ABHIDHAMMATTHASANGAHA
THẮNG PHÁP TẬP YẾU
LUẬN
Tỳ kheo Thích Minh
Châu
(dịch và giải)
MỤC LỤC
|
Lời nói đầu |
|
|
Chương một: Tâm
Vương (Citta) 1) Bất thiện tâm (Akusalacitta) |
|
|
Chương hai: PHẦN MỘT: Các loại Tâm sở
(Cetasika) 1) 7 Biến hành tâm sở (Sabbacittasàdhàranà) PHẦN HAI: Những tâm sở nào đă
hiện hành trong những tâm nào 1) 7 Biến hành tâm sở PHẦN BA: Loại tâm nào có những
loại tâm sở nào và bao nhiêu tâm sở 1) Với Siêu thế tâm |
|
|
|
Chương ba: Linh tinh
(Pakinnaka) 1) Phân loại theo thọ |
|
Chương bốn: Lộ
tŕnh của tâm (Cittav́thi) 1) Lộ tŕnh của tâm qua 5 căn |
|
|
Chương năm: Ra ngoài
loại h́nh (V́thimutta) 1) Bốn địa |
|
|
Chương sáu: Sắc
(Rùpa) 1) Tóm lược (Samuddesa) |
|
|
Chương bảy: Tập
yếu những danh từ Abhidhamma 1) Tạp loại tập yếu (Missako
sangaho) |
|
|
Chương tám: Duyên
khởi và Duyên hệ 1) Trợ duyên tập yếu (Paccaya
sangaho) |
|
|
Chương chín: Nghiệp
Xứ hay Đối tượng Tu hành |
|
|
Phụ lục: Đối
chiếu Pàli - Việt |
|
LỜI NÓI ĐẦU (Tập
Một)
Văn học Abhidhamma có thể xem là môn Tâm Lư Học
của Phật giáo v́ bốn vấn đề
được đem ra giải thích cặn kẽ hoàn toàn
thuộc về con người và đặc biệt là
phần tâm thức. Bốn pháp được đề
cập là Citta (tâm), Cetasika (tâm sở), Rùpa (Sắc) và Nibbàna
(Niết bàn). Tâm, Tâm sở, Niết bàn dĩ nhiên thuộc
về tâm thức, nhưng Sắc pháp ở đây nói
nhiều về thân thể con người và sự liên
lạc giữa thân thể ấy với tâm thức.
Đạo Phật không bao giờ tách rời Tâm và Sắc v́
cả hai đều tương quan liên đới. Chia
chẻ theo 2 pháp thời Nàma (danh) thuộc về Tâm pháp và
Rùpa (Sắc) thuộc về Sắc pháp. Nói đến 5
Uẩn, thời Rùpakkhandha (Sắc uẩn) thuộc về
Sắc pháp c̣n 4 Uẩn c̣n lại thuộc về Tâm pháp
v.v...
Điểm nói bật nhất trong môn học Abhidharma là
sự phân tích rất tinh tế và tỉ mỉ các tâm và tâm
sở, và theo Pàli Abhidhamma, có đến 89 hay 121 tâm (Citta) và
52 tâm sở (Cetasika). Đúng với truyền thống "phân
tích tông" (Vibhajavàda, một tên khác của Thượng
Tọa Bộ), Pàli Abhidhamma chia chẻ các loại tâm thành
Dục giới tâm; Sắc giới tâm, Vô sắc giới
tâm, Siêu thế tâm (theo cảnh giới), hoặc thành
Bất thiện tâm, Vô nhân tâm, Tịnh quang tâm (theo khả
năng hướng thiện hay không hướng thiện),
hoặc theo Thiện tâm, Dị thục tâm, Duy tác tâm (theo
khả năng tái sanh một đời sau hay không);
hoặc theo Hữu nhân, Vô nhân tâm (nếu đứng về
phương diện căn nhân chi phối các tâm ấy)
v.v... Phần tâm sở lại tế nhị hơn, và chúng
ta được biết khi nhăn thức khởi lên
thời ít nhất có 7 Biến hành tâm sở cùng khởi
một lần, tức là Xúc, thọ, trưởng, tư,
mạng căn, nhứt tâm và tác ư. C̣n tế nhị hơn
là những băng thống kê tỉ mỉ t́m ṭi số
lượng các tâm sở hiện hành trong một tâm và
những tâm sở nào được t́m thấy trong
những loại tâm nào. Chúng ta không ngờ hỷ tâm sở
có mặt trong 51 tâm, xả tâm sở khởi lên trong 70 tâm,
và một tâm giản dị như tiếu sanh tâm cũng có
đến 12 tâm sở cùng khởi lên một lần (xúc,
thọ, tưởng, tư, nhứt tâm, tác ư, mạng
cặn, tầm, tứ, hỷ, tinh tấn, thắng
giải). Một sự cống hiến đặc biệt
của Pàli Abhidhamma cho môn Tâm lư học là sự giải thích
về Cittav́thi hay lộ tŕnh của tâm. Mỗi khi có
một sự kích thích ở ngoài ngang qua 5 căn thời
cả một số tâm tiếp diễn liên tục,
khởi lên, diệt xuống lâu cho đến 16 tâm sát-na.
1. Bhavangacalana:
Hữu phần chuyển động.
2. Bhavangupaccheda: Hữu phần dừng nghỉ.
3. Pancadvàràvajjana: Ngũ môn hướng tâm.
4. Cakkhuvinnàna: (Nhăn thức hay một trong 4 thức khác).
5. Sampaticchana: Tiếp thọ tâm.
6. Sant́rana: Suy đạc tâm.
7. Votthapana: Xác định tâm.
8-14. Javana: Tốc hành tâm.
15-16. Tadàlambana: Đồng sở duyên tâm.
Như vậy từ khi Hữu phần rung động
cho đến Đồng sở duyên tâm có đến 16 tâm
sát-na, và nếu chúng ta cộng thêm một tâm sát-na nữa,
thời gian cần thiết để đối
tượng ở ngoài tiếp xúc với nội căn,
thời chúng ta thấy đời sống một lộ
tŕnh của tâm có đến tất cả 17 tâm sát-na và có 7
loại tâm khởi lên rồi diệt xuống trong một
lộ tŕnh (Từ Ngũ môn hướng tâm đến
Đồng sở duyên tâm). Thật là một sự khám phá hy
hữu, và sự phân tích thật vô cùng tế nhị và khúc
chiết.
Tập Abhidhamma không những giải thích sự diễn
tiến của tâm thức khi bị kích thích bởi
ngoại trần hay nội tâm, ngang qua 5 căn hay ngang qua ư
căn (Pavattana), mà c̣n miêu tả Kiết sanh thức
(Patisandhi) liên hệ từ đời này qua đời khác.
Ở đây chúng ta thấy rơ cả sự cố gắng
để giải thích trạng thái tái sanh của con
người, những sức mạnh ǵ đă khiến con
người sau khi chết phải đi đầu thai
một đời nữa để thỏa măn sự
đ̣i hỏi, sự tham sống của kiếp
người. Vẫn biết vấn đề này
vượt ngoài sự nhận thức của con
người v́ chúng ta không nhớ đến khi chúng ta lâm
chung hay đi đầu thai, nhưng sự cắt nghĩa
ở đây có thể xem là hợp lư, khoa học nhất,
dựa vào thực tế mà tŕnh bày, và đây cũng là một
sự cống hiến đặc biệt nữa của
Abhidhamma cho vấn đề sống chết của con
người, một vấn đề mà các nhà triết gia
bao giờ cũng boăn khăn t́m hiểu.
Lama Govinda, một tu sĩ Phật giáo người
Đức trong quyển The Psychological Attitude of Early Buddhist
Philosophy (Thái độ tâm lư của triết học
đạo Phật nguyên thủy) đă xem văn học
Abhidhamma như môn tâm lư học và triết học của
đạo Phật. C̣n ông Egerton C. Baptist trong quyển
Abhidhamma for the Beginners (Abhidhamma cho những người
sơ cơ) th́ so sánh môn học Abhidhamma như môn siêu h́nh
học của Phật giáo. Nếu siêu h́nh có nghĩa là
vấn đề t́m hiểu Thượng đế và
vấn đề tạo thiên lập địa th́ môn
học Abhidhamma không thể là môn siêu h́nh học, v́ hai
vấn đề này không được đề cập
đến. Đúng với truyền thống thực tiễn
của Kinh tạng không muốn đề cập
đến những vấn đề không liên hệ
với đời sống thực tại, đối
tượng của môn học Abhidhamma là vấn đề
tâm linh và hoàn cảnh thực tại của con người
đang sống. Nhưng nếu chúng ta định nghĩa
siêu h́nh là những vấn đề vượt khỏi
sự hiểu biết hiện tại cạn cợt và có
giới hạn của chúng ta, thời Abhidhamma có thể xem
là môn siêu h́nh v́ Sắc giới tâm, Vô sắc giới tâm và
Siêu thế tâm vượt ngoài sự hiểu biết
hiện tại của con người. Muốn chứng
được Sắc giới tâm, phải tu các pháp thiền
ở Sắc giới, muốn hiểu Vô sắc giới tâm
phải tu các pháp Thiền ở Vô Sắc giới, và
muốn đạt đến các quả thánh, phải tu
quán (vipassanà) về Ba pháp ấn. Ở đây chúng ta
thấy rơ siêu h́nh không dựa trên ḷng tin không bằng
chứng vào tưởng tượng và dự đoán mà
chỉ là trạng thái tâm thức chưa được
phát giác ra, bởi v́ kinh nghiệm cá nhân của con
người chưa đạt tới, và khi đă
đạt tới, thời siêu h́nh đă trở thành kinh
nghiệm cá nhân. Nói một cách khác, đạo Phật không
bác bỏ siêu h́nh, nếu phần siêu h́nh được
phát giác trên con đường kinh nghiệm cá nhân. Phần
này chỉ bị bác bỏ khi nào chỉ được h́nh
thành trên con đường của tưởng
tượng và dự đoán. Ở đây, theo tạng
Abhidhamma, siêu h́nh là một khái niệm hoàn toàn tương
đối mà ranh giới tùy thuộc ranh giới kinh
nghiệm cá nhân của ḿnh và tùy thuộc vào h́nh thức và
tầm lực của nhận thức. Đức Phật
nhiếp phục siêu h́nh với những vấn đề
nan giải của siêu h́nh, không phải chỉ không biết
đến siêu h́nh, mà chính với thái độ tích cực
và thiết thực, nghĩa là nhờ ở sự tu
tập và tiềm lực của nhận thức,
đức Phật thu nhỏ dần ranh giới của
siêu h́nh, và như vậy siêu h́nh trở thành kinh nghiệm.
Nói đến đạo đức học tức là
giới vức thứ ba của triết học, Abhidhamma
cũng là môn luân lư học của đạo Phật, v́
tất cả lời dạy trực tiếp hay gián tiếp
của đức Phật đều hướng con
người đến giải thoát và giác ngộ. Tiêu
chuẩn đạo đức ở đây không phải là
lời phán xét của đức Phật, cũng không
phải dựa vào truyền thống hay tập tục
của một thời đại nào. Tiêu chuẩn thiện
ác ở đạo Phật tùy thuộc ở con người
và 12 Bất thiện trong tâm Abhidhamma được
định nghĩa là những tâm khiến con người
đi xa đích giải thoát và giác ngộ, 18 Vô nhân tâm
(ahetukacitta) là những tâm lưng chừng, không tới
cũng không lui, và 59 Tịnh quang tâm (sobhanacitta) là những
tâm khiến con người tiến dần đến
mục tiêu giải thoát và giác ngộ. Ở đây, chúng ta
cũng phải nhận rơ thái độ của nhà triết
gia Đông phương không những tŕnh bày lư thuyết của
ḿnh mà c̣n phải sống theo lư thuyết ấy trên thực
tế và kinh nghiệm. Tri hành hợp nhất, trí
đức song tu là những tiêu chuẩn bất di bất
dịch cho những triết gia Đông phương và do
vậy đạo đức học không bao giờ rời
khỏi phần triết học trong tạng Abhidhamma. T́m
cho ra phần luận lư trong tạng Abhidhamma không phải
dễ dàng v́ văn học Abhidhamma tuy đă có sự cố
gắng hệ thống hóa những tư tưởng chính
của đức Phật, sự phát triển này về
luận lư học chưa đến mực độ
trở thành một hệ thống riêng biệt về
luận lư như Nhơn minh học (Hetuvidyà) của Đại
thừa. Nhưng đạo Phật bao giờ cũng chú
trọng đến lư trí, suy luận, thực tu thực
chứng lẽ dĩ nhiên bao giờ cũng kính trọng
những nguyên tắc căn bản của pháp suy luận
và do vậy chúng ta có thể nói phần luận lư lúc nào
cũng tiềm tàng trong tạng Abhidhamma.
Một vấn đề nữa cũng rất quan
trọng trong khi đề cập đến Abhidhamma là
sự liên lạc giữa Kinh tạng và Luận tạng, và
sự sai khác giữa hai tạng ấy. Dầu Kinh tạng
là phần tử hấp dẫn nhất trong Ba tạng, và
được xem là nguyên thủy nhất, Kinh tạng
vẫn là sự sưu tầm những lời dạy của
đức Phật cho từng trường hợp,
từng hoàn cảnh, từng cá nhân lẻ tẻ, nhiều
khi không có liên hệ tương quan. Abhidhamma tạng là
cả một sự cố gắng hệ thống hóa
những lư thuyết và phương pháp tiềm tàng và
rải rác trong Kinh tạng, và đặc biệt
đặt những hệ thống ấy trên một
bối cảnh chung và nhờ vậy giúp chúng ta có một
khái niệm tổng quát và quán xuyến về đạo
Phật. Chúng ta không thể lấy những điều
kiện lịch sử để phán đoán giá trị
của Abhidhamma, v́ rất có thể những phần tử
quan trọng của Abhidhamma được h́nh thành một
lần với Kinh tạng. Phần lớn các nhà học
giả đều đồng ư rằng tạng Abhidhamma
được tổ chức và phát triển từ các Matrikà,
nghĩa là những công thức đă có sẵn trong kinh
tạng, và như vậy tạng Abhidhamma vẫn có thể
được xem là tạng có tánh cách nguyên thủy. Vả
lại chính trong Kinh tạng, cũng có những loại kinh
hoặc bộ kinh mang nặng đặc chất Abhidhamma
hơn là Kinh tạng, như kinh Sanǵtisutta trong bộ
D́ghanikàya và tập Niddesa trong bộ Khuddakanikàya. Và như
Lama Govinda đă nói, "chính trong thời đức
Phật tại thế, vẫn không có một đạo
Phật tuyệt đối, một h́nh thức giáo
điều của sự thật, mà chỉ có một
sự hướng dẫn về phương hướng
và phương pháp có thể đưa đến sự
tự chứng cá nhân. Khi nào Abhidhamma c̣n phụng sự
được lư tưởng này bằng cách chỉ cho
chúng ta rơ, một ít nét đại cương của tư
tưởng Phật giáo, th́ vấn đề tạng
Abhidhamma được kiết tập sớm hay muộn
không có ǵ quan trọng cả".
Về phương pháp diễn đạt, tạng
Abhidhamma chú trọng đặc biệt về một
hệ thống gọi là Patisambhidà (Vô ngại giải hay
Pratisamvit, một hệ thống của luận lư phân tích).
Hệ thống này được chia thành bốn ngành. 1)
Phân tích về ư nghĩa (Nghĩa vô ngại giải, Attha)
của các danh từ (hay vật, v́ danh từ định
nghĩa sự vật). 2) Phân tích về pháp (Dhamma, Pháp vô
ngại giải). Chữ pháp được tập Vibhanga
và ngài Buddhaghosa, định nghĩa là sự hiểu
biết về những nguyên nhân của sự vật. 3)
Phân tích về văn phạm (Từ vô ngại giải,
Nirutti), 4) Phân tích về Patibhàna (Biện vô ngại
giải). Nhưng trong bộ luận chữ Hán Tsa-tsi, Attha
lại có nghĩa là sự hiểu biết về những
danh từ riêng và chung, và Dhamma có nghĩa là các Đồng
nghĩa. Trong tập Niddesa, các danh từ được
giải thích bằng một danh sách dài các chữ Đồng
nghĩa (Dhamma) và các chữ khác được dùng những
định nghĩa thông thường (Attha). C̣n địa
phương ngữ và những h́nh thức đặc
biệt cũng cần giải thích và đó chính là Nirutti.
Ngoài ra, c̣n có sự giải thích về giáo lư và ở đây
cần phải có sức biện tài (Patibhàna).
Một đặc tánh nữa của tạng Abhidhamma mà
các luận sư cho là rất đặc biệt là sự
cố gắng của tạng Abhidhamma giải thích sự
vật theo đệ nhứt nghĩa đế
(Paramatthasacca), chớ không theo tục đế (Sammutisacca)
như trong Kinh tạng. Như khi nói đến cái bàn, là
theo tục đế, nhưng khi nói đến những
cơ năng, những đặc tánh tạo thành cái bàn là
nói đến Đệ nhứt nghĩa đế. Trong Kinh
tạng, đức Phật thường dùng những danh
từ đàn ông, đàn bà, hữu t́nh, tự ngă. Trái
lại trong Abhidhamma, những danh từ như năm
uẩn, mười hai xứ, mười tám giới
được dùng. Nói đến người thời có
sự sai khác giữa đàn ông đàn bà, con nít người
lớn, người thông minh kẻ ngu dốt và như
vậy nằm trong phạm vi Tục đế. Khi nói
đến năm uẩn hay mười hai xứ, thời
không có sự phân biệt trên và con người chỉ là
sự tụ họp của năm uẩn hay năm pháp.
Khi chúng tôi
bắt đầu dịch tập này, chúng tôi gặp
một sự khó khăn lớn là có nhiều danh từ
chưa bao giờ được dịch ra chữ Hán và
như vậy chúng tôi phải tự dịch theo nghĩa,
hoặc dịch theo ư. Với những danh từ như Ṕti
(Hỷ), Vitakka (Tầm), Vicàra (Tứ), thời không có ǵ khó
khăn v́ chữ Hán đă dùng nhiều lần. Nhưng
Citav́thi (Tâm lộ hay lộ tŕnh của tâm), Parikamma
(chuẩn bị), Upacàra (cận hành), Anuloma (thuận
thứ), Gotrabhù (chuyển tánh), Appanà (an chỉ) v.v... toàn là
những danh từ mới mẻ, phải tự dịch
ra. Để tiện t́m hiểu và khảo cứu, chúng tôi cho
in hai tập ngữ vựng, Pàli - Việt và Việt - Pàli,
toàn những danh từ chuyên môn. Khi gặp chữ Pàli,
muốn t́m chữ dịch ra tiếng Việt th́ t́m ngữ
vựng Pàli - Việt. Khi gặp chữ Việt mà muốn
t́m chữ Pàli tương đương th́ t́m ngữ
vựng Việt - Pàli. V́ đây không phải là tự
điển, nên chúng tôi chỉ cho in những danh từ
chuyên môn mà thôi.
Trong khi dịch
và giải thích tập này, chúng tôi chia mỗi đoạn
văn thành bốn phần:
I. Pàli văn,
tức là bản văn chính.
II. Thích văn, là dịch những chữ Pàli khó ra Việt
văn.
III. Việt văn, là bản dịch Pàli văn ra Việt
văn.
IV. Thích nghĩa, là giải thích đoạn văn trên.
Sự tŕnh bày này giúp nhiều cho những người
mới biết riêng Pàli cũng như những ai muốn
nghiên cứu sâu vào vấn đề. Riêng đối
với những người chỉ muốn hiểu
tiếng Việt cũng có thể học hỏi nghiên
cứu không có ǵ khó khăn. Tập này cũng có dụng ư
giúp cho sinh viên Vạn Hạnh học chứng chỉ
Abhidhamma và sinh viên Văn khoa Sài G̣n học chứng chỉ
Triết Ấn, v́ khi nào có sách học thời rất
dễ cho sự t́m hiểu và chính nhờ sự hiểu
biết về căn bản của tập này, sinh viên
mới có sự hiểu biết căn bản để
nghiên cứu các tác phẩm khác.
Quyển Abhidhammatthasangaha này là quyển sách căn
bản cho những ai muốn tham học tạng
A-tỳ-đàm và trở thành quyển sách đầu
giường cho chư Tăng Miến Điện, Tích Lan, Thái
Lan v.v... Không những tập này cho chúng ta những hiểu
biết căn bản về môn học Abhidhamma, tập này
có thể xem là ch́a khóa độc nhất mở cửa cho
chúng ta vào tham cứu bảy tập Abhidhamma chính thống,
mà sự tŕnh bày, cùng những danh từ chuyên môn khó hiểu
và khô khan đă làm chán ngán thất vọng những kẻ sơ
cơ muốn t́m hiểu tạng này. Ngài Anurudha đă thành
công khi ngài chẩn mạch được căn bệnh
cổ truyền và khéo hệ thống hóa tư tưởng
và triết học Abhidhamma một cách gọn ghẽ súc
tích, khiến cho tập này trở thành một quyển sách
đầu giường cho các Tăng ni Phật tử
muốn nghiên cứu Luận tạng A-Tỳ-đàm.
Tập này đă được dịch ra tiếng Miên,
Thái, Tích Lan, Miến Điện, Ấn Độ, Anh, Pháp v.v...
chỉ trừ có tiếng Việt và bản dịch này là
để bổ khuyết sự thiếu sót ấy.
Về phần giải thích, chúng tôi y cứ vào hai
bản Abhidhammatthasangaha của Đại Đức Narada,
người Tích Lan và Đại Đức Kashyap, Viện
Trưởng Viện Phật Học Nalanda người
Ấn. Ngài Narada dịch rất sát nguyên văn và phần
chú thích chú trọng nhiều về ngữ nguyên các danh
từ cùng những giải thích truyền thống. Ngài Kashyap
trái lại dịch rất thoát nguyên văn và thích nắm
giữ những khái niệm chính của từng mục,
từng đoạn. Dung ḥa hai phương pháp và kết
nạp và trích lựa tinh hoa của hai tập trên, tập
"Thắng pháp Tập yếu" bằng tiếng
Việt này là sự cố gắng để phụng
sự Phật học nước nhà nói chung và Ban Tu Thư
Viện Đại Học Vạn Hạnh nói riêng. Chúng tôi
cũng có hy vọng tập này sẽ mở đầu cho
một sự so sánh giữa tập Pàli Abhidhamma và Tạng
Sanskrit Abhidhamma, và tập Pàli Abhidhammatthasangaha và tập
Sanskrit Abhidharmakosa, một sự so sánh rất hào hứng,
đầy những khám phá mới lạ và thích thú.
Tập Abhidhammatthasangaha có đến 9
chương và chúng tôi dịch đến chương
thứ V. C̣n bốn chương sau, chúng tôi sẽ cho
dịch tiếp
.Mùa Phật Đản 2510
Tỳ kheo THÍCH MINH CHÂU
Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn
Hạnh
-ooOoo-
LỜI NÓI ĐẦU (Tập Hai)
Bản dịch quyển
"Abhidhammasangaha" (Thắng Pháp Tập Yếu Luận)
tập II nay mới được in xong, dầu chúng tôi
dịch xong đă khá lâu, nguyên do chính v́ vấn đề
ấn loát khó khăn, nhất là in chữ Pàli, vật
liệu khan hiếm đắt đỏ, và trách nhiệm
của một vị Viện Trưởng khá đa đoan
phiền toái.
Tập II này đề cập đến
hai Thắng pháp c̣n lại là Rùpa (Sắc) và Nibbana (Niết
Bàn) được phân chia như sau:
Chương VI: Sắc Pháp
Chương VII: Các danh từ Abhidhamma phân loại theo
Bất thiện, Thiện và Bất thiện, liên hệ
với Giác ngộ.
Chương VIII: Duyên khởi và Duyên hệ
Chương IX: Tu tập và đối tượng Tu
tập,
Cũng như
tập I, chúng tôi có in bản chính Pàli, tiếp theo là Thích
văn, Dịch văn và Thích nghĩa, chúng tôi y cứ vào hai
bản Abhidhammatthasangaha của Đại Đức Nàrada, Tích Lan và
Đại Đức Kashyap, Viện Trưởng Viện Đại
học Nalandà, Ấn Độ.
Chúng tôi gặp
rất nhiều khó khăn về các danh từ Abhidhamma
chuyên môn, những danh từ chuyên môn có chữ Hán
tương đương thời chúng tôi dùng chữ Hán
đă được Việt hóa, c̣n những danh từ
không có chữ Hán tương đương, chúng tôi
phải tạm thời dịch theo nghĩa để
chờ đợi t́m được những danh từ
chính xác hơn. Bao giờ cũng vậy, đi tiên phong trong
vấn đề nào cũng có những khó khăn trong
bước đầu, và ở đây t́m được
những danh từ Việt hay Việt hóa sát nghĩa
với nguyên văn là cả một vấn đề thiên
nan vạn nan. Chúng tôi sẵn sàng chấp nhận những
khó khăn ấy để mở đường cho
những dịch phẩm về sau về Pàli Abhidhamma.
Sài G̣n, ngày 15 tháng 12 năm 1973
Tỳ kheo THÍCH MINH CHÂU
Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn
Hạnh
Ghi chú: Có thể tham
chiếu thêm với:
1) Vi
Diệu Pháp Toát Yếu, bản dịch Việt
ngữ của Phạm Kim Khánh (với đầy
đủ các kư tự Pàli).
2) A
Manual of Abhidhamma, bản dịch Anh ngữ và chú thích
của Ḥa thượng Narada.
Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10
---o0o---
Tŕnh bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày: 01-09-2002