BỊ CHÚ : Nhân đang t́m đọc những Bài về
Lịch sử Phật giáo tại Việt
Thành thật cám ơn nhiều.
Cư sĩ Liên Hoa
Viện Đại Học Sài-G̣n
Trường Đại Học Văn
Khoa
Sơ
Lược về các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt
Nam
Câu hỏi phụ
II Kỳ thi Cao Học Nhân Văn
Giám khảo ra đề :
Giáo-sư Lê Quang Trung
Tiến sĩ Xă Hội Học
Sinh viên Hà Phước Thảo
Đệ Tŕnh
Ngày 23 tháng 4 năm 1975
kỳ thi cao học nhân văn
Ngày tháng năm 1975
do
Sinh viên Hà Phước Thảo
Đệ tŕnh
Tiểu-luận : Hội Thánh Di-Lạc Vĩnh-Long
câu hỏi phụ II
Sơ Lược về các Hệ-phái phật-giáo
tại việt-nam
Đề do Giáo-sư Lê Quang Trung ra
trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n
1975
Địa
chỉ liên lạc:
Dr. Ha
Hafnerstrasse
4
82343
Bad Aibling
Email: haphuocthao@hotmail.com
Trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n không tán
thành cũng như không phản đối những
ư-kiến phát-biểu trong tập tiểu-luận nầy.
Những ư kiến đó, tác giả tập tiểu-luận
hoàn toàn chịu trách-nhiệm.
Kính tặng và thành kính tri ân
hội-đồng giám-khảo
chủ-khảo - Giám-khảo câu hỏi phụ I :
Giáo-sư LÊ THÀNH TRỊ
Tiến-sĩ Triết-Học
Trưởng Ban Nhân-Văn
Trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n
Giám-khảo câu hỏi phụ II :
Giáo-sư LÊ QUANG TRUNG
Tiến-sĩ Xă-Hội-Học
Phó Khoa Trưởng Học-Vụ và
Sinh-Viên-Vụ
Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n.
Giám-khảo - Thuyết-tŕnh-viên :
Giáo-sư NGHIÊM THẨM
Giám-Đốc Viện Khảo-Cổ
Giáo-sư Nhân-Chủng-học
Trường Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n
Đă hoan hỉ chấp thuận làm Chủ-Khảo và
Giám-Khảo
Tiểu luận Cao học và câu hỏi phu.
Đă khích lệ, hướng dẫn và tận t́nh giúp
đỡ chúng tôi.
Kính tặng Giáo sư
Giám-Khảo Câu Hỏi Phụ II
Giáo-sư LÊ QUANG TRUNG
Tiến-sĩ Xă-Hội-Học
Phó Khoa-trưởng Học-Vụ và
Sinh-Viên-Vụ
Đại-Học Văn-Khoa Sài-G̣n.
Xin Giáo-sư nhận nơi đây sự trọng kính và ḷng
tri ân chân thiết nhất của chúng tôi.
Lời nói đầu
( Nhân dịp tái bản
lần thứ nhứt tại hải ngoại)
Tập tài liệu nhỏ nầy là đề
tài do Giáo-sư Tiến sĩ Lê Quang Trung, Giáo sư phụ
trách Ghế Giảng Nhân chủng Học thuộc Ban Nhân
Văn Trường Đại Học Văn Khoa Sài G̣n
đă ra cho chúng tôi viết tại nhà trong thời hạn
một tuần lễ từ ngày 23 tháng 3 năm 1975
đến 29 tháng 3 năm 1975 và chúng tôi đă đệ
tŕnh cùng với Tiểu Luận Cao Học Nhân Văn
đề tài : Hội Thánh Di Lạc Vĩnh Long cũng
như câu hỏi phụ thứ I đề tài : Ư thức
Tôn Giáo trong các truyện cổ tích Việt nam do Giáo sư Lê
Thành Trị ra đề cũng trong thời gian trên.
Kỳ thi Cao Học diễn ra trong khi
đất nước sôi động vào cuốn tháng tư
1975.
Hội Đồng Giám Khảo gồm ba vị Giáo-sư
đă chấm đậu với hạng Ưu và theo
truyền thống thi bằng Tiến sĩ và Cao học
tại trường Đại Học Văn Khoa Sài G̣n th́
kỳ thi được tổ chức công khai bằng
buổi thuyết tŕnh do Giáo sư bảo trợ làm
Thuyết tŕnh viên giới thiệu sinh viên ứng thi
với sự tham dự của các học giả, giáo
sư, sinh viên và những người ưa thích đề
tài. Thí sinh được tất cả giáo sư cũng
như học giả đặt câu hỏi. Nếu thí sinh
trả lời suông sẻ và làm thỏa măn mọi
người th́ ban Giám Khảo sẽ phê hạng trúng
tuyển với điểm cao hơn như Tối Ưu
hay Đặc hạng với lời khen tặng.
Sau khi chúng tôi tŕnh Tiểu luận và các câu hỏi phụ
vào ngày 23 tháng 4 năm 1975 th́ Hội Đồng Giám Khảo
quyết định chọn ngày thi công khai tại
Đại giảng đường vào 12.5.1975.
Vào cuối tháng 10 năm 1975 trong một
Đàn cơ cuối cùng vào Đại Lễ Mừng Long
Hoa Hội Khai Diễn tổ chức tại Chùa Di Lạc
Vĩnh long tức Trúc Lâm Thánh Đức Thiền
Điện, Đức Di Lạc giáng cơ dạy chung
rằng : Kể từ đàn cơ ngày hôm nay tất cả
chư đệ tử, Phật tử phải ngưng
tất cả việc tu theo h́nh thức lễ nghi , không
được mặc áo tràng, áo dà hay lễ phục, mà
trở về nhà lo tu tâm đưỡng tánh đừng cho
ai biết ḿnh tu th́ mới tránh khỏi khảo
đảo....
Tất cả chư Phật tử
Đạo Phật, chư đạo hữu Liên Tôn, chư
Tín đồ Thiên Chúa giáo tham dự đàn cơ ngẩn
ngơ nh́n nhau không biết tại sao Đức Di Lạc
Thiên Tôn không cho lập đàn cơ hay tổ chức
đạo sự cũng như không được mặc
đạo phục trắng hay áo tràng màu vàng nữa.
Nhân dịp nầy chúng tôi có mang cuốn Tiểu luận Cao
Học Nhân Văn ‘‘ Hội Thánh Di Lạc Vĩnh Long‘‘
đến trước Thiên bàn đệ lên tŕnh bạch
với Đức Phật Di Lạc xin phép in thêm để
phổ biến th́ Ngài dạy rằng : Cuốn sách nầy
không được xuất bản phổ biến trong
thời gian nầy và ở đây, nhưng sau nầy
sẽ được phép phổ biến ở một
nơi khác.
Sau cuộc đổi đời ngày 30 tháng 4
năm 1975 kỳ thi Cao Học Nhân Văn không tổ
chức được, sách Đạo và Văn hóa Miền
Nam bị đốt nhiều, chúng tôi phải cất
dấu những cuốn c̣n lại. Chúng tôi được
lưu dụng dạy học lại, không được
dạy môn Sư Phạm tại Trường Sư Phạm
Vĩnh Long nữa, nhưng được đổi
về dạy tại trường Phổ thông cấp ba
Lưu Văn Liệt (trước đó là trường
Trung Học Tống Phước Hiệp). sau 6 tháng
giảng dạy theo giáo án mới XHCN tất cả giáo
sư thưộc chế độ cũ phải vào Khám
lớn Trà Vinh học tập chính trị Các Mác để
được tẩy năo và lao động cải tạo.
Khi được thả ra, chúng tôi vượt biên lần
nhứt thất bại bị vô tù lần thứ hai. trong
lúc ghe đánh cá quốc doanh bắt ghe vượt biên, chúng
tôi quăng tất cả văn bằng xuống biển.
Sau một năm rưởi bị tù và lao
động cải tạo, chúng tôi vượt biên lần
thứ hai và thành công nhờ được tàu Tây
Đức Cap Anamur vớt.
Ngày nay chúng tôi t́m lại được tập Tiểu
luận và các Câu hỏi phụ và giấy đă vàng v́ trên 25
năm rồi, mang qua Đức và khi xem lại các bài Thánh
giáo tại Trước Lâm Thánh Đức Thiền
Điện th́ mới hiểu tại sao Đức Di
Lạc không cho in sách ở Việt Nam.
Hiện nay chúng tôi sống trên nước tự do,
việc in sách và xuất bản sách Đạo không c̣n
bị kiểm duyệt hay cấm đoán nữa nên mới
có cơ hội phổ biến những tài liệu nghiên
cứu nầy.
Chúng tôi trước đây có ghi danh tại
Trường Đại Học Ludwig-Maximilians-Universitảt
München ( LMU) để hoàn thành Luận án Tiến sĩ,
một dự án mà vào ngày 23 tháng 4 năm 1975 Giáo sư Lê
Thành Trị có hứa làm Giáo sư Bảo trợ cho
Luận án Tiến sĩ với đề tài : Cao-Đài
Giáo trong Tam Kỳ Phổ Độ sau khi thi xong Cao Học
Nhân văn, để sau nầy giảng dạy môn Tôn Giáo
Học, một môn học ở Việt nam lúc bấy
giờ chưa mở ra để giảng dạy.
Giáo sư Bảo Trợ Luận án ‘‘ Die Cao-Dai-Religion in der
Dritten Phase der Erziehung, Errettung, Amnestie und Erlösung Gottes‘‘ cho
chúng tôi tại LMU vào năm 1987 là Prof. Dr. Mathias Laubscher
cũng rất thích đề tài nầy, nhưng chúng tôi
bận, không có th́ giờ và măi cho đến nay v́ sắp
gần hưu trí và ghế giảng Tôn Giáo Nhân chủng
học không cần thiết nữa và chúng tôi phải dành
th́ giờ lo công phu thiền định, nên chúng tôi bỏ
không tiếp tục hoàn thành Luận án, tuy nhiên chúng tôi
viết tiếp cho xong Thesis bằng hai ngôn ngữ Việt
và Đức để phổ biến cho người
Việt nam và Đức, nếu không có phương
tiện in th́ chúng tôi sẽ cho vào internet với Translator
trong Link để mọi người trên thế giới
đọc được qua 6 ngôn ngữ Anh, Pháp,
Đức, Nga, Trung Hoa và Tây Ban Nha mà t́m hiểu một Tôn
Giáo mới.
V́ sự cần thieêt và do yêu cầu
của một số sinh viên người Viẹt Nam hay sinh
viên ngoại quốc học tiếng Việt đang tŕnh
Luận án về Tôn giáo học, nên tôi cho quyển sách nầy
vô Internet, nhân đó chư vị nào muốn biết về
Các Chi Phái của Phật Giáo tại Việt Nam từ
thời Trung cổ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 th́ có
thể đọc trước maư PC hay có thể download ra
máy cá nhân.
Chúng tôi hy vọng rằng những
người nắm quyền hành ở Việt nam lần
lần sẽ gỡ bỏ cặp kính màu đỏ
để trả lại tự do tư tưởng,
tự do tín ngưỡng cho mọi người Việt nam
tại nội địa, đồng thời những
người đang mê ảo ảnh của chủ nghĩa
không tưởng sẽ t́m lại ánh sáng chân lư qua Thánh giáo
và Đạo học.
Taufkirchen bei München, ngày rằm tháng 7 Mùa Vu lan, 2000
Phê-rô Hà Phước Thảo ( Peter Ha)
MỤC
LỤC
Chương I Những nguyên nhân phát sanh ra nhiều Hệ
Phái trong Phật Giáo
Tiết I - Nguyên nhân phát sanh ra hai Hệ Phái
chánh của Phật-Giáo.
Mục 1:
Yếu tố lịch sử và hoàn cảnh địa lư
Yếu tố thời gian
Yếu tố tâm lư
Tŕnh độ tri thức của con người.
Tiết II : Nguyên nhân phát sanh nhiều
Hệ Phái Phật Giáo tại Việt
Mục 2:
Bản chất dân tộc của người Việt nam.
Hoàn cảnh lịch sử.
Hoàn cảnh địa lư.
Hoàn cảnh xă hội.
Ḷng sùng Đạo và sự mê tín.
CHƯƠNG II Sơ lược về các
Hệ Phái Phật Giáo tại Việt
Tiết I Về phương diện
lịch sử.
Phái thứ Nhứt : T́-ni-đa-lưu-chi
Phái thứ II : Vô Ngôn Thông.
Phái thứ III : Phái Thảo- Đường.
Phái Trúc Lâm Tam Tổ.
Phái Tào-Động.
Phái Liên Tôn.
Phái Lâm Tế.
Phái Liễu Quán.
Phật Giáo hiện Đại.
Tiết II Về phương diện Kinh
điển và đường lối tu
Phái Tiểu Thừa.
Phái Đại Thừa.
Mục 1:
Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt nam.
Giáo Hội Phật Giáo Cổ Sơn Môn.
Giáo Hội Phật Giáo Lục Ḥa Tăng.
các Am, Cốc ...
Giáo Hội Phật Giáo Khất Sĩ Việt
Phái Khất Sĩ Đạo Lâm.
Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ.
Thiền Tông.
Nhóm Tu Thiền theo Pháp Lư Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật
Pháp.
Thiền Tịnh Đạo Tràng.
Phật Giáo Hoa Tông.
Minh Nguyện Cư Sĩ Phật Học.
Tam Tông Miếu.
Giáo Hội Tổ Tiên Chính Giáo.
Giáo Hội Thiên Thai Quán Môn.
Mật Tông hay Chơn Ngôn Tông.
Tịnh Độ Tông.
Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội.
Hệ Phái Vạn Quốc Tự.
Hội Linh Sơn Phật Học.
Phái Hạnh Đầu Đà.
Phái Ḥa Đồng Tôn Giáo
Phái Phật, Chúa Liên Ḥa Du Tăng.
Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương.
Phật Giáo Ḥa hảo.
Các Hội Phật Học.
các Phái Phật Giáo của người Việt gốc Miên.
Chương IV - Việc Hệ thống hóa
các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt nam
Tiết I.- Việc phân loại các hệ
Phái Phật Giáo tại Việt nam.
Mục I :
Phân loại theo thời kỳ.
Mục I I : Phân
loại theo bí truyền và công truyền.
Tiết II. - Sự thống nhất các Hệ Phái Phật
Giáo.
Kết luận.
Dẫn Nhập
Khi bàn về chân lư trong Tôn giáo, người ta so sánh Tôn giáo
như những miếng kiếng màu ở chung quanh một
cái đèn . Chân lư như áng sáng ngọn đèn và Tôn giáo là
những màu sắc khác nhau của nhiều tấm kiếng
xung quanh. Khi bàn về một Tôn giáo với những Hệ
Phái, người ta có thể lấy thí dụ trên
để phát biểu những dị biệt trong những
tương đồng. Bất cứ một Tôn giáo nào, qua
thời gian và không gian, cũng biến thể đi,
để xuất hiện những Chi Phái hay Hệ Phái.
Phật giáo cũng vậy, lúc đầu thịnh hành
ở Ấn độ, về sau lan truyền qua Trung Hoa,
Việt nam và các nước Á đông khác, từ đó lại
phân chia ra nhiều Hệ Phái. Riêng ở Việt Nam, do hoàn
cảnh địa lư, sự du nhập một giáo
thuyết mới từ cửa ngơ Trung Hoa với Phái
Bắc Tông (Đại Thừa), rồi trong cuộc nam
Tiến của dân tộc Việt nam, sự chung
đụng của dân ta với người Thủy Chân
Lạp (Khmer), Việt nam lại tiếp tục nhận
thêm giáo lư Phật Giáo của Phái nam Tông ( Tiểu Thừa)
qua sự trung gian của các nước tiếp cận
như Ai-Lao và cao-Miên. Sau một thời gian dung hóa, từ
hai Phái nam Tông và Bắc Tông, triết lư hành Đạo
của Đức Phật lại được
người Việt nam tô điểm, sửa đổi
để canh tân cho thích hợp với hoàn cảnh và dân
tộc tính hơn, nên ngày nay ở Việt nam có rất nhiều
Hệ Phái Phật giáo. Người ta lại c̣n thấy
trong mấy Tôn giáo mới xuất hiện ở Việt nam
phảng phất triết lư của Đạo Phật,
đó là cao Đài Giáo, Phật Giáo Ḥa hảo và Phật Giáo
Bửu sơn Kỳ Hương.
trong tập Tiểu luận cao Học Nhân Văn :‘‘Hội
Thánh Di Lạc Vĩnh Long‘‘ do chúng tôi nghiên cứu,
người ta thấy mới đây có một sự ḥa
hợp giữa cao Đài Giáo và Phật Giáo một lần
thứ hai, sau khi đă có sự tổng hộp trong
thời kỳ khai nguyên Đạo cao Đài vào năm 1926.
Do đó, mướn có mọt cái nh́n tổng quát với các
Tôn Giáo tại Việt nam nói chung và đối với
Phật Giáo nói riêng, việc nghiên cứu về các Hệ
Phái Phật Giáo tại Việt nam là một điều
cần thiết.
Đề tài ‘‘ Sơ lược về các Hệ Phái
Phật Giáo tại Việt nam‘‘ nầy, trong phạm vi
hạn hẹp, sẽ được tŕnh bày một cách
đại cương về :
Những nguyên nhân phát sinh ra nhiều Hệ Phái trong Phật
Giáo tại Việt Nam,
Sơ lược về các Hệ Phái Phật Giáo tại
Việt nam.
Việc Hệ thống hóa các Hệ Phái Phật Giáo tại
Việt nam
Mong rằn công tŕnh nghiên cứu nầy là một đóng góp
nhỏ mọn trong việc t́m hiểu về Tôn giáo,
một đối tượng của Khoa Học Nhân
Văn.
Kính mong các bậc cao thâm bổ khuyết và chỉ giáo thêm.
Vĩnh Long, ngày 29 tháng 3 năm 1975
Hà Phước Thảo
TIẾT I Nguyên nhân phát sanh ra hai hệ Phái chánh
của Phật Giáo.
Mục I - Yếu tố lịch sử và hoàn cảnh
địa lư.
Để t́m hiểu về các Hệ Phái Phật Giáo,
người ta nên t́m hiểu một các khái quát lịch
sử và sự phát triển của triết lư Đạo
Phật cũng như những nguyên nhân đưa
đến sự phân chia ra các Hệ Phái chánh và nhiều
Hệ Phái mới xuất hiện sau nầy tại
Việt nam.
Phật Giáo du nhập vào Việt nam do hai con
đường:
Một con đường bộ qua ngă phía Bắc gọi
là Phật Giáo Bắc Tông do Ngài mâu Bắc, người trung
Hoa đầu tiên truyền giáo sang Việt
Một con đường thủy từ phía nam lên do Ngài
Khưu-Tăng-Hội, người Ấn độ, sang
truyền giáo tại Việt Nam vào đầu thế
kỷ thứ III.
Về sau vào đời Nhà Tấn, giữa thế kỷ
thứ III (265-306) có thêm hai nhà truyền giáo tứ Ấn
độ sang Việt nam là Ngài ma-ha-Kỳ-Vực và Ngài
Chi-Lương-Cương đều do đường
thủy từ phía nam lên, nên gọi là Phật Giáo Nam Tông.
Hơn nữa, trong cuộc Nam Tiến, người
Việt nam sống chung đụng với người
Việt gốc Miên, ho theo Phật Giáo lâu đời bắt
nguồn từ Miên quốc. cách ăn mặc, cách tu tập
mang sắc thái người Miên, Phái nầy gọi là
Thérévada.
Như vậy về phương diện lịch sử,
Phật giáo được chia ra làm hai Hệ Phái : Bắc
tông và Nam Tông. Hai danh từ Bắc Tông mang một tích
chất lịch sử và hoàn cảnh địa lư ở
Việt nam, c̣n ở Ấn độ th́ Bắc Tông cũng
từ phương Bắc theo văn hóa và ngôn ngữ
Sankrit, c̣n nam Tông theo ngôn ngũ Pali.
Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác, danh từ và triết
lư Phật giáo cũng biên đổi theo. Yếu tố
thời gian cũng là nguyên nhân của sự biến
đổi đó.
Mục II . Yếu tố thời gian.
Từ lúc Đức Phật c̣n tại thế mà các Kinh sách
do chư đệ tử của Ngài viết ra c̣n có
nhiều chỗ không thống nhất nhau, do đó qua
thời gian, sự phân chia về đường lối tu
hành tức triết lư và hành động của Phật tử
lại càng thay đổi nhiều hơn. Đạo
Phật tứ Ấn độ truyền sang các
nước Á Châu, khi đến Việt nam, trải qua
một thời gian dài đă biến đổi từ
nơi xuất xứ rồi, nghĩa là Đức Phật
Thích ca đă truyền pháp cho Ngài Ma-ha-ca-diếp. Ngài
ca-diếp truyền cho Ngài A-nan-đa và cứ thế mà
ở Ấn-độ đă truyền đến 28 vị
tổ. Ngài Bồ-Đề-Đạt-Ma là vị Tổ
thứ 28 của Ấn-độ, đến khi truyền
sang Trung Hoa thêm 10 đời nữa. Như vậy khi
Đạp Phật đến Việt nam đă trên 30
vị Tổ, v́ thế sự phân chia nhiều Tông Phái không
thể không xảy ra được.
Sự biến đổi triết lư nguyên gốc
để trở thành triết lư của mỗi thời
đại dĩ nhiên sẽ do hoàn cảnh xă hội, văn
hóa, chánh trị vv... Tuy nhiên, yếu tố căn bản
của sự thay đổi ngoại cảnh đều do
nội tâm con người. Người ta thường có
hai mối cực đoan trong tư tưởng : hoặc
bảo thủ hoặc cấp tiến. hai trạng thái
đó bề ngoái có vẻ khác biệt, tuy nhiên nó bổ túc
cho nhau.
Mục III . Yếu tố tâm lư.
Việc Hệ thống hóa một triết lư theo ư thích
của mỗi cá nhân luôn luôn có ở mỗi người
theo sự phát triển của tri thức. Mặc dù một
triết lư rất hay, rất cao siêu như triết lư
của Đạo Phật , khó có một ngưới nào
ở đời sau có thể cải tiến Hệ
thống tư tưởng của Đức Phật Thích
Ca cho hay hơn được. Đa số những
triết lư của Đức Phật là những
định luật mà định luật th́ ít khi thay
đổi. tuy nhiên về phương diện tâm lư, con
người ai cũng cái cá biệt, sổ thích riêng và
sở thích đó đă biến đổi Hệ thống
triết lư Phật giáo thành hai đường lối : Thái
đọ bảo thủ phát sanh ra Phái Phật Giáo nguyên
thủy : trung thành với những ǵ Phật đă dạy,
đă làm, c̣n Phái cấp tiến, luôn luôn lấy sự thích
ứng với hoàn cảnh, thời đại làm căn
bản cho triết lư về sự hành động. Do
đó, Phật Giáo chia ra làm hai Phái : Đại Thừa và
Tiểu Thừa.
Yếu tố tâm lư c̣n tùy thuộc điều kiện,
đó là tŕnh độ tri thức của con người.
Mục IV. - Tŕnh độ tri thức của con
người.
Mỗi cá nhân đều có một tŕnh độ tri
thức khác nhau. Người thời xưa và người
thời nay cũng như con người ở cùng ở
một thời đại, tất cả đều có
một khả năng lănh hội khác nhau. Đức
Phật có nhiều đệ tử, nhưng một
lời dạy mà các đệ tử hiểu khác nhau.
Sự tương thông tương hội nầy cũng do
luật đồng thanh tương ứng chi phối. Do
đó, cùng một lời dạy mà sự nhận thức
nhiièu khi có sự sai biệt. V́ lư do đó mà Đức
Phật dạy các đệ tử bằng cách dùng
những lời ẩn dụ hay kể chuyện. Việc
kể một truyện đẻ dạy một vấn
đề càng dễ gây hiểu lầm hơn nữa. V́
vậy danh từ là một trở ngại cho việc
hấp thụ giáo lư. Người ta thấy những
truyện kể trong các Kinh Phật thường
thường có sự sai biệt, đó là sự hiểu
biết khác nhau của các đệ tử. Hơn nữa,
kinh sách qua thời gian, qua không gian, qua sự thêm bớt
của những người ghi chép (Tam sao thất bổn)
mà kinh Phật không giữ đứng sự trung thực
trong lời dạy của Đức Pật.
Việc chia Phật giáo ra hai Hệ Phái chánh : Bắc Tông hay
Đại Thừa và Nam Tông hay Tiểu Thừa như
vậy c̣n ít, lẽ ra c̣n nhiều Chi Phái hơn nữa.
Ở Ấn độ có 28 vị Tổ, ở trung Hoa có 10
vị Tổ, mỗi Tổ là một thế hệ lưu
truyền giáo lư của Đức Phật. Tuy có nhiều
vị Tổ mà không có sự phân chia nhiều Chi Phái khác
biệt lắm, chỉ thay đổi về phần h́nh
thức, c̣n nội dung của triết lư căn bản
vẫn c̣n là hai Phái chánh. sự biến đổi từ
hai ra nhiều Phái ở các nước khác rất ít.
Chỉ có ở Việt nam là Đạo Phật có nhiều
Chi Phái hơn hết, nhất là giai đoạn cận
đại và hiện đại.
TIẾT II . - Nguyên nhân phát sanh ra nhiều Hệ Phái Phật
Giáo tại Việt nam.
Mục I : Bản chất dân tộc của người
Việt nam.
Nười Việt
Người Việt nam biết dung nạp tinh hoa
nước khác, biến đổi các triết lư du
nhập từ bên ngoài, nhào nắn, để ‘‘sáng tác‘‘ thành
thứ riêng của ḿnh. Về phương diện văn
hóa th́ có rất nhiều dăn chứng, c̣n về Tôn giáo th́
hiện nay ở Việt nam có nhiều Tôn giáo mang bản
chất dân tộc, xuất xứ từ Việt Nam, qua
một thời gian đă tiêu hóa những triết lư đó :
cao Đài Giáo do sự tổng hợp của Tam Giáo : Nho,
Phật, Lăo ; Thiên Chúa Giáo và Thần Linh Giáo ; Đạo Ḥa
Hảo do sự tổng hợp của Nho giáo (tu nhân) và
Phật giáo (học Phật). Riêng về Phật Giáo,
hiện nay tuy có hai Hệ Phái chánh : nam Tông và Bắc Tông,
nhưng về h́nh thức, cách tu tập, triết lư về
hành Đạo ở Việt nam có đến hơn 20 Chi
Phái và trong tương lai c̣n có thêm nhiều Chi Phái nữa.
Sự phân chia nhiều Chi Phái Phật giáo ở Việt nam
là do hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh địa lư,
xă hội , dân tộc vv....
chúng tôi xin tŕnh bày tiếp sau đây:
Mục 2 : Hoàn cảnh lịch sử.
Lịch sử dân tộc Việt nam là một lịch
sử tranh đấu : Tranh đấu chống ngoại
xâm từ phương Bắc, tranh đấu để
sống c̣n với các dân tộc từ phương
Mục 3 . - Hoàn cảnh địa lư.
Ngoài phạm vi lịch sử, địa thế
nước Việt nam hiện với lănh thổ dài hơn
2.000 cây số, giáp ranh với ba nước và một
bờ biển quá dài dễ đưa đến sự phân
rẽ địa phương về phương diện
tín ngưỡng hay Tôn giáo nói riêng.
Với dăy Trường Sơn hiểm trở ở
Miền Trung, dăy Thất Sơn đầy huyền bí ở
Miền Nam, việc lư thông khó khăn ở trong thời
kỳ chưa khai phá, đường sá chưa thiết
lập, người Việt nam từ Miền Bắc, trung
vào Nam lập nghiệp ở vùng đất mới. Sự
quần cư để khai thác các tài nguyên thiên nhiên.
‘‘Sự quần cư thực hiện được là
nhờ các vị có uy tín hầu giải quyết những
sự xích mích giữa những người quần cư
với nhau. các vị nầy chẳng ai khác là những
người có cuộc sồng tu hành mà người ta có
thể chấp nhận được ‘‘.(1)
NGUYỄN VĂN SÂM, Tín ngưỡng Việt
Do sự quần cư ở mỗi địa
phương, mỗi nơi đều có những vị có
uy tín, có đạo đức lănh đạo tinh thần.
Do đó, ở Miền
Mục 4 . - Hoàn cảnh xă hội.
Trước cuộc xâm lăng và đô hộ của
thực dân Pháp, tinh thân ái quốc của người
Việt nam được Tôn giáo hóa bằng những
tổ chức tín ngưỡng thần quyền. Người
dân chất phác thường dễ bị lôi cuốn, kích
thích để vùng lên đấu tranh, kháng chiến bằng
h́nh thức Thần quyền v́ thế quyền chưa
được tổ chức có qui cũ nên các vị lănh
đạo tinh thần dễ thực hiện các
đường lối cách mạng hơn. Người ta
thấy Cao Đài Giáo cũng như Phật Giáo Ḥa Hảo
đều có quân đội để chống Pháp. Sự
lẫn lộn giữa chánh trị và tín ngưỡng là
một đặc điểm của thời cận
đại ở Miền Nam Việt
Về phương diện xă hội, sự du nhập
ồ ạt các học thuyết mới, các nền văn
minh Âu Mỹ đă làm xáo trộn tất cả trật
tự xă hội. Tôn giáo là một yếu tố cần
thiết để tái lập thăng bằng. Những
triết lư cổ truyền c̣n giữ lại phần
lớn nhờ các nghi lễ ( Lễ Nhạc) của Tôn giáo.
Người ta tự hỏi, tại sao các nước
văn minh ít xuất phát những mối Đạo mới
hơn các nước chậm tiến về kinh tế.
Đó là một yếu tố tâm lư mà ngưới ta cần
nói thêm : ḷng sùng Đạo và sự mê tín.
Mục 5 : Ḷng sùng Đạo và sự mê tín.
Càng lạc hậu, người ta càng thờ nhiều
Đấng (Đa Thần). Khi văn minh, người ta
tiến đến Độc Thần. Và ḷng sùng
Đạo sẽ có cường độ tỷ lệ
thuận với sự dốt nát. tŕnh độ tri
thức c̣n kém dễ đưa đến sự mê tín.
Người ta thấy dân quê Việt
Những trường hợp xuất hiện nhiều Giáo
Phái ở Miền Nam Việt
Sơ lược về các hệ phái
phật giáo tại việt nam
Tiết I - Về phương diện lịch sử.
Về phương diện lịch sử, Phật Giáo
Việt
Môn Phái được sùng chuộng nhứt ở thời
kư đầu tiên du nhập vào Việt
1) Phái Thứ Nhất : sau khi Ngài Mâu Bắc truyên sang
triết lư Đạo Phật ( chưa đầy
đủ) vào năm 189. Đến năm 580, Ngài
T́-Ni-Đa-Lưu-Chi ( Vinitaruci), người Ấn-độ,
qua ngă Trung Hoa, truyền Việt
Về cách tu hành th́ lấy việc tịnh trí, tập trung
tư tưởng làm phương tiện để phát
triển tâm linh theo phương pháp tu thiền của
Phật Thích Ca ( Phương pháp mà Đức Phật Thích
Ca ngồi thiền dưới gốc cây Bồ -đề
trong 49 ngày, khám phá Vũ Trụ. phương pháp nầy là
giữ ngũ giới cấm, ăn chay và sẽ tiệm
tiến : giới, định, huệ, nghĩa là nhờ
giữ giới, người ta tâm niệm điều
tốt, sau đó là tập trung tư tưởng gọi là
thiền, sau cùng sẽ đạt huệ).
2) Phái Thứ Hai - Đến đời
Đường vào năm 820 có Ngài Vô Ngôn Thông, cũng là
người Tàu, sang Việt
Về cách tu Pháp Thiền của Phái Vô Ngôn Thông cũng
tượng tộ như Phật Pháp của Phái
T́-Ni-Đa-Lưu Chi mặc dù về chi tiết có khác
đôi chút ( người ta nói rằng Phật pháp có
đến 84.000 pháp môn là v́ mỗi kị Tổ, mỗi
lột nhà sư, cách ngồi thiền khác nhau).
3) Phái thứ Ba : Phái thứ Ba là Phái Thảo
Đường.
Thảo Đường Thiền sư là người Trung
Hoa theo thầy sang Chiêm Thành truyền bá Đạo Phật.
Đến năm 1069 Lư Thánh Tông đem quân sang đánh Chiêm
Thành, bắt được Chế Cũ và nhiều tù binh
trong số đó có một nhà sư. Khi biết
được tông tích, Vua Thánh Tông phong cho Ngài là Quốc
sư. Người ta lập một Phái Thiền Thứ Ba
ở Việt nam gọi là Phái Thảo Đường.
Về sau các đệ tử cũa ba vị Tỏ nói trên
lưu truyên đời sau nhiều Chi Phái hậu tổ
nữa.
4) Phái trúc Lâm : Đời Trân Nhân
Tôn (1278 - 1293), Vua học Phật pháp với Ngài Tuệ Trung
Thượng Sĩ. Ngài truyền ngôi cho con, vào tu ở Chùa
Yên Tử và đi khắp nhân gian thuyết pháp.. Sau truyền
cho Tôn Giả Pháp Hoa. Ngài Nhân Tôn là Sơ Tổ của Phái
Trúc Lâm. Phái Trúc Lâm có ba vị Tổ là : Đệ Nhứt
Tổ Điều Ngự Giác Hoàng ( Vua Nhân Tôn), Đệ
Nhị Tổ Pháp Hoa Đại Sư, Đệ Tam Tổ
là Huyên Quang Đại Sư, gọi là Trúc Lâm Tam Tổ.
Về Pháp tu, Phái Trúc Lâm tam Tổ ở Chùa Yên Tử
chủ trương mượn trí thức làm phương
tiện ( học, hiểu) để củng cố cho
đức tin. Có đức tin rồi mới thực
nghiệm ( hành) thuần túy tâm linh. C̣n giới, định,
huệ th́ cũng giống như pháp của các Phái khác.
5) Phái Tào Động : Đến
đồi trịnh Nguyễn phân tranh
( 1528 - 1802) Việt
Về sau có một tổng hợp các Phái gọi là :
6) Phái Liên Tôn : Phái này do Ngài Lâm Giác Thiên Sư truyền vào.
Hiện nay đại biểu cho Phái nầy là Chùa Bà Đá
và Chùa Liên Phái ở Hà Nội.
Ngoài ra c̣n hai Phái nữa là Phái Lâm Tế và Phái Liễu Quán,
tuy không phổ biến rộng răi, nhưng cũng là
những Phái đáng kển trong lịch sử Phật Giáo
Việt Nam.
7) Phái Lâm Tế : Ngài Nguyên Thiều
khai sáng một Phái mới ở Trung Việt. Quê Ngài ở
Quảng Châu (Trung Hoa) theo tàu buôn qua An-nam trú ở Phủ Qui
Ninh tỉnh B́nh Định, lập Chùa Thập Pháp Di
Đà, mở trường dạy học, sau ra Thuận Hóa
lập chùa Hà trung rồi lên Huế lập chùa Quốc Ân,
dựng Tháp Phổ Đồng. Ngài phụng mệnh Vua Anh
Tôn về Trung Hoa t́m mời danh tăng sang Việt Nam. Ḥa Thượng
Thạch Liêm truyền giới long trọng tại Chùa Thiên
Mụ. Ngài trụ tŕ Chùa Hà Trung, dạy pháp thiền cho
đệ tử. Ngài Nguyên Thiều là sơ tổ của
Phái Lâm Tế.
8) Phái Liễu Quán : Phái nầy cũng
phổ biến ở phạm vi nhỏ hẹp tại
Miền Trung mà thôi. Ngài Liễu Quán Ḥa Thượng quê
ở Phú Yên ( Sông Cầu ), ra Thuận Hóa thọ Sa-si
với Ngài Thạch Liêm Ḥa Thượng. Năm 1702 Ngài
đến Long Sơn học thiền với Ngài Tử Dung
Ḥa Thượng, người Trung Hoa, là một vị
Tổ khai sơn của Chùa Từ Đàm Huế ngày nay.
Ngài tịch diệt ngày 22 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1942).
Về sau, đến Triều Nguyễn và thời Pháp
thuộc, Phật Giáo suy đồi, Triết lư Đạo
Phật không ảnh hưởng sâu xa trong nhân gian. Tuy cao
tăng vẫn có, nhưng chỉ lẻ tẻ v́ sự
đen tối của đất nước, do đó
Phật giáo trong nhân gian chỉ như một Thần
Đạo, lo cúng vái Phật mà không hiểu nghĩa lư cao
thâm của triết lư Đạo Phật.
Phật Giáo Cận Đại :
Trong thời cận đại : Từ 1.930 trở về
sau, Phật Giáo bắt đầu chấn hưng. Ở
Tam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học thành lập tại
Sài G̣n ( Nam Phần). ngày 28.12.1931, ra Tạp Chí Từ Bi-Âm và
Pháp Bảo Phường.
Mục đích :
Chỉnh đốn Thiền môn,
Vă hồi qui giới
Giáo dục Học tăng
Phổ thông lư thuyết Nhà Phật bằng Quốc ngữ.
Hội Lưỡng Xuyên Phật Học thành lập tại
Trà Vinh ( Vĩnh B́nh ngày nay - 1975 ) vào năm 1.935, có mở
Phật Học Đường, ra báo Duy Tân và có Thư
Viện đủ cả Đại Tạng và Tục
Tạng.
Hội Phật Học Trung Việt thành lập năm 1.932,
có lập Phật Học Viện, ra báo Viên Âm và có
Đại Tạng.
Hội Phật Học Bắc Việt thành lập năm
1.934 ra báo Đuốc Tuệ.
Phật giáo Hiện Đại :
Kể từ năm 1.948 Phật Giáo đă phát triển và có
dấu hiệu thống nhất. Một HộI Phật
Học duy nhất lấy tên là Hội Phật Giáo Việt
Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập
sau một Đại Hội Nghị Toàn Quốc tại
Huế năm 1.951 vào ngày Lễ Phật Đản.
Hội Nghị nầy có sự tham dự của 50
Đại Biểu vừa Tăng Già vừa Cư Sĩ
ở khắp ba Miền Trung, Nam, Bắc Việt Nam họp
tại Chùa Từ Đàm ( Huế ).
Qua hết giai đoạn tổng hợp các Hội
Phật Học, lại có khuynh hướng phân ra nhiều
Giáo Hội tức nhiều Hệ Phái Phật Giáo
được khai sanh. Đây là một chu kỳ mà
người ta có thể biểu diễn diễn tiến
sự khai sanh các Hệ Phái Phật Giáo như sau :
Trung Hoa Bắc Tông
(Đường bộ)
Phật Giáo Việt Nam và việc Tổng hợp :
(Ấn Độ) Chi Phái
truyền sang Chi Phái
Hội
Chùa
Am , Tự vv
qua Việt Nam, Miên.....
(đường thủy :
Thống Nhất
( Tổng Hợp)
Năm 1955 : Phật Giáo Toàn Quốc
thành lập Hội Phật Giáo Thống Nhất. Đây là
giao đoạn tổng hợp sau một thời gian phân
rẻ nhiều Chi Phái theo nhiều đường lối
tu có tánh cách đặc thù. ’’Sự thống nhất là do
dự định thống nhất giữa những
đoàn thể có thể thống nhất và tự muốn
thống nhất, tức là sự thống nhất hạn
chế trong khuôn khổ tinh thần và kỷ luật
hoạch định bởi ư chí chấn chỉnh của
người khởi xướng, chứ không phải
một sự kết nạp để lấy số
đông ’’ ( Tuệ Giác, Việt Nam Tranh Đấu Sử,
trg. 75 ). Mặc dù có sự thống nhất, nhưng
thực tế, c̣n có thêm rất nhiều Hệ Phái mới
khai sanh trong giai đoạn sau nầy.
1960 - 1963 : Phật Giáo bị Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm
đàn áp với chính sách kỳ thị Tôn Giáo.
Ngày Lể Phật Đản 15.4. Quư Măo (7.5.1963)
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ra lịnh triệt
hạ Phật kỳ, nổ súng vào Phật giáo đồ
biểu t́nh giết chết 8 người.
Ngày 1.1.1963 Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm bị lật
đổ. Sau ngày nầy các Hệ Phái Phật Giáo đoàn
kết để thành lập Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất với Bản Hiến
Chương ngày 20.11.1963. Sau đó có nhiều âm mưu phá
hoại nên có sự chia rẽ Phật Giáo Thống Nhất
ra làm hai Viện Hóa Đạo :
1) Ấn Quang và
2) Việt Nam Quốc Tự.
Hiện nay mặc dù qua nhiều giai
đoạn phân rẻ, tổng hợp rồi lại phân
rẻ. Đó là cái ṿng lẩn quẩn mà qua thời gian nó
sẽ tái diễn măi.
Việc phân chia ra nhiều Hệ Phái Phật Giáo không
phải là một điều lạ mà bất cứ
một Giáo Hội hay đoàn thể nào, khi vị Giáo
Chủ ( Giáo quyền) hay cấp lănh đạo ( Thế
quyền) có uy tín c̣n tại thế, tư tưởng
của các môn đệ, các Bộ Phận Lănh Đạo
cấp dưới chưa chắc là tư tưởng
chung. Do đó, khi các vị Giáo Chủ, cấp lănh
đạo qua đời th́ tránh sao khỏi những
đường lối, hành động khác nhau ? Mỗi
người mỗi ư - Có bao nhiêu người là có bấy
nhiêu ư kiến, có bấy nhiêu Hệ Phái của Tôn Giáo.
Nhưng có điểm cần lưu ư là có nhiều Tông Phái
Phật Giáo khuynh hướng tuy khác nhau, nhưng tinh
thần vẫn là tinh thần của Đạo Phật. Người
ta không thấy có sự bài xích và xảy ra những cuộc
xung đột giữa nội bộ.
Tiết II - Về phương diện kinh điển va
đường lối tu.
Suốt cuộc đời tầm Đạo và đắc
Đạo của Đức Phật Thích Ca
được các đệ tử ghi chép hết trong ba
Tạng Kinh. Kinh điển quá nhiều, triết lư
Đạo Phật khi phổ biến trong dân gian qua
nhiều thế hệ, người ta không biết
Đức Phật nhờ vào giai đoạn nào trong
cuộc đổi mà Ngài được đắc
Đạo ? Ngài xuất gia cầu Đạo, không có
vị Tu sĩ Bà La Môn giáo nào c̣ triết lư hành Đạo
đáng cho Ngài theo. Ngài đi khất thực, sống
khổ hạnh, nhịn đói cho đến ngất
xỉu, thân xác gầy ốm. Sau đó Ngài ăn
ướng lại, thân xác khỏe mạnh lại, Ngài
đến ngồi dưới gốc cây bồ đề
để tập trung tư tưởng, quán xét Vũ
Trụ, vạn vật. Sau 49 ngày ngồi thiền ( mỗi
ngày khi đến giờ độ cơm, dân chúng ở
quanh đấy mang thực phẩm đến cúng
dường để Ngài sống). Ngài đă khám phá
được Vũ Trụ, vạn vật, t́m ra tất
cả những nguyên lư, những định luật trong
Trời Đất và khám phá ra nguyên nhân sanh ra khổ và
phương pháp diệt khổ theo 8 con đường
chân chánh ( Bát chánh đạo).
Về phương diện Kinh Điển, người ta
căn cứ ở mỗi giai đoạn tu hành của
Đức Phật mà noi theo cách tu. Đường lối
tu dựa trên Kinh Điển. Nếu tu theo những pháp
của Kinh Điển giụa trên triết lư chứa
đựng trong Kinh Điển đó. V́ sự khó khăn
của danh từ, mỗi Phái hiểu một cách khác nhau,
nên chủ trương theo một lối tu riêng.
Triết lư của các Tông Phái Phật Giáo Ấn Độ
và Trung Hoa khi qua Việt
Phái Tiểu Thừa :
Đường lối tu : Chủ Trương lo tự
độ ( độ lấy ḿnh khỏi ṿng sinh , tử
luân hồi) - Chỉ tự giác mà thôi, c̣n ngă chấp,
chưa lo phá chấp - Coi trọng văn tự Kinh, Sách và
làm đúng theo lời Phật dạy.
Phái Tiểu chán đường sinh tử, mong cầu
chứng Niết Bàn, thoát khỏi cảnh khổ, tách
rời sinh tử).
Phái nầy bảo thủ, tự cho ḿnh làm đúng lời
Phật dạy, vẫn dùng Tam Tạng Kinh viết bằng
tiếng Ngam Phạn ( Pali).
Tiểu Thừa là cỗ xe nhỏ ( Tiểu Thặng). Phái
nầy c̣n gọi là Phái Thượng Tọa ( Mahsanghika).
Xưng là Phật Giáo Nguyên Thủy. Phái bảo thủ
nầy chủ trương hữu luận, giữ nghiêm
nhặt giáo điều. Giáo lư căn bản của
Tiểu Thừa là coi Vũ Trụ vô thường, biến
dịch theo chu kỳ : thành, trụ, hoại, không. Coi ḿnh
với vạn vật tha nhân là một. Cái Tâm ta không
phải ta ( vô ngă), không có ǵ khác biệt mà là đồng
nhất thể. Đó là : Tâm Bác Nhă, Tâm Chân Như, Phật
Tánh mà ai cũng có như nhau. Bản ngă ích kỷ không có
thật. Đó là nguồn gốc của mê lầm, đau
khổ.
Tiểu Thừa về phương diện nhận
thức tuy đă nghiên cứu và phân tách sự vật
một cách tỉ mỉ và rốt ráo, nhưng chỉ trong
phạm vi hiện tượng mà thôi, chứ chưa
vượt khỏi hiện tượng luận để
vào Bản Thể luận như giáo lư Phật giáo
Đại Thừa.
Phái Đại Thừa :
Đại Thừa c̣n gọi là Đại Thặng,
chủ trương cấp tiến, tinh thần trọng
lời Phật dạy mà tiến hóa. Tự cho rằng ḿnh
hiểu ư sâu xa của Phật.
Chủ trương : Tự do, khoan đại, khảo
cứu tự do, không câu chấp và nô lệ giáo
điều, kinh sách.
Phái nầy chủ trương hữu luận, chẳng
những tự độ mà c̣n phổ độ chúng sinh (
tự giác, giác tha).
Ngoài ra, về sau Phái Đại Thừa c̣n chủ
trương Không Luận, nghĩa là dung ḥa. Chủ
trương chẳng có mà cũng chẳng không. Trung
Đạo mới thật là tinh hoa của Phật học
Đại Thừa.
Đại Thừa là cỗ xe lớn ( Đại
Thặng), tự giác mà c̣n phải giác tha nữa ( cỗ xe
chở nhiều người).
Cũng đồng chủ trương với Tiểu
Thừa về phương diện nhận thức,
nhưng vượt xa hơn để tiến sâu vào
bản thể. Thừ (xe) có nghĩa là vận tải,
đưa con người ra khỏi ṿng sinh tử.
Đại Thừa biết rơ phiền năo không trụ
nơi sinh tử cũng không trụ nơi Niết Bàn. Phiền
năo tức là Bồ Đề. Sinh tử và Niết Bàn là
Một. ( Niết Bàn tại thế chớ không đâu xa,
nếu con người biết phá chấp).
Đại Thừa lại c̣n chia hai Phái :
1. Thủy giáo là Quyền Đại Thừa,
2. Chung giáo là Thực Đại Thừa.
Phật giáo
Trung Luận Không luận Hữu luận
( Thực Đại Thừa) ( Quyền Đại
Thừa)
Đại Thừa Tiểu Thừa
Quyền Đại Thừa cho sự vật ( vạn pháp)
đều do Tâm mà có, ngoài Tâm ra, không có sự vật ǵ
cả.
Thực Đại Thừa chủ trương phi hữu
phi không, diệc hữu, diệt không ( chẳng có, chẳng
không mà cũng có, cũng không), khác Tiểu Thừa ở
chỗ chấp ngă và khác Quyền Đại Thừa ở
chỗ chấp không.
Như vậy, xét về phương diện kinh
điển và đường lối tu, Phật giáo có hai
Phái chánh : Đại Thừa và Tiểu Thừa, nhưng xét
về phương diện h́nh thức tu, tức những
chi tiết khác biệt ở cách tổ chức Giáo Hội,
th́ ở Việt Nam trong giai đoạn cận đại
có rất nhiều Hệ Phái. Xin kể sơ lược
sau đây :
Mục I - Giáo Hội Phật Giáo Nguyên thủy Việt
Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt
Người ta giữ giới cấm : Không sát sanh, không
trộm cướp, không tà dâm, không dùng rượu
thịt, không vọng ngữ.
Đa số tín đồ ăn chay tháng 4,6 hay 10 ngày tùy theo
sự tu tập. Phật tử thường là cư sĩ
tại gia. Tới ngày rằm th́ đến chùa lễ
Phật. Ngoài ra, các vị sư trụ tŕ tại chùa là các
thầy hướng dẫn đạo lư cho tín hữu,
nhưng thật ra ngoài thực tế ít ai được
hướng dẫn một cách thấu đáo triết lư
Đạo Phật.
Mục II . Giáo hội Phật giáo Cổ Sơn Môn hay
Phật giáo Cổ truyền Việt
Cũng là một Hệ Phái thuộc Tiểu Thừa, các tu
sĩ thường ở tại gia. Dân chúng thường
rước các tu sĩ nầy đến tụng kinh
cầu siêu cho linh hồn người chết trong các
lễ ma chay, cúng tuần ...Các tu sĩ theo Phái Cổ Sơn
Môn chú trọng ở việc tụng kinh, niệm Phật.
V́ thường tụng kinh các đám ma chay nên người
ta thường gọi các tu sĩ nầy thầy cúng.
Đa số c̣n ăn mặn và ít thấu đáo triết lư
Đạo Phật. Khi cúng, các tu sĩ nầy mặc áo cà
sa mà vàng, lần tràng hạt, gióng chuông, gơ mơ, đọc kinh
kệ...
Giáo Hội chưa tổ chức có Hệ thống. trụ
sở Trung Ương tại Sài G̣n. Ở các tỉnh có
một số chùa. Đa số các tu sĩ cất am hay tu
tại gia.
Mục III. Giáo hội Phật giáo Lục Ḥa Tăng
Đây là một Hệ Phái thuộc Nam Tông, c̣n gọi là
Phật giáo Cổ truyền Lục Ḥa Tăng. cac1c tu sĩ
tu ở chùa th́ ăn chay, h́nh thức tu cũng tụng kinh,
gơ mơ như Phái Cổ Sơn Môn.
Mục IV . Các am cốc
Mỗi tu sĩ khi muốn tu, dù ở tại gia hay xuất
gia đều có thể tu được. Đa số tu
theo Tiểu Thừa, ăn mặn, lần lần tập
ăn chay kỳ vá ăn chay trường tùa theo thói quen hay
ư thức tu tiến. Người ta cất những cái nhà
kiểu chùa Phật nhưng nhỏ hơn nên gọi là Am,
nếu nhỏ hơn nữa gọi là Cốc. Ở trong
Am, Cốc có bàn thờ Phật và thơ chư vị khác
tùy theo ư hay sự tin tưởng của người tu.
Không gọi là một Phái v́ có tính cách cá nhân, nhưng cách
thức tu ở toan quốc đều giống nhau :
tụng kinh, gơ mơ, niệm Phật.
Triết lư Đạo Phật th́ ít ai hiểu. Người
nào có học hỏi th́ khá hơn, nhưng đa số
lại thiên về đồng bóng, mê tín dị đoan.
Mục V Giáo Hội Phật giáo Khất sĩ Việt
1. triết lư
Đây là một Chi Phái Phật Giáo Tiểu Thừa dụa
trên lịch sử Đức Phật Thích ca trong thời
gian Ngài c̣n tại thế, tu thiền ở dưới
gốc cây bồ đề, khất thực do sự cúng
duờng của dân chúng ( những người dân ở
chung quanh vùng thấy Ngài ngồi dưới gốc cây
thiền định măi không ăn uống, sợ Ngài
chết nên mang thức ăn đến dâng). Phái nầy
chủ trương lấy sự khất thực
để ḥa ḿnh trong hàng thiện nam, tín nữ thập
phương bá tánh, nhắc nhở người ta tu hành là
phải nhẫn nhục, sống đơn giản, không
màng danh vọng hảo huyền. ‘’Sự ăn xin không
phải là hèm kém, xúc phạm đến phẩm giá
đạo hạnh con người, chẳng qua chỉ là
sự bù trừ, đem chỗ dư đắp vào chỗ
thiếu, trao đổi chan ḥa cho nhau. Đi xin ăn,
đi học Đạo, rồi truyền bá giáo lư khắp
chúng sanh. Đó là sống theo chơn lư của Vũ Trụ
( Lời nói của Đại Đức Minh Đăng
Quang), giữ giới rất khắt khe, sống khổ
hạnh.
2. Người sáng lập Phái Khất
Sĩ là Đức Tôn Sư Minh Đăng Quang,
người Vĩnh Long, viết bộ sách tựa là
‘’Chơn Lư’’ để nói triết lư về khất
thực tu hành. Phái nầy khai sáng tại tỉnh Vĩnh
Long, vế sau phổ biến khắp nước.
Ngoài giờ đi khất thực, trong ngày, mỗi khất
sĩ về chùa học Đạo, tập thiền.
Người giỏi dạy người mới tu.
3. H́nh thức tu
Mỗi nơi đều có một chùa gọi là Tịnh xá.
các du tăng khất sĩ ở trong Tịnh Xá để
tu hành. Trong chùa bày biện rất đơn giản, có
tượng thờ Phật, xung quanh Tịnh Xá có nhiều
cái cḥi lá gọi là cốc. Mỗi vị tu sĩ ở
một cốc để lo tu tịnh. các khất sĩ
mặc áo cà sa màu vàng, vá nhiều miếng vải nhỏ.
Vải cũng xin của bá tánh về vá lại. Mỗi ngày
các du tăng luân phiên đi khất thực ( từ 9
đến 10 giờ), về Tịnh Xá chia nhau độ
Ngọ. Chỉ dùng có một buổi trưa mà thôi, ăn
chay kỳ , nhưng cũng có nơi ăn chay
trường. Mỗi tháng có 4 ngày qui hội, tính theo Âm
lịch là ngày rằm, mùng 8 và 23. Ngày ấy khung cảnh
tại Tịnh Xá rất náo nhiệt. các sư không đi
khất thực, ngồi tại chỗ. Thiện nam, tín
nữ đến Tịnh Xá mà cúng Phật và Cử huyền
Thất Tổ.
3. Phân chia thêm chi nhánh của phái
a) Môn đệ Ngài Minh Đăng Quang là Thượng
Tọa Thích Giác Nhiên, đên Trúc Giang lập Tịnh Xá
đầu tiên lấy hiệu là Ngọc Trước,
sửa đổi đôi chút triết lư của Sư
Trưởng, theo một đường lối riêng.
b) Đến năm 1.959, Sư từ-Huệ ở Kiến
Ḥa tách rời hàng ngũ Đoàn Khất Sĩ Du Tăng,
hành Đạo riêng, không ở trong Giáo Hội, tu theo
đường lối riêng trong một cái cốc lá
nhỏ.
c) Hiện nay du tăng khất sĩ có nhiều Đoàn,
mỗi Đoàn do một Pháp-sư lănh đạo:
phái nam gồm có 6 đoàn :
1) Đ̣an Thượng Tọa Giác Chánh
2) Đoàn Thượng Tọa Giác Tánh
3) Đoàn Thượng Tọa Giác An
4) Đoàn Thượng Tọa Giác Nhiên
5) Đoàn Thượng Tọa Giác Lư
6) Đoàn Thượng Tọa Giác Huệ
phái nữ có 8 đoàn:
1) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Liên
2) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Ngân
3) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Trí
4) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Văn
5) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Tạng
6) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Nghiêm
7) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Tràng
8) Đoàn Ni-Cô Huỳnh Nhu
Tuy có nhiều Đoàn, nhưng triết lư hành Đạo là
đường lối tu chung của tất cả mội
khất sĩ.
Hiện nay người ta thấy có khuynh hướng chia
làm hai Phái :
Phái Trụ : Tu ở tại chùa không đi khất thực,
thiện tín đến cúng dường.
Phái Du Tăng : Đi khất thực.
Ngoài ra, ở Ba-Xuyên có một Phái khác là Phái Khất Sĩ
Đạo Lâm.
Mục VI. Phái Khất Sĩ Đạo Lâm
Đây là một Phái riêng, cùng một nguồn gốc
với Phái Khất Sĩ, nhưng có tính cách địa
phương. Đường lối tu cũng như
triết lư tương tợ như triết lư hành
đạo của Phái chung là Giáo Phái Khất Sĩ Việt
mục vii. giáo hội tăng già khất sĩ
Để thống nhất tinh thần các Chi Nhánh nhỏ
của Phái Khất Sĩ, một Giáo Hội
được thành lập lấy tên là Giáo Hội Tăng
Giá Khất Sĩ Việt
mục viii. thiên tông
Phái Thiền Tông ở Việt
Có nhiều thiền phái, v́ mỗi thầy dạy thiền
thực hành mỗi phương pháp khác nhau. Ở Việt
Gọi là một Phái v́ đa số thiền sư lấy
phương tiện thiền định để tinh
tấn, minh tâm kiến tánh, chứ không ai có thể biết
được có bao nhiêu pháp thiền khác nhau. Nói chung
thiền là những phương pháp tâp trung tư
tưởng theo Yoga, các thở, đếm hơi thở,
vận chuyển hơi thở, chú ư hơi thở, chú ư các
luân xa hướng thượng vv...
Người nào có thực hành một thời gian, có kinh
nghiệm rồi dạy người khác, in ra sách và phổ
biến.
Phái Thiền Tông không có Giáo Hội, không có hệ thống
tổ chức nên có thể trong một thời gian sau c̣n có
rất nhiều Nhóm, Sư ... đưa ra nhiều
phương pháp thiền khác nhau. Đa số muốn
người muốn học thiền phải ăn chay,
tuyệt dục. Nhưng có Phái học với pháp mới,
ăn mặn mà thiền cũng không sao. Đó là
Phương pháp thiền gọi là ‘’Pháp Lư Vô Vi Khoa Học
Huyền Bí Phật Pháp’’ của một nhóm người
tại Sài G̣n.
Mục IX. nhóm tu thiền theo pháp lư vô vi khoa học
huyền bí phật pháp
Nhóm nầy hiện giờ không có tổ chức thành Giáo
Hội như các Chi Phái Phật Giáo khác, chỉ lo học
thiền định theo một phương pháp của
Phật để mở những huyền năng ẩn
tàng trong con người hầu có thể xuất hồn,
xuất vía, giải thoát khỏi luân hồi sanh tử.
Mở đầu phương pháp do Ông Tư Đỗ
Thuần Hậu, thọ pháp của cao Minh Thiền Sư ở
núi Tà Lơn, truyền pháp cho Ông Tám Lương Sĩ
Hằng. Ông Tám là người Tàu, nhờ thiền đă có
kết quả, xuất hồn, xuất vía, dùng ư chí có
thể phá tan được một đám mây đang bay
trên Trời.
Hiện thời tại sài G̣n co 3 thiền đường
là Thiền Đường Hồ Văn Em ở Ấp Bà Cả,
đường Trần trọng Kim ( khỏi cầu xa
Lộ, quẹo mặt) ; một thiền đường
thứ hai ở đường Ḥa Hưng là nhà của
cư sĩ Nguyễn Xuân Liêm và thiền đường
thứ ba ở số 200 đường Nguyễn
Biểu. Mỗi tuần vào ngày thứ bảy, sáng Chúa
Nhật và chiều Chúa Nhật, một trong ba nơi ấy
có ông tám Lương Sĩ Hằng thuyết pháp dạy
về triết lư và thực hành thiền. Hiện giờ
số người tu thiển rất đông ở khắp
nước, cả người ngoại quốc nữa).
Thiền theo pháp nầy không cần ăn chay, ăn mân
cũng không có hại ǵ cho tâm linh nói theo ông Tám (các pháp
thiền khác phải ăn chay mới được,
nếu ăn mặn sẽ nguy hiểm : điên, chết,
tẩu hỏa nhập ma, hộc máu...). Một số
người thiền có kết quả vá có người
đă xuất vía được, ư thức trong lúc ngủ :
ban đêm bay đến nơi nầy nơi nọ, khi
thức đều nhớ cả.
Mục X. Thiền Tịnh Đạo Tràng
Là một Phái thiền riêng, cơ sở hành đạo là
một Đạo Tràng, vị trụ tŕ hay tu sĩ nào có
khả năng, uy tín sẽ hướng dẫn
phương pháp tu thiền định. các Đạo Tràng
được cất lên nhiều nơi như ở
Định Tường, Châu Đốc... Ngoài ra, ở Phú
Nhuận có một Thiền Đường gọi là
Như Lai Thiền Đường. Đó cũng là một
lối tu của một vị có tánh cách riêng biệt,
dạy thiền theo một triết lư riêng: ăn mặn,
thiền và phá mọi chấp để thấy Như Lai
bản thể tại nơi ḿnh.
mục xi. phật giáo hoa tông
Là một Hệ Phái Phật Giáo của người
Việt gốc Hoa, cách tu cũng giống như Phái
Tiểu Thừa như người Việt nam ( đối
với người b́nh dân). Ngoài ra, có một Phái khác gọi
là Minh Nguyện Cư Sĩ Lâm.
mục xii. minh nguyện cư sĩ lâm phật học
Đây là một Hội Phật Học do người
Việt gốc Hoa thành lập. Người tu tại gia,
cũng tập ăn chay, đến chùa vào những ngày
rằm, Vía Phật. cách tu giống như các Phái Tiểu
Thừa khác, chú trọng ở sự cầu nguyện,
đọc kinh, ít thấu đáo triết lư Phật.
mục xiii. tam tông miếu
Là một Hội Phật Học, có tính cách cá biệt,
chỉ có ở Sài G̣n mà thôi ( tại Chùa Tam Tông Miếu sài
G̣n). Đường lối tu va học Phật cũng
giống như Tiểu Thừa Phái. Nhưng triết lư có
tổng hợp với Đại Thừa Phái.
mục xiv. giáo hội tổ tiên chính giáo
Đây cũng là một Hệ Phái lấy sự thờ cúng
Tổ Tiên làm mục đích chánh, tuy nhiên h́nh thức tổ
chức là một sự pha trộn của Nho giáo và
Phật Giáo.
Trụ sở Trung Ương Giáo Hội đặt tại
số 205 Minh Mạng Sài G̣n. Ở Miền Trung cũng có
cơ sở Tôn giáo như một ngôi chùa Phật giáo.
mục xv. giáo hội thiên thai quán môn.
Đây là một Phái Đại Thừa lấy triết lư
từ Thiên Thai Tông ở Trung Hoa, thiền và tụng kinh Pháp
Hoa, nên gọi là Pháp Hoa Tông. Tất cả giáo lư sau cùng
của Phật qui tụ vào kinh Pháp Hoa. Đọc kinh
để diệt trừ nghiệp chướng, hành pháp ‘’
Nhất tâm Tam Quán’’. Phái nầy phát triển ở Miền
trung Việt nam, chưa phổ biến mạnh mẽ
khắp nơi.
mục xvi. mật tông hay chân ngôn tông
Phái nầy ở Việt nam rất ít người theo v́ có
tính cách mầu nhiệm bí mật. Chủ trương :
đọc Kinh Kim cang Đảnh.
cách tu : Ngồi tịnh, bắt ấn, niệm thần chú
(thí dụ như Umani badmihum hay dịch ra tiếng Hán là ‘’Ám
ma ni bát di hồng).
Hiện nay tại số 34 đường Trần Quang
Khải có một vị sư phổ biến pháp môn
nầy bằng cách trị bịnh, coi bói, giảng Phật
trí đạo. Cơ sở chỉ là nhà của cư
sĩ, lấy tên là Viện Phật Trí Đạo, có
đăng quảng cáo trên báo. Ở Miền Châu
Đốc, Long Xuyên, ( trên Thất Sơn) cũng có
những nhà sư tu và luyện phép bằng cách đọc
thần chú.
mục xvii. tịnh độ tông
Đây là một Phái Đại Thừa theo pháp môn Tịnh
Độ, nghĩa là dùng việc đọc kinh để tập
trung tư tưởng, đưa tinh thần người
tu gần với Phật. Tông Phái nầy cũng dựa vào
kinh điển của Phái Thiền Tông, là một Phái
thuộc Đại Thừa. Tụng kinh A-Di-Đà
để thác sanh về nơi Tịnh Độ
để thành Phật. Đọc kinh Vô Lượng
Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A-Di-Đà.
Chủ trương: tín (tin tưởng), hạnh (giữ
đức hạnh, tu tánh), nguyện (cầu nguyện,
ước nguyện cho tha nhân).
Triết lư có thể tóm lược như sau:
Con người giống như cái máy thu thanh, cứ
điếu chỉnh măi sẽ bắt được
đài, tức là sễ tiếp nhận được
sự tương ứng với các luồng điển
của Phật A-Di-Đà (theo lời nguyện của Ngài
và theo luật đồng thanh tương ứng), khi thác
sẽ hướng về cơi đó. Phái nầy thành lập
do cư sĩ Đoàn Trung C̣n, một học giả và nhà
viết tự điển Phật học.
Mục xviii. Tịnh Độ Cư Sĩ Phật
Hội Viêt
Triết lư tu là đọc kinh A-Di-Đà. Tập thờ
phượng Đức A-D-Đà Phật hay Vô Lượng
Quang Phật. Hội nầy sáng lập trên 30 năm, nay do
Tôn Sư Minh Trí, người gốc tỉnh Sađéc.
Hiện nay <hội nầy hoạt động mạnh
mẽ, nhất là tại Nam Phần Việt nam, tín
đồ lên đến gần một triệu
người. Tôn chỉ là thực hiện Từ Bi, Bác Ái,
lập công bồi đức (Phước Huệ song tu).
Hội Quán Trung Ương Hưng Long Tự tại
Đại lộ Nguyễn Tri Phương. Mỗi tỉnh
đều có Chi Hội. Trụ sở Chi Hội là kột
ngôi chùa gọi là Chùa Tịnh Độ. Mỗi nơi
đều có mở pḥng hốt thuốc nam trị bịnh
miễn phí cho bá tánh. Đặc biệ Đạo kỳ là
một chữ NHT màu đỏ nằm trên nền vàng, bao
quanh bởi một ṿng tṛn tiêu biểu cho danh hiệu
Đức A-Di-Đà.
Mục xiv. Hệ phái Vạn Quốc Tự Việt
Tông Phái vạn ‘’ Quốc Tự’’ do Sư Bà Diệu Lộc
sáng lập năm 1.930, lập ra Hội Phước
Thiện Việt
Đây là Tông Phái của Nữ giới. Chủ trương
: ‘’Đại Đồng Chơn Lư Duy Nhứt Đạo
tâm’’
Mục đích : Tôn trọng tự do tín ngưỡng các Tôn
giáo trên thế giới. Cho rằng : ‘’Muôn vạn tín hữu
các Tôn giáo đều sùng kính tôn thờ một chơn lư
đạo tâm duy nhất’’. Phái nầy chỉ lo giúp
đời, nhất là săn sóc lớp măng non, trể
con ṃ côi.
Cơ sở của Phái nầy có: Vạn Quốc Tự
Tổ Đ́nh tại Phú Hưng, cách thị xă trúc Giang 3km.
Vạn Quốc Tự Trung Ương tại Đô Thành
ở số 378/3 Đại Lộ Phan Thanh Giản Sài G̣n.
mục xx. hội linh sơn phật học
Cũng là một Hội Phật Học thuộc Phái
Tiểu Thừa, có tính cách địa phương, lấy
tên chùa làm tên Hội.
mục xxi. phái hạnh đầu đà
Một lối tu khổ hạnh của các tu sĩ ở
vùng núi non hiểm trở trên Thất Sơn. Tu theo Phái
nầy phải ép xác, kỹ luật do tự ḿnh
đặt ra. Phái nầy lấy triết lư đời
sống tu của Đức Phật Thích ca lúc sanh tiền
( thời gian ép xác để tu, nhưng Thái Tử
Sĩ-đạt-ta không thấy kết quả nên ăn
uống trở lại và tu thiền dưới gốc cây
bồ-đề mới đắc Đạo). Ông
Đạo Dừa cũng tu theo phương pháp khổ
hạnh nầy, nhưng về sau ông tổng hợp
triết lư các Tôn giáo và lập ra một Phái riêng gọi là
Ḥa Đồng Tôn Giáo. Phái Khổ Hạnh nầy hiện
nay rất it được người theo v́ có lẽ
sự tu hành quá khó khăn ít ai làm được. Chỉ
c̣n một số ít người tu ở trên núi vùng Thất
Sơn mà thôi.
Mục XII . Phái Ḥa Đồng Tôn Giáo
Tu sĩ Nguyễn Thành Nam (Kỹ sư Hoá học) tục
gọi Ông Đạo Dừa tu theo phái khổ hạnh, ông
tổng hợp triết lư các Tôn giáo chánh là Phật giáo và
Thiên Chúa Giáo được ḥa hợp lại.
Cơ sở Tôn giáo ở Cồn Phụng ( Kiến Ḥa) và
ở Phú Lâm. V́ không có tính cách pháp nhân của một Tôn giáo
lớn nên khônmg được chánh phủ công nhận. Khu
vực tu hành của tu-sĩ Nguyễn Thành Nam có ư
định ra tham chánh để lấy Đạo trị
đời. ông có tranh cử Tổng Thống nhưng
đơn xin tranh cử bị bác. Đa số thanh niên
trốn quân dịch đến tu tại Cồn Phụng.
Chánh quyền thường đến thanh lọc bằng
biện pháp tế nhị. Hiện giờ mọi cuộc
di chuyn hành Đạo mang tính cách chánh trị đều
bị chánh quyền theo dơi. Những đạo hữu tu
tại gia theo Phái Ḥa Đồng Tôn giáo thường
tập ăn chay trường.
Mục XIII . Phái Phật-Chúa Liên Ḥa Du Tăng
Đây là một Phái mới lập ra do nhà thơ Thần
Liên Lê Văn tất. Tu sĩ tu theo triết lư Thông Thiên
học. Ông bị tai nạn găy xương sống.
Cuộc đ̣i c̣n lại, ông chỉ lo tu và Phái mới dông
sáng lập tổng hợp triết lư các Tôn giáo nhất là
hai Tôn giáo lớn : Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo. Phái nầy qui
tụ một số đạo hữu tại Châu
Đốc. Các du tăng đi hành Đạo từ nơi
nầy đến nơi khác, đến ở tại các
chùa, Thánh Thất, các Tổ chức Tôn giáo vv. để
phổ biến triết lư ḥa đồng Tôn giáo và triết
lư Thông Thiên học.
các du tăng mặc áo tràng màu vàng, ăn chay trường.
Đạo hữu là những người trong gia đ́nh,
bạn bè và một số người ở Tỉnh Châu
Đốc.
Mục XIX. Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương
Là một Tôn giáo mới khai mở tại vùng Thất
Sơn. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do
Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, người Sa đéc
khai sáng. Tiếp nối Đức Phật Th6ày Tây An c̣n có
Đức Phật Trùm, Đức Bổn Sư, Sư Văi
bán khoai...
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tuy là một tân
giáo nhưng kể như một Hệ Phái của Phật
giáo. Bắt nguồn từ Đạo Phật, nhưng
sửa đổi đôi chút, thêm vào triết lư Đạo
Phật. Người tu sĩ c̣n phải thực hiện
bốn điều ân : Ân đất nước, Ân Tam
bảo : Phật, Pháp, tăng ; Ân Cha Mẹ, Tổ Tiên và Ân
đồng bào nhân loại.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đề
cập nhiều đến Long Hoa Đại Hội và tiên
tri sự cứu thế của Đức Di Lạc.
Cách thờ phượng : Thờ trần dà ( màu nâu
sậm). Tu theo Mật Tông, dùng chơn ngôn ( thần chú)
để trị bịnh và tu thiền để minh tâm
kiến tánh. Ngoài việc tu theo bí pháp ( hiện nay đă
thất truyền v́ quá khó, ít ai được truyền
dạy), các cư sĩ tại gia tu theo phương pháp
tiệm tiến từ dễ đến khó : Tu nhân (theo Nho
giáo) => Học Phật (theo triết lư Đạo
Phật).
Như vậy Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương
phối hợp triết lư của Nho và Phật giáo: Vừa
nhập thế, vừa xuất thế. Người tu
phải tập ăn chay kỳ để lần hồi
đến ăn chay trường ví hiểu rằng ăn
thịt cá rất trọng trược.
Hiên nay dân chúng tu theo 3 Hệ Phái nhỏ nữa là :
Phái Đức Phật Thầy Tây An ( Nguyên thủy)
Phái Đức Hoài sanh ( Một vị tu sĩ mới
lập ra một Phái khác).
Mục XX Hệ Phái
Tứ Ân Hiếu Nghĩa
và c̣n nhiều Phái khác do sự lôi cuốn của một
số tu sĩ lănh đạo. Những Phái liên hệ
đến Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương
như : Phật Giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở cần
Thơ, ở Vĩnh Long có một ngôi chùa cất giữa
ḍng sông (nhà sàn) gần Bắc Mỹ Thuận. Ở cà mau có
hệ Phái Long Hoa Huỳnh Đạo ( Tổng hợp
giữa Bửu Sơn Kỳ Hương và Cao Đài Giáo).
mục xxv. phật giáo ḥa hảo
Bắt nguồn từ triết lư Phật giáo, vê
phương diện Đạo bắt nguồn từ
Phật Thầy Tây An. cách thờ phượng giống
như Phật Giáo bửu Sơn Kư Hương. Triết
cũng lấy từ Nho giáo ( tu thân) và từ Phật giáo (
học Phật). cách hành Đạo cũng thực hiện
bốn điều ân như Đạo Bửu Sơn
Kỳ Hương. cách thiền định theo Tịnh
Độ Tông. Tu sĩ tu tại gia niem Phật A-Di-Đà.
Có đức tin nơi Phật Pháp, nơi Đức
Huỳnh Giáo Chủ (Đức Huỳnh Phú Sổ : các tín
hữu Phật Giáo Ḥa Hảo kiêng gọi tên húy c̣n gọi
là Đức Thầy), đặc biệt là các tín hữu
với nhau gọi nhau là đồng Đạo), tu và tránh
mê tín dị đoan.
Mục XXI. Các Hội Phật Học
Ngoài các Hệ Phái, các Hội Phật Học như
Lưỡng Xuyên Phật Học, các Hội Phật Học
Trung, Nam, Bắc. Hội Phật Học Nam Việt do
cụ mai Thọ Truyền lănh đạo mấy năm
gần đây hoạt động mạnh về
phương diện văn hóa Phật giáo. tất cả
các Hội Phật Học kể như những Hệ Phái
của Phật giáo v́ vừa có tính cách nghiên cứu vừa
lo tu theo triết lư Đạo Phật theo những
đường lối riêng.
Mục XXVI. Các Phái Phật
Hiáo của người Việt gốc Miên ở Nam
Việt Nam.
Người Việt gốc Miên tu theo Nam Tông ( Tiểu
Thừa hay Phật Giáo Nguyên Thủy). Triết lư hành
Đạo giống như Phái Tiểu Thừa hay Phật
Giáo cổ truyền Việt nam. Tuy nhiên có vài điểm
hơi khác biệt v́ tính chất dân tộc Khmer.
Người tu theo Tiểu Thừa của người Miên
c̣n ăn mặn ( Ở các chùa Miên, các ông ‘’Lục’’ - nhà
sư c̣n ăn thịt cá).
Hiện nay Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy của
người Việt gốc Miên chia ra làm hai Phái:
1) Phái therevada ( Đă có từ xưa, từ thời văn
minh Óc-Eo).
2) Phái Khmeranikay ( mới thành lập gần đây).
Tuy chia hai Phái, nhưng cùng tu chung một chùa ( một chùa có
2 văn pḥng của hai Phái).
Phái Therevada thường đối lập với Chánh
quyền, thường đ̣i hỏi quyền lợi
nầy nọ, nhưng Phái Khmerranikay th́ thân chính.
Chương IV
Việc hệ thống hóa các hệ phái phật giáo
việt nam
Tiết I - Việc phân loại các hệ phái phật giáo
việt nam
V́ ở Việt nam có quá nhiều Hệ Phái Phật Giáo
nên việc hệ thống hóa để phân loại rất
cần để biết được đặc
điểm của một số Hệ Phái lớn cũng
như Chi Phái nhỏ đă, đang và sẽ thành lập.
Việc phân loại có thể căn cứ vào những tiêu
chuẩn sau đây :
Mục I. Phân loại theo
thời kỳ
Nếu xét về nguồn
gốc Đạo Phật, phân chia theo thời kỳ th́ các
Hệ Phái Phật Giáo có ba loại :
Thời kỳ I : ( Phật trong quá khứ, tức Tiền
Phật Giáo)
Đức Phật Thích Ca có đề cập đến
Đức A-Di-Đà Phật tức là Phật ở thời
quá khứ. Các Hệ Phái thờ và tụng Kinh A-Di-Đà là
Tịnh Độ Tông, Tịnh Độ Cư Sĩ
Phật Hội vv.
Thời Kư thứ II. ( Từ khi Đức Phật Thívch Ca
đắc Đạo cho đến khi Ngài tịch
diệt)
Các Chi Phái dựa trên lịch sử của Phật hiện
tại th́ có hai Hệ Phái : Đại Thừa và Tiểu
Thừa. Các Hệ Phái Phật giáo ở Việt nam,
hoặc thuần túy Đại hay Tiểu Thừa hoặc
tổng hợp cả hai.
Chia theo Đại Thừa và Tiểu Thừa c̣n dựa trên
tiêu chuẩn Bảo- Thủ ( Nguyên thủy hay Tiểu
Thừa) và cấp tiến ( Đại Thừa).
Thời kỳ III ( Phật Tương lai)
Người ta dựa theo Kinh Phật th́ trong
tương lai, Đức Phật Di Lặc sẽ giáng sanh
để giáo Đạo ở Nguơn kế tiếp.
Đời Mạt Pháp Ngài là Long Hoa Giáo Chủ. Đời
Hạ Nguơn chấm dứt Phật Di Lặc là Chủ
Khảo trong cuộc sàng săy. Hết Hạ Nguơn
đến đời Thượng Nguơn Phật Di Lặc
là Phật Vương Cứu Thế. Những Hệ Phái
Phật Giáo chấp nhận triêt lư Long Hoa Đại
Hội, chờ đợi Phật Vương ra
đời như : Bửu Sơn Kỳ Hương,
Phật Giáo Ḥa Hảo, các Hêẹ Phái của Cao Đài Giáo
như Thiên Khai Huỳnh Đạo
mục II- phân loại theo bí truyền và công truyền
1) Theo bí truyền ( khó hiểu, bí mật) có Hệ Phái
như sau : Mật Tông hay Chơn Ngôn Tông, các Phái Thiền
Tông, có niệm chú như Tịnh Độ Tông vv.
2) Theo công truyền (đăi
chúng, dễ hiểu, dễ truyền bá) như các Hệ
Phái thuộc Phật Giáo.
Tiết II. Sự thống
nhất các Hệ Phái Phật Giáo
Hiên nay các Hệ Phái Phật Giáo tại Việt Nam đă
được thống nhất tinh thần. Nam Tông và
Bắc Tông có cùng chung một mục đích là học
Phật, tu hành. Toàn thể các Hệ Phái họp Đại
Hội tại chùa Xá Lợi Sài G̣n ngày 30.12.1963 đền
ngày 1.1.1964, xoá bỏ mọi tập đoàn riêng biệt,
chung lại thành lập một Giáo Hội gọi là ‘’Gi áo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất’’.
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có
một Hiến Chương gồm 10 chương, 36
điều, do một Ủy Ban của 11 Đại Diện
các Hệ Phái soạn thảo.
Mục đích thành lập dựa trên sự tồn vong
của nhân loại và dân tộc, không chú trọng
đến Hệ Phái cá biệt.
Giáo Hội tổ chức có qui cũ : Có Viện Tăng
Thống lănh đạo tinh thần, Viện Hóa Đạo
để hoằng khai Đạo Pháp và các Tổng Vụ
để lo về tăng sĩ, cư sĩ... Các Địa
phương trực thuộc chia ra 8 Miền lấy tên các
Thiền sư nổi danh đặt tên cho Miền:
1) Miền Vạn Hạnh (
Bắc trung Nguyên trung Phần)
2) Miền Liễu Quán ( Nam
Trung Nguyên Trung Phần)
3) Miền Khuông Việt ( Cao
NGuyên Trung Phần)
4) Miền Khánh Ḥa (Đông Nam
Phần)
5) Miền Huệ Quang ( Vùng
Tiền Giang)
6) Miền Khánh Anh ( Vùng
Hậu Giang)
7) Miền Quảng Đức (
Thủ đô Sài G̣n)
8) Miền Vĩnh Nghiêm (Không
có địa dư ở Việt Nam, lấy chùa Vĩng
Nghiêm ở đường Công Lư làm trụ sở Miền,
có 10 Đại Diện)
Hiện nay
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất lại
chia làm hai : Khối Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự.
Phật Giáo Viet Nam hiện nay đă dấn thân, nhập thế,
nên mang ́nh thức của Tổ chức có tính cách lănh
đạo chính trị hơn là tu hành một cách thuần
túy như xưa nữa.
Tuy nói là thống nhất các Hệ Phái chứ thật ra
mỗi Hệ Phá́ vẫn giữ đường lối tu
hành riêng. Đối với hai Hệ Phái Phật Giáo của
người Việt gốc Miên th́ hoạt động riêng
rẻ, cũng có Tăng Thống lănh đạo tinh
thần riêng không lệ thuộc với Tăng Thống
Việt Nam, duy có việc xin động viên tại chỗ
( hoăn dịch v́ lư do Tôn giáo) th́ hồ sơ của các tu
sĩ gởi cho Tổng Nha Nhân Lực (kể như trong
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất).
KẾT LUẬN
Những giáo thuyết và chi tiết về Tổ Chức và
cách hành đạo của các Hệ Phái Phật Giáo tại
Việt Nam rất phức tạp, không thể tŕnh bày
một cách vắn tắt được. Qua tập nghiên
cứu nầy, người ta chỉ có một cái nh́n
tổng quát về sự xuất hiện của các Hệ
Phái Phật Giáo mà thôi.
Trước sự băng hoại của nền văn
minh ngày càng trở nên ráo riết, trước sự đau
khổ triền miên v́ chiến tranh ư thức hệ và huynh
đệ tương tàn ở Việt Nam và với bản
chất dân tộc, tất cả các Tôn giáo mới, các
Hệ Phái Phật Giáo nói riêng và các Tôn giáo khác nói chung đă,
đang và có lễ sẽ c̣n xuất hiện thêm
nữa... đề dựa trên triết lư căn
bản Từ Bi, Hỉ Xả của Đức Phật,
từ đó việc học Đạo để tự giác,
giác tha và khi hiểu rơ triết lư Đạo, người ta
sẽ ư thức về các định luật bất di
bất dịch chi phối con người là luật Luân
Hồi, nhân Quả để mà hành dộng sao cho khỏi
mất sự thăng bằng của Vũ Trụ, đó
là : Làm điều lành, tránh điều ác, tu sửa ḿnh luôn
để biết tha thứ hay lấy đức báo oán.
Như thế th́ nước Việt Nam mới có cơ
hội t́m ḥa b́nh được.
Tín ngưỡng về Tôn giáo của người Việt
nam có rất nhiều khuynh hướng và làn sóng Tôn giáo trên
thế giới đă tràn vào Việt Nam, nên bất cứ
triết lư của Tôn giáo nào trên thế giới khi
đến Việt Nam đều được dung
nạp, tổng hợp, biến chế, mượn cái
căn bản để sáng tác cái mới... sau cùng trở
thành một thứ Đạo của riêng ḿnh. Đó là đặc
điểm của nền văn minh Việt Nam vậy.
Sách Tham khảo
VIỆT NGỮ
THU GIANG NGUYỄN DUY
CẦN, Phật học tinh Hoa, Sài G̣n, Khai Trí, 1971
PHAN BÁ CẦM, Một Tôn
Phái đặc biệt của Phật Giáo Việt Nam,
Phật Giáo Ḥa Hảo, Sài G̣n,
không tên, 1960, in ronéo).
HỒ VĂN EM, Tôi Tầm
Đạo và thiền theo Pháp Lư Vô Vi Khoa Học Huyền Bí
Phật Pháp, sách ấn tống, Sài G̣n, không tên, 1974.
CHÍ HUỆ, Phật Đạo,
Sách ấn tống, không tên, không năm.
THÍCH THIỆN HOA, Phật
Giáo Việt Nam ngày nay, Sài G̣n, Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất, 1971, (sách bản thảo in
ronéo ph63 biến nội bộ).
NGUYỄN LANG, Việt nam
Phật Giáo sử luận, Sài G̣n, Lá BỐi, 1974.
HUỲNH MINH, Kiến Ḥa
xưa và nay, Cánh Bằng, 1965;
Vĩnh Long xưa và nay, Sài G̣n, cánh Bằng,
1967.
NGUYỄN VĂN SÂM, Tín
ngưỡng Việt Nam Cận Đại và Hiện Đại (
Giảng khoa Chứng Chỉ Văn Minh Việt Nam), Đại
Học Văn KHoa Sài G̣n,1972, (tài liệu in ronéo).
NGUYỄN ĐĂNG THỤC,
Phật Giáo Việt Nam, Sài G̣n, Mặt Đất, 1974.
SÁCH DỊCH
CONZE, EDWARD, Tinh hoa và sự
phát triển của Đạo Phật, Chân Pháp NGUYỄN
HỮU HIỆU, dịch giả, Sài G̣n, Ban Tu Thư Viện
Đại Học Vạn Hạnh, không ghi năm.
TRẦN VĂN GIÁP,
Phật Giáo Việt Nam ( Le bouddhisme en Annam), TUỆ
SỸ dịch giả, Sài G̣n, Tu Thư Đại Học
Vạn Hạnh, 1973.
SÁCH NGOẠI NGỮ
SANTAYANA, GEORGE, Reason in
religion,
BÁO CHÍ XUẤT BẢN
ĐỊNH KỲ
THÍCH THIỆN HOA, Phật
học Phổ Thông Khoá V , Sài G̣n, Hương Đạo, 1970.