TAM PHÁP ẤN
(Three Characteristic marks of the Buddha’s Teachings)
Thích Nguyên Tạng
( Trích nguồn : Quảng Đức.com )
Niềm tin
là đức tính cao quư, cần thiết và rất quan
trọng trong đời sống của người
Phật tử. Niềm tin đóng một vai tṛ quan
trọng mà ai cũng có để giúp người ấy
đến với Phật quả. Trong Kinh Hoa Nghiêm
Đức Phật từng dạy rằng:” niềm tin là
mẹ đẻ của công đức”. Đạo Phật
là đạo Giác Ngộ, muốn đạt
được giác ngộ hành giả phải có niềm tin
chân chính, mà niềm tin chân chánh ấy phải có cơ
sở thực tế và trí tuệ đúng như
thật.
Trên tinh
thần đó, đối với hệ thống Kinh
Điển do Đức Phật truyền dạy trong 49
năm, người học Phật phải có cơ sở
để chứng tín rằng đó là lời Phật
dạy, cơ sở đó chư Tổ Đức gọi
là Pháp Ấn . Trong Phật Giáo có hai loại Pháp
ấn: Nhất Pháp Ấn và Tam Pháp Ấn. NHẤT
PHÁP ẤN là nói đến Kinh Điển liễu nghĩa
của Bắc Truyền Phật Giáo. Nhất Pháp Ấn là Thật
Tướng Ấn tức là lấy thật
tướng của các pháp làm gốc, nên nói nghĩa lư
thật tướng của các pháp là ấn tín của
hệ thống tư tưởng Phật giáo Đại
Thừa. Bất cứ giáo lư nào không dựng lập trên quan
điểm này, th́ Phật giáo Đại Thừa đều
xem là tà thuyết.
TAM PHÁP
ẤN
là dành riêng cho Kinh Điển bất liễu nghĩa của Nam
Truyền Phật Giáo. Bài viết này sẽ tŕnh bày sơ
lược về TAM PHÁP ẤN.
Ấn
(印¡) có nghĩa
là con dấu, hay con mộc, để
chứng nhận chính thức cho một tổ chức,
một đoàn thể nào đó, thứ hai, ấn là
nói lên chủ trương, đường hướng
được đưa ra trong tổ chức đó.
Chữ ấn ở đây được dùng như
một danh từ trừu tượng để làm tṛn hai
nhiệm vụ : chứng tín cho những Kinh điển
hiện hành là lời Phật dạy, thứ hai là chỉ
cho tư tưởng chủ đạo của Kinh Điển
Nam Truyền Phật Giáo. Tam Pháp Aán đó là:
1-
2-
3-
Niết Bàn Tịch Tĩnh
Kinh
điển của Tiểu Thừa Phật giáo
được ấn định bởi ba Pháp Ấn
trên, nếu không như thế th́ chính là tà thuyết.
I/
Các hành vô
thường ( Phạn: Anitya sarvasamskarah, Pali: anicca, E:
impermanence), c̣n gọi là Nhất thiết hành vô
thường ấn, Nhất thiết hữu pháp vô
thường ấn, gọi tắt là Vô Thường ấn):
Tất cả các pháp hữu vi ở thế gian đều
vô thường, dời đổi, biến chuyển,
sinh diệt không ngừng. Chúng sinh không nhận biết
điều này nên đối với vô thường mà
lầm chấp là thường, nên triền miên
thống khổ, v́ thế Phật nói vô thường
để phá chấp thường của chúng sinh.
Vô thường là là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại, không arises, dwells, passes away, emptiness ). Từ tính vô thường ta có thể suy ra hai đặc tính kia là Khổ ( dukkha) và Vô ngă ( anatman). Vô thường là tính chất cơ bản của cuộc sống, không có vô thường th́ không có sự tồn tại, vô thường cũng chính là khả năng dẫn đến giải thoát . Có tri kiến vô thường, hành giả mới bước vào Thánh đạo. V́ thế tri kiến vô thường được xem là tri kiến của bậc Dự lưu. (Impermanence is the basis of life, without which existence would not be possible; it is also the precondition for the possibility of attaining liberation. Without recognition of anitya there is no entry into the supramundane path, thus the insight leading to “ stream entry”).
* Vô thường có hai loại: a). Sát na vô
thường, chỉ cho sự biến hóa trong từng
sát na, có sinh, trụ, dị, diệt. B) Tương
tục vô thường, chỉ trong một thời
kỳ có 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt nối
tiếp nhau.
* Có ba loại vô thường:
a) Niệm
niệm hoại diệt vô thường: trong
từng sát na nhỏ nhất đều ẩn chứa
sự hoại diệt vô thường.
b) Ḥa
hợp ly tán vô thường: mọi sự vật
hiện tượng ḥa hợp để rồi ly tán, tan
ră, vô thường.
c) Tất
cánh như thị vô thường : chân lư về sự vô
thường trong cuộc đời này là như thế.
Sự vô thường luôn luôn có mặt.
Trong Kinh Niết Bàn (
quyển 4) Phật nói về Vô thường như sau:
Thị sinh
diệt pháp
Sinh diệt
diệt dĩ
Tịch
diệt vi lạc
Dịch:
Các hành vô
thường
Là pháp sinh
diệt
Sinh diệt
hết rồi
Tịch
diệt là vui.
Thiền Sư Vạn Hạnh đời nhà Lư ( 1010 -1225) trước giờ thị tịch đă nhắc nhở chúng đệ tử về sự vận hành của vô thường qua bài kệ :
Thân như điện ảnh hữu hoàng vô,
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
Nhậm vận tịnh suy vô bố úy,
Thịnh suy như lộ tháo đầu phô”.
Xá chi suy thạnh việc đời
Thạnh suy như hạt sương rơi
đầu cành.
Kinh Kim Cang cũng nói :
Nhất
thiết hữu vi pháp
Như
mộng huyễn bào ảnh
Như
lộ diệc như diễn
Ứng tác
như thị quán.
(Tất cả pháp hữu vi,
như chiêm bao, ảo thuật, bóng nước, ảnh
tượng, sương mai, điện chớp, rất
cần phải có cái nh́n như thế)
Các pháp
thế gian thuộc hữu vi
Như
đêm đông giấc mộng đông thùy
Như
đồ giả dối không bền chắc
Như
bọt nước tan mất cấp kỳ.
Như
bóng trong gương nào phải có
Như
sương giọt nắng chẳng c̣n chi
Như
luồng điện chớp làm ǵ có
Nhận xét
như vầy mới thật tri.
Nhận
thức được như thế để không
khỏi đau khổ, lo âu, sợ hăi khi vô thường
đến.
II/
Các pháp vô ngă
( Phạn : Niràtmànahsarva-dharmàh), c̣n goiï là nhất thiết
pháp vô ngă ấn, gọi tắt là Vô ngă ấn). Tất
cả các pháp hữu vi ở thế gian nói chung đều
là vô ngă, không có chủ thể nhất định, chúng sinh
không rơ biết nên đối với tất cả pháp
lầm chấp là có chủ thể, v́ thế Phật nói Vô
ngă để phá trừ chấp ngaơ của chúng
sinh.
Vô ngă (Nonself-
Anatman) là một giáo lư căn bản của Đạo
Phật, cho rằng, không có một Ngă ( atman), một cái ǵ
trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn
tại độc lập nằm trong mọi sự
vật. Theo Đạo Phật, cái ngă, “cái tôi” cũng chỉ là
một tập hợp của “ năm nhóm” (Ngũ uẩn
- Five aggregates - Skandha), luôn luôn thay đổi,
mất mát và v́ vậy “ tôi” chỉ là giả hợp,
gắn liền với cái khổ đau, không có chủ
thể nhất định. Ví dụ, con người
được cấu tạo bằng một tổng
thể ngũ uẩn : Sắc uẩn, thọ uẩn,
tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
- Sắc uẩn:
chỉ cho phần vật chất, thân thể như
mắt, tai, mũi, lưỡi, đầu, ḿnh, tứ chi
- Thọ uẩn:
là chỉ cho toàn bộ cảm giác, không phân biệt chúng là
dễ chịu hay khó chịu hay trung tánh.
- Tưởng
uẩn: là nhận biết các cảm giác như âm thanh,
màu sắc, mùi vị... kể cả nhận biết ư
thức đang hiện diện.
- Hành uẩn:
vận hành của tâm lư, chỉ sự hoạt động
của tâm sau khi có tưởng, ví dụ như đánh giá,
vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác..
- Thức uẩn:
bao gồm sáu dạng ư thức liên hệ tới sáu giác
quan: ư thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ư.
Qua sự
phân tích chi tiết của năm uẩn trên ta không thấy
cái uẩn nào là của ta, vậy mà lâu nay ta lầm
tưởng uẩn này là thật có để rồi ta
tự gây đau khổ cho ḿnh và cho người.
III/ NIẾT
BÀN TỊCH TỈNH:
Niết bàn
tịch tĩnh (Phạn: Satamnirvanam, c̣n gọi là Niết
bàn tịch diệt ấn, Tịch diệt niết-bàn
ấn, c̣n gọi là Diệt, Diệt Tận, Diệt
độ, Tịch diệt, Bất Sinh,, Viên Tịch,
Giải thoát, Vô vi , An lạc , từ phổ biến và
gọi tắt là Niết bàn. Tất cả chúng sinh không rơ
biết khổ đau sinh tử cho nên tạo nghiệp,
trôi lăn trong ba cơi, sáu đường, v́ thế Phật
nói Niết Bàn tịch diệt cho chúng sinh quy hướng.
Niết bàn
là mục tiêu tối hậu phải đạt
được của tất cả những đệ
tử Phật, dù họ thuộc về tông phái nào, Nguyên
Thủy hay Đại Thừa. Theo Phật Giáo Nguyên Thủy,
Niết bàn được xem là đoạn tuyệt ṿng
luân hồi ( Samsara) và đi vào một thể tồn
tại khác ( Nibbana is departure from the cycle of rebirths and entry
into an entirely different mode of existence). Đó là sự tận
diệt gốc rễ của ba độc: tham, sân và si ( desire,
hatred & delusion). Đồng thời Niết Bàn có nghĩa
là không c̣n chịu sự tác động của
nghiệp (Karma/action), không c̣n chịu quy luật của nhân
duyên, ở trạng thái vô vi, tức là đặc tính
thiếu vắng sự sinh, trụ, dị, diệt
hoặc thành, trụ, hoại, không. C̣n theo Phật giáo
Đại Thừa, Niết Bàn được xem là sự
thống nhất với cái Nhất thể tuyệt
đối ( sự b́nh đẳng của chúng sinh-
Sattvasamata), sự thống nhất luân hồi với dạng
“ chuyển hóa” của nó. Niết bàn được xem
như sự lưu trú trong tính tuyệt đối, sự
an lạc khi thấy ḿnh cùng một thể với tuyệt
đối, khi thấy ḿnh giải thoát khỏi mọi
ảo giác, mọi biến tướng của tham ái.
Có hai loại Niết Bàn:
a) Hữu dư
Niết bàn :
Tiếng phạn : Savupadisesa-Nibbana: Niết bàn c̣n tàn dư, Niết bàn trước khi tịch diệt. Niết bàn này là trạng thái của các thánh nhân đă loại bỏ phiền năo, không c̣n tái sinh. Các vị này c̣n sống trên đời nên vẫn c̣n ngũ uẩn, c̣n có nhân trạng, nên gọi là “ hữu dư”.
b) Vô dư
Niết bàn :
Tiếng phạn: Anupadisesa-nibbana: là Niết bàn không c̣n – ngũ uẩn, mười hai xứ, mười tám giới và các căn. Niết bàn Vô Dư đến với một vị A La Hán sau khi viên tịch, không c̣n tái sinh. Loại Niết Bàn này cũng được gọi là Niết Bàn toàn phần hay Bát Niết Bàn.
Bát Chánh Đạo - con đường đưa
tới Niết bàn:
Kinh Tăng Nhất A Hàm ( số 18), các vị Tỳ kheo hỏi Tôn giả Xá Lợi Phật về Niết Bàn: “ Bạch Đại Đức, làm thế nào để an trụ trong Trung đạo, làm thế nào để tuệ nhăn sanh, làm thế nào để trí tuệ sinh và làm thế để đưa tới Niết bàn”. Ngài Xá Lợi Phật trả lời: “ Này chư Hiền giả, đó là con đường Bát Chánh Đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Đó chính là con đường đưa hành giả vào trung đạo, làm cho tuệ nhăn sinh, làm cho trí tuệ sinh và làm cho an trụ vào Niết bàn”.
Bát Chánh Đạo : con đường tám
nhánh giải thoát khỏi khổ đau để
đạt đến Niết bàn, là chân lư cuối trong
Tứ Diệu Đế. Bát Chánh Đạo là một trong 37 Bồ
Đề Phần. Đó chính là: 1. Chánh kiến: ǵn giữ
một quan niệm xác đáng về giáo lư; 2. Chánh
tư duy: suy nghĩa hay có một mục đích
đắn, suy xét về ư nghĩa của bốn chân lư
một cách không sai lầm; 3. Chánh ngữ: không nói
dối, không nói lời phù phiếm; 4 Chánh nghiệp:
không phạm các giới luật; 5. Chánh mạng: tránh
các nghề nghiệp giết hại như đồ
tể, thợ săn, buôn bán vũ khí, thuốc phiện; 6.
Chánh tinh tấn: siêng năng phát triển nghiệp
tốt, loại bỏ nghiệp xấu; 7. Chính niệm:
tỉnh giác và tu tập trên ba nghiệp: thân, khẩu và ư; 8.
Chánh định: tập trung tâm ư để đạt
bốn tầng thiền xuất thế gian. Bát Chánh Đạo
không nên hiểu là những “ con đường” riêng
biệt mà chính là ba môn học mà hành giả phải thực
hành triệt để xuyên qua Giới ( gồm chánh
ngữ, chánh nghiệp & chánh mạng), Định ( gồm
Chánh tinh tấn, chánh niệm & chánh định) và Tueä
(gồm Chánh kiến & chánh tư duy). Chánh kiến
là điều kiện tiên quyết để đi vào Thánh
Đạo và đạt đến Niết bàn.
Kết luận :
Trong Kinh Trung Bộ, Đức Phật dạy: “ Này chư Tỳ kheo, từ xưa cho đến nay, ta chỉ nói lên hai vấn đề: Khổ và phương pháp diệt khổ”. Khổ là các hành vô thường, các pháp vô ngă ( pháp ấn thứ 1 và 2), và phương pháp diệt khổ chính là Niết bàn tịch tĩnh ( pháp ấn thứ 3).
Cuộc sống hiện nay và ngày mai vô cùng náo động và cuồng nhiệt, con người luôn đánh mất ḿnh trong mọi sát na của đời sống vật chất, phù du giả tạm này, để rồi cuối cùng phải chịu sự chi phối, hành hạ của vô thường, khổ đau, của sinh tử luân hồi. Tam pháp ấn là giáo lư căn bản của Phật giáo giúp cho chúng ta suy ngẫm và áp dụng vào trong đời sống của chính ḿnh, để cho đời ḿnh bớt khổ./.
_____________________________
Tham khảo từ các tài liệu : Phật Học Phổ Thông ( HT Thiện Hoa); Từ Điển Phật Học ( Chân Nguyên – Nguyễn Tường Bách; The Encylopedia of Eastern Philosophy and Religion ( Ed. Stephan Schumacher & Gert Woerner)