|
Sự đóng góp của Phật giáo về công bằng xã hội
HT. Thích
Thiện Nhơn
Từ khi có mặt trên thế giới này, sự công bằng, bình đẳng, dân
chủ và tự do là những ước vọng muôn đời của con người. Những ý
niệm ấy được đặt trên nền tảng của đạo đức. Nếu thiếu đạo đức
thì công bằng xã hội chỉ mang tính khái niệm nhiều hơn là một
hiện thực. Liên quan đến vấn đề này, hơn 2500 năm qua, Phật giáo
đã thể hiện được rất nhiều sự quan tâm thiết thực. Sở dĩ như vậy
là vì mục tiêu của đạo Phật là kiến tạo cho đời sống nhân sinh
những giá trị mang chất liệu của hạnh phúc, yêu thương, bình an
và lợi lạc.

Hoa rụng trong thềm chùa - Ảnh: XNA
Thế nhưng, với sự biến đổi vô cùng tận của các thực thể xã hội
để rồi các hệ lụy khổ đau luôn song hành trong đời sống con
người, Phật giáo đã, đang và sẽ làm được gì để góp phần giải
quyết vấn nạn ấy? Từ trên nền tảng giáo lý đạo Phật ứng dụng vào
thực tiễn cuộc sống con người và xã hội nhằm định hình cho những
nếp nghĩ, việc làm và hành vi xã hội, ngang qua những khía cạnh
dưới đây của người viết, rất có thể sẽ làm sáng tỏ nhiều hơn về
vấn đề này.
1. Vai trò của đạo đức cá nhân
Trong xã hội công bằng, mỗi con người đều phải nỗ lực thực hiện
đạo đức cá nhân, hoàn thành nhân cách bản thân, làm tròn bổn
phận của mình. Mối quan hệ giữa A và B chỉ có giá trị bền vững
khi và chỉ khi nó được thể hiện dưới biểu tướng của sự hỗ tương,
bình đẳng và cùng có lợi. Đức Phật dạy: “Cha mẹ đối với con cái
cần thực hiện 5 điều. Con cái đối với cha mẹ cũng thực hiện 5
điều. Chồng đối với vợ thực hiện 5 điều và vợ cũng phải thực
hiện 5 điều. Thầy đối với trò thực hiện 5 điều. Ngược lại, học
trò đối với thầy cũng như thế. Bạn bè đối xử với nhau cũng thực
hiện 5 điều. Người lãnh đạo thực hiện 5 điều. Người giúp việc,
tôi tớ, nhân viên cũng phải thực hiện 5 điều để đáp lại. Tu sĩ
thực hiện 5 điều đối với tín đồ và ngược lại tín đồ cũng phải
thực hiện 5 điều đáp lại.” (Trường Bộ. 16, Trung Bộ. 135, M.
31).
Trong các mối quan hệ xã hội ấy, nếu được duy trì bằng những giá
trị đạo đức thì kết quả của xã hội sẽ khác xa những thực trạng
của xã hội hiện nay. Và đặc biệt, đối với những mối quan hệ của
nhà lãnh đạo luôn có một ảnh hưởng rất lớn đến cơ chế và tình
hình xã hội. Cho nên, đối với những nhà lãnh đạo mẫu mực, Phật
giáo đưa ra 10 tiêu chí đạo đức để quản trị một xã hội tiến bộ:
Nhà lãnh đạo không được lạm dụng tài sản công cộng, hết lòng vì
sự phát triển của quốc gia.
Nhà lãnh đạo biết tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân.
Nhà lãnh đạo phải luôn luôn đem tài sản, lương thực, nhu yếu
phẩm chia sẻ cho dân chúng.
Nhà lãnh đạo chỉ nhận những tài sản, của cải vật chất hợp pháp,
thuế vụ công minh.
Nhà lãnh đạo luôn luôn giữ thái độ hòa kính, tôn trọng nhân dân.
Nhà lãnh đạo có đời sống lành mạnh.
Nhà lãnh đạo không được liên hệ với các tệ nạn xã hội.
Nhà lãnh đạo không nên hiếu chiến, hung bạo.
Nhà lãnh đạo xét xử phải công minh, không lạm dụng luật pháp để
gây oan trái cho nhân dân.
Nhà lãnh đạo phải có đủ sức khỏe để lãnh đạo đất nước.
Nói cách khác, nếu người lãnh đạo đối xử với nhân dân bằng đạo
đức thì tự thân quần chúng nhân dân sẽ tự đi vào quỹ đạo của tự
giác, đó là điều căn bản nhất tạo thành một xã hội công bằng,
bình đẳng, đạo đức, phát triển bền vững lâu dài, an vui, hạnh
phúc tại thế gian (Tăng Chi Bộ Kinh, 46 - Dasa Raja Dhamma
Jataka).

Mái chùa - Ảnh tư liệu
2. Vai trò đạo đức Phật giáo đối với quan hệ xã hội
Trên bình diện quan hệ đạo đức, giáo lý đức Phật đã khẳng định
rằng, nếu 5 nguyên tắc đạo đức được thực hiện nghiêm túc thì các
tiêu chuẩn của một xã hội công bằng sẽ được hiện thực hóa trong
đời sống nhân sinh. Điều đó đồng nghĩa rằng, hạnh phúc là một
hiện hữu thực sự chứ không phải là một lý thuyết để con người mơ
ước nếu chúng ta thực hiện đầy đủ các điều kiện của nó.
Ở đời, ai cũng thích sống còn, ai cũng muốn được an vui hạnh
phúc, ai cũng biết quý trọng những giá trị của bản thân. Chính
vì thế, chúng ta cũng phải biết quý trọng những giá trị thuộc về
người khác. Do đó, những hành động giết hại hay hủy diệt đời
sống của một sinh linh cho đến gây hấn chiến tranh, hủy hoại
hàng loạt, cần phải lên án và ngăn chặn một cách hiệu quả. Như
khế kinh nói:
Ai cũng sợ gươm đao,
Ai cũng thích sống còn.
Hãy lấy lòng mình suy lòng người,
Chớ giết người, chớ bảo giết người,
Chớ tùy hỷ giết người.
(Pháp Cú, 5)
Mặt khác, ai cũng thích bảo vệ tài sản, của cải, vật chất của
mình thì vì lẽ gì mình lại đi cưỡng đoạt, chiếm lấy của người.
Thậm chí, những hiện tướng tiêu cực của tham ô, tham nhũng, lừa
đảo, móc ngoặc... đã và đang là hiểm họa của rất nhiều nước trên
thế giới. Chính vì không chế ngự được lòng tham mà người người
lo sợ, nhà nhà đề phòng, đất nước nghèo nàn, xã hội lạc hậu. Tất
cả hậu quả đó nhân loại chúng ta đã và đang phải gồng mình chịu
đựng. Chỉ có điều, nếu chúng ta biết chiêm nghiệm lời dạy của
người xưa: “Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ” thì
xã hội hiện nay đã không còn bóng dáng của khổ đau, nghèo đói.
Một vấn đề nữa cũng mang tính thời sự không kém, đó là hạnh phúc
của gia đình. Đây là phạm trù có rất nhiều khái niệm và khía
cạnh liên quan. Nhưng cơ bản nó vẫn được định giá trên các tiêu
chí của tiết dục, chung thủy, anh em hòa thuận, vợ chồng ấm êm,
con cái ngoan hiền… Chính vì thế mà sự loạn luân, quan hệ bất
chánh, bất hòa và những thuộc tính tiêu cực khác sẽ là những tác
nhân phá hoại các biểu thức của hạnh phúc và luôn được xem là
trái với luân lý, đạo đức của xã hội cũng như cá nhân. Phật giáo
với nguyên tắc thứ ba là đời sống gia đình lành mạnh đã trở
thành tiêu chuẩn mẫu mực cho mô hình gia đình hạnh phúc. Với
nguyên tắc ấy, các hành vi mang chất liệu độc hại cho đời sống
hạnh phúc sẽ là đối tượng để chúng ta chuyển hóa. Ai cũng muốn
bảo vệ gia đình, hạnh phúc cá nhân mình thì có lý nào lại nhẫn
tâm phá hoại hạnh phúc của người khác. Nếu chỉ vì một sự thỏa
mãn của dục vọng mà mình đi ngược lại với đạo đức, chà đạp lên
luân lý, thì đó là một tội ác không chỉ với cá nhân mà còn đối
với xã hội và cộng đồng.
Có thể nói rằng, con đường đi đến hạnh phúc có trăm ngàn nẻo,
nhưng tôn trọng sự thật là yếu tố quan trọng đưa đến hạnh phúc
vững bền. Thông thường, không một ai thích bị lừa dối, phỉnh
gạt. Vì sao? Vì sai sự thật không bao giờ được chấp nhận là một
phần của chân lý. Chân lý thì trước hết phải là sự thật. Giả dối
chỉ là sự biểu hiện không nghiêm túc của một ý thức hình sin. Nó
không thể là chất liệu cần thiết cho sự vững bền của hạnh phúc
con người. Thế nhưng, trong thực tế của cuộc sống, sự giả dối
được xem là một phần của hoạt động con người. Nó thường hiện hữu
trong lời nói, hành động, ý nghĩ của chúng ta. Và với tỉ lệ càng
cao bao nhiêu thì chỉ số hạnh phúc sẽ tỉ lệ ngược bấy nhiêu. Bởi
vậy, nguyên tắc thứ tư của đạo đức Phật giáo đề cao sự tôn trọng
sự thật chính là để bảo đảm sự tín nhiệm lâu dài và bền vững
trong các quan hệ xã hội giữa con người với nhau. Như cổ đức
nói: “Một lời nói chính xác thì được 10 ngàn người sử dụng, tin
tưởng. Một lời nói không đúng thì không thành tựu các công việc
trên thế gian này.” (Nhất ngôn trúng, vạn ngôn dụng. Nhất ngôn
bất trúng, vạn sự bất thành).
Một yếu tố nữa liên quan đến hạnh phúc của con người, đó là sức
khỏe. Ở đời ai cũng mong muốn mình được mạnh khỏe, tinh thần
minh mẫn. Nhưng muốn được khỏe mạnh thì xa lánh các chất độc hại
được coi là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất trong Phật
pháp. Với nguyên tác đạo đức thứ năm là không sử dụng các chất
kích thích, đời sống của người Phật tử thường được mặc định là
thanh tịnh hoàn toàn. Bởi thế, người thực hành nguyên tắc này,
các chất gây say xỉn, xì ke, ma túy, các chất hêroin… đều xem là
độc tố không những làm cho con người phải hư hỏng mà còn trở
thành sản phẩm xa xỉ, vô ích cho một đời sống hạnh phúc. Trong ý
nghĩa công bằng ấy, mọi người sẽ an vui hạnh phúc, xã hội ổn
định, minh mẫn nếu mỗi chúng ta tự thiết lập cho mình một đời
sống lành mạnh hoàn toàn.
3. Ý nghĩa của phúc lợi xã hội
Xuất phát từ lòng từ bi, không ái nhiễm, bình đẳng trong các mối
quan hệ, đức Phật dạy phương pháp phân chia lợi dưỡng theo tinh
thần lợi hòa đồng quân. Cách thức này không bình quân hóa tất cả
mà là chú trọng ở sự chia sẻ dựa trên tinh thần yêu thương và
cảm thông. Đứng về phương diện phúc lợi xã hội mở rộng trên các
lĩnh vực giáo dục, văn hóa, y tế, lương bổng, bảo hiểm, tiền
thưởng, khen thưởng… thì mọi người đều sẽ được hưởng đồng đều
bằng tình thương và bình đẳng. Trong đó, người có năng lực chia
sẻ cho người yếu kém hơn để họ tự vươn lên bằng con đường của
chính họ. Với tình thương đồng loại, cuộc sống của cả hai, người
chia sẻ và người được sẻ chia, đều không bị chi phối bởi tham
lam, sân hận, mà thay vào đó là những nỗ lực chuyển hóa nghiệp
lực của cá nhân và cộng đồng. Người có khả năng sẽ hỗ trợ cho
người yếu hơn vững tin trên con đường hướng về hạnh phúc, còn
người yếu hơn sẽ nỗ lực trong công tác xã hội, hoàn thiện bản
thân, phát triển tình người trong cộng đồng, gây nhân bố thí,
tùy hỷ trước mọi thành tựu của người khác, đồng thời san bằng
những bất ổn trên đường đời để cùng hướng về một xã hội ấm no
hạnh phúc, bình đẳng và công bằng, không có sự đàn áp, bóc lột
nhau trong văn minh, tiến bộ, đạo đức được phát huy. Như ca dao
Việt Nam có câu: “Ở đời muôn sự của chung. Nhường cơm sẻ áo sống
cùng với nhau”.
Hương
hoa súng đầu mùa - Ảnh: Giang Phong
4. Về phương diện nông nghiệp, công nghiệp và mậu dịch
Với tinh thần vô tham, bình đẳng và tình thương chan chứa trong
mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp đều có sự tương quan
bằng hình thức và phương pháp thực hiện chân chính, hợp lý, công
bằng. Giới sản xuất công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp, giới
nông nghiệp phục vụ lương thực cho công nghiệp. Mối quan hệ đó
luôn thể hiện rất rõ sự bình đẳng, tương xứng, hợp lý trong cung
- cầu chính đáng, hợp pháp, chân thật, bền vững. Vì mọi người
đều thừa nhận giá trị sản phẩm phải được định lượng tương xứng
và hợp lý, không ai bị thiệt thòi, không bị ép giá, không có
những rào cản trong mối quan hệ sản xuất và tiêu dùng. Như thế
gian thường nói: “Của một đồng, công một nén…” Do đó, tất cả
phải được tôn trọng lẫn nhau để cùng phát triển bền vững trong
xã hội hiện nay. Như đức Phật đã dạy, khi mặc chiếc áo trên thân
nên nghĩ công lao người dệt vải, hàng ngày dùng ba bữa, phải
nghĩ sự cực khổ của người nông dân. Đó chính là nền tảng của mối
quan hệ bình đẳng trong xã hội Phật giáo.
Về phương diện thực hiện lối sống lành mạnh, nghề nghiệp chân
chánh thì có bốn yếu tố:
Đầy đủ các phương tiện, có trình độ, giỏi tay nghề.
Giữ gìn tài sản hợp pháp.
Kết thân, liên hữu mọi thành phần có thiện chí.
Đầy đủ chính mệnh.
Nói khác đi, giáo lý đức Phật cho rằng, Một đời sống đích thực
luôn đi kèm với nếp sống lành mạnh, lựa chọn nghề nghiệp, tạo
địa vị, sự giàu sang một cách chân chính và bằng sự nỗ lực tự
thân cũng như đạo đức nhân bản. Do đó, Đức Phật dạy: “Chân chính
về sinh hoạt và nghề nghiệp là nguyên nhân chủ yếu chấm dứt khổ
đau đời này và những đời sau”. Đây là công năng của con đường
Bát Chánh trong việc xây dựng xã hội công bằng, chân chánh, bình
đẳng, dân chủ, tự do. Và điều đó cũng chính là nội dung của đoạn
kinh sau:
Phương tiện tạo nghề nghiệp
Tích lũy nên giữ gìn
Người thiện nam, trí thức
Tự sống với chính mệnh
Tịnh tín, giới đầy đủ
Bố thí, lìa tham lam
Trừ bỏ con đường mê
Đời sau được an lạc
Nếu sống trong gia đình
Thành tựu các pháp ấy
Hiện tại được an ổn
Hiện tại sống Hỷ lạc
Đời sau cũng Hỷ lạc.
(Tạp
A Hàm, 91).
Như vậy, với nền tảng không mong cầu tư lợi, không chiếm đoạt
của người, không lừa dối nhau, giáo lý Phật Đà đã định hướng rất
rõ một con đường xây dựng xã hội, con đường đó chính là năm
nguyên lý đạo đức và con đường Bát Chánh. Với con đường này, đức
Phật đã chỉ cho chúng ta thấy một xã hội lý tưởng điển hình ở
cõi Tây Ngưu Hóa Châu: “Chúng sinh cõi ấy đem súc vật đổi lấy
cơm gạo, áo tiền, thuốc men, máy móc, y phục. Lấy thuốc men, vải
vóc trao đổi cơm áo, súc vật một cách cân đối đồng đều, công
bằng, hoan hỷ mậu dịch với nhau không có sự tranh chấp kiện thưa.”
(Trường Bộ Kinh, số 30).
Tóm lại, bằng giáo lý thực tiễn được xây dựng trên tinh thần từ
bi, bình đẳng, đạo đức nhân bản của con người, đạo Phật đã cải
thiện đời sống tâm linh, làm bớt đi tham ái, sân hận, để thay
vào đó là sự hỷ xả với nhau, thương yêu đùm bọc nhau, chia sẻ
cho nhau những kinh nghiệm tri thức, những tài sản vật chất,
phúc lợi xã hội, để cùng phát triển trong sự cân đối giữa trí
tuệ và vật chất, thể xác và tâm hồn, hay giữa người với người
trong cộng đồng xã hội.
Và như vậy, đạo Phật đã xây dựng cho con người một định hướng về
xã hội thuần lương, chân thiện mỹ không những về một hình thái
mà còn cả chất liệu an bình, giải thoát mang tính chân thật,
vững bền và cứu cánh. Trong xã hội ấy, tham sân si, khổ đau, bất
công sẽ không còn hiện hữu. Thật như đức Phật nói: “Nơi nào có
tình thương, chân thật, bình đẳng, công bằng thì nơi ấy không có
khổ đau. Vì nguyên nhân của khổ đau là tham dục đã bị đoạn trừ.
Và chính đấy cũng là một thế giới hoàng kim, thiên đường, cực
lạc tại nhân gian” (Trung Bộ Kinh).
Và cũng chính là tấm lòng từ bi, vô tham, vô sân, vô si mà hoa
tình thương nở rộ trong lòng người và trên khắp mọi nẽo đường
của xã hội công bằng, bình đẳng, hạnh phúc lâu dài, đời này và
đời sau cho đến khi hoàn toàn giải thoát.
Source:
giacngơnline
|