Thöa baïn,

BỊ CHÚ : Nhân đang t́m đọc những Bài về Lịch sử Phật giáo tại Việt Nam  để t́m tài liệu tham khảo hầu viết Tiểu luận: Lịch Sử Mật giáo tại Việt Nam. Chúng tôi t́m thấy tài liệu nầy trên Trang nhà : Việt Nam đi tới…..Đọc thấy cũng có nhiều điều lạ. và ích lợi. Nay xin được phép đưa lên Trang nhà của chúng tôi để chia xẻ làm tài liệu nghiên cứu. Nếu tác giả có đọc được bài nầy và không đồng ư cho đăng như hiện nay, xin vui ḷng cho chúng tôi biết. Chúng tôi sẽ đem xuống ngay.

Thành thật cám ơn nhiều.

Cư sĩ Liên Hoa

 

Viện Đại Học Sài-G̣n
Trường Đại Học Văn Khoa

Sơ Lược về các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt Nam

Câu hỏi phụ II   Kỳ thi Cao Học Nhân Văn
Giám khảo ra đề :
Giáo-sư Lê Quang Trung
Tiến sĩ Xă Hội Học
Sinh viên Hà Phước Thảo
Đệ Tŕnh
Ngày 23 tháng 4 năm 1975
kỳ thi cao học nhân văn
Ngày tháng năm 1975
do
Sinh viên Hà Phước Thảo
Đệ tŕnh
Tiểu-luận : Hội Thánh Di-Lạc Vĩnh-Long
câu hỏi phụ II
Sơ Lược về các Hệ-phái phật-giáo
tại việt-nam
Đề do Giáo-sư Lê Quang Trung ra
trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n
1975

Địa chỉ liên lạc:

Dr. Ha

Hafnerstrasse 4

82343 Bad Aibling

Germany


Email: haphuocthao@hotmail.com

Trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n không tán thành cũng như không phản đối những ư-kiến phát-biểu trong tập tiểu-luận nầy.
Những ư kiến đó, tác giả tập tiểu-luận hoàn toàn chịu trách-nhiệm.


Kính tặng và thành kính tri ân
hội-đồng giám-khảo
chủ-khảo - Giám-khảo câu hỏi phụ I :
Giáo-sư LÊ THÀNH TRỊ
Tiến-sĩ Triết-Học
Trưởng Ban Nhân-Văn
Trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n
Giám-khảo câu hỏi phụ II :
Giáo-sư LÊ QUANG TRUNG
Tiến-sĩ Xă-Hội-Học
Phó Khoa Trưởng Học-Vụ và
Sinh-Viên-Vụ
Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n.
Giám-khảo - Thuyết-tŕnh-viên :
Giáo-sư NGHIÊM THẨM
Giám-Đốc Viện Khảo-Cổ
Giáo-sư Nhân-Chủng-học
Trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n
Đă hoan hỉ chấp thuận làm Chủ-Khảo và Giám-Khảo
Tiểu luận Cao học và câu hỏi phu.
Đă khích lệ, hướng dẫn và tận t́nh giúp đỡ chúng tôi.
Kính tặng Giáo sư
Giám-Khảo Câu Hỏi Phụ II
Giáo-sư LÊ QUANG TRUNG
Tiến-sĩ Xă-Hội-Học
Phó Khoa-trưởng Học-Vụ và
Sinh-Viên-Vụ
Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n.
Xin Giáo-sư nhận nơi đây sự trọng kính và ḷng tri ân chân thiết nhất của chúng tôi.

Lời nói đầu

( Nhân dịp tái bản lần thứ nhứt tại hải ngoại)


    Tập tài liệu nhỏ nầy là đề tài do Giáo-sư Tiến sĩ Lê Quang Trung, Giáo sư phụ trách Ghế Giảng Nhân chủng Học thuộc Ban Nhân Văn Trường Đại Học Văn Khoa Sài G̣n đă ra cho chúng tôi viết tại nhà trong thời hạn một tuần lễ từ ngày 23 tháng 3 năm 1975 đến 29 tháng 3 năm 1975 và chúng tôi đă đệ tŕnh cùng với Tiểu Luận Cao Học Nhân Văn đề tài : Hội Thánh Di Lạc Vĩnh Long cũng như câu hỏi phụ thứ I đề tài : Ư thức Tôn Giáo trong các truyện cổ tích Việt nam do Giáo sư Lê Thành Trị ra đề cũng trong thời gian trên.
    Kỳ thi Cao Học diễn ra trong khi đất nước sôi động vào cuốn tháng tư 1975.
Hội Đồng Giám Khảo gồm ba vị Giáo-sư đă chấm đậu với hạng Ưu và theo truyền thống thi bằng Tiến sĩ và Cao học tại trường Đại Học Văn Khoa Sài G̣n th́ kỳ thi được tổ chức công khai bằng buổi thuyết tŕnh do Giáo sư bảo trợ làm Thuyết tŕnh viên giới thiệu sinh viên ứng thi với sự tham dự của các học giả, giáo sư, sinh viên và những người ưa thích đề tài. Thí sinh được tất cả giáo sư cũng như học giả đặt câu hỏi. Nếu thí sinh trả lời suông sẻ và làm thỏa măn mọi người th́ ban Giám Khảo sẽ phê hạng trúng tuyển với điểm cao hơn như Tối Ưu hay Đặc hạng với lời khen tặng.
Sau khi chúng tôi tŕnh Tiểu luận và các câu hỏi phụ vào ngày 23 tháng 4 năm 1975 th́ Hội Đồng Giám Khảo quyết định chọn ngày thi công khai tại Đại giảng đường vào 12.5.1975.
    Vào cuối tháng 10 năm 1975 trong một Đàn cơ cuối cùng vào Đại Lễ Mừng Long Hoa Hội Khai Diễn tổ chức tại Chùa Di Lạc Vĩnh long tức Trúc Lâm Thánh Đức Thiền Điện, Đức Di Lạc giáng cơ dạy chung rằng : Kể từ đàn cơ ngày hôm nay tất cả chư đệ tử, Phật tử phải ngưng tất cả việc tu theo h́nh thức lễ nghi , không được mặc áo tràng, áo dà hay lễ phục, mà trở về nhà lo tu tâm đưỡng tánh đừng cho ai biết ḿnh tu th́ mới tránh khỏi khảo đảo....
    Tất cả chư Phật tử Đạo Phật, chư đạo hữu Liên Tôn, chư Tín đồ Thiên Chúa giáo tham dự đàn cơ ngẩn ngơ nh́n nhau không biết tại sao Đức Di Lạc Thiên Tôn không cho lập đàn cơ hay tổ chức đạo sự cũng như không được mặc đạo phục trắng hay áo tràng màu vàng nữa.
Nhân dịp nầy chúng tôi có mang cuốn Tiểu luận Cao Học Nhân Văn ‘‘ Hội Thánh Di Lạc Vĩnh Long‘‘ đến trước Thiên bàn đệ lên tŕnh bạch với Đức Phật Di Lạc xin phép in thêm để phổ biến th́ Ngài dạy rằng : Cuốn sách nầy không được xuất bản phổ biến trong thời gian nầy và ở đây, nhưng sau nầy sẽ được phép phổ biến ở một nơi khác.
    Sau cuộc đổi đời ngày 30 tháng 4 năm 1975 kỳ thi Cao Học Nhân Văn không tổ chức được, sách Đạo và Văn hóa Miền Nam bị đốt nhiều, chúng tôi phải cất dấu những cuốn c̣n lại. Chúng tôi được lưu dụng dạy học lại, không được dạy môn Sư Phạm tại Trường Sư Phạm Vĩnh Long nữa, nhưng được đổi về dạy tại trường Phổ thông cấp ba Lưu Văn Liệt (trước đó là trường Trung Học Tống Phước Hiệp). sau 6 tháng giảng dạy theo giáo án mới XHCN tất cả giáo sư thưộc chế độ cũ phải vào Khám lớn Trà Vinh học tập chính trị Các Mác để được tẩy năo và lao động cải tạo. Khi được thả ra, chúng tôi vượt biên lần nhứt thất bại bị vô tù lần thứ hai. trong lúc ghe đánh cá quốc doanh bắt ghe vượt biên, chúng tôi quăng tất cả văn bằng xuống biển.
    Sau một năm rưởi bị tù và lao động cải tạo, chúng tôi vượt biên lần thứ hai và thành công nhờ được tàu Tây Đức Cap Anamur vớt.
Ngày nay chúng tôi t́m lại được tập Tiểu luận và các Câu hỏi phụ và giấy đă vàng v́ trên 25 năm rồi, mang qua Đức và khi xem lại các bài Thánh giáo tại Trước Lâm Thánh Đức Thiền Điện th́ mới hiểu tại sao Đức Di Lạc không cho in sách ở Việt Nam.
Hiện nay chúng tôi sống trên nước tự do, việc in sách và xuất bản sách Đạo không c̣n bị kiểm duyệt hay cấm đoán nữa nên mới có cơ hội phổ biến những tài liệu nghiên cứu nầy.
    Chúng tôi trước đây có ghi danh tại Trường Đại Học Ludwig-Maximilians-Universitảt München ( LMU) để hoàn thành Luận án Tiến sĩ, một dự án mà vào ngày 23 tháng 4 năm 1975 Giáo sư Lê Thành Trị có hứa làm Giáo sư Bảo trợ cho Luận án Tiến sĩ với đề tài : Cao-Đài Giáo trong Tam Kỳ Phổ Độ sau khi thi xong Cao Học Nhân văn, để sau nầy giảng dạy môn Tôn Giáo Học, một môn học ở Việt nam lúc bấy giờ chưa mở ra để giảng dạy.
Giáo sư Bảo Trợ Luận án ‘‘ Die Cao-Dai-Religion in der Dritten Phase der Erziehung, Errettung, Amnestie und Erlösung Gottes‘‘ cho chúng tôi tại LMU vào năm 1987 là Prof. Dr. Mathias Laubscher cũng rất thích đề tài nầy, nhưng chúng tôi bận, không có th́ giờ và măi cho đến nay v́ sắp gần hưu trí và ghế giảng Tôn Giáo Nhân chủng học không cần thiết nữa và chúng tôi phải dành th́ giờ lo công phu thiền định, nên chúng tôi bỏ không tiếp tục hoàn thành Luận án, tuy nhiên chúng tôi viết tiếp cho xong Thesis bằng hai ngôn ngữ Việt và Đức để phổ biến cho người Việt nam và Đức, nếu không có phương tiện in th́ chúng tôi sẽ cho vào internet với Translator trong Link để mọi người trên thế giới đọc được qua 6 ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Hoa và Tây Ban Nha mà t́m hiểu một Tôn Giáo mới.

    V́ sự cần thieêt và do yêu cầu của một số sinh viên người Viẹt Nam hay sinh viên ngoại quốc học tiếng Việt đang tŕnh Luận án về Tôn giáo học, nên tôi cho quyển sách nầy vô Internet, nhân đó chư vị nào muốn biết về Các Chi Phái của Phật Giáo tại Việt Nam từ thời Trung cổ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 th́ có thể đọc trước maư PC hay có thể download ra máy cá nhân. Chư vị hay Hội nào muốn in thêm ấn tống, xin liên lạc với chúng tôi bằng Email hay thơ theo địa chỉ trên.

    Chúng tôi hy vọng rằng những người nắm quyền hành ở Việt nam lần lần sẽ gỡ bỏ cặp kính màu đỏ để trả lại tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng cho mọi người Việt nam tại nội địa, đồng thời những người đang mê ảo ảnh của chủ nghĩa không tưởng sẽ t́m lại ánh sáng chân lư qua Thánh giáo và Đạo học.


Taufkirchen bei München, ngày rằm tháng 7 Mùa Vu lan, 2000
Phê-rô Hà Phước Thảo ( Peter Ha)

 

  MỤC LỤC


Chương I Những nguyên nhân phát sanh ra nhiều Hệ Phái trong Phật Giáo

    

Tiết I - Nguyên nhân phát sanh ra hai Hệ Phái chánh của Phật-Giáo.

Mục 1:
Yếu tố lịch sử và hoàn cảnh địa lư
Yếu tố thời gian
Yếu tố tâm lư
Tŕnh độ tri thức của con người.

    

Tiết II : Nguyên nhân phát sanh nhiều Hệ Phái Phật Giáo tại Việt Nam.

Mục 2:
Bản chất dân tộc của người Việt nam.
Hoàn cảnh lịch sử.
Hoàn cảnh địa lư.
Hoàn cảnh xă hội.
Ḷng sùng Đạo và sự mê tín.

 

CHƯƠNG II Sơ lược về các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt Nam.

    

Tiết I Về phương diện lịch sử.

Phái thứ Nhứt : T́-ni-đa-lưu-chi
Phái thứ II : Vô Ngôn Thông.
Phái thứ III : Phái Thảo- Đường.
Phái Trúc Lâm Tam Tổ.
Phái Tào-Động.
Phái Liên Tôn.
Phái Lâm Tế.
Phái Liễu Quán.
Phật Giáo hiện Đại.

    

Tiết II Về phương diện Kinh điển và đường lối tu
         Phái Tiểu Thừa.
         Phái Đại Thừa.

     Mục 1:
Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt nam.
Giáo Hội Phật Giáo Cổ Sơn Môn.
Giáo Hội Phật Giáo Lục Ḥa Tăng.
các Am, Cốc ...
Giáo Hội Phật Giáo Khất Sĩ Việt Nam.
Phái Khất Sĩ Đạo Lâm.
Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ.
Thiền Tông.
Nhóm Tu Thiền theo Pháp Lư Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp.
Thiền Tịnh Đạo Tràng.
Phật Giáo Hoa Tông.
Minh Nguyện Cư Sĩ Phật Học.
Tam Tông Miếu.
Giáo Hội Tổ Tiên Chính Giáo.
Giáo Hội Thiên Thai Quán Môn.
Mật Tông hay Chơn Ngôn Tông.
Tịnh Độ Tông.
Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội.
Hệ Phái Vạn Quốc Tự.
Hội Linh Sơn Phật Học.
Phái Hạnh Đầu Đà.
Phái Ḥa Đồng Tôn Giáo
Phái Phật, Chúa Liên Ḥa Du Tăng.
Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương.
Phật Giáo Ḥa hảo.
Các Hội Phật Học.
các Phái Phật Giáo của người Việt gốc Miên.

 

Chương IV - Việc Hệ thống hóa các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt nam

 

Tiết I.- Việc phân loại các hệ Phái Phật Giáo tại Việt nam.

Mục I :  Phân loại theo thời kỳ.

Mục I I : Phân loại theo bí truyền và công truyền.


Tiết II. - Sự thống nhất các Hệ Phái Phật Giáo.

 

Kết luận.

                                                                                                            

 

 

 

 

 

Dẫn Nhập


Khi bàn về chân lư trong Tôn giáo, người ta so sánh Tôn giáo như những miếng kiếng màu ở chung quanh một cái đèn . Chân lư như áng sáng ngọn đèn và Tôn giáo là những màu sắc khác nhau của nhiều tấm kiếng xung quanh. Khi bàn về một Tôn giáo với những Hệ Phái, người ta có thể lấy thí dụ trên để phát biểu những dị biệt trong những tương đồng. Bất cứ một Tôn giáo nào, qua thời gian và không gian, cũng biến thể đi, để xuất hiện những Chi Phái hay Hệ Phái. Phật giáo cũng vậy, lúc đầu thịnh hành ở Ấn độ, về sau lan truyền qua Trung Hoa, Việt nam và các nước Á đông khác, từ đó lại phân chia ra nhiều Hệ Phái. Riêng ở Việt Nam, do hoàn cảnh địa lư, sự du nhập một giáo thuyết mới từ cửa ngơ Trung Hoa với Phái Bắc Tông (Đại Thừa), rồi trong cuộc nam Tiến của dân tộc Việt nam, sự chung đụng của dân ta với người Thủy Chân Lạp (Khmer), Việt nam lại tiếp tục nhận thêm giáo lư Phật Giáo của Phái nam Tông ( Tiểu Thừa) qua sự trung gian của các nước tiếp cận như Ai-Lao và cao-Miên. Sau một thời gian dung hóa, từ hai Phái nam Tông và Bắc Tông, triết lư hành Đạo của Đức Phật lại được người Việt nam tô điểm, sửa đổi để canh tân cho thích hợp với hoàn cảnh và dân tộc tính hơn, nên ngày nay ở Việt nam có rất nhiều Hệ Phái Phật giáo. Người ta lại c̣n thấy trong mấy Tôn giáo mới xuất hiện ở Việt nam phảng phất triết lư của Đạo Phật, đó là cao Đài Giáo, Phật Giáo Ḥa hảo và Phật Giáo Bửu sơn Kỳ Hương.
trong tập Tiểu luận cao Học Nhân Văn :‘‘Hội Thánh Di Lạc Vĩnh Long‘‘ do chúng tôi nghiên cứu, người ta thấy mới đây có một sự ḥa hợp giữa cao Đài Giáo và Phật Giáo một lần thứ hai, sau khi đă có sự tổng hộp trong thời kỳ khai nguyên Đạo cao Đài vào năm 1926.
Do đó, mướn có mọt cái nh́n tổng quát với các Tôn Giáo tại Việt nam nói chung và đối với Phật Giáo nói riêng, việc nghiên cứu về các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt nam là một điều cần thiết.
Đề tài ‘‘ Sơ lược về các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt nam‘‘ nầy, trong phạm vi hạn hẹp, sẽ được tŕnh bày một cách đại cương về :
Những nguyên nhân phát sinh ra nhiều Hệ Phái trong Phật Giáo tại Việt Nam,
Sơ lược về các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt nam.
Việc Hệ thống hóa các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt nam
Mong rằn công tŕnh nghiên cứu nầy là một đóng góp nhỏ mọn trong việc t́m hiểu về Tôn giáo, một đối tượng của Khoa Học Nhân Văn.
Kính mong các bậc cao thâm bổ khuyết và chỉ giáo thêm.


Vĩnh Long, ngày 29 tháng 3 năm 1975
Hà Phước Thảo


TIẾT I   Nguyên nhân phát sanh ra hai hệ Phái chánh của Phật Giáo.


Mục I - Yếu tố lịch sử và hoàn cảnh địa lư.
Để t́m hiểu về các Hệ Phái Phật Giáo, người ta nên t́m hiểu một các khái quát lịch sử và sự phát triển của triết lư Đạo Phật cũng như những nguyên nhân đưa đến sự phân chia ra các Hệ Phái chánh và nhiều Hệ Phái mới xuất hiện sau nầy tại Việt nam.
Phật Giáo du nhập vào Việt nam do hai con đường:
Một con đường bộ qua ngă phía Bắc gọi là Phật Giáo Bắc Tông do Ngài mâu Bắc, người trung Hoa đầu tiên truyền giáo sang Việt Nam năm 189.
Một con đường thủy từ phía nam lên do Ngài Khưu-Tăng-Hội, người Ấn độ, sang truyền giáo tại Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ III.
Về sau vào đời Nhà Tấn, giữa thế kỷ thứ III (265-306) có thêm hai nhà truyền giáo tứ Ấn độ sang Việt nam là Ngài ma-ha-Kỳ-Vực và Ngài Chi-Lương-Cương đều do đường thủy từ phía nam lên, nên gọi là Phật Giáo Nam Tông.
Hơn nữa, trong cuộc Nam Tiến, người Việt nam sống chung đụng với người Việt gốc Miên, ho theo Phật Giáo lâu đời bắt nguồn từ Miên quốc. cách ăn mặc, cách tu tập mang sắc thái người Miên, Phái nầy gọi là Thérévada.
Như vậy về phương diện lịch sử, Phật giáo được chia ra làm hai Hệ Phái : Bắc tông và Nam Tông. Hai danh từ Bắc Tông mang một tích chất lịch sử và hoàn cảnh địa lư ở Việt nam, c̣n ở Ấn độ th́ Bắc Tông cũng từ phương Bắc theo văn hóa và ngôn ngữ Sankrit, c̣n nam Tông theo ngôn ngũ Pali.
Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác, danh từ và triết lư Phật giáo cũng biên đổi theo. Yếu tố thời gian cũng là nguyên nhân của sự biến đổi đó.


Mục II . Yếu tố thời gian.
Từ lúc Đức Phật c̣n tại thế mà các Kinh sách do chư đệ tử của Ngài viết ra c̣n có nhiều chỗ không thống nhất nhau, do đó qua thời gian, sự phân chia về đường lối tu hành tức triết lư và hành động của Phật tử lại càng thay đổi nhiều hơn. Đạo Phật tứ Ấn độ truyền sang các nước Á Châu, khi đến Việt nam, trải qua một thời gian dài đă biến đổi từ nơi xuất xứ rồi, nghĩa là Đức Phật Thích ca đă truyền pháp cho Ngài Ma-ha-ca-diếp. Ngài ca-diếp truyền cho Ngài A-nan-đa và cứ thế mà ở Ấn-độ đă truyền đến 28 vị tổ. Ngài Bồ-Đề-Đạt-Ma là vị Tổ thứ 28 của Ấn-độ, đến khi truyền sang Trung Hoa thêm 10 đời nữa. Như vậy khi Đạp Phật đến Việt nam đă trên 30 vị Tổ, v́ thế sự phân chia nhiều Tông Phái không thể không xảy ra được.
Sự biến đổi triết lư nguyên gốc để trở thành triết lư của mỗi thời đại dĩ nhiên sẽ do hoàn cảnh xă hội, văn hóa, chánh trị vv... Tuy nhiên, yếu tố căn bản của sự thay đổi ngoại cảnh đều do nội tâm con người. Người ta thường có hai mối cực đoan trong tư tưởng : hoặc bảo thủ hoặc cấp tiến. hai trạng thái đó bề ngoái có vẻ khác biệt, tuy nhiên nó bổ túc cho nhau.


Mục III . Yếu tố tâm lư.
Việc Hệ thống hóa một triết lư theo ư thích của mỗi cá nhân luôn luôn có ở mỗi người theo sự phát triển của tri thức. Mặc dù một triết lư rất hay, rất cao siêu như triết lư của Đạo Phật , khó có một ngưới nào ở đời sau có thể cải tiến Hệ thống tư tưởng của Đức Phật Thích Ca cho hay hơn được. Đa số những triết lư của Đức Phật là những định luật mà định luật th́ ít khi thay đổi. tuy nhiên về phương diện tâm lư, con người ai cũng cái cá biệt, sổ thích riêng và sở thích đó đă biến đổi Hệ thống triết lư Phật giáo thành hai đường lối : Thái đọ bảo thủ phát sanh ra Phái Phật Giáo nguyên thủy : trung thành với những ǵ Phật đă dạy, đă làm, c̣n Phái cấp tiến, luôn luôn lấy sự thích ứng với hoàn cảnh, thời đại làm căn bản cho triết lư về sự hành động. Do đó, Phật Giáo chia ra làm hai Phái : Đại Thừa và Tiểu Thừa.
Yếu tố tâm lư c̣n tùy thuộc điều kiện, đó là tŕnh độ tri thức của con người.
Mục IV. - Tŕnh độ tri thức của con người.
Mỗi cá nhân đều có một tŕnh độ tri thức khác nhau. Người thời xưa và người thời nay cũng như con người ở cùng ở một thời đại, tất cả đều có một khả năng lănh hội khác nhau. Đức Phật có nhiều đệ tử, nhưng một lời dạy mà các đệ tử hiểu khác nhau. Sự tương thông tương hội nầy cũng do luật đồng thanh tương ứng chi phối. Do đó, cùng một lời dạy mà sự nhận thức nhiièu khi có sự sai biệt. V́ lư do đó mà Đức Phật dạy các đệ tử bằng cách dùng những lời ẩn dụ hay kể chuyện. Việc kể một truyện đẻ dạy một vấn đề càng dễ gây hiểu lầm hơn nữa. V́ vậy danh từ là một trở ngại cho việc hấp thụ giáo lư. Người ta thấy những truyện kể trong các Kinh Phật thường thường có sự sai biệt, đó là sự hiểu biết khác nhau của các đệ tử. Hơn nữa, kinh sách qua thời gian, qua không gian, qua sự thêm bớt của những người ghi chép (Tam sao thất bổn) mà kinh Phật không giữ đứng sự trung thực trong lời dạy của Đức Pật.
Việc chia Phật giáo ra hai Hệ Phái chánh : Bắc Tông hay Đại Thừa và Nam Tông hay Tiểu Thừa như vậy c̣n ít, lẽ ra c̣n nhiều Chi Phái hơn nữa. Ở Ấn độ có 28 vị Tổ, ở trung Hoa có 10 vị Tổ, mỗi Tổ là một thế hệ lưu truyền giáo lư của Đức Phật. Tuy có nhiều vị Tổ mà không có sự phân chia nhiều Chi Phái khác biệt lắm, chỉ thay đổi về phần h́nh thức, c̣n nội dung của triết lư căn bản vẫn c̣n là hai Phái chánh. sự biến đổi từ hai ra nhiều Phái ở các nước khác rất ít. Chỉ có ở Việt nam là Đạo Phật có nhiều Chi Phái hơn hết, nhất là giai đoạn cận đại và hiện đại.


TIẾT II . - Nguyên nhân phát sanh ra nhiều Hệ Phái Phật
Giáo tại Việt nam.


Mục I : Bản chất dân tộc của người Việt nam.
Nười Việt Nam có một bản chất riêng biệt, co nên ở mọi phạm vi nhất là Tôn giáo, mang một sắc thái dân tộc.
Người Việt nam biết dung nạp tinh hoa nước khác, biến đổi các triết lư du nhập từ bên ngoài, nhào nắn, để ‘‘sáng tác‘‘ thành thứ riêng của ḿnh. Về phương diện văn hóa th́ có rất nhiều dăn chứng, c̣n về Tôn giáo th́ hiện nay ở Việt nam có nhiều Tôn giáo mang bản chất dân tộc, xuất xứ từ Việt Nam, qua một thời gian đă tiêu hóa những triết lư đó : cao Đài Giáo do sự tổng hợp của Tam Giáo : Nho, Phật, Lăo ; Thiên Chúa Giáo và Thần Linh Giáo ; Đạo Ḥa Hảo do sự tổng hợp của Nho giáo (tu nhân) và Phật giáo (học Phật). Riêng về Phật Giáo, hiện nay tuy có hai Hệ Phái chánh : nam Tông và Bắc Tông, nhưng về h́nh thức, cách tu tập, triết lư về hành Đạo ở Việt nam có đến hơn 20 Chi Phái và trong tương lai c̣n có thêm nhiều Chi Phái nữa.
Sự phân chia nhiều Chi Phái Phật giáo ở Việt nam là do hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh địa lư, xă hội , dân tộc vv....
chúng tôi xin tŕnh bày tiếp sau đây:


Mục 2 : Hoàn cảnh lịch sử.
Lịch sử dân tộc Việt nam là một lịch sử tranh đấu : Tranh đấu chống ngoại xâm từ phương Bắc, tranh đấu để sống c̣n với các dân tộc từ phương Nam, ngoài ra c̣n tranh đấu với ư thức hệ vô thần hiện nay. Sự tiếp thu nhiều nền văn minh trên thế giới qua một thời gian quá dài má không bị đồng hóa, không bị lệ thuộc bởi văn hóa nước khác. Đó là một lư do để dân tộc Việt Nam trường tồn. Bất cứ giai đoạn nào, hễ khi có một Tôn giáo mới hay một triết lư mới, sự tiếp thu cũng thường xảy ra một sự phản ứng, nếu không bộc phát cũng có sự ngấm ngầm. Đó là sự đối kháng ở giai đoạn đầu, nhưng về sau sẽ có sự ḥa hợp. Điều nầy lịch sử đối kháng trung Hoa thời Bắc thuộc cũng như lịch sử cấm Đạo và giết Đạo Thiên Chúa thời Tự Đức đă chứng minh một cách rơ ràng, luôn luôn người dân Việt đều có sự đối kháng những ǵ của ngoại lai. Tuy nhiên, sự đối kháng sẽ không c̣n khi có sự tương cảm, tương ứng giữa nội tâm và ngoại cảnh, nghĩa là khi người ta thấy rằng sự du nhập không là một mối đe dọa của sự tồn vong của dân tộc.


Mục 3 . - Hoàn cảnh địa lư.
Ngoài phạm vi lịch sử, địa thế nước Việt nam hiện với lănh thổ dài hơn 2.000 cây số, giáp ranh với ba nước và một bờ biển quá dài dễ đưa đến sự phân rẽ địa phương về phương diện tín ngưỡng hay Tôn giáo nói riêng.
Với dăy Trường Sơn hiểm trở ở Miền Trung, dăy Thất Sơn đầy huyền bí ở Miền Nam, việc lư thông khó khăn ở trong thời kỳ chưa khai phá, đường sá chưa thiết lập, người Việt nam từ Miền Bắc, trung vào Nam lập nghiệp ở vùng đất mới. Sự quần cư để khai thác các tài nguyên thiên nhiên. ‘‘Sự quần cư thực hiện được là nhờ các vị có uy tín hầu giải quyết những sự xích mích giữa những người quần cư với nhau. các vị nầy chẳng ai khác là những người có cuộc sồng tu hành mà người ta có thể chấp nhận được ‘‘.(1)
NGUYỄN VĂN SÂM, Tín ngưỡng Việt Nam hiện đại và cận đại, trg. 7 (Giảng khoa Đại học, roneo)
Do sự quần cư ở mỗi địa phương, mỗi nơi đều có những vị có uy tín, có đạo đức lănh đạo tinh thần. Do đó, ở Miền Nam xuất hiện nhiều ‘‘Đạo‘‘ mà gọi chung là Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ở vùng Thất Sơn huyền bí. Đa số các Đạo mới xuất hiện đều có một triết lư chung là Phật giáo, nên người ta mới gọi là Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương. Giai đoạn sau nầy, khi đất nước đă được khai phá, đường xá được thiết lập, phương tiện giao thông dễ dàng, việc xuất phát nhiều Chi Phái, nhiều nhánh nhóc của các Tôn giáo lớn c̣n do hoàn cảnh xă hội nữa.


Mục 4 . - Hoàn cảnh xă hội.
Trước cuộc xâm lăng và đô hộ của thực dân Pháp, tinh thân ái quốc của người Việt nam được Tôn giáo hóa bằng những tổ chức tín ngưỡng thần quyền. Người dân chất phác thường dễ bị lôi cuốn, kích thích để vùng lên đấu tranh, kháng chiến bằng h́nh thức Thần quyền v́ thế quyền chưa được tổ chức có qui cũ nên các vị lănh đạo tinh thần dễ thực hiện các đường lối cách mạng hơn. Người ta thấy Cao Đài Giáo cũng như Phật Giáo Ḥa Hảo đều có quân đội để chống Pháp. Sự lẫn lộn giữa chánh trị và tín ngưỡng là một đặc điểm của thời cận đại ở Miền Nam Việt Nam nầy. Do đó, việc phân tích nguyên nhân xuất phát các mối Đạo, người ta phải kể đến thời đại và xă hội.
Về phương diện xă hội, sự du nhập ồ ạt các học thuyết mới, các nền văn minh Âu Mỹ đă làm xáo trộn tất cả trật tự xă hội. Tôn giáo là một yếu tố cần thiết để tái lập thăng bằng. Những triết lư cổ truyền c̣n giữ lại phần lớn nhờ các nghi lễ ( Lễ Nhạc) của Tôn giáo. Người ta tự hỏi, tại sao các nước văn minh ít xuất phát những mối Đạo mới hơn các nước chậm tiến về kinh tế. Đó là một yếu tố tâm lư mà ngưới ta cần nói thêm : ḷng sùng Đạo và sự mê tín.


Mục 5 : Ḷng sùng Đạo và sự mê tín.
Càng lạc hậu, người ta càng thờ nhiều Đấng (Đa Thần). Khi văn minh, người ta tiến đến Độc Thần. Và ḷng sùng Đạo sẽ có cường độ tỷ lệ thuận với sự dốt nát. tŕnh độ tri thức c̣n kém dễ đưa đến sự mê tín.
Người ta thấy dân quê Việt Nam dễ tin nơi điều dị đoan và Thần quyền. Nhiều ông đạo như đạo Nằm, Đạo Chuối, Đạo Nước Lạnh vv... mặc dù phương pháp tu mang tính chất Tôn giáo, nhưng về h́nh thức là một thứ dị đoan, phù pháp hay h́nh thức ảo thuật che dấu những bí mật không tiện tiết lộ để dễ lôi cuốn người ta, hầu có thể lợi ḷng sùng Đạo mà làm nhữnh hành động ngoài phạm vi Tôn giáo.
Những trường hợp xuất hiện nhiều Giáo Phái ở Miền Nam Việt Nam nhất là ở Vùng Châu Đốc, Long Xuyên, phần lớn do sự mê tín mà ra.


                                                               
Sơ lược về các hệ phái phật giáo  tại việt nam


Tiết I - Về phương diện lịch sử.


Về phương diện lịch sử, Phật Giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều ở Phật Giáo Trung Hoa.
Môn Phái được sùng chuộng nhứt ở thời kư đầu tiên du nhập vào Việt Nam là Thiền Tông. Ở Việt Nam thời xưa có ba Phái chánh và nhiều Phái Hậu Tổ.
1) Phái Thứ Nhất : sau khi Ngài Mâu Bắc truyên sang triết lư Đạo Phật ( chưa đầy đủ) vào năm 189. Đến năm 580, Ngài T́-Ni-Đa-Lưu-Chi ( Vinitaruci), người Ấn-độ, qua ngă Trung Hoa, truyền Việt Nam phái Thiền đầu tiên. Ngài T́-ni-đa-lưu-chi ở Nam Ấn độ, sang Tây Ấn học Đạo Phật, về sau sang trung Hoa đến Trường An ( năm 574). Phật Giáo Tàu bị ách nạn, Ngài đến Hồ Nam may gặp Tổ Tăng -Xán, truyền tâm ấn ( khẩu khẩu tâm truyền bí pháp về thiền) cho Ngài và khuyên nên xuống phương Nam tiếp độ chúng sanh. Ngài đến Quảng Châu trụ tŕ Chùa Chế Chỉ. Ngài qua Việt Nam (năm 580) trụ tŕ Chùa Pháp Vân ( làng Văn Giáp), huyện Thượng Phúc tỉnh Hà Đông bây giờ. Năm 589 Ngài truyền tâm ấn cho nhà sư Pháp Hiền ( người Việt Nam là Tổ Thứ hai) rồi Ngài tịch.
Về cách tu hành th́ lấy việc tịnh trí, tập trung tư tưởng làm phương tiện để phát triển tâm linh theo phương pháp tu thiền của Phật Thích Ca ( Phương pháp mà Đức Phật Thích Ca ngồi thiền dưới gốc cây Bồ -đề trong 49 ngày, khám phá Vũ Trụ. phương pháp nầy là giữ ngũ giới cấm, ăn chay và sẽ tiệm tiến : giới, định, huệ, nghĩa là nhờ giữ giới, người ta tâm niệm điều tốt, sau đó là tập trung tư tưởng gọi là thiền, sau cùng sẽ đạt huệ).
2) Phái Thứ Hai - Đến đời Đường vào năm 820 có Ngài Vô Ngôn Thông, cũng là người Tàu, sang Việt Nam lập ra Phái Thiền Tông thứ hai. Ngài Vô Ngôn Thông họ Trịnh, quê ở Quảng Châu, xuất gia tu Chùa Song Lâm đất Vũ Châu ( Chiết Giang), sự ph́ Ngài cũng biết nên gọi là Vô Ngôn Thông. Ngài t́m Đức Mă Tổ học Đạo Phật, nhưng chưa gặp v́ Ngài Mă Tổ đă tịch. sau xin đến học với Tổ bách Trượng Thiền sư. Khi ngộ Đạo Ngài trụ tŕ Chùa An Ḥa. Năm 820 qua Việt nam ở Chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng. Trước khi tịch Ngài có truyền tâm ấn cho Cảm Thành Thiên sư. Ngài tịch năm 826.
Về cách tu Pháp Thiền của Phái Vô Ngôn Thông cũng tượng tộ như Phật Pháp của Phái T́-Ni-Đa-Lưu Chi mặc dù về chi tiết có khác đôi chút ( người ta nói rằng Phật pháp có đến 84.000 pháp môn là v́ mỗi kị Tổ, mỗi lột nhà sư, cách ngồi thiền khác nhau).

3) Phái thứ Ba : Phái thứ Ba là Phái Thảo Đường.
Thảo Đường Thiền sư là người Trung Hoa theo thầy sang Chiêm Thành truyền bá Đạo Phật. Đến năm 1069 Lư Thánh Tông đem quân sang đánh Chiêm Thành, bắt được Chế Cũ và nhiều tù binh trong số đó có một nhà sư. Khi biết được tông tích, Vua Thánh Tông phong cho Ngài là Quốc sư. Người ta lập một Phái Thiền Thứ Ba ở Việt nam gọi là Phái Thảo Đường.
Về sau các đệ tử cũa ba vị Tỏ nói trên lưu truyên đời sau nhiều Chi Phái hậu tổ nữa.

4) Phái trúc Lâm : Đời Trân Nhân Tôn (1278 - 1293), Vua học Phật pháp với Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngài truyền ngôi cho con, vào tu ở Chùa Yên Tử và đi khắp nhân gian thuyết pháp.. Sau truyền cho Tôn Giả Pháp Hoa. Ngài Nhân Tôn là Sơ Tổ của Phái Trúc Lâm. Phái Trúc Lâm có ba vị Tổ là : Đệ Nhứt Tổ Điều Ngự Giác Hoàng ( Vua Nhân Tôn), Đệ Nhị Tổ Pháp Hoa Đại Sư, Đệ Tam Tổ là Huyên Quang Đại Sư, gọi là Trúc Lâm Tam Tổ.
Về Pháp tu, Phái Trúc Lâm tam Tổ ở Chùa Yên Tử chủ trương mượn trí thức làm phương tiện ( học, hiểu) để củng cố cho đức tin. Có đức tin rồi mới thực nghiệm ( hành) thuần túy tâm linh. C̣n giới, định, huệ th́ cũng giống như pháp của các Phái khác.

5) Phái Tào Động : Đến đồi trịnh Nguyễn phân tranh
( 1528 - 1802) Việt Nam lại du nhập thêm hai Phái nữa là : Phái tào Động. Phái nầy do Ngài Nhất Cú Thiền Sư truyền vào.
Về sau có một tổng hợp các Phái gọi là :
6) Phái Liên Tôn : Phái này do Ngài Lâm Giác Thiên Sư truyền vào. Hiện nay đại biểu cho Phái nầy là Chùa Bà Đá và Chùa Liên Phái ở Hà Nội.
Ngoài ra c̣n hai Phái nữa là Phái Lâm Tế và Phái Liễu Quán, tuy không phổ biến rộng răi, nhưng cũng là những Phái đáng kển trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam.

7) Phái Lâm Tế : Ngài Nguyên Thiều khai sáng một Phái mới ở Trung Việt. Quê Ngài ở Quảng Châu (Trung Hoa) theo tàu buôn qua An-nam trú ở Phủ Qui Ninh tỉnh B́nh Định, lập Chùa Thập Pháp Di Đà, mở trường dạy học, sau ra Thuận Hóa lập chùa Hà trung rồi lên Huế lập chùa Quốc Ân, dựng Tháp Phổ Đồng. Ngài phụng mệnh Vua Anh Tôn về Trung Hoa t́m mời danh tăng sang Việt Nam. Ḥa Thượng Thạch Liêm truyền giới long trọng tại Chùa Thiên Mụ. Ngài trụ tŕ Chùa Hà Trung, dạy pháp thiền cho đệ tử. Ngài Nguyên Thiều là sơ tổ của Phái Lâm Tế.

8) Phái Liễu Quán : Phái nầy cũng phổ biến ở phạm vi nhỏ hẹp tại Miền Trung mà thôi. Ngài Liễu Quán Ḥa Thượng quê ở Phú Yên ( Sông Cầu ), ra Thuận Hóa thọ Sa-si với Ngài Thạch Liêm Ḥa Thượng. Năm 1702 Ngài đến Long Sơn học thiền với Ngài Tử Dung Ḥa Thượng, người Trung Hoa, là một vị Tổ khai sơn của Chùa Từ Đàm Huế ngày nay. Ngài tịch diệt ngày 22 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1942).
Về sau, đến Triều Nguyễn và thời Pháp thuộc, Phật Giáo suy đồi, Triết lư Đạo Phật không ảnh hưởng sâu xa trong nhân gian. Tuy cao tăng vẫn có, nhưng chỉ lẻ tẻ v́ sự đen tối của đất nước, do đó Phật giáo trong nhân gian chỉ như một Thần Đạo, lo cúng vái Phật mà không hiểu nghĩa lư cao thâm của triết lư Đạo Phật.
Phật Giáo Cận Đại :
Trong thời cận đại : Từ 1.930 trở về sau, Phật Giáo bắt đầu chấn hưng. Ở Nam, Trung, Bắc, Hội Phật Học nổi lên khắp nơi. Mỗi Hội mang một sắc thái riêng mặc dù có cùng chung một mục đích là nghiên cứu Phật pháp. Những Hội Phật Học được thành lập là :
Tam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học thành lập tại Sài G̣n ( Nam Phần). ngày 28.12.1931, ra Tạp Chí Từ Bi-Âm và Pháp Bảo Phường.
Mục đích :
Chỉnh đốn Thiền môn,
Vă hồi qui giới
Giáo dục Học tăng
Phổ thông lư thuyết Nhà Phật bằng Quốc ngữ.
Hội Lưỡng Xuyên Phật Học thành lập tại Trà Vinh ( Vĩnh B́nh ngày nay - 1975 ) vào năm 1.935, có mở Phật Học Đường, ra báo Duy Tân và có Thư Viện đủ cả Đại Tạng và Tục Tạng.
Hội Phật Học Trung Việt thành lập năm 1.932, có lập Phật Học Viện, ra báo Viên Âm và có Đại Tạng.
Hội Phật Học Bắc Việt thành lập năm 1.934 ra báo Đuốc Tuệ.
Phật giáo Hiện Đại :
Kể từ năm 1.948 Phật Giáo đă phát triển và có dấu hiệu thống nhất. Một HộI Phật Học duy nhất lấy tên là Hội Phật Giáo Việt Nam, về sau đổi tên là Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam.
Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập sau một Đại Hội Nghị Toàn Quốc tại Huế năm 1.951 vào ngày Lễ Phật Đản.
Hội Nghị nầy có sự tham dự của 50 Đại Biểu vừa Tăng Già vừa Cư Sĩ ở khắp ba Miền Trung, Nam, Bắc Việt Nam họp tại Chùa Từ Đàm ( Huế ).
Qua hết giai đoạn tổng hợp các Hội Phật Học, lại có khuynh hướng phân ra nhiều Giáo Hội tức nhiều Hệ Phái Phật Giáo được khai sanh. Đây là một chu kỳ mà người ta có thể biểu diễn diễn tiến sự khai sanh các Hệ Phái Phật Giáo như sau :
Trung Hoa Bắc Tông
(Đường bộ)
Phật Giáo Việt Nam và  việc Tổng hợp :
(Ấn Độ) Chi Phái
truyền sang Chi Phái
Hội
Chùa
Am , Tự vv
qua Việt Nam, Miên.....
(đường thủy : Nam Tông )
Thống Nhất
( Tổng Hợp)

    Năm 1955 : Phật Giáo Toàn Quốc thành lập Hội Phật Giáo Thống Nhất. Đây là giao đoạn tổng hợp sau một thời gian phân rẻ nhiều Chi Phái theo nhiều đường lối tu có tánh cách đặc thù. ’’Sự thống nhất là do dự định thống nhất giữa những đoàn thể có thể thống nhất và tự muốn thống nhất, tức là sự thống nhất hạn chế trong khuôn khổ tinh thần và kỷ luật hoạch định bởi ư chí chấn chỉnh của người khởi xướng, chứ không phải một sự kết nạp để lấy số đông ’’ ( Tuệ Giác, Việt Nam Tranh Đấu Sử, trg. 75 ). Mặc dù có sự thống nhất, nhưng thực tế, c̣n có thêm rất nhiều Hệ Phái mới khai sanh trong giai đoạn sau nầy.
1960 - 1963 : Phật Giáo bị Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đàn áp với chính sách kỳ thị Tôn Giáo.
 Ngày Lể Phật Đản 15.4. Quư Măo (7.5.1963) Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ra lịnh triệt hạ Phật kỳ, nổ súng vào Phật giáo đồ biểu t́nh giết chết 8 người.
Ngày 1.1.1963 Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ. Sau ngày nầy các Hệ Phái Phật Giáo đoàn kết để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất với Bản Hiến Chương ngày 20.11.1963. Sau đó có nhiều âm mưu phá hoại nên có sự chia rẽ Phật Giáo Thống Nhất ra làm hai Viện Hóa Đạo :
1) Ấn Quang và
2) Việt Nam Quốc Tự.
    Hiện nay mặc dù qua nhiều giai đoạn phân rẻ, tổng hợp rồi lại phân rẻ. Đó là cái ṿng lẩn quẩn mà qua thời gian nó sẽ tái diễn măi.
Việc phân chia ra nhiều Hệ Phái Phật Giáo không phải là một điều lạ mà bất cứ một Giáo Hội hay đoàn thể nào, khi vị Giáo Chủ ( Giáo quyền) hay cấp lănh đạo ( Thế quyền) có uy tín c̣n tại thế, tư tưởng của các môn đệ, các Bộ Phận Lănh Đạo cấp dưới chưa chắc là tư tưởng chung. Do đó, khi các vị Giáo Chủ, cấp lănh đạo qua đời th́ tránh sao khỏi những đường lối, hành động khác nhau ? Mỗi người mỗi ư - Có bao nhiêu người là có bấy nhiêu ư kiến, có bấy nhiêu Hệ Phái của Tôn Giáo. Nhưng có điểm cần lưu ư là có nhiều Tông Phái Phật Giáo khuynh hướng tuy khác nhau, nhưng tinh thần vẫn là tinh thần của Đạo Phật. Người ta không thấy có sự bài xích và xảy ra những cuộc xung đột giữa nội bộ.


Tiết II - Về phương diện kinh điển va đường lối tu.
Suốt cuộc đời tầm Đạo và đắc Đạo của Đức Phật Thích Ca được các đệ tử ghi chép hết trong ba Tạng Kinh. Kinh điển quá nhiều, triết lư Đạo Phật khi phổ biến trong dân gian qua nhiều thế hệ, người ta không biết Đức Phật nhờ vào giai đoạn nào trong cuộc đổi mà Ngài được đắc Đạo ? Ngài xuất gia cầu Đạo, không có vị Tu sĩ Bà La Môn giáo nào c̣ triết lư hành Đạo đáng cho Ngài theo. Ngài đi khất thực, sống khổ hạnh, nhịn đói cho đến ngất xỉu, thân xác gầy ốm. Sau đó Ngài ăn ướng lại, thân xác khỏe mạnh lại, Ngài đến ngồi dưới gốc cây bồ đề để tập trung tư tưởng, quán xét Vũ Trụ, vạn vật. Sau 49 ngày ngồi thiền ( mỗi ngày khi đến giờ độ cơm, dân chúng ở quanh đấy mang thực phẩm đến cúng dường để Ngài sống). Ngài đă khám phá được Vũ Trụ, vạn vật, t́m ra tất cả những nguyên lư, những định luật trong Trời Đất và khám phá ra nguyên nhân sanh ra khổ và phương pháp diệt khổ theo 8 con đường chân chánh ( Bát chánh đạo).
Về phương diện Kinh Điển, người ta căn cứ ở mỗi giai đoạn tu hành của Đức Phật mà noi theo cách tu. Đường lối tu dựa trên Kinh Điển. Nếu tu theo những pháp của Kinh Điển giụa trên triết lư chứa đựng trong Kinh Điển đó. V́ sự khó khăn của danh từ, mỗi Phái hiểu một cách khác nhau, nên chủ trương theo một lối tu riêng.
Triết lư của các Tông Phái Phật Giáo Ấn Độ và Trung Hoa khi qua Việt Nam biến thể đôi chút và sanh ra nhiều Hệ Phái. Tuy qua nhiều vị Tổ, nhưng người ta phân ra hiện nay ở Trung Hoa, Nhật Bản cũng như ở Việt Nam có hai Tông Phái chánh : Đại Thừa và Tiểu Thừa.

  Phái Tiểu Thừa :
Đường lối tu : Chủ Trương lo tự độ ( độ lấy ḿnh khỏi ṿng sinh , tử luân hồi) - Chỉ tự giác mà thôi, c̣n ngă chấp, chưa lo phá chấp - Coi trọng văn tự Kinh, Sách và làm đúng theo lời Phật dạy.
Phái Tiểu chán đường sinh tử, mong cầu chứng Niết Bàn, thoát khỏi cảnh khổ, tách rời sinh tử).
Phái nầy bảo thủ, tự cho ḿnh làm đúng lời Phật dạy, vẫn dùng Tam Tạng Kinh viết bằng tiếng Ngam Phạn ( Pali).
Tiểu Thừa là cỗ xe nhỏ ( Tiểu Thặng). Phái nầy c̣n gọi là Phái Thượng Tọa ( Mahsanghika). Xưng là Phật Giáo Nguyên Thủy. Phái bảo thủ nầy chủ trương hữu luận, giữ nghiêm nhặt giáo điều. Giáo lư căn bản của Tiểu Thừa là coi Vũ Trụ vô thường, biến dịch theo chu kỳ : thành, trụ, hoại, không. Coi ḿnh với vạn vật tha nhân là một. Cái Tâm ta không phải ta ( vô ngă), không có ǵ khác biệt mà là đồng nhất thể. Đó là : Tâm Bác Nhă, Tâm Chân Như, Phật Tánh mà ai cũng có như nhau. Bản ngă ích kỷ không có thật. Đó là nguồn gốc của mê lầm, đau khổ.
Tiểu Thừa về phương diện nhận thức tuy đă nghiên cứu và phân tách sự vật một cách tỉ mỉ và rốt ráo, nhưng chỉ trong phạm vi hiện tượng mà thôi, chứ chưa vượt khỏi hiện tượng luận để vào Bản Thể luận như giáo lư Phật giáo Đại Thừa.

 Phái Đại Thừa :
Đại Thừa c̣n gọi là Đại Thặng, chủ trương cấp tiến, tinh thần trọng lời Phật dạy mà tiến hóa. Tự cho rằng ḿnh hiểu ư sâu xa của Phật.
Chủ trương : Tự do, khoan đại, khảo cứu tự do, không câu chấp và nô lệ giáo điều, kinh sách.
Phái nầy chủ trương hữu luận, chẳng những tự độ mà c̣n phổ độ chúng sinh ( tự giác, giác tha).
Ngoài ra, về sau Phái Đại Thừa c̣n chủ trương Không Luận, nghĩa là dung ḥa. Chủ trương chẳng có mà cũng chẳng không. Trung Đạo mới thật là tinh hoa của Phật học Đại Thừa.
Đại Thừa là cỗ xe lớn ( Đại Thặng), tự giác mà c̣n phải giác tha nữa ( cỗ xe chở nhiều người).
Cũng đồng chủ trương với Tiểu Thừa về phương diện nhận thức, nhưng vượt xa hơn để tiến sâu vào bản thể. Thừ (xe) có nghĩa là vận tải, đưa con người ra khỏi ṿng sinh tử.
Đại Thừa biết rơ phiền năo không trụ nơi sinh tử cũng không trụ nơi Niết Bàn. Phiền năo tức là Bồ Đề. Sinh tử và Niết Bàn là Một. ( Niết Bàn tại thế chớ không đâu xa, nếu con người biết phá chấp).
Đại Thừa lại c̣n chia hai Phái :
1. Thủy giáo là Quyền Đại Thừa,
2. Chung giáo là Thực Đại Thừa.
Phật giáo
Trung Luận Không luận Hữu luận
( Thực Đại Thừa) ( Quyền Đại Thừa)
Đại Thừa Tiểu Thừa
Quyền Đại Thừa cho sự vật ( vạn pháp) đều do Tâm mà có, ngoài Tâm ra, không có sự vật ǵ cả.
Thực Đại Thừa chủ trương phi hữu phi không, diệc hữu, diệt không ( chẳng có, chẳng không mà cũng có, cũng không), khác Tiểu Thừa ở chỗ chấp ngă và khác Quyền Đại Thừa ở chỗ chấp không.
Như vậy, xét về phương diện kinh điển và đường lối tu, Phật giáo có hai Phái chánh : Đại Thừa và Tiểu Thừa, nhưng xét về phương diện h́nh thức tu, tức những chi tiết khác biệt ở cách tổ chức Giáo Hội, th́ ở Việt Nam trong giai đoạn cận đại có rất nhiều Hệ Phái. Xin kể sơ lược sau đây :


Mục I - Giáo Hội Phật Giáo Nguyên thủy Việt Nam.
Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam là một Hệ Phái thuộc Tiểu Thừa hay Nam Tông. Triết lư và việc hành Đạo là triết lư của Tiểu Thừa Phật Giáo.
Người ta giữ giới cấm : Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không dùng rượu thịt, không vọng ngữ.
Đa số tín đồ ăn chay tháng 4,6 hay 10 ngày tùy theo sự tu tập. Phật tử thường là cư sĩ tại gia. Tới ngày rằm th́ đến chùa lễ Phật. Ngoài ra, các vị sư trụ tŕ tại chùa là các thầy hướng dẫn đạo lư cho tín hữu, nhưng thật ra ngoài thực tế ít ai được hướng dẫn một cách thấu đáo triết lư Đạo Phật.


Mục II . Giáo hội Phật giáo Cổ Sơn Môn hay Phật giáo Cổ truyền Việt Nam
Cũng là một Hệ Phái thuộc Tiểu Thừa, các tu sĩ thường ở tại gia. Dân chúng thường rước các tu sĩ nầy đến tụng kinh cầu siêu cho linh hồn người chết trong các lễ ma chay, cúng tuần ...Các tu sĩ theo Phái Cổ Sơn Môn chú trọng ở việc tụng kinh, niệm Phật. V́ thường tụng kinh các đám ma chay nên người ta thường gọi các tu sĩ nầy thầy cúng. Đa số c̣n ăn mặn và ít thấu đáo triết lư Đạo Phật. Khi cúng, các tu sĩ nầy mặc áo cà sa mà vàng, lần tràng hạt, gióng chuông, gơ mơ, đọc kinh kệ...
Giáo Hội chưa tổ chức có Hệ thống. trụ sở Trung Ương tại Sài G̣n. Ở các tỉnh có một số chùa. Đa số các tu sĩ cất am hay tu tại gia.


Mục III. Giáo hội Phật giáo Lục Ḥa Tăng
Đây là một Hệ Phái thuộc Nam Tông, c̣n gọi là Phật giáo Cổ truyền Lục Ḥa Tăng. cac1c tu sĩ tu ở chùa th́ ăn chay, h́nh thức tu cũng tụng kinh, gơ mơ như Phái Cổ Sơn Môn.

Mục IV . Các am cốc
Mỗi tu sĩ khi muốn tu, dù ở tại gia hay xuất gia đều có thể tu được. Đa số tu theo Tiểu Thừa, ăn mặn, lần lần tập ăn chay kỳ vá ăn chay trường tùa theo thói quen hay ư thức tu tiến. Người ta cất những cái nhà kiểu chùa Phật nhưng nhỏ hơn nên gọi là Am, nếu nhỏ hơn nữa gọi là Cốc. Ở trong Am, Cốc có bàn thờ Phật và thơ chư vị khác tùy theo ư hay sự tin tưởng của người tu. Không gọi là một Phái v́ có tính cách cá nhân, nhưng cách thức tu ở toan quốc đều giống nhau : tụng kinh, gơ mơ, niệm Phật.
Triết lư Đạo Phật th́ ít ai hiểu. Người nào có học hỏi th́ khá hơn, nhưng đa số lại thiên về đồng bóng, mê tín dị đoan.

Mục V Giáo Hội Phật giáo Khất sĩ Việt Nam
1. triết lư

Đây là một Chi Phái Phật Giáo Tiểu Thừa dụa trên lịch sử Đức Phật Thích ca trong thời gian Ngài c̣n tại thế, tu thiền ở dưới gốc cây bồ đề, khất thực do sự cúng duờng của dân chúng ( những người dân ở chung quanh vùng thấy Ngài ngồi dưới gốc cây thiền định măi không ăn uống, sợ Ngài chết nên mang thức ăn đến dâng). Phái nầy chủ trương lấy sự khất thực để ḥa ḿnh trong hàng thiện nam, tín nữ thập phương bá tánh, nhắc nhở người ta tu hành là phải nhẫn nhục, sống đơn giản, không màng danh vọng hảo huyền. ‘’Sự ăn xin không phải là hèm kém, xúc phạm đến phẩm giá đạo hạnh con người, chẳng qua chỉ là sự bù trừ, đem chỗ dư đắp vào chỗ thiếu, trao đổi chan ḥa cho nhau. Đi xin ăn, đi học Đạo, rồi truyền bá giáo lư khắp chúng sanh. Đó là sống theo chơn lư của Vũ Trụ ( Lời nói của Đại Đức Minh Đăng Quang), giữ giới rất khắt khe, sống khổ hạnh.

2. Người sáng lập Phái Khất Sĩ là Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang, người Vĩnh Long, viết bộ sách tựa là ‘’Chơn Lư’’ để nói triết lư về khất thực tu hành. Phái nầy khai sáng tại tỉnh Vĩnh Long, vế sau phổ biến khắp nước.
Ngoài giờ đi khất thực, trong ngày, mỗi khất sĩ về chùa học Đạo, tập thiền. Người giỏi dạy người mới tu.

3. H́nh thức tu
Mỗi nơi đều có một chùa gọi là Tịnh xá. các du tăng khất sĩ ở trong Tịnh Xá để tu hành. Trong chùa bày biện rất đơn giản, có tượng thờ Phật, xung quanh Tịnh Xá có nhiều cái cḥi lá gọi là cốc. Mỗi vị tu sĩ ở một cốc để lo tu tịnh. các khất sĩ mặc áo cà sa màu vàng, vá nhiều miếng vải nhỏ. Vải cũng xin của bá tánh về vá lại. Mỗi ngày các du tăng luân phiên đi khất thực ( từ 9 đến 10 giờ), về Tịnh Xá chia nhau độ Ngọ. Chỉ dùng có một buổi trưa mà thôi, ăn chay kỳ , nhưng cũng có nơi ăn chay trường. Mỗi tháng có 4 ngày qui hội, tính theo Âm lịch là ngày rằm, mùng 8 và 23. Ngày ấy khung cảnh tại Tịnh Xá rất náo nhiệt. các sư không đi khất thực, ngồi tại chỗ. Thiện nam, tín nữ đến Tịnh Xá mà cúng Phật và Cử huyền Thất Tổ.

3. Phân chia thêm chi nhánh của phái
a) Môn đệ Ngài Minh Đăng Quang là Thượng Tọa Thích Giác Nhiên, đên Trúc Giang lập Tịnh Xá đầu tiên lấy hiệu là Ngọc Trước, sửa đổi đôi chút triết lư của Sư Trưởng, theo một đường lối riêng.
b) Đến năm 1.959, Sư từ-Huệ ở Kiến Ḥa tách rời hàng ngũ Đoàn Khất Sĩ Du Tăng, hành Đạo riêng, không ở trong Giáo Hội, tu theo đường lối riêng trong một cái cốc lá nhỏ.
c) Hiện nay du tăng khất sĩ có nhiều Đoàn, mỗi Đoàn do một Pháp-sư lănh đạo:
phái nam gồm có 6 đoàn :
1) Đ̣an Thượng Tọa Giác Chánh
2) Đoàn Thượng Tọa Giác Tánh
3) Đoàn Thượng Tọa Giác An
4) Đoàn Thượng Tọa Giác Nhiên
5) Đoàn Thượng Tọa Giác Lư
6) Đoàn Thượng Tọa Giác Huệ
phái nữ có 8 đoàn:
1) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Liên
2) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Ngân
3) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Trí
4) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Văn
5) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Tạng
6) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Nghiêm
7) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Tràng
8) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Nhu
Tuy có nhiều Đoàn, nhưng triết lư hành Đạo là đường lối tu chung của tất cả mội khất sĩ.
Hiện nay người ta thấy có khuynh hướng chia làm hai Phái :
Phái Trụ : Tu ở tại chùa không đi khất thực, thiện tín đến cúng dường.
Phái Du Tăng : Đi khất thực.
Ngoài ra, ở Ba-Xuyên có một Phái khác là Phái Khất Sĩ Đạo Lâm.


Mục VI.   Phái Khất Sĩ Đạo Lâm

Đây là một Phái riêng, cùng một nguồn gốc với Phái Khất Sĩ, nhưng có tính cách địa phương. Đường lối tu cũng như triết lư tương tợ như triết lư hành đạo của Phái chung là Giáo Phái Khất Sĩ Việt Nam.
mục vii. giáo hội tăng già khất sĩ
Để thống nhất tinh thần các Chi Nhánh nhỏ của Phái Khất Sĩ, một Giáo Hội được thành lập lấy tên là Giáo Hội Tăng Giá Khất Sĩ Việt Nam. Hội Sở Trung Ương là là Tịnh Xá Trung Tâm, số 7 đường Nguyễn trung Trực, Gia Định. Tuy có tổ chức, nhưng không có Hệ thống lănh đạo. Mỗi Tịnh Xá là một nơi tu riêng của một số tu sĩ, không có liên lạc giấy tờ như các Giáo Hội khác.
mục viii. thiên tông
Phái Thiền Tông ở Việt Nam thường do các sư am tường về phép thiền định dạy cho thiện nam, tín nữ. Muốn học thiền, hành giả phải ăn chay trường. Hiện giờ Thượng Tọa Thích Thanh Từ có lập tại Vũng Tàu một thiền đường rất lớn, ngài truyền dạy cho mọi giới pháp thiền về lư thuyết cũng như thực hành ( hiện nay có cả người ngoại quốc, các tín hữu Thiên Chúa Giáo cũng đến xin học thiền).
Có nhiều thiền phái, v́ mỗi thầy dạy thiền thực hành mỗi phương pháp khác nhau. Ở Việt Nam có bao nhiêu nhà sư ni tiếng th́ có bấy nhiêu kỹ thuật thiền (Đức Phật xưa có nói: ’’ Có tám vạn bốn ngàn pháp môn’’).
Gọi là một Phái v́ đa số thiền sư lấy phương tiện thiền định để tinh tấn, minh tâm kiến tánh, chứ không ai có thể biết được có bao nhiêu pháp thiền khác nhau. Nói chung thiền là những phương pháp tâp trung tư tưởng theo Yoga, các thở, đếm hơi thở, vận chuyển hơi thở, chú ư hơi thở, chú ư các luân xa hướng thượng vv...
Người nào có thực hành một thời gian, có kinh nghiệm rồi dạy người khác, in ra sách và phổ biến.
Phái Thiền Tông không có Giáo Hội, không có hệ thống tổ chức nên có thể trong một thời gian sau c̣n có rất nhiều Nhóm, Sư ... đưa ra nhiều phương pháp thiền khác nhau. Đa số muốn người muốn học thiền phải ăn chay, tuyệt dục. Nhưng có Phái học với pháp mới, ăn mặn mà thiền cũng không sao. Đó là Phương pháp thiền gọi là ‘’Pháp Lư Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp’’ của một nhóm người tại Sài G̣n.


Mục IX. nhóm tu thiền theo pháp lư vô vi khoa học huyền bí phật pháp
Nhóm nầy hiện giờ không có tổ chức thành Giáo Hội như các Chi Phái Phật Giáo khác, chỉ lo học thiền định theo một phương pháp của Phật để mở những huyền năng ẩn tàng trong con người hầu có thể xuất hồn, xuất vía, giải thoát khỏi luân hồi sanh tử.
Mở đầu phương pháp do Ông Tư Đỗ Thuần Hậu, thọ pháp của cao Minh Thiền Sư ở núi Tà Lơn, truyền pháp cho Ông Tám Lương Sĩ Hằng. Ông Tám là người Tàu, nhờ thiền đă có kết quả, xuất hồn, xuất vía, dùng ư chí có thể phá tan được một đám mây đang bay trên Trời.
Hiện thời tại sài G̣n co 3 thiền đường là Thiền Đường Hồ Văn Em ở Ấp Bà Cả, đường Trần trọng Kim ( khỏi cầu xa Lộ, quẹo mặt) ; một thiền đường thứ hai ở đường Ḥa Hưng là nhà của cư sĩ Nguyễn Xuân Liêm và thiền đường thứ ba ở số 200 đường Nguyễn Biểu. Mỗi tuần vào ngày thứ bảy, sáng Chúa Nhật và chiều Chúa Nhật, một trong ba nơi ấy có ông tám Lương Sĩ Hằng thuyết pháp dạy về triết lư và thực hành thiền. Hiện giờ số người tu thiển rất đông ở khắp nước, cả người ngoại quốc nữa).
Thiền theo pháp nầy không cần ăn chay, ăn mân cũng không có hại ǵ cho tâm linh nói theo ông Tám (các pháp thiền khác phải ăn chay mới được, nếu ăn mặn sẽ nguy hiểm : điên, chết, tẩu hỏa nhập ma, hộc máu...). Một số người thiền có kết quả vá có người đă xuất vía được, ư thức trong lúc ngủ : ban đêm bay đến nơi nầy nơi nọ, khi thức đều nhớ cả.


Mục X. Thiền Tịnh Đạo Tràng
Là một Phái thiền riêng, cơ sở hành đạo là một Đạo Tràng, vị trụ tŕ hay tu sĩ nào có khả năng, uy tín sẽ hướng dẫn phương pháp tu thiền định. các Đạo Tràng được cất lên nhiều nơi như ở Định Tường, Châu Đốc... Ngoài ra, ở Phú Nhuận có một Thiền Đường gọi là Như Lai Thiền Đường. Đó cũng là một lối tu của một vị có tánh cách riêng biệt, dạy thiền theo một triết lư riêng: ăn mặn, thiền và phá mọi chấp để thấy Như Lai bản thể tại nơi ḿnh.
mục xi. phật giáo hoa tông
Là một Hệ Phái Phật Giáo của người Việt gốc Hoa, cách tu cũng giống như Phái Tiểu Thừa như người Việt nam ( đối với người b́nh dân). Ngoài ra, có một Phái khác gọi là Minh Nguyện Cư Sĩ Lâm.
mục xii. minh nguyện cư sĩ lâm phật học
Đây là một Hội Phật Học do người Việt gốc Hoa thành lập. Người tu tại gia, cũng tập ăn chay, đến chùa vào những ngày rằm, Vía Phật. cách tu giống như các Phái Tiểu Thừa khác, chú trọng ở sự cầu nguyện, đọc kinh, ít thấu đáo triết lư Phật.
mục xiii. tam tông miếu
Là một Hội Phật Học, có tính cách cá biệt, chỉ có ở Sài G̣n mà thôi ( tại Chùa Tam Tông Miếu sài G̣n). Đường lối tu va học Phật cũng giống như Tiểu Thừa Phái. Nhưng triết lư có tổng hợp với Đại Thừa Phái.
mục xiv. giáo hội tổ tiên chính giáo
Đây cũng là một Hệ Phái lấy sự thờ cúng Tổ Tiên làm mục đích chánh, tuy nhiên h́nh thức tổ chức là một sự pha trộn của Nho giáo và Phật Giáo.
Trụ sở Trung Ương Giáo Hội đặt tại số 205 Minh Mạng Sài G̣n. Ở Miền Trung cũng có cơ sở Tôn giáo như một ngôi chùa Phật giáo.
mục xv. giáo hội thiên thai quán môn.
Đây là một Phái Đại Thừa lấy triết lư từ Thiên Thai Tông ở Trung Hoa, thiền và tụng kinh Pháp Hoa, nên gọi là Pháp Hoa Tông. Tất cả giáo lư sau cùng của Phật qui tụ vào kinh Pháp Hoa. Đọc kinh để diệt trừ nghiệp chướng, hành pháp ‘’ Nhất tâm Tam Quán’’. Phái nầy phát triển ở Miền trung Việt nam, chưa phổ biến mạnh mẽ khắp nơi.
mục xvi. mật tông hay chân ngôn tông
Phái nầy ở Việt nam rất ít người theo v́ có tính cách mầu nhiệm bí mật. Chủ trương : đọc Kinh Kim cang Đảnh.
cách tu : Ngồi tịnh, bắt ấn, niệm thần chú (thí dụ như Umani badmihum hay dịch ra tiếng Hán là ‘’Ám ma ni bát di hồng).
Hiện nay tại số 34 đường Trần Quang Khải có một vị sư phổ biến pháp môn nầy bằng cách trị bịnh, coi bói, giảng Phật trí đạo. Cơ sở chỉ là nhà của cư sĩ, lấy tên là Viện Phật Trí Đạo, có đăng quảng cáo trên báo. Ở Miền Châu Đốc, Long Xuyên, ( trên Thất Sơn) cũng có những nhà sư tu và luyện phép bằng cách đọc thần chú.
mục xvii. tịnh độ tông
Đây là một Phái Đại Thừa theo pháp môn Tịnh Độ, nghĩa là dùng việc đọc kinh để tập trung tư tưởng, đưa tinh thần người tu gần với Phật. Tông Phái nầy cũng dựa vào kinh điển của Phái Thiền Tông, là một Phái thuộc Đại Thừa. Tụng kinh A-Di-Đà để thác sanh về nơi Tịnh Độ để thành Phật. Đọc kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A-Di-Đà.
Chủ trương: tín (tin tưởng), hạnh (giữ đức hạnh, tu tánh), nguyện (cầu nguyện, ước nguyện cho tha nhân).
Triết lư có thể tóm lược như sau:
Con người giống như cái máy thu thanh, cứ điếu chỉnh măi sẽ bắt được đài, tức là sễ tiếp nhận được sự tương ứng với các luồng điển của Phật A-Di-Đà (theo lời nguyện của Ngài và theo luật đồng thanh tương ứng), khi thác sẽ hướng về cơi đó. Phái nầy thành lập do cư sĩ Đoàn Trung C̣n, một học giả và nhà viết tự điển Phật học.


Mục xviii. Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội  Viêt Nam(Đại Thừa)
Triết lư tu là đọc kinh A-Di-Đà. Tập thờ phượng Đức A-D-Đà Phật hay Vô Lượng Quang Phật. Hội nầy sáng lập trên 30 năm, nay do Tôn Sư Minh Trí, người gốc tỉnh Sađéc. Hiện nay <hội nầy hoạt động mạnh mẽ, nhất là tại Nam Phần Việt nam, tín đồ lên đến gần một triệu người. Tôn chỉ là thực hiện Từ Bi, Bác Ái, lập công bồi đức (Phước Huệ song tu).
Hội Quán Trung Ương Hưng Long Tự tại Đại lộ Nguyễn Tri Phương. Mỗi tỉnh đều có Chi Hội. Trụ sở Chi Hội là kột ngôi chùa gọi là Chùa Tịnh Độ. Mỗi nơi đều có mở pḥng hốt thuốc nam trị bịnh miễn phí cho bá tánh. Đặc biệ Đạo kỳ là một chữ NHT màu đỏ nằm trên nền vàng, bao quanh bởi một ṿng tṛn tiêu biểu cho danh hiệu Đức A-Di-Đà.


Mục xiv. Hệ phái Vạn Quốc Tự Việt Nam
Tông Phái vạn ‘’ Quốc Tự’’ do Sư Bà Diệu Lộc sáng lập năm 1.930, lập ra Hội Phước Thiện Việt Nam.
Đây là Tông Phái của Nữ giới. Chủ trương : ‘’Đại Đồng Chơn Lư Duy Nhứt Đạo tâm’’
Mục đích : Tôn trọng tự do tín ngưỡng các Tôn giáo trên thế giới. Cho rằng : ‘’Muôn vạn tín hữu các Tôn giáo đều sùng kính tôn thờ một chơn lư đạo tâm duy nhất’’. Phái nầy chỉ lo giúp đời, nhất là săn sóc lớp măng non, trể con ṃ côi.
Cơ sở của Phái nầy có: Vạn Quốc Tự Tổ Đ́nh tại Phú Hưng, cách thị xă trúc Giang 3km. Vạn Quốc Tự Trung Ương tại Đô Thành ở số 378/3 Đại Lộ Phan Thanh Giản Sài G̣n.
mục xx. hội linh sơn phật học
Cũng là một Hội Phật Học thuộc Phái Tiểu Thừa, có tính cách địa phương, lấy tên chùa làm tên Hội.
mục xxi. phái hạnh đầu đà
Một lối tu khổ hạnh của các tu sĩ ở vùng núi non hiểm trở trên Thất Sơn. Tu theo Phái nầy phải ép xác, kỹ luật do tự ḿnh đặt ra. Phái nầy lấy triết lư đời sống tu của Đức Phật Thích ca lúc sanh tiền ( thời gian ép xác để tu, nhưng Thái Tử Sĩ-đạt-ta không thấy kết quả nên ăn uống trở lại và tu thiền dưới gốc cây bồ-đề mới đắc Đạo). Ông Đạo Dừa cũng tu theo phương pháp khổ hạnh nầy, nhưng về sau ông tổng hợp triết lư các Tôn giáo và lập ra một Phái riêng gọi là Ḥa Đồng Tôn Giáo. Phái Khổ Hạnh nầy hiện nay rất it được người theo v́ có lẽ sự tu hành quá khó khăn ít ai làm được. Chỉ c̣n một số ít người tu ở trên núi vùng Thất Sơn mà thôi.


Mục XII . Phái Ḥa Đồng Tôn Giáo
Tu sĩ Nguyễn Thành Nam (Kỹ sư Hoá học) tục gọi Ông Đạo Dừa tu theo phái khổ hạnh, ông tổng hợp triết lư các Tôn giáo chánh là Phật giáo và Thiên Chúa Giáo được ḥa hợp lại.
Cơ sở Tôn giáo ở Cồn Phụng ( Kiến Ḥa) và ở Phú Lâm. V́ không có tính cách pháp nhân của một Tôn giáo lớn nên khônmg được chánh phủ công nhận. Khu vực tu hành của tu-sĩ Nguyễn Thành Nam có ư định ra tham chánh để lấy Đạo trị đời. ông có tranh cử Tổng Thống nhưng đơn xin tranh cử bị bác. Đa số thanh niên trốn quân dịch đến tu tại Cồn Phụng. Chánh quyền thường đến thanh lọc bằng biện pháp tế nhị. Hiện giờ mọi cuộc di chuyn hành Đạo mang tính cách chánh trị đều bị chánh quyền theo dơi. Những đạo hữu tu tại gia theo Phái Ḥa Đồng Tôn giáo thường tập ăn chay trường.


Mục XIII . Phái Phật-Chúa Liên Ḥa Du Tăng
Đây là một Phái mới lập ra do nhà thơ Thần Liên Lê Văn tất. Tu sĩ tu theo triết lư Thông Thiên học. Ông bị tai nạn găy xương sống. Cuộc đ̣i c̣n lại, ông chỉ lo tu và Phái mới dông sáng lập tổng hợp triết lư các Tôn giáo nhất là hai Tôn giáo lớn : Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo. Phái nầy qui tụ một số đạo hữu tại Châu Đốc. Các du tăng đi hành Đạo từ nơi nầy đến nơi khác, đến ở tại các chùa, Thánh Thất, các Tổ chức Tôn giáo vv. để phổ biến triết lư ḥa đồng Tôn giáo và triết lư Thông Thiên học.
các du tăng mặc áo tràng màu vàng, ăn chay trường. Đạo hữu là những người trong gia đ́nh, bạn bè và một số người ở Tỉnh Châu Đốc.


Mục XIX. Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương
Là một Tôn giáo mới khai mở tại vùng Thất Sơn. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, người Sa đéc khai sáng. Tiếp nối Đức Phật Th6ày Tây An c̣n có Đức Phật Trùm, Đức Bổn Sư, Sư Văi bán khoai...
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tuy là một tân giáo nhưng kể như một Hệ Phái của Phật giáo. Bắt nguồn từ Đạo Phật, nhưng sửa đổi đôi chút, thêm vào triết lư Đạo Phật. Người tu sĩ c̣n phải thực hiện bốn điều ân : Ân đất nước, Ân Tam bảo : Phật, Pháp, tăng ; Ân Cha Mẹ, Tổ Tiên và Ân đồng bào nhân loại.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đề cập nhiều đến Long Hoa Đại Hội và tiên tri sự cứu thế của Đức Di Lạc.
Cách thờ phượng : Thờ trần dà ( màu nâu sậm). Tu theo Mật Tông, dùng chơn ngôn ( thần chú) để trị bịnh và tu thiền để minh tâm kiến tánh. Ngoài việc tu theo bí pháp ( hiện nay đă thất truyền v́ quá khó, ít ai được truyền dạy), các cư sĩ tại gia tu theo phương pháp tiệm tiến từ dễ đến khó : Tu nhân (theo Nho giáo) => Học Phật (theo triết lư Đạo Phật).
Như vậy Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương phối hợp triết lư của Nho và Phật giáo: Vừa nhập thế, vừa xuất thế. Người tu phải tập ăn chay kỳ để lần hồi đến ăn chay trường ví hiểu rằng ăn thịt cá rất trọng trược.
Hiên nay dân chúng tu theo 3 Hệ Phái nhỏ nữa là :
Phái Đức Phật Thầy Tây An ( Nguyên thủy)
 Phái Đức Hoài sanh ( Một vị tu sĩ mới lập ra một Phái khác).
 

Mục XX  Hệ Phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa
và c̣n nhiều Phái khác do sự lôi cuốn của một số tu sĩ lănh đạo. Những Phái liên hệ đến Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương như : Phật Giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở cần Thơ, ở Vĩnh Long có một ngôi chùa cất giữa ḍng sông (nhà sàn) gần Bắc Mỹ Thuận. Ở cà mau có hệ Phái Long Hoa Huỳnh Đạo ( Tổng hợp giữa Bửu Sơn Kỳ Hương và Cao Đài Giáo).
mục xxv. phật giáo ḥa hảo
Bắt nguồn từ triết lư Phật giáo, vê phương diện Đạo bắt nguồn từ Phật Thầy Tây An. cách thờ phượng giống như Phật Giáo bửu Sơn Kư Hương. Triết cũng lấy từ Nho giáo ( tu thân) và từ Phật giáo ( học Phật). cách hành Đạo cũng thực hiện bốn điều ân như Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. cách thiền định theo Tịnh Độ Tông. Tu sĩ tu tại gia niem Phật A-Di-Đà. Có đức tin nơi Phật Pháp, nơi Đức Huỳnh Giáo Chủ (Đức Huỳnh Phú Sổ : các tín hữu Phật Giáo Ḥa Hảo kiêng gọi tên húy c̣n gọi là Đức Thầy), đặc biệt là các tín hữu với nhau gọi nhau là đồng Đạo), tu và tránh mê tín dị đoan.


Mục XXI. Các Hội Phật Học
Ngoài các Hệ Phái, các Hội Phật Học như Lưỡng Xuyên Phật Học, các Hội Phật Học Trung, Nam, Bắc. Hội Phật Học Nam Việt do cụ mai Thọ Truyền lănh đạo mấy năm gần đây hoạt động mạnh về phương diện văn hóa Phật giáo. tất cả các Hội Phật Học kể như những Hệ Phái của Phật giáo v́ vừa có tính cách nghiên cứu vừa lo tu theo triết lư Đạo Phật theo những đường lối riêng.

Mục XXVI. Các Phái Phật Hiáo của người Việt gốc Miên ở Nam Việt Nam.
Người Việt gốc Miên tu theo Nam Tông ( Tiểu Thừa hay Phật Giáo Nguyên Thủy). Triết lư hành Đạo giống như Phái Tiểu Thừa hay Phật Giáo cổ truyền Việt nam. Tuy nhiên có vài điểm hơi khác biệt v́ tính chất dân tộc Khmer.
Người tu theo Tiểu Thừa của người Miên c̣n ăn mặn ( Ở các chùa Miên, các ông ‘’Lục’’ - nhà sư c̣n ăn thịt cá).
Hiện nay Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy của người Việt gốc Miên chia ra làm hai Phái:
1) Phái therevada ( Đă có từ xưa, từ thời văn minh Óc-Eo).
2) Phái Khmeranikay ( mới thành lập gần đây).
Tuy chia hai Phái, nhưng cùng tu chung một chùa ( một chùa có 2 văn pḥng của hai Phái).
Phái Therevada thường đối lập với Chánh quyền, thường đ̣i hỏi quyền lợi nầy nọ, nhưng Phái Khmerranikay th́ thân chính.


Chương IV
Việc hệ thống hóa các hệ phái phật giáo việt nam


Tiết I - Việc phân loại các hệ phái phật giáo việt nam
V́ ở Việt nam có quá nhiều Hệ Phái Phật Giáo nên việc hệ thống hóa để phân loại rất cần để biết được đặc điểm của một số Hệ Phái lớn cũng như Chi Phái nhỏ đă, đang và sẽ thành lập. Việc phân loại có thể căn cứ vào những tiêu chuẩn sau đây :

Mục I. Phân loại theo thời kỳ
Nếu xét về nguồn gốc Đạo Phật, phân chia theo thời kỳ th́ các Hệ Phái Phật Giáo có ba loại :
Thời kỳ I : ( Phật trong quá khứ, tức Tiền Phật Giáo)
Đức Phật Thích Ca có đề cập đến Đức A-Di-Đà Phật tức là Phật ở thời quá khứ. Các Hệ Phái thờ và tụng Kinh A-Di-Đà là Tịnh Độ Tông, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội vv.
Thời Kư thứ II. ( Từ khi Đức Phật Thívch Ca đắc Đạo cho đến khi Ngài tịch diệt)
Các Chi Phái dựa trên lịch sử của Phật hiện tại th́ có hai Hệ Phái : Đại Thừa và Tiểu Thừa. Các Hệ Phái Phật giáo ở Việt nam, hoặc thuần túy Đại hay Tiểu Thừa hoặc tổng hợp cả hai.
Chia theo Đại Thừa và Tiểu Thừa c̣n dựa trên tiêu chuẩn Bảo- Thủ ( Nguyên thủy hay Tiểu Thừa) và cấp tiến ( Đại Thừa).


Thời kỳ III ( Phật Tương lai)
Người ta dựa theo Kinh Phật th́ trong tương lai, Đức Phật Di Lặc sẽ giáng sanh để giáo Đạo ở Nguơn kế tiếp. Đời Mạt Pháp Ngài là Long Hoa Giáo Chủ. Đời Hạ Nguơn chấm dứt Phật Di Lặc là Chủ Khảo trong cuộc sàng săy. Hết Hạ Nguơn đến đời Thượng Nguơn Phật Di Lặc là Phật Vương Cứu Thế. Những Hệ Phái Phật Giáo chấp nhận triêt lư Long Hoa Đại Hội, chờ đợi Phật Vương ra đời như : Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Ḥa Hảo, các Hêẹ Phái của Cao Đài Giáo như Thiên Khai Huỳnh Đạo
mục II- phân loại theo bí truyền và công truyền


1) Theo bí truyền ( khó hiểu, bí mật) có Hệ Phái như sau : Mật Tông hay Chơn Ngôn Tông, các Phái Thiền Tông, có niệm chú như Tịnh Độ Tông vv.

2) Theo công truyền (đăi chúng, dễ hiểu, dễ truyền bá) như các Hệ Phái thuộc Phật Giáo.

Tiết II. Sự thống nhất các Hệ Phái Phật Giáo

               Hiên nay các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt Nam đă được thống nhất tinh thần. Nam Tông và Bắc Tông có cùng chung một mục đích là học Phật, tu hành. Toàn thể các Hệ Phái họp Đại Hội tại chùa Xá Lợi Sài G̣n ngày 30.12.1963 đền ngày 1.1.1964, xoá bỏ mọi tập đoàn riêng biệt, chung lại thành lập một Giáo Hội gọi là ‘’Gi áo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất’’.

               Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có một Hiến Chương gồm 10 chương, 36 điều, do một Ủy Ban của 11 Đại Diện các Hệ Phái soạn thảo.

               Mục đích thành lập dựa trên sự tồn vong của nhân loại và dân tộc, không chú trọng đến Hệ Phái cá biệt.

               Giáo Hội tổ chức có qui cũ : Có Viện Tăng Thống lănh đạo tinh thần, Viện Hóa Đạo để hoằng khai Đạo Pháp và các Tổng Vụ để lo về tăng sĩ, cư sĩ... Các Địa phương trực thuộc chia ra 8 Miền lấy tên các Thiền sư nổi danh đặt tên cho Miền:

1)      Miền Vạn Hạnh ( Bắc trung Nguyên trung Phần)

2)      Miền Liễu Quán ( Nam Trung Nguyên Trung Phần)

3)      Miền Khuông Việt ( Cao NGuyên Trung Phần)

4)      Miền Khánh Ḥa (Đông Nam Phần)

5)      Miền Huệ Quang ( Vùng Tiền Giang)

6)      Miền Khánh Anh ( Vùng Hậu Giang)

7)      Miền Quảng Đức ( Thủ đô Sài G̣n)

8)      Miền Vĩnh Nghiêm (Không có địa dư ở Việt Nam, lấy chùa Vĩng Nghiêm ở đường Công Lư làm trụ sở Miền, có 10 Đại Diện)

Hiện nay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất lại chia làm hai : Khối Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự. Phật Giáo Viet Nam hiện nay đă dấn thân, nhập thế, nên mang ́nh thức của Tổ chức có tính cách lănh đạo chính trị hơn là tu hành một cách thuần túy như xưa nữa.

                Tuy nói là thống nhất các Hệ Phái chứ thật ra mỗi Hệ Phá́ vẫn giữ đường lối tu hành riêng. Đối với hai Hệ Phái Phật Giáo của người Việt gốc Miên th́ hoạt động riêng rẻ, cũng có Tăng Thống lănh đạo tinh thần riêng không lệ thuộc với Tăng Thống Việt Nam, duy có việc xin động viên tại chỗ ( hoăn dịch v́ lư do Tôn giáo) th́ hồ sơ của các tu sĩ gởi cho Tổng Nha Nhân Lực (kể như trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất).


KẾT LUẬN

                Những giáo thuyết và chi tiết về Tổ Chức và cách hành đạo của các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt Nam rất phức tạp, không thể tŕnh bày một cách vắn tắt được. Qua tập nghiên cứu nầy, người ta chỉ có một cái nh́n tổng quát về sự xuất hiện của các Hệ Phái Phật Giáo mà thôi.

                Trước sự băng hoại của nền văn minh ngày càng trở nên ráo riết, trước sự đau khổ triền miên v́ chiến tranh ư thức hệ và huynh đệ tương tàn ở Việt Nam và với bản chất dân tộc, tất cả các Tôn giáo mới, các Hệ Phái Phật Giáo nói riêng và các Tôn giáo khác nói chung đă, đang và có lễ sẽ c̣n xuất hiện thêm nữa...  đề dựa trên triết lư căn bản Từ Bi, Hỉ Xả của Đức Phật, từ đó việc học Đạo để tự giác, giác tha và khi hiểu rơ triết lư Đạo, người ta sẽ ư thức về các định luật bất di bất dịch chi phối con người là luật Luân Hồi, nhân Quả để mà hành dộng sao cho khỏi mất sự thăng bằng của Vũ Trụ, đó là : Làm điều lành, tránh điều ác, tu sửa ḿnh luôn để biết tha thứ hay lấy đức báo oán. Như thế th́ nước Việt Nam mới có cơ hội t́m ḥa b́nh được.

                Tín ngưỡng về Tôn giáo của người Việt nam có rất nhiều khuynh hướng và làn sóng Tôn giáo trên thế giới đă tràn vào Việt Nam, nên bất cứ triết lư của Tôn giáo nào trên thế giới khi đến Việt Nam đều được dung nạp, tổng hợp, biến chế, mượn cái căn bản để sáng tác cái mới... sau cùng trở thành một thứ Đạo của riêng ḿnh. Đó là đặc điểm của nền văn minh Việt Nam vậy.

Sách Tham khảo

VIỆT NGỮ

THU GIANG NGUYỄN DUY CẦN, Phật học tinh Hoa, Sài G̣n, Khai Trí, 1971

PHAN BÁ CẦM, Một Tôn Phái đặc biệt của Phật Giáo Việt Nam, Phật Giáo Ḥa Hảo, Sài G̣n,

không tên, 1960, in ronéo).

HỒ VĂN EM, Tôi Tầm Đạo và thiền theo Pháp Lư Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp, sách ấn tống, Sài G̣n, không tên, 1974.

CHÍ HUỆ, Phật Đạo, Sách ấn tống, không tên, không năm.

THÍCH THIỆN HOA, Phật Giáo Việt Nam ngày nay, Sài G̣n, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, 1971, (sách bản thảo in ronéo ph63 biến nội bộ).

NGUYỄN LANG, Việt nam Phật Giáo sử luận, Sài G̣n, Lá BỐi, 1974.

HUỲNH MINH, Kiến Ḥa xưa và nay, Cánh Bằng, 1965;

                                   Vĩnh Long xưa và nay, Sài G̣n, cánh Bằng, 1967.

NGUYỄN VĂN SÂM, Tín ngưỡng Việt Nam Cận Đại và Hiện Đại ( Giảng khoa Chứng Chỉ Văn Minh Việt Nam), Đại Học Văn KHoa Sài G̣n,1972, (tài liệu in ronéo).

NGUYỄN ĐĂNG THỤC, Phật Giáo Việt Nam, Sài G̣n, Mặt Đất, 1974.

SÁCH DỊCH

CONZE, EDWARD, Tinh hoa và sự phát triển của Đạo Phật, Chân Pháp NGUYỄN HỮU HIỆU, dịch giả, Sài G̣n, Ban Tu Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh, không ghi năm.

TRẦN VĂN GIÁP,  Phật Giáo Việt Nam  ( Le bouddhisme en Annam), TUỆ  SỸ dịch giả, Sài G̣n, Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh, 1973.

SÁCH NGOẠI NGỮ

SANTAYANA, GEORGE, Reason in religion, New York, Collier Books, 1962.

BÁO CHÍ XUẤT BẢN ĐỊNH KỲ

THÍCH THIỆN HOA, Phật học Phổ Thông Khoá V , Sài G̣n, Hương Đạo, 1970.