Tên gọi của Đức Phật là « Thích-ca
Mâu-ni » có nghĩa là « Bậc Tịch tĩnh trong họ Thích-ca »,
« Trí giả trầm lặng trong họ Thích-ca », chữ Phạn
mauni có nghĩa là yên lặng. Phật còn có tên là « Mahamuni » :
Maha là lớn, « Mahamuni » là « Bậc yên lặng
Lớn lao » hay vị « Đại Thánh nhân của Yên lặng ».
Thật vậy, Phật là một vị Tịch Tĩnh, một Trí giả trầm lặng và
những lời Phật dạy đều nhắm vào mục đích dẫn dắt chúng sinh
đến cõi an vui và êm ả, an bình và phẳng lặng. Tất cả mọi
ngôn từ đều già nua và tan biến, đều sinh và tử, chỉ có yên
lặng là trường tồn và sinh động : cái yên lặng của Phật từ
hơn hai ngàn năm trăm trước vẫn còn nguyên trong lòng chúng
ta hôm nay, nếu chúng ta biết nhìn thấy nó và lắng nghe được
dư âm của nó trong ta.
Sự yên lặng đó được chứng minh
qua cách sinh sống của Phật, hiển lộ trong từng hành vi của
Phật, bàng bạc trong những lời giảng huấn của Phật. Sự yên
lặng ấy mênh mông như không gian và vô tận như thời gian. Ta
hãy thử cố gắng tìm hiểu một phần nào ý nghĩa của sự yên
lặng lớn lao đó qua Đạo Pháp của Phật, vì biết đâu sự yên
lặng vô biên ấy chính là sự giải thoát.
Yên
lặng trước những câu hỏi
Có một số câu hỏi đã được nêu
lên để hỏi Đức Phật, nhưng Ngài không trả lời vì đó là những
câu hỏi đặt sai và vô ích. Bám víu vào những câu hỏi ấy bằng
những biện luận thuần lý sẽ rơi vào cạm bẫy của sự hiểu biết
quy ước, công thức và nhị nguyên. Cạm bẫy ấy sẽ đưa đến
tranh luận vô tận và thắc mắc tiếp nối nhau, đánh lạc hướng
sự tu tập. Nhiều vị thầy sống đồng thời với Đức Phật, tức là
vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, đã từng chủ xướng nhiều
chủ thuyết trong lãnh vực triết học siêu hình. Nhưng Đức
Phật đã che chở cho các đệ tử của Ngài tránh khỏi những cạm
bẫy ấy, không phải bằng cách cấm đoán, bằng biện luận hay
giải thích, nhưng bằng sự yên lặng. Có tất cả 14 câu hỏi đại
loại như sau mà Phật không giải đáp :
1-
Vũ trụ có trường tồn bất diệt hay không ?
2-
Vũ trụ không trường tồn bất diệt ?
3-
Vũ trụ đồng thời vừa trường tồn bất diệt, vừa
không-trường-tồn-bất-diệt ?
4-
Vũ trụ đồng thời vừa không-trường-tồn-bất-diệt
cũng không phải là không-trường- tồn-bất-diệt ?
5-
Vũ trụ có biên giới hay không ?
6-
Vũ trũ có vô biên hay không ?
7-
Vũ trụ đồng thời vừa có giới hạn lại vừa vô biên
?
8-
Vũ trụ đồng thời không phải là có giới hạn, nhưng
cũng không phải là không có giới hạn ?
9-
Sự sống và thân xác là một thứ như nhau ?
10-
Sự sống và thân xác có phải là hai thứ khác nhau
?
11-
Một sinh linh được giải thoát có hiện hữu sau khi
chết hay không ?
12-
Một sinh linh được giải thoát không còn hiện hữu
sau khi chết ?
13-
Một sinh linh được giải thoát hiện hữu nhưng đồng
thời cũng không hiện hữu sau khi chết ?
14-
Một sinh linh được giải thoát, đồng thời không
hiện hữu cũng không phải là không-hiện-hữu sau khi chết
?
Trên đây là những gì Kinh
Cula-Malunkya-sutta đã ghi chép lại, bộ kinh này trình
bày « Những câu hỏi vô ích » do một đệ tử của Phật
tên là Malunkyaputta nêu lên để hỏi Đức Phật. Ngài không trả
lời trực tiếp những câu hỏi ấy, nhưng hướng những thắc mắc
của Malunkyaputta vào những gì thiết thực hơn : những khổ
đau đang diễn ra trước mặt và những gì đang làm cho
Malunkyaputta phải bấn loạn trong tâm thức :
«Này Malunkyaputta, mặc dù có một quan
điểm theo đó vũ trụ vô tận và có một quan điểm [khác]
theo đó vũ trụ không vô tận, nhưng trước nhất phải hiểu rằng
có sinh, có già, có chết, có khổ, có than khóc, có đớn đau,
xót xa và tuyệt vọng. [Đối với] Ta, Ta [chỉ]
giảng [cho con] về sự chấm dứt những thứ ấy trong thế
giới này, trong chính sự sống này. Vì thế, này
Malunkuyaputta, hãy giữ lấy trong tâm những gì Ta giảng,
đúng như Ta đã giảng, và những gì Ta không giảng, đúng như
Ta không giảng…»
(trích kinh Cula-Malunkya-sutta, bản
dịch tiếng Pháp của Mohan Wijayaratna)
Kinh sách có chép câu chuyện như
sau : một người bị tên tẩm thuốc độc, nhưng không chịu nhổ
mũi tên và băng bó, chỉ thắc mắc về người bắn mũi tên và dây
cung làm bằng loại gì, việc bào chế thuốc độc ra sao…, nếu
tiếp tục thắc mắc như thế, người này sẽ chết trước khi tìm
được giải đáp cho các thắc mắc ấy. Đức Phật không phải là
một giáo chủ áp đặt những giáo điều, cũng không phải là một
triết gia hay khoa học gia để đưa ra những lời giải thích về
vụ trụ hay những biện luận siêu hình, Đức Phật là một vị
Thầy tâm linh chỉ dẫn cho ta nhìn thấy bản chất sự hiện hữu
của chính ta, đồng thời Đức Phật cũng là một vị Lương y chữa
chạy cho ta thoát khỏi khổ đau để tìm thấy sự an vui đích
thực và lâu bền. Sau đây là một đoạn khác trong kinh
Cula-Malunkya-sutta nhắc lại tính cách vô bổ của những
biện luận siêu hình và thuần lý :
« Sự hiểu biết những thứ ấy không giúp
cho sự thăng tiến trên đường tu tập, vì nó chẳng lợi ích gì
cho sự an bình và giác ngộ. Những gì lợi ích cho sự an bình
và giác ngộ mà Đức Phật thuyết giảng cho các đệ tử của Ngài
là những điều sau đây : sự thật về khổ đau, nguồn gốc của
khổ đau, sự loại bỏ khổ đau, con đường đưa đến sự loại bỏ
khổ đau »
(trích kinh Cula-Malunkya-sutta, bản
dịch của Etienne Lamotte)
Thay vì Đức Phật tham dự vào
những biện luận vô tận của nhị nguyên và quy ước, Ngài đã
lôi Malunkyaputta trở về thực tế để nhìn thẳng vào bản chất
thực sự của thực tại. Phật đã trao cho người đồ đệ
Malunkyaputta và cho cả chúng ta hôm nay một viên thuốc thật
mầu nhiệm, nhưng Phật không hề đề cập gì đến kích thước của
vũ trụ. Khi viên thuốc của Đạo Pháp đã ngấm vào tâm thức ta,
làm tan biến những độc tố của vô minh, bản thể vũ trụ sẽ
hiện ra với ta một cách minh bạch, không cần phải hỏi Phật
cái vũ trụ đó có bất diệt hay không.
Yên lặng là một cánh cửa mở
rộng, là không gian vô tận, thắc mắc thuần lý là một hành vi
khép lại, một thể dạng của nhị nguyên và trói buộc. Nếu suy
ngẫm kỹ lưỡng ta sẽ nhận thấy đặc tính thật tinh tế trong
cách trình bày cũng như các lời giảng của Phật trong kinh
sách. Chẳng hạn như cách trình bày các câu hỏi trong kinh
Cula-Malunkyaputta-sutta trên đây, mỗi thắc mắc được nêu
lên tuần tự bằng bốn câu hỏi :
- vũ trụ bất diệt ?
- vũ trụ không bất diệt ?
- vũ trụ vừa bất diệt vừa không
bất diệt ?
- vũ trụ vừa không bất diệt cũng
không phải là không bất diệt ?
Nếu chỉ đặt một câu hỏi duy nhất
: vũ trụ có bất diệt hay không ? Câu hỏi sẽ « thiếu
sót », tính cách phiến diện sẽ đưa đến sự tranh cãi triền
miên. Phần thứ hai của câu hỏi ; vũ trụ có phải là không
bất diệt hay không ? Hai cách trình bày của câu hỏi nêu
lên tính cách đối nghịch của nhị nguyên : có và
không. Phần thứ ba và thứ tư của câu hỏi : vũ trụ vừa
bất diệt lại vừa không bất diệt, vừa không bất
diệt cũng không phải là không bất diệt, là cách
hoá giải toàn bộ cho câu hỏi, sự thắc mắc trở nên vô nghĩa.
Tóm lại một câu hỏi nếu « đầy đủ » sẽ có sẵn câu trả lời là
như vậy, sự yên lặng của Phật thật vô cùng sâu sắc.
Ta hãy nhìn vấn đề trên đây dưới
một khía cạnh khác. Khi hỏi Phật về vũ trụ có bất diệt hay
không, thì chính Malunkyaputta đã vô tình vướng mắc vào các
lầm lỗi như sau :
- xem vũ trụ là một tổng thể rõ rệt,
trong khi đó vũ trụ chỉ là một sự cấu hợp hỗn tạp.
- xem vũ trụ đang hiện hữu một cách
vững chắc, nhưng vũ trụ chỉ là sản phẩm của vô thường.
- xem vũ trụ là một thực thể bên
ngoài tâm thức, nhưng thật ra vũ trụ chỉ là một phóng
ảnh của tâm thức.
Những lỗi lầm thô thiển như thế
cho thấy câu hỏi của Malunkyaputta là một câu hỏi đặt sai.
Tuy nhiên, như vừa trình bày trên đây, phần thứ ba và thứ tư
của câu hỏi liên quan đến thắc mắc về vũ trụ có phải vừa
là bất diệt lại cũng vừa không bất diệt đã gián
tiếp hoá giải có và không, hiện hữu và không hiện hữu,
tức những lạm dụng của ngôn từ nhị nguyên.
Câu hỏi của Malunkyaputta có vẻ
như hữu lý, nhưng thật ra vô nghĩa, vô nghĩa vì dựa
vào cách diễn đạt quy ước, công thức và đối nghịch. Cũng xin
minh chứng thêm với các nhà khoa học và các triết gia là
những người Phật giáo đi tìm sự thật tuyệt đối, một sự thật
đúng thật của thực tại, thoát khỏi bản chất ảo giác, vô
thường và biến động, sự thực ấy người Phật giáo gọi là sự
thực tuyệt đối của hiện thực. Họ không đi tìm sự thực mang
tính cách tương đối, xác định bởi sự quan sát, mô tả, đo đạt,
những lập luận dựa trên toán học hay các giả thuyết của
người làm khoa học, và đồng thời cũng không dựa vào những
biện luận duy lý của các triết gia.
Tóm lại sự yên lặng của Phật là
một phương pháp cắt đứt quá trình tư duy thuần lý, phá bỏ
tính cách quy ước và công thức của ngôn từ, kể cả sự hiểu
biết tương đối của khoa học và sự hiểu biết thuần lý của các
triết gia. Sự hiểu biết trong Phật giáo là một sự hiểu biết
trực nhận bằng kinh nghiệm, phát hiện bằng tu tập và bằng
cách biến cải tâm linh, một sự hiểu biết siêu nhiên, trong
sáng và tuyệt đối. Sự hiểu biết ấy gọi là Trí tuệ.
Sư
yên lặng của giác cảm
Có một khái niệm vô cùng quan
trọng trong Phật giáo nhưng tương đối ít người chú ý tìm
hiểu sâu xa : đó là khái niệm về lục căn (ayatana).
Phật giáo xem não bộ là một giác quan như những giác quan
khác, thí dụ tai thì nghe được tiếng động, não bộ thì cảm
nhận được tư duy và xúc cảm. Vậy
lục căn là gì :
-
nhãn căn : thị giác, mắt
-
Nhĩ căn : thính giác, tai
-
Tỹ căn : khứu giác, mũi
-
Thiệt căn : vị giác, lưỡi
-
Thân căn : xúc giác, thân
-
Ý căn : tư duy và xúc cảm, tri giác (não bộ).
Cách phân loại và định nghĩa trên đây là
một đặc thù của Phật giáo. Khái niệm lục căn làm nòng
cốt và đồng thời cũng là đối tượng cho việc tu tập vì chúng
là nguồn gốc phát xuất tất cả mọi sai lầm và bấn loạn. Cách
phân loại thông thường gồm có lục căn, nhưng nếu đi
vào chi tiết sẽ thấy kinh sách phân biệt thành mười hai loại
(dvadasa ayatana) : một bên là sáu cơ quan cảm nhận và một
bên là sáu loại vật thể hay đối tượng được cảm nhận, gọi
chung là mười hai thế giới hay lãnh vực
thuộc tri thức cảm nhận.
Sáu cơ quan giác cảm được gọi
là sáu nguồn gốc bên trong của sự nhận biết
(grahaka), gồm có : nguồn gốc từ mắt (caksurayatana), nguồn
gốc từ tai (srotrayatana), từ mũi (ghranayatana), từ lưỡi
(jihvayatana), từ thân (kayavatana), từ tâm thần
(mana-ayatana). Sáu đối tượng bên ngoài (grahya)
của sự cảm nhận là : hình tướng (rupayatana), âm thanh
(sabdayatana), mùi (gandhayatana), vị (rasayatana), cấu trúc
(cứng, mềm, nóng, lạnh…) (sprastavyayatana), tâm ý
(dharmayatana). Sở dĩ gọi là nguốn gốc vì chúng giữ
vai trò làm phát sinh ra sự phân biệt nhị nguyên « chủ
thể - đối tượng » (grahya-grahaka), và làm trung gian
giữa chủ thể bên trong và đối tượng bên ngoài.
Tuy nhiên trên một phương
diện khác, kinh sách lại phân loại sáu nguồn gốc bên trong
và sáu nguồn gốc bên ngoài trên đây thành ba nhóm :
-
nhóm thứ nhất gồm năm nguồn gốc bên trong :
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.
-
nhóm thứ hai gồm năm nguồn gốc bên ngoài :
hình tướng (nhìn được bằng mắt), âm thanh, mùi, vị, vật thể
sờ mó (nhận biết) được bằng sự đụng chạm.
-
nhóm thứ ba là nguồn gốc tri thức bên trong và
nguồn gốc các đối tượng của nó (tức những hiện tượng
tâm thần).
Sự vận hành của não bộ
và các đối tượng tâm thần mang những đặc tính khá đặc
biệt và phức tạp, nên đã được kinh sách xếp vào một nhóm
riêng như bảng phân loại trên đây. Những đối tượng của sinh
hoạt não bộ thường được hiểu lầm là cái tôi, cái
của tôi, cái ta, cái ngã (atman)... Sự
sinh hoạt não bộ được nuôi dưỡng bởi các nguồn gốc
thuộc hai nhóm thứ nhất và thứ hai (mắt, tai, mũi, lưỡi…,
hình tướng, âm thanh, mùi, vị…)
Kể lể dông dài như trên đây
có phải là lạc đề hay chăng ? Thưa không, vì mười hai nguồn
gốc cảm nhận trên đây là mười hai nguồn gốc đem đến ô nhiễm,
tức là những nhiễu âm, những tiếng ồn ào
khuấy động tâm thức, đánh mất sự yên lặng của tâm thức. Hiểu
rõ sự vận hành của lục căn sẽ quán nhận dễ dàng hơn ý
nghĩa của sự yên lặng trong Đạo Pháp của Đức Phật.
Ta hãy lấy thí dụ trường hợp
của nhĩ căn (tai) và âm thanh. Âm thanh là đối tượng
nhận thức của tai. Tai ghi nhận được âm thanh, tín hiệu phát
xuất từ tai do âm thanh kích động truyền lên não bộ, não bộ
cảm nhận được các tín hiệu ấy và nhận biết hay «
hiểu » đó là « âm thanh ». Âm thanh
là những làn sóng gồm nhiều tầng số từ thấp lên cao, tai chỉ
cảm nhận được một giai tầng nào đó của âm thanh mà thôi.
Người lãng tai không nghe thấy những âm thanh quá yếu và
người điếc thì không nhận biết được âm thanh, người điếc bẩm
sinh thì hoàn toàn không có một kinh nghiệm gì về âm thanh.
Người đang xao lãng, dù cho âm thanh kích động tai và tai
truyền tín hiệu lên não hẳn hoi, nhưng ý căn không
cảm nhận được vì bị sự xao lãng che lấp.
Khi não bộ cảm nhận được tín
hiệu từ tai và « hiểu » đó là âm thanh, thì sự hiều
biết ấy là sự diễn đạt sơ khởi nhất phát sinh từ ý căn
hay tri giác. Sự diễn đạt của não bộ, hay tri giác,
hay nói một cách tổng quát hơn là tâm thức, không dừng lại
đó. Tại sao ? Tại vì có những âm thanh thuần túy là tiếng
động, có những âm thanh là tiếng chửi rủa, tiếng cười, tiếng
kêu khóc, tiếng hát, tiếng đàn, tiếng ngợi khen, tiếng chê
bai trách móc, tiếng êm ái dịu dàng, tiếng đâm chém, súng
nổ, tiếng bom đạn…Sự nhận biết và ý nghĩa của những âm thanh
ấy là do ý căn diễn đạt. Sự diễn đạt cũng không phải
chỉ dừng ở các dạng thể hiểu biết vừa kể, vì tự động xúc cảm
sẽ phát sinh liên đới với cách diễn đạt các tín hiệu : chẳng
hạn như vui buồn, thích thú, sân hận, thèm muốn, hy vọng, lo
âu, sợ hãi, kinh hoàng v.v…, những xúc cảm này lại tiếp tục
gây ra ít hay nhiều bấn loạn trong tâm thức, kế tiếp là
những bấn loạn hay giao động sẽ chuyển thành những phản ứng
trên thân xác và sinh ra hành vi.
Sự yên lặng của tâm thức hay
ý căn là một thể dạng loại bỏ được tất cả các cấp bậc
diễn đạt như vừa kể trên đây. Một tâm thức tiếp nhận thế
giới bên ngoài xuyên qua lục căn nhưng không diễn đạt
gì cả là một tâm thức an bình, phẳng lặng, một tâm thức hoàn
toàn tịch tĩnh. Những xúc cảm do ý căn diễn đạt sẽ
đưa đến bám víu hay ghét bỏ, từ bám víu hay ghét bỏ sẽ đưa
đến ý đồ, từ ý đồ biến thành những hành vi duy ý. Tứ thập
nhị chương kinh có ghi lại lời của Đức Phật Ca-Diếp (một
vị Phật quá khứ) qua lời giảng của Đức Phật Thích-Ca như sau
:
Dục sanh ư nhữ ý
Ý dĩ tư tưởng sanh
Nhị tâm các tịch tĩnh
Phi sắc diệt phi hành
(trích trong Phật học Từ điển
của cụ Đoàn Trung Còn)
Tạm dịch nghĩa như sau:
[Tham] dục (bám víu,
ghét bỏ) sinh ra từ ý (ý đồ)
Ý [đồ] phát sinh từ
tư tưởng (sự diễn đạt)
[Nếu] cả hai (ý và tư
tưởng) [trở nên] phẳng lặng (yên lặng)
[Sẽ] không có sắc
(tham dục) cũng không có hành vi (duy ý)
Các câu kệ trên đây tóm lược
quá trình lôi kéo của sự diễn đạt phát sinh từ giác quan thứ
sáu, tức là ý căn hay tâm thức.
Sự yên lặng của Thiền định
Một trong những mục đích của
thiền là làm phát lộ một tâm thức phẳng lặng và an bình
(samatha), vậy dạng thể an bình và phẳng lặng của tâm thức
liên quan như thế nào với sự vận hành của lục căn ?
Tu thiền hay Zen là phương pháp luyện tập giúp « tâm thức
lắng xuống » hoặc nói một cách khác là « không suy
nghĩ », xin hiểu không suy nghĩ trong trường hợp
này là không để tâm thức bị chi phối bởi mọi thứ tư duy và
xúc cảm liên tiếp lôi kéo nhau để sinh khởi và hiển hiện.
Vậy, thể dạng « tâm thức lắng xuống » và « không
suy nghĩ » chính là sự « yên lặng ».
Sự yên lặng của tâm
thức theo Thiền tông là một thể dạng « nguyên thủy » hay «
tinh khiết » trước khi bị khuấy động bởi tâm ý (ý
đồ), bởi sự suy xét và các khái niệm, có nghĩa là mọi sự
diễn đạt. Thể dạng tâm thức không bị khuấy động bởi bất cứ
một sự diễn đạt nào là một thể dạng thật thăng bằng, yên
lặng và trong sáng. Thể dạng ấy biểu hiện cho « sự chận
đứng » quá trình lôi kéo sau đây : cảm nhận – diễn
đạt – tư duy – xúc cảm – ý đồ – ngôn từ và hành vi duy ý.
Sự yên lặng của một tâm thức không bị khuấy động có thể thực
hiện được nhờ « tư thế ngồi thiền » và các cách tu tập khác
nhau tùy theo các học phái. Ngồi im, chỉ còn lại sự chuyển
động duy nhất của hơi thở, sẽ giúp cho tâm thức lắng xuống.
Ta thử lấy một thí dụ thực
tiễn như sau. Ta đang ngồi im để thiền định, đang quan sát
sự vận hành của tâm thức, cố gắng theo dõi và làm lắng xuống
mọi tư duy và xúc cảm. Nhưng bổng nhiên có một người nào đó
ngoài cửa hay phòng bên cạnh xì xầm, nói xấu hay bình phẩm
không tốt về ta. Ta chú tâm lắng nghe, mặt ta có thể bừng
nóng và rất có thể ta sẽ đứng lên tìm người này để đối
thoại, cải chính hoặc hơn thua. Hoặc khi đang ngồi thiền, ta
nghe hai người hàng xóm cãi vã nhau trước sân nhà, càng lúc
họ cãi nhau càng hăng, văng ra những lời thô tục, có vẻ như
sắp đánh nhau hay đâm chém nhau. Trường hợp này tuy không
liên quan gì đến ta, nhưng rất có thể ta cũng sẽ đứng lên để
chạy ra xem. Tất cả những phản ứng trên đây, tức những hành
vi duy ý, là do sự diễn đạt sinh ra. Âm thanh là làn sóng
thuộc nguồn gốc bên ngoài kích động nguồn gốc bên trong tức
là tai (nhĩ căn), từ tai sinh ra tín hiệu truyền lên
não bộ, não bộ tiếp nhận, phối kiểm dựa vào trí nhớ tức sự
hiểu biết và kinh nghiệm nhị nguyên, công thức và quy ước
tích lũy từ trước, não bộ (ý căn) diễn đạt
những tín hiệu ấy thành tiếng nói và tiếng gây gổ. Sự diễn
đạt tiếp tục được đẩy xa hơn : tiếng nói là nói xấu ta,
tiếng gây gổ cho thấy sắp đưa đến xung đột…, những diễn đạt
ấy đưa đến xúc cảm : tức gận vì bị nói xấu, tò mò vì sắp
được xem hai ngươì choảng nhau. Những xúc cảm như tức giận,
tò mò chuyển thành hành vi duy ý làm cho ta bỏ tư thế
ngồi thiền và đứng bật dậy. Tại sao phải xác định rõ ràng
hành vi trên đây là một hành vi duy ý, vì chưng mọi hành vi
duy ý sẽ tạo ra nghiệp, nghiệp (karma) có nghĩa là hành
động. Có những hành vi không chủ tâm hay duy ý, chẳng hạn
như tiêu hoá, ợ, khạc, khép mở mi mắt, duỗi tay chân…những
hành vi này gọi là trung hoà. Tuy gọi là trung hoà nhưng
thật ra vẫn kích động để tạo ra nghiệp, nhưng nghiệp phát
sinh thật nhỏ gần như không đáng kể. Tất cả mọi chuyển động
đều sinh ra hậu quả…chỉ trừ có sự yên lặng toàn diện, một
thể dạng bất bạo động tuyệt đối từ thân xác đến tâm thức,
mới không làm phát sinh ra nghiệp mà thôi.
Vậy một người đang hành thiền
phải làm thế nào để tránh không bị ngoại cảnh kích động và
đứng lên ? Họ phải chận đứng quá trình diễn đạt phát xuất từ
ý căn. Ta không thể nào chận đứng các làn sóng âm
thanh, cũng không thể cấm cản tai tiếp nhận những làn sóng
đó, cũng không thể ngăn chận não bộ tiếp nhận các tín hiệu.
Ta có thể ứng dụng thí dụ này đối với các giác quan khác như
thị giác, khứu giác v.v… Tóm lại sự vận hành của lục căn
liên đới với ngoại cảnh vẫn giữ nguyên trong tình trạng vận
hành bình thường, nhưng sự diễn đạt không xảy ra, người hành
thiền vẫn ý thức một cách minh bạch sự tiếp xúc của tâm thức
với thế giới bên ngoài, nhưng xúc cảm và ý đồ không hiển
hiện.
Khi đã ý thức và chủ động
được lục căn, người hành thiền có thể giữ cho tâm
thức thăng bằng và phẳng lặng bất cứ trong hoàn cảnh nào,
trong khi sinh hoạt bình thường, tức không cần phải ngồi im.
Người này có thể đang làm việc, đang đi giữa chợ, ngoài
đường phố, giữa sự ồn ào và biến động của ngoại cảnh, nhưng
tâm thức vẫn yên lặng, thanh thản, giống như đang làm việc
hay đang bước đi trong một cảnh giới thật êm ả, thanh thoát,
an bình và rạng rỡ. Cũng cần phải minh định là dạng thể ấy
không phải là một dạng thể vô thức và tê liệt của giác cảm,
trái lại là một dạng thể mở rộng và bén nhậy của lục căn,
một trạng thái thật tỉnh thức, khác với tình trạng sao lãng,
vô cảm, chẳng hạn như bị điếc, mù, hôn mê bất tỉnh…Hôn mê
hay các giác quan bị tổn thương không ghi nhận được tín hiệu
là một thể dạng yên lặng của cái chết không phải là sự yên
lặng của một tâm linh tỉnh thức.
Công án và sự yên lặng của Thiền tông
Thiền là một phương pháp tu
tập trong yên lặng, thực thi triệt để sự yên lặng, giới hạn
tối đa ngôn từ quy ước và nhị nguyên. Ngoài số kinh điển căn
bản của Phật giáo Đại thừa được xử dụng trong Thiền tông,
các « kinh điển » (roku) đặc thù của học phái này chỉ gồm
các giai thoại, các mẫu đối thoại ngắn (mondo) và nhất là
những công án (koan). Gốc tiếng Hán của công án là
gong’an, tiếng Triều tiên là kongan, tiếng Nhật
là koan, nhưng chữ công án không thấy ghi chép trong
kinh sách cổ điển bằng tiếng Phạn hay tiêng Pa-li. Công án
là một ứng dụng mới mẻ về những lời Phật dạy khi Thiền tông
phát triển rộng rãi ở Trung quốc, tức vào thế kỷ thứ VI,
nhất là từ thế kỷ thứ X cho đến ngày nay. Công án gồm hàng
ngàn mẫu chuyện hay câu phát biểu ngắn và những lời trích
dẫn từ kinh sách, tất cả được gom lại trong nhiều tập như
Bích nham lục, Vô môn quan, Thong dong lục,
Lâm tế lục…Các kinh sách của Thiền tông ghi chép tổng
cộng 1700 công án, ngày nay độ một phần ba trong số đó vẫn
được thường xuyên xử dụng trong việc tu tập, mặt khác các vị
thiền sư hiện đại vẫn tiếp tục sáng chế thêm các công án
mới. Mỗi thiền sinh khi quy y thường được người thầy ban cho
một công án. Vậy công án là gì?
Nghĩa từ chương của công án
là một « án lịnh », một « tài liệu ghi nhận
các sự kiện công khai ». Đối với Thiền tông, công án là
một phương thức dùng vào việc tu tập tâm linh. Vị
thầy ban cho người đệ tử một công án và người đệ tử tự do
tìm hiểu, suy tư và tự tìm lấy lời giải đáp. Có thể xem công
án là một hình thức đối thoại giữa thầy và trò, nhưng thật
ra chủ đích của công án không dùng để đối thoại vì ý nghĩa
của công án thường mang tính cách phi lý, vô nghĩa, bất ngờ,
ngớ ngẫn…nói chung là vượt ra khỏi mọi lý luận, mọi hiểu
biết quy ước và quá trình suy luận thông thường. Công án
cũng có thể đơn giản là sự yên lặng, có thể là một chữ duy
nhất, một câu độc ác hay một cử chỉ rất thô bạo của người
thầy, có thể là đánh đập, mục đích giúp cho người đệ tử thức
tỉnh. Sau đây là vài thí dụ về công án :
-
« Con chó có Phật tính hay không ? » : công án của
thiền sư Triệu Châu.
-
« Tiếng vỗ của một bàn tay » : công án của thiền sự
Bạch Ẩn.
-
« Gương mặt nguyên thủy của anh như thế nào, trước
khi anh được sinh ra trong kiếp sống này ? » : công án của
lục tổ Huệ Năng.
-
« Phật là gì ? » - « Ba cân hạt gai » : công án của
thiền sư Động Sơn.
-
« Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ » (phùng Phật
sát Phật, phùng Tổ sát Tổ) : công án của thiền sư Lâm Tế.
-
Nếu có ai đặt bất cứ một câu hỏi nào với thiền sư Câu
Chi, ông cũng chỉ đưa một ngón tay lên thay cho câu trả lời.
Một hôm có một phật tử hỏi chú tiểu, đệ tử của sư, rằng sư
đã dạy gì cho chú, chú đưa ngay một ngón tay lên để trả lời.
Sư nghe được chuyện này liền cho gọi chú vào và bất thần
chộp lấy bàn tay của chú rồi lấy dao chặt luôn ngón trỏ.
Người đệ tử sợ quá ôm bàn tay đầy máu me mà chạy. Sư cầm dao
đuổi theo, bất thần trợn mắt hét lên một tiếng, người đệ tử
quay lại, sư đưa một ngón tay lên. Người đệ tử giật mình dù
có muốn bắt chước cũng không còn ngón tay để đưa lên, liền
bất thần đạt được giác ngộ.
Tính cách bất ngờ, đột biến và
phi lý của công án nhắm vào mục đích chận đứng sự diễn đạt
quy ước của tâm thức. Tình trạng hoang mang và phi lý khi
đối đầu với một công án sẽ đưa tâm thức rơi vào sự yên lặng,
lọt ra khỏi mọi tiêu chuẩn bám víu. Nếu một thiền sinh cố
tình tiếp tục bám vào sự suy diễn thuần lý hay cách lý luận
công thức, thì công án sẽ chẳng có hiệu quả gì cả. Đới với
Thiền tông, ngôn từ không có ý nghĩa, không thể dùng để giải
đáp các công án, đại loại các câu hỏi như « con chó có
Phật tính hay không ? », « tiếng vỗ của một bàn tay »,
« gương mặt nguyên thủy trước khi sinh »,… không có
câu trả lời thích nghi. « Phật là gì ? » - « Ba
cân hạt gai ! », tính cách bất ngờ và phi lý giữa câu
hỏi và câu trả lời cắt đứt mọi phản ứng của lý trí, mọi chờ
đợi mang tính cách thuần lý sẳn có trong tâm thức. Hỏi đáp
như thế là một xảo thuật của ngôn từ giúp tâm thức trút bỏ
mọi biện luận để trở lại sự an bình, bản thể nguyên thủy của
tâm thức. Câu « gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ »
của thiền sư Lâm Tế trong tập Vô Môn quan là một loại
công án giúp thiền sinh hoảng sợ trút bỏ mọi bám víu, dù đó
là Phật hay Đạo Pháp cũng thế.
Ngón tay của thiền sư Câu Chi
đưa lên thay cho câu trả lời, ám chỉ sự dứt bỏ mọi ý niệm,
mọi biện luận duy lý, vượt khỏi tính cách vô nghĩa của ngôn
từ, đưa người hỏi trở lại sự yên lặng. Tuy nhiên ngón tay
vẫn còn là một cách diễn đạt, một cơ sở để bám víu. Chú tiểu
bị chặt mất ngón tay không còn gì để bám víu nữa, khi chú
ngoảnh lại thấy thầy mình cầm dao đang đuổi theo và hét lên
một tiếng đồng thời lại đưa một ngón tay lên, chú hoảng sợ,
bất chợt chực nhận được sự vô nghĩa và trống không của mọi
biện luận thuần lý và diễn đạt quy ước, giống như ngón tay
của chú đã bị chặt mất. Cũng nên ghi thêm ra đây là chú tiểu
sau này đã trở thành một thiền sư nổi tiếng.
Ta hãy trở lại thí dụ một người
đang hành thiền trong phân đoạn nêu lên trước đây, liên quan
đến khái niệm chận đứng « sự suy nghĩ » quy ước, nhị nguyên
và thuần lý, không cho phép ý căn « diễn đạt ». Nếu
khái niệm về sự chận đứng mọi suy nghĩ mang tính cách
khá lý thuyết, thì cách xử dụng công án nhất định là một
phương pháp thực hành, giúp cho ý căn không diễn đạt,
đưa ý căn hay tâm thức trở lại thể dạng tinh
khiết, an bình và phẳng lặng. Hành giả đang ngồi thiền nêu
lên trong thí dụ trước đây, tuy không bị những biến động bên
ngoài, chẳng hạn như nghe người khác nói xấu mình hoặc nghe
hai ngươì gây gổ, tạo ra xúc cảm bấn loạn để không đứng bật
dậy, nhưng người này vẫn có thể phản ứng bằng hai thái độ
khác nhau.
Thái độ thứ nhất là giữ tâm thức
phẳng lặng và an bình mặc dù nghe thấy người khác nói xấu
mình với ác ý và sai lầm, hoặc nghe hai người hàng xóm đang
gây gổ với nhau. Nếu giữ được tâm thức trong sáng, phẳng
lặng, ý căn cảm nhận âm thanh hay tiếng nói nhưng
không diễn đạt, sự yên lặng trong tâm thức vẫn tuyệt đối và
vô biên, ấy là « phản ứng » của một vị A-la-hán. Thái độ thứ
hai là người hành thiền phát lộ lòng xót thương và tư bi vô
biên đối với kẻ nói xấu mình với ác ý, thương họ đang vướng
mắc vào nghiệp tiêu cực, đối với những người đang cãi nhau
thì xót thương cho họ vì họ đang là con mồi của những xúc
cảm bấn loạn, họ đang run lên vì sân hận và sẳn sàng đâm
chém nhau. Những xúc cảm ấy tuy mang tính cách tích cực của
lòng từ bi, nhưng bản chất vẫn là những xúc cảm và xúc cảm
sẽ tiếp tục trói buộc người hành thiền trong thế giới luân
hồi. Trường hợp phát lộ lòng từ bi như vừa kể là « phản
ứng » của một vị Bồ-tát.
« Không
nói chính là lời nói của Phật »
« Nhập Lăng-già kinh » là
một bộ kinh quan trọng của Đại thừa Phật giáo, trình bày về
Phật tính và sự Giác ngộ vượt lên trên mọi khái niệm nhị
nguyên của ngôn từ. Trong bộ kinh này có ghi thật minh
bạch như sau : « Từ khi giác ngộ cho đến ngày tịch diệt,
Đức Phật chưa hề nói một lời nào cả, và cũng sẽ không thốt
lên một lời nào, bởi vì không nói chính là lời nói của Phật ».
Câu ấy có nghĩa là gì ? Có nghĩa là tất cả Đạo Pháp mà Phật
thuyết giảng đều dựa vào ngôn từ nhị nguyên và quy ước, bản
chất tối hậu của hiện thực không thể nói lên hay mô tả bằng
lời. Thế giới Ta-bà hay Niết-bàn cũng chỉ là
những danh xưng, là một cách diễn đạt công thức, không hàm
chứa một giá trị tuyệt đối nào. Nếu không có thế giới
Niết-bàn làm đối nghịch thì thế giới Ta-bà hay
luân hồi không có nghĩa gì cả, ngược lại nếu không có thế
giới Ta-bà, chỉ toàn là Niết-bàn, thì
Niết-bàn cũng chẳng có ý nghĩa gì. Trắng và đen, có và
không, tốt và xấu, chủ thể và đối tượng…đối nghịch với nhau
từng cặp, đó là đặc tính nhị nguyên của tất cả sự hiểu biết
quy ước của chúng ta. Khi đem ngôn từ nhị nguyên để chuyên
chở và diễn đạt sự hiểu biết thì sự hiểu biết đó không còn
là sự hiểu biết nữa, vì nó không thể nào mô tả một cách
thích đáng Chân như hay bản thể đích thực và tối
thượng của hiện thực. Chỉ có tu tập, sự yên lặng của
thiền định và trực giác tinh khiết của tâm linh, thoát khỏi
vô minh mới có thể quán nhận được sự thực tuyệt
đối hay bản thể đích thực của mọi hiện tượng, tức
mọi vật thể và biến cố đang bị chi phối bởi quy luật nhân
duyên và vô thường, chúng đang biến động không ngừng chung
quanh ta.
Trên đây là những gì tìm thấy
trong Đạo Pháp của Phật, nhưng trên thực tế Đức Phật cũng đã
từng thuyết pháp trực tiếp bằng sự yên lặng. Một lần trên
núi Linh thứu, trước cử tọa đông đảo đang yên lặng nhìn vào
Đức Phật để chờ nghe giảng, nhưng Đức Phật chỉ cầm một cánh
hoa đưa lên và không nói gì cả. Tất cả mọi người đều ngơ
ngác, chỉ riêng có một người đệ tử là ngài Ma-ha Ca-diếp
gương mặt bổng nhiên bừng sáng và mỉm cười. Khi nhìn thấy
cánh hoa và sự yên lặng của Phật, Ma-ha Ca-diếp bừng tỉnh và
đạt được giác ngộ. Sau đó Đức Phật đã nói với Ma-ha Ca-diếp
như sau : « Ta cất giữ Con mắt của Kho tàng Đạo Pháp, sự
quán thấy tinh tế về Niết-bàn, sự thông suốt ấy chính là
cánh cửa để quán thấy thế giới vô hình tướng, nó không còn
lệ thuộc vào chữ viết cũng như ngôn từ, nó được truyền thụ
bên trên mọi tín điều. Cái Kho tàng ấy, Ta trao lại cho
Ma-ha Ca-diếp ». Sự tích trên đây gọi là « Niêm hoa
vi tiếu » (cầm hoa mỉm cười) dùng để chỉ sự truyền Pháp
vượt thoát mọi ngôn từ quy ước, trực tiếp từ tâm thức đến
tâm thức (dĩ tâm truyền tâm). Cũng cần minh chứng
Niết-bàn là một khái niệm trong Phật giáo được diễn đạt
và định nghĩa khác nhau tùy theo trường hợp. Sau đây là định
nghĩa Niết-bàn theo bản dịch sang tiếng Hán vào thời Đường
của bộ kinh Lăng-già : « Niết-bàn có nghĩa là thấy
suốt vào trú xứ của thực tính, đúng thật với thực tính ».
Đối với Thiền tông, thấy suốt vào trú xứ của thực tính
chính là thể dạng của Trí tuệ Ba-la-mật. Cái Trí
tuệ đó được Quán Thế Âm tiếp nhận trực tiếp từ sự yên
lặng của Phật đang ngồi thiền định bên cạnh để giảng lại cho
ngài Xá-lợi-Phất trong « Bát-nhã Ba-la Mật-đa Tâm kinh ».
Trong các phân đoạn trước, ta
thấy rằng sự thật tuyệt đối của mọi hiện tượng, tức bản chất
tối hậu của hiện thực chỉ có thể quán thấy bằng tu tập, bằng
yên lặng và bằng trực giác của tâm linh, nhưng qua câu
chuyện trên đây ta lại nhận ra thêm một khía cạnh khác nữa
là bản chất tối hậu ấy của hiện thực chỉ có thể truyền thụ
bằng sự yên lặng, giữa tâm thức với tâm thức, chẳng hạn như
bằng sự tiếp nhận trực tiếp giữa tâm thức Giác ngộ của Phật
và tâm thức tỉnh thức của Ma-ha Ca-diếp.
Sau khi Phật nhập diệt, Ma-ha
Ca-diếp được xem như người đứng đầu hướng dẫn Tăng đoàn và
đồng thời cũng được xem là vị Tổ thứ nhất của Thiền tông Ấn
độ. Sự truyền thụ y bát tiếp nối đến vị tổ thứ 28 là Bồ-đề
Đạt-ma (470-573). Vào năm 520, Bồ-đề Đạt-ma dùng đường biển
đến Quảng Châu để truyền giáo tại Trung quốc, sư yết kiến
Lương Vũ đế tại thủ phủ Nam Kinh, nhưng không thuyết phục
được vị đế vương này, sư lại dùng thuyền vượt sông Dương Tử
đến Lạc dương và ẩn cư trong chùa Thiếu Lâm trên dãy Tung
Sơn. Sau chín năm yên lặng, không nói một lời nào, chỉ quay
mặt vào tường để thiền định cho đến ngày Huệ Khả đến xin gặp
sư và xin làm đệ tử. Bồ-đề Đạt-ma trở thành vị tổ thứ nhất
của Thiền tông Trung quốc, và sau này Huệ Khả được truyền
thụ và trở thành vị tổ thứ hai.
Sự
yên lặng của Huệ Khả
Trong thời gian truyền bá Phật
Pháp tại Trung Quốc, Bồ-đề Đạt-ma có quay trở về Ấn độ một
lần, và trước khi lên đường có gọi các đồ đệ lại để khảo sát
kiến thức của họ. Mỗi người đứng lên trình bày những hiểu
biết của mình về Đạo Pháp, và mỗi lần Bồ-đề Đạt-ma đều khen
là người này đã « đạt được phần da, phần thịt hay phần
xương của ông ». Đến lượt Huuệ
Khả đứng lên, nhưng chỉ nghiêng mình rôi đứng yên, Bồ-đề
Đạt-ma liền thốt lên : « Ngươi đã đạt được phần tủy của
ta rồi ». Thật vậy Đạo Pháp hay sự chứng ngộ không giải
thích được bằng ngôn từ.
Ngôn từ trong Đạo Pháp chỉ là
một cách thích ứng với xu hướng, tánh khí, khả năng và trình
độ hiểu biết của mỗi cá nhân, gián tiếp dùng để diễn đạt một
cái gì cao thâm hơn, một khía cạnh nào đó của hiện thực,
giúp mỗi cá nhân tránh khỏi thể dạng hoang mang, dầy đặc và
u mê của tầm thần. Thể dạng vượt thoát mọi định kiến và công
thức sẳn có là thể dạng « không bị nhốt » vào một khuôn phép
có sẳn, không bị ràng buộc trong sư kiềm toả và thao túng
của sự suy diễn và biện luận thuần lý. Quá trình suy diễn
hay biện luận thuần lý nếu hướng vào nội tâm sẽ đưa đến
hoang mang và bế tắc, nếu hướng vào sự tranh biện bên ngoài
sẽ đưa đến cải vả vô bổ hoặc ăn nói ba hoa bất tận mà thôi.
Nếu quán nhận được sự yên lặng của Phật, mọi lo âu, thắc mắc
do sự hiểu biết thôi thúc sẽ tan biến hết. Chính cái ngã
đã làm cho ta thèm khát, dù rằng đấy là sự thèm khát
hiểu biết. Dù mang tính cách cao cả nhưng sự thèm khát hiểu
biết vẫn đưa đến bám víu và sợ hãi, sợ hãi trước cái u mê
của ta, một thứ sợ hãi đã làm cho Malunkyaputta ngưng thiền
định để tìm Đức Phật mà hỏi : không biết vũ trụ có bất diệt
hay không ? Nếu quán nhận được ý nghĩa trong sự yên lặng của
Phật, ta sẽ cảm thấy thật an tâm, hình như ta đang ngồi bên
cạnh Phật, trong sự yên lặng của Phật.
Sự kiện không diễn đạt của tâm
thức không phải là một sự bế tắc, yên lặng không phải là một
ngõ bí, nhưng đúng hơn là một cánh cửa mở ra một thế giới
khác, một thế giới của nhất nguyên, không đối nghịch, không
chủ thể và đối tượng. Trong thế giới đó không có biện luận,
tranh cải, không có nội tâm và ngoại cảnh. Trong thế giới đó
ta có thể nói chuyện với hoa, nghe thấy tiếng côn trùng
trong cỏ dại, tiếng cựa mình của một hạt cát trong sa mạc,
cả tiếng trò chuyện giữa trăng sao. Ta sẽ quán nhận được quy
luật tương liên trong dạng thể thâm sâu nhất : một cánh hoa,
một vì sao trên trời hay một hạt cát trong sa mạc cũng không
khác gì với ta, chúng ở trong ta và ta đang ở trong chúng,
tất cả đều hội nhập và hài hoà với nhau.
Xin lược dịch một bài thơ trong
tập « Mài bóng mặt trăng và kéo cày trên thửa ruộng mây »
của Đạo Nguyên (1200-1253), một đại thiền sư Nhật Bản, như
sau :
Trong gió xuân hiền hoà,
Những cánh hoa rơi rụng.
Những lời ta vừa tụng,
Có mấy ai ngờ được,
Là tiếng hát của hoa ?
Sự
yên lặng của một nhà sư Tây tạng
Trong một quyển sách mới nhất
của học giả người Pháp Alain Grosrey, dầy hơn 900 trang, tựa
là Quyển sách lớn về Phật giáo (Le Grand livre du
Bouddhisme, nhà xuất bản Albin Michel), phát hành vào cuối
năm 2007, có thuật lại một cuộc tranh biện giữa một thiền sư
Hàn quốc và một đại sư Tây tạng như sau :
Cuộc gặp gỡ được tổ chức vào
thập niên 1970 tại Hoa kỳ giữa thiền sư Hàn quốc Seung Shan
và nhà sư Tây tạng Kalou Rinpoché. Các chuyên gia về Phật
giáo và các Phật tử Hoa kỳ tham dự rất chú tâm và chờ đợi sự
diễn biến của cuộc tranh luận giữa hai vị thầy uyên thâm về
Phật giáo trên đây. Mỗi vị thầy đều được một số đông đệ tử
của phe mình tháp tùng, hai bên trang phục đúng theo học
phái của họ. Buổi họp bắt đầu rất trang nghiêm và trịnh
trọng.
Thiền sư Hàn quốc khời sự trước,
có lẽ ông muốn dùng kỹ thuật hỏi đáp của thiền học đê thử
sức nhà sư Tây tạng. Ông móc một quả cam cất sẳn trong tay
áo rồi đưa lên hỏi nhà sư Kalou Rinpoché : « Cái này là
cái gì ? ». Cử tọa nhìn vào quả cam rồi nhìn chầm chầm
vào nhà sư Tây tạng để chờ câu trả lời, nhưng nhà sư Kalou
Rinpoché vẫn ngồi thật im trong tư thế thiền định, không nói
một lời nào và cũng không tỏ lộ một dấu hiệu gì cả. Nhà sư
Hàn quốc đứng lên dí quả cam vào mặt nhà sư Tây tạng và nói
thật to : « Cái này là cái gì ? ». Nhà sư Tây tạng
vẫn yên lặng và một lúc sau mới từ tốn ghé vào tai người
thông dịch ngồi bên cạnh, hai người to nhỏ vài lời. Nhà sư
Tây tạng lại tiếp tục ngồi im. Người thông dịch cất lời với
cử tọa : « Ông Rinpoché nói rằng : thế thì vấn đề
ở đâu ? Trên đất Tây tạng không có cam ».
Buổi gặp gỡ chấm dứt một cách
đột ngột và bất ngờ như thế. Tác giả Alain Grosrey thuật lại
câu chuyện trên đây để kết thúc một phân đoạn trình bày về
các công án của Thiền tông. Đúng vậy, câu chuyện xứng đáng
là một công án thật thâm thúy. Tuy nhiên ta có thể mở rộng
sự tìm hiểu trên vài khía cạnh khác của câu chuyện :
- Cuộc tranh biện tuy ngắn ngủi
nhưng thật thâm sâu và phong phú.
- Thiền tông và Phật giáo
Tan-tra là hai học phái hoàn toàn khác nhau, phát triển ở
hai vị trí địa lý khác nhau, nhưng đều gặp nhau trên mức độ
tối hậu của Đạo Pháp.
- Câu chuyện phản ảnh một phần
nào sự tích « Niêm hoa vi tiếu », nhưng ồn ào hơn
nhiều. Khi thiền sư Seung Shan đưa quả cam lên để hỏi. Tất
cả mọi người đều hiểu là quả cam, vì đó là một sự hiểu biết
quy ước sẳn có, tuy chờ câu trả lời nhưng câu trả lời họ
cũng đã biết (quả cam), họ chờ đợi một cái gì lý thú hơn nữa
đang kích động họ. Nhưng nhà sư Kalou Rinpoché lại không trả
lời, nếu như ông trả lời là « quả cam » thì sự tranh biện sẽ
tiếp tục, nếu ông trả lời là « quả chanh », thì sự tranh cải
sẽ nổi lên, không biết bao giờ mới chấm dứt. Kalou Rinpoché
trả lời là trên đất Tây tạng không có cam, ý muốn nói là
« quả cam » chỉ là một sự hiểu biết quy ước, không phải là
tuyệt đối, không có giá trị gì cả, không đáng trả lời, một
người Tây tạng sống trên Hy-mã-lạp sơn không hề biết quả cam
là gì, vậy chân lý ở đâu ? Dụng ý thứ hai là cách trả lời
bên cạnh câu hỏi, không liên quan trực tiếp đến câu hỏi,
chính là cách cắt đứt sự suy diễn duy lý, chận đứng sự diễn
đạt của ý căn. Ông đã dùng phương pháp của thiền để
trả lời cho câu hỏi của một thiền sư.
Sự
yên lặng của Như Lai và cái ồn ào của thế tục
Tam thân Phật là trú xứ của yên
lặng, sự tĩnh mặc mênh mộng ấy Phật đã đạt được khi Giác ngộ
và Phật cũng đã trao lại cho chúng ta, nhưng chúng ta có
nhìn thấy được sự yên lặng ấy hay không ?
Những dòng đầu tiên của kinh Kim
cương mô tả Đức Phật như một nhà sư thật đơn sơ, đi
khất thực, ăn xong, giải khát rồi ngồi xuống dưới một gốc
cây, tâm thức thật an bình và phẳng lặng. Đúng như vậy, Phật
đi chân đất, chỉ có hai chiếc áo cà-sa để thay đổi, khâu
bằng những mảnh vải vụn, và một bình bát để khất thực. Cái
đơn sơ và tĩnh mặc đó, Phật đã trả một giá rất đắt để đạt
được, cái giá của sự Giác ngộ. Cũng không phải khó để nhìn
thấy sự tương phản lớn lao giữa hai giai đoạn hiện sinh của
Phật : trước và sau khi Giác ngộ. Cuộc sống của Phật trước
khi Giác ngộ là một cuộc sống ồn ào và xa hoa trong cung
điện, tiếp theo là một cuộc sống khổ hạnh đầy chịu đựng, tâm
thức luôn luôn bị chấn động trước khổ đau của chúng sinh,
trước màn vô minh dầy đặc đang bao trùm thế gian này. Giai
đoạn thứ hai là giai đoạn an bình và tĩnh mặc sau khi Phật
đã Giác ngộ và đã nhìn thấy bản thể đích thực của hiện thực,
cái bản chất trống không và yên lặng của mọi
hiện tượng.
Sau đó, trong bốn mươi chín năm
hoằng pháp Phật đã thuyết giảng cho chúng ta con đường giải
thoát khỏi khổ đau của thế gian này, con đường đưa ta từ sự
bấn loạn đến an vui, từ ồn ào đến yên lặng, đồng thời Phật
cũng đem chính cuộc sống của Ngài để làm gương cho chúng
ta : cuộc sống ồn ào của cung điện đổi sang cuộc sống đơn sơ
và bình lặng của một nhà sư khất thực. Cách sống yên lặng đó
chính là phản ảnh của Chân như : sự yên lặng chính là
Niết bàn, Niết bàn là yên lặng. Khi già yếu, trên đường
hoằng Pháp, Phật dừng lại ở một khu rừng vắng vẻ, Phật gấp
chiếc áo cà-sa làm tư để gối đầu và nằm xuống đất giữa hai
gốc cây sa-la. Phật nằm nghiêng sang một bên, hai chân duỗi
thằng, chân này gác lên chân kia.
Một số người trong chúng ta tự
xưng là Phật tử, nhưng chúng ta luôn luôn đi ngược với con
đường của Phật đã đi, chúng ta hướng từ sự đơn sơ đến phức
tạp, từ nghèo khổ đến giàu sang, từ bần hàn đến cung điện,
từ yên lặng đến ồn ào, dù sự dấn thân đó được thực hiện trên
thực tế hay chỉ bằng mơ tưởng và ảo giác. Chúng ta cần có sự
ồn ào, ồn ào khi sinh ra đời, trong từng biến cố của sự
sống, ồn ào khi nằm xuống. Dù đã nằm xuống, chúng ta vẫn còn
cố hãnh diện với trống kèn, bông hoa, nhang khói, tiếng khóc
thương, phúng điếu, tung niệm, cầu siêu…Chúng ta luôn luôn
đi ngược hướng với Phật, phóng tầm mắt ra phía trước để nhìn
vào ảo giác của một Niết bàn đang ở phía sau lưng.
Trong chương năm của kinh Kim
cương, Phật hỏi một đệ tử là Tu-bồ-đề rằng Như Lai có
phải là 32 tướng tốt chính và 80 tướng tốt phụ hay không,
Tu-bồ-đề trả lời là không. Phật lại nói tiếp như sau : « Này
Tu-bồ-đề, chính là như thế, tất cả những gì là tướng đều
mang tính cách lừa phỉnh. Tất cả những gì không phải là
tướng sẽ không lừa phỉnh. Không phải nhờ vào tướng mà nhận
ra Như Lai, tất cả những gì gọi là tướng chỉ là trống không,
chẳng có gì cả ngoài những cái gọi là tướng ». Ngoài
những cái gọi là « tướng », Như Lai đích thực là trống không,
vắng vẻ và yên lặng. Chúng ta đây, chẳng có một tướng tốt
nào cả, nhưng lại cố tìm cách thêm đủ mọi « tướng » vào phía
trước và phía sau cái tên gọi vô nghĩa do cha mẹ đặt ra :
nào chức tước, bằng cấp, huân chương, trọng trách…Những cái
« tướng » ấy trước hết chỉ dùng để nuôi nấng và củng cố cái
ngã của ta, sau đó để loè bịp và lường gạt những
chúng sinh chất phác khác mà thôi.
Bằng Đạo Pháp, Phật mở ra cho ta
một thế giới êm ả, an bình và hạnh phúc, thay vì bước vào ta
lại bước ra. Cái cánh cửa của thế giới đó ta không thấy, ta
bị thu hút bởi thế giới đối nghịch, ồn ào và biến động, đang
làm cho ta choá mắt. Trong tập công án nổi tiếng mang tựa đề
là Vô môn quan (Ải không cửa vào) của thiền sư Huệ
Khai (1183-1260) có viết như sau :
Đại đạo vô môn, thiên sai hữu
lộ
Thấu đắc thử quan, càn khôn
độc bộ
Tạm dịch như sau :
Con đường thênh thang [tuy]
không cửa, [nhưng] có nghìn lối vào
Qua được cổng ấy, vũ trụ
[thong dong] riêng một bước
Nhưng cái bước của ta lại là cái
bước ngược chiều. Từ bản thể trong sáng của Phật tính ta
bước vào thể dạng vô minh và bấn loạn của tâm thức, từ sự
bình lặng và an vui của sự sống ta chen chân vào thế giới
của mưu đồ và tính toán. Khi nhìn lên tượng Phật, ta không
nhận ra cái sâu thẳm và yên lặng trên gương mặt của Phật, ta
chỉ nghe thấy tiếng chuông mõ ồn ào và tiếng tụng niệm cầu
an, và chú ý xem có đọc đúng tên của ta đã ghi trên tờ sớ
hay chăng.
Thay lời kết
Ngôn từ là nguồn gốc của tranh
cải, ồn ào là nguồn gốc của xao lãng và mê lầm, yên lặng là
an bình và hạnh phúc. Ngôn từ mang tính cách giới hạn và
chật hẹp, nhưng yên lặng thì vô biên, vượt khỏi những kích
thước của thời gian và không gian. Yên lặng chính là cốt tủy
của Đạo Pháp và Niết bàn, hiển lộ từ dạng thể bất bạo động
tuyệt đối của thân xác và tâm thức, thể dạng đó phẳng lặng,
yên vui và an bình, đơn thuần và không đối nghịch, biểu
hiện bằng sự tự do tuyệt đối.
Xin trở lại sự tích « Niêm
hoa vi tiếu » như một lời kết luận sau cùng. Khi Đức
Phật cầm một cánh hoa đưa lên, Phật vẫn là một vị Phật, một
đấngTịch tĩnh ; cánh hoa vẫn là cánh hoa, không đẹp cũng
chẳng xấu, vẫn yên lặng như một cánh hoa ; Ma-ha Ca-diếp vẫn
là một đệ tử của Phật, nụ cười thoáng hiện và tắt đi trong
yên lặng. Giữa sự Giác ngộ của Phật, cái yên lặng của một
cánh hoa và tâm linh tỉnh thức của Ma-ha Ca-diếp, không có
đối tượng cũng không có chủ thể : không có Phật, không có đệ
tử, không có cánh hoa nào cả, không có người giảng, không có
lời giảng, cũng không có người nghe, tất cả là nhất
nguyên, chỉ có đám đông đang giao động, ngơ ngác và chờ
đợi mà thôi.
Bures-Sur-Yvette , 27.03.08