|
SỰ
QUAN TRONG CỦA VIỆC THỰC HÀNH |
|
|
Tôi sẽ
nói ít lời về việc thực hành.
Nói chung, chúng ta có nhiều điều
để học về Phật Giáo Tây Tạng.
Đức Sakya Pandita đã nói rằng để
trở thành một người có phẩm
tánh toàn hảo, ta nên nghiên cứu
thật đầy đủ những bánh xe Pháp
(Pháp Luân) khác nhau. Sau khi nghiên cứu, ta
suy niệm và sau đó là thiền
định. Sự suy niệm được thực
hành như căn bản của thiền định
và kết quả cuối cùng của nó là
sự thiền định. Sau khi nghiên cứu,
việc ghi lại những thiện xảo để
làm lợi lạc cho người khác thì
thật tốt đẹp. Sự giảng dạy và
tranh luận cũng ích lợi.
Mục đích
của tất cả những điều này là
thực hành thiền định. Tất cả
những Đạo sư vĩ đại mà bạn
sẽ gặp đều hoàn toàn có
đủ thẩm quyền nhờ sự nghiên cứu.
Sau đó là sự thiền định và
chứng ngộ. Tôi đã hoàn tất
việc nghiên cứu hàn lâm của tôi
vào năm 1990. Tôi giảng dạy một thời gian
nhưng tôi nghĩ rằng mình nên thiền
định thêm nữa nhờ đó có
thể chứng nghiệm những gì tôi
đã giảng dạy. Tôi cần có trí
tuệ từ thực hành thiền định.
Không có gì sai lầm trong sự giáo
dục và giảng dạy nhưng chúng bị
hạn chế. Cốt tủy của những giáo
lý nằm trong việc thực hành. Bạn
có thể hiểu biết một mức độ
nào đó nhờ việc nghiên cứu
nhưng sự thực hành thiền định cho phép
bạn thấu suốt trái tim. Tôi đã
có cơ hội và sự hỗ trợ để
nhập thất trong ít năm vừa qua. Sáu
tháng qua tôi đã du hành và thấy
được người ta quan tâm tới Pháp
ra sao. Nếu tôi thực hành thêm thì
tôi đã thấy rằng tôi có thể
làm lợi lạc cho họ hơn nữa. Điều
này cũng giống như nếu bạn nhai thực
phẩm thật kỹ, bạn sẽ thưởng thức
được mùi vị của nó. Nhờ
thực hành giáo lý ta sẽ có kinh
nghiệm nội quán hơn nữa. Vì thế
đó là mục đích của việc
nhập thất thiền định.
Khi tôi
nhìn vào tiểu sử của những vị
như Milarepa và xem các ngài thực hành
ra sao, tôi nhận ra rằng không có sự
chứng ngộ nào mà không có sự
thiền định từng bước một. Sự thực
hành thiền định có thể khó
khăn và đầy thách thức nhưng nếu
ta thực hành liên tục thì sự chứng
ngộ sẽ xuất hiện. Còn nếu ta không
thực hành thì sự chứng ngộ luôn luôn
càng lúc càng xa. Trong dòng Kagyu, việc
thực hành được chú trọng hơn
sự hiểu biết. Thật dễ dàng giải
thích giáo lý một cách trí thức
nhưng điều này không giúp đỡ
được gì khi bi kịch hay những thách
thức đầy cảm xúc xuất hiện. Trí
tuệ chỉ có trong những quyển sách
chứ không có trong chúng ta. Milarepa đã
nói: “Tôi không phải là một
Hóa Thân của một Đại Bồ Tát,
tôi chỉ là một người bình
thường đã thực hành nghiêm
nhặt.” Shantideva nói rằng khi ta có thể
nỗ lực mỗi ngày thì những gì
khó khăn sẽ trở nên dễ dàng.
Ví dụ như việc nghiên cứu có
vẻ khó khăn nhưng khi ta chuyên tâm
mỗi ngày thì ta có thể học tập
được. Cho dù không khao khát đạt
được chứng ngộ, nhưng nếu ta thực
hành hàng ngày thì sự chứng ngộ
cũng cận kề.
Đời người
quý báu cho ta cơ hội để thành
tựu điều gì đó, vì thế ta
không nên lãng phí nó. Những gì
ta thành tựu trong đời này sẽ giúp
đỡ ta trong đời sau. Cuộc đời này
thật ngắn ngủi nếu so sánh với những
đời sau ta sẽ phải trải nghiệm. Cuộc
đời hiện tại cho ta một cơ hội may
mắn vì thế ta nên tận dụng nó, ta
cần thực hành càng nhiều càng tốt
trong mức độ có thể. Sự thực
hành đem lại cho ta sự xác tín và
sức mạnh để đối mặt với
những thách thức của cuộc sống.
Đó là cách đối trị hữu
hiệu nhất đối với những thách
thức ấy. Vì thế đây là lý do
vì sao ta phải thực hành nhập thất.
Kết quả của nó là Bồ Đề
tâm. Vào lúc đầu việc nhập
thất đầy thách thức nhưng bạn
thích ngi với nó và mọi người
đều có thể làm điều đó.
Cho dù bận rộn tới đâu chăng nữa
bạn vẫn có thời giờ để thực
hành nếu bạn thực hiện nó. Ngay cả
năm phút hay mười lăm phút cũng
rất quý giá, thậm chí một phút
thiền định cũng quý giá. Động
lực của tôi trong việc thiền định
là làm lợi lạc tất cả chúng sinh.
Đó là điều quan trọng. Tôi nỗ
lực thực hiện hết sức mình.
Hỏi: Nếu
một người rất bận rộn với công
việc và chỉ có năm hay mười
phút thì thực hành nào là tối
hảo, thưa ngài?
Đáp: Nó tuỳ
thuộc vào con người. Nếu họ có
mức độ tâm linh cao cấp thì họ
có thể nhìn xem điều gì diễn ra
trong tâm họ và tự an định chính
mình. Nếu họ là người mới tu tập
thì tốt hơn nên thiền định về
hơi thở.
Hỏi: Và
nếu là người trung bình?
Đáp: Hãy nhìn
vào những cảm xúc của bạn và
thiền định về lòng từ ái.
Hỏi: Ngài
có thể nói một ít về sự ban
phước của guru?
Đáp: Có một
vài loại ban phước khác nhau. Tiếng
Tây Tạng là jin lap (pyin rlabs). Jin có nghĩa
là ban cho hay nhận lãnh tặng vật. Lap
có nghĩa là chuyển hóa. Sự ban
phước có nghĩa là nhận lãnh
năng lực từ Đạo sư dòng truyền
thừa để ta được chuyển hóa
thành bản tánh đó. Nó tuỳ thuộc
vào cách thức hành giả có thể
phát triển sự sùng mộ chân thực
bằng việc hiểu biết lịch sử của
những Đạo sư dòng truyền thừa từ
chư Phật. Pháp tự bản thân nó
là sự quy y tối thượng. Khi chúng ta
thọ nhận Giáo Pháp, ta nhận
được một ít trí tuệ từ
đó. Nó cũng giống như thuốc men.
Mỗi người lãnh hội giáo lý
tùy theo mức độ hiểu biết của
họ. Khi bạn nhận giáo lý, bạn nhận
được những sự ban phước. Đạo
sư không thể ban cho đệ tử sự chứng
ngộ của mình, nếu không thì sự
Giác ngộ đã dễ dàng. Nó tuỳ
thuộc vào sự xác tín của ta nơi
thực hành thiền định. Sự xác
tín mạnh mẽ nhất đến từ việc
thực hành. Có thể có điều gì
đó bạn hiểu biết trong hai mươi năm
nhưng nhờ thực hành bạn chứng ngộ
nó trong ngày hôm nay. Tôi cho rằng
đây là sự thực hành ban phước
vĩ đại. Lạt ma gốc (bổn sư) thì
quan trọng nhất và bạn quán tưởng ngài
tan hòa vào bạn. Đó là thực
hành bên ngoài. Thực hành bên trong
là Giác Tánh của chính bạn. Nhờ sự
thực hành và giáo dục của tôi,
tôi đã phát triển lòng sùng
mộ đối với các vị Thầy. Những
Lạt ma bên ngoài dạy rằng không có
sự khác biệt giữa tâm tôi và
tâm chư Phật. Nhưng sự thấu hiểu
điều này qua thực hành đòi hỏi
thời gian. Bạn nhận ra rằng tất cả
chúng sinh đều có tâm này và
toàn bộ cuộc đời trở nên quý
báu. Những sự ban phước là tính
chất đặc biệt của Mahamudra (Đại
Ấn) và Dzogchen (Đại Viên Mãn).
Không có sự ban phước thì sẽ
không có sự chứng ngộ. Cần phải
có năng lực ban phước đầy đủ
phẩm tính. Những bậc chứng ngộ Giáo
Pháp thì khác biệt với những người
khác. Có một năng lực ở đó.
Đặc biệt là ở phương Tây trong
trường Đại Học, Pháp được
giảng dạy một cách khác biệt. Trong
một trung tâm Pháp, người ta ghép
việc nghiên cứu hàn lâm với việc
thực hành.
Nguyên tác:
“The Importance of Practice”
by Lama
Gyursam
Trung
tâm Vajra Konchog Ling
http://buddhism.inbaltimore.org/gyursam3.html
Bản dịch
Việt ngữ: Thanh Liên