|
Câu Chuyện Thầy
Lang
Thận Trọng với
Thuốc Ho, Cảm lạnh
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
Cảm
Lạnh ( Common Cold) là bệnh thường xảy ra nhất là từ tháng 11
tới tháng 4.
Trong
khoảng thời gian này, bệnh xuất hiện với ba cao điểm: vào mùa
Thu khi trẻ em bắt đầu đi học rồi giữa mùa Đông và cuối cùng là
vào mùa Xuân khi mà mọi người tưởng là đã không còn bị cảm lạnh
viếng thăm.
Cũng
như bệnh Cúm (Flu), Cảm lạnh do virus gây ra với cả vài trăm
loại khác nhau nhưng nhóm rhinovirus ( virus mũi) là thường thấy
hơn cả.
Như
tên gọi, virus này xâm nhập cơ thể qua mũi và miệng.
Virus
nằm trong các giọt nước nhỏ li ti từ miệng mũi bệnh nhân thoát
ra khi họ ho, hắt xì hơi hoặc nói. Chúng bay lởn vởn trong trông
khí cả mấy tiếng đồng hồ và người lành hít phải là mang bệnh.
Virus
cũng lây lan qua các đồ dùng của bệnh nhân như điện thoại, khăn
mặt, bát đĩa, bàn viết máy vi tính…Sờ đụng vào các vật dụng đó
rồi đưa tay lên miệng, lên mũi là mắc Cảm lạnh ngay.
Hiện
nay, chưa có vaccine ngừa cảm lạnh.
Phương thức phòng bệnh giản dị và hữu hiệu là không tiếp cận quá
gần với người bệnh, bệnh nhân che miệng mũi khi ho; rửa tay
thường xuyên; không dùng chung cật dụng với bệnh nhân, nghỉ ngơi
tại nhà khi mắc bệnh, uống nhiều nước.
Trẻ
em từ 1 tới 5 tuổi thường hay bị cảm lạnh cả chục lần mỗi năm và
cũng thường hay bị các biến chứng như sưng phổi, viêm tai trong,
viêm phế quản. Lý do là hệ miễn dịch của các em chưa mạnh, các
em cũng hay tụ tập tại nhà giữ trẻ, mẫu giáo, rồi cũng chưa có
thói quen rửa tay, che mũi miệng như người lớn.
Người
lớn ít bị cảm lạnh hơn, nhưng cũng được virus tới thăm dăm sáu
lần mỗi năm. Với họ, sự mệt mỏi thể xác, căng thẳng tinh thần,
kém dinh dưỡng là những rủi ro khiến cảm lạnh dễ xảy ra, vì sức
đề kháng miễn nhiễm suy giảm.
Cũng
có nhiều ngộ nhân cho là gặp luồng gió độc từ phương bắc thổi
tới, phơi dầu trong mưa, tắm nước lạnh buổi sang gây ra Cảm
lạnh. Nhưng đó cũng chỉ là do truyền khẩu kể lại, chứ nếu không
có virus thì cũng không bị bệnh này.
Kể từ
khi xâm nhập mũi miệng, virus cần từ 1 đến 4 ngày để âm thầm bố
trí rồi ra mặt gây bệnh. Đây là thời kỳ mà y học gọi là ủ bệnh
(incubation period) và cũng là lúc mà bệnh lan truyền mạnh mẽ
sang người khác.
Mới
đầu, bệnh nhân cảm thấy một chút mơ hồ uể oải mệt mỏi, giảm năng
lực hoạt động, nhức xương nhức thịt…Vài ngày sau thì sự hành hạ
của virus rõ ràng, khó chịu hơn.
Khởi
thủy là mũi nghẹt và khô. Nghẹt vì sung huyết tĩnh mạch màng
niêm ở mũi khiến cho bệnh nhân khó thở.
Rồi
tới chẩy nước nhớt từ mũi, dấu hiệu tiêu biểu của Cảm lạnh. Nước
mũi có thể loãng rồi trở nên đặc xệt, màu vàng hoặc xanh có lẩn
bạch huyết cầu chông cự với virus. Khi vi khuẩn trong mũi tái
hoạt động thì nước mũi chuyển sang mầu xanh nhạt. Hiện tượng này
tuy gây khó chịu nhưng công bình mà nói nó lại có ích để loại bỏ
các virus mai phục trong mũi. Nếu không bị tống xuất, chúng sẽ
xâm nhập cuống họng, lan ra các xoang ở mặt hoặc chạy tọt vô
phổi gây viêm nhiễm.
Vào
thanh quản, virus gây viêm cơ quan phát âm này, dọng nói khan
khan. Xuống họng, virus gây đau khiến cho bệnh nhân không muốn
cả nuốt thức ăn lẫn nói. Xương mặt có mấy cái xoang thông với
mũi và miệng. Rhinovirus cũng có thể lan tới và gây viêm xoang,
tắc nghẽn ống thông. Bệnh nhân cảm thấy đầy đầy và đau nhức trên
đầu, trên mặt. Phù viêm xoang cũng là dấu hiệu khó chịu nhất cho
người bệnh.
Ngoài
ra bệnh nhân cũng bị ho, lên cơn nóng số nhẹ (102◦F hoặc 39◦C),
chẩy nước mắt, mệt mỏi, không muốn làm việc gì, chỉ muốn nằm. Ho
là phản ứng tự nhiên của cơ thể khi có vật gì như đàm nhớt, bụi
bặm hiện diện ở họng. Ho là để tống xuất vật này ra.
Thường thường các dấu hiệu của Cảm lạnh chỉ kéo dài từ 5 tới 7
ngày. Một số ít bệnh nhân có biến chứng như viêm tai trong, viêm
xoang, viêm họng, sưng phổi, viêm phế quản, khò khè như hen
suyễn.
Người
lớn nên đi bác sĩ khám bệnh nếu có các dấu hiệu như nóng sốt
trên 102◦F hoặc 39◦C, đau nhức cơ thể, đổ mồ hôi, ho ra đàm có
màu xanh, sưng hạch cổ, đau xoang mặt.
Với
cháu bé, đi bác sĩ ngay nếu có nóng sốt cao, run lạnh, ho liên
tục, nôn ói, đau tai, đau bụng, khó thở, không ngủ được, khóc
luôn miệng.
Về
điều trị Cảm lạnh, có mấy điều quan trọng cần được mọi người lưu
ý:
-Không
có phương thức nào trị khỏi được Cảm lạnh
-Kháng
sinh không công hiệu với virus gây Cảm lạnh.
-Thuốc
chống cảm, ho, nghẹt mũi trên thị trường không những không làm
cảm lạnh lành hoặc mau chấm dứt mà còn có nhiều tác dụng phụ cần
biết để tránh.
Trên
thị trường có cả trăm loại thuốc chữa Cảm lạnh được quảng cáo,
vì nhu cầu của dân chúng quá cao và là có thực. Cứ thấy hắt hơi
sổ mũi ho là bổ nháo bổ nhào ra tiệm thuốc tây mua thuốc. Thuốc
do các viện bào chế uy tín sản xuất cũng có mà thuốc rỏm vô danh
cũng nhiều. Lại còn thuốc quáng cáo là có thêm vitamin, khoáng
chất, antioxidant. Bệnh nhân hoa cả mắt không biết lựa thứ nào.
Theo
các nhà chuyên môn y tế, trong đa số các trường hợp, không cần
thuốc men mà chỉ cần áp dụng vài sự tự chăm sóc là bệnh cũng qua
đi. Vì bản chất của Cảm lạnh là vậy: có vẻ như hung dữ nhưng
hiền như “ma sơ”, tiền hung hậu cát. Nếu thấy cần có thuốc để
giảm bệnh thì cân nhắc coi dấu hiệu nào cần đến thuốc, thuốc gì,
dùng bao lâu và liệu có phản ứng phụ nào không.
Có 3
loại thuốc để giảm dấu hiệu cảm lạnh:
1-Thuốc chống nghẹt mũi
Hoạt
chất chính của thuốc này là một chất tổng hợp tương tự như
epinephrine (adrenaline) do phần tủy tuyến thượng thận tiết ra.
Cả hai thứ có tác dụng làm co mạch máu. Tại mũi, thuốc làm giảm
sung huyết, niêm mạc xẹp xuống, lỗ mũi thông, bệnh nhân thở dễ
dàng. Nhưng thuốc cũng làm nhịp tim nhanh, tăng áp xuất huyết ở
người đang bị cao huyết áp, kích thích thần kinh với sợ hãi,
nóng nảy, run tay, khó ngủ, chóng mặt, nhức đầu, đổ mồ hôi, nôn
ói…Đang bị cao huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường không nên
uống thuốc này nếu chưa hỏi ý kiến bác sĩ.
Có
hai dạng thuốc: thuốc uống hoặc nhỏ xịt vào mũi.
a-Thuốc
nhỏ xịt, hít vào mũi
Nhiều
người, ngay cả bác sĩ dược sĩ, thích dạng này vì thuốc tác dụng
trực tiếp vào mũi nhanh hơn, ít gây ra tác dụng phụ cho cơ thể
cũng như ít có tương tác với thuốc trị bệnh khác.
Tuy
nhiên dạng này thường gây ra mấy rủi ro như:
-Tác
dụng ngược lại (rebound action), mũi nghẹt hơn khi tác dụng của
thuốc hết. Để bớt nghẹt mũi, bệnh nhân phải dùng thuốc thường
xuyên hơn, thậm chí tăng liều lượng. Lâu ngày có thể ghiền thuốc
xịt, thuốc nhỏ mũi.
-Một
vấn đề nữa là dùng nhiều, các sợi tóc bé tí ở mũi có nhiệm vụ
ngăn cản vi khuẩn, bụi bậm vào mũi, sẽ bị hủy hoại, con người dễ
bị bệnh. Đó là hiện tượng viêm mũi do thuốc (Rhinitis
medicamentosa)
Thuốc
không nên dùng ở cháu bé, trẻ em vì thường gây ra nhiều tác dụng
ngoại ý như tăng huyết áp, ảnh hưởng tới tim. Với các em, nghẹt
mũi được giải quyết dễ dàng với vài giọt nước muối sinh lý, nhỏ
vào lỗ mũi dăm lần trong ngày.
b-Thuốc uống
Thuốc
uống có thể là nước hoặc viên. Khi uống vào, thuốc sẽ đi qua qua
nhiều cơ quan trong cơ thể trước khi có tác dụng trên mũi. Do
đó, thuốc sẽ gây ra tác dụng phụ tại các nơi này.
Lợi
điểm trước hết của thuốc uống là không gây ra hiện tượng nhờn
thuốc và viêm mũi do thuốc. Ngoài ra, tác dụng của thuốc lâu
hơn, có khi cả 12 giờ, bệnh nhân chỉ uống hai lần/ngày là đủ.
Thuốc ảnh hưởng lên niêm mạc ở mũi, miệng, các xoang cho nên
người bệnh bớt khó chịu hơn.
Thuốc chống nghẹt
mũi thường dùng là pseudoephedrine hoặc phenylephrine.
2-Thuốc chống đau, giảm nóng sốt.
Đau
mình, nhức đầu là chuyện thường xảy ra khi bị cảm lạnh, nhưng
may mắn là chúng không kéo dài quá vài ngày và không quá dằn vặt.
Thuốc
thường dùng là acetaminophen, ibuprofen rồi đến aspirin.
Aspirin thường gây ra xuất huyết bao tử nên cần dè dặt. Cũng nên
nhớ là không bao giờ cho các cháu dưới 12 tuổi dùng aspirin, vì
có thể gây ra hội chứng Reye, tổn thương thần kinh, đôi khi chết
người.
Acetaminophen hoặc paracetamol được dùng nhiều hơn vì tương đối
an toàn. Tuy nhiên không dùng quá thường và quá liều lượng chỉ
định để tránh tổn thương cho gan. Thuốc có trong nhiều dạng
thuốc chống cảm lạnh khác nhau, cho nên cần coi kỹ nhãn hiệu để
tránh ngộ độc do quá liều lượng cho trẻ em.
3-Thuốc ho
Ho
không phải là một bệnh mà chỉ là triệu chứng của một bệnh nào đó
trong cơ thể. Ho cũng là một phản ứng tự nhiên khi có chất kích
thích ở họng, như nhớt từ mũi từ miệng, vật lạ từ ngoài bay vào
họng. Ho là để tống xuất các vật này ra ngoài. Nhiều bệnh nhân
sau giải phẫu còn được khuyến khích ho để thông đàm, loại vi
khuẩn.
Nhưng
cảm lạnh mà ho liên tục thì quả là cũng đau ngực, khó chịu. Do
đó mới có thuốc chống giảm ho.Có thể là ho khan hoặc ho ra đàm
và với nhiều người, thuốc ho đều có thể phần nào làm nhẹ.
Tuy
nhiên, nhiều bác sĩ có ý kiến là không nên uống thuốc ho, vì
thuốc không chữa được nguyên nhân gây ra ho, hôi khi lại tạo ra
tác dụng phụ không muốn, đặc biệt là ở trẻ em.
Cơ
quan Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ khuyến khích không nên dùng thuốc cảm
ho ở trẻ em dưới 2 tuổi. Các viện bào chế cũng tự nguyện ghi
cảnh báo lên nhãn hiệu là không nên cho trẻ em dưới 4 tuổi dùng
thuôc cảm ho bán tự do trên thị trường. Sự ngộ độc khi các em
uống quá liều lượng có thể đưa tới tử vong.
Ho
khi cảm lạnh chỉ kéo dài vài tuần. Nếu ho quá lâu, lại ra đàm có
màu thì nên đi khám bệnh ngay, vì có thể bị bội nhiễm, vi khuẩn,
sưng phổi.
Thuốc ho thường dùng là
Dextromethorphan, Guaifendesin.
Ngoài các thuốc kể trên, một số
người còn dùng thêm thuốc chống dị ừng
diphenhydramine,
sinh tố C, kẽm (zinc), và cho hay cảm lạnh cũng bớt quấy rầy.
Kháng
sinh tuyệt đố không có vai trò nào, trừ khi bị bội nhiễm vi
khuẩn, sưng phổi.
Cảm lạnh ở trẻ em
Với
trẻ em, các nhà chuyên môn đề nghị là:
-Để các cháu nghỉ ngơi thoải mái. Nếu ở tuổi mẫu giáo,
đi học nên giữ em ở nhà. Không tiếp xúc với em bé khác để tránh
lan truyền.
-Tránh
sống trong môi trường có khói thuốc lá.
-Cho các cháu uống nhiều
nước (cam…) để làm loãng đàm rãi, nước
mũi cũng như tránh khô nước vì nóng sốt, chẩy nước mũi, nhất là
khi cháu tiêu chẩy, nôn ói..
-Cho các cháu dùng thêm nước
súp gà nóng có chất cysteine có tác dụng giảm nghẹt mũi.
-Với cháu không bú sữa mẹ và bú bình, nên giới hạn sữa
vài ngày, vì sữa làm nhớt mũi khô, khó loại bỏ.
-Không khí trong phòng
khô làm giảm sức đề kháng với bệnh nhiễm. Dùng máy phun bụi nước
để giảm kích thích mũi, tránh khô khó thở. Nhớ không hướng
bụi nước
vào giường
các cháu. Muốn tránh meo mốc, nên thay nước
mỗi ngày và rửa máy bơm
bụi nước
theo đúng hướng
dẫn của nhà sản xuất.
-Khi cháu bị nghẹt mũi,
nhỏ vài giọt nước
muối sinh lý vào một lỗ mũi để làm loãng nhớt, rồi cũng làm như
vậy ở lỗ mũi bên kia. Hút nhớt mũi với ống hút làm bằng cao su.
Nước muối này có thể mua ở tiệm thuốc tây hoặc làm lấy ở nhà với
một chút muối và nửa ly nước
lã tinh khiết. Có thể dùng nước muối ở mọi tuổi, ngay cả bé sơ
sinh.
-Cũng có thể đặt cháu nằm úp trên đùi mình, lấy bàn
tay vỗ nhẽ vào lưng hoặc để cháu ngồi trên lòng, hơi cong người
về phía trước, lấy bàn tay dập nhẹ lên lưng.
-Thoa
một chút petroleum gel Vaseline quanh lỗ mũi để tránh cho da
khỏi bị viêm do nước mũi kích thích.
-Để
bớt ho: ½ thìa mật ong cho bé từ 2-5 tuổi, 1 thìa từ 6-11 tuổi,
2 thìa cho cháu từ 12 tuổi trở lên. Đừng cho trẻ dưới 1 tuổi
dung mật ong vì không an toàn.
-Với
trẻ trên 4 tuổi có thể cho kẹo ho (không bao giờ cho trẻ dưới 4
tuổi, sợ hóc nghẹn).
-Nếu các cháu kêu đau
khô cố: cháu lớn cho súc miệng với nước
muối hoặc vài giọt dung dịch 1 thìa nước chanh pha với 2 thìa
mật ong để họng bớt kích thích. Trẻ trên 4 tuổi có thể ngậm kẹo
ho.
-Giữ đầu cháu cao và ở vị trí ngồi nhiều hơn để giúp
loại đàm nhớt.
Nếu
sau ba bốn ngày mà cháu không bớt, lại có nóng sốt cao, đau họng,
nôn ói…nên đưa cháu đi bác sĩ ngay.
Bác
sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D.
Texas-Hoa Kỳ
|