Thöa baïn,

Colombo, Sri Lanka: Thách thức đối với Tăng đoàn Phật giáo trong thế kỷ 21

Cập nhật: 08-08-2006, 09:26 bởi hieutam

Source : Phật Việt.net

By Ven. Bhikkhu Bodhi, ngày 19 tháng 7 năm 2006.

Cát Bụi dịch       

 

Colombo, Sri Lanka: Thách thức đối với Tăng đoàn Phật giáo trong thế kỷ 21Thách thức: Tăng đoàn, một tập thể những vị Tăng Ni đă thọ giới pháp, là đại biểu đại diện cho đức Phật trong thế gian đă duy tŕ sự tương tục của Giáo pháp trong nhân loại 25 thế kỷ. Nhờ vào những nghi thức trao truyền và thọ nhận, Tăng đoàn đă duy tŕ tất cả di sản của đức Phật tồn tại cho đến ngày nay.

Tăng đoàn đức Phật sẽ tiếp tục tồn tại đến bao giờ?

Như vậy, sự hiện diện của Tam Bảo phụ thuộc vào Tăng đoàn. Tăng đoàn tượng trưng cho Ngôi báu thứ ba. Thánh Tăng hay cộng đồng những bậc Thánh giả đă thể nhập chân lư tối thượng-chân lư siêu việt thế gian. Tăng đoàn đă tồn tại trên 2500 năm, lâu hơn tất cả Đế quốc La Mă, lâu hơn tất cả những triều đại Hoàng đế Trung Hoa, vượt hẳn Đế quốc Anh và từ trước đến nay, nó tồn tại đơn thuần chỉ hoàn toàn nhờ vào năng lực của trí tuệ và đức hạnh, không có vũ khí, không có các nguồn tài chính, chẳng có kẻ thù. Tuy nhiên, không bảo đảm là sẽ tiếp tục tồn tại hay sẽ tiếp tục tạo nên những sự đóng góp trọng yếu mang tính sống c̣n đối với đời sống nhân loại. Đây là vấn đề tùy thuộc vào chính những thành viên của Tăng đoàn, vào mỗi thế hệ Tăng Ni mới, và đó cũng là vấn đề cực kỳ quan trọng, bởi v́ tương lai Phật giáo tùy thuộc vào tương lai của Tăng đoàn. Như chúng ta biết, Tăng đoàn tồn tại trong sự tương tác với cộng đồng Phật tử tại gia. Mối quan hệ giữa hai thành tố là một sự phụ thuộc và cộng tác với nhau.

Trong Phật giáo truyền thống, người tại gia cung cấp cho những thành viên Tăng đoàn những vật cần thiết như y phục, thức ăn, nơi cư trú, thuốc men và những sự trợ giúp về vật chất khác, trong khi đó Tăng đoàn đáp ứng cho hàng tại gia Giáo pháp và với tấm gương sống hết ḿnh cho đạo pháp. Để Tăng đoàn tồn tại, mối liên hệ này phải được duy tŕ trong một h́nh thức nào đó, nhưng những thay đổi xảy ra trong xă hội có thể đặt mối quan hệ này trên một cơ sở quan hệ mới.

Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Tăng đoàn và hàng cư sĩ đă dẫn đến sự chuyển tiếp. Thứ nhất, từ một kiểu xă hội truyền thống sang kiểu xă hội hiện đại và sau đó đến kiểu xă hội về kỹ thuật. Hiện tại, dấu hiệu đặc biệt của sự thay đổi này là sự chuyển hướng từ việc đặt tầm quan trọng đặc biệt vào sản xuất công nghiệp sang sự thu thập và phân phối thông tin. Sự chuyển hướng này đă xảy ra khắp phương Tây và trong giai tầng xă hội tiên tiến nhất trong tất cả quốc gia trên thế giới. Đôi khi nó được biểu trưng bằng cách người ta cho rằng: Chúng ta đang chuyển từ thời đại công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền văn minh đặt nền tảng trên sản xuất sang nền văn minh đặt nền tảng trên kiến thức.

Sự chuyển tiếp đến một “xă hội coi trọng thông tin” sẽ thay đổi bản chất về mối tương quan giữa Tăng đoàn và hàng cư sĩ tại gia bằng những cách triệt để và sẽ thách thức Tăng đoàn đưa ra những giải pháp độc đáo để duy tŕ sự thích hợp của Giáo pháp. Tôi không phải là nhà tiên tri và tôi không thể đoán trước tương lai cụ thể ra sao nhưng căn cứ vào những xu hướng hiện tại, tôi sẽ cố gắng phác thảo một vài thách thức quan trọng nhất đối với Tăng đoàn tôi thấy được.

Vai tṛ nền giáo dục cao hơn.

Trong thời đại thông tin, tỉ lệ dân số những quốc gia đạt được nền giáo dục đại học rất cao. Mọi người tiếp cận được rất nhiều những kho tàng kiến thức và thông tin lớn hơn mà trong quá khứ không có được và sự lănh hội về sự thật thế tục và ngay cả về Phật giáo tinh vi hơn nhiều so với quá khứ. Họ sẽ đ̣i hỏi Giáo pháp phải phù hợp với những tiêu chuẩn mà họ có được thông qua trong quá tŕnh giáo dục ở nhà trường và họ sẽ không chấp nhận một cách đơn giản Giáo pháp của vị Sư ở tự viện thuyết giảng vượt ra ngoài ḷng tin mang tính sùng kính và mù quáng trong truyền thống lâu đời. Họ đă được huấn luyện để chất vấn, thẩm xét và sẽ áp dụng phương pháp giống như vậy khi nghiên cứu Phật pháp. Do đó, Tăng Ni phải sẵn sàng trả lời những câu hỏi được đặt ra. Tăng sĩ không mong muốn ǵ có được sự tôn trọng tầm thường từ những người cư sĩ mà họ được tôn kính bằng sự lư giải Giáo pháp một cách rơ ràng, chính xác và có tính thuyết phục. Chính các Tăng Ni cần phải có một nền giáo dục cao hơn, căn bản hơn trong Phật giáo và những chủ đề liên quan trực tiếp đến Giáo pháp, chẳng hạn như triết học hiện đại, tâm lư học và những lănh vực có liên quan khác. Làm sao để kết hợp một cách chính xác kiến thức thế gian vào chương tŕnh học trong tự viện, đó là một vấn đề nan giải. Giải pháp này chỉ được thực hiện do những người có trách nhiệm trong nền giáo dục trong tự viện.

Vai tṛ xuất bản.

Vai tṛ có liên quan mật thiết đối với những cơ hội để có được nền giáo dục cao hơn trong hàng cư sĩ tại gia là vai tṛ xuất bản. Việc sử dụng những tác phẩm in ấn làm thay đổi Phật giáo khoảng thế kỷ thứ 2, và đầu nửa thế kỷ 20, nhà máy in và việc xuất bản mang tính thương mại đă làm thay đối Phật giáo. Bây giờ có hàng trăm cuốn sách bằng tiếng Anh về mọi lănh vực trong Phật giáo, vừa có tính phổ thông vừa có tính học thuật, và nhiều sách với những ngôn ngữ khác. Bởi vậy, những sinh viên cần mẫn học tập Phật pháp có thể đạt được kiến thức uyên thâm đặt nền tảng trên sách vở. Những máy tính mini đă làm thay đổi hoàn toàn trong việc nghiên cứu học tập Phập pháp. Bất kỳ người nào siêng năng chỉ cần một cái máy tính bằng cuốn tập có thể chứa toàn bộ thư viện Phật giáo, bao gồm cả vài bộ đại tạng trong một cái đĩa cứng. Thông qua internet, họ có thể truy cập lượng thông tin lớn trong Phật giáo và tham gia vào những nhóm thảo luận về những đề tài thực tế liên quan đến Phật giáo. Như vậy, những kiến thức sách vở thuộc Phật pháp không phải là một đặc quyền của Tăng sĩ và đối với kiến thức của kinh luận Phật giáo, người ta sẽ không c̣n lệ thuộc vào tự viện nữa, khi họ có được sự giáo dục Phật giáo truyền thống. Sự nghiên cứu Phật giáo được coi là một môn học ở các trường đại học và có nhiều học giả cư sĩ lỗi lạc đă tiến hành nghiên cứu về những lănh vực có tính chuyên môn cao trong việc nghiên cứu Phật giáo. Đối với chúng ta, điều này đặt ra vấn đề hàng tu sĩ chúng ta sẽ đáp ứng được những ǵ? Tôi cho rằng nhiệm vụ của chúng ta sẽ không phải đua tranh với các hàng cư sĩ học giả Phật giáo. Dứt khoát, chúng ta phải trau dồi để đạt được kiến thức có tính học thuật trong Phật giáo, càng nhiều những nguồn tư liệu sẵn có càng tốt, và khi cần thiết chúng ta nên học những vị học giả cư sĩ. Cuộc sống trong tự viện là cơ hội để thực tập Phật pháp, nó tạo cơ hội cho chúng ta đối chiếu sự nghiên cứu kinh điển với sinh hoạt áp dụng những nguyên lư trong cuộc sống đặt nền tảng trên niềm tin, sự thành tâm, sự tận tụy với Tam bảo. Chúng ta nên kết hợp kiến thức mang tính học thuật vào sự thực tập, sự hiểu biết thuộc trí thức với niềm tin và sự tận tâm. Chúng ta không thể thỏa măn với kiến thức mà không tu tập, hay chỉ tu tập một cách mù quáng mà không hiểu rơ Giáo pháp.

Vai tṛ huấn luyện tinh thần.

Giáo pháp sẽ thuyết phục mọi người không chỉ bởi sự hấp dẫn tri thức, không chỉ học thuyết đạo đức thực tế mà c̣n đặc biệt bằng hệ thống huấn luyện tinh thần. Đây chính là những ǵ làm cho Phật giáo khác biệt hoàn toàn đối với tất cả các hệ thống tôn giáo khác. Phật giáo nhấn mạnh vai tṛ chính về tâm trong việc quyết định hạnh phúc hay đau khổ của bản thân, và những phương pháp thực tập để huấn luyện tâm. Bởi vậy, “cửa đi vào” cực ḱ quan trọng để đến được với Giáo pháp đối với nhiều người là sự thực tập Thiền. Đây là “cửa” đặc biệt cho nhưng người không phải là Phật tử, là trường hợp đặc biệt ở phương Tây. Nhưng Thiền cũng là “cửa” đối với Phật tử truyền thống tiếp cận Giáo pháp từ nền tảng khoa học và tạo ra sự nghi ngờ và hiếu ḱ. Tôi không nghĩ chỉ có Thiền mới là câu trả lời cuối cùng, và ở khía cạnh này, tôi phê b́nh những vị thầy ở phương Tây, những vị muốn tách Thiền ra khỏi Phật giáo, bác bỏ học thuyết Phật giáo và niềm tin tôn giáo. Tôi nghĩ sự tiếp cận quân b́nh là cần thiết, một sự quân b́nh trên ba phương diện đó là giữa niềm tin và sự tận tụy, nghiên cứu giáo nghĩa Phật giáo và thực tập Thiền. Niềm tin làm thay đổi t́nh cảm, nghiên cứu mang lại sự hiểu biết chân chánh và Thiền mang đến sự b́nh tỉnh, sáng suốt. Ngày nay, nhiều người ngay từ đầu bị cuốn hút bởi Giáo pháp thông qua Thiền. Một khi họ đạt được lợi ích cụ thể thông qua Thiền, sự quan tâm của họ đối với Giáo pháp sẽ được thức tỉnh và sau đó họ có thể dần dần hiểu được giáo nghĩa Phật giáo để nghiên cứu kinh điển Phật giáo và thứ đến sẽ có được niềm tin, sự thành tâm và ngay cả việc xuất gia.

Thách thứcTăng đoàn.

Tăng đoàn cố gắng duy tŕ và tôn trọng những truyền thống cổ xưa, cuộc sống không bị vướng víu bởi tiện nghi thừa thải. Trong trường hợp này, Tăng đoàn khuyến khích mọi người có lối sống đơn giản, tôn trọng những truyền thống cổ xưa, quí trọng môi trường tự nhiên. Sự bạo động trong thế giới hiện đại đang bộc phát giữa người khác chủng tộc và những nhóm tôn giáo, họ tin rằng họ có thể giải quyết những vấn đề bằng cách dùng bạo lực. Tăng đoàn được đặt trên nguyên tắc bất bạo động, sự tin chắc rằng sức nhẫn nại, đối thoại và sự thỏa hiệp là cốt lơi đưa đến sự hài ḥa trong nhân loại. Bởi vậy, Tăng đoàn khuyến khích mọi người giải quyết vấn đề thông qua sự hiểu biết lẫn nhau, tính khoan dung và t́nh thương yêu. Để duy tŕ Giáo pháp xuất thế gian, Tăng đoàn thách thức mọi sự cố gắng của ḿnh để thiết lập và t́m ra vị trí thích nghi trên thế giới.Phật giáo khuyến khích mọi người hiểu rằng trí tuệ siêu việt, sự tự do tuyệt đối của chúng ta vượt ra ngoài ranh giới của thế gian.

Tiếng nói lương tâm.

Điều này để tôi nêu ra sự thách thức quan trọng khác đối với Tăng đoàn trong thế giới ngày nay. Hiện tại, những vấn đề kinh khủng đang đe dọa tính mạng của hàng triệu người và cảnh báo những sự thiệt hại không thể kể hết đối với vô số người khác. Tôi nghĩ về những vấn đề như những xung đột chủng tộc rất dữ dội và chiến tranh hủy diệt đă gây ra tỉ lệ tử vong kinh khiếp giữa những thường dân vô tội bao gồm cả phụ nữ và trẻ em. Tôi nghĩ về những chính thể bất công bỏ tù công dân của họ mà không có nguyên nhân thích đáng, tra tấn và hành hạ họ và làm cho ngay cả những công dân tự do cũng nằm trong t́nh trạng luôn luôn sợ hăi. Tôi nghĩ về cái khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giữa những quốc gia giàu và những quốc gia nghèo. Tôi nghĩ về bệnh tật đói khát gây ra cho hàng triệu sanh mạng đối với người nghèo trên khắp thế giới, những bệnh tật mà có thể được loại trừ một cách dễ dàng với chi phí tối thiểu. Tôi nghĩ về sự làm mất thanh thể bởi hàng triệu phụ nữ bị thúc ép vào con đường măi dâm, thông thường là do hoàn cảnh gia đ́nh riêng hay sự nghèo túng. Tôi nghĩ về hàng trăm tỉ đôla lăng phí mỗi năm trên khắp thế giới cho những loại vũ khí có sức hủy diệt kinh khủng, trong khi một nửa dân số trên thế giới chỉ có được thức ăn dinh dưỡng để duy tŕ sự sống mỗi ngày. Và cuối cùng, tôi nghĩ về những biện pháp khinh suất, chúng ta đang làm thoái hóa môi trường sống chúng ta như không khí, nguồn nước, đất đai và thực phẩm mà không quan tâm đến thế hệ mai sau. Trong nhăn quan của tôi, đó là nhiệm vụ của Tăng đoàn để đáp lại như là tiếng nói lương tâm của người Phật tử trong thế giới. Tối thiểu những thành viên nổi bật nhất của Tăng đoàn có thể thể hiện những giá trị mang tính đạo đức Phật giáo để giải quyết những vấn đề nan giải nầy. Đó là những tiêu đề tối trọng yếu mà nhân loại phải đối diện hiện nay.

Trân trọng.

Bodhi Bulletin.

 

(Theo Mục tin tức hằng ngày của Lanka)