Tâm Lý Học Phật Giáo
Source: Quảng Đức.com
A. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
1. VỀ TÂM LÝ HỌC PHƯƠNG TÂY
1.1. Các định nghĩa:
· Các dịnh nghĩa tâm lý học trước thế kỷ XX (tiêu biểu):
a. Wilhelm Wundt (1832 – 1920), người Đức:
Wundt là nhà sáng lập phòng thực nghiệm về tâm lý đầu tiên gọi là Psychological laboratory (1879), định nghĩa: “Tôi thiết nghĩ, tâm lý học phải là nghành nghiên cứu về kinh nghiệm của ý thức. Công việc của chúng ta là phân tích các cảm giác, các cảm thọ và các ý niệm, đi vào những phần căn bản (nền tảng) nhất của chúng, hệt như các nhà hóa học phân tích các vật chất phức tạp. Bằng cách đó, chúng ta sẽ đi đến hiểu biết bản chất của cái tâm của con người...” Nghành Tâm lý học này có tên gọi là “Tâm lý cấu trúc học” (Structuralist)
(Psychology, Robert A. Baron, Prentice Hall of India Private Limited,
New Delhi – 110001, 1995, p.4)
b. William James (1842-1910), người Mỹ:
James là tác giả của một tập sách có ảnh hưởng trước đây gọi là tập “Các nguyên lý của Tâm lý học” (Principles of Psychology), định nghĩa: “Tôi không đồng ý – không đồng ý với định nghĩa của Wundt - Cái tâm thì không tỉnh tại. Nó luôn luôn thay đổi. Cái tâm còn hữu dụng nữa – có lẽ nó là cái hữu dụng nhất mà chúng ta có được. Như thế, công việc chính của chúng ta dành cho Tâm lý học phải là công việc hiểu rõ cái Tâm vận hành trong đời sống hằng ngày. Như thế nào để bản chất Tâm lý cơ bản của chúng ta giúp chúng ta thích nghi với cái thế giới phức tạp và vô thường này? Để hiểu rõ cái Tâm con người, chúng ta phải nghiên cứu cái Tâm vận hành như thế nào, sự nhận ra rõ ràng các phần căn bản của tâm, hay các phần tố của tâm, là có ý nghĩa, nhưng nó cung ứng chỉ một phần của sự miêu tả tổng thể”. Nghành tâm lý học này gọi là “Tâm lý vận hành”.
(Ibid, p.4)
c. John B. Watson, người Mỹ (1878-1958):
Watson là nhà sáng lập về một phương pháp chế ngự nghành Tâm lý học mãi cho đến thế kỷ XX (suốt thế kỷ XX), định nghĩa: “Cả hai anh (chỉ Wundt và James) đều nghệt. Chúng ta không thể biết được (thấy được, hiểu được) cái tâm, cũng không thể thấy biết “cảm nghiệm của ý thức”. Những gì chúng ta có thể quan sát là cách ứng xử công khai (bên ngoài). Chúng ta không thể ghi lại một cách chính xác về những gì đang tiếp diễn trong tâm – dù là những gì. Như thế, ý tưởng xử dụng nội quan như là một phương pháp nghiên cứu để xây dựng lên cái khoa học mới mẻ của chúng ta quả là buồn cười. Sự ứng xử biểu lộ bên ngoài là điều duy nhất mà chúng ta có thể khảo sát (quan sát) hay trắc đạc một cách khoa học, nên sự ứng xử công khai (tánh hạnh) phải là quy điểm của Tâm lý học”. Nghành Tâm lý mà ông đưa ra gọi là “Tâm lý ứng xử” hay còn gọi là “nghĩa cử học”, “tánh hạnh học” (Behaviorism).
(Ibid, p.4)
· Các định nghĩa về tâm lý học của thập niên cuối thế kỷ XX:
Từ ba định nghĩa vừa được giới thiệu ở trên, Wundt thực sự là đại biểu của các nhà “Cấu trúc học”, James là đại biểu của các nhà “Chức năng học”, còn Watson là đại biểu của các nhà “Tánh hạnh học” (hay ứng xử học). Các nhà Tâm lý học của thập niên cuối của thế kỷ XX phần lớn tin tưởng vào nghành “Tánh hạnh học” (Behaviorism) – phần ít hơn của các nhà Tâm lý học thì chủ trương nghành tâm lý nhân bản (Humanism) – Tuy nhiên các nhà tâm lý ấy cũng nhận thức rằng “Tánh hạnh học” không phải là điều quan tâm duy nhất của họ, họ còn quan tâm về sự nghiên cứu tâm lý ở nhiều khía cạnh (hay phương diện) khác nữa, như về Nhận thức, về Sinh lý, về Xã hội – Văn hóa, và về Động lực tâm lý học (Cognitive, Physiologycal, Sociocultural, Psychodynamic perspectives).
a. Về khía cạnh nhận thức (hiểu biết):
Như khi giới thiệu một sinh viên chuyển trường hay tiếp tục theo học ở cấp học cao hơn tại trường khác, Viện trưởng, đại diện Viện trưởng, hay một giáo sư, cần theo dõi, quan sát sinh viên ấy để cung cấp một số thông tin về khả năng nhận thức, khả năng ghi nhớ, tiếp thu, khả năng học vấn (thông minh, giỏi...), về sự hiếu học, cần mẫn, v.v... của sinh viên ấy. Đây là sự để ý (lưu ý) về các tiến trình nhận thức (hiểu biết).
b. Về khía cạnh sinh lý:
Khi một người suy tư, nghe nhạc, đói bụng, khát nước hay giận hờn, giận dữ, có cái gì xảy đến với cơ thể của người ấy? Cái gì xảy đến khi người ấy mơ mộng, âu sầu, ham muốn dục tình hay muốn đọc cuốn sách hay?
Thực sự hẳn là có “một cái gì ấy” xuất hiện trong các trường hợp vừa nêu. Là con người đang sống, trong các cảm thọ của mình, luôn có các sự kiện sinh lý đi kèm theo ở một mức độ nào đó. Hoạt động của não bộ, hệ thần kinh, sự giải phóng các hormores, các năng lượng, nhiệt lượng trong cơ thể luôn luôn nối kết với những gì mà con người cảm thọ, tư duy, nói năng, v.v... Hiểu biết các sự kiện về sinh vật học cũng là một phần tố nghiên cứu của Ngành tâm lý học.
c. Về khía cạnh Văn hoá – Xã hội:
Về khía cạnh này, Robert A. Baron nêu ra một trường hợp biểu trưng để nhận rõ, đại để:
Quan sát hai nhà ngoại giao đang đàm phán về một thoả thiệp về thương mãi: một là người Mỹ, và một là người Nhật. Nhà đàm phán Mỹ đưa ra một số đề nghị. Nhà đàm phán Nhật chỉ mỉm cười mà không đáp lại một lời đáp cụ thể nào. Nhà đám phán Mỹ nhắc lại, nhưng nhà đám phán Nhật cũng chỉ mỉm cười. Điều nầy khiến nhà đàm phán Mỹ trở nên giận dữ và phá vở cuộc đàm phán.
Thái độ biểu hiện khác nhau của hai nhà đàm phán ấy có sự liên hệ đến hai nền văn hoá (Culture) khác nhau. Mỗi nền văn hoá, giáo dục thường chỉ dẫn cho con người của nền văn hoá ấy cách xử sự (ứng xử) riêng biệt: người Mỹ thì chấp nhận cách nói thẳng thắn: chấp nhận hoặc chối từ (không có gì sai khi chối từ đề nghị của người khác); nhưng người Nhật thì quan niệm nên cần thời gian để tìm hiểu ý muốn của hai bên trước khi đi vào giải quyết vấn đề, nếu nói thẳng lời chối từ là không lịch sự, không phải cách tốt. Điều này nói lên rằng các hệ thống văn hóa, xã hội có ảnh hưởng rất mạnh đến nhận thức, cảm nhận hay ứng xử của các cá nhân. Vì vậy, để hiểu rõ cách ứng xử (tánh hạnh), nhiều khía cạnh ứng xử, chúng ta cần tìm hiểu các yếu tố văn hoá, xã hội.
d. Về động
lực tâm lý (Psychodynamic Perspective)
· Do nhiều nhà tâm
lý học chủ trương, không do một
nhà sáng lập.
· Quan sát, phân tích
các giấc mơ và mối liên hệ
giữa mơ và tâm lý hàng ngày.
(Mộng làm sao chiêm bao vậy!)
· Quan sát các hiện
tượng:
- Tâm lý rối loạn
(Psychological disorder)
- Tâm bệnh (Metal illness)
à Do các động lực
bên trong và bên ngoài tác động (
Forces; Urges; Tendencies).
· Chấp nhận Behaviorism,
nhưng cần bổ sung thêm nhiều phương
diện tâm lý (nghiên cứu).
· Chấp nhận vô thức
(tiềm thức) do Freud khởi xướng, nhưng
không chấp nhận lý thuyết Nhân tính
của ông ta.
1.2. Nét đặc trưng của
Tâm lý học phương Tây:
Từ các phần vừa trưng dẫn, Tâm
lý học phương Tây nổi bật một
số nét tiêu biểu như sau:
- Dựa vào thông tin
của các giác quan giới hạn và
thiếu chính xác của con người.
- Dựa vào quan sát
và khả năng quan sát của người quan
sát.
- Dựa vào sự phân
tích và tổng hợp và tổng hợp
của tư duy ngã tính.
- Dựa vào các
phương pháp nghiên cứu và kỷ
thuật khoa học về sự ghi nhận và
trắc đạc.
- Mục tiêu tìm hiểu
tâm lý cá nhân (riêng lẻ, đại
chúng và quần chúng) là thực dụng
để đáp ứng các yêu cầu về
lợi ích kinh tế, ngoại giao, xã hội,
các yêu cầu lợi ích cá nhân.
- Dựa vào kết quả
nghiên cứu gián tiếp về các nhân
duyên (lãnh vực) liên hệ đến
các biểu hiện của tâm lý cá
nhân.
Tất cả điểm dựa ấy của
nghành Tâm lý học sẽ không bao giờ
có thể giúp con người thấy
đúng và rõ sự thật của tâm
lý mình và tâm lý người
khác, và sẽ không bao giờ có thể
nói lên sự thật của hạnh phúc, con
người và cuộc đời. Đây là
lý do mà nghành tâm lý học tiếp
tục cuộc hành trình vô định
của nó (nếu không như vậy thì
đã chấm dứt, ngừng lại, công
tác tìm hiểu, nghiên cứu tâm lý
con người).
2. Về Tâm
lý học Phật giáo :
Từ thời kiết tập Kinh, Luật, Luận
thứ ba, dưới triều đại đế Asoka
(thế kỷ thứ III trước Tây lịch) cho
đến thế kỷ thứ IV sau Tây lịch
(và cả cho đến nay), có ba hệ thống
Tâm lý học Phật giáo xuất hiện:
- Cu Xá Luận (thuộc
Nhất Thiết Hữu Bộ – Sarvastivada)
- Duy Thức luận ( thuộc
Phật giáo phát triển – Mahayana)
- Abhidhamma (thuộc Thượng
Tọa Bộ – Theravada).
Cả ba hệ thống này đều xây
dựng từ hệ thống kinh tạng, từ sự
chứng ngộ giải thoát tận cùng của
Đức Phật. Đây là dòng tâm linh
thực nghiệm vừa xử dụng phương
pháp phân tích, vừa dựa vào “tâm
chứng” của chư Phật, chư Tổ, vừa
để thích ứng với thời đại
phát triển triết học, văn học hầu
để giới thiệu con đường huấn
luyện tâm lý dần đến chân lý
và hạnh phúc của Phật giáo: Con
đường Thiền định (hay Giới –
Định – Tuệ).
Bài viết này chỉ giới thiệu hệ
Tâm Lý Abhidhamma.
Về
Abhidhamma, cụ thể phần giới thiệu ở
đây là tập: Abhidhammatthasangaha (Thắng
Pháp Tập Yếu Luận).
Như
lời giới thiệu tổng quát của Hoà
thượng Viện trưởng HVPGVN, tại TP. HCM,
lời nói đầu của tập Thắng Pháp
Tập Yếu Luận, tạng Abhidhamma là công
trình hệ thống lại những gì
đức Phật đã dạy cho nhiều
người, tại nhiều nơi, về nhiều
vấn đề liên hệ đến Sắc
pháp (thế giới vật lý) và tâm
pháp (thế giới tâm lý), về các
cảnh giới (Dục giới, Sắc giới,
Vô sắc giới, Siêu thế giới), về
các ác tâm, hại tâm, sân tâm, tham
tâm, si tâm, tuệ tâm, giải thoát
tâm, về nhân quả nghiệp báo, về
sự tái sanh, luân hồi, v.v... vốn đã
được kết tập trong kinh tạng.
Tập
Abhidhammatthasangaha là bản tóm tắt (toát
yếu và hệ thống hoá) bảy bộ
luận của luận tạng Pàli, bao gồm:
1. Dhammasangani (Pháp tụ
luận)
Được một số nhà nghiên
cứu
2. Vibhanga (phân tích,
phân biệt luận)
Phật học xem là ba bộ luận
3. Patthàna (Phát trí
luận)
xưa nhất
4. Dhàtu -kathà ( Giới
luận, Giới thuyết
luận) Được xem
là đã có mặt
5. Puggala-Pannđđatti (Nhân
thi thiết luận)
trước
thời vua Asoka
6. Yamaka (Song đối luận).
7. Kathàvatthu (Luận sự
hay Thuyết sự luận). Do ngài Moggaliputta sáng
tác vào thời kỳ kiết tập kinh
điển lần thứ ba.
Bản
luận tóm tắt này phân tích tâm
lý con người rất chi ly, ghi nhận Tâm
hoạt động thường xuyên qua 89 (hay 121)
tâm (cittas) và 52 tâm sở (cetasikas). Sự
hiện diện di động của các nhóm
tâm sở đã hình thành ra các
loại tâm, như Dục giới tâm, Sắc
giới tâm và, Vô sắc giới tâm,
Siêu thế giới tâm; hoặc hình thành
ra các thể loại tâm như Bất thiện
tâm, Vô nhân tâm và Tịnh quang tâm
(thuộc thiện tâm, ác tâm và tâm do
nghiệp quá khứ hình thành – Vô
nhân tâm-); hoặc trình bày dưới
các dạng Thiện tâm, Dị thục tâm,
và Duy tác tâm.
Đặc
biệt Abhidhamma miêu tả Kiết sanh thức (
Patisandhi) liên hệ giữa đời này và
đời sau, giới thiệu trạng thái tái
sanh của con người.
Abhidhammatthasangaha
giới thiệu con đường đi vào các
cảnh giới tâm, vẫn là con đường
Thiền định, rất truyền thống (hay là
con đường Giới-Định-Tuệ)
Các
phần thuộc nội dung của tập sách sẽ
được lần lượt giới thiệu
tiếp.
B. NỘI DUNG
ABHIDHAMMATTHANGAHA
Theo
chân nghĩa triết học, các pháp thuộc
Abhidhamma gồm có 4 loại tất cả: Tâm,
Tâm sở, Sắc và Niết bàn.
I.
TÂM:
Có 4 loại Tâm:
-
Dục giới
tâm
-
Sắc giới
tâm
-
Vô sắc giới
tâm
-
Siêu thế
giới tâm.
I.1. Dục giới tâm: Có tất cả 54 loại
Dục giới tâm (kàmàvacaram) bao gồm
các loại như sau: 23 Dị thục tâm, 20
Thiện và bất thiện tâm, 11 Duy tác
tâm và được trình bày như sau:
(theo bất thiện tâm, vô nhân tâm, và
tịch quang tâm).
·
Về
bất thiện tâm thì có 12 tâm như sau:
-
8 Tâm đi
cùng với tham (gọi là 8 tham tâm)
-
2 Tâm đi
cùng với sân (gọi là 2 sân tâm)
-
2 Tâm đi
cùng với si (gọi là 2 si tâm)
a). 8 Tham tâm:
a.1.
Một tâm đi cùng với hỷ, có mặt
tà kiến, không cần nhắc bảo (vì
tham tâm này khởi mạnh)
a.2.
Một tâm đi cùng với hỷ, có mặt
tà kiến, cần nhắc bảo (vì tham tâm
này yếu, cần có thêm duyên nhắc
nhở, đánh thức, kích thích)
a.3.
Một tâm đi cùng với hỷ, không
có mặt tà kiến, không cần nhắc
bảo (vì tâm này mạnh)
a.4.
Một tâm đi cùng với hỷ, không có
mặt tà kiến, cần nhắc bảo (vì
tâm này yếu)
4 loại
tâm này làm việc bất thiện một
cách thích thú.
a.5.
Một tâm đi cùng với xả, có mặt
tà kiến, không cần nhắc bảo (vì
tâm này mạnh)
a.6.
Một tâm đi cùng với xả, có mặt
tà kiến, cần nhắc bảo (vì tâm
này yếu hơn)
a.7.
Một tâm đi cùng với xả, không
có mặt tà kiến, không cần nhắc
bảo (vì tâm này mạnh)
a.8.
Một tâm đi cùng với xả, không
có mặt tà kiến, cần nhắc bảo
(vì tâm này yếu).
Bốn
tâm này làm việc bất thiện một
cách thản nhiên.
b). Hai sân tâm:
b.1.
Một tâm đi cùng với ưu (chán
ghét, domanassa), có mặt của hận (muốn
huỷ diệt đối tượng chung, Patigha),
không cần nhắc bảo (vì tâm này
mạnh).
b.2.
Một tâm đi cùng với ưu, có mặt
của hận, cần nhắc bảo (vì tâm
này yếu)
Hai tâm
này làm việc bất thiện với thái
độ chán ghét, oán hận đến
muốn tiêu diệt đối tượng bị
chán ghét ấy.
c). Hai si tâm:
c.1.
Một tâm đi cùng với xả, có mặt
nghi.
c.2.
Một tâm đi cùng với xả, có mặt
trạo cử.
Đối
chiếu với kinh tạng Nikàỳa, chúng ta
thấy 12 tâm bất thiện trên bị chi
phối bởi đủ năm triền cái (trạo
cử, hôn trầm, dục, sân, nghi: tất cả
hành động bất thiện đều do năm
triền cái phát sinh ra cả).
·
Về
vô nhân tâm thì có 18 tâm, bao gồm:
-
7 Bất thiện
dị thục tâm
-
8 Thiện dị
dục tâm
-
3 Vô nhân duy
tác tâm.
a.
7 bất thiện dị thục
tâm:
-
Nhãn thức
đi cùng với xả.
-
Nhĩ thức đi
cùng với xả
-
Tỷ thức đi
cùng với xả
-
Thiệt thức
đi cùng với xả
-
Thân thức đi
cùng với khổ
-
Tiếp thọ
tâm đi cùng với xả
-
Suy đạc tâm
đi cùng với xả.
b.
8 thiện dị thục tâm:
-
Nhãn thức
đi cùng với xả
-
Nhĩ thức đi
cùng với xả
-
Tỷ thức đi
cùng với xả
-
Thiệt thức
đi cùng với xả
-
Thân thức đi
cùng với lạc.
-
Tiếp thọ
tâm đi cùng với xả
-
Suy đạc tâm
đi cùng với hỷ
-
Suy đạc tâm
đi cùng với xả.
c.
3 Vô nhân duy
tác tâm:
-
Ngã môn
hướng tâm đi cùng với xả,
-
Ý mông
hướng tâm đi cùng với xả
-
Tiếu sanh tâm
đi cùng với hỷ.
·
24
Dục giới tịnh quang tâm: (# Dục giới thiện tâm) bao
gồm:
-
8 Dục giới
tịnh quang thiện tâm,
-
8 Dục giới
tịnh quang dị thục tâm,
-
8 Dục giới
tịnh quang duy tác tâm.
a.
8 Dục giới tịnh quang
thiện tâm:
a1. Một
tâm đi cùng với hỷ, có mặt
trí, không cần nhắc bảo .
a2. Một
tâm đi cùng với hỷ, có mặt
trí, cần nhắc bảo.
a3. Một
tâm đi cùng với hỷ, không có
mặt trí, không cần nhắc bảo.
a4. Một
tâm đi cùng với hỷ, không có
mặt trí, cần nhắc bảo.
a5. Một
tâm đi cùng với xả, có mặt
trí, không cần nhắc bảo.
a6. Một
tâm đi cùng với xả, có mặt
trí, cần nhắc bảo.
a7. Một
tâm đi cùng với xả, không có
mặt trí, không cần nhắc bảo.
a8. Một
tâm đi cùng với xả, không có
mặt trí, cần nhắc bảo.
b.
8
Dục giới tịnh quang dị thục tâm:
b1. Một
tâm đi cùng với hỷ, có mặt
trí, không cần nhắc bảo.
b2. Một
tâm đi cùng với hỷ, có mặt
trí, cần nhắc bảo.
b3. Một
tâm đi cùng với hỷ, không có
mặt trí, không cần nhắc bảo.
b4. Một
tâm đi cùng với hỷ, không có
mặt trí, cần nhắc bảo.
b5. Một
tâm đi cùng với xả, có mặt
trí, không cần nhắc bảo.
b6. Một
tâm đi cùng với xả, có mặt
trí, cần nhắc bảo.
b7. Một
tâm đi cùng với xả, không có
mặt trí, không cần nhắc bảo.
b8. Một
tâm đi cùng với xả, không có
mặt trí, cần nhắc bảo.
Ghi
chú:
-
Tám tâm
này là kết quả chín muồi (dị
thục) của tám dục giới tịnh quang
thiện tâm.
-
Tám tâm Vô
nhân dị thục (giới thiệu ở phần
kế) – Ahetuka kusabavipàkacittam- Như thế 8
thiện tâm làm nhân tạo ra 16 dị thục
tâm.
-
Riêng ở 12
bất thiện tâm đã giới thiệu ở
phần trước chỉ có mặt 7 Vô nhân
bất thiện dị thục tâm.
c.
8 Dục giới tịnh
quang tâm:
c1. Một
tâm đi cùng với hỷ, có mặt
trí, không cần nhắc bảo.
c2. Một
tâm đi cùng với hỷ, có mặt
trí, cần nhắc bảo.
c3. Một
tâm đi cùng với hỷ, không có
mặt trí, không cần nhắc bảo.
c4. Một
tâm đi cùng với hỷ, không có
mặt trí, cần nhắc bảo.
c5. Một
tâm đi cùng với xả, có mặt
trí, không cần nhắc bảo.
c6. Một
tâm đi cùng với xả, có mặt
trí, cần nhắc bảo.
c7. Một
tâm đi cùng với xả, không có
mặt trí, không cần nhắc bảo.
c8. Một
tâm đi cùng với xả, không có
mặt trí, cần nhắc bảo.
+ Ghi chú chung về Dục giới tâm:
1.
- Trong 54 tâm
dục giới sinh khởi (hoạt động) thì
có 12 bất thiện tâm và 7 bất thiện
dị thục tâm (7 tâm này được xem
như bất thiện tâm), tổng cộng chỉ
có 19 dục giới tâm bất thiện.
-
Trong khi đó
thì có 8 dục giới thiện dị thục
tâm và 24 tịnh quang tâm (được xem
là thiện tâm), tổng cộng có tất cả
là 32 dục giới thiện tâm.
-
Ở đây,
chúng ta thấy rõ rằng ở cõi dục
(bao gồm Dục giới thiên) hoạt động
của các thiện tâm vẫn nhiều hơn,
mạnh hơn. Cuộc sống bao giờ cũng nổi
bật hẳn ra những nét thiện, hiền.
Đây là quan điểm trình bày
các luận sư Abhidhamma.
2.
– Các
thiện tâm luôn luôn có động cơ,
hay có mặt, chánh kiến, chánh tư duy
và được đưa đẩy bởi tâm
xỷ xả.
-
Các bất
thiện tâm luôn luôn bị điều
động bởi tham, sân, si và hận
3.
Phân tích
lại và tổng hợp lại các Dục
giới tâm mà Abhidhamma giới thiệu thì
chúng ta phát hiện ra rằng: Tất cả
bất thiện tâm đều phát sinh từ 5
nhân tố (hay một phần tử của năm
nhân tố) gọi là Ngũ triền cái.
Các
thiện tâm ở cảnh Dục (Dục giới)
đều phát sinh từ chánh kiến, từ
sự nhiếp phục dần và mạnh Ngũ
triền cái. Khi ngũ triền cái lặn hẳn
đi, nhường chổ cho năm thiền chi: Tầm,
Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất tâm thì Dục giới
tâm liền được chuyển hóa thành
sắc giới tâm (từ sơ đến Ngũ
thiền – hay sơ đến Tứ thiền theo kinh
tạng). Như thế Abhidhamma đã bằng
phương pháp phân tích chi li có
tính cách triết học, khoa học, và
hệ thống các tâm một cách rất logic
những gì đã được kiết tập
rõ ràng ở kinh tạng. Abhidhamma, quả
thật, như luận sư tác bộ luận
này đã nói từ đầu luận
rằng: Từ đúng ý nghĩa triết học
(hay một cách triết học rằng), Abhidhamma
gồm có 4 pháp: Tâm, Tâm sở, Sắc
và Niết bàn – Tattha vuttàbhi –
dhammatthà paramatthato, cittam, cetasikam, rùpam
nibbànamiti sabbathà – là một hệ
thống vừa rất triết lý tâm
lý, vừa rất là tâm lý thực
nghiệm. Từ đây, Abhidhamma đã
hiện rõ sắc thái của Phật giáo
phát triển, mở đầu cho một dòng
Phật giáo phát triển về sau (mà
thường được gọi là Mahayana).
I.2 SẮC GIỚI
TÂM (Rùpàvacaram):
Sắc giới tâm có 15
tâm : 5 sắc giới thiện tâm, 5 sắc
giới dị thục, và 5 sắc giới duy tác
tâm.
· Về 5 sắc
giới thiện tâm :
- Đệ nhất thiền
thiện tâm đi với tầm, tứ, hỷ lạc
và nhất tâm.
- Đệ nhị thiền
thiện tâm đi với : tứ, hỷ, lạc
và nhất tâm.
- Đệ tam thiền thiện
tâm đi với :hỷ, lạc và nhất
tâm.
- Đệ tứ thiền
thiện tâm đi với : lạc và nhất
tâm.
- Đệ ngũ thiền
thiện tâm đi với :xả và nhất
tâm.
@ Ghi chú:
1) Theo phần thích nghĩa
của Abhidhammatthangha, để vào đệ nhất
thiền hành gia phải dùng một tượng
quán để tu tập :đối tượng
này gọi là Parikamma Nimitta (sơ tướng).
Nhìn đối tượng ấy cho đến
kết quả khi nhắm mắt mà vẫn thấy
một vòng tròn sáng hiện ra (đối
tượng quán là một vật bằng
đất sét, hình tròn trét bằng
phẳng, màu hồng) : đây là kết
quả gọi là Uggaha Nimitta ( thô tướng).
Nếu đối tượng được nhìn
thấy (lúc nhắm mắt) là một vòng
sáng không có tỳ vết theo trí tưởng
tượng của mình : đây là kết
quả gọi là Pàtibhàga Nimitta (quang
tướng). Tiếp tục trú trên quang
tướng này cho đến khi ngũ triền
cái bị đoạn trừ ( chuyển thành 5
thiền chi) thì chứng đắc đệ nhất
thiền sắc giới.
2) Theo tôn giả Buddhaghosa và
theo kinh tạng Nikàya thì trú tâm trên
đối tượng đối nghịch để
trực tiếp đoạn trừ ngũ triền cái
( như trú bất tịnh tướng để
loại trừ Dục triền cái; trú từ
tâm để loại trừ sân triền cái;
trú vào như lý hay chánh kiến
để loại trừ nghi triền cái; trú
vào tư duy để loại trừ hôn trầm
triền cái; và trú vào chỉ để
loại trừ trạo cử triền cái.) Như
thế hình thức quán (nhìn) Parikamma Nimitta
thì mang sắc thái thiền chỉ (samatha);
hình thức dưới này là thiên
về quán (vipassana).
3) Phần thích nghĩa trên
không nói phương cách nào để
vào định thứ hai. Riêng theo kinh tạng Nikàya
thì khi hành giả ở Đệ nhất
thiền tác ý loại trừ Tầm tâm
sở (hay Tầm thiền chi) – Vitakka - (nghĩa
là nhiếp tâm trên dối tượng hơi
thở) thì hành giả vào được
Đệ nhị thiền sắc giới. Theo kinh thuật
lại lộ trình hành thiền của Thế
Tôn thì Đức Thế Tôn tác ý
(quán) đến cái nguy hiểm của ngũ
dục lạc (lạc về sắc, thanh, hương,
vị và xúc) thì liền đoạn trừ
cả tầm và tứ thiền chi để vào
đệ tam thiền sắc giới (# Đệ nhị
thiền ở Kinh Tạng)
® Như
thế hình thái tu tập nhiếp niệm
vào hơi thở là hình thái Samatha;
còn hình thái quán hiểm nguy của
ngũ dục là hình thái Vìpassana.
· Về 5 sắc giới
Dị Thục Tâm (Vipàkacittam): tương tự như 5
sắc giới Thiện Tâm, chỉ thay từ
thiện tâm thành Dị Thục Tâm.
@ Ghi chú quan
trọng :
1. Phần thích nghĩa
của Abhidhammatthangaha nói rằng: 3 thiện tâm
(Kussalahetu) là amoha, adosa và alobha (vô si, vô
sân và vô tham) trong các sắc giới
tâm rất mạnh nên có quả dị
thục giống như các tâm chứng đắc
nầy đến đời sau.
2. Kinh tạng Nikàya thì
ghi rằng : Hành giả nếu khi đang tu trú
thiền sắc giới nào mà bỗng nhiên
xả báo thân(chết) thì liền
được sanh về cảnh giới tương
ưng với thiền chứng.
3. Như vậy, về
điểm này, Abhidhamma phản ánh rất trung
thành với Kinh Tạng.
· về 5 sắc giới
duy tác tâm (Kriyàcittam): tương tự như 5 sắc
giới thiện tâm, chỉ thay từ thiện tâm
thành từ duy tác tâm.
I.3. VÔ SẮC
GIỚI THIỆN TÂM (Arùpàvacarakusalacittàni
hoặc Arùpàvacarakusalacittam )
Có 12
vô sắc giới thiện tâm : 4 vô sắc
thiện tâm, 4 vô sắc dị thục tâm,
và 4 vô sắc duy tác tâm.
· Về 4 vô
sắc giới thiện tâm
- Không vô biên xứ
thiện tâm.
- Thức vô biên xứ
thiện tâm.
- Vô sở hữu xứ
thiện tâm.
- Phi tưởng phi phi
tưởng xứ thiện tâm.
¢ Ghi chú quan
trọng :
1. Abhidhammatthangaha chú nghĩa
rằng : Trú tâm trên quang tướng
(Patibhàganimitta ) thì một ánh sáng
yếu ớt như đom đóm sinh ra từ đối
tượng ấy cho đến khi thấy ánh
sáng lan khắp mọi nơi (thấy là do
tưởng sinh). Rồi hành giả trên
đối tượng ấy tác ý “Hư
không là vô biên”(Aøkàsa ananto)
cho đến khi chứng đắc thực sự
thiền Hư không vô biên xứ. Hành
giả trú tâm ở hư không vô biên
mà tác ý Thức là vô biên
(Vinnànam anantam) cho đến khi thực chứng
thiền thức vô biên xứ. Tiếp tục
trú Hư không vô biên xứ mà
tác ý : không có gì cả (Natthi Kinci)
cho đến khi chứng thực thiền này.
Tiếp tục an trú ở thiền này cho
đến ( rất tế nhị về ý nghĩa
tác tưởng này) khi chứng Phi tưởng
phi phi tưởng xứ (Nevasasannàyatana )
2. Theo Kinh Tạng thì ghi :
- Trú tứ thiền sắc định ( xả và nhất tâm) mà tác ý “Hư không là vô biên”, “Thức là vô biên”, “Không có vật gì cả” thì sẽ lần lượt chứng đắc Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ. Tại đây hành giả không nên đi vào Phi tưởng phi phi tưởng mà tác ý “Tứ vô lượng tâm” ( đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả) để vào diệt thị tưởng định. Nhưng nếu ở vô sở hữu định mà hành giả không tác ý gì cả, hay nhàm chán hữu vi thì sẽ đi vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
3. Như thế ở Luận Abhidhamma có thêm phần giới thiệu đối tượng trú là quang tướng thay vì là tứ sắc định. Phần thực hành tiếp theo thì tương tự ơ ûKinh tạng.
I.4. VỀ SIÊU THẾ TÂM (LOKUTTARA): Có 8 siêu thế tâm, đó là:
- Đạo và quả của 4 quả thánh (Thinh văn)
- Hay gọi là 4 siêu thế thiện tâm (4 siêu thế đạo) và 4 siêu thế dị thục tâm (4 siêu thế quả tâm).
Tám siêu thế tâm trên là:
-
Dự lưu
đạo tâm (Sotàpattimaggacittam)
-
Nhất lai đạo
tâm (Sakadàgàmimaggcittam) 4
Siêu thế giới thiện tâm
-
Bất lai đạo
tâm (Anàgàmimaggacittam)
-
A la hán
đạo tâm (Arhattamaggacittam).
- Dự lưu quả tâm
(Sotàpattiphalacittam).
- Nhất lai quả tâm
(Sakadàgàmiphalacittam). 4
Siêu thế dị thục tâm
- Bất lai quả tâm
(Anàgàmiphalacittam).
- A la hán quả tâm
(Arhattaphalacittam).
¢ Ghi chú quan
trọng :
1. Abhidhammathangaha ghi chú về 10
kiết sử phải đoạn để chứng 4
quả Thánh như sau :
1, Thân kiến (Sakàyaditthi );
2, Nghi (Vicikicchà); 3, Giới cấm thủ
(Sìlabbataparànàsa); 4, Dục (hay dục ái
–Kàmàràga ); 5, Sân (Patigha); 6, Hữu
ái (sắc ái-Rùparàga); 7, Vô hữu
ái (hay vô sắc ái-Aøuparàga); 8,
mạn (Màna); 9, trạo cử (Uddhacca); 10, Vô minh
(Avijjà).
Phương pháp đoạn
trừ 10 kiết sử ấy là quán
tưởng 3 pháp ấn ( khổ, vô thường
và vô ngã). Nét chính của phần
giới thiệu trên thì hệt như lời
dạy ở Kinh.
2. Tuy nhiên, ở đây
Abhidhammattha sangaha chỉ giới thiệu chỉ một
cách quán 3 pháp ấn; còn ở Kinh
tạng thì giới thiệu nhiều cách như
là :
a)
Từ Tứ sắc
định hành giả thấy rõ sự thật
duyên sinh vô ngã của thân danh sắc (hay
ngũ uẩn) nầy, chỉ việc tiếp tục an
trú ở thiền này và phát triển
thiền quán (giác tỉnh) thì 10 kiết
sử sẽ lần lượt bị đoạn trừ.
b)
Kinh trạm xe chỉ
rõ hơn rằng :an trú vào “như
lý tác ý” để lần lượt
đi vào giới thanh tịnh , tâm thanh tịnh ,
kiến thanh tịnh , đoạn nghi thanh tịnh ,
đạo phi phi đạo thanh tịnh và thanh
tịnh cái thấy biết – tại đây ,
hành giả sẽ liền đi đến đắc
quả A – la hán .
c)
Từ vô sở
hữu xứ định hành tứ vô
lượng tâm thì hành giả có thể
đi thẳng vào Diệt thọ tưởng
định và đắc Ala – hán . ( xem
Phật học khái luận )
d)
Từ tứ sắc
định cũng có thể hành tứ vô
lượng tâm để đi vào các
thánh quả ( vì thế tứ sắc định
được gọi là phạm trú, thánh
trú )
e)
Tương ưng
bộ kinh ghi lại có hơn 10 trường hợp
đệ tử Thế Tôn đắc A-la-hán
quả mà không phải đi vào một sắc
định hay không định nào v.v…
& Tổng luận về
Tâm được trình bày trong Abhidhammattl
sangaha :
Có một số điểm
về Abhidhammalsangaha cần được chú ý
:
1./ Sự phân
tích về các tâm Dục giới, Sắc
giới, Vô sắc giới và Siêu thế
giới rất là đặc biệt, rất là
chi li. Đặc biệt là sự giới thiệu
các vô nhân tâm và cac dị thục
tâm, nội dung mà chúng ta không thấy
đề cập ở Cu-Xá hay Duy thức .
2./ Sự phân
tích có 2 loại tâm: một loại cần
được nhắc bảo, loại kia là không
cần được nhắc bảo, tương
tự sự hệ thống có 4 siêu thế
đạo tâm và 4 siêu thế quả tâm,
sự phân tích nầy nổi bật hẳn
vẻ triết lý, chia chẻ của triết
lý. Trên thực tế, sau khi chứng Dự
lưu quả, hành giả tiếp liền chứng
Nhất lai đạo.
3./ Riêng
phần thích nghĩa thì có một số
điểm không thực sự phản ánh trung
thành với lời dạy của đức Phật
ở trong kinh Nikàya-như có đề cập
ở phần ghi chú trong các phần đã
trình bày-nhưng đó là phần
giải thích của tác giả Anurudha và
Kachiyap nên ở đây không bàn thảo
đến .
II. CÁC TÂM
SỞ (CETASIKA)
A.
TỔNG QUÁT:
Có một số điểm
dưới đây cần được chú
ý:
1. Mỗi tâm (hay mỗi
tâm niệm) không phải là một ngã
thể cố định thường có mặt,
mà là tập hợp của các nhân
duyên (điều kiện – conditions) gọi là
các tâm sở (cetasika)
2. Các thức (viđđana)
như Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỉ thức,
Thiệt thức, Thân thức, và Ý thức,
theo Abhidhamma, là các Tâm vương (cittam) do
bảy tâm sở kết hợp hình thành,
đó là: Xúc (phassa), Tác ý
(manasikàra), Thọ (vedàna), Tưởng
(sađđa), Tư (cetanà), Nhất tâm (ekaggatà),
và Mạng căn (jìvindriya). Các tâm
sở này cùng khởi lên một lượt
(không trước, không sau).
3. Mỗi loại tâm (tâm
vương) được hình thành bởi
các tâm sở khác nhau.
4. Các bất thiện tâm
sở thì chỉ hình thành (hay có
mặt) trong các bất thiện tâm. Các
thiện tâm sở thì chỉ hình thành
(hay có mặt) trong thiện tâm. Các thiện
tâm sở này được Abhidhamma gọi
một tên khác nữa là: các tịnh
quang tâm sở.
5. Các tâm sở cùng
khởi và cùng diệt với tâm vương
B.
CÁC LOẠI
TÂM SỞ:
Theo sự hệ thống của
Abhidhammatthangaha, có tất cả 52 tâm sở
được xếp thành các loại như sau:
- Biến hành tâm sở có 7 (Sabbacittasàdhàranà:
biến hành trong tất cả tâm).
- Biệt cảnh tâm sở có 6 (Pakinnacetasika)
- Bất thiện tâm sơ có 14 (Akusalacetasika)
- Tịnh quang tâm sở có 25 (Sobhanacetasika)
B.1. Biến hành
tâm sở: có 7:
Xúc (phassa), Tác ý
(manasikàra), Thọ (vedàna), Tưởng (sađđa),
Tư (cetanà), Nhất tâm (ekaggatà), và
Mạng căn (jìvindriya).
- Bảy biến hành tâm sở này hình
thành nên các thức : Nhãn, Nhĩ, Tỷ,
Thiệt, Thân và Ý thức.
- Tư tâm sở (Cetanà) có chức năng
suy nghĩ, phối hợp và chất chứa các
tâm sở cùng đi với nó trong một
đối tượng. Nó chi phối và
định đoạt mọi hoạt động của
tâm.
- Bảy tâm sở trên luôn luôn có
mặt trong các loại tâm nên có tên
là biến hành tâm sở.
- Tư tâm sở (cetanà) chính là
nghiệp nhân (tác thành ngiệp) biểu
thị rằng các tam niệm đều tạo
nên nghiệp (thiện, ác hay duy tác).
B.2. Biệt cảnh
tâm sở: có 6:
- Tầm (vitakka), Tứ (vicàra), Thắng giải
(adhimokkha), Tinh tấn (viriya), Hỷ (Pìti), Dục
(chanda).
! Ghi chú:
* Sáu tâm sở biệt
cảnh chỉ có mặt trong các tâm
tương ưng với chúng.
* Hỷ thì không có
mặt trong các tâm đi cùng với Xả,
Ưu, Hận.
* Tinh tấn tâm sở thì
không có mặt trong các tâm đi cùng
với hôn trầm, phóng dật.
* Tầm thì có mặt trong
các Dục giới tâm (ngoại trừ 10 thức
trong 18 vô nhân tâm = 54 – 10); có mặt
trong 11 đệ nhất thiền Sắc giới tâm.
B.3. Bất thiện
tâm sở: có 14:
1. Vô tàm (Ahirikam = không
biết xấu hổ – hổ với mình –
khi làm điều ác).
2. Vô quý (Anottapam = không
biết sợ hãi – thẹn với người
– khi làm điều ác).
3. Si (moha)
4. Tà kiến (ditthi hay
micchàditthi)
5. Nghi (vicikicchà)
6. Trạo cử (uddddhacca)
7. Tham (lobha)
8. Mạn (màna)
9. Sân (dosa)
10. Tật (tật đố, ganh ghét, Isssà)
11. Xan (machariyam)
12. Hối (kukkuccam)
13. Hôn trầm (Thìna)
14. Thụy miên (middha).
Õ
Các bất thiện tâm sở chỉ có
mặt trong các bất thiện tâm.
1/ Tín.
2/ Tàm
3/ Quý
4/
Vô tham.
5/ Niệm.
6/ Trung tánh hay
xả(Kàyapassdhi)
7/ Tâm sở thư thái. 8/ Tâm sở khinh an 9/ Tâm khinh an
10/ Tâm sở nhu nhuyến 11/ Tâm nhu nhuyến 12/ Tâm sở thích ứng
13/ Tâm thích ứng 14/ Tâm sở tinh luyện 15/ Tâm tinh luyện
16/ Tâm sở chánh trực 17/ Tâm chánh trực 18/ Tâm thư thái.
19/ Vô sân.
Õ Các tâm sở này luôn có mặt trong các tịnh quang tâm.
20 Õ24/ Ba tiết chế tâm sở (# vô si # chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng # giới uẩn) + Hai vô lượng tịnh quang tâm sở (Bi và hỷ).
25/ Huệ căn tâm sở (# Tuệ uẩn)
! Ghi chú:
- Trong 25 tịnh quang tâm sở thì Ba tiết chế tâm sở tương đương với Giới uẩn (hay Thánh giới uẩn)
- Huệ căn tâm sở (hay vô si) vốn là Tuệ uẩn.
- Tín, Niệm và các tâm sở khinh an .v.v… thì thuộc Định uẩn (hay Thánh định uẩn)
- Tâm sở vô sân vốn là Từ tâm vô lượng.
- Tâm sở trung tánh hay Xả # Xả vô lượng (cùng có mặt với Bi và Hỷ vô lượng tâm sở).
Õ Như thế 25 tịnh quang tâm sở vốn là Tâm Giới, Định, Tuệ và Tâm Tứ vô lượng. Hẳn nhiên 25 tịnh quang tâm sở này sẽ hình thành các Thiện tâm và Giải thoát tâm (Hay Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát).
Õ Đạo đế chính là con đường tu tập Tâm để an trú và phát triển 25 Tịnh quang tâm sở nầy.
Õ 19 Biến hành Tịnh quang tâm sở thì có mặt trong 59 Tịnh quang tâm (24 Dục giới tịnh quang + 15 Sắc giới tịnh quang + 12 Vô sắc giới tịnh quang + 8 Siêu thế giới tâm).
Õ 3 Tiết chế tâm sở (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng) thì tương đương với Giới uẩn chỉ có mặt trong các tâm như: 8 Dục giới thiện tâm, 8 Siêu thế tâm (+ 16 tâm).
- Hai vô lượng tâm sở (Bi và Hỷ): Bi (karunà) là lòng thương xót trước sự đau khổ của muôn loài; Hỷ (mudità) là lòng hoan hỷ trước sự thành tựu, hưng thịnh của muôn loài.
Õ Bi, Hỷ tâm sở được gọi là Vô lượng vì chúng sinh có mặt vô lượng.
Õ Bi, Hỷ khởi lên tuỳ duyên, tuỳ lúc, và riêng biệt nhau.
Õ Vô lượng tâm sở khởi lên trong các tâm sau đây:
· Ở Đại hành tâm: có mặt trong các Tâm sắc giới vàVô sắc giới (trừ Ngũ thiền, vì ngũ thiền thuộc xả). Do đó nó có mặt trong 12 tâm ([ 15 sắc tâm + 12 vô sắc tâm] – [3 sắc + 12 vô sắc])
! Ghi chú quan trọng:
1. Theo kinh tạng Nikàya, hành giả có thể ở Vô sở hữu xứ định tu tập Tứ vô lượng tâm (có khi có thể từ Tứ sắc định đã có thể hành Tứ vô lượng tâm) – xem Phật học khái luận – Như vậy có nghĩa là Bi và Hỷ có thể khởi lên từ Vô sở hữu xứ định, hay từ Tứ sắc định, do vậy Bi và Hỷ có thể có mặt ở các cảnh thiền của Xả và Nhất tâm. Đây là điểm khác biệt giữa Abhidhamma và Nikàya cần được khảo cứu lại
2. Có một điểm cần quan tâm khảo sát nữa, rằng:
3. Theo Abhidhamma, Bi và Hỷ vô lượng tâm sở không có mặt trong 8 siêu thế tâm, thì tại sao Abhidhamma lại chấp nhận rằng Bi và Hỷ có mặt trong 8 Dục giới duy tác tâm? (vốn là tâm của các bậc A La Hán, của các bậc Thánh).
Õ Nếu cho rằng Bi và Hỷ không có mặt trong 8 siêu thế tâm thì sẽ dẫn đến kết luận rằng: Bi và Hỷ không có mặt trong tâm các bậc Thánh (đặc biệt là các thánh A La Hán), có nghĩa là các bậc Thánh không quan tâm đến khổ đau và hạnh phúc của người đời sao? (!).
(Sẽ giải thích thế nào về trường hợp Ngài Sumedha – Thiện Huệ – dưới thời đức Phật Nhiên Đăng đã không nhập Niết Bàn, mà ở lại đời để độ khổ chúng sanh? Hiểu như thế nào về sự kiện Đức Thế Tôn đã rời Cung Đâu Suất để giáng trần độ sinh?).
II. LỘ TRÌNH CỦA TÂM
(Cittavìthi)
Hữu phần(Bhavanga) Õ Ngũ môn hướng tâm (pancadvàra) Õ Tiền ngũ thức (pađcaviđđàna) Õ Tiếp thọ tâm(sampaticchana) Õ Suy đạt tâm(Santìrana) Õ Xác định tâm(Vatthapana) Õ Tốc hành tâm(Javana) Õ Chìm vào Hữu phần(Bhavangà)
1.[U1] Hữu phần hay tiềm thức,= chỉ trạng thái thụ động đang trôi chảy của tâm thức. Trạng thái này gọi là Bhavangà.
2. Có một đối tượng kích vào tâm thức: đây là thời điểm của ngũ môn hướng tâm.
3. Nhận ra có một đối tượng kích thích: đây là thời điểm của Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt và thân thức Õ chỉ là thức thuần tuý( chức năng ghi nhận sự có mặt của sự vật) mà chưa có tư duy khởi lên. Do vậy, cho đến thời điểm này chưa tác nghiệp (đây là giai đoạn của tiền ngũ thức).
4. Nhận ra đối tượng kích thích, ghi nhận có sự kích thích đi vào tâm thức: đây là thời điểm của tiếp thọ tâm (sampaticchina). Giai đoạn này cũng chưa tác nghiệp.
5. Tìm hiểu và phân tích đối tượng qua kinh nghiệm mà tâm thức đã kinh qua: đây là giai đoạn hoạt động của Suy Đạt Tâm (Santìrana). Đây đúng là hoạt động của tư duy (ý thức), nhưng chưa có phản ứng của tâm lý đối với đối tượng như ưa, ghét đối tượng.v.v…đến đây, tâm vẫn chưa tác nghiệp.
6. Tâm thức xác định đối tượng tác nghiệp là gì, theo hiểu biết của cá nhân: đây là chức năng của xác định tâm(vatthapana). Tại đây, nghiệp vẫn chưa được tác thành.
· Ghi chú: Nếu đối tượng là pháp trần khởi lên từ ý( nội tâm) thì lộ trình tâm sẽ bắt đầu từ đây gọi là ý môn hướng tâm(manodvàràvajjana), tương đương với xác định tâm (votthapana).
7. Tâm thức bấy giờ phản ứng, xử sự đối với đối tượng: đây là thời điểm và là lúc quan trọng nhất của lộ trình Tâm. Chức năng xử sự nầy là tốc hành tâm(Javana). Đây đúng là thời điểm tác nghiệp.
* Ghi chú: Khi sắc pháp rơi vào phạm vi tiếp nhận của mắt hay 5 căn ở ngoài) thì hữu phần rung động hai lần rồi dừng nghỉ; tiếp theo là ngũ môn hướng tâm khởi lên và diệt đi, làm phận sự hướng tâm đến đối tượng sắc ấy ( qua một sát na). Tiếp theo là các tâm sau đây theo thứ tự khởi lên và diệt đi: Õ Nhãn thức thấy sắc (qua một sát na) Õ Tiếp thọ tâm lãnh thọ sắc(qua một sát na) Õ Suy đạt tâm suy tư, tìm hiểu sắc (qua một sát na) Õ Xác định tâm xác định sắc (qua một sát na) Õ Tốc hành tâm xử sự với sắc (qua 7 sát na) Õ Đồng sở duyên tâm( tadàlambana) ( qua 2 sát na) -tâm đồng sở duyên gìn giữ và ghi nhận vào trong tiềm thức và lập đi lập lại trong 2 sát na. Bấy giờ đối tượng chìm vào hữu phần Õ Hữu phần rung động trong 2 sát na và quá khứ hữu phần 1 sát na.
ð - Ngũ môn hướng tâm : một sát na.
- Nhãn thức (5 thức đầu) : một sát na.
- Tiếp tọ tâm : một sát na.
- Suy đạt tâm : một sát na.
- Xác định tâm : một sát na.
- Tốc hành tâm : 7 sát na
- Đồng sở duyên tâm : 2 sát na.
- Hữu phần rung động : 2 sát na.
- Quá khứ hữu phần : một sát na.
IV. KIẾT SANH THỨC
(PATISANDHI)
I.
TỔNG QUÁT:
Trong ba
hệ thống Tâm lý thuộc Luận Tạng
của Nhất thiết hữu bộ, Thượng
toạ bộ, và Phật giáo phát
triển-Đại thừa) thì chỉ có
Abhidhamma của Theravada (Thượng toạ bộ) là
có trình bày và trình bày khá đặc
biệt về Kiết sanh thức (hay kiết sanh tâm)
liên hệ giữa đời này và
đời sau cảu nhiều cảnh giới từ
Địa ngục cho đến cõi cao nhất
của vô sắc giới. Ở đây phần
trình bày là theo quan điểm của
Abhidhammatthansangha, phần ghi chú là nhận
định của người biên soạn.
Kiết sanh thức có 4 loại
:
- Ác thú Kiết
sanh thức.
- Dục giới thiên
kiết sanh thức (con người thì
được đề cập ở lộ trình
tâm).
- Sắc giới thiên
kiết sanh thức.
- Vô sắc giới thiên kiết sanh
thức.
II. CÁC LOẠI KIẾT
SANH THỨC :
1. Kiết sanh thức ở
Dục giới thiên:
* Nguyên văn của
Abhidhammatthasangaha (HT Minh Châu dịch) : “ Thiện
dị thục suy đạt tâm câu hữu với
xã làm sự Kiết sanh thức, Hữu
phần và Tử tâm cho những người sinh
ra đã mù v v… và những
A–tu–la bị đoạ lạc. Còn 8
Đại dị thục trong mọi trường hợp
làm phận sự Kiết sanh thức, Hữu phần
và Tử tâm cho những sanh sanh ở Dục
giới thiên. Chín (9) Kiết sanh thức nầy
gọi là Kiết sanh thức trong Dục giới
thiên, chúng hợp thành Kiết sanh thức
ở Dục giới ?
· Tuổi thọ (tương
tự NiKàya, chỉ khác ở tuổi thọ
ở tuổi ở tứ Thiên vương thiên-
có lẽ do dịch thuật-)
Tuổi thọ ở tứ thiên vương là
500 tuổi trời 9 triệu năm ở đời
từ đó mỗi cõi trời dục giới
cao hơn thì có tuổi thọ dài 4 lần
nhiều hơn tam thập tam(36 triệu năm); dạ
ma(144 triệu năm); đẩu suất thiên (576
triệu năm); tha hoá tự tại thiên (9,216
tỉ năm); hoá lạc thiên (2,304 triệu
năm);
2. Kiết Sanh Thức Ơû Sắc
Giới:
· Nguyên văn : “ Sơ thiền dị
thục tâm tác động ở sơ thiền
giới, phận sự kiết sanh thức, hữu
phần và tử tâm, đệ tam thiền dị
thục tâm, và đệ tứ thiền dị
thục tâm. Riêng đối với chúng sanh
ở vô tưởng thiên ( thuộc đệ
tứ thiền thiên giới) thì kiết sanh thức
là sắc pháp và tiếp theo đó
cũng vậy trong đời sống và khi lâm
chung, chỉ có sắc pháp tồn taị và
diệt mất. Những tâm này là 6 kiết
sanh thức ở sắc giới.”
· Tuổi thọ của sắc
giới thiên:
1)
Phạm chúng
thiên = 1/3 kappa.
2)
Phạm phụ
thiên = 1/2 kappa.
3)
Đại phạm
thiên = 1 kappa (tuổi thọ của thế
giới vật lý)
4)
Thiện quang thiên
= 2 kappas.
5)
Vô lượng
quang thiên = 4 kappas.
6)
Quang âm thiên =
8 kappas.
7)
Thiện tịnh
thiên =16 kappas.
8)
Vô lượng
tịnh thiên = 32 kappas.
9)
Biến tịnh
thiên =64 kappas.
10)
Quảng quả
thiên và vô tưởng thiên =500 kappas.
11)
Vô phiền
thiên = 1.000 kappas.
12)
Vô nhiệt
thiên =2.000 kappas.
13)
Thiện hiện
thiên =4.000 kappas.
14)
Thiện kiến
thiên = 8.000 kappas.
15)
Sắc cứu
cánh thiên = 16.000 kappas.
· Ghi chú : - kappas đề cập ở
trên là Đại kiếp (Mahàkappa).
- Tiểu kiếp là thời gian con người
có tuổi thọ từ 10 tăng dần lên
vô số, rồi tụt xuống lại 10 tuổi (
tăng và giảm).
- Asankhiyyakappa (vô số kiếp) = một trung
kiếp.
- Vô số trung kiếp = một đại kiếp
(mahàkappa) = thời gian cần thiết để
ném cho hết số hạt cải ( ném từng
hạt) trong một đống có chiều dài,
cao và rộng 1 do tuần (7 miles 10 km) và
cứ 100 năm thì ném một hạt.
3. Kiết sanh
thức ở vô sắc giới :
· Nguyên văn :
“Những dị thục tâm của vô sắc
nhất thiền, vô sắc nhị thiền, vô
sắc tam thiền và vô sắc tứ thiền
hoạt động ở cảnh giới vô sắc,
tuỳ theo sự thích hợp với tính
cách kiết sanh thức, hữu phần và tử
tâm. Đây là 4 kiết sanh thức của
cõi trời vô sắc.”
· Ghi chú về tuổi thọ ở
các cõi trời vô sắc :
- Thọ
mạng của không vô biên xứ chúng sanh
( chúng sanh ở đệ nhất thiền vô
sắc ) = 20.000 kappas (mahàkappas-20.000)
- Chúng sanh ở thức vô
biên xứ = 40.000kappas ( hay mahàkappas).
- Chúng sanh ở vô sở
hữu xứ = 60.000kappas (nt).
- Chúng sanh
ở phi tưởng phi phi tưởng xứ = 84.000 kappas
(nt).
(Trong một đời sống, kiết sanh thức,
hữu phần và tử tâm thuộc một
loại và cùng một đối tượng)
- Nguyên nhân
của chết.
- Nghiệp, nghiệp tướng,
thú tướng.
- Lộ trình tâm của một
người sắp chết.
- Kiết sanh thức và đối
tượng của người sắp chết.
1)
Nguyên nhân
của chết :
Nguyên văn : “
Chết có 4 nguyên nhân : thọ diệt,
nghiệp diệt, cả hai diệt và sát
nghiệp.”
Ghi chú : Nikàya ( ở Trường
Bộ kinh và Tăng Chi I, phẩm 3 pháp) thì
ghi 3 lý do của cái chết của con
người là : “ Thân đoạn, mệnh
đoạn, nghiệp đoạn hay thân tận,
mệnh tận và nghiệp tận”. Xét
kỹ thì Abhidhamma đề cập hệt với
Nikàya về nguyên nhân của chết.
2)
Nghiệp, nghiệp
tướng và thú tướng
Nguyên văn : “đối
với những người sắp sửa chết, trong
khi lâm chung, do sức mạnh của nghiệp, một
trong những tướng sau đây được
khởi ra trong một trong 6 cửa :
2.1. “Một nghiệp có
khả năng khiến cho tái sinh trong đời sau
được khởi tuỳ theo trường
hợp.”trường hợp mà vua trọng
tăng, thường cúng dường chư Tăng độ
ngọ, và chỉ ăn trưa sau chư tăng.
Trước khi chết, ý tưởng khởi lên
trong tâm nhà vua, gợi nhớ các nghiệp vua
đã làm trong hiện kiếp và vua rất
bằng lòng về mình về hạnh trọng
chư Tăng này, mỉm cười và liền
thác sanh về chư thiên. Được kiết
tập ở Nikàya.
Ngũ suy tướng hiện của
chư thiên lúc chết (kiết tập ở
Nikàya)
2.2. “Hay một nghiệp
tướng là một vật như sắt
.v.v…mà trước kia đã từng
được dùng trong khi làm nghiệp
ấy.”
Chuyện người giết heo
cả đời, trước khi chết cứ hốt
hoảng không trút hơi thở cuối cùng,
mãi cho đến khi người nhà đem
đến giường bệnh con dao giết heo, và
cái chậu đựng huyết heo thì
người ấy mới tắt thở) ( tác giả
đã tự chứng kiến).
3.3. “ Hay là một thú
tướng phải được và phải
thực nghiệm trong đời sống khởi lên
ngay tiếp theo đó. Liền theo đó, y cứ
theo đối tượng được khởi lên,
tuỳ theo với nghiệp cần phải được
thuần thục, hoặc thanh tịnh hoặc nhiễm
ô, và phù hợp với cảnh giới sẽ
được tái sanh, dòng tiềm thức
luôn luôn được trôi chảy,
hướng phần lớn về cảnh giới ấy.
Hay cái nghiệp có khả năng khiến cho
tái sanh ấy hiện khởi đến với
căn môn, với tư cách là một
tác đôïng mới.
3) Lộ trình tâm của một người sắp chết :
Nguyên văn : “Đối với người sắp chết, hoặc đến cuối lôï trình tâm của người ấy, hoặc khi hữu phần bị diệt tử tâm, giai đoạn cuối cùng của đời sống hiện tại, khởi lên rồi diệt. Khi tâm ấy được diệt trừ, tiếp ngay sau tâm ấy, y cứ trên đối tượng được thâu nhận như vậy, hoặc có tâm(hadaya) làm căn cứ địa hay không có, kiết sanh tâm khởi lên và được thiết lập trong đời sau, kiết sanh tâm này được thúc đẩy bởi vô minh tuỳ miên, căn cứ vào ái tuỳ miên, sanh ra bởi nghiệp, câu hữu với những tâm sở tương ưng, hành động như tâm xung phong cho những tâm sở câu hữu, và tiếp nối những đời sống với nhau.”
4) Kiết sanh thức và đối tượng của người sắp chết :
Nguyên văn : “Ở đây, trong lộ trình của tâm gần chết, chỉ có 5 tốc hành tâm yếu ớt được mong đợi. Do vậy, trong khi lâm chung, khi các đối tượng hiện tại vào trong khu vực nhận thức thời Patisandhi và Bhavanga cũng đều cùng một đối tượng.
“Như vậy, khi tái sanh ở dục giới, Kammanimitta ( nghiệp tướng) nhận thức bởi một trong 6 căn môn, hay Gatinimitta (thú tướng) có thể quá khứ hoặc hiện tại, nhưng Kamma (nghiệp) được nhận thức bởi ý môn chỉ thuộc về một đối tượng thuộc quá khứ. Tất cả những đối tượng này phải được xem là thuộc tiểu pháp (Dục giới).”
| Thư mục
Tác Giả |
Cập nhật : 01-08-2002