SỐNG, CHẾT và
SAU KHI CHẾT
___________________________________________________
Lama Thubten Yeshe
Vô Huệ Nguyên dịch
BÀI GIẢNG THỨ NHẤT
Tối nay tôi sẽ trình
bày vắn tắt quan điểm của
Phật giáo về đời sống
thực của con người, về
sự chết và trong khi chết.
Phật giáo dậy rằng con
người có một giá trị
rất cao, đáng tôn qúi, đặc
biệt ở sự thông minh tuyệt
vời và trí tuệ siêu
đẳng. Theo quan điểm của Phật
giáo, tiến trình phát triển của
con người thì khác xa với
các loài khác như thú vật, rau
cỏ; mỗi một người đều
có một tiểu sử rất dài,
có một tiến trình phát triển
hầu như bất tận, đặc biệt
là phần tâm thức của mỗi
cá nhân.
Trong Phật giáo chúng tôi quan
niệm rằng bản tính tự nhiên
của tâm thức (Tâm
bản nhiên) con
người thì hoàn toàn trong
sáng và thanh tịnh. Chúng tôi
cũng quan niệm rằng tâm thức
của con người mới chính
là nguyên tử năng của con
người chứ không phải cái
thân xác thịt xương máu huyết
này. Đồng thời chúng tôi
cũng xác nhận rằng con người
có đời sống hạnh phúc hay
đau khổ tất cả đều tùy
thuộc vào thái độ của tâm
thức của riêng từng cá
nhân: nếu anh (chị) nghĩ đời
anh khổ, anh sẽ khổ. Tất cả
những phiền toái, tất cả
những vấn đề của con
người đều do tâm của con
người sáng tạo ra -- không phải
Thượng Đế, không phải Phật.
Từ quan điểm đó,
chúng ta biết con người có
khả năng tạo ra những phiền
phức cho đời sống thì
chính con người cũng có khả năng
giải quyết những vấn đề
khó khăn của đời sống.
Thực là sai lầm khi nghĩ rằng,
“ Những vấn đề của tôi
quá vĩ đại, bao la như bầu trời,
rộng lớn như không gian, hầu như
tất cả đều là phiền
phức, rắc rối, dù cho có
phá hủy cả mặt trời, cả
mặt trăng thì cũng không hủy
hết được những vấn
đề của tôi! ” Thật là sai
lầm. Thật là u mê! Tất cả
chúng ta nên nhìn nhận rằng chúng
ta phải có trách nhiệm giải quyết
tất cả những vấn đề
của chúng ta. Chúng ta phải chịu
trách nhiệm về tất cả những
hành động từ thân, khẩu
và ý của chúng ta. Chúng ta không
thể đổ, không thể trút lên
đầu người khác.
Hầu như tất cả
những vấn đề của con
người đều do trí thông minh
mà ra, bởi vì chúng ta có quá
nhiều liên hệ với sự thông
minh và những lý lẽ. Dĩ
nhiên, cũng có rất nhiều vấn
đề đến từ trí tuệ,
nhưng hầu như cội nguồn của tất
cả những vấn đề trong
đời sống của chúng ta như
sự giận dữ, sự bạo
động đều từ trí thông
minh mà ra. Chúng ta đã thông minh
hóa sự kiện nên chúng ta
đã có những vấn đề.
Khi sinh ra, khi còn là một
đứa trẻ nhỏ, chúng ta
đã chẳng có một vấn
đề chính trị nào, phải không
quý vị? Hãy
suy nghĩ cho kỹ
đi. Trong tâm khảm của một
đứa trẻ chẳng có một tí
chính trị nào. Khi còn là một
đứa trẻ nhỏ, chúng ta chẳng
có một chút gì là rắc rối
kinh tế, chẳng có một chút gì
là khó khăn xã hội, bởi
vì chúng ta chưa sẵn sàng, bởi
vì chúng ta chưa trưởng thành
để có những xung khắc của
cái tôi, để thông minh hóa
những sự kiện. Và khi chúng ta
còn là trẻ thơ chúng ta không
có những sự xung đột tôn
giáo hay kỳ thị chủng tộc trong tâm
của chúng ta.
Khi chúng ta còn nhỏ chúng
ta không có những vấn đề
thông minh này; bắt đầu lớn
là bắt đầu thông minh hóa,
bắt đầu thông minh hóa, thông minh
hóa: “Ai đây?” “Tôi là
ai?” “Làm sao tôi nhận ra tôi?” “Cái
gì là khuôn mẫu của
đời sống?” Cái tôi của
chúng ta muốn có một phương
pháp, một đường lối
để khám phá, để nhận
biết mình; phải có một cái
gì để bám vào, để
chiếm hữu. Chúng ta không còn
tự nhiên. Chúng ta đã không
còn hồn nhiên. Đó là lý
do tại sao chúng ta hoàn toàn là
nhân tạo, hoàn toàn do chúng ta làm
ra, nên chúng ta có nhiều lầm
lẫn, nên chúng ta không bao giờ
hài lòng, không bao giờ thỏa
mãn, không bao giờ thoải mái.
Chúng ta có thể nhìn
thấy một cách rất rõ hầu như
tất cả những vấn đề trong
thế giới tân tiến văn minh
ngày nay đều bắt nguồn từ
những sự tương quan mâu
thuẫn, từ những sự liên
hệ đối nghịch nhau mà ra.
Đàn ông có vấn đề
với đàn bà, đàn bà
có vấn đề với đàn
ông. Người có vấn đề
với người. Tất cả
những vấn đề này đều
đến từ sự thông minh của
chúng ta, chúng ta chơi những trò
chơi thông minh với nhau, những
vấn đề này không phải
từ trí tuệ, không phải từ
trực giác, không phải từ
tiên thiên tri thức. Chúng ta
đã sáng tạo, chúng ta đã
xây dựng lên những sự
kiện bằng những quan niệm thông minh
của chúng ta, “ Đây là
đối tượng tuyệt hảo cho
tôi, tôi phải có, tôi phải
chiếm lấy, nếu không có nó,
nếu không chiếm được nó,
thà là tôi chết còn hơn! Những cái kia
không phải, chỉ có cái này
mới thực là của tôi! ”
Vấn đề là chúng ta
đã sử dụng trí thông minh
một cách không tự nhiên, quá
ư là u mê, chúng ta không thực
chút nào. Chúng ta chưa hề chạm
được sự thật. Bởi
vì chúng ta mù quáng, khi diễn tả
một trái táo, chúng ta nói, “
Oâi chao, quả táo này tốt quá,
thật là tuyệt, màu sắc tươi
rói, thơm phức, tôi thích nó
quá.” Chúng ta đã diễn tả
sự vật theo chiều hướng xúc
cảm của chúng ta, theo chiều hướng
bệnh hoạn của một cái tâm tràn
đầy ảo tưởng của chúng
ta. Chúng ta đã gán cái vọng
tưởng tốt đẹp ngon lành
trên quả táo để rồi nó
làm chúng ta thất vọng, để
rồi nó làm chúng ta bất mãn khi
chúng ta biết được sự
thật, nó chua quá, nó chát qúa.
Cái lý do mà chúng ta bất mãn
với đối tượng ‘qủa
táo’ này là chúng ta đã
có sự liên hệ với cái
tâm vọng tưởng của chúng ta
về quả táo, chúng ta đã
tưởng nó tốt, chúng ta
đã không thật, chúng ta đã
không biết sự thật là quả
táo đang như thế nào.
Theo Phật giáo, tất cả
chúng ta đều có khả năng
phân tích, đều có khả năng
khám nghiệm cái tâm của chúng ta
xem nó đang suy nghĩ theo chiều
hướng nào, tích cực hay
tiêu cực, vọng tưởng hay chân
thật. Chúng ta có khả năng làm
điều này. Như chúng ta đã
biết, “Phật,
Buddha”
có nghĩa là “Một
người đã hoàn toàn
phát triển”ø mỗi một người
chúng ta đều có cơ hội,
đều có khả năng phát triển
được như vậy, mỗi một
người chúng ta đều có
khả năng tẩy xóa đi tất cả
những ô nhiễm, những mê
mờ vọng tưởng của chúng ta
để trở nên một người
hoàn toàn phát triển, để
là trí tuệ.
Trong một xã hội tràn
đầy sự cạnh tranh, giành dật;
chúng ta luôn luôn muốn chiếm
hữu những tiện ích của xã
hội mà chúng ta đang sống, của
đất nước mà chúng ta
đang ở và của những
người chung quanh chúng ta. Tất cả
những vấn đề này đều
bắt nguồn từ sự thông minh
của chúng ta, chúng ta tự tạo ra,
chúng ta chộp dật, chúng ta luôn luôn
nói, “Tôi muốn”, “Tôi
muốn”. Đó là đau khổ,
đau khổ từ đó mà ra.
Quý vị có hiểu không? Có
rất nhiều lần trong cuộc sống,
chúng ta đã bị trầm uất,
chúng ta đã bị khổ đau,
chúng ta đã bị dằn vặt mà
không có một lối thoát. Nếu
chúng ta đã ôm ấp những
vọng tưởng quá cao để
tự an ủi, để xây dựng mộng
mơ của chúng ta thì khi chúng ta
không đạt được những
điều mong muốn đó, chúng ta
sẽ bị chết khát trong biển cả
mênh mông của chính thế giới
huyễn ảo mà chính chúng ta
đã tạo ra. Chúng ta không thể
đương đầu nổi, chúng ta
không còn sức để chống
chọi với nó nữa, vì nó
đã trở nên quá khó
khăn.
Vì thế, tôi đề
nghị trước khi sự lầm lạc to
lớn xẩy ra, chúng ta nên từ
từ, từ từ giải trừ,
từ từ loại bớt những
sai lạc nhỏ hàng ngày, bằng
phương cách đó chúng ta sẽ
cảm thấy dễ hơn, dễ hơn.
Chúng ta nên tự hỏi thông minh như
vậy tốt hay là xấu? Lanh lợi
kiểu đó có lợi hay là
hại? Theo quan điểm của Phật giáo,
thay vì dùng trí thông minh để
sống chúng ta nên dùng trí tuệ,
nên phân tích, nên tìm hiểu
để biết nó thực có giá
trị hay không.
Sở dĩ tôi nói
rằng tất cả những rắc rối,
những vấn đề của chúng ta,
của xã hội, của thế giới
và của riêng từng cá nhân
đều đến từ sự
thông minh hoá, bởi vì nó được
xây dựng trên một cái tôi,
trên một bản ngã không
được tự nhiên, bởi
vì khi sinh ra, khi còn là một trẻ thơ,
chúng ta không có những vấn
đề này và khi chết đi
chúng ta cũng không có những
vấn đề này.
Trong Phật giáo có thiền
định, thiền định là gì,
thiền là nhìn thấu suốt
những gì đang xẩy ra, đang
diễn ra một cách tự nhiên hay
không tự nhiên, trong sáng hay u mê
--đây chính là những sự
xung đột của cái tôi. Thiền định
cho chúng ta đến gần . Càng thiền
định, càng đến gần sự
thật, càng nhìn được phía
bên kia của những cảm xúc là
gì, càng nhìn được
những sự xung đột của chính
cái tôi như thế nào, và sẽ
biết được cái gì thực
sự đang hoạt động trong tâm
của chúng ta như nhìn một đối
tượng ở bên ngoài.
Qua Phật giáo, chúng tôi tin
tưởng rằng tất cả chúng sinh
đều có những vấn đề,
nó xẩy ra mỗi ngày, thường
ngày. Chúng ta có những xung
đột ở nội tâm của chúng
ta về chính cái tôi của chúng ta,
chúng ta có những vấn đề
về những xúc cảm của chúng
ta, chúng ta đã bị ám ảnh.
Chúng ta biết chúng ta có đủ
mọi thứ vấn đề nhưng
chúng ta cũng biết rằng chúng ta
có những khả năng đến
gần chúng, nhìn được
chúng và thấu suốt được
tận gốc rễ phía bên kia của
vấn đề là gì. Thực
sự chúng ta có khả năng này.
Chúng ta không nên nghĩ, “ Tôi
qúa lầm lẫn, bản tính của
tôi hoàn toàn sai lầm. Tôi không
thể bỏ nó được, không có
cách nào để thay đổi nó,
để chuyển hóa nó.” Đó
là một thái độ qúa sai lầm,
chúng ta đã hạ thấp gía trị
con người, chúng ta đã
từ chối khả năng của chúng
ta.
Phật giáo là nhân bản,
là một loại khoa học tôn giáo, nó
đặc biệt chú trọng đến
những vấn đề của con
người và tìm cách giải
quyết những vấn đề này --
nó không quá chú trọng đến
Phật hay Thượng đế. Đó
là lý do tại sao chúng ta tin
tưởng vào gía trị của con
người, mục đích để
thẩm định, để tìm ra sự
thật của tâm thức chúng ta, thay
vì bỏ quên nó mà chỉ
để ý đến thân xác.
Hãy luôn nghĩ rằng thân xác
chỉ mang lại bệnh tật và không
có gía trị, nó không mang lại
sự thỏa mãn. Sự thỏa mãn
nằm trong tâm thức, sự thỏa
mãn chỉ có từ tâm thức,
chẳng phải từ cái thân xác
xương thịt này. Tâm thức
của con người thì khác xa
với cái thân xác hay khối
óc này.
Vậy, điều mà tôi
muốn đặc biệt chú trọng
đến đời sống thực
sự của con người là tất cả chúng ta đều
có khả năng giải quyết tất
cả những vấn đề của
chúng ta,
những vấn đề của nhân
loại. Chúng ta nên hiểu rõ
điều này, “ Rắc rối là
của tôi, vấn đề là của
tôi, tôi sẽ giải quyết nó,
tôi phải giải quyết nó.” Bằng cách
đó, chúng ta tạo được sự
tự tin mãnh liệt, sự tự tin
ở trong tâm của chúng ta. Chúng ta
phải hiểu rằng trí tuệ của
chúng ta có khả năng giải quyết
tất cả những rắc rối của con
người. Tất cả mọi
người đều có trí tuệ.
Đừng bao giờ nghĩ rằng
bản tính tự nhiên của con
người hoàn toàn ngu si, vô minh, Chúng ta có trí tuệ,
chúng ta có tình yêu, chúng ta có
lòng từ bi. Đừng nghĩ rằng, “
Tôi là người nóng nảy,
tôi là người đầy sân
hận, tôi không có trí tuệ, tôi
không có tình yêu, tôi không
có lòng từ bi.” Đây là
thái độ vô cùng tiêu cực
về sự thật của chúng ta. Khi có
tự tin, khi tin tưởng vào chính
mình, khi có kinh nghiệm về trí tuệ
của chính mình, về lòng từ bi
của chính mình, chúng ta sẽ
trở nên tự nhiên hơn, thoải
mái hơn, chỉ lúc đó chúng ta
mới có thể phát triển
được trí tuệ tự nhiên
của chúng ta, trí
tuệ chỉ có thể phát triển trong
tình trạng cởi mở thoải
mái tự nhiên.
Sự thông minh hóa và
cái tôi (ngã chấp) làm hủy
hoại trí tuệ. Trí tuệ là trí
tự sinh, tự có, nó không
hề bị ảnh hưởng bởi
triết lý, bởi giáo lý,
bởi thầy dậy hay bởi khung cảnh
sống...Trí tuệ, tiên thiên tri
thức hằng ở đó, thay vì
bị nhốt kín ở bên trong thì
nó được bảo vệ để
tìm đường phát triển.
Chúng ta biết rằng con
người luôn tự tạo ra
những vấn đề cho chính mình.
Như vậy, chúng ta không nên đỗ
lỗi cho xã hội, cho bạn bè hay cho cha
mẹ của chúng ta, chúng ta không nên
trút lên đầu bất cứ
người nào khác. Vấn
đề của chúng ta là do chính
chúng ta tạo ra. Chúng ta là
người tạo ra vấn đề thì
cũng chính chúng ta là người
phải giải quyết vấn đề.
Ngay tại thời điểm
của sự chết, ngay trong tiến trình
chết, một cách rất tự nhiên
tất cả những ý niệm sau
đây của chúng ta: chính trị, kinh
tế, xã hội, kỳ thị, tư bản, cộng
sản...đều biến mất vào
không gian, chúng biến đi một cách
tự nhiên. Hãy suy nghĩ những vấn
đề này: tất cả những
thái độ ích kỷ, tất cả
những suy tính để chiếm phần
lợi ích từ người
khác như, “ Tôi thật là thông minh,
tôi chiếm tất cả những nguồn
lợi ích của người Phi châu,
tụi nó ngu qúa, chúng chẳng biết
gì cả, nên tôi phải chiếm
lấy.” Tất cả những thái
độ ích kỷ, tất cả những
tính toán mưu cầu lợi ích
đều tan biến vào không gian khi
chúng ta chết.
Tất cả những vấn
đề này không chỉ biến mất
khi chúng ta chết mà ngay cả khi chúng
ta đi ngủ. Khi chúng ta đi vào
giấc ngủ, tất cả những ý
niệm này cũng tan biến đi y như khi
chúng ta chết. Ngay cả những sự
xung đột của ngã chấp như tôi
đã trình bày cũng biến
mất. Tốt hơn hãy đi ngủ, ngủ
còn hơn là thức để suy
tính, để thông minh hoá, để
cảm xúc, để nóng giận ganh
ghét... vì khi ngủ chúng ta đi vào
một trạng thái tự nhiên, một
trạng thái căn bản của tâm
thức không có sự thông minh.
Trong truyền thống Phật giáo,
người ta thiền vào buổi sáng
vì buổi sáng khi vừa thức
dậy tất cả những ý niệm
bị ô nhiễm đã biến mất
nên chúng ta có được một
chút yên tĩnh trong sạch. Trong lúc
ngủ, tất cả những năng lực
đã được tích tụ sẽ
biến mất trong một thời gian; rồi
khi chúng ta thức dậy, chúng cũng
từ từ trở lại. Nếu thiền
vào buổi sáng, chúng ta sẽ
ở trong tình trạng trung dung hơn là
ở vào một đầu của
cực điểm. Sự tập trung của
chúng ta ở buổi sáng sẽ dễ
hơn là ở những thời
điểm khác. Nếu chúng ta không
phải là một thiền sinh hay nếu
chúng ta cũng không phải là một thiền
gia mà chỉ là một người
đang suy nghĩ về một vấn đề
gì thì buổi sáng cũng là
lúc trong sáng nhất để chúng ta
làm việc. Đó là sự
đề nghị của tôi. Trong Phật
giáo không phải chỉ có một
phương pháp thiền là tập trung
vào một đối tượng mà
chúng tôi còn có những
phương pháp khác như quán sát,
phân tích để tìm ra sự
thật.
Một điều vô cùng quan
trọng là chúng ta phải biết tâm
của chúng ta làm việc như thế
nào trong thường ngày, trong lúc ngủ
cũng như trong lúc chết. Một
điều cũng vô cùng quan trọng
là chúng ta nên tự giáo huấn
chúng ta về vấn đề này. Như
vậy chúng ta sẽ không còn sợ
hãi. Nhiều người nghĩ rằng
chết là một sự khiếp đảm
kinh hồn, là sẽ đi vào một
cái lỗ đen vĩ đại, khi
tới đó, chúng ta sẽ bị
nó cuốn hút, bị nó ăn
thịt. Sự thật
là chúng ta đã chết ngay từ
lúc chúng ta sinh ra, sự chết
đã có khi vừa sinh ra. Chúng ta nghĩ chết là
một sự kiện vĩ đại! Vĩ đại
hơn mất việc làm, vĩ đại
hơn mất người yêu, vĩ
đại hơn mất vợ mất
chồng. Đây là một thái
độ sai lầm.
Chúng ta cũng thường
nghĩ chết là xấu -- đây chỉ
là một phóng tưởng của
tâm chúng ta. Thực ra chết còn
tốt hơn cái hoa này, bởi vì
cái hoa này không cho chúng ta đại
lạc, sự chết có thể cho chúng
ta sự bình an vĩnh cửu. Kinh nghiệm
về sự chết còn tốt hơn
có vợ, có chồng hay có
người yêu bởi vì
những người này chỉ cho
chúng ta một chút hạnh phúc. Họ
không giải quyết được
những vấn đề căn bản
của chúng ta; họ chỉ có thể tạm
giải quyết được một vài
rắc rối về cảm xúc của
chúng ta. Nhưng ngay tại lúc chết,
tất cả những sự tức
bực đều chấm dứt, tất
cả những cảm giác đều
chấm dứt. Tiến trình của một
cái chết tự nhiên xẩy ra rất
lâu và rất chậm.
Khi chúng ta chết một cách
tự nhiên, tứ đại từ
từ suy đồi, từ từ
thoái hóa --chúng ta gọi nó đang
bị “ chìm,thấm, thẩm thấu,
hút vào” -- chúng suy đồi
từ từ, giảm hoạt động
từ từ, từ từ, chúng
tạo nên, chúng để lại
những ảo giác cả bên trong
lẫn bên ngoài thân xác của
chúng ta . Đồng thời ngũ
uẩn - sắc, thọ, tưởng, hành,
thức - cũng bắt đầu chìm
dần, mất dần.
Thông thường, chúng ta
nghĩ rằng thị giác của chúng ta
thật là tuyệt diệu, nó cho chúng ta
những khoái lạc. Chúng ta cũng
nhận thấy những kinh nghiệm xúc
giác thật là quan trọng nên chúng ta
ham muốn càng nhiều càng tốt. Tuy
nhiên, trong Phật giáo, chúng tôi quan
niệm không nên bám víu, không
nên để bị ràng buộc vào
những đối tượng gây
cảm giác này. Đó là sự
từ bỏ, sự buông xả. Buông
xả là một hiện tượng rất
tự nhiên. Tại sao? Rất dễ hiểu,
khi sinh ra, khi còn là một trẻ thơ,
chúng ta không có một vấn đề
gì, không có một rắc rối
nào về sự ràng buộc; tất
cả những sự ràng buộc, níu
kéo, bám víu, dính mắc đều
được bồi đắp lên
ở trong đời sống xã
hội. Khi còn nhỏ chúng ta không có
những ham muốn này.
Khi còn trong bụng mẹ, chúng ta
đã từ bỏ tất cả mọi
thứ, đã buông xả tất
cả mọi thứ. Chúng ta chẳng có
gì, chúng ta chẳng tích trữ
cái gì, chúng ta chẳng chộp dật
cái gì, chúng ta chẳng tranh giành
cái gì với ai. Khi còn trong bụng
mẹ, chúng ta chẳng có một
đối tượng nào để
bị lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta,
cũng chẳng có một đối tượng
nào để chúng ta phải bám
víu vào, phải khổ sở vì
nó. Tại thời điểm đó,
chúng ta đã từ bỏ, từ bỏ
một cách tự nhiên, buông xả
một cách tự nhiên!
Bây giờ, chúng ta có
một chiếc xe... vậy mà cũng chưa
đủ. Chúng ta mua thêm xe thứ hai...
cũng không đủ, chưa thỏa mãn.
Chúng ta muốn nữa, muốn có
một cái tàu. Có tàu rồi,
chúng ta muốn một cái lớn hơn
nữa...vân vân... Quý vị có
hiểu không? Và cứ như thế
mà muốn cho đến kỳ cùng,
không bao giờ đủ. Đó
là sự không thỏa mãn,
đó là sự bất mãn.
Chúng ta nên hiểu rằng chúng ta
được sinh ra trong sự buông
xả, một sự buông xả rất
tự nhiên. Chúng ta không cần
phải tranh giành, bám víu, chiếm
hữu, chúng ta không cần phải
qúa lo lắng. Chúng
ta vào đời để
được an vui, chúng ta đi vào
cuộc đời để hưởng an
lạc. Nhưng
chúng ta đã tạo dựng qúa
nhiều lo âu, qúa nhiều rắc rối,
quá nhiều phiền não, rồi khi
chết đi, một lần nữa chúng ta
lại trở về với sự
buông bỏ, chúng ta lại chẳng có
gì, lại trở về với
sự buông bỏ tự nhiên.
Vậy, hãy trở về
với thiên nhiên, với sự
tự nhiên của chúng ta.
Đừng nghĩ rằng triết lý
buông xả, triết lý từ bỏ
của Đông phương là xấu,
là bị ô nhiễm, hoặc chỉ là
một ý tưởng. Sự thỏa mãn không
tùy thuộc vào vật chất. Sự
thỏa mãn đến từ sự
đơn giản, đơn sơ. Tôi không có
ý nói qúy vị xấu bởi
vì qúy vị đang ở trong một
xã hội giầu có. Tôi không ganh
tị đời sống của qúy
vị để nói qúy vị xấu.
Tất cả chúng ta đều cần một
đời sống đơn giản
để có sự an lành, để
có sự hoàn mãn ở bên
trong này (Lạt ma chỉ vào
trái tim của ngài) Tôi không ganh
tị sự thịnh vượng của
qúy vị hay những lợi lộc
mà qúy vị đang có. Câu hỏi
của chúng ta là, tại sao chúng ta
đã không thỏa mãn? Tại sao
chúng ta thường xuyên bất
mãn? Chúng ta đã luôn
luôn đỗ lỗi cho những cái
ở bên ngoài, chúng ta đã
luôn luôn tìm những cái
ở bên ngoài để “ cái
này không đủ, cái kia không
đủ.” Điều này không
đúng! Cái “không đủ”
đang ở bên trong này chứ
không phải ở ngoài kia. Đó là
điều chúng ta cần phải kiểm
điểm, cần phải kiểm thảo !
Khi tôi nói ‘buông
bỏ’ có nghĩa là để
đời sống tiếp diễn một
cách dễ dàng, thoải mái, tự
nhiên. Buông bỏ không có nghĩa
là chúng ta phải vất bỏ đi
tất cả mọi thứ. Buông bỏ có nghĩa là
chúng ta không quá bận tâm về
sự vật, không quá bám víu
vào vật chất. Hãy nới lỏng
sự gắn bó, hãy thư giãn,
thoải mái, thay vì bám chặt, đeo
dính.
Theo ý kiến của riêng
tôi, thí dụ, người Thụy
điển có một đời sống
rất hạnh phúc sung sướng --
quý vị không cần phải vất
hết tiền bạc đi mới gọi
là buông xả. Qúy vị cứ
làm tiền, cứ vui hưởng
nó nhưng trong một chiều hướng
hợp lý, cảm nhận và cám
ơn cuộc đời của qúy vị, đồng
thời đừng quên những
người đang sống nghèo khổ
ở thế giới Thứ Ba. Nếu
không, chỉ lo tích trữ tiền bạc
rồi ngồi nhìn nó thì cuộc đời
chẳng vui chút nào. Quý vị nên
biết giá trị của những
đồng tiền Thụy điển, chúng
ta nên biết giá trị của những
tiện ích này, chúng ta nên biết
giá trị của đời sống sung
túc ở đây, hãy
hưởng tất cả những
lợi lộc này và thỏa mãn
những gì hiện có. Nếu không
như vậy thì dù quý vị có
sở hữu tất cả tiền bạc
của xứ sở này nó cũng
chẳng làm cho quý vị hạnh phúc vui
tươi.
Theo tâm lý học Phật
giáo, dù những đối
tượng vật chất có làm
chúng ta thỏa mãn hay không cũng tùy
thuộc vào sự quyết định
của tâm thức chúng ta. Tâm
thức của chúng ta nói như thế
này, “ cái này làm tôi vui
sướng, cái này tốt...”
mặc dù chúng ta chưa nhìn thấy
vật đó, rồi khi nhìn thấy
nó tận mắt, chúng ta mới
nghĩ, “ ồ, cái này tốt.”
Tâm thức của chúng ta nói như
thế này, “ông bạn này
xấu.” Rồi khi gặp họ, chúng ta
chỉ nhìn thấy những cái xấu
của họ.
Lý do tại sao Phật giáo
Tây tạng dậy con người hiểu
tiến trình của sự chết -- giải
thích cái gì sẽ xẩy ra, làm
thế nào để đối diện
với những gì sẽ xuất
hiện, làm thế nào để
đương đầu với những
ảo giác xung đột lẫn nhau -- là
để chúng ta có thể đương
đầu với chúng thay vì
sợ hãi và bối rối. Trong
lúc đó, chúng ta dễ dàng
nhận diện được cái gì
huyễn ảo là huyễn ảo, vọng
tưởng là vọng tưởng,
mê lầm là mê lầm.
Sau sự tàn lụi của
tứ đại, khi chúng đã
biến mất, chúng ta vẫn còn thể
tâm thức (thân vi tế). Ngay cả khi không
còn thở, thể tâm thức
vẫn còn đó. Các bác sĩ
Tây phương tin tưởng rằng khi chúng
ta chấm dứt thở là chúng ta
đã chết, rồi họ bỏ chúng ta
ngay vào thùng ướp lạnh! Theo quan niệm của
Phật giáo, mặc dù một
người không còn thở, họ
cũng vẫn còn sống và đang kinh
nghiệm bốn hình ảnh: hình ảnh
có mầu trắng, mầu đỏ, mầu
đen và ánh sáng trong suốt. Bốn
hình ảnh này xuất hiện sau khi
chúng ta đã hoàn toàn ngưng
thở, nó cho phép một thiền
giả có thể ở trong trạng thái
trong sáng này nhiều ngày, nhiều ngày,
có khi cả tháng. Họ ở trong
trạng thái trong sáng này, trạng
thái đại lạc, tiếp xúc
với sự thật của vũ trụ (của nhất thể) thay vì bị ô
nhiễm.
Dĩ nhiên là người
Tây phương sẽ nghĩ, “ Ồ,
đây chỉ là đức tin của
Phật tử, ông sư này đang
nói về cái gì ông ta tin, chẳng
có gì liên hệ đến chúng ta,
đến những người Thụy
điển.” Nhưng đây là kinh
nghiệm của con người, mặc dầu
nó chưa phải là kinh nghiệm của
chúng ta.
Tôi đã được
nghe kể về một người Pháp,
ông ta đã chết và sống lại.
Oâng ta không phải là người
có đạo, nhưng theo bác sĩ, ông
ta đã chết hai tiếng đồng
hồ rồi ông ta tỉnh dậy. Oâng ta
viết ra những gì ông ta đã
trải qua trong khi ông ta chết. Đây
là một thí dụ điển hình,
ông ta không tin bất cứ một tôn
giáo nào, ông ta không hề biết
Phật giáo, nhưng họ xác nhận ông
ta đã chết, ông ta sống lại
và ông ta đã viết ra những
gì ông ta đã trải qua trong lúc chết.
Dù chúng ta có tin sự
giải thích của Phật giáo hay là
không tin, chúng ta vẫn có thể
hiểu một cách dễ dàng khi nhìn
vào tiến trình đi vào giấc
ngủ. Tôi nghĩ rằng bây giờ
với kỹ thuật khoa học tân tiến
chúng ta đã có những máy
móc có thể đo, có thể quan
sát được tiến trình cảm
giác trong khi chết hay trong giấc ngủ.
Không cần phải có những
sự giải thích của Phật giáo,
tôi tin tưởng rằng con
người có thể phân tích
những tiến trình này bằng
máy móc tinh vi. Và chúng ta có
thể so sánh tiến trình của giấc
ngủ với tiến trình của sự
chết.
Tôi nghĩ rằng đã
hết giờ và tôi chắc chắn
rằng tôi đã gây ra nhiều nghi
ngờ cho quý vị, tốt hơn,
chúng ta hãy đi vào phần hỏi
và trả lời.
Thính giả: Con người chỉ
có khả năng biết khi có sự so
sánh giữa các sự vật ---
Làm thế nào chúng ta có thể
biết được nhiệt độ
nếu chúng ta không có sự thay
đổi, sự biến thiên của
nhiệt độ? Nghĩa là cần phải
có cái xấu để có thể
đánh giá được cái
tốt, có lẽ sự bất toàn
là một phần của cái hoàn
toàn trong sự sáng tạo để
tạo nên sự chuyển động. Làm
thế nào ngài có thể loại bỏ
cái xấu để giữ lại cái
hoàn toàn tốt?
Lạt ma:
Chúng ta không nên quan tâm nếu
không có cái xấu thì làm sao
có cái tốt. Đó chỉ là
một lối suy nghĩ đáng thương.
Dĩ nhiên, tôi đồng ý
với anh hạnh phúc hay đau khổ
là những điều kiện tùy
thuộc vào nhau. Anh có thể nhìn
thấy rằng có những sự
kiện anh có thể làm giảm bớt
đau khổ mà tăng thêm hạnh
phúc.
Thính giả: Xin ngài trình
bày thêm một chút, có thể
có sự xung đột cho một
người đang theo Thiên Chúa
giáo muốn đổi qua Phật giáo?
Lạt ma:
Chẳng có trở ngại nào
cả! Phật giáo hay Thiên Chúa giáo
cũng chỉ là sự thông minh hóa
mà thôi. Tại sao? Có một chút
triết lý khác biệt giữa Phật
giáo và Thiên Chúa giáo, nhưng sự
khác biệt triết lý này cũng
giống như sự khác biệt quần
áo -- người Thụy điển mặc
như quý vị đang mặc, người
Tây tạng mặc như tôi đang mặc,
nhưng tôi tin chắc rằng quý vị
sẽ thích bơ làm từ con trâu
Tây tạng cũng như tôi thích bơ
của Thụy điển và sô cô la
của quý vị!
Tôi có rất nhiều học
trò ở Hoa kỳ, nhiều bà già
là tín đồ Thiên Chúa giáo,
nhưng tôi dậy họ Phật giáo: làm
thế nào để thiền,
đời sống là gì --- Chúng ta
đối diện với cuộc đời
mỗi ngày và Phật giáo là
tất cả những thứ đó.
Phật không chống lại Thượng
đế, Thiên Chúa không chống
lại Phật. Những cụ bà ở
tiểu bang Indiana, Hoa Kỳ, đã 80 tuổi,
nhiều lắm, họ bảo tôi, “ Phật
giáo giúp tôi rất nhiều trong việc
tìm hiểu Kinh thánh, trước kia
tôi chẳng hiểu Kinh thánh, Phật
giáo đã giúp chúng tôi
hiểu Kinh thánh hơn, hơn rất
nhiều.”
Chúng ta luôn luôn tạo ra
vấn đề, thí dụ, Phật giáo
nói rằng tất cả những vấn
đề của chúng ta đều do tâm
của chúng ta tạo ra, Thiên Chúa
giáo nói rằng Thượng đế
tạo ra tất cả mọi thứ. Theo tôi
vấn đề này chẳng có gì
đối chọi nhau. Giáo lý của
Thiên Chúa giáo nói Thiên Chúa
sáng tạo ra tất cả mọi sự
trên thế gian này, đó là
một điều tốt cho tâm của
những người Tây phương
bởi vì cái tôi của người
Tây phương nghĩ, “ Tôi làm
tất cả mọi thứ.” Cá tính
của người Tây phương quá mạnh.
Tất cả những người Tây
phương đều nghĩ họ là
nguyên lý sáng tạo, vì thế khi
họ nói. “ Thượng đế
là đấng sáng tạo -- không
phải anh,” sẽ giúp họ hạ thấp
xuống, họ sẽ khiêm nhường
hơn. Phật giáo cũng tốt; nó
nói rằng tâm của chúng ta tạo ra tất
cả mọi vấn đề -- anh không
thể đổ lỗi cho Phật! Tôi hoàn
toàn đồng ý với quan niệm
này. Dĩ nhiên, tôi không
được dậy bảo nhiều về Kinh
thánh nhưng tôi vẫn học Kinh thánh
và học một chút Phật giáo. Theo quan
điểm của tôi, căn bản của
Thiên Chúa giáo và căn bản
của Phật giáo không có gì
chống đối nhau, nó đi cùng
với nhau.
Hãy lấy một thí dụ
khác, những người Tây
phương đã trở nên một
Phật tử nói rằng, “ Phật
giáo có thiền định, tôi
thích như vậy. Thiên Chúa giáo
không có thiền định.” Đây là một
quan niệm sai lầm. Quý vị có hiểu
tôi nói gì không? Có rất
nhiều Phật tử Tây phương
nghĩ, “ A, tôi tìm được
Phật giáo, Phật giáo tốt quá,
tôi có thể thiền mỗi ngày.
Tôi có thể thiền về sự
chết, tôi không cần đi nhà
thờ, Thiên Chúa giáo không
có thiền.”
Họ hãnh diện với cái tôi của họ vì
họ tìm thấy được Phật
giáo! Đó là sai lầm. Họ
đã không hiểu Thiên Chúa
giáo, Thiên Chúa giáo thực sự
có thiền; tội nghiệp họ, họ
đã không hiểu tôn giáo riêng
của đất nước họ.
Thính giả: Tại sao một
đứa trẻ khóc khi nó
đói, nếu nó hoàn toàn
buông xả?
Lạt ma:
Thật là tốt, tranh luận rất
tốt. Đứa trẻ khóc vì
nó đói, nó không khóc vì
nó không có bồ hay nó bị
bồ bỏ! Được chưa? Và
đứa bé không đòi hỏi
phải có sô cô la, “ A...”
giống như vậy. Chúng ta khóc vì
sô cô la. Anh có nghĩ rằng đứa
bé có vấn đề chính trị
không? Hay nó không đủ tiền
lương? Phải chăng một đứa
bé khóc vì mất việc hay không
kiếm được việc làm? Tất
cả là như vậy, có rõ ràng
không quý vị?
Thính giả: Có nhiều
người có những kinh nghiệm
giống nhau về sự chết khi họ
dùng thuốc. Ngài nghĩ thế nào?
Lạt ma:
Tôi nghĩ đó là một thí
dụ tốt. Đúng, đó là kinh
nghiệm của con người. Tôi nghĩ
điều này có thể giúp họ
hiểu được rằng con
người không phải chỉ có
cái thân xác này mà thôi.
Bên ngoài cái thân xác này
còn có một cái gì khác
nữa, nguyên tử lực, như
tôi đã trình bày trước
đây. Nguyên tử lực của con
người chính là tâm thức
của con người, tâm con
người --chứ không phải
cái xương này.
Tuy nhiên, dùng thuốc thì
xấu, vì nó làm anh mất trí
nhớ. Như vậy nó có tốt
có xấu. Khi anh đã có kinh nghiệm
rồi, đừng dùng nó nữa.
Được không? Cũng như khi anh
đã có kinh nghiệm với một
người bồ xấu, hãy dừng
lại!
Thính giả: Ngài đã
nói về tứ đại không
phải năm. Ngài có thể kể ra
không?
Lạt ma:
Đất, nước, lửa và
khí (gió)
Thính giả: Ngài cũng nói
về ngũ uẩn, xin ngài nói ra.
Lạt ma:
Đó là: sắc, thọ,
tưởng, hành và thức.
Thính giả: Ngài có thể
nói về tam độc?
Lạt ma:
Đó là: tham, sân và si (ngu si,
vô minh)
Thính giả: Xin ngài nói về
ba nguyên lý kết tập thành tứ
đại.
Lạt ma:
Trong Phật giáo chúng tôi không
có ba nguyên lý này.
Thính giả: Tôi nghĩ rằng
tâm thức trong lúc mơ thì thô
kệch. Ngài nói rằng sự thông
minh sẽ biến mất trong lúc mơ. Tôi
muốn hiểu thêm về vấn đề
này.
Lạt ma:
Trước hết, khi chúng ta ngủ,
rồi khi tứ đại đã chìm
đi như trong tiến trình chết, chúng
ta sẽ thấy ánh sáng rất trong.
Rồi từ ánh sáng trong này
chúng ta xuất hiện ra thân xác trong
lúc mơ. Cái thân xác trong lúc
mơ này giống như ở trong một
câu lạc bộ về đêm của
Tây phương!(mờ mờ
ảo ảo) Lý do mà tôi
nói nó sai khác là vì trạng
thái ngủ và trạng thái mơ
khác nhau. Trạng thái mơ hay thân mơ (thân
xác trong lúc mơ) xuất hiện
từ trong giấc mơ khi cái tâm-mơ
(tâm thức trong lúc mơ) bắt đầu làm việc. Khi
nguyên tố thứ nhất (địa đại) của thân-xác-mơ chìm
là lúc chúng ta bắt đầu
hết mơ, chúng ta trở lại trạng
thái ngủ rồi đến trạng thái
thức dậy. Qúy vị hiểu không?
Trạng thái ngủ và trạng thái
mơ là hai hiện tượng khác nhau.
Thính gỉa: Ở trong mơ,
chúng ta có tạo nghiệp không?
Lạt ma:
Có, có chứ. Mật tông
giải thích rằng, tiến trình chết
cũng giống như tiến trình đi
ngủ. Từ tiến trình chết vào
trong thân trung ấm (bardo, cõi trung gian sau khi
chết) cũng giống như
tiến trình ngủ đi vào giấc
mơ, bởi vì kinh nghiệm hầu như
giống nhau. Khi chết những nguyên
tố (tứ đại) của cái thân
xác thô kệch này bị thẩm
thấu, cũng giống như khi ngủ, cái
thân xác này và những ý
niệm thô kệch bị thẩm thấu, có
những luồng ánh sáng xuất
hiện trong lúc ngủ, rồi thân vi tế
xuất hiện, đó là cái thân
xác trong lúc mơ. Sự kiện này
giống như cái thân trong cõi bardo
và những hoạt động cũng
giống như những hoạt động
ở cõi bardo.
Cái thân trong lúc mơ
thì vi tế hơn cái thân xác
thô kệch này, cái tâm trong lúc
mơ cũng vi tế hơn cái tâm trong
lúc tỉnh. Do đó, trong Phật giáo
những thiền gỉa đã có
được những kinh nghiệm của
tâm trong lúc mơ trong sáng hơn
để soi vào tương lai hay vào
những sự kiện hơn là tâm
trong lúc tỉnh. Đó là lý do
tại sao chúng tôi đã giải
thích rằng bất cứ cái gì
xẩy ra ở tâm trong lúc mơ, bất
cứ hiện tượng nào hay hình
ảnh nào mà chúng ta có
được trong lúc mơ đều
hoàn toàn có liên hệ đến
lúc tỉnh, thành ra chúng ta không nên
phán đoán, phê bình nó như
chúng ta vẫn thường nói:
đụng chạm, sờ mó sự
vật trong lúc tỉnh thì thật hơn
là trong lúc mơ. Chúng có giá
trị như nhau.
BÀI
GIẢNG THỨ HAI
Tất cả mọi người
đều có tâm. Tâm có ba thể:
thô, vi tế và siêu vi tế.
Đồng thời chúng ta cũng có
ba thân: thân thô kệch (thân
xác), thân vi tế và
thân siêu vi tế. Tâm thức của
thân thô kệch có năm tâm
thức thô kệch (nhãn
thức -mắt, nhĩ thức - tai, tỉ
thức -mũi, thiệt thức
-lưỡi và thân thức -thân
hay xúc giác. --Dg). Chúng ta dùng
năm thức này hằng ngày. Tâm
vi tế có thể gọi là siêu
ngã hay tri thức u mê. Đây là giác quan vi tế
chúng ta không thể nhìn thấy nó
và hiểu nó một cách rõ
ràng được. Tâm thô kệch
rất bận rộn nên tâm vi tế bị
lu mờ. Khi tâm thô kệch không
hoạt động thì tâm vi tế mới
có cơ hội hoạt động và
phát triển. Đó là lý do tại
sao phương pháp của Phật giáo mật
tông Tây tạng là loại bỏ
những ý niệm thô để
dành chỗ cho tâm vi tế làm việc.
Đó là phương pháp của
mật tông. Đó là cách làm việc
của mật tông.
Mặc dù chúng ta hiểu
được nó, nhưng tâm thô
kệch của chúng ta chẳng có chút
năng lực nào cả; tâm vi tế
có năng lực hơn để hiểu
biết thấu đáo và có thể
lý luận phân tích. Thiền định
loại bỏ tâm thô kệch để cho
tâm vi tế làm việc. Thiền
định thực hiện đúng như
tiến trình của sự chết. Dĩ nhiên,
kiểu thiền này cũng hướng
dẫn đến tiến trình của
sự chết, nên cần phải
vững mạnh, cần phải tập trung
năng lực.
Phật giáo giải thích bản
thể thực của vũ trụ: trống rỗng (emptiness,
sunyata, tính không). Một khi chúng ta loại bỏ
được tâm mê tín thô
kệch, thì kinh nghiệm về sự trống
rỗng sẽ đến, sẽ hiện ra. Một
người không có một chút tư
tưởng nào hay một chút ý
niệm nào về tính
không, về thực thể hay nếu
họ có một chút hiểu biết về
tiến trình của sự chết, thì
cái kinh nghiệm này sẽ hướng
dẫn họ đi xa hơn để kinh nghiệm
được sự trống rỗng hay tính không. Mặc
dù trong cuộc sống hằng ngày của
chúng ta, chúng ta không có một ý
niệm gì về tính
không, nhưng một khi cái tâm thô
kệch bận rộn biến mất thì
chúng ta sẽ kinh nghiệm được
sự trống rỗng vĩ đại ngay
lập tức. Do đó, hãy chấm
dứt cái thô kệch, hãy chấm
dứt những ý niệm lăng
xăng lộn xộn, thì chúng ta sẽ kinh
nghiệm được không gian thực,
một cái gì đó trống rỗng. Khi không còn bận bịu,
lăng xăng, ồn ào thì sự
rỗng lặng sẽ hiện ra.
Mỗi khi chúng ta diễn tả sunyata, “ thế
này, thế này, thế này, tính
không, thế này, thế này, thế
này,” âm thanh
nghe sao phức tạp, qúa phức tạp.
Có thể giáo lý của Phật
giáo qúa phức tạp, qúa ngụy
biện chăng. Một người bình
thường không thể hiểu
được, không có thể nhận ra
được sunyata. Ngài
Long Thọ (Nagarjuna)
nói, “ Thế này, thế này,
thế này; ”
Ngài Nguyệt Cái (Chandrakirti) nói,
“ Thế này, thế này, thế
này.” Qúy vị có hiểu không?
Khi mà những sự bận rộn,
những ý niệm u mê lầm lẫn
đã được bỏ đi,
đã được cắt vứt
đi bởi sự thật, bởi
những chứng nghiệm và kinh nghiệm
thật thì sunyata sẽ đến,
như tiến trình của sự chết
Bình thường, chúng ta
rất xa sự thật: sự thật của
chính chúng ta và sự thật của
vạn vật. Tại sao? Bởi vì chúng ta
bị che bởi những chiếc mền
qúa nặng nề --mọât, hai,
ba...lớp mền u mê, lầm lẫn.
Tất cả những chiếc mền thô
kệch này, tâm thô kệch, đã được
xây dựng, đã được
bồi đắp lên, vĩ đại như
núi Meru, như Hy mã Lạp Sơn, vì
thế chúng ta không dễ gì xé
rách được những chiếc
mền dầy cộm này.
Trong Phật giáo, chúng tôi
dùng những phương pháp thiền
định để lấy đi từ
từ những lớp mền này.
Đó là sự làm việc của
chúng tôi. Bây giờ, để mang
những phương pháp này ra,
để thực hiện những cách
làm việc này, chúng ta cần phải
hiểu bản tính của tâm chúng ta,
tâm của chính chúng ta không phải
của ai khác. Trước nhất, tâm
không phải là vật chất, không
phải là sự vật. Nó giống
như một năng lực tư tưởng,
một năng lực ý thức. Nó
không có hình tượng, không
có mầu sắc. Nó là năng
lượng vô hình, vô sắc. Bản
tính của nó trong và sạch; nó
phản ảnh những hiện tượng
ở bên trong chúng ta. Ngay cả một
tư tưởng rất tiêu cực
cũng có bản tính riêng, trong sáng
riêng, để nhận sự thật hay
để phản chiếu những phóng
tưởng, những vọng tưởng.
Thức, hay tâm thức, giống như
không gian. Nó không là những
đám mây ô nhiễm. Bản tính của
không gian thì khác. Qúy vị vẫn
lắng nghe tôi đấy chứ? Mặc
dù có mây đen bao phủ không gian,
nhưng cả hai đều có bản tính riêng,
chúng không là nhau.
Sở dĩ tôi nói như
vậy bởi vì chúng sinh đã
có những xu hướng và
đã có những tiền ý
niệm. Chúng ta nghĩ, “ Tôi là
một người xấu, tâm của
tôi xấu và đầy tiêu
cực.” Chúng ta luôn luôn than, “
Tôi thế này, thế này, thế
này, tâm tôi thế này, thế
này..,” “ người tôi thế
này, thế này, thế này...”
Chúng ta luôn luôn tự mâu
thuẫn. Theo Phật giáo, đây là
những quan niệm sai lầm. Chúng tôi
nghĩ: bản tính tự nhiên của
không gian thì không hề bị ô
nhiễm; bản tính tự nhiên của
ô nhiễm thì không phải là
không gian. Tương tự như vậy,
bản tính của tâm thức thì
không tiêu cực, không xấu. Chính
Đức Phật đã nói, Phật
tính hay Như Lai đều có trong tất
cả mọi chúng sinh, nó thanh tịnh và
trong sạch. Đức Di Lặc (Maitreya) cũng
giải thích, nếu anh đem cái trong
sạch tự nhiên bỏ vào cục
cứt thì cái bản tính của
nó cũng khác với cục
cứt, bản tính của cục cứt
thì khác với bản tính trong
sạch tự nhiên. Qúy vị vẫn nghe
tôi đấy chứ? Giống như
thế...( Xin lỗi qúy vị, ông sư
Tây Tạng này không có cái gì
tốt để nói --- ông ấy luôn
luôn nói cái xấu !) Nhưng đây
là điều quan trọng. Một cái
tâm trong sạch luôn luôn hiện
hữu. Một bản tính tự nhiên
hay tâm bản nhiên thì luôn luôn
hiện hữu. Bản tính của nó
và sự trong sáng của nó luôn
luôn hiện hữu. Nhưng tất cả
những ý niệm của chúng ta,
tất cả những chiếc mền nặng
nề này đều bị ô nhiễm,
đều bị nhiễm độc, chúng che
lấp những giác quan của chúng ta.
Nếu không, bản tính của chúng
thì trong sạch; tâm bản nhiên thì
trong sạch.
Trước tiên, điều
này rất quan trọng, chúng ta phải
nhận cho ra bản tính tự nhiên của
chúng ta -nguyên
tính của tâm thức- thì không hoàn
toàn tiêu cực, không hoàn toàn
xấu. Chúng ta phải nhận ra nó, bản
tính của chúng ta hoàn toàn trong
sạch, tâm bản nhiên của chúng ta
thanh tịnh, hiện hữu, ngay ở
đây, bây giờ.
Tâm thức của chúng ta
có hai đặc tính: tương
đối và tuyệt đối. Bản
tính tương đối của tâm
thức thì không tiêu cực,
không u mê. Thí dụ, theo người
Thiên chúa gíao, linh hồn của con
người thì trong sạch, không có
mâu thuẫn, không có xung đột,
không có tham lam, sân hận và ganh
ghét. Cũng giống như vậy, một
cách tương đối, tâm của
chúng sinh có thể đi thẳng
từ cấp độ thấp nhất đến
giác ngộ. Nhưng một cái tâm mâu
thuẫn không thể đi như vậy
được. Tâm bất mãn, tâm
bận rộn không bao giờ có thể
đi từng cấp độ từ
thứ nhất đến thứ
mười trong Thập địa Bồ
tát được hay tới giác
ngộ được. Như vậy bản
tính của tâm thức con
người, bản tính của linh hồn
con người thì liên tục thăng
tiến, thăng tiến, chuyển hóa.
Những chiếc mền u mê lầm lạc
không bao giờ thăng tiến. Mỗi
lần trong sạch là mỗi lần u mê,
ô nhiễm biến mất, biến mất,
biến mất. Tôi hy vọng rằng qúy
vị hiểu được cái đặc tính
tương đối của tâm chúng ta.
Đặc tính tuyệt đối
của tâm chúng ta hay của linh hồn
chúng ta thì không nhị- nguyên. Cái
tâm không nhị-nguyên này không bao
giờ bị những cảm xúc
lôi kéo hay quấy rầy. Bản tính
tự nhiên của nó luôn luôn trong
sạch.
Chúng ta nên hiểu rằng
cái tiềm năng nguyên tử
lực của mỗi người chúng ta
chính là tâm thức của chúng
ta. Tâm thức của chúng ta không
hề bị trộn lẫn với
những cái xấu, những sự
kiện tiêu cực. Nó có đặc
tính riêng của nó: tương đối
và tuyệt đối. Tâm thức
giống như đại dương. Những
xung đột của cái tôi giống như
những làn sóng. Tất cả
những ý niệm và tất cả những
mâu thuẫn giống như những làn
sóng nhấp nhô trên tâm thức,
ngoài tâm thức. Chúng nhấp nhô,
lên xuống -- whoop, whoop! -- rồi lại
trở về tâm thức.
Hình ảnh đó cho chúng
ta thấy mỗi tâm thức hay mỗi linh
hồn của riêng mỗi người
chúng ta hoàn toàn trong sạch tự
nhiên. Giống như những làn
sóng trên mặt biển, chúng ta có
làn sóng tham, làn sóng sân và
làn sóng si. Đồng thời
chúng ta cũng có khả năng làm cho
tâm của chúng ta yên tịnh, không lay
động, không xáo trộn, chúng ta
có thể giữ tâm của chúng ta
như mặt biển không có sóng.
Công việc đó Phật giáo gọi
là thiền định.
Tất cả những lầm
lẫn, tất cả những bất mãn,
tất cả những đau khổ
đều đến từ những
sự chuyển động, từ
những động lực trong tâm của
chúng ta. Qúy vị sợ ư ? Hãy thư
dãn, ngồi thoải mái. Hãy nghĩ
chúng ta không là người.
Đó là sự thật. Nếu
chúng ta nghĩ chúng ta là một
người nào đó, chúng ta
sẽ “khớp”. Phải không?
Phải! Tốt.
Tất cả những vấn
đề, tất cả những gốc
rễ sâu xa của tất cả những
vấn đề của con người
đang nằm một chỗ nào đó
ở bên trong tâm. Thật là có
gía trị, nếu chúng ta trực tiếp
kiểm điểm soi tìm nó. Mỗi một
người chúng ta nên thấu hiểu
rằng bản tính của chúng ta không
hoàn toàn xấu, khổ, đau, buồn
và không có hy vọng. Chúng ta nên
kính trọng tự nhiên tính của
chúng ta, sự thanh tịnh của chúng ta,
bản tính của chúng ta. Như thế
chúng ta mới có thể bắt
đầu kính trọng người
khác. Nếu chúng ta chỉ giận hờn,
ganh ghét, ích kỷ, tiêu cực,
chán nản và mất hết hy vọng
thì chúng ta cũng chỉ nhìn thấy
người khác cũng y như vậy.
Thật là nguy hiểm!
Khi chúng ta thiền, tri giác
của chúng ta hay thức giác của
chúng ta không phải là một
người thiền. Đôi khi người
ta nghĩ, vì họ quen dùng ngũ quan
nên những cảm nhận từ
giác quan là sự thật. Vì thói
quen của người Tây phương,
cái gì họ sờ mó
được, thấy được,
ngửi được ...vân vân... là
của họ thành ra họ cho tất cả
những đối tượng cảm
giác là sự thật.
Thực ra, thức giác
chỉ là gỉa, chỉ là một sự
đánh lừa. Nó không đủ
thông minh, nó không có khả năng
để phân biệt xấu tốt.
Đó là lý do tại sao khi vừa
mở mắt ra là chúng ta đã
bị quyến rũ ngay, là chúng ta chạy
theo những ý niệm nhị nguyên ngay
lập tức. Trong thiền định,
những sự lừa đảo của
thói quen tri giác này sẽ tự
động chấm dứt.
Gỉa sử chúng ta đang
ở trong nhà và đang nghĩ về
trái lê, “ Ồ, đây là
một trái lê đẹp.” Ngay
trước khi đi chợ, tâm của
chúng ta đã tưởng
tượng về trái lê và
quyết định sẽ mua lê hôm nay.
Vì thế, khi ra chợ, thấy trái
lê là chúng ta bị quyến rũ ngay.
Bởi vì chúng ta đã có những
tiền ý tưởng về nó.
Tri giác giống như dân
Thụy điển, thức giác giống
như chính phủ Thụy Điển. Chính
phủ luôn luôn có những quyết
định về dân chúng: thành
phần nào tốt thành phần nào
xấu. Đó là lý do tại sao
tâm thức luôn luôn có
những tiền ý niệm. Vì thế khi
tri giác thấy một sự vật, nếu
tâm thức nói “tốt” thì
nó tốt; nếu tâm nói
“xấu” thì nó xấu. Đó
là lý do tại sao tôi nói tri giác
rất khờ dại, nó không có một
chút khả năng phân tích nào.
Nó chỉ có thể nhìn
được những gì thô
kệch, không có cách nào để
nó hiểu được bản tính,
không có cách nào để nó
có thể hiểu được thể
tính. Không thể được. Khoa
học đã cố gắng hết
sức để tìm hiểu sự
thật qua những ống kính siêu
hiển vi nhưng đành thất vọng.
Phật giáo đã biết điều
đó, chúng ta không thể nào
hiểu được sunyata,
tính không bằng lý luận, bằng
ý nghĩa.
Buổi trưa nay chúng ta sẽ
thiền định trên cái tâm
thức riêng của chúng ta. Chúng ta
không nên sợ hãi, chúng ta
thường suy nghĩ, “ Làm sao tôi
có thể thiền được khi tôi
không biết gì về tâm thức
của tôi? Oâng sư này dậy tôi
nên thiền về tâm thức của
tôi, nhưng nếu đây là căn
nguyên của mọi vấn đề của
tôi thì làm sao tôi có thể
thiền về nó được?” Đây, thí dụ,
chúng ta đang ở trong cái phòng
này. Mặc dầu chúng ta không
trực tiếp nhìn thấy mặt
trời nhưng chúng ta vẫn nhìn
thấy những tia sáng. Vì thế
chúng ta biết, qua những tia sáng
nhận được, mặt trời
chắc chắn có, chắc chắn đang hiện
diện. Tương tự như vậy, chúng ta
biết rằng qua những kinh nghiệm của
chúng ta thì những tư tưởng
và những động năng đều
có ảnh hưởng đến tâm
thức của chúng ta. Vậy, vì nhận
biết có tư tưởng, vì biết
rõ có tư tưởng, vì tỉnh
thức trong tất cả những tư
tưởng của chúng ta và có
động năng thúc đẩy nên
chúng ta có thể thiền định
với tâm thức của chúng ta.
Mỗi khi chúng ta quan sát tâm của
chúng ta, mỗi khi chúng ta tỉnh thức
trong sự nhìn ngắm tâm của
chúng ta, là chúng ta đang thiền
về tâm của chúng ta.
Một cách khác để
thiền về tâm của chúng ta là
hãy nhận biết nó qua những kinh
nghiệm. Mỗi khi chúng ta nhắm mắt
lại chúng ta biết có một vài
tư tưởng đang đến; hãy
chỉ biết tư tưởng đang
đến. Đừng quan trọng hóa
về tư tưởng tốt hay xấu.
Qúy vị có hiểu không? Bản tính
của cả tốt và xấu đều
trong sạch bởi vì tâm phản
chiếu tất cả mọi hiện
tượng.
Bên Tây phương, danh
từ “ Thiền ” mang lại nhiều ngộ
nhận, hiểu sai. Đôi khi người ta
nghĩ, người ta diễn tả thiền
là xiết chặt mình lại, tự
thắt mình lại, có người
lại nghĩ thiền là bành
trướng ra, mở rộng ra. Cả hai
lối diễn tả này đều sai
lầm. Nếu chúng ta mở rộng ra,
chúng ta sẽ trở nên không
còn kiểm soát, bị mất tự
chủ; nếu chúng ta thu hẹp lại, chúng
ta sẽ trở nên ích kỷ.
Thiền rất là đơn
giản. Hãy nhắm mắt lại. Cái
gì đang xẩy ra? Sự tỉnh thức
của chúng ta làm việc giống như
một cái máy nhậy cảm. Giống như
một cái ra đa.
Nếu có một dấu hiệu nào,
nếu có một chấn động nào,
nếu có một rung động nào,
chúng ta liền nhận ra nó. Chúng ta
nhận được, hoàn toàn tỉnh
thức, hoàn toàn biết
được cái gì đang xẩy ra.
Qúy vị đang nghe tôi đấy
chứ? Đó là tất cả
những gì tôi gọi là thiền về
tâm thức.
Thiền không có nghĩa
là “ Ồ, có ánh sáng! Aùnh
sáng đến! Cái này, cái
này, cái này....”. Chúng ta không
có đối thoại gì cả. Giả
sử chúng ta đang thiền, chúng ta
đang nhận thức những cái
ở chung quanh đây -- bầu trời,
chiếc xe đang chạy qua -- chúng ta đang
nhìn thấy tất cả. Nhưng, chúng ta
tuyệt nhiên không nói gì cả, như
kiểu: “ Những cái xe này
đẹp qúa, chở đầy trái
cây và bánh kẹo ra chợ.”
Không nên có những kiểu
đối thoại này. Mặc dầu đang
nhìn ngắm chúng, nhưng chúng ta
cũng cần ở trong tình trạng
kiểm soát, tỉnh thức và tránh
tình trạng tâm lơ là, mơ màng,
không được kiểm soát.
Cái gì làm chúng ta
không có sự kiểm soát? Chính
cái đối thoại -- “Cô ta như
thế này, cô ta nói cái
đó, nó bảo như vậy, tôi
không thích cái đó, tôi
không thích cô đó, tôi thích,
tôi không thích...” -- Chúng ta
tự phản ứng với những
cái gì đang diễn ra. Kiểm soát
có nghĩa là không phản ứng.
Nếu có ai nói: “Anh là thằng
xấu,” chúng ta không phản ứng,
chúng ta không nói lại, “Nó
bảo tôi là thằng xấu, tôi
(cái tôi) không chịu
được.” Đó là phản
ứng. Đó là một cái tâm
không kiểm soát. Đó cũng
là một cái tâm bị quấy
nhiễu. Theo tôi, có hai hiện
tượng trong một cái tâm bị
quấy nhiễu: một là đối
tượng tốt đẹp, hai là
đối tượng đáng ghét.
Bị quấy rầy có nghĩa là
chúng ta không thoát ra khỏi ý
nghĩ về đối tượng, là cứ
bị cái đối tượng bắt
phải suy nghĩ. Qúy vị có hiểu
tôi nói gì không? Bị quấy
rầy có nghĩa là chúng ta không
có tự do, không có sự an
lành mà cứ luôn luôn nghĩ,
“ cái này, cái này, cái
này, cái kia, cái kia, cái kia.”
Đó là bị quấy rầy. Như
vậy một cái tâm sân hận, ganh
tương, tham lam, dính mắc là một cái tâm
luôn luôn bị phiền nhiễu, bị
quấy rầy. Đó là lý do
thiền định dậy chúng ta thói quen
không phản ứng khi bị những
đối tượng quấy nhiễu
xuất hiện.
Cái gì là ơn ích
thực sự và trực tiếp trong
sự tỉnh thức hướng về
tâm của chúng ta, thay vì cứ
để cho cái hoa này, cô bạn
gái kia, anh bồ này quấy rầy
chúng ta? Có những nguồn năng
lượng sẽ đến khi chúng ta tỉnh
thức trong cái tâm của chúng ta.
Tâm thức tự nó không có
cứng ngắc, bền chặt như xi măng,
như sự hiện diện của chậu hoa
này, như cô bồ này, như anh bạn
kia. Cái đẹp của sự quan sát hay
tỉnh thức trong tâm thức riêng
của chúng ta là nó sẽ
hướng dẫn chúng ta phá
đổ được những ý
niệm cố hữu của chúng ta; nó
sẽ trực tiếp hướng dẫn
chúng ta cởi bỏ những
lớp mền nặng nề của u mê,
của mù quáng để kinh nghiệm
được sự rỗng lặng, tính
không. Để giải quyết những
vấn đề, chúng ta cần những
kinh nghiệm của chính chúng ta, của chính
tâm chúng ta, như vậy chúng ta
mới có thể phá vỡ
được những ý niệm.
Từ đó, chúng ta mới
có đủ can đảm, đủ khả
năng, chúng ta mới có thể
nói được: “ Ô, tôi
có thể làm bất cứ gì, nếu
muốn giải quyết những rắc
rối, những trở ngại, tôi
có thể làm được.” Theo
Phật giáo, đó là con
đường mà tất cả mọi
chúng sinh có thể tự giải phóng
cho chính mình.
Chúng ta rất thông minh.
Chúng ta thường phán đoán,
thường phê bình,
“tốt/xấu, tốt/xấu, đẹp/xấu,
đẹp/xấu.” Chúng ta luôn luôn
như vậy. Nhưng khi thiền, chúng ta chấm
dứt nói tốt/xấu, tốt/xấu.
Chấm dứt sự thông minh phê
phán tốt/xấu. Đây chính là
nhị nguyên. Khi tâm chúng ta bị phân
tán --tốt/xấu, tốt/xấu,
tốt/xấu -- Hãy chấm dứt!
Hãy ngưng lại, chỉ tỉnh thức,
chỉ chú tâm. Như mặt trăng, như
mặt trời. Chúng không suy nghĩ,
“Tôi đang làm cho người
Thụy điển ấm áp” hay “
Tôi đang cho người Thụy
điển ánh sáng. Tội nghiệp họ
!” Mặt trăng và mặt trời
không bao giờ nói như vậy. Hãy
như mặt trăng, hãy như mặt
trời. Đó là điều quan
trọng.
Đức Di Lặc nói
rằng tất cả những sách
vở, giáo lý, kinh thánh...vân
vân... giống như những chiếc
cầu. Để đi qua sông chúng ta
cần những chiếc cầu. Sau khi
đã qua sông, hãy nói “ cầu
ơi, chào mi.” Sau khi đã qua sông,
không còn lý do gì để nghĩ,
“ chiếc cầu này qúa tốt,”
hay “cuốn kinh này tốt qúa.”
Nói như vậy, nghĩ như vậy chỉ
tỏ cho chúng ta biết chúng ta đang bám
víu, đang bị dính mắc vào
chiếc cầu, vào kinh sách.
Vậy, nó chỉ có lý khi
chúng ta dùng trí phân biệt
để biết gía trị tốt/xấu.
Nhưng lúc nào cũng “tốt/xấu,
tốt/xấu, tốt/xấu” thì
chẳng còn gía trị chút nào.
Vì thế, mặc dầu chúng ta cần
trí phân biệt nhưng có lúc
chúng ta nên đi ra ngoài nó.
Làm thế nào tâm tỉnh
thức có thể hướng dẫn
chúng ta đến những kinh nghiệm
không nhị-nguyên? Qúy vị có
thể nói lại rằng, luôn luôn
có hai cái hoa, có mặt trăng và
mặt trời, có rất nhiều
người. Vậy thì làm thế
nào có thể kinh nghiệm được
không nhị-nguyên trong khi nhị-nguyên
vẫn luôn luôn có đó, vẫn
luôn luôn hiện diện ở đây?
Nhị-nguyên là gía trị
công ước của sự thật, do con
người bằng lòng với nhau. Khi
chúng ta có kinh nghiệm về không
nhị-nguyên không có nghĩa là chúng
ta bị bắt buộc tin có thượng
đế; nó chỉ có nghĩa là
chúng ta sẽ hiểu sâu rộng hơn
về sự thật, về tất cả
những tập tục và những
công ước, khi đã hiểu
được chúng thì chúng
không còn lay động tâm chúng ta
nữa. Đó là lý do tại sao
chúng ta không nên tranh cãi khi chúng ta
đang cố gắng có kinh nghiệm về không
nhị-nguyên.
Trong lúc thiền, chúng ta
không nên thắc mắc, “ Tại sao
tôi phải làm cái này? làm
cái này thế nào? làm cái này
để làm gì? Có hai cái hoa, sao
ông sư này lại nói không
được nhị-nguyên?” Cái
kiểu thắc mắc này, cái kiểu tranh
luận này chúng ta nên chấm
dứt ngay. Chúng ta đang cố gắng
đạt được kinh nghiệm, chúng
ta không nên phá hủy bông hoa. Qúy
vị có hiểu không? Chúng ta đang
cố gắng phát triển khả năng
tỉnh thức và tìm hiểu toàn
thể sự thật về bông hoa.
Theo quan điểm của Phật
giáo, khi chúng ta tập trung vào tính
không nhị- nguyên của bông hoa thì
ngay tại thời điểm đó kinh
nghiệm về bông hoa sẽ biến, những công
ước về bông hoa sẽ biến
mất trong kinh nghiệm, trong chứng nghiệm.
Qúy vị đang nghe tôi nói phải
không? Vậy, khi chúng ta kinh nghiệm về
tính không nhị-nguyên của chính
chúng ta thì ngay tại lúc đó trong
tâm của chúng ta không còn ý
niệm thất vọng về chính chúng ta
--Tất cả đều biến mất.
Không còn thắc mắc, “tôi
đẹp hay xấu?” Qúy vị có
hiểu tôi muốn nói gì không?
Những sự liên hệ về một
sự đối thoại liền biến
mất. Ngay tại giây phút kinh nghiệm
đó không còn ý niệm về
sắc đẹp. Do đó không còn
sự lo lắng nào về nhan sắc
tàn phai. Khi sự lo lắng gỉam đi
thì những vết nhăn cũng giảm
đi.
Chúng ta đang thảo luận
về một trạng thái của kinh nghiệm,
kinh nghiệm của tâm thức, chúng ta
không nên lo lắng băn khoăn, “
tôi sẽ biến mất, tất cả mọi
sự đang biến mất, có thể
tôi sẽ chấm dứt con
người hư vô này.” Chúng ta
không nên lo lắng về điều
đó. Phải vậy không qúy vị?
Chỉ nên phá đổ cho tan tành
những ý niệm sai lầm, về một
triều đại của cái tôi. Trong
lúc thiền định, hãy chỉ tỉnh
thức trên cái tâm thức
của chính mình. Cũng đừng
diễn dịch, cũng đừng nghĩ
cái tâm của chính mình là
tốt hay xấu. Hãy là và hãy ra
đi ! Qúy vị có hiểu không?
“Hãy ra đi” không có nghĩa
là chúng ta biến mất; chỉ có
nghĩa là chúng ta đi trong sự
tỉnh thức. Sự tỉnh thức
giống như mặt trời, chiếu
những tia tỉnh thức --rồi ra đi.
Hãy là !
Hãy ra đi ! Vậy là đủ rồi!
Mỗi khi chúng ta nhắm mắt
lại, hãy thư dãn, thoải mái,
tỉnh thức. Thỉnh thoảng có
những mầu sắc xuất hiện, hãy
để chúng đến rồi đi.
Đừng suy nghĩ về những
mầu trắng xuất hiện, đừng
nói chuyện với chúng. Đừng
thắc mắc về chúng. Chỉ theo dõi,
chỉ tỉnh thức. Nói cách khác,
bất cứ cái gì tâm thức
của chúng ta đang kinh nghiệm
được trong lúc này, hãy
chỉ là, hãy chỉ tỉnh thức,
hãy chỉ biết sự liên tục
của trí nhớ của chúng ta mà
thôi.
Tôi nghĩ rằng đã
hết giờ rồi, phải không?
Qúy vị coi giờ xem sao? Bởi vì
tôi đang ở đây nên tôi
phải giữ đúng giờ, qúy
vị thông cảm. Điều mà tôi
đang cố gắng giải thích là
chúng ta chỉ nên đơn giản cố
gắng kinh nghiệm được một
vài điều trong cuối tuần này,
hãy phá hủy chiếc mền u mê
của chúng ta đi, như vậy cuối
tuần này mới thực có
gía trị. Qúy vị có hiểu
không?
Đây là sự cảm
nhận của tôi, quyền làm
người của tôi nói với
qúy vị. Qúy vị không cần
phải tin bất cứ điều gì
tôi trình bày. Không có gì
bắt buộc qúy vị cả, không có
một trách nhiệm nào, không có một
bổn phận nào bắt qúy vị phải
tin những vấn đề tôi trình
bày. Hãy chỉ đơn giản tự
kinh nghiệm chúng. Oâng sư này nói:
có được một chút kinh
nghiệm nào hay là không? Chỉ vậy
thôi. Không có kinh nghiệm về thiền
thì không giải thoát được;
như vậy Phật giáo chẳng giúp gì
được.
Nó rất đơn giản.
Chúng ta không cần phải trở
nên một đại thiền gỉa; chỉ cần thoải mái và
tỉnh thức. Đừng phê phán
những nhận thức của chúng ta
tốt hay xấu; chỉ cần tỉnh thức
về tất cả những tri thức
của chính chúng ta mà không diễn
dịch nó ra dưới bất cứ
một hình thưc nào cả. Như thị,
hãy là như vậy. Ngay cả những
ý tưởng xấu đến,
đừng lo lắng về nó cũng
đừng xua đuổi nó. Bản
tính của những tư tưởng
xấu cũng vẫn là tri thức trong
sạch.
Đừng
nói chuyện với những
đối tượng xẩy ra. Đây
là điều tệ hại nhất của
thiền định. Chúng ta chỉ nên
tỉnh thức với tâm thức
của chính chúng ta. Khi một ý
tưởng xuất hiện, đừng
vội xua đuổi nó, như nghĩ : “ Ồ, không
được, cái này xấu.”
Đừng tức giận như vậy.
Chỉ quan sát chúng, chỉ tỉnh
thức, chỉ biết chúng đang như
vậy. Đừng đối thoại, như
thế này: “ Ô, đẹp qúa,
tốt qúa, ...qúa, ...qúa, huyền
diệu qúa...” Đừng đối
thoại, đừng diễn dịch. Hãy
chấm dứt tất cả mọi hình
thức này, chỉ tỉnh thức!
Sự tỉnh thức này sẽ dẫn
chúng ta đến tình trạng không
còn nhị nguyên, không còn phiền
nhiễu.
Tôi nghĩ đã trễ
giờ. Khi bắt
đầu đi vào con đường
thiền định, trước nhất
hãy tìm hiểu cái động năng
nào đang thúc đẩy chúng ta. Nếu chúng ta
cảm thấy chẳng có động năng
nào cả, hãy ngồi thở tự
nhiên. Sau đó, chỉ quan sát, chỉ theo
dõi cái ý nghĩ riêng của
chúng ta. Tôi nghĩ rằng đã
qúa đủ rồi. Tôi không cần
phải giải thích thêm nữa. Qúy
vị sẽ thực hành, phải không?
Cám ơn nhiều lắm và sẽ gặp
qúy vị lại vào chiều nay.
BÀI
GIẢNG THỨ BA
Trong cuộc sống của chúng ta,
chúng ta đã tạo nên rất
nhiều kinh nghiệm hão huyền, tại lúc
chết chúng ta lại càng sản xuất ra
những phản ứng sai lầm, lú
lẫn. Vì càng về gìa, bốn
nguyên tố càng bị chìm lặn
đi, lại càng tăng thêm sự
lầm lẫn, lại càng mất đi
sự sáng suốt. Càng về gìa,
những cảm nhận của các cơ quan
trong người càng yếu đi; bốn
nguyên tố bắt đầu ngưng hoạt
động. Người thì mất thị
giác hoặc nhìn cái này ra cái kia,
người thì đi lại khó khăn
hoặc không còn có sự kiểm
soát bình thường.
Khi chúng tôi nói
“nguyên tố đất (địa
đại) chìm đi” thì chỉ là
ngôn từ. Nó có nghĩa là
những thành phần cứng -
xương cốt trong thân thể - bắt
đầu hư hoại. Những cơ quan
cảm nhận của người gìa bị
hư hoại, chúng không còn có
khả năng nhìn rõ ràng, làm
việc đúng. Nguyên tố địa
đại đã bắt đầu bị suy
thoái, có khi ngay cả khi còn trẻ.
Không phải chỉ có
những giác quan bị suy thoái mà
ngũ uẩn - những nhận thức
của năm giác quan - cũng trở
nên yếu dần, vì thế chúng mang lại
những sự lầm lẫn và hư
ảo. Ngay cả xúc giác cũng bị suy
thoái, không còn cho chúng ta những
khoái cảm. Khi chúng ta bị nhiễm
trùng hay bị bệnh, những thứ
như thức ăn, mầu sắc, hình
dáng...vân vân...cũng không còn
cho chúng ta những khoái cảm mà
thường ngày vẫn có. Chúng ta
không còn cảm giác với
những đối tượng hấp
dẫn, ngay cả khi đứng
trước một đóa hoa tươi
thắm. Bông hoa ngay ở đây mà
chúng ta cũng chẳng còn hứng
thú gì. Có khi nó còn làm
chúng ta thêm bực mình: “ Bông
hoa đỏ này đang ghét, đem
vất nó đi!” Những người
bị bệnh, những người bị
khó chịu ở trong người
thường có những phản
ứng như vậy.
Sự suy thoái của tứ
đại có ảnh hưởng
đến tâm lý, chúng là
nguyên nhân của những kinh nghiệm
ở nội tâm, chúng cho những
ảo ảnh, như sương khói như lửa
chập chờn. Tất cả đều
là những kinh nghiệm ở bên
trong, ở nội tâm, không có
lửa ở bên ngoài. Họ cảm
thấy nóng, thấy lạnh nên họ
cứ lẩm bẩm: “Hãy đổ
nước đi,” hay “ Hãy dập
tắt lửa đi.” Sự lầm
lẫn, lẩm cẩm xẩy ra ở bên
trong. Họ cảm thấy lửa đang
cháy, đang thiêu đốt họ
ở bên trong. Đó là
những ảo cảnh đang xẩy ra
ở bên trong. Họ thấy như có
lửa, có nước thực
sự, nên những nhận xét của
tâm thức chỉ toàn là những
sai lạc, huyễn ảo. Nếu chúng ta có
thể tưởng tượng
được
những hình ảnh này, chúng ta
sẽ hiểu rất rõ.
Thông thường, cái
tôi của chúng ta cứ muốn nắm
bắt những đối tượng.
Nhưng ở thời điểm tan rã
của tứ đại thì những
đối tượng ở bên
ngoài đều tan biến. Chúng ta chỉ
thấy, chỉ kinh nghiệm những hình ảnh
giả đầy huyễn ảo. Chúng ta
mất hết những cái chúng ta
muốn nắm bắt, muốn chiếm
đoạt nên chúng ta đâm ra
sợ hãi. Cùng lúc đó
chúng ta cũng không còn nhận ra
chúng ta nữa. Trong khi chúng ta đang
cảm nghiệm sự chìm dần của
tứ đại cùng những ảo
ảnh của chúng để lại thì
chúng ta hãy nhớ rằng năm
giác quan và năm nhận thức
cũng đang suy thoái. Nên biết
rằng cả một đời chúng ta
ôm ấp cái tôi của chúng ta
thì bây giờ đây nó
đang từ từ biến mất, chúng
ta mất nó, chúng ta đâm ra sợ
hãi, sợ hãi vô cùng. Trong
đời sống thường ngày,
cái tôi là bạn chí thân của
chúng ta, nó luôn luôn làm cho
chúng ta cảm thấy an lòng. Nhưng bây
giờ, khi mà tất cả mọi sự
đang tàn phai, đang tan rã thì cả
bên trong lẫn bên ngoài đều cho
chúng ta sự sợ hãi, chúng ta
mất hết nơi bám víu, chúng ta
mất hết điểm tựa, chúng ta
mất hết sự an toàn.
Bằng sự thực hành
thiền định, chúng ta tự giáo
dục chúng ta những gì sẽ xẩy
ra trong lúc chết để chúng ta nhận
diện được những sự
việc gây ra ảo giác trong tâm
thức chúng ta. Hãy nhận biết
rằng những ảo giác này không
phải tự chúng mà có
được và chúng ta cũng
chẳng có liên hệ gì với
những đối tượng hão
huyền đó, nhận biết này
giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
tính không, về sự rỗng lặng.
Chúng ta không nên nghĩ
và tin rằng
“CÁI-TÔI-ĐANG-CÓ-ĐÂY” là có thật.
Chúng tôi cố gắng dùng
những từ ngữ giáo dục
như “ không có nhị-nguyên TÔI.”
Chúng tôi cố gắng dồn vào
qúy vị: “không có cái TÔI
hiện hữu.” Chúng tôi cố
gắng giải thích một cách thông minh,
nhưng tại thời điểm chết
sự thúc đẩy thông minh này
không còn cần thiết, vì chúng ta sẽ
mất cái hiện hữu của chúng ta
một cách rất tự nhiên.
Đó là lý do tại sao trong lúc
thiền, có rất nhiều người
chứng nghiệm được sự
mất cái tôi của họ và họ
đâm ra sợ hãi. Đó là
điều rất tốt, chúng ta nên
sợ !
Những ông sư Tây tạng
muốn làm cho qúy vị sợ.
Người Tây phương không thích
sợ. Tuy nhiên, chúng tôi có
tài làm cho qúy vị sợ.
Đã có rất nhiều người
có kinh nghiệm này. Tại sao chúng ta
lại sợ khi mất một cái gì?
Mất cái tôi có nghĩa là
mất cái tự hữu hay mất
cái ý niệm bền chắc về một
cái tôi --đó là điều
làm chúng ta run sợ. Cái phóng
tưởng, cái vọng tưởng
về một cái tôi có thật đang
run sợ. Đó không phải là
cái không nhị-nguyên hay cái bản tính
tự nhiên của chúng ta run sợ,
chính cái tâm vọng tưởng run
sợ.
Trong lúc Lạt ma Je Tsong Khapa đang
giảng dậy về tính không, một
người đệ tử ruột của
ngài ngộ tính không. Ngay trong lúc
đang nghe giảng, ông ta run lên vì ông
ta cảm thấy mình biến mất, hoàn
toàn biến mất. Nên ông ta liền
ôm lấy chính ông ta và cả
người ông ta rung lên. Lắng nghe
sự giảng dậy về tính không
và chứng nghiệm về tính không
đến cùng một lúc. Nên có
những sự kiện như vậy. Do
đó sự khám phá ra bản
tính tự nhiên của chúng ta sẽ
phá đổ tất cả những ý
niệm vững chắc về một cái
tôi huyễn ảo.
Bên Tây phương có
rất nhiều nghĩa khác nhau về
từ ngữ “ Mất cái tự
ngã, mất cái tôi.” Có hàng
trăm lối giải thích khác nhau về
chữ “ Self, tôi, thằng tôi,
cái bản ngã, tự ngã, ích
kỷ, của tôi, tự tôi, chính
tôi,......TÔI ! ” Bởi vì
đã có những tiền ý
niệm nên chúng ta nhất định
bản tính của chúng ta “ Tôi
là thế này ! ” Chúng ta tự cho
nó thường hằng bất biến,
không bao giờ mất, tự có như
vậy đời đời kiếp
kiếp. Tương tự như vậy, khi
người Thiên Chúa giáo diễn
tả về linh hồn, họ đã sáng
tạo nên một cái tôi, họ nghĩ,
“Tôi thế này, thế kia, đây
là tôi.” Họ có một tiền
ý niệm rất mạnh mẽ về họ
là ai, họ là cái gì. Cái
“tôi ” này không hiện hữu,
không có, nó chỉ là một
phóng tưởng về một cái
tôi của riêng anh.
Thí dụ, khi một người
tự giới thiệu họ, bằng
cách nói, “ tôi như vậy
đó, là chồng của một bà
như vậy đó, ” ông ta trình diện
một khái niệm về cái tôi của
ông ta như là một người
chồng tự hiện hữu. Do đó
ông ta tự coi ông ta một cách
vững chắc là người
chồng như vậy và ngay khi đó
ông ta xây dựng, ông ta phóng
chiếu hình ảnh người vợ
của ông ta cũng phải như vậy.
Oâng ta trình diện ông ta trong chiều
hướng đó và tin tưởng
rằng “ vợ tôi cũng phải như
vậy, một người vợ tự
hiện hữu như vậy.” Kết qủa, ý
niệm này đã mang đến toàn
là đau khổ. Cho tới khi nào
sự có mặt của tôi còn
tùy thuộc vào sự có mặt
của vợ tôi, sự hiện hữu
của vợ tôi còn lệ thuộc
vào sự hiện hữu của tôi
thì khi vợ tôi mất đi tôi
cũng phải mất đi ! Qúy vị
có hiểu không? Vậy, khi ông ta cho
ông ta là một người chồng
như thế nào thì ông ta cũng
phóng tưởng người vợ
phải như vậy. Rồi khi ông ta không
được là người chồng
như vậy, người vợ của
ông ta không như ông ta tưởng,
nó khác, nó thay đổi, nó
luôn luôn thay đổi mỗi ngày,
ông ta liền nổi cáu với
thực tại, ông ta liền nổi sùng
với sự thật.
Ngay cả những người
trẻ tuổi Tây phương cũng trải
qua sự lầm lạc này. Khi vừa
mở mắt, họ đã hỏi,
“Tôi sẽ làm cái gì ở
xã hội Thụy điển này? Tôi
sẽ là một kỹ sư? một khoa học
gia?...” Họ muốn xác nhận họ
với một vài cái gì
đó. Họ cảm thấy, “tôi
muốn một chức vụ.” Những
người bạn trẻ rất là
bối rối bởi vì xã hội
này nói với họ, “anh phải
là như thế, chị phải như
vậy.” Một đàng họ tin cái
này, đàng khác họ lại tin
cái kia. Đúng ra, họ muốn có
một cách nào đó để
xác nhận họ nhưng họ không tìm ra
cách nào cả, dù là một
sự xác nhận tạm thời, rồi
họ trở nên điên loạn. Họ
dùng thuốc, họ cảm thấy mất
hết hy vọng: “ Tôi không xác định
được tôi, tốt hơn tôi
nên bỏ cuộc.” Điều này
không có nghĩa là họ không
có một cái tôi. Họ đã
có một cái tôi rồi. Tuy nhiên,
cái tôi của họ muốn xác nhận
một cái khác nữa. Họ đã
có một tiền ý niệm về họ
là ai, nhưng họ vẫn muốn thêm
nữa, một cái hay hơn để
bỏ thêm vào cái kho tiền ý
niệm của họ, nhưng họ đã
không tìm thấy cái nào.
Cái hình ảnh ôm
giữ cái tôi như là một
thực thể tự hiện hữu
này rất dễ nhận ra. Không khó
lắm. Ngay bây giờ chúng ta có thể
nhìn thấy cái hình ảnh mà
chúng ta muốn là, hay cái hình
ảnh về một cái tôi mà chúng
ta hằng mơ tưởng. Ngay ở
đây, ngay bây giờ, chúng ta
hãy thử kiểm chứng xem sao. Ngay
từ khi chúng ta có tiền ý
niệm về hình ảnh của chính
chúng ta là chúng ta bắt đầu
có vấn đề. Chúng ta luôn
luôn tự mâu thuẫn, “tôi
vẫn chưa tốt đủ”, nguyên
nhân là chúng ta đang ôm giữ.
Nếu chúng ta tự kiểm điểm theo
phương pháp này, chúng ta có
thể hiểu được chúng ta
đã bị ô nhiễm như thế
nào, nó cho chúng ta biết chúng ta chưa hề
chạm được sự thật -- qúy
vị có thể biết ngay bây giờ.
Vì chúng ta tự cho chúng ta một
phóng tưởng giới hạn, một
hình ảnh giới hạn nên nó
trở nên một căn bản cho tất
cả mọi thứ: giới hạn về
tình yêu, giới hạn về trí
tuệ, giới hạn về lòng từ
bi... Chúng ta đã thiết lập một
căn bản giới hạn cho chính
chúng ta, chúng ta đã trở
nên chật hẹp. Vì lý do đó,
tất cả mọi thứ trong cuộc
đời của chúng ta --đời
sống, trí tuệ, tình yêu...--cũng
trở nên chật hẹp. Bởi vì
chúng ta đã tự giới hạn
chúng ta chật hẹp như vậy.
Vào lúc chết, khi mà
tứ đại bắt đầu chìm
thì tất cả những ý niệm
thô kệch về chúng ta, về
những lạc thú của chúng ta,
về những sinh hoạt của chúng ta,
về bạn bè của chúng ta, về an
toàn, về tình yêu, về lòng
từ bi,... tất cả đều tan
biến hết. Đó là lý do tại
sao chúng tôi nói khi mà phong đại
(khí) chìm vào tâm thức, thì
80 hình ảnh u mê về cái tôi
biến mất. Khi đó 80 hình ảnh
này chấm dứt. Tại nội tâm,
chúng ta sẽ kinh nghiệm được
sự vắng lặng vĩ đại, chúng
ta sẽ kinh nghiệm được sự
trống rỗng vĩ đại, như bầu
trời xanh kia; chúng ta sẽ chứng
nghiệm được, sẽ kinh nghiệm
được tự bên trong hoàn
toàn rỗng lặng. Bình thường,
chúng ta qúa bận rộn với
những ý niệm ô nhiễm,
với 80 hình ảnh u mê, nên
không còn chỗ để nhìn thấy sự
thật.
Vào giờ của tử
thần, tất cả những ý niệm
về nhị nguyên biến mất, nó cho
phép chúng ta chạm được
sự thật. Đó là tất cả
những gì chúng ta sẽ kinh nghiệm
được. Cũng thế, năng lượng
vật chất của chúng ta thường
ngày đi sai đường, lạc
lối, bị ô nhiễm, bị thất
thoát. Nhưng tại lúc chết, tất
cả những nguồn năng lượng
này được kết tụ lại
một cách tự nhiên vào kinh mạch
chính, kinh mạch trung tâm (shushuma) nên chúng ta sẽ kinh nghiệm
được sự đại lạc,
sự rỗng lặng tuyệt đối.
Đó là lý do tại sao mật tông
thường chăm chú vào việc
đưa năng lượng vào kinh mạch
chính. Chúng ta đặt hết sự
chú ý vào các luân xa để
dẫn năng lượng vào kinh mạch
chính. Mỗi khi chúng ta tập trung vào
luân xa rốn (quen gọi là luân
xa đan điền, hay luân xa 3. --Dg), luân xa trái tim,
luân xa cổ họng, luân xa ở
giữa hai chân mày, luân xa đỉnh
đầu là chúng ta thẩm thấu
vào thể vi tế, vào kinh mạch trung
tâm, rót tất cả năng
lượng vào đó, chấm
dứt ngay tất cả những
hướng đi sai lạc của năng
lượng. Vì thế tất cả
những vị hành gỉa du gìa nam (yogis)
cũng như nữ (yoginis) kiểm soát
năng lượng của họ bằng
cách thiền đi vào kinh mạch chính,
trong lúc thiền họ có những kinh
nghiệm giống y như lúc chết.
Sau khi tứ đại đã
chìm hẳn, hơi thở liền ngưng.
Bốn linh ảnh bắt đầu xuất
hiện: linh ảnh có mầu trắng,
đỏ, đen và trong sáng. Bốn linh
ảnh này sẽ hội tụ tại kinh mạch
chính. Linh ảnh có mầu trắng phản
ảnh năng lượng trắng,
tượng trưng cho cha; tâm thức
của người chết sẽ kinh nghiệm
được không gian bao la rỗng lặng,
giống như những tia sáng trắng.
Cũng như thế, mầu đỏ phản
ảnh năng lượng đỏ, sẽ
hội tụ vào kinh mạch chính, nó
tượng trưng cho mẹ; tâm thức
của người chết sẽ kinh nghiệm
được màu đỏ trong không
gian bao la. Trong mật tông họ giải thích rằng
trong mỗi một người chúng ta
đều có những nguồn năng
lượng âm dương kết hợp
này, hai năng lượng này luôn
luôn có trong chúng ta. Sau khi linh ảnh
đỏ biến mất, linh ảnh đen
sẽ xuất hiện rất ngắn ngủi.
Rồi linh ảnh trong sáng
đến, có nghĩa là tâm thức
của người chết sẽ kinh nghiệm
được toàn thể sự bao la
vĩ đại của không gian rỗng
lặng. Vào trong không gian rỗng lặng
tuyệt đối này sẽ kinh nghiệm
được, sẽ cảm nghiệm
được sự thật tuyệt
đối của sự trong sạch, cũng gọi
là chứng nghiệm ánh sáng trong
suốt. Trong cả thời gian kinh nghiệm
ánh sáng trong suốt này tâm
thức của người chết sẽ
không còn biết được bất
cứ một cảm giác trần tục
nào nữa. Sẽ không còn một
chút ý niệm nào về một
người đàn bà đẹp,
một người đàn ông lịch
sự của Thụy điển, cũng
chẳng còn một tiệm buôn bán
nào ở đây; cũng không
còn một buổi hội họp nào trong
tòa nhà Liên hiệp quốc; tại
giây phút đó không còn một
chút gì bận bịu của Thụy
điển. Trong khi kinh nghiệm ánh sáng trong
suốt này, tất cả mọi hình
thức của cái tôi đều tan
biến hết --tôi hãnh diện, tôi tham
lam, tôi ganh tị, tôi ...tôi... đều
tan biến. Tất cả những trầm uất,
hình ảnh đen tối biến mất;
tâm thức của người chết
chỉ kinh nghiệm có ánh sáng trong
suốt mà thôi.
Đây, đây là
điều vô cùng quan trọng để
hiểu. Khi chúng ta đang bị ô nhiễm,
chúng ta không tỉnh thức. Chúng ta
cứng nhắc, chẳng có chút
uyển chuyển nào, không cởi
mở, chúng ta lầm lạc, vì thế
chúng ta không trong sạch. Nên tất
cả những thức giác chỉ kinh nghiệm được
sự đen tối. Nhưng phải hiểu
rằng chúng ta vẫn trong sạch, chúng ta
vẫn luôn luôn biết ánh sáng
ở ngay trước chúng ta. Tôi tin
chắc chắn rằng qúy vị biết
điều đó, kinh nghiệm được
điều đó,
nhưng , vì vô minh,
mà chúng ta bị ô nhiễm, chúng ta
bị mù, chúng ta không còn thấy
gì cả. Khi tâm chúng ta trong sạch
thì ngay lúc đó ánh sáng
sẽ chiếu soi. Nếu chúng ta lầm
lẫn, sai lạc và không trong sạch thì
những hình ảnh ô nhiễm sẽ
xuất hiện ngay lập tức trong tâm
của chúng ta và ngay trước mặt
chúng ta. Đây là một điều
vô cùng quan trọng mà chúng ta phải
hiểu, phải biết.
Khi chúng ta cảm thấy u uất,
nặng nề ở bên trong là tâm
của chúng ta không còn hoạt
động. Ngay khi chúng ta cảm thấy
đời sống của chúng ta tràn
đầy u tối, mặc dù chúng ta có
đi ra ngoài trời trong sáng kia
chúng ta cũng chẳng thấy gì, chỉ
thấy một mầu đen tối. Nhưng khi
tâm hồn trong sáng thoải mái, dù
bầu trời có âm u chúng ta
cũng vẫn cảm thấy tươi vui.
Đây là tất cả những gì
tôi muốn trình bày với qúy
vị. Có bao nhiêu người trong
qúy vị ở đây có
được kinh nghiệm này? Nó rất đơn
giản. Tôi không bao giờ nói
những chuyện cao xa ở mãi trên
kia. Hãy tỉnh thức.
Càng bối rối, lầm
lẫn trong cuộc đời, càng xác
định được những phản
ảnh trong cuộc sống. Cũng giống như
vậy, nội tâm càng trong sạch an tịnh,
ngoại cảnh càng an vui, hạnh phúc.
Quý vị hãy tự phân tích
lấy, nó rất đơn giản. Nó
không phải là kinh nghiệm của thiền
định mà là những cảm
nhận trong cuộc sống. Mỗi khi chúng ta
xuống tinh thần, rất tiêu cực,
chúng ta có thể nhìn thấy một
cách rất dễ dàng đời
sống ở bên ngoài cũng phản
ảnh như vậy. Nhưng khi tâm hồn
lành mạnh, trong sáng thì những
cảnh sống ở bên ngoài cũng
dễ dàng vui tươi, cũng xẩy ra trong
sáng. Đó là điều quan trọng
nhưng rất dễ hiểu. Nó không
qúa cao, nó không khó hiểu. Nó
rất dễ cảm nhận. Chúng ta đang
nói về tiêu cực và tích
cực, vui và buồn, phải chăng
đây là công việc của chúng
ta? Công việc của chúng ta là cố
gắng trở lên tích cực, vui
tươi và có thể thực hành
được; vậy hãy cố gắng
phân tích lãnh vực này, làn
sóng này.
Tôi sẽ trình bày theo
một khía cạnh khác. Chúng ta
đã đọc tiểu sử của
rất nhiều Lạt ma, họ luôn luôn
có những linh ảnh trong sáng về
các vị thần linh, như Phật, Văn
Thù Sư Lợi, Quan Thế Aâm...vân
vân...Họ luôn luôn có những
linh ảnh trong sáng này xuất hiện ra
với họ. Nhưng chúng ta lại luôn
luôn có những hình ảnh
tức giận, tham lam, ganh ghét hoặc vô
minh xuất hiện. Đây là điều
rất dễ hiểu và đơn giản,
phải không qúy vị? Mặc dù
chúng ta là người nhưng có những
người luôn luôn có những
linh ảnh trong sáng, có những
người lại luôn luôn thấy
những hình ảnh đen tối. Chẳng
có gì qúa phức tạp trong vấn
đề này, rất dễ hiểu.
Nếu chúng ta chú trọng
và nhận xét thật kỹ vào
những kiểu mẫu mà chúng ta
thường có, thường gặp
như những linh ảnh, âm thanh, hình
ảnh... xuất hiện ra trong tâm thức
chúng ta thì chúng ta có thể phân
tích được những giấc
mơ và những hình ảnh đó.
Điều này không khó lắm khi chúng
ta muốn tìm hiểu ý nghĩa của
những gì xuất hiện trong tâm
của chúng ta. Đó là việc ích
lợi nếu chúng ta phân tích
nó. Đây là điều vô
cùng quan trọng để chúng ta học
hỏi về nghiệp. Mặc dù chúng ta
vẫn nói: “ nghiệp như thế này,
thế này...,” ‘nghiệp như thế
này, thế này’ không gây
được sự chú ý ở
chúng ta, nhưng khi kinh nghiệm được
nghiệp, chúng ta sẽ làm chủ
được sự hiểu biết,
chúng ta sẽ làm chủ được
sự tỉnh thức, chúng ta sẽ làm
chủ được tâm thức của
chúng ta về bất cứ sự
việc gì sẽ xẩy ra cho cuộc
đời của chúng ta, trong từng
ngày từng tháng -- nó sẽ
giúp chúng ta hiểu được
nghiệp.
Chúng ta đã
được nghe, có rất nhiều
đại thiền gỉa vẫn còn ở
trong tình trạng thiền định mặc
dù ông ta đã chết. Khi họ
đạt tới trạng thái kinh nghiệm
ánh sáng trong suốt, vị hành gỉa
ở ngay trong đó. Họ có thể
ở trong trạng thái đó cả
ngày, cả tuần hay có khi cả
tháng. Vì thế, mặc dầu hơi
thở đã ngưng nhưng họ vẫn
còn sống cho nhiều tháng nhiều
tuần. Cho tới khi nào họ còn ở
trong trạng thái thiền định là
họ còn sống, họ chưa chết.
Vậy,
điều quan trọng cho những
thiền giả Thụy sĩ là hãy thay đổi
luật nhân quyền của họ. Nhưng họ
cần xin phép chính quyền Thụy sĩ !
--“ Ngài có ý nói gì khi ngài
nói ‘xin phép để thiền?’
Chúng tôi không cần, chúng tôi
đã có phép rồi.” --Sau khi
chết, đừng đụng chạm vào
thân xác của những thiền giả
cho đến khi năng lượng thoát ra
khỏi mũi của họ hay bất cứ
phần nào trên thân thể của
họ. Đó là giấy phép mà
quý vị cần.
Chúng tôi cũng có một
cách giải thích khác: có một
số lạt ma lại nói rằng kinh nghiệm
ánh sáng trong suốt là kinh nghiệm
tính không; người khác lại cho
rằng đó là kinh nghiệm tính
không giả, nó không phải là kinh
nghiệm tính không thật. Họ tranh luận
về điểm này. Vậy, làm thế
nào người ta có thể nói
họ kinh nghiệm được tính
không? Có lẽ không phải việc
của chúng ta để tranh cãi về kinh
nghiệm được tính không hay
là không kinh nghiệm được
nó. Công việc của chúng ta là
chấm dứt những ý niệm
cứng ngắc và những u mê.
Ở ngay cái giây phút chúng ta kinh
nghiệm được không nhị
-nguyên hay không có một cái tôi
hiện hữu, thế là đủ
rồi. Vậy chúng ta không nên tranh
luận.
Chúng ta có thể nói
với nhau, theo kiểu thông minh hóa,
tôi có thể hỏi, “Kinh nghiệm
của anh về tính không là gì?”
Anh có thể trả lời, ” Ô, kinh
nghiệm của tôi về tính không
là lúc tôi không có bạn trai,
bạn gái hay không cần một thỏi
sô cô la.” Tôi hỏi lại, “ Tại
sao? ” và cuộc tranh luận bắt
đầu, “Không cần một thỏi
sô cô la, đó không phải là
tính không.” Quý vị có hiểu
không? Tôi có thể tranh luận kiểu
khác, “Không có vấn đề
gì về chính trị -- đó là
kinh nghiệm của anh về tính không.
Hừm. Đó không phải là
tính không.” Chúng ta có thể tranh
luận bằng bất cứ một cách
nào. Có thể tôi đang cố
gắng thuyết phục anh rằng đó
không phải là kinh nghiệm về tính
không.
Bây giờ, với
sự thực hành, chúng ta đang
xây dựng một kinh nghiệm về tính
không từ cái-không-là-gì
cả. Chúng ta cần phải xây dựng
kinh nghiệm về tính không. Chúng ta
cần phải xây dựng một chút kinh
nghiệm về tính không --từ kinh
nghiệm tính không thời trẻ con, kinh
nghiệm tính không thời thanh thiếu
niên, kinh nghiệm tính không thời
trung niên, kinh nghiệm tính không
thời lão niên, đến một kinh
nghiệm tính không vĩ đại. Chúng
ta đang nói về kinh nghiệm, không
phải về sự thông minh. Có rất
nhiều người nghĩ tính không phải
như thế này thế kia, nên khi họ
có kinh nghiệm tính không họ bảo
nó không đúng! Đó chỉ
là cách thông minh hóa tính không
mà thôi. Đó không phải là lối
trình bày mạch lạc về một kinh
nghiệm. Sự mạch lạc có nghĩa
là chúng ta bắt đầu từ
từ, từ từ, từ
từ. Chúng ta xây dựng từ
từ mỗi lúc một chút kinh
nghiệm về tính không và giảm
bớt đi, giảm bớt đi
những ý niệm cứng nhắc.
Vì thế, tại sao nói về tính
không một cách thông minh và
thực sự kinh nghiệm tính không
hoàn toàn khác nhau.
Ngay tại lúc kinh nghiệm về
ánh sáng trong suốt ngưng, là có
sự xuất hiện ngược lại.
Người chết báét đầu
thấy mầu trắng, đỏ rồi đen
rồi ánh sáng trong. Bây giờ, khi
ánh sáng trong ngưng thì mầu đen hay
mầu tối sẽ khởi lên. Rồi
từ mầu tối này, chuyển qua mầu đỏ
rồi trắng, rồi tất cả các
ảo ảnh đều xuất hiện.
Bây giờ chúng ta bắt
đầu nói về thân
trung ấm (bardo) Đừng vội vàng,
đừng hối hả, tôi muốn
qúy vị hiểu vấn đề này
một cách thật rõ ràng, thật trong
sáng. Trong tiến trình của sự
chết, ngay tại thời điểm kinh
nghiệm ánh sáng trong suốt ngừng,
chừng một giây, chúng ta liền
trở thành thân trong thân trung ấm.
Chúng ta sẽ kinh nghiệm mầu đen,
đến mầu đỏ rồi chuyển qua
mầu trắng. Cái tôi của chúng ta
cũng hiện diện ở đây. Trong
cái trạng thái đầy ô nhiễm
này, nếu chúng ta chú ý và
nhạy cảm chúng ta sẽ thấy một
vài loại mầu sắc nữa. Thí
dụ, nếu lòng tham hay sự ganh ghét
nổi lên mạnh bạo thì nó sẽ
chế ngự mầu sắc khác. Vì
thế chúng ta nên để ý
đến những loại hình ảnh
này. Kinh nghiệm trong tiến trình của
sự chết cũng giống như trong
lúc ngủ. Tiến trình này không
chỉ xuất hiện trong lúc chết mà
nó còn xuất hiện trong lúc ngủ hay
lúc chúng ta bị ngất xỉu. Mỗi khi
chúng ta bị kích thích mạnh, chúng
ta cũng có những kinh nghiệm như
lúc chết. Chúng ta nên thận trọng.
Mặc dầu chúng ta đã có
những kinh nghiệm về sự chết
rất nhiều lần nhưng chúng ta
đã không biết, đã không
có đủ sự chú ý
để nhận biết nó. Nên chúng
ta đã không hiểu được
những kinh nghiệm riêng của chúng ta.
Như chúng ta thấy đó,
tiến trình của sự chết không
có gì là bất thường
hoặc qúa xa lạ. Chúng ta đã
trải qua rất nhiều lần, mỗi khi
chúng ta đạt đến một cực
điểm là
chúng ta có kinh nghiệm về sự
chết. Đã từng có những
nguyên tố trong người bị chìm
mất mà chúng ta không biết
bởi vì chúng ta còn đang mải
mê trong vô minh mà không để
ý đến chúng. Nếu chúng ta
có nhạy cảm và thực sự theo
dõi từng hành động của
chúng ta, chúng ta sẽ nhận biết
được những sự chết
này xẩy ra trong đời sống
thường ngày của chúng ta.
Chúng ta đã từng có kinh
nghiệm, ngay cả trước khi biết
đến thiền.
Chúng ta đã từng
có rất nhiều kinh nghiệm qúi gía,
thực sự là như vậy. Tôi
không nói rằng chúng ta là
những đại thiền gỉa nhưng
tất cả chúng ta đã từng
có những kinh nghiệm qúi báu.
Thật là quan trọng để biết
được những điều
này, thật là quan trọng để
chú ý đến chúng và cũng
thật là quan trọng nếu gợi lại
được những kinh nghiệm qúi
gía này. Như thế, chúng ta sẽ
tự tin hơn và đời sống
tâm linh của chúng ta cũng sẽ
lớn mạnh hơn. Chúng sẽ giúp
chúng ta hơn. Nếu không
được như vậy, chúng ta
đã tiêu phí, đã vất
đi biết bao nhiêu điều gía
trị vào thùng rác như những người
Thụy điển vất rác đi mỗi
ngày. Thật là hoang phí. Chúng ta
có rất nhiều kinh nghiệm tâm linh
mà chúng ta cứ vất đi, trong khi
đó chúng ta lại đem vào
người, khoác vào người
những chiếc mền nặng nề trong
từng giây phút. Cái gì chúng
ta là, cái gì chúng ta kinh nghiệm
được, chúng ta không thể mua
được bằng tiền; chúng là
giá trị quí giá của chúng ta.
Nhưng thay vì như vậy, chúng ta lại
cố gắng quên chúng đi, vất
chúng đi mà đi khoác vào
người những cái mà không
phải là chúng ta -- thật là
điên cuồng!
Bây giờ, tốt hơn,
chúng ta hãy trở về công việc
của chúng ta. Hãy quán tưởng
chủng tử OM AH HUM. Hãy cố gắng
quán tưởng chủng tử OM mầu trắng đang ở trong
giữa khối óc của chúng ta.
Hãy nhận thức rằng chủng
tử trắng OM là nguồn năng
lượng tinh khiết của những
lời nói thánh thiện, âm thanh
thánh thiện và thân thể thánh
thiện của chư Phật, chư Bồ Tát hay
của bất cứ vị nào mà
chúng ta nghĩ rằng thanh tịnh.
Sau khi tụng âm OM, hãy tưởng
tượng những tia sáng trắng
đầy năng lượng OM
đang tràn vào thân thể của
chúng ta, rồi vào kinh mạch chính
của chúng ta, thấm nhập hết vào
thân thể chúng ta. Như vậy tất
cả những ý niệm, tất cả
những nguồn năng lượng bị
ô nhiễm của thân xác sẽ
được thanh tẩy trọn vẹn. Toàn
thể thân xác của chúng ta từ
đỉnh đầu đến ngón
chân, ngón tay đều được
thấm nhuần sự an tịnh, sự an
lạc của những tia sáng trắng
này. Hãy cảm nhận như vậy. Hãy
tụng âm OM khoảng hai đến ba phút trong
lúc thiền để thanh tịnh thân
xác. Ngay sau khi ngưng tụng mật chú OM, hãy chỉ tỉnh
thức, đừng nghĩ đến tốt hay
xấu, không phản ứng gì cả, không
đối thoại (ở nội tâm) gì cả, hãy dành tất
cả sự chú ý vào ánh
sáng tâm thức tại giữa
não bộ. Hãy ở đó. Hãy
chỉ tỉnh thức, rồi ra đi -- mà
không một chút trì trệ, xao lãng
nào cả.
Trước khi chấm dứt
bài giảng này, chúng ta hãy cùng
nhau thiền một chút. Không cần phải
gò bó, hãy tự nhiên, hãy
thực sự thoải mái, hãy
để cho năng lượng trôi chảy
tự nhiên, hãy chỉ là. Hãy
để cho năng lượng của hơi
thở được tự nhiên
luân chuyển. Đừng nghĩ rằng chúng ta
đang thiền, đừng nghĩ rằng
chúng ta là một thiền gia.
Đừng nghĩ chúng ta là một
người khiêm tốn. Đừng
nghĩ chúng ta là người chấp
ngã. Đừng
nghĩ bất cứ một cái gì,
một vấn đề gì. Hãy chỉ
là ! Hãy chỉ đang là !
Hãy để hai tay của qúy
vị ở vị trí nào cũng
được, sao cho thật thoải mái;
hãy nhắm mắt lại. Hãy quán
tưởng chủng tử trắng OM đang ở trong
óc của chúng ta. Tụng âm OM liên tục trong
khoảng ba phút. Đồng thời,
từ OM, nguồn năng lượng an
lạc Kundalini (nguồn tâm hỏa
trong người, có nơi còn gọi
là con hỏa xà, bình thường
nó ngủ tại luân xa 1. --Dg) ) đang tràn lan khắp thân
thể chúng ta, đi đến đâu
nó thanh tẩy tất cả những ô
nhiễm đến đó. Hãy quán
tưởng toàn thân thể của
chúng ta đang tràn ngập ánh sáng.
Đây là việc làm vô cùng quan
trọng. Tất cả đều tràn ngập
những tia sáng năng lượng.
Năng lượng sáng này giúp
chúng ta phá đổ tất cả
những ý niệm nhị nguyên kiên
cố kết tụ lâu đời lâu
kiếp ở chúng ta .
(Lặp
lại âm OM )
Được rồi. Hãy
ở trong trạng thái tỉnh thức --
rồi ra đi, đừng nghĩ gì
cả. Hãy là!
(
Mọi người thiền )
Sự tỉnh thức dẫn
chúng ta đến trạng thái zero, không
còn bản ngã, trống không, vắng
lặng, không. Hãy tỉnh thức, rồi hãy ra đi.
(
Mọi người tiếp tục thiền )
Được rồi. Tốt
hơn hãy ngừng ở đây
không thì chúng ta biến mất hết.
Cám ơn qúy vị nhiều lắm.
BÀI
GIẢNG THỨ TƯ
Ngày hôm qua chúng ta
đã thảo luận với nhau về
những ảo ảnh xuất hiện trong
lúc chết. Theo quan niệm của Phật
giáo thì tất cả những lầm
lạc, ảo ảnh và ô nhiễm này
đều bắt nguồn từ ba nguyên
nhân, từ tam độc: tham sân và
si.
Tất cả những ảo
ảnh đều từ ba độc tố
này mà ra. Nếu chúng ta không có
ba độc tố này thì chúng ta
sẽ không có bất cứ một
vấn đề nào trong lúc chết. Nếu
được như vậy thì chết
sẽ là một sự bình an, một
đại lạc. Đó là điều
quan trọng. Chúng tôi diễn tả sự
chết là sự nhận chìm, là
sự thẩm thấu của tứ
đại, khi chúng chìm đi chúng
để lại những ảo ảnh. Chỉ
có những người nào bị
tam độc hành hạ mới có
những sự mất cân bằng khi
tứ đại ra đi. Tứ đại
chìm đi có nghĩa là tứ
đại không còn cân bằng. Trong kinh
thư của Tây tạng danh từ
đất, nước và lửa
“chìm”, nhưng thực ra chúng
không chìm vào nhau. Theo danh từ khoa
học, nó bị suy đồi hay bị
mất cân bằng. Như vậy, khi một
“đại” biến mất là một ảo
ảnh xuất hiện, một “đại”
khác tan biến là một ảo ảnh
khác xuất hiện.
Nguyên nhân thoái hoá
của những
năng-lượng-không-cân-bằng trong
cơ thể là tam độc. Sách y khoa
của người Tây tạng giải
thích rằng lòng ham muốn sản xuất
ra “lung”. Có
nghĩa là khí không còn cân
bằng. Một khi lòng tham dấy lên là
khí trong người không còn
đều hoà, nó làm cho hơi
thở trở nên nặng nề khó
luân chuyển.
Lòng sân hận ganh ghét
sản xuất ra mật đắng. Vô minh
sản xuất ra TB (ho lao). Lòng tham lam vô
độ sản xuất ra xung khí, nó
có ảnh hưởng đến hệ
thần kinh. Lòng thù hận sản xuất
ra qúa nhiều mật đắng có hại
cho hỏa đại. Vô minh sản xuất ra
nước. Nếu năng lượng trong
người mà hoạt động mạnh
qúa, hoạt động qúa sức,
nó sẽ kích động mạnh tứ
đại làm cho con người xáo
trộn, kết qủa là sẽ có
nhiều lầm lẫn, lộn xộn xẩy ra.
Sự thắng thế của một đại
trong tứ đại sẽ tạo nên một
sự mất thăng bằng trong cơ thể,
nó có thể giết chúng ta. Khí
lực (phong đại) trong cơ thể của
chúng ta là nguồn sinh khí phải
không? Nhưng khi nó không còn cân
bằng, nó sẽ trở thành tử
khí. Cũng vậy, trái tim của chúng
ta, sức ấm của chúng ta, cũng
là những nguồn sinh lực, nếu
nó bị thất thoát cũng sẽ
gây ra rất nhiều phiền phức.
Chúng ta cần nước,
phải không? Nhưng nếu có qúa
nhiều nước, chúng ta cũng bị
chết. Vì thế, nếu tứ
đại cân bằng với nhau ở
trong cơ thể của chúng ta thì chúng
ta sẽ có sức khỏe tốt. Nhưng
khi một trong tứ đại này mất
cân bằng là toàn thể con người
bị ảnh hưởng, bị xáo trộn.
Đó là sự thật, sự thật
về con người của chúng ta.
Rất nhiều người
Tây phương đã đọc cuốn
Tử Thư Tây Tạng, trong đó
diễn tả rất nhiều cảnh kinh khủng,
như có nhiều người đến
tay cầm dao búa, nhiều người
xông đến để chém giết
chúng ta. Họ rất là hung dữ,
tàn bạo. Đó chính là lòng
ham muốn của chúng ta đã sản
xuất ra những hình ảnh kinh khủng
này.Tôi tin vào sự kiện này,
bởi vì trong cuộc sống của
chúng ta, chúng ta đã tích tụ
biết bao nhiêu là âm lực (năng
lượng âm), biết bao nhiêu là
điều không đúng sự thật
và biết bao nhiêu lớp mền
xấu xa nặng nề từ khi sinh ra
đến bây giờ, cộng thêm
với những kiếp trước
nữa nữa. Cuộc đời
của chúng ta hầu như chỉ để
sản xuất ra những sai lầm và u
mê?
Một lần tôi
được nghe kể, có những danh
ca đã bán được rất
nhiều đĩa nhạc trên khắp thế
giới, nếu chúng ta xếp những
đĩa nhạc này chồng lên nhau,
có thể nó sẽ cao gấp hai lần
núi Hy Mã Lạp Sơn. Giống như
vậy, những sản phẩm của chúng ta
về chiếc mền nặng nề cũng có
thể cao gấp ba, gấp bốn lần dãy
Hy Mã Lạp Sơn. Do đó, vì
những dấu ấn lầm lẫn mà
chúng ta đã có, đã tích
tụ, đã in sâu vào tâm
thức của chúng ta từ muôn
vàn kiếp nên chúng ta sẽ thấy,
sẽ kinh nghiệm được tất cả
những thứ này trong tiến trình
của sự chết.
Thí dụ trong thế giới
Tây phương, mỗi khi chúng ta nghe một
người mắc bệnh ung thư, thì,
“ Bị ung thư -- hãy đi vào nhà
thương.” Chúng ta có thể
tưởng tượng được
bệnh nhân sẽ như thế nào trong
những ngày tháng nằm ở
nhà thương không? Tôi nghĩ rằng
đây chính là địa ngục.
Tôi không cần phải nghe bất
cứ lời diễn tả nào về
cảnh địa ngục nữa. Mặc
dầu chúng ta đã có rất
nhiều sách nói về cảnh địa
ngục, đối với tôi, đây
là qúa đủ để nhìn
thấy những đau khổ mà
người mắc bệnh ung thư này
đang phải chịu. Một sự đau
khổ bất thường. Một sự
đau đớn hơn bất cứ
một sự đau đớn nào,
hơn cả một con vật. Qúy vị hãy
tự cảm lấy; không thể tin nổi.
Đôi khi chúng ta ý thức
được, nhưng rồi chúng ta lại
không ý thức và tiến trình
của sự chết lại lặp lại.
Thật là khủng khiếp,
đây chính là kinh nghiệm cảnh
điạ ngục. Nó giống y hệt
ở thân trung ấm. Một hình ảnh
hung dữ xuất hiện. Chính là
tử thần. Nó muốn nuốt
tươi chúng ta. Đây chính là con
ma đói của chúng ta.
Năm 1978 tôi đến San Francisco
để thăm một số người
bị bệnh ung thư. Sau khi thăm họ, tôi
không ngủ được, nó qúa
đau đớn cho tôi. Giống như xem
cảnh địa ngục. Tôi không thể
ngủ được.
Điều quan trọng là hãy
cố gắng giữ sự trong sạch
càng nhiều càng tốt. Mỗi một
ngày nên cố gắng giữ sự
trong sạch càng nhiều càng tốt.
Hãy giữ chúng ta luôn luôn
ở trong tình trạng trong sạch,
đừng tạo thêm ô nhiễm qua
thân khẩu và ý của chúng ta
nữa. Như vậy sẽ không có
vấn đề gì xẩy ra cả. Tâm
chúng ta cân bằng thì thân thể chúng
ta cũng cân bằng, như vậy chúng ta
sẽ tránh được bệnh tật.
Khi sự rối loạn, sự
lộn xộn xẩy đến trong lúc
thiền, hãy coi chúng chỉ là
những ảo ảnh không có thật.
Cũng như thế, trong tiến trình của
sự chết chúng ta coi những hiện
tượng xẩy ra đều không có
tự tính và không thật nên
chúng ta sẽ bớt sợ hơn,
sẽ vững tin hơn. Tất cả
đều tùy thuộc vào thái
độ của chúng ta đặt trên
những hiện tượng xẩy ra. Nếu
qúa sợ hãi, chúng ta sẽ mất
hết sự kiểm soát, sự tự
chủ. Nếu một hiện tượng
xuất hiện ra mà chúng ta có ý
chí mạnh để đối diện với
chúng thì chúng ta sẽ dễ dàng
kiểm soát được hoàn cảnh.
Thí dụ, một người
không thể nào chịu đựng
nổi một cơn bệnh trầm trọng, một
sự nhiễm trùng nặng nề hay
không thể nào đương đầu
với sự thất bại thảm
thiết. Họ không thể nào giữ
cho họ được thanh thản,
được an tĩnh trước
những cơn khủng khoảng này. Nhưng
nếu một người chết một
cách tự nhiên, không vì cơn
bệnh trầm trọng, không vì sự
trầm uất thì họ sẽ dễ dàng
giữ cho họ được an bình
hơn, được sáng suốt trong
giờ phút quan trọng này hơn.
Chúng ta có thể nhìn được
điều này. Nói rõ hơn, cấp
độ tự chủ, cấp độ
tỉnh thức, cấp độ sợ
hãi trong tiến trình của sự
chết hoàn toàn tùy thuộc vào
sự nặng nhẹ của tham sân và si.
Chúng ta có thể thắc
mắc, làm sao lại tham lam trong lúc chết
được. Lòng tham lam đến
từ tâm. Ngay cả trong lúc tỉnh,
cuộc sống của chúng ta bị dẫn
dắt bởi những tư tưởng
tham, chiếm hữu, tranh giành, muốn. Trong
lúc chết, thân xác của chúng ta
thì đóng lại nhưng tư
tưởng vẫn tiếp tục đến,
vẫn nuối tiếc dĩ vãng vẫn
níu kéo tương lai. Giống như trong
lúc mơ. Tư tưởng tham cũng
như vậy. Nó rất mạnh, vì thế
ngay trong lúc thân xác bắt đầu
lạnh, ngay trong lúc thân xác không
còn cử động, tam độc cũng
vẫn làm việc mãnh liệt ở
bên trong.
Hạnh phúc thay những
người chết một cách tự
nhiên, một cách nhẹ nhàng mà
không bị những chiếc mền nặng
nề lôi kéo. Phúc đức cho
họ là họ còn tỉnh thức,
còn tự chủ, còn trong sạch. Do
đó, khi tứ đại chìm đi,
để lại những ảo ảnh
dữ tợn họ vẫn tỉnh
thức để nhận diện chúng
là ảo, là gỉa, không có thật.
Họ không có một ý niệm gì
về một tự tính của thủy
đại, của hỏa đại...vân
vân... vì thế họ còn tự
chủ. Và rồi từ từ,
từ từ từng
“đại” chìm đi, thẩm thấu
đi, rồi chúng sẽ trở nên
trong sáng hơn, trong sáng hơn và
hợp nhất hơn giữa vô
tự tính và vô nhị-nguyên
tính. Và rồi chúng sẽ từ
từ được dẫn đến
tình trạng ánh sáng trong suốt.
Tình trạng này sẽ hoàn toàn
giúp đỡ chứ không gây
một trở ngại nào. Nó giúp
người chết hoà nhập trong
sự thật, trong nhất thể. Vì thế,
có điều lợi và cũng
có điều bất lợi.
Chúng ta không nên quá lo
lắng và sợ hãi chết sẽ
khó khăn, sẽ tái sinh là súc
vật, beo, cọp, lừa, khỉ hay vào ba
cõi thấp nhất. Tôi nói rằng
chúng ta không nên sợ hãi lo
lắng bởi vì chúng ta có
lòng từ bi, chúng ta nên phát
triển lòng từ bi. Người
nào có lòng từ bi với
tất cả chúng sinh tại lúc chết
thì sẽ không bao giờ sợ
hãi bất cứ một cõi nào
cả. Với tình thương bao la thì
không thể nào vào ba cõi thấp
được.
Bây giờ chúng ta lại
bắt đầu thiền. Lần
trước chúng ta đã thanh tẩy
thân xác, thanh tẩy nghiệp của thân.
Bây giờ chúng ta thanh tẩy khẩu,
lời nói, ngôn từ của
chúng ta, thanh tẩy nghiệp của miệng
lưỡi. Hãy nghĩ chủng tử
đỏ AH tại luân xa cổ
họng. Những tia sáng năng
lượng có mầu đỏ phát ra
từ chủng tử AH. Quán tưởng chủng
tử đỏ AH là những
lời nói thanh khiết của chư
Phật và của chư Bồ tát.
Thanh tẩy có nghĩa là thanh
tịnh tâm không được kiểm
soát, tâm không tỉnh thức và
những lời nói phát ra
từ miệng có liên hệ hoạt
động đến những
người khác, vật khác, sự
kiện khác.... Lời nói tiêu
cực, lời nói xấu sẽ làm
người khác đau khổ vì
sự không thành thật, vì vu cáo
hay vì phỉ báng. Tâm trong sáng,
lời nói thành thật, lời
nói được kiểm soát là phương
cách thanh tẩy ngôn ngữ không trong
sáng và không được kiểm
soát.
Vậy hãy quán tưởng
chủng tử đỏ AH. Mầu đỏ AH này giống như mầu
đỏ của mặt trời lúc
hoàng hôn. Hãy quán tưởng
những tia sáng mầu đỏ AH tại luân xa ở cổ
họng của chúng ta. Toàn thân thể
chúng ta được tràn ngập,
được bao bọc bởi những
tia sáng năng lượng an tịnh này.
Trong cùng lúc đó hãy tụng
âm AH nhiều lần, và
cũng như lần trước, hãy
chỉ là trong tình trạng tỉnh thức
của chính tâm mình. Hãy chỉ đang là! Hãy an trú trong
đó mà không khởi lên
bất cứ ý tưởng nào,
không diễn dịch, không đối thoại.
Hãy chỉ là như vậy, hãy chỉ
là chính sự tỉnh thức.
(
Lặp lại AH )
Hãy
thẩm thấu kinh nghiệm vô nhị-nguyên,
vô tự tính của bản ngã,
vô, không, zero, không gian rỗng lặng
như sự thật, như thực thể,
trống rỗng, lặng thinh. Nguồn năng
lượng vô biên này đang
thấm nhập vào chúng ta.
Một sự thẩm thấu mạnh
mẽ. Kinh nghiệm này thực tế hơn
những cảm giác mơ hồ từ
những giác quan của chúng ta. Nếu
có một tư tưởng không
được kiểm soát đến
quấy nhiễu, như ở trong thân trung
ấm (bardo), hãy coi
như không phải chỉ xẩy ra cho riêng anh
mà nó xẩy ra cho tất cả mọi
chúng sinh, tất cả mọi chúng sinh
đều có tình trạng này. Hãy
phát triển tâm bình đẳng và
lòng từ bi, lòng yêu thương
đến tất cả muôn loài. Hãy
dành tình yêu thương cho tất cả
muôn loài.
Tâm không tỉnh thức,
tâm rối loạn là nguồn phát ra
năng lực yêu thương. Khi lòng
yêu thương dâng trào, hãy
hướng tất cả những năng
lực tình yêu này vào tâm
thức của chúng ta.
Vậy, có hai vấn đề:
hãy đặt sự tỉnh thức
vào tâm của chính chúng ta hay khi
có sự rối loạn, sự bất an
xẩy ra, hãy chú ý hướng
năng lực tình yêu vào tâm
thức của chính chúng ta. Hãy
luân phiên thay đổi hai sự kiện
này.
Kế tiếp, năng lực
tình yêu của chúng ta sẽ thị hiện
trong kinh mạch chính (shushuma)
tại luân xa trái tim của chúng ta như
là một vầng trăng sáng tròn
đầy. Hãy quán tưởng tại
trái tim, trên một vầng trăng, có
những tia sáng mầu xanh của chủng
tử HUM. Đây là
năng lượng trí tuệ vô
nhị-nguyên của chư vị Phật và
chư vị Bồ Tát. Trái tim của
chúng ta hoàn toàn trong sạch, an tịnh,
được mở ra bởi
những tia sáng của vầng trăng
và chủng tử HUM. Những tia sáng
xanh vô tận đang phát ra từ HUM. Tất cả những tư
tưởng chật hẹp, nông cạn
đều phải tan biến đi. Tâm
bấn loạn, tâm không an tịnh đang từ
từ chuyển hóa, đang từ
từ tan biến. Tâm chiếm hữu,
tâm bám víu đang từ từ
tan biến.
Từ chủng tử HUM và từ vầng trăng
có những tia sáng đang dần
dần lan toả ra khắp thân thể chúng
ta. Thân thể tràn ngập sự an lạc.
Tâm nhị nguyên đang được
tràn ngập bởi những làn
ánh sáng xanh vô tận.
Trong lúc này hãy tụng
âm HUM khoảng hai, ba phút.
Sau hai phút này, hãy cảm nhận
những làn sáng xanh, như tâm
thức của chúng ta, đang bao trùm
khắp vũ trụ. Sự tỉnh thức
của chúng ta đang bao trùm khắp
vũ trụ. Hãy cảm nhận và hãy
là, mà không có một chút
diễn dịch hay suy đoán nào.
(
Lặp lại HUM )
Vậy, chúng ta cần có hai kinh
nghiệm: trí tuệ và phương pháp.
Kinh nghiệm trí tuệ là sự tỉnh
thức của thực tại tâm
thức của chúng ta. Đây là con
đường trí tuệ. Phương
pháp là mỗi khi chúng ta rơi vào
trạng thái mù mờ, mất kiểm
soát: chính kinh nghiệm bấn loạn này
là căn nguyên tạo ra lòng từ
bi và khi sự rối loạn ra đi hãy
an trú ngay vào trí tuệ. Nhắc lại
hai sự việc là: khi không có
vấn đề, hãy chú ý vào
trí tuệ; khi bị rối loạn, hãy
dùng phương pháp, phát triển
lòng từ bi. Như thế, chúng ta
có hai công việc phải làm mỗi
ngày.
(
Trở lại thiền định )
Hãy thường tụng niệm
câu mật chú OM AH
HUM. Khi
không tiện để tụng dài (ngân
dài) câu mật chú này, hãy
đọc đơn giản OM AH HUM. Nó cũng
đại diện cho cả câu mật chú.
Đặc biệt khi tụng âm OM, âm này sẽ đánh
thức tất cả mọi hiện
tượng, tất cả mọi cõi
giới trong vũ trụ; sự tỉnh
thức được kích thích,
nó sẽ đánh thức tâm
thức của chúng ta.
Tôi
được nghe nói các nhà
khoa học đã
có kinh nghiệm về âm thanh khôi phục,
bồi dưỡng bộ óc của
chúng ta, mặc dầu họ chưa hiểu
nó làm việc như thế nào. Họ
đã và đang phân tích, nghiên
cứu sự kiện âm thanh có ảnh
hưởng đến việc khôi phục
bộ óc. Họ đã khám phá ra
mật chú có tác dụng làm
thức dậy sự sinh hoạt của bộ
óc, thay vì để chúng im lìm say
ngủ. Khi chúng ta tụng “Ommmmmmmm”, chúng ta có thể
thấy toàn thể hệ thống thần kinh
của chúng ta bị kích thích. Vì
thế, thiền định có gía trị
đánh thức thay vì ngủ mê
---thức dậy trong tri giác bao la của
toàn diện thực tại chứ không
phải thức dậy trong u mê, ảo mộng
của nhị-nguyên. Mật chú chạm
vào thực thể bao la rộng lớn.
Đó là lý do mật chú thường
được sử dụng.
Tôi nghĩ rằng tôi nên
chấm dứt sự trình bày của
tôi ở đây. Điều vô
cùng quan trọng là bằng mọi cách,
chúng ta phải thực sự đi
vào tình trạng trong sáng, không
phải chỉ dùng trí thông minh mà
thôi. Với những kinh nghiệm trong
thiền định, chúng ta có thể thay
thế, chúng ta có thể cấy sự
tỉnh thức của chúng ta vào trong
tâm thức của chúng ta thay vì
để nó bị rối loạn hoặc
ù lì. Được như vậy là
đủ tốt rồi. Cấy sự tỉnh
thức vào trong tâm thức là
phương pháp của Phật giáo, như
là thiết lập một hỏa tiễn
nguyên tử. Hướng sự tỉnh
thức vào trong tâm thức của
chúng ta cũng như thiết lập một
giàn hỏa tiễn nguyên tử
để phóng vào không gian vô nhị-nguyên.
Chúng ta hãy tự “thiết lập”, đừng
bắt chước theo cách này hay
cách kia. Chỉ đặc biệt chú ý
vào sự tỉnh thức hay vào
chính tâm thức của chúng ta, hệ
thống hỏa tiễn nguyên tử nội
tại sẽ được kích hỏa, hay
sẽ được sửa chữa,
để phóng vào không gian vô
nhị-nguyên.
Nói một cách khác,
nếu chúng ta thành thật quyết tâm
thiền định theo phương pháp
này, tôi bảo đảm với
qúy vị, nếu cần tôi ký
giấy bảo đảm cũng
được, qúy vị sẽ có kinh
nghiệm về gía trị của vô
nhị-nguyên. Để giải thích thêm
một lần nữa: khi chúng ta chứng
nghiệm được vô nhị-nguyên,
được tính không, thì ngay
tại lúc đó, hãy có một
sự tỉnh thức mãnh liệt, một
sự chú ý mãnh liệt, và
hãy có một sự lãnh hội
sâu xa về nó. Đó là sự
thật. Đó là thực thể.
Đừng “hỏi và nêu nhiều
ý kiến”, đừng thắc
mắc “cái này, cái kia”, hãy
xây dựng, hãy phát triển một
sự mãnh liệt mạnh bạo ở
bên trong. Tôi không biết phải diễn
tả qua ngôn ngữ như thế nào.
Nhưng bằng bất cứ một cách
nào đó ở tận bên trong,
sức mạnh nội tâm ở sâu thẳm
bên trong sẽ thấu hiểu
được, sẽ lãnh hội
được sự tỉnh thức
của tâm là một thực tại,
là chính thực thể, sự tỉnh thức chính
là thực tại.
Tại sao lại phải đặc
biệt chú ý đến việc cần
phải có một sức mạnh lãnh
hội này? Thông thường chúng ta
nghĩ rằng tất cả những ảo
giác là sự thật rồi bám
víu vào chúng, vồ chụp chúng.
Nhưng khi chúng ta kinh nghiệm được,
chứng nghiệm được vô
nhị-nguyên, chúng ta liền hiểu ngay
rằng đó cũng chỉ là
những thói quen của chúng ta, chính
những thói quen này làm chúng ta
tin tưởng vào những ảo
giác là sự thật, là vững
vàng. Vì thế những kinh nghiệm
nội tâm là một cái gì
đó không có thực, đó
chỉ là sự đảo ngược
của tư tưởng. Qúy vị đang
nghe tôi đấy chứ? Đó
là lý do tại sao cần phải có
sức mạnh, cần phải mãnh liệt !
Tôi nghĩ rằng quá
đủ rồi. Tôi đã không
giải thích nhiều về thân trung ấm
(bardo), vì phải
dùng qúa nhiều trí thông minh và
rất khó giải thích về làm
thế nào để một người
có thể tái sinh trở lại; nó
cần rất nhiều giờ, rất
nhiều chi tiết. Tuy nhiên sự quan trọng
vẫn là kinh nghiệm, sự chứng
nghiệm. Vì thế, chúng ta mới
biết rằng chúng ta có khả năng
đi vào cõi trung gian bằng kinh nghiệm
thay vì bằng những lời nói
“ như vậy, như vậy, thân trung ấm,
như vậy, như vậy, bardo như vậy, như
vậy, tái sinh như vậy, như vậy...”
Qua kinh nghiệm của qúy vị, qúy vị
sẽ tự khám phá ra.
Bây giờ, qúy vị
có thể hỏi ba câu hỏi ngắn.
Chắc chắn là tôi đã chọc
tức, đã làm mất lòng
một số qúy vị ở đây.
Vì thế, những điều gì
tôi nói không có lý ở
đây, những điều gì tôi
đã làm cho qúy vị hoang mang, nghi
ngờ, xin hãy tự nhiên đặt
câu hỏi.
Thính gỉa: Chúng ta có thể
giúp người đang chết như
thế nào?
Lạt ma:
Tùy thuộc vào căn bản hiểu
biết, tôn giáo, kiến thức,...
của người đang chết. Nhưng
dù họ có bất cứ kiến
thức nào, theo bất cứ tôn
giáo nào, việc quan trọng là chúng
ta cần đánh thức họ, kích
thích họ tỉnh thức. Điều
vô cùng quan trọng là chúng ta
không nên chọc tức họ. Khi họ
sẵn sàng ra đi, hãy để họ
một mình. Đừng cố gắng
nói gì cả, như “dùng thuốc
đi” hay “hãy ký vào
đây”. Một điều vô cùng
trở ngại cho người chết
là sự khóc lóc, than vãn, như
“ Trời ơi, anh sắp chết
rồi.”
Thí dụ, tôi là ông
bố sắp chết của anh, anh đến
bên tôi, anh khóc: “Bố ơi,
nếu bố chết, con sống làm sao
đây?” Như
vậy tôi bị quấy rầy qúa làm
sao tôi có thể tập trung vào tình
trạng của tôi trong lúc này. Do
đó, hãy để cho người ta
ra đi, được không?
Đừng gây xúc động qúa,
đừng gây tức bực
qúa, đừng quấy rầy qúa;
hãy để họ được bình
an, yên tĩnh. Đó là điều
vô cùng quan trọng. Càng cho họ niềm
tự tin càng tốt. Hãy cố gắng
khuyên họ, như : “Khi anh chết, anh sẽ
hạnh phúc lắm, đừng lo lắng
gì cả, tất cả mọi chuyện sẽ
tốt đẹp. Đây là lúc
tốt nhất để ra đi. Chúc anh
lên đường bình an.” Bất
cứ một cái gì kích thích
lòng ham muốn, lòng bám víu,
lòng ganh ghét, lòng thù hận,
lòng luyến tiếc đều không
tốt, đều tai hại cho họ. Sự
yên tĩnh, một bầu không khí an
lành là tốt đẹp nhất.
Nếu họ là một tín
đồ Thiên Chúa giáo, hãy
nói với họ, “Anh hãy yên
tâm, Chúa sẽ săn sóc anh, anh là
người có diễm phúc, anh sẽ
được vào thiên đàng
hưởng nhan thánh Chúa.” Một
hành động tích cực trong lúc
này là sự cần thiết, bởi
vì mặc dù trong lúc này anh ta
không là người sùng đạo
lắm nhưng ở sâu thẳm trong tâm
hồn anh ta, anh ta vẫn cần một cái
gì để bám vào, cần một
cơ hội để qui thuận. Vậy, khi
chúng ta nói, “Jesus” hay
“Chúa”, vô thức của anh ta
sẽ bắt được. Đây
là một việc làm tốt, tôi tin
rằng chúng ta có thể giúp họ
như vậy.
Có rất nhiều
người Tây phương nói rằng
họ chẳng có gì để làm
với tôn giáo tại địa
phương họ; nhưng tôi nhận thấy
rằng tôn giáo tại địa
phương của họ rất có ảnh
hưởng đến các sinh hoạt trong
đời sống thường ngày
của họ và ngay cả tinh thần của
họ. Trong vô thức họ là
người Thiên Chúa giáo, mặc
dầu họ vẫn tự xưng “Tôi
không muốn theo đạo Chúa.” Vì
thế, khi vào giờ phút nguy kịch,
họ không có gì để bám
vào, nếu chúng ta nói, “Chúa”
hay “Jesus” thì có một cái gì
đó bắt được họ, chạm
đến họ. Dĩ nhiên, nếu họ
là Phật tử, chúng ta có thể
nói, “Buddha” !
Thính gỉa: Chúng ta có thể
làm cái gì cho một người
đang trên giường chết mà nói,
“Tôi sẽ vào địa ngục”?
Lạt ma:
Đúng, đó là sự
thật. Thỉnh thoảng họ có thể
nhìn thấy họ đang trên
đường đi vào địa
ngục, nên họ kêu lên, “Tôi
thấy tôi đang đi vào địa
ngục.” Tôi
nghĩ, với những người
này rất khó giúp họ bằng
sự thông minh của chúng ta; chỉ
còn sự hy vọng. Có thể giúp
họ bằng những viên thuốc an
thần để cho họ an tĩnh lại thay
vì tăng thêm sự lầm lẫn, sự
xáo trộn, bởi vì năng
lượng của họ qúa nhiều. Chỉ
có cách đó mới có
thể giúp họ từ từ. Ngoài
ra tôi nghĩ rằng rất khó.
Thính gỉa: Trong Phật giáo
Thiền tông, chúng ta có những
công án để giúp chứng nghiệm
vô tự tính. Thí dụ, có
công án như “Thế nào là
tiếng vỗ của một bàn tay?” Công án đó
giúp chúng ta được những
gì trong sự chứng nghiệm tính
không? Tiếng vỗ của một bàn tay --
nó liên hệ đến tính không
như thế nào?
Lạt ma:
Qúy vị có nhớ một lần
tôi nói với qúy vị, một
người chấp vợ ông ta như
là một thực thể tự có
và một người đàn bà chấp
bạn trai của bà ta như một thực
thể tự có? Thí dụ này
cũng giống như vậy. Cố gắng
đến gần sự thật hơn là
cứ bám vào cái này hay cái
kia. Quý vị vẫn nghe tôi đấy
chứ? Thực ra đây là một
ý niệm cứng ngắc, một tư
tưởng kỳ quái. Chính phủ
Thụy sĩ tin
đồng tiền Thụy sĩ như là
một thực hữu, rồi tin
tưởng rằng đồng tiền
Thụy sĩ
thực có này sẽ làm cho
xã hội Thụy sĩ được
hoàn hảo. Nó cũng giống như
vậy. Tất cả đều là vọng
tưởng, tất cả đều là
tưởng tượng -- cái gì
chúng ta giữ là thật, là
tự hữu -- không chạm vào sự
thật được ! Chúng ta cần
phải đụng vào đây (hai bàn tay chạm vào nhau) mới tạo ra
âm thanh (tiếng vỗ tay) được.
Như vậy chúng ta cố gắng chạm
vào sự thật và hãy khám
phá ra rằng những ý niệm của
chúng ta, những ảo tưởng của
chúng ta và những ý niệm sẵn
có của chúng ta cũng đang cố
gắng đi đến sự thật, đang
cố gắng tạo ra âm thanh --nhưng nó
không tạo ra được âm thanh !
Vì thế, cái không (zero) của ảo
tưởng tự-có cũng sẽ
biến mất. Đó là phương
pháp để chứng nghiệm tính
không.
Aâm OM có liên hệ
đến các hiện tượng, nó
tác động toàn thể hệ thần
kinh của chúng ta. Aâm OM không thể tự nó
mà có được; cũng như
tiếng vỗ tay không tự nó mà
có được. Tiếng vỗ tay
tùy thuộc vào bàn tay, tùy thuộc
vào không gian, tùy thuộc vào năng
lượng (sức mạnh của
hai tay)
và rồi hai tay đụng vào nhau như
thế này. Mỗi một âm thanh là
một sự liên hệ tùy thuộc,
hoàn toàn tùy thuộc vào, hoàn
toàn là duyên khởi. Rồi như
thế này ..(hai tay vỗ vào nhau)... tạo ra
âm thanh. Aâm thanh tự nó không
có được, nó không có
tự tính.Trong Phật giáo chúng
tôi thường nói về vô
nhị-nguyên (bất nhị), vô tự
tính. Thí dụ, khi qúy vị vào trong
một hang động, qúy vị tạo ra một
âm “Ahhhhhh”, hang động dội lại
“Ahhhhhh”. Qúy vị có quen với
hiện tượng này không?
Aâm thanh là một thí dụ
rất dễ hiểu về lý duyên
khởi. Hiểu được lý
duyên khởi thì không còn có
một ý niệm về cái tôi
thường hằng vững chắc
nữa. Nếu chúng ta cứ chấp
âm thanh này (vỗ tay) là tự có
(của một bàn tay) thì nó sẽ không còn
liên hệ đến những cái
khác được.
Hãy cố gắng hiểu cái hợp
lý theo khoa học mà Phật giáo giải
thích. Nếu tiếng vỗ tay mà tự
nó có được (từ
một bàn tay) thì không cần
hai bàn tay này va chạm vào nhau và
những hiện tượng cũng không
có liên hệ gì với nhau.
Tôi nghĩ rằng bây
giờ chúng ta đã hiểu rõ
các hiện tượng liên hệ phụ
thuộc vào nhau như thế nào. Sự
hội họp này, dĩ nhiên, cũng
không tự nó mà có
được. Chúng ta gặp nhau ở
đây không phải tự nhiên
mà có được. Cám ơn
qúy vị nhiều lắm. Xin cám ơn
những người đã mời
tôi đến đây để diễn
giải những đề tài này.
Họ đã tốn rất nhiều công
sức mới tổ chức
được như thế. Nguyện tất
cả những công việc nặng nhọc,
những cố gắng phi thường
của qúy vị mang lại ơn ích cho
muôn loài. Cám ơn qúy vị
nhiều lắm lắm. Nếu những
điều tôi trình bày mà qúy
vị không được hài lòng,
mà gây cho qúy vị nhiều thắc
mắc, thì tôi vẫn còn trên
qủa đất này, qúy vị
cứ viết cho tôi, tôi sẽ trả
lời. Tôi hoàn toàn chịu
trách nhiệm về tất cả những
gì tôi đã trình bày, vậy
cứ viết cho tôi. Tôi không
biến mất ngay bây giờ đâu.
Tôi cũng phải làm sạch sẽ
những rác rưởi của chính
tôi.
Kính chào qúy vị.
(Năm tháng sau, Lạt ma qua
đời; mười một tháng sau,
ngài tái sinh)
Nguyên tác LIFE, DEATH
and AFTER DEATH của LAMA YESHE,
do WISDOM PUBLICATIONS xuất
bản.
VÔ HUỆ NGUYÊN
dịch
email: vohuenguyen@yahoo.com
XIN HỒI HƯỚNG
TẤT CẢ CÔNG ĐỨC ĐẾN
MUÔN VÀN CHÚNG SINH TRONG MƯỜI
PHƯƠNG PHẬT VÀ MƯỜI
PHƯƠNG BỒ TÁT, CON KHÔNG GIỮ
LẠI MỘT CHÚT GÌ CHO RIÊNG CON.