|
|
|
|
Tạng thư Sống Chết
The Tibetan Book Of Living And Dying
Sogyal
Rinpoche
Ni
sư Thích Nữ Trí Hải dịch
Nguồn:
Trang nhà Quảng Đức
--- o0o --
|
MỤC LỤC Lời
giới thiệu của Đức Dalai Lama PHẦN
MỘT: SỐNG 1. Trong tấm
gương của cái chết 6. Tiến hóa,
Nghiệp và tái sinh 7. Bardo và
những thực tại khác PHẦN
HAI: CHẾT 11. Lời
khuyên tâm huyết giúp người sắp chết 12. Ḷng bi
mẫn: viên ngọc như ư 13. Giúp
đỡ tinh thần người sắp chết 14. Hành tŕ cho
người sắp chết PHẦN
BA: CHẾT VÀ TÁI SINH 20. Kinh
nghiệm cẩn tử: nấc thang lên trời? PHẦN
BỐN: KẾT LUẬN Phụ
lục 3: Hai bài thần chú
|
Lời
giới thiệu của đức DALAI LAMA (^)
|
|
Trong tác phẩm này, thầy Soyal
tập trung vào các vấn đề làm sao để
hiểu ư nghĩa thực thụ của sự sống, làm
sao để chấp nhận cái chết, và làm sao
để giúp đỡ người sắp chết, và
người đă chết.
Chết là một phần tự
nhiên của sự sống, mà tất cả chúng ta chắc
chắn sẽ phải đương đầu không
sớm th́ muộn. Theo tôi th́ có hai cách để xử
với cái chết trong khi ta c̣n sống. Hoặc là ta
tảng lờ nó, hoặc là ta chạm trán với viễn
ảnh cái chết của chính ḿnh, và bằng cách tư duy
sáng suốt về nó, ta cố giảm thiểu những
khổ đau mà cái chết có thể mang lại. Tuy nhiên,
trong cả hai cách, không cách nào chúng ta có thể thực
thụ chinh phục được sự chết.
Là một Phật tử, tôi xem
chết là chuyện b́nh thường, là một thực
tại mà tôi phải chấp nhận, khi tôi c̣n hiện
hữu trên trái đất. Đă biết không thể nào
thoát khỏi, th́ lo lắng làm ǵ. Tôi có khuynh hướng
nghĩ đến sự chết cũng như thay bộ y
phục khi nó đă cũ ṃn, hơn là một cái ǵ hoàn toàn
chấm dứt. Tuy vậy cái chết không thể biết
trước: ta không biết được khi nào cái
chết đến với ta, và ta sẽ chết như
thế nào. Bởi thế tốt hơn cả là ta hăy
dự pḥng một số việc trước khi cái
chết thực sự xảy ra.
Đương nhiên phần đông
chúng ta đều muốn có một cái chết an ổn,
nhưng một điều cũng hiển nhiên nữa, là
ta không thể hy vọng chết một cách thanh b́nh nếu
đời sống của ta đầy những bạo
hành, hoặc nếu tâm ta thường giao động v́
những cảm xúc mạnh như giận dữ, ái
luyến, hay sợ hăi. Bởi thế, nếu ta muốn chết
tốt, ta phải học cách sống tốt. Nếu ta mong
có được một cái chết an lành, th́ ta phải
đào luyện sự b́nh an trong tâm ta, và trong lối
sống của ta.
Như bạn đọc sẽ
thấy trong sách này, theo quan điểm Phật giáo th́ cái
kinh nghiệm thực thụ về chết rất quan
trọng. Mặc dù sự tái sinh của chúng ta, nơi tái
sinh của ta phần lớn tùy thuộc vào năng lực
của nghiệp, song tâm trạng ta vào lúc chết có thể
ảnh hưởng tới tính chất của tái sanh
kế tiếp. Vậy, vào lúc chết, mặc dù ta đă
tích lũy đủ loại nghiệp, nhưng nếu ta
làm một nỗ lực đặc biệt để phát
sinh một tâm lành, th́ có thể tăng cường và
khởi động một nghiệp thiện, và do đó
đem lại một tái sinh hạnh phúc.
Lúc chết thực sự cũng là
lúc mà những kinh nghiệm nội tâm lợi lạc sâu xa
nhất có thể xảy ra. Do thường thực tập
tiến tŕnh chết trong khi thiền định, một
thiền giả tu cao có thể sử dụng lúc chết
của ḿnh để đạt những chứng ngộ
lớn lao. Đấy là lư do những hành giả có kinh
nghiệm thường nhập định vào lúc họ
chết. Một dấu hiệu của sự đắc
đạo nơi họ là thi thể họ thường
không thối rửa sau khi họ đă chết rất lâu
trên phương diện lâm sàng.
Ngoài sự chuẩn bị cái
chết của riêng ḿnh, một việc khác không kém phần
quan trọng là giúp người khác có một cái chết
tốt đẹp. Khi mới sinh ra đời, chúng ta
đều là những hài nhi yếu đuối; nếu
không nhờ sự săn sóc tử tế mà chúng đă
nhận được, th́ chúng ta đă không thể
sống c̣n. Người sắp chết cũng thế,
không thể tự túc được, nên ta phải giúp
họ thoát khỏi những bất tiện và lo âu, và
cố hết sức để giúp họ có một cái
chết thanh thản. Điều quan trọng nhất là
tránh làm điều ǵ khiến cho tâm người sắp
chết thêm rối loạn. Mục đích trước
nhất của chúng ta giúp người sắp chết là làm
cho họ được thoải mái. Có nhiều cách
để làm việc này. Với người đă quen tu
tập, nếu khi họ sắp chết mà ta nhắc nhở
chuyện tu hành, tinh thần họ có thể thêm phấn
chấn. Một lời trấn an đầy từ ái
của ta có thể gợi cho người sắp chết
một thái độ b́nh an, thoải mái.
Cái chết và tiến tŕnh chết có
thể cung cấp một giao điểm gặp gỡ
giữa Phật giáo Tây Tạng và khoa học tân tiến. Tôi
tin rằng hai bên có thể cống hiến cho nhau rất
nhiều về hiểu biết và thực hành. Thầy
Sogyal Rinpoche đúng là người để làm cho cuộc
gặp gỡ này thêm dễ dàng, v́ thầy đă sinh ra và
trưởng thành trong truyền thống Tây Tạng, đă
thụ giáo với một vài vị lạt ma tên tuổi
nhất của Tây Tạng, đồng thời thầy
cũng được hấp thụ một nền giáo
dục tân tiến, đă sống và giảng dạy nhiều
năm ở Tây phương và đă quen thuộc với
lề lối tư duy của người phương Tây.
Sách này không chỉ cống hiến
cho độc giả một tŕnh bày lư thuyết về
sự chết, mà c̣n cung cấp những cách thực
tiễn để hiểu và tự chuẩn bị cho ḿnh
lẫn người khác (về cái chết) một cách
thản nhiên và viên măn.
Ngày 2 tháng 6,
1992
Lời
Nói Đầu (^)
|
|
Tôi
sinh ra ở Tây Tạng, và mới vừa sáu tháng tuổi,
tôi đă vào tu viện của thầy tôi, Jamyang Khientse
Chokyi Lodro. Ở Tây Tạng chúng tôi có truyền thống
độc đáo là t́m tái sinh của những bậc
thầy vĩ đại đă từ trần. Họ
được tuyển chọn từ lúc hăy c̣n bé và
được cung cấp một nền giáo dục
đặc biệt, huấn luyện họ trở thành
những bậc thầy trong tương lai. Tôi
được đặt tên là Sogyal, mặc dù măi lâu
về sau thầy tôi mới nhận ra tôi là tái sinh của Terton
Sogyal, một hành giả mật tông nổi tiếng
đă từng là một trong những bậc giáo thọ
của chính thầy, và là một bậc thầy của
đức Dalai Lama thứ mười ba.
Thầy
tôi, Jamyang Khientse, dáng người cao lớn
vượt hẳn khổ người Tây Tạng trung b́nh.
Thầy thường đứng cao hơn mọi
người cả một cái đầu, trong đám
đông. Tóc thầy có màu bạch kim cắt thật
ngắn, và đôi mắt từ bi thường ánh lên
một vẻ hài hước. Đôi tai dài, giống tai
Phật. Nhưng điều làm ta chú ư nhất nơi
thầy là sự hiện diện của thầy.
Cái nh́n và dáng điệu của
thầy cho ta biết thầy là một người minh
triết và thánh thiện. Thầy có một giọng nói thâm
hậu, hấp dẫn, và mỗi khi giảng dạy,
đầu hơi ngả về phía sau, lời giảng tuôn
ra từ nơi thầy như nước chảy, hùng
hồn và đầy thi vị. Và mặc dù thầy
được mọi người kính nể, sợ
nữa là khác, ta vẫn nhận thấy một thái
độ khiêm cung trong mọi việc thầy làm.
Tôi sinh ra ở Tây Tạng, và mới
vừa sáu tháng tuổi, tôi đă vào tu viện của
thầy tôi, Jamyang Khientse Chokyi Lodro. Ở Tây Tạng
chúng tôi có truyền thống độc đáo là t́m tái sinh của
những bậc thầy vĩ đại đă từ
trần. Họ được tuyển chọn từ lúc
hăy c̣n bé và được cung cấp một nền giáo
dục đặc biệt, huấn luyện họ trở
thành những bậc thầy trong tương lai. Tôi
được đặt tên là Sogyal, mặc dù măi lâu
về sau thầy tôi mới nhận ra tôi là tái sinh của Terton
Sogyal, một hành giả mật tông nổi tiếng
đă từng là một trong những bậc giáo thọ
của chính thầy, và là một bậc thầy của
đức Dalai Lama thứ mười ba.
Thầy tôi, Jamyang Khientse, dáng
người cao lớn vượt hẳn khổ
người Tây Tạng trung b́nh. Thầy thường
đứng cao hơn mọi người cả một cái
đầu, trong đám đông. Tóc thầy có màu bạch kim
cắt thật ngắn, và đôi mắt từ bi
thường ánh lên một vẻ hài hước. Đôi tai
dài, giống tai Phật. Nhưng điều làm ta chú ư
nhất nơi thầy là sự hiện diện của
thầy. Cái nh́n và dáng điệu của thầy cho ta
biết thầy là một người minh triết và thánh
thiện. Thầy có một giọng nói thâm hậu, hấp
dẫn, và mỗi khi giảng dạy, đầu hơi
ngả về phía sau, lời giảng tuôn ra từ nơi thầy
như nước chảy, hùng hồn và đầy thi
vị. Và mặc dù thầy được mọi
người kính nể, sợ nữa là khác, ta vẫn
nhận thấy một thái độ khiêm cung trong mọi
việc thầy làm.
Jamyang Khientse là nền
tảng của cuộc đời tôi, và là nguồn cảm
hứng cho tác phẩm này. Thầy là nhập thể của
một bậc thầy đă canh tân sự thực hành
đạo Phật trong xứ sở chúng tôi. Ở Tây
Tạng, được danh xưng là một vị “tái
sinh” chưa đủ, bạn luôn luôn phải làm cho
người ta kính nể nhờ học và tu. Thầy tôi
thường nhập thất nhiều năm, và có nhiều
mẫu chuyện mầu nhiệm được kể
về thầy. Thầy có tri kiến và thực chứng tâm
linh sâu xa, và tôi dần khám phá rằng thầy giống
như một bộ bách khoa về trí tuệ, thầy
biết giải đáp cho mọi câu hỏi bạn có
thể đặt ra. Ở Tây Tạng có nhiều ḍng tu,
nhưng thầy Jamyang Khientse lại có tiếng là
một vị thông suốt tất cả lư thuyết các ḍng
ấy. Đối với mọi người đă
biết hay nghe nói về thầy, th́ thầy chính là nhập
thể của Phật giáo Tây Tạng, một bằng
chứng sống cho ta thấy thế nào là một con
người “thuyết thông lẫn tông thông”.
Tôi đă nghe nói thầy tôi bảo
rằng tôi sẽ giúp tiếp nối sự nghiệp
của thầy, và dĩ nhiên thầy luôn xem tôi như con
đẻ. Tôi có cảm nghĩ rằng những ǵ tôi có
thể thành tựu được trong công việc của
ḿnh đều nhờ ân phước của thầy tôi.
Mọi hoài niệm sớm sủa
nhất của tôi đều là hoài niệm về thầy
tôi. Thầy là bối cảnh trong đó tôi lớn lên, và
ảnh hưởng thầy ngự trị tuổi thơ
tôi. Thầy như một người cha đối
với tôi. Thầy cho tôi bất cứ ǵ tôi xin cầu.
Người bạn đạo của thầy, Khandro
Tsering Chodron, mà cũng là cô tôi, thường bảo:
- Đừng quấy rầy Rinpoche,
có thể ông đang bận đấy.
Nhưng tôi th́ luôn muốn ở bên
cạnh thầy, và thầy cũng sung sướng có tôi
ở bên ḿnh, Tôi thường không ngớt đặt
những câu hỏi với thầy suốt buổi, và
thầy luôn luôn kiên nhẫn trả lời tôi. Tôi là một
đứa bé hư hỏng, không một thầy giáo nào có
thể ghép tôi vào kỷ luật. Mỗi khi họ cố
đánh tôi, th́ tôi lại chạy đến thầy, leo lên
sau lưng thầy, thế là không ai dám bén mảng. Thu ḿnh
ở đấy, tôi cảm thấy hănh diện và khoái
thích, c̣n thầy chỉ cười lớn. Bỗng một
ngày nọ, thầy dạy kèm yêu cầu thầy tôi mà tôi
không biết, giải thích rằng v́ lợi ích cho riêng tôi,
không thể tiếp tục để như thế
được. Lần kế tiếp khi tôi chạy
đến nấp sau lưng thầy, th́ thầy dạy kèm
đi vào pḥng, lạy thầy tôi ba lạy, rồi lôi tôi ra
ngoài. Trong khi bị kéo ra khỏi pḥng, tôi nhớ ḿnh đang
nghĩ rằng, thật lạ lùng là ông này dường
như không sợ ǵ thầy tôi cả.
Jamyang Khientse
thường ở trong gian pḥng mà tiền thân của
thầy đă có những linh kiến và khởi sự công
cuộc phục hưng văn hóa và tôn giáo đă lan tràn
suốt miền đông Tây Tạng trong thế kỷ
trước. Đấy là một gian pḥng kỳ diệu,
không rộng lắm nhưng có một bầu không khí thần
tiên, đầy những vật thiêng liêng, tranh và sách. Nó
được gọi là “thiên đường của
những vị Phật”, “căn pḥng đầy
năng lực”. Nếu có cái ǵ ở Tây Tạng làm tôi
nhớ nhung, thấp làm bằng gỗ và những đai da,
tôi ngồi bên cạnh. Tôi thường không chịu ăn
cái ǵ không phải lấy từ nơi bát của thầy.
Trong cái pḥng ngủ nhỏ gần kề, có một hành lang
luôn luôn mờ tối, với một ấm nước trà
sủi bọt trên hỏa ḷ nhỏ đặt trong góc. Tôi
thường ngủ cạnh thầy tôi, trên một cái
giường nhỏ dưới chân giường thầy.
Một âm thanh mà tôi không bao giờ quên được là
tiếng lần tràng hạt của thầy trong lúc thầy
nhẩm những lời cầu nguyện. Khi tôi đi
ngủ thầy thường vẫn ở đấy,
ngồi thiền đọc kinh và sáng sớm khi tôi thức
dậy th́ thầy cũng đă ngồi tu tập, tràn
đầy năng lực và ân phước. Mỗi khi
mở mắt trông thấy thầy, ḷng tôi lại ngập
tràn một niềm hạnh phúc ấm cúng. Có một vẻ
ǵ rất thanh b́nh nơi thầy.
Khi tôi lớn lên, thầy Jamyang
thường để cho tôi chủ tọa những
buổi lễ, c̣n thầy làm duy na điều khiển
thời tán tụng. Tôi có dịp chứng kiến tất
cả những cuộc giảng dạy và phép quán
đảnh mà thầy làm cho mọi người, nhưng
không phải nhớ những chi tiết mà nhớ bầu
không khí trong những dịp ấy. Với tôi, thầy chính
là Phật, tôi không c̣n nghi ngờ ǵ về chuyện ấy.
Và mọi người khác cũng công nhận như thế
nữa. Khi thầy làm lễ quán đảnh, những
đệ tử sợ tới nỗi không dám nh́n mặt
thầy. Một vài người thấy thầy
dưới h́nh dạng của vị tiền thân của
thầy, hoặc thấy thầy giống vị Phật
này, vị bồ tát kia. Mọi người gọi ngài là Rinpoche,
“bậc quư nhân,” danh xưng đối với một
bậc thầy, và khi thầy ở đấy th́ không có
vị nào khác được gọi bằng danh từ
ấy. Sự hiện diện của thầy gây cảm
khái tới nỗi nhiều người thương
mến gọi thầy là “Phật nguyên thủy.”
Nếu tôi không gặp
được thầy tôi, tôi đă thành một con
người khác hẳn. Với trí tuệ và đức bi
mẫn, thầy là hiện thân của giáo lư thiêng liêng và khiến
cho giáo lư ấy thực tiễn và đầy sức
sống. Khi tôi nói với người khác về bầu
không khí vây quanh thầy tôi, họ cũng cảm thấy
như tôi. Vậy, thầy tôi đă gây trong tôi cảm
hứng ǵ? Đó là một ḷng tin không lay chuyển
đối với nên giáo lư, và một niềm tin ở
tầm quan trọng chính yếu và quyết liệt của
bậc thầy. Bất cứ một hiểu biết ǵ mà
tôi có được, đều nhờ thầy mà có.
Đấy là một điều không bao giờ tôi có
thể đền đáp, song tôi có thể trao lại cho
những người khác.
Suốt thời niên thiếu của
tôi ở Tây Tạng tôi đă thấy cái t́nh yêu thương
mà thầy tôi thường tỏa ra trong hội chúng,
nhất là khi hướng dẫn người hấp
hối và người đă chết. Một vị Lama
ở Tây Tạng không chỉ là một bậc thầy
về tâm linh mà c̣n là một người minh triết,
một người trị bệnh, cha xứ, bác sĩ,
người chữa tâm bệnh, người giúp đỡ
kẻ hấp hối. Về sau tôi phải học những
kỹ thuật đặc biệt để hướng
dẫn người sắp chết và người chết,
từ những giáo lư liên hệ cuốn Tử thư Tây
Tạng. Nhưng những bài học lớn nhất mà tôi
học được về sự chết – và về
sự sống, là nhờ ngắm nh́n thầy tôi khi thầy
hướng dẫn người chết với một ḷng
bi mẫn vô biên, với trí tuệ và hiểu biết.
Tôi cầu nguyện rằng sách này
sẽ truyền đạt đến mọi người
một trí tuệ và từ bi của ngài, và qua nó, các bạn
có thể cảm nhận phần nào tâm đầy trí
tuệ của ngài và t́m thấy một mối giao cảm
linh động với ngài.
Tạng
Thư Sống Chết không những là một tuyệt tác
về tâm linh mà c̣n là một sách dẫn, một cẩm
nang, sách tham khảo, và một nguồn cảm hứng
thiêng liêng. " Trong một thời đại cực
kỳ nguy hiểm như ngày nay, khi nhiều người
trong chúng ta đang t́m kiếm sự hướng
đạo minh triết và những giải đáp soi sáng
cho ta về cách sống cuộc đời ḿnh và cách
đối mặt với cái chết, th́ tác phẩm này
đang cống hiến một sự hướng
đạo như thế, một vài lời giải
đáp như thế. Nó đă được viết ra
để gợi cảm hứng cho người
đọc khởi sự cuộc hành tŕnh tiến về
giác ngộ, để thành những "sứ giả ḥa
b́nh" theo như tác giả gọi, những
người làm việc với trí tuệ và t́nh thương,
để trực tiếp góp phần vào sự cứu văn
tương lai nhân loại. |
---o0o---
Phần1
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10
Phần
2 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | Phần 3 | 16 |17 |18 | 19 | 20
Phần
4 | 21 | 22 | Phụ lục 1
| Phụ lục
2 | Phụ lục 3
---o0o---
Vi tính :Hải Hạnh Ngọc Dung
Tŕnh bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-12-2004