Nội san
Hoằng Pháp số 12
Nội dung
Rèn Luyện và Nghiên Cứu Tâm
Thức:
Ði đến
sự dung hợp giữa Thiền Phật giáo và
Khoa Thần Kinh học
Nguyên Châu
Mục
Ðích Tổng Quát của Dự Án:
Mục đích tổng
quát của dự án này là nắm
được những cái nhìn thấu suốt
mới về tác động của thiền
đối với các chức năng cảm xúc
và nhận thức cơ bản, cũng như
cách thức vận hành của não bộ
trong việc phục vụ những tiến trình
này. Thêm vào đó, cuộc nghiên
cứu này cũng được đề ra nhằm
bồi dưỡng một sự hiểu biết về
bản chất của thụ thức. Một vài
tính năng tinh thần tích cực vốn
được tu dưỡng một cách tự
giác trong Thiền quán Phật giáo, cụ
thể như lòng từ bi, từ trước tới
nay chưa hề là một bộ phận trong cuộc
nghiên cứu của khoa thần kinh học Tây
phương liên quan đến khu vực tình
cảm. Cuộc nghiên cứu này vì thế
nhắm đến việc đưa các tính
năng tinh thần tích cực này thành
một chủ đề trọng điểm trong
nghiên cứu khoa học. Thêm vào đó,
bằng cách kết hợp giữa khảo sát
trực tiếp và chính xác về thụ
thức được tu trì trong thiền quán
Phật giáo với những khám phá của
khoa thần kinh học Tây phương về những
biểu hiện thần kinh và tế bào thể
của các trạng thái ý thức, những
cái nhìn thấu suốt mới này có
thể chiếu dọi cho ta phần nào tia sáng
vào bản chất của ý thức.
Mô
Tả Dự Án Nghiên Cứu:
Dự
án này bao hàm việc đo lường
sự vận hành chức năng não bộ
thông qua các phương pháp biểu hình
não bộ trên các hành giả Phật
giáo có công phu tu tập cao qua các tầng
thiền. Những cuộc nghiên cứu này
hiện đang được tiến hành tại Keck
Laboratory, University of Madison, Wisconsin và tại LENA
laboratory (CNRS, UPR 640), Hôpital de la Salpêtrière,
Paris.
Chúng
tôi đang tập trung nghiên cứu bốn
trạng thái của tâm thức vốn đã
được mô tả khá rõ ràng trong
tâm lý học Phật giáo, được
biết đến như định, xả (hay thiền
tỉnh thức), quán tưởng và từ bi
quán. Những kỹ thuật thiền định
này tạo ra các tính năng tâm thức
khác nhau, mà một số đã không
được quan tâm đúng mức trong các
tài liệu khoa học đương đại.
• Ðịnh
(śamathā): hay Thiền Chỉ-tập trung vào
một điểm-liên hệ đến việc
chú tâm bền bỉ vào một
đối thể duy nhất không để cho tâm
bị xao lãng đi nơi khác, hay ngăn dứt
các pháp bất thiện, lìa mọi ý
niệm tà vạy, diệt trừ các phiền
não tán loạn để tâm đạt
đến sự vắng lặng, tịch tịnh;
ngoài ra, nó còn có nghĩa khác
là, duy trì được chánh niệm khi ta
an trú ở nơi pháp bây giờ và
ở đây, tiếp xử với giây phút
hiện tại một cách sáng suốt.
• Xả (upekṣā):
đây là một trạng thái hoàn
toàn buông xả, tâm ở trạng thái an
trú vững chãi không còn thiên
lệch, không còn bị vướng mắc
vào bất cứ điều gì, hay nói
rõ hơn, là tâm luôn ở trạng
thái không ghét bỏ, không ưa thích
cũng không bất mãn. Nó không quan tâm
và bị ảnh hưởng bởi những tri
kiến, hồi ức và tưởng tượng,
ngay cả cũng không hề có bất cứ
ý định nào nhằm cản trở hay
ngăn chặn chúng.
• Quán tưởng
(vipaśyana): tâm tập trung vào một đối
tượng nào đó để đối
trị các vọng niệm như các cảm
thọ tham dục, khát ái... hoặc là
một loại phương tiện quán cần
phải hành trì để đạt tới
giải thoát và an lạc ngay trong giờ phút
ta đang thực tập, và bao gồm cả việc
tạo dựng đồng thời với sự quán
tưởng về những chi tiết hình ảnh do
tâm tạo ra.
• Từ
bi quán (maitrya-karuna): bao gồm sự tự nguyện
vun trồng một trạng thái cảm xúc
tích cực mà hành giả Phật giáo
coi là thiết yếu để chống lại
những loại tình thương đang vin theo khuynh
hướng vị kỷ, hẹp hòi. Nó bao
hàm cả việc tạo ra một trạng thái,
mà trong đó lòng yêu thương và
từ bi chan hoà
giác.vào tâm
thức; thấy những cái đẹp nơi
người khác hơn là cái xấu xa;
ngoài ra không còn một mối quan tâm nào
khác, ngay cả lý trí hay những tư
tưởng tản mạn. Đây là nét
đặc trưng cơ bản của Phật giáo.
Trong
cuộc nghiên cứu mở đường sơ
bộ, chúng tôi đã khảo sát
những trạng thái này không qua bất
cứ một tác nhân kích thích nào,
trải qua sự trình bày các hình
ảnh thấy được. Ba kỹ thuật não
hình khu trú có mật độ cao
được dùng đến là
điện-não-đồ (EEG),
từ-não-đồ (MEG), và chức năng
từ trường cộng hưởng biểu hình
(fMRI) (*). EEG (hình 1) và MEG (hình 2) là hai
kỹ thuật khá nổi tiếng được
dùng để đo lường cảm ứng từ
trường ở bên ngoài đầu và
những điện thế phóng thích ở
mảnh da đầu do hoạt động điện
trong những tế bào thần kinh tụ hội.
Hai kỹ
thuật này có một hoành độ dung
giải khá tuyệt hảo với biên độ
khoảng một phần triệu giây có thể
cho phép ta khám phá được thời gian
năng động hoàn hảo của tiến
trình hoạt động thần kinh trải qua
các trạng thái thiền quán. fMRI hoạt
động ở một thời độ tương
đối chậm hơn (biên độ 100 của
mỗi phần triệu giây) nhưng vẫn có
khả năng sản xuất được một tung độ
dung giải cao từ 1 đến 3mm. Kỹ thuật này
ghi lại được những thay đổi về
chuyển động máu xảy ra trong tiến
trình hoạt động thần kinh. Khi tế
bào thần kinh hoạt động, chúng gây
ra những thay đổi cục bộ trong lưu
lượng máu và mức độ oxy hóa,
có thể được biểu hình như
là một yếu tố tương liên của hoạt
động thần kinh hệ (xem hình 3). fMRI còn
cho ta những thông tin về kết cấu và
chức năng của những cấu trúc vỏ
não và bán vỏ não được
khởi động trong một trạng thái tâm
thức nào đó. (Xem hình 4-5)
Bằng
cách kết hợp những hoành độ
và tung độ dung giải của những kỹ
thuật nói trên, chúng ta hy vọng có
thể nhận ra những cấu trúc của thần
kinh được khởi động qua các trạng
thái thiền định này và đặc
điểm hoá dấu vết riêng của hệ
thần kinh trong sự phối hợp năng động
của chúng. Thực vậy, một điều
đã được chấp nhận khá rộng
rãi rằng, trong não bộ, bất kỳ tiến
trình tâm thức phức tạp nào (cụ
thể như nhận thức, hành động,
tưởng tượng, tình cảm, …)
đều được đặc điểm hoá
bởi hoạt động đồng bộ của
các khu vực não bộ được phân
bố, chuyên biệt hoá trong chức năng
vận hành và tác động lẫn nhau
một cách liên tục. Bất cứ giả
định nào về cơ sở của một
khoảnh khắc ý thức phải giải thích
được sự phối hợp của các
thành tố khác biệt này, vì nó
vốn rất cần thiết trong việc hình
thành một hoạt động tổng thể
của não bộ được thống nhất
một cách tạm thời.
Cơ
cấu vận hành cho sự phối hợp này
có thể là dây thần kinh đồng
vị, do bởi vai trò được gán cho
nó trong sự cấu thành những mạng
lưới tạm thời nhằm phối hợp
những tiến trình của các khu vực
não bộ thành những hoạt động
ý thức cao cấp có trình tự. Những
kiểu mẫu kết hợp tạm thời như
thế có thể tiêu biểu cho bộ phận
thần kinh tương ứng với kinh nghiệm chủ
quan mà gần đây người ta có thể
ước tính được bằng các
khí cụ toán học căn cứ trên các
dữ kiện do EEG/MEG cung cấp (xem hình 6). Những
giả định có cơ sở của chúng
tôi như vậy là, trước tiên, các
trạng thái thiền định đặc biệt
có thể được tương ứng với
những dấu vết riêng của hệ thần kinh
năng động trong những kiểu mẫu
đồng bộ này, và thứ hai, cái
kiểu mẫu đồng bộ đó xảy ra
ở một trạng thái thiền định có
thể được giữ lại bằng một
phương cách khả tín, cái cấu
trúc tạm thời của những phản ứng
thần kinh đối với kích thích về
cảm GHI CHÚ:
(*) Một số thuật ngữ chuyên môn nên
liên hệ với Bác sĩ chuyên khoa thần
kinh để tìm những danh từ thích
đáng đang được sử dụng tại
VN, ví dụ như MEG, fMRI, nhưng theo tôi, tốt
nhất là cứ nên giữ nguyên những
từ tiếng Anh viết tắt này.
Hình
ảnh trong bài:
Hình 1:
EEG
Hình 2:
MEG
Hình 3:
Sự phát sinh những thay đổi cục bộ
hoá trong từ trường và điện
trường bởi thần kinh hoạt hoá.
(hình của Baillet S. et all.
2001).
Hình 4: Máy phân hình MRI và hình
ảnh cấu trúc não bộ.
Hình 5:
Những thí dụ về chức năng hoạt
hoá (màu vàng và đỏ) tác
động lên những hình ảnh của cấu
trúc não bộ do fMRI tạo ra.
Hình 6:
Mã hiệu màu đỏ phân bố trên
mảnh da đầu cho thấy một sự gia tăng
của sự đồng bộ hoá cục bộ
được ghi lại bởi một điện
cực duy nhất. Những đường màu đen
tương ứng với giai đoạn viễn-cách
đồng bộ xảy ra giữa hai nhóm thần
kinh được ghi lại bởi hai điện cực
khác nhau dao động với một giai đoạn
chính xác, mà mối liên hệ luôn
bất biến trong suốt một số lượng chu
kỳ dao động nào đó (Lachaux et all. 1999).
Sự nghiên cứu về đồng bộ và
đông-học-không-tuyến (*) trong cuộc
nghiên cứu này sẽ sử dụng một
số thuật toán do phòng thí nghiệm LENA,
CNRS UPR 640, Paris, khai triển. Muốn biết thêm chi
tiết xin liên lạc với Jean-Philippe Lachaux
của nhóm nghiên cứu Neurodynamical này.