|
THÁI
ĐỘ ĐÚNG ĐẮN |
|
|
Truyền
thống Kim Cương thừa (Vajrayana) là một con
đường nhanh chóng để đạt
được giải thoát. Kim Cương (vajra)
tượng trưng cho năng lực có nghĩa
là Kim Cương thừa rất hữu hiệu.
Nhiều người có nhận thức sai lầm
về Kim Cương thừa, cho rằng nó không
khác gì việc áp dụng lời nguyền
thần bí hay năng lực tâm linh. Trong thực
tế, “
Tiêu chuẩn
đầu tiên trong việc thực hành Kim
Cương thừa là phải bắt đầu
với Tiểu thừa (Hinayana). Tiểu thừa bao gồm
những giáo lý căn bản của Đức
Phật và những giáo lý này không được
nhắc lại trong Đại thừa (Mahayana) hay Kim
Cương thừa. Do đó, những hành
giả Đại thừa và Kim Cương thừa
phải bắt đầu từ những giáo lý
căn bản của Tiểu thừa.
Những giáo
lý căn bản của Đức Phật là
gì?
Những giáo
lý căn bản nhất là sự thiền
định và vinaya hay giới luật và
những hành giả của Đại thừa hay Kim
Cương thừa phải học tập những
giáo lý này qua Tiểu thừa.
Thực hành
thiền định có hai cấp độ và
cấp độ đầu tiên là thiền
định “samatha.” Nhờ tu tập nó
tâm ta được tĩnh lặng, an bình
và kiên cố. Trong các giáo lý
Tiểu thừa, Đức Phật chú trọng
rất nhiều vào sự thực hành và
những kỹ thuật của thiền định samatha.
Những hành giả Đại thừa hay Kim
Cương thừa nên đạt được nền
tảng như thế.
Vinaya là
giới luật bản thân. Tóm lại, cần
tự chế không làm mười ác hạnh.
Mười ác hạnh này bao gồm mọi
ác nghiệp phát sinh từ việc chấp
ngã. Đối nghịch với mười ác
hạnh và mười thiện hạnh. Những
thiện hạnh này là gốc rễ của
những công đức của riêng ta. Tôi
không thảo luận chi tiết về chúng ở
đây và những ai không hiểu rõ
về mười thiện hạnh có thể tham
khảo Kinh điển.
Đồng thời
ta phải hiểu rằng thân người khó
được và rất quý báu. Thân
người quý báu này là một
khí cụ để đạt được giải
thoát nhưng nó rất dễ bị tổn
thương và chỉ tồn tại một thời
gian ngắn ngủi. Trong thế giới này có
rất nhiều mối hiểm nguy có thể dễ
dàng tiêu diệt những thân người
như thế. Chúng ta không biết chút
gì về nghiệp lực của ta và chúng
ta còn sống bao lâu nữa.
Lý do của
việc tái sinh trong luân hồi sinh tử là
sự chấp ngã.
Mọi cảm
xúc phát khởi từ sự chấp ngã
sẽ không tốt lành và với sự
chấp ngã như thế, không có cách
nào để thực hành các thiện
hạnh. Tất cả những hoạt động
thuộc về nghiệp sẽ không đạo
đức và mỗi một trong những nguyên
nhân ác nghiệp này sẽ đưa tới
sự tái sinh trong những cõi thấp trong
mười ngàn đời. Nếu bạn có
thể suy niệm về sự kiện này thì
bạn sẽ có thể nhận ra rằng thân
người thì quý báu biết bao. Trong
vô số lần tái sinh, cơ may để
được tái sinh trong cõi người
là một phần mười triệu. Vì
thế, giờ đây bạn đang sở hữu
thân người quý báu, xin đừng phí
phạm nó. Bạn phải sử dụng thân
người quý báu này để thực
hành. Trừ phi bạn đã giác ngộ
nếu không thì không có cách nào
để hoàn toàn được giải
thoát.
Điều được
nói ở trên là yêu cầu đầu
tiên của thực hành căn bản. Kế
tiếp, để là một hành giả Kim
Cương thừa thì yêu cầu thứ hai
là phải được trang bị lòng bi
mẫn vĩ đại. Điều đó có
nghĩa là để thực hành Kim Cương thừa,
ta phải là một Bồ Tát. Bồ Tát
có nghĩa là một người có Bồ
Đề tâm và lòng bi mẫn.
Bồ Đề
tâm là hạt giống của Phật Quả
và một Bồ Tát phải có Bồ
Đề tâm và Lòng Bi mẫn đối
với tất cả chúng sinh mà không có
chút vị kỷ nào.
Một khi bạn
đã phát triển Bồ Đề tâm,
bất kỳ công đức nào được
thực hiện cũng sẽ được chuyển
hóa thật vô hạn và có thể
đưa tới sự giải thoát và Phật
Quả. Trái lại, nếu bạn không phát
triển Bồ Đề tâm, mọi công
đức đã thực hiện sẽ bị
giới hạn. Chỉ có những công đức
được thực hiện với Bồ Đề
tâm mới có thể bảo đảm sự
Giác ngộ và Phật Quả.
Ngoài việc
thực hành con đường Bồ Tát,
những hành giả Kim cương thừa cũng
sử dụng một vài phương tiện
thiện xảo trong sự thực hành của họ,
chẳng hạn như sự quán tưởng các
Bổn Tôn, v.v..
Trong truyền
thống Kim Cương thừa, Kalacakra được
nói là thực hành Kim Cương thừa cao
cấp nhất. Kalacakra có một ý nghĩa sâu
xa và những tính chất của Bổn Tôn
Kalacakra cũng rất đặc biệt. Ngài có
nhiều mặt, nhiều tay chân và những
đặc tính này tượng trưng cho
nhiều ý nghĩa của thực hành. Một ví
dụ khác là Đức Chenrezig (Quán Thế
Âm) bốn tay có thân sắc trắng
tượng trưng cho sự thuần tịnh và
lòng bi mẫn, hoa sen và chuỗi pha lê cầm
trong tay tượng trưng cho lòng bi mẫn và
trí tuệ, và những vật trang sức
được đeo trên thân tượng trưng
cho những phẩm tính khác nhau của sự
chứng ngộ.
Bổn Tôn hay
yidam có thể hiển lộ trong Báo Thân hay
Hóa Thân. Những sự hiển lộ này
xuất phát từ giác tánh nguyên sơ,
là Pháp Thân. Chẳng hạn như Đức
Chenrezig được nhận thức là sự hiển
lộ trong một Báo Thân hay Hóa Thân
thì tùy thuộc vào mức độ thực
hành và năng lực của hành giả.
Khi bạn đang
thực hành yidam, đừng nghĩ rằng bạn
đang mời thỉnh Bổn Tôn tới với
bạn. Ví dụ như trong thực hành Chenrezig,
không phải là Đức Chenrezig sẽ thực
sự xuất hiện trước mặt bạn. Một
vài người cho rằng thực hành Bổn Tôn
là để mời thỉnh Bổn Tôn đi
tới hay đi vào thân thể của họ.
Đây là những quan niệm sai lầm. Hơn
nữa, để quét sạch sự chấp ngã,
chúng ta phải chú tâm vào điều khác
bên cạnh tam độc, đó là ta phải
quán tưởng một chủng tự. Ví dụ
như chủng tự “HRIH” chứa đựng
sự ban phước của thiền định Chenrezig,
nó có thể biến thành hình ảnh Đức
Chenrezig. Giờ đây với thân thể bình
thường của ta chúng ta quán tưởng
chủng tự này và nhờ nó, chúng ta
biến thành Đức Chenrezig. Thực hành
này sẽ quét sạch những niệm tưởng
và những khuynh hướng quen thuộc của ta.
Từ điều này ta sẽ hiểu rằng
thực hành Bổn Tôn mang lại rất nhiều
lợi lạc.
- Trước tiên,
nó bao gồm thiền định samatha (tĩnh
lặng) bởi bạn phải thực hành rất
nhiều sự quán tưởng.
- Thứ hai,
thực hành yidam có thể quét sạch
nghiệp xấu và những khuynh hướng quen
thuộc.
- Thứ ba, ta
có thể đạt được trạng thái
Pháp Thân hay Báo Thân.
Tâm chú Om
Mani Pad Me Hung của Đức Chenrezig
Thần chú
này xuất hiện từ thiền định của
Đức Chenrezig và việc trì tụng nó
có thể giúp chúng ta tăng trưởng
sự tập trung và giải trừ nghiệp xấu
của ngữ. Cũng thế, sự quán tưởng
Bổn Tôn thì không ở trong một thân
tướng thô nặng. Bản tánh của
ngài là tánh Không, Pháp Thân và
sự hiển lộ của ngài là Báo
Thân.
Sự quán
tưởng chủng tực “HRIH” là
để quét sạch những khuynh hướng quen
thuộc của ta.
Thông thường,
khi chúng sinh được tái sinh trong cõi
người, trước tiên tâm thức sẽ
bám vào một thân thể và sau
đó đi vào thai tạng. Dĩ nhiên
là với kỹ thuật hiện tại người
ta không thể khám phá ý niệm tâm
thức đi vào thai tạng. Điều chúng ta
có thể nhận ra chỉ là tiến trình
tiệm tiến của sự phát triển. Ý
niệm tâm thức được tạo nên
bởi sự tham luyến và dính mắc và
những điều này rất khó quét sạch.
Ta cần có sự chuyển hóa tự nhiên
của tâm. Vì thế, ta quán tưởng
tâm ta và tan biến thành “HRIH”,
nó sẽ chuyển hóa các thân
tướng chúng sinh thành những thân
tướng của Đức Chenrezig.
Ý niệm
yidam tan thành ánh sáng đi vào tánh
Không có thể chuyển hóa khuynh hướng
quen thuộc của sự chết. Thông thường
khi chúng sinh chết, họ phải đi vào giai
đoạn bardo. Nhờ sự thực hành và
quán tưởng này ta có thể quét
sạch khuynh hướng ấy và đi vào
trạng thái Pháp Thân.
Đây là
những thực hành của Kim Cương thừa
nhưng điều tối quan trọng là chúng
đòi hỏi sự thiền định như
một căn bản. Những phương pháp
thiền định hầu như được tìm thấy
trong những Kinh điển bí truyền. Nếu
bạn đang thực hành Kim Cương thừa
và thiếu căn bản này thì dù
bạn thực hành Pháp môn nào nó
cũng sẽ dẫn tới sai lầm. Bạn sẽ không
thể quán tưởng trạng thái trống không
của một yidam và bạn sẽ quán
tưởng thân tướng yidam như một
thân thô nặng. Khi bạn tụng thần
chú, bạn sẽ phủ nhận cốt tủy của
nó. Vì thế, không có căn bản
của những giáo lý bí truyền thì
mọi thực hành làm việc không có
mục đích.
Để là
một hành giả Kim Cương thừa, chúng ta
cần có một sự hiểu biết thấu
đáo thực hành của nó và cũng
hoàn thành những giới nguyện Bồ
Tát. Kim Cương thừa không nên
được giảng dạy công khai cho những
người không thọ Bồ Tát giới bởi
đó là những giáo lý của các
Bồ Tát. Do đó chỉ có những Bồ
Tát là phù hợp với việc thực
hành. Tuy nhiên, thực hành của Đức
Chenrezig bao gồm lòng đại bi một cách phi
thường và có thể được
giảng dạy công khai./.
H.H. Kunzig Shamarpa
Rinpoche
Nguyên tác:
“The Correct Attitude of a Vajrayana Practionner”
By H.H.
Kunzig Shamarpa Rinpoche
http://www.kagyu-asia.com/t_correct.html
Bản dịch
Việt ngữ của Thanh Liên