiểu được những thức
nói ở trên đang diễn kịch trong
sân khấu diệu tâm, như những
đám mây đang lơ lửng trong
bầu trời xanh (không gian trước
mặt dầy đặc ô nhiễm mà
cũng vắng lặng, thanh tịnh, trống
không) cũng như
sẽ hiểu được sự rộng
mở trong sáng của Trí Huệ và
Từ Bi. Lúc đó chúng ta mới
thực sự cảm nghiệm
được: đời là một
trò chơi, tất cả đều là
tuồng ảo hóa và chúng ta mỉm
cười với chính chúng ta:
vậy mà mình cứ tưởng
là thật, vô duyên!!! (rất nhiều giai thoại kể rằng các
vị thiền sư phá lên cười
khi ngộ đạo, rất tự nhiên.)
Bản
chất của cái-biết là trung tính (neutral) nên chúng có thể
biến chuyển được cả hai
chiều xấu thành tốt, tốt thành
xấu, có nghĩa là chúng sinh có thể giải thoát
khỏi vòng sinh tử luân hồi mà
cũng có thể bị trầm luân trong
đó hoặc trở lại đó (tu nửa
chừng, chưa bền chắc như kim
cương, bất
hoại.) Như vậy, có
phải đi chùa thật nhiều, tụng kinh
thật nhiều, cúng dường thật
nhiều là sẽ được giải
thoát? hay là ngồi thiền một
thời gian thấy đời nhẹ
tâng thoải mái rồi nghĩ rằng ta
đã được giải thoát?
Nếu nghĩ như vậy là ta bị mắc
lừa rồi đó! Ai lừa ai?
Chính tâm của ta lừa tâm ta, ta
cần có sự tỉnh thức trong từng
giây phút. Ngày xưa, Bồ Đề
Đạt Ma gặp Lương Võ Đế,
vua hỏi:
- Trẫm xây chùa thật
nhiều, in kinh độ tăng rất nhiều,
như vậy có công đức
gì không ? Bồ Đề Đạt Ma
trả lời:
-
Không! Đều không có công
đức gì.
-
Thế nào mới là công
đức?
-
Trí hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh.
Bản thể phải tự nhiên trống
vắng, như thế mới là công
đức. Công đức là
ở nơi bản tính chứ không
phải do nơi công nghiệp thế gian (xây
chùa, in kinh, đúc tượng...) mà cầu được.
Tu
tâm, con đường thiền
định với gia đình Thiền
Phật, nếu chỉ học hỏi, nếu chỉ
nghiên cứu, nếu chỉ tìm hiểu
mà không thực hành thì
đây chính là Duy Thức Học,
cũng chỉ là một thứ chấp, duy,
chấp pháp (sở tri chướng nói
ở trên),
cái chấp này vô cùng nguy hiểm,
cái chấp này là vua trong các
loại chấp, cái chấp này làm
tiêu tan đi tất cả tiến trình tu
tập và tiến trình hành thâm
Đạo Pháp, nó ngăn cản sự
chuyển hoá, nó ngăn cản sự
giải thoát, nó ngăn cản tâm
bồ đề, nó ngăn cản sự
rộng mở, nó ngăn cản sự
hòa hợp các tôn giáo, các
giáo lý, các triết thuyết. Phật
không có tông phái, không có
bất cứ một thứ “duy”
nào cả, phải hiểu rõ, tại sao
lại có tông phái, tại sao lại
có “duy”? (Không tính là nền
tảng triết học của Trung quán, Tàng
thức là tâm điểm triết
học của Duy thức, hai nền triết
học này bổ xung lẫn cho nhau, giải
thích duyên sinh tính và vô ngã
tính của hiện hữu, kỳ cùng
của vấn đề cũng chỉ
để hiểu Vô Tự Tính của
vạn pháp).Từ bồ
tát đến hàng chúng sinh thì
có tông phái, có duy, có
cứu độ, bồ tát phải
hóa thân mới cứu độ
được. Phật là Rỗng Lặng,
Pháp Thân Phật là sự cứu
độ tự nhiên, tự nhiên
đã là cứu độ,
đã là giải thoát. Cái tâm
nhị nguyên, cái tâm bệnh hoạn ô
nhiễm muốn được giải
thoát, muốn được cứu
độ chứ tâm bản nhiên
đã chính là sự giải
thoát miên viễn rồi.
Nếu
thực sự hành thâm Đạo
Pháp thì sẽ nhận ra được
gia đình Thiền Phật cũng giống
như gia đình của chúng ta, có cha
mẹ anh em, họ hàng, bạn bè và
xã hội mà chúng ta sinh hoạt chung
với nhau mỗi ngày, mỗi
người mang một sắc thái khác
nhau, cá tính khác nhau mà chúng ta
phải đối diện với, phải sinh
hoạt với. Mỗi người
chúng ta cũng phải đối diện
với chính mình là cá tính,
tính tình của chính mình (mandala
-đạo tràng- bên ngoài và mandala
nội tâm).
Sự
liên hệ của Đức Đại
Nhật Như Lai (Maha Vairocana)
và đàn tràng bí mật của
Ngài, trong
gia đình Phật, Ngài ngồi ở
trung tâm và 4 vị Phật
ở 4 phương chính:
Đông
(Asobya/A
Súc Bệ Phật)
Tây
(Amitabha/A
Di Đà Phật)
Nam
(Ratnasambhava/Bảo
Vương Phật)
Bắc
(Amoghasiddhi/Bất-Không
Phật)
và 4 phương phụ là 4 góc
với 4 vị Đại Bồ Tát:
Đông
Nam (Vajradhara/
Chấp Kim Cang hoặc
Samantabhadra/Phổ Hiền/Dũng)
Tây
Nam (Avalokiteshvara/Quan
Thế Aâm/Bi)
Tây
Bắc (Manjushri/Văn Thù Sư Lợi/Trí)
Đông
Bắc (Maitreya/Di Lặc, Từ Thị /đang
thực hành thâm sâu đạo
pháp để trở thành vị
phật trong tương lai)
cũng
chính là sự liên hệ của
mỗi người chúng ta với
cái đàn tràng bí mật cá
tính riêng biệt của mỗi
người. Trong đời sống tu
tập, hành giả phải sống với
từng khía cạnh nhỏ nhất của
ông ta qua chính cái bản tính bẩm
sinh của ông ta. Đàn tràng bí
mật của một hành giả là phải
đối diện trong từng giây
từng phút ở cuộc sống
với chính những cá tính
riêng biệt của hành giả: tham lam, sân
hận ganh ghét, ngu si đần độn,
ngã mạn kiêu ngạo, yêu thương,
sợ hãi... vân vân...Hành giả
phải chuyển hóa tất cả những
nguồn năng lượng này,
những nguồn năng lượng này
không ở đâu xa mà ở ngay
trong thân tâm của hành giả.
Đây chính là những nguồn
năng lượng bất tịnh, bốn
loại phiền não đầy ô nhiễm
cần phải thanh tẩy, cần phải chuyển
hóa, càng chuyển hóa bao nhiêu thì
sân hận ganh ghét càng trở
thành từ bi bấy nhiêu, càng
chuyển hóa bao nhiêu thì vô minh
càng trở nên trong sáng, trí
tuệ bấy nhiêu, càng buông xả bao
nhiêu thì tâm ích kỷ, tâm kiêu
căng càng trở nên cởi
mở, bao la, rỗng lặng bấy nhiêu.
Vì thế cần phải thực tập,
cần phải chuyển hóa chính
những năng lượng ô nhiễm
đã tích tụ từ muôn ngàn
kiếp ở trong thân tâm, đây
chính là cái bản tính mang đầy
nghiệp quả trong tâm thức của
chúng ta. Trong 4 vị đại bồ tát
thì Đức Di Lặc tượng
trưng cho sự thực hành thâm
sâu Đạo Pháp, khắp thế
giới loài người chỗ
nào cũng có bước chân
của Ngài, tay cầm túi càn khôn,
tay lần mala (xâu chuỗi) mật chú, miệng luôn
mỉm cười với muôn loài
chúng sinh và đặc biệt với
lục tặc đang bám chặt vào
Ngài, lục tặc chính là những
tâm thức trình bày ở
trên. Con
đường tu tập, con
đường thành phật, con
đường giải thoát không
có gì khác hơn là con đường
tự chiến thắng chính mình, con
đường thị hiện lòng
từ bi, lòng Bồ Đề, con
đường thanh tẩy những ô
nhiễm trong tâm thức của chính
mình, không phải của ai khác!
Tiến trình, ba khía cạnh của con
đường tu tập đến giác
ngộ là Buông
xả, Tâm bồ đề, Không tính. Phương
pháp huyền diệu duy nhất cho cả ba
lãnh vực này, nhất là hai
lãnh vực đầu, chính là: Yết Đế, Yết
Đế, Chuyển hóa tâm.
Đức Phật
lịch sử Thích Ca Mâu Ni là một
tấm gương sáng chói chiến
thắng chính tâm thức của Ngài
(Sakyamuni
= kẻ chiến thắng của dòng Sakya.) Tiểu sử tu tập của
Ngài là chiếc bản đồ vô
cùng qúi gía để chúng ta
thực hành theo: (chìa khoá, điều
kiện để thoát khổ)
1. Nhận thức cuộc
đời là đau khổ, nhận
thức cuộc đời đầy
ô nhiễm, bất tịnh.
2.
Quyết tâm đi tìm hiểu nguyên
nhân của đau khổ, cũng là
lúc bắt đầu bước chân
vào cuộc đời buông xả.
3.
Phát Tâm Bồ Đề (khi rời
bỏ cung điện, trước khi chia tay
với người đầy
tớ dắt ngựa, Ngài nói: “Ta
làm việc này không phải vì ta
mà vì chúng sinh.” )
4.
Tìm thầy học đạo, thiền
định, tự chiến thắng chính
mình (thực hành đạo pháp)
5.
Tự mình quay vào bên trong của
chính mình (Ngài không bằng lòng
với bất cứ một vị thầy
bên ngoài nào, một pháp môn
ngoại tại nào)
để tìm hiểu, tu tập. Kết qủa
là trí tuệ khởi phát, vô minh
dần tan biến. Khổ là vì vô minh,
khi hết vô minh là lúc Ngài giác
ngộ, là lúc toàn mãn, viên
mãn, là lúc hạnh phúc, thanh tịnh,
hết khổ, là lúc chính kiến
bùng phát, nhìn mọi hiện
tượng như thị, như lai, không
tính.
Milarepa,
con người siêu việt, một đại
hành gỉa của Tây Tạng ở
thế kỷ 11, một đại phù thủy
mang rất nhiều tội lỗi, giết vô
số người, đã biết hối
hận, đã tự chiến thắng
chính mình để thành Phật. Hình
ảnh Đức Di Lặc Bồ Tát,
vị Phật trong tương lai, đang thực
hành Đạo Pháp để chiến
thắng chính mình, đang thị hiện
lòng từ bi (Từ Thị, một tên
khác của Đức Di lặc) để hoà nhập trong
cuộc sống thường ngày của
chính Ngài là một tấm gương
để chúng ta bắt chước
mà thực hành.
Bài
viết Tu Tâm này (cái-biết-này) đến từ cái
tâm rỗng lặng (bản thể) được thị hiện ra
trên những trang giấy này (tướng
thể), rồi sau khi
đọc xong nó đem lại cho
người đọc một sự biến
chuyển nào đó trong tâm thức
(dụng
thể). Bài viết
này nói nên sự làm việc
của tâm, sự chuyển hóa, sự
vận hành không ngừng nghỉ của
tâm thức chúng ta và tiến
trình chuyển hóa tâm thức của
một hành gỉa trên con
đường giải thoát, dù
không làm gì cả tâm thức
tự nó cũng luôn luôn chuyển
dịch, duyên khởi tự chính
nó theo nghiệp lực.
Cái-biết-này nếu không tiếp
tục biến chuyển đi như sự
trôi chảy của dòng sông, mà
dừng lại, mà cứng đọng
lại thì nó sẽ trở nên
một chướng ngại, giống như
thức ăn không tiêu hóa thành
máu huyết nuôi thân thì sẽ
sình thối trong bao tử mà bị
chết. Hãy để nó trôi chảy,
hãy để nó trở về cái
không rỗng lặng của nó, có
nghĩa là phá chấp đến kỳ
cùng, có nghĩa là giải thoát ngay
cả sự giải thoát cuối cùng,
có nghĩa là:
“Yết
Đế, Yết Đế, Ba La Yết
Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ
Đề Tát Bà Ha.”
“Chuyển hóa,
Chuyển hoá, Hãy chuyển hoá, Hãy
chuyển hoá nữa đi, Niết bàn
là ở đó.”
“Thực
hành, Thực hành, Hãy thực
hành, Hãy thực hành nữa
đi, Trí huệ là ở
đó.”
“Buông xả,
Buông xả, Hãy buông xả, Hãy
buông xả nữa đi, Từ Bi
là ở đó, Tâm Bồ
Đề là ở đó, Không
Tính là ở đó.”
“TAYATHA OM GATE GATE PARAGATE
PARASUMGATE BODHI SVAHA.”
OM AH HUM SHAKYAMUNI HUM
OM AH HUM MANJUSHRI HUM
OM AH HUM AVALOKITESHVARA HUM
OM AH HUM VAJRADHARA HUM
OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM
OM MANI PADME HUM
OM AH HUM MAITREYA
HUM
OM AH HUM
Để nói lên tính
cách viên mãn của sự giác
ngộ, hình ảnh
thõng tay đi vào chợ trong “Thập
ngưu đồ” của thiền tông, người
viết xin lặp lại lời dậy bảo
của Sahara, một thánh sư của mật
thừa, ngài nói:
“ Người
nào không thưởng thức các
giác quan đã thanh tịnh mà chỉ
thực hành Tính Không thì cũng
giống như con chim bay lên từ một
chiếc tàu, cứ bay vòng vòng
rồi lại đậu xuống tàu.”
Vô
Huệ Nguyên
Chú
thích:
(1) Phạm Công Thiện,
Nét đẹp tinh túy trong sáng của
đạo lý Phật giáo.
(2) Ngôn ngữ là
một trong ba cửa ngõ (tam mật) để
đi từ hiện tượng giới
vào kim cang giới hay ngược lại;
để đi từ vô minh đến
trí tuệ hay ngược lại; để
tạo nghiệp hay xóa nghiệp ...vv... Ba cửa
ngõ là: thân, khẩu và ý.
*
Thân: thân xác hay tất cả
những hành động từ thân
xác, của thân xác và thuộc
về thân xác (đưa tay đánh
một người là tạo một hành
động xấu từ thân xác,
đưa tay vuốt ve an ủi một
người bị khổ đau là tạo
một hành động tốt từ
thân xác.Chắp tay lạy Phật là
hành động tốt, ngồi thiền
là để thanh tịnh thân tâm).
* Khẩu: âm thanh,
ngôn ngữ, văn chương, nhạc hay
tất cả những phương tiện
thuộc về truyền thông ( nói xấu
một người là tạo một nghiệp
xấu, nói lời chân thành là
tạo một nghiệp tốt, viết một
bài văn đả kích với
ác ý, không đúng sự thật
là tạo nghiệp xấu, viết một
bài văn xây dựng có tính
cách hướng thiện là tạo
một nghiệp tốt. Tụng kinh, niệm thần
chú là để thanh tịnh khẩu...).
* YÙ:
ý tưởng hay tất cả những
gì phát khởi ra từ tâm
thức ( ước cho người
đó bị điều không tốt
là tạo nghiệp xấu qua ý;
ước cho chúng sinh được an
lạc là tạo nghiệp tốt. Quán
tưởng, tưởng tượng
chủng tử, thầy, bồ tát, phật
trên đỉnh đầu là để
thanh tịnh ý hoặc dùng ý để
hòa nhập vào đối
tượng....). Nghiệp có nghiệp tốt
và nghiệp xấu, nghiệp nào cũng
được ghi nhận vào tàng thức
dưới dạng chủng tử, nghiệp
đã được tạo ra thì
hậu qủa của nó sẽ trở
lại tùy theo nặng nhẹ, sâu đậm,
ít nhiều...vv... Đại nguyện (nguyện
lực) của chư Bồ Tát cũng
chính là nghiệp lực cứu
độ chúng sinh của các Ngài,
sự tái sinh của các lạt ma là
sự thị hiện của nguyện lực,
nghiệp lực cứu độ của
các Ngài.
Tu
tập bằng bất cứ phương tiện
nào, dù tiểu thừa, đại
thừa hay mật thừa cũng phải
đi qua 3 cửa ngõ này, nhất
là mật thừa lại càng dùng 3
cửa ngõ này nhiều hơn
nữa. Một người dù theo
bất cứ một tôn giáo nào
cũng phải đi qua 3 cửa ngõ
này để đạt cảnh thanh tịnh an
lạc (thiên đàng, niết bàn) hay cũng
vì ba cửa này mà lâm vào cảnh trầm luân
đau khổ ( hỏa ngục, địa ngục). Cũng
thế, chúa, phật,
trời, thánh, thần, qủi ma... khi
đến với con người cũng
đi qua ba cửa ngõ này,
có một phép lạ nào mà không
thị hiện qua thân, khẩu hoặc ý? Vì thế thân khẩu ý
vô cùng quan trọng trong vấn đề tu
tập, thiền định, chuyển hóa.
(3) Thập địa là
10 trạng thái,10 cảnh giới (stages)
mà một người thiền định
thường trải qua trên con
đường tu tập, có khi cả 10
trạng thái này đều xẩy ra trong
một phút thiền, trong một ngày, trong từng giai đoạn hay
trong nhiều kiếp, mười địa là:
1. Hỉ địa (land of
joy): người tu tập hoan hỉ
bước chân vào con
đường tu tập dẫn
đến quả vị phật
2. Tinh khiết địa
(land of purity): với ý chí,
người tu tập chuyên cần thực
tập thanh
tẩy thân tâm để đi vào con
đường tu tập và thiền
định
3. Phát quang địa
(land of radiance): vì buông xả tam độc tham
sân si, trí huệ
bắt đầu ló dạng, người
tu tập hiểu được lý vô
thường.
4. Hỏa thiêu
địa (the blazing land): người tu tập
thiêu hủy đi tất cả ý niệm vô
minh , phát huy trí huệ
5.
Cực nan thắng địa ( the land extremely
difficult to conquer): người tu tập tiến
sâu vào con đường thiền
định để phá tan tất cả nghi
ngờ, thực sự thấu hiểu
tứ diệu đế
và con đường giác ngộ
6. Hiện tiền
địa ( the land in view of wisdom): trong giai đoạn
này người tu tập
thực sự thấu hiểu
được sự hiện hành của
các pháp, thế nào là pháp
như thị, như lai.
7. Viễn hành
địa ( the far-reaching land): tới đây
hành giả bắt đầu an trú thường
trực trong tánh không
8. Bất động
địa (the immovable land): tới đây
người tu tập không còn bị
ảnh hưởng
bởi bất cứ sự việc gì
, sống an nhiên, cảm nghiệm
được con đường
giải thoát, thế nào là tự do
9. Thiện huệ địa
(the land of good thoughts): trí huệ được
khai mở toàn diện,
người tu tập thấu hiểu bản
tính của các pháp và bắt
đầu con đường
độ sinh, đi giúp người.
10. Pháp vân
địa ( land of dharma clouds): người tu
tập được ngồi chung với
các vị phật và chia sẻ toàn
diện pháp giới cùng các chư
vị phật.
(4)
Trong 8
thức, thức này nguy hiểm nhất,
rắc rối, lăng xăng nhất và
hiện tại nhất, nên cần an tịnh,
cần tịnh độ, con đường
duy nhất để con người thoát
khổ là quay vào bên trong, an tịnh
ở bên trong, khi yên tịnh rồi
chúng ta thực sự thấy
được toàn diện của vấn
đề, khi ý thức im bặt thì
gọi là tịnh, định. Phật
A-Di-Đà cai quản thái dương hệ
của chúng ta, ý thức
được coi như một quản lý
viên của các thức. Chỉ cần
thức này yên là chúng ta
đã tiến một bước rất xa
trên con đường giải thoát.
Sách tham
khảo:
1. Journey without goal của Chogyam
Trungpa Rinpoche
2. Crazy wisdom của Chogyam Trungpa
Rinpoche
3. The myth of freedom của Chogyam
Trungpa Rinpoche
4. The Tantric Path of Purification
của Lama Yeshe
5. Introduction to Tantra của Lama
Yeshe
6. Foundation
of Tibetan Mysticism của Lama A. Govinda
7. Lamp
of Mahamudra của Tsele Natsok Rangdrol
8. Dzogchen, The self-perfected State
của Chogyal Namkhai Norbu
9. The Hundred
Thousand Song of Milarepa của Garma C.C. Chang
10. Mật tông Đại
thừa của Nghiêm Xuân Hồng
11. Cuốn sách quan
trọng nhất : CUỘC ĐỜI CHƯ
PHẬT, CHƯ BỒ TÁT và CUỘC
ĐỜI
CHÍNH MÌNH của mỗi hành giả
“ CON XIN HỒI HƯỚNG TẤT CẢ
CÔNG ĐỨC NÀY ĐẾN MUÔN
VÀN CHÚNG SINH TRONG MƯỜI PHƯƠNG
PHẬT VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ
TÁT, CON KHÔNG GIỮ LẠI MỘT CHÚT
GÌ CHO RIÊNG CON. ”