
Quan Âm Ngũ Bộ Chú
Huyền Thanh Nguyễn Vũ Tài dịch
|
MỤC LỤC
Thay
Lời tựa : ……...……............................... Tr.01 Lục Tự
Minh Chú : ……….............................. Tr.03 .) Truyền thống
tín ngưỡng về Lục Tự Minh chú ………………………………Tr.05 .) Vài ư nghĩa cơ
bản của Lục Tự Minh Chú ….Tr.16 .) Vài bài Chú
tương đương với Lục Tự Minh Chú …………………...............Tr.26 .) Vài Thần Chú
triển khai từ mẫu Lục Tự Minh Chú …………………………......Tr.57 .) Một số
phương pháp tu tŕ Lục Tự Minh Chú ………………...................Tr.63 Ngũ
Bộ Chú : ..................................................Tr.81 .) Tịnh Pháp
Giới Chân Ngôn.......................... Tr.87 .) Văn Thù Nhất
Tự Hộ Thân Chân Ngôn ....... Tr.90 .) Lục Tự
Đại Minh Chân Ngôn ....................... Tr.92 .) Chuẩn Đề Cửu Thánh Tự Đà La
Ni ............. Tr.92 .) Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh Chân
Ngôn .. Tr.108 .) Ngũ Bộ Chú Đàn ........................................
Tr.111 .) Nghi thức tụng tŕ đơn
giản ........................ Tr.114 .) Kết luận ......................................................
Tr.115
|
THAY LỜI TỰA
Từ xưa đến nay trong
tất cả Tôn Tượng của chư Phật Bồ
Tát trên vùng Á Đông th́ h́nh ảnh Bồ Tát Quán Thế Aâm
thường in nét sâu đậm nhất trong tâm thức
của các giáo đồ Phật Giáo Đại Thừa.
Hầu như mọi người đều xem Ngài là
một bà mẹ hiền luôn ôm ấp một t́nh
thương rộng lớn, luôn đưa mắt theo dơi
muôn loài chúng sinh để kịp thời cứu giúp họ
vượt qua mọi ách nạn khổ đau và đem
đến cho họ niềm an vui hạnh phúc chân thật.
Sự sùng kính Ngài dâng cao đến nỗi người
Trung Hoa đă có câu :” Người người niệm
Quán Âm” và xưng tán Ngài là Trung Hoa Giáo Chủ
Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. C̣n
người dân Tây Tạng th́ tin tưởng rằng
họ là hậu duệ của Bồ Tát Quán Thế Âm
Trên đất nước Việt
Tín ngưỡng này lan rộng trong
dân gian đến nỗi người ta chỉ xem Ngài
như là một bà mẹ hiền chỉ biết yêu
thương , chăm sóc, cứu giúp chúng sinh vượt qua
mọi biển khổ mà quên đi Tôn Chỉ của Ngài là Trợ
giúp cho muôn loài, tự ḿnh giác ngộ để vượt
thoát ṿng sinh tử luân hồi. Như Đức Phật
đă dạy:”Hăy tự xem ḿnh là hải đảo
(chỗ ẩn náu) của ḿnh. Chính ḿnh là chỗ
nương dựa của ḿnh, không nên t́m sự
nương dựa bên ngoài. Hăy xem Giáo Pháp là hải
đảo của ḿnh, Giáo Pháp là chỗ nương dựa
của ḿnh, không nên t́m sự nương dựa ở bên
ngoài”
Lời dạy này muốn nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của sự
cố gắng cá nhân nhằm đạt tới mục tiêu
rốt ráo là tự thanh lọc tâm ư của ḿnh và tự ḿnh
vượt thoát ra khỏi mọi h́nh thức khổ
đau của cuộc sống, c̣n sự cầu xin van vái
hay lệ thuộc vào người khác th́ không có hiệu
quả.
Như vậy th́ quyền năng ban
phát ân huệ và cứu độ những kẻ bị
đọa lạc của Bồ Tát Quán Thế Aâm có
hiện hữu thật hay không ?!...
Thật ra quyền năng cứu
độ của Bồ Tát Quán Thế Âm được
tạo thành trên Bản Nguyện của Ngài, tức là
dựa trên cơ sở nỗ lực của cá nhân. Do
đó Tha Lực có thể được xem là một
thứ Tự Lực hiện hành nhằm thực hiện
ước nguyện của cá nhân. Ví dụ như ông Paster
do nh́n thấy người ta quằn quại đau
khổ và bị chết v́ bệnh Chó Dại nên ông
đă nỗ lực t́m ṭi phương cách chữa trị,
cuối cùng ông đă giúp cho nhân loại ngày nay thoát khỏi
căn bệnh này.
Lại nữa Tha Lực chỉ có
thể hiện hành được trong những
điều kiện và giới hạn nào đó phù hợp
với khả năng thi thố của nó, tức là
đối tượng của Tha Lực cần phải có
những nhân tố ǵ, những điều kiện ǵ th́
mới có thể đáp ứng được như
cầu của Tự Lực. Điều này có nghĩa là
khi ḿnh muốn vươn tới th́ phải có một cái ǵ
để vươn tới, cái ǵ có khả năng thu hút
được sự vươn tới của ta. Nói cách
khác Tha Lực và Tự Lực chỉ là những biểu
hiện quá tŕnh tự ư thức , tự giác ngộ của
mỗi một cá nhân. Ví như một người Thầy
giỏi luôn tận tụy dạy bảo các học tṛ
của ḿnh và luôn quan tâm giúp đỡ chúng học tập
(Tha Lực) thế nhưng học tṛ có tiến bộ hay
không th́ phần lớn đều do ư thức của chúng
(Tự Lực). Đây cũng là lư do mà các Môn Đệ của
Đức Phật sau khi đă trải qua một thời
gian tu tập dưới sự d́u dắt của
Đấng Cha Lành (Tha Lực) và chứng đạt
được Quả Vị giải thoát th́ Vị nào
cũng nói rằng:”Những việc cần làm, Ta
đă làm xong” (Tự Lực).
Do ư nghĩa này mà Tổ Huệ
Năng đă nói rằng :”Khi mê th́ con nhờ Thầy
độ, khi giác ngộ rồi th́ con tự độ”
Và các Bậc Cổ Đức
cũng đă nói :”Khi c̣n mê muội th́ chúng ta van xin
cầu khẩn chư vị Bồ Tát giúp đỡ.
Nhưng sau khi thức ngộ th́ chúng ta nhận ra
rằng các vị Bồ Tát luôn ở trong ḷng của chúng
ta, là chính chúng ta”
Tại
Việt Nam, do không nắm vững được diệu
dụng kết hợp giữa Tha Lực và Tự Lực
nên một số người đă cho rằng Pháp tu Quán Âm
chỉ gói gọn trong sự cầu đảo mê tín
của những kẻ yếu đuối có căn cơ
hạ liệt và Mật Giáo chính là khối ung nhọt
đang hủy hoại dần truyền thống tốt
đẹp của Phật Giáo?!.... Thật ra, những
người có tâm bài báng đó không hề biết rằng
Mật Giáo luôn hàm chứa những phương thiện
thiện xảo truyền tải Giáo Lư Giải Thoát của
Đức Phật Đà. Hết thảy các Đàn Giới
(Manïdïala), Aán Quyết (Mudra), Thần Chú (Mantra), Minh Chú
(Vidya), Tổng Tŕ (Dhàranḯ) đều biểu tượng
cho Lư Thú Giải Thoát hoặc Bản Nguyện Từ Bi
Phổ Độ của các vị Hiền Thánh trong
Phật Đạo, tức là người tu Mật Giáo
cần phải thấu hiểu rơ ràng sự kết hợp
nhuần nhuyễn của cả hai pháp Hiển Mật và
Ngũ Bộ Chú chính là một biểu tượng cho pháp
tu “Hiển Mật Viên Thông” của Mật Giáo.
Trong
nhiều năm, với ước nguyện góp chút ít công
sức cho sự phát triển của Phật Giáo Việt
Nay
do sự gợi ư của các bạn đồng tu, tôi đă
t́m thêm được phương cách vận dụng 12
ứng hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Aâm tương
ứng với 12 tháng Âm Lịch trong năm của Mật
Giáo Nepal, nên tôi ghi chép thêm vào phần Lục Tự Minh Chú
nhằm hỗ trợ cho sự nghiên cứu và t́m hiểu
thêm về pháp tu của Đức Đại Bi Quán Thế
Aâm.
Lẽ
tất nhiên bản ghi chép này vẫn c̣n nhiều sự
khiếm khuyết, ngưỡng mong chư vị Cao
Tăng Đại Đức và các bậc Long Tượng
của Mật Giáo hăy rũ ḷng từ bi giúp cho bản ghi
chép này được hoàn thành tốt hơn.
Mọi
Công Đức có được trong tập ghi chép này, con
xin kính dâng lên Hương Linh Thân Phụ (Nguyễn Vũ
Nhan), Thân Mẫu (Vũ Thị Ni) là hai bậc ân nhân
đầu tiên của con.
Nguyện
xin cho các bậc ân nhân của tôi và toàn thể chúng Hữu
T́nh đều sớm vượt qua được
mọi ách nạn khổ đau và đạt
được hạnh phúc cao thượng trong Giáo Pháp
Giải Thoát của Đấng Phật Đà.
Cuối mùa Hạ năm
Bính Tuất (2006)
Huyền Thanh (Nguyễn Vũ Tài) kính ghi
Quan Âm Ngũ Bộ Chú
Huyền Thanh Nguyễn Vũ Tài dịch
(VIDYÀ
SÏADÏA KSÏAR̀ )

TRUYỀN THỐNG TÍN NGƯỠNG VỀ
Lục Tự
Minh Chú ( Vidyà sïadïa ksïaŕ ) nguyên là Tâm Chú của Đức
Quán Thế Âm Bồ Tát mà giáo đồ Lạt Ma giáo
thường xưng tán và sau này được lưu
truyền thành câu tŕ tụng của tín đồ Phật
giáo Đại Thừa.
Theo truyền thuyết của Tây
Tạng, khoảng năm 371 tương đương
với thời Đông Tấn của Trung Hoa, vào
đời vua Cáp Đóa Lật Tư Tán ( Tho Thori Gnơan Btsan) đột
nhiên có 04 chiếc rương từ trên trời rơi
xuống nóc cung điện. Đúng lúc ấy, có 05 nhà sư
từ Ấn Độ đến mở 04 chiếc rương
đó ra xem th́ thấy các bộ Kinh: Bảo Khiếp Trang
Nghiêm Kinh, Bách Sám Hối Kinh, Lục Tự Đại Minh
Bảo Ngọc Khắc ( tức 06 chữ OMÏ MANÏI PADME
HÙMÏ ) cùng với Tháp vàng và hương Khẩn Đà Ma Ni …
đồng thời c̣n nghe văng vẳng trên hư không có
tiếng nói là: “Từ đây đợi đến 05
đời nữa sẽ hiểu được việc
này”. Tuy không biết việc này có ư nghĩa ǵ nhưng nhà
vua vẫn cung kính trọng thờ. Do công Đức của
phước nghiệp ấy, nhà vua thọ được
120 tuổi và nước mạnh dân giàu.
Trải qua 05 đời, khoảng
năm 615, vào đời vua Khí Tông Lộng Tán (Srong tsan Gampo)
th́ tín ngưỡng Quán Thế Âm được phát
triển mạnh mẽ. V́ thế, truyền thuyết này
cho rằng Lục Tự Minh Chú là một món quà quư báu do
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho thế gian
đầy dẫy đau khổ này nhằm giúp đỡ
cho tất cả chúng sinh xa ĺa mọi ách nạn phiền
năo, đạt đến sự an vui phỉ lạc.
_ Truyền thuyết khác cho rằng
Lục Tự Đại Minh chú là câu Chân ngôn mà Đức
Quán Thế Âm Bồ Tát dùng để tán thán Đức
Phật A Di Đà và nói là : “Chân ngôn này là tất cả
Phước Đức, Trí Tuệ và là căn bản
của các Hạnh”.
_ Tây Tạng c̣n lưu truyền
một truyền thống khác nữa là: ở vô
lượng kiếp trước, với tâm Đại Bi
vô hạn, Quán Thế Âm Bồ Tát muốn cứu thoát
tất cả chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử
luân hồi, nên đối trước chư Phật
mười phương, Ngài phát nguyện rằng:
“Nguyện cho con cứu được tất cả chúng
Hữu t́nh. Nếu có khi nào, con mệt mỏi trong công
việc lớn lao này, th́ nguyện cho thân con tan thành ngàn mảnh”.
Thoạt
tiên, Ngài xuống cơi Địa ngục, sau đó
đến cơi Ngạ quỷ và tiến dần lên cho
đến cơi Trời. Tại đấy, Ngài nh́n xuống
thế giới đau khổ với cái nh́n thấu
hiểu của Thánh Trí th́ tâm Ngài bị xúc động sâu
sắc. V́ mặc dù Ngài đă cứu nhiều chúng sinh thoát
khỏi Địa ngục nhưng vẫn c̣n có vô số
chúng sinh khác đang sa vào. Điều này làm cho Ngài buồn
rầu vô hạn. Trong một lúc, gần như Ngài đă
mất tất cả niềm tin vào lời nguyền vĩ
đại mà Ngài đă tuyên thệ và thân thể Ngài
liền nổ tung thành ngàn mảnh. Giữa cơn tuyệt
vọng, Ngài cầu cứu tất cả chư Phật.
Ngay lập tức, hằng hà sa số chư Phật
từ mười phương đều hiện thân
đến cứu giúp. Với thần lực nhiệm màu,
chư Phật làm cho Ngài hiện trở lại toàn thân và
từ đấy Ngài có 11 cái đầu, 1.000 cánh tay, trên
mỗi bàn tay có một con mắt. Sự kiện này
biểu thị cho sự phối hợp giữa trí tuệ
và phương tiện thiện xảo, là dấu hiệu
của Tâm Đại Bi chân thật.
Trong
h́nh thức này, Ngài đă sáng chói rực rỡ và có
nhiều năng lực hơn trước để
cứu giúp chúng sinh. Khi ấy, tâm Đại Bi của Ngài
c̣n mănh liệt hơn trước nữa. Và đối
với chư Phật, Ngài lại phát nguyện rằng:
“Khi tất cả chúng sinh chưa thành Chính Giác, th́ con
nguyện không thành Chính Giác”. Từ đây, Ngài càng nhận
rơ được sự khổ đau và thấy rơ từng
loại chúng sinh. Do đó, đối với kẻ mong
cầu và kêu gọi đến sự giúp đỡ của
Ngài th́ Ngài hiện ra trước mặt và giúp cho
người ấy thỏa măn sự mong ước tùy theo
mỗi hoàn cảnh bằng một h́nh thức thích ứng.
Theo cách này, Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân với
vật cầm tay tiêu biểu cho công tác hóa độ chúng
sinh tương ứng với Bản Tính của sự
sống tùy theo cơi giới của họ.
Cơi
Trời (Sura hay Deva) là một cơi thụ hưởng. Trong
cơi đó, chư Thiên thường khởi tâm tự măn và
bám chặt vào các ảo tưởng về những
niềm vui tạm thời. Do đó, Đức Quán Thế
Âm Bồ Tát hiện thân với cây đàn Tỳ Bà
để tạo ra Pháp Âm (Dharma Svara) đánh thức chư
Thiên thoát khỏi những ảo tưởng của
phước báo mà họ đang thụ hưởng,
đồng thời đưa họ đến một
thực tại cao siêu hơn, một sự ḥa hợp sâu sắc
hơn và vĩnh cửu hơn.
Cơi Tu La (Asura) hay cơi Thần (Devatà) là
cơi chiến đấu. Trong cơi đó, chư Thần
thường khởi tâm ganh tỵ, chỉ thích tranh đấu
để chiếm đoạt các quả của cây Kalpa
Taru (cây Thỏa măn mọi ước nguyện) đứng
giữa cơi Trời và cơi Thần. Do đó, Đức Quán Thế
Âm Bồ Tát hiện thân với cây kiếm sáng chói, biểu
thị cho trí tuệ hoạt động phân biệt,
đâm thủng bóng tối ganh tỵ và chém đứt các mối
dây ràng buộc bởi sự thèm khát, đồng thời
dậy cho chư Thần sự chiến đấu cao
thượng để đạt thành quả của
sự thấy biết mà thoát khỏi mọi tham dục.
Cơi Người (Manusïyana hay Nàra) là cơi hành
động. Đây là thế giới của sự cố
gắng, của hoạt động có ư thức về
mục đích của ḿnh, trong đó sự tự do
quyết định giữ một vai tṛ thiết yếu.
Trong cơi này, con người có khả năng biết rơ các
đặc tính của các cơi và tất cả hiện
tượng đều do “Nhân duyên mà sinh khởi” như
nhau, đồng thời con người có thể t́m ra
được bản tính chân thật của vũ trụ
và nhận thức được con đường
vĩnh viễn ra khỏi ṿng sinh tử luân hồi. Tuy
vậy, đại đa số con người
thường mang tâm: tự kiêu, ích kỷ, hoài nghi mà bị
trói buộc trong các hoạt động nhằm t́m cầu
chiếm hữu và thỏa măn dục t́nh cho riêng ḿnh. Do
đó, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện ra h́nh
tướng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni với cái b́nh
bát và cây gậy ẩn sĩ để chỉ con
đường giải thoát cho những ai có khả
năng xóa bỏ mọi dục vọng tư kỷ,
dứt trừ tâm kiêu mạn hoài nghi, thực hiện công
hạnh cứu độ tối hậu.
Cơi Súc Sinh (Tiryanơc hay pa’su) là cơi sợ hăi.
Trong cơi đó, các loài vật thường mang tâm thức
thờ ơ gắn chặt với bản năng, không
đủ năng khiếu phát triển tư tưởng.
V́ thế, chúng luôn luôn sống trong sự sợ hăi qua
sự đuổi bắt, vây hăm, ăn nuốt lẫn nhau
và bị đẩy vào số phận mù quáng của
những nhu cầu tự nhiên, những bản năng không
thể kiểm soát được. Do đó, Đức Quán
Thế Âm Bồ Tát hiện thân với một quyển sách
cầm tay nhằm nâng cao Tâm thức tŕ độn mù quáng
của loài súc sinh để hướng chúng tới
một tinh thần phát triển, vượt thoát bản
năng tăm tối.
Cơi Ngạ Quỷ (Preta) là cơi ước
mong không được thỏa măn. Là thế giới
đầy dẫy sự thèm khát mong muốn tham dục mà
không bao giờ thực hiện được. Chúng sinh
trong cơi này thường mang những h́nh tướng quái
dị như: thân thể cao lớn, đầu to như
núi, cuống họng nhỏ như cây kim, đầu tóc
lởm chởm, miệng như ngọn đuốc
lửa, bụng to lớn …. dù gặp vật thực
cũng chẳng ăn nuốt được. Hoặc có
loài da đen như than, đầu tóc lởm chởm,
miệng khô đắng, ưa le lưỡi tự liếm
miệng, thường chịu đói khát. Hoặc có loài tên
là Mănh Diễm Mang, mỗi khi ăn uống đều
bị hóa lửa đốt làm cho đói khát khổ đau.
Tất cả loài Ngạ Quỷ này
đều bị đói khát dày ṿ không bao giờ
được thỏa thích no đủ. V́ thế, tâm
thức của chúng gắn chặt với sự tham
dục đam mê không biết nhàm chán và luôn bị sự
thất vọng dày xéo bủa vây. Do đó, Đức Quán
Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân với một cái
b́nh đựng đầy những báu vật của
Trời nhằm xoa dịu những nỗi khổ đau v́
thèm khát của loài Ngạ Quỷ, khơi động tâm
thức nhàm chán những đối tượng nhiễm ô
và khởi tâm ưa thích những đối tượng
thanh khiết (nghĩa là thay Dục Lạc bằng Pháp
Lạc, t́m hiểu Chính Tri Kiến và Chân lư) để cho
chúng mau chóng hồi tâm sám hối, vượt thoát cảnh
khổ đau.
Cơi Địa ngục (NàraKa hay Niraya) là cơi
hành hạ đền tội. Đó là thế giới
đầy dẫy những cảnh khổ đau qua
những cuộc hành hạ tra tấn. Chúng sinh của cơi
này luôn luôn chịu đựng những nỗi thống
khổ, là những phản ảnh không thể tránh
được do chính các hành động của họ gây
ra. V́ thế, tâm thức của họ luôn bị sự giận
dữ oán ghét bủa vây. Do đó, Đức Quán Thế Âm
Bồ Tát hiện thân với ngọn lửa trên tay nhằm
thanh lọc tâm thức bị ô nhiễm bởi sự
giận ghét và biến đổi các cuộc hành h́nh tội
nhân thành ngọn lửa thanh lọc để giúp họ
vươn tới những h́nh thức sinh sống tốt
đẹp hơn.
Do công hạnh ứng hóa trong sáu cơi (Sïadïa
gatayahï hay sïadïa Kula) để hóa độ chúng sinh nên trong
Lục Tự Tâm chú của Đức Quán Thế Âm th́
mỗi một âm đều có một hiệu quả
đặc biệt nhằm tịnh hóa 06 phiền năo
gốc (ảo tưởng kiêu mạn, ganh tỵ tranh
đấu, hoài nghi tự kiêu, tŕ độn mù quáng, tham
dục thèm khát, giận dữ oán hận) để
ngăn ngừa sự tái sinh vào 06 cơi và xua tan các nỗi
khổ đau ẩn tàng trong mỗi cơi.
Như Mật Tông Tây Tạng Bảo
Điển có ghi: “Y theo Lục Tự Đại Minh chú này
th́ có thể ngăn chặn được các cửa sinh
tử trong lục đạo”
_ Trong Tây Tạng Quán Âm Kinh, Ngài Ma Ni Già
Bộ Bà (Manïi bkahï hïbumï) đă dùng thi ca xưng tán công
đức của Lục Tự Minh chú và nói chú này là
cội nguồn của Trí Tuệ giải thoát với
mọi sự cứu tế khoái lạc. Trong Lục Tự
Minh chú:
Nếu có người xướng lên
chữ OMÏ th́ công đức ấy sẽ giúp cho
người này sau khi chết sẽ cắt đứt
được sự lưu chuyển vào Thiên Giới.
Nếu xướng lên chữ MA th́ có
thể miễn trừ được sự luân hồi
trong nẻo Tu La, là nơi cư ngụ của loài quỷ
Thần ác.
Nếu xướng lên chữ NÏI th́
sẽ xa ĺa sự tái sinh vào chỗ ách nạn của cơi
Nhân gian.
Nếu xướng lên chữ PAD th́
sẽ xa ĺa được sự luân hồi vào chỗ tai
nạn của nẻo súc sinh.
Nếu xướng lên chữ ME th́ sẽ
tránh khỏi sự trầm luân vào cảnh khổ đau
của nẻo Ngạ Quỷ.
Nếu xướng lên chữ HÙMÏ th́
sẽ giúp cho kẻ ấy sau khi chết miễn trừ
được sự khổ đau của nẻo
Địa ngục.
_ Kinh Quán Âm của Tây Tạng lai miêu
tả:
Chữ OMÏ
( ) có màu trắng,
biểu thị cho Thiên Giới.
Chữ MA
( ) có màu xanh, biểu
thị cho Tu La đạo.
Chữ NÏI
( ) có màu vàng, biểu
thị cho Nhân Gian giới.
Chữ PAD
( ) có màu xanh lục,
biểu thị cho Súc Sinh đạo.
Chữ ME
( ) có màu hồng,
biểu thị cho Ngạ Quỷ đạo.
Chữ HÙMÏ
( ) có màu đen
huyền, biểu thị cho Địa Ngục đạo.
Kinh này lại cho rằng: “Chẳng
phải dùng miệng xướng lên Minh Chú này th́ mới có
công đức. Nếu kẻ nào đeo chú này trên thân,
hoặc cột vào tay, hoặc chôn trong da thịt th́ cũng
tạo được nhân chủng giải thoát khỏi
sinh tử”.
Do kết hợp ư tưởng này với
giáo lư Tịnh Độ, nhân dân Tây Tạng thường
hướng về Đức Liên Hoa Thủ Bồ Tát (Padma
Pànïi Bodhisatva) xưng tụng câu chú “OMÏ – MA NI – PÊ MÊ – HUNG” (tức
OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ) để cầu nguyện ngày sau
được văng sinh về thế giới Cực
Lạc (‘Sukha vàti) ở phương Tây do Đức
Phật A Di Đà (Amitàbha buddha) làm giáo chủ.
Ngoài ra, để tăng cường cho
năng lực gia hộ cứu độ của Lục
Tự Đại Minh chú, một số vị Đạo
sư đă khuyên dạy đệ tử nên phụng
thờ Tôn Tượng “Tứ Thủ Quán Âm” và cố
gắng tu hành theo ư nghĩa của Tôn Tượng này.
Thân thể đẹp đẽ của Ngài: biểu
thị cho Báo thân Phật.
Một cái đầu: biểu thị cho sự BẤT
NHỊ của Bản tính quyệt đối.
Bốn tay: biểu thị cho 04 tâm vô lượng: Từ,
Bi, Hỷ, Xả.
Hai chân xếp bằng trong tư thế Kim Cương
Tọa: biểu thị cho tính NHẤT NHƯ của Sinh
tử và Niết Bàn.
Ngồi trên hoa sen ngàn cánh: biểu thị cho tâm Đại
Bi.
Vành trăng dung chứa Tôn Tượng: biểu thị cho
TÍNH KHÔNG (‘Sùnyatà).
Hai tay chắp ở tim và cầm viên ngọc: biểu
thị cho tâm Bồ Đề, viên ngọc như ư ban cho
những thành tựu tối cao và thông thường.
Hai tay c̣n lại: Tay phải cầm một xâu chuỗi pha
lê biểu thị cho ḷng Từ Bi không ngưng nghỉ
của Ngài trải dài như một ḍng không dứt qua trái
tim của mỗi một chúng sinh. Tay trái cầm một hoa
sen trắng biểu thị cho sự thanh tịnh không
biến đổi của Trí Tuệ của Ngài, nở
trọn vẹn trên bùn lầy sinh tử.
Viên ngọc: biểu thị cho Trí Tuệ đại
lạc như phương tiện.
Hoa sen: biểu thị cho trí Tuệ Tính Không như sự
chứng ngộ.
_ Từ các truyền thống này, các
vị Đạo sư Mật giáoTây Tạng đều
nhận định rằng: “OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ là tinh túy Trí
Tuệ của chư Phật, là tinh hoa của 05 cơi
Phật và các vị Thượng sư. Văn tự
Thần chú của 06 âm vận thể hiện là nguồn
gốc của tất cả sự thiện mỹ, căn
nguyên của mọi sự lợi lạc tốt lành, hoàn
toàn viên măn con đường thẳng tắt vượt
qua Thế gian, thành tựu sự giải thoát Xuất
Thế gian”.
Để cho nhận định trên
được rơ ràng hơn, các vị Đạo sư Tây
Tạng đă minh họa Lục Tự Đại Minh Chú
như sau:
OMÏ ( )
màu trắng, âm vận thể hiện Thánh Đức
của Quán Thế Âm Bồ Tát được phát ra từ
Thần lực du hư tự tại. OMÏ là tướng
thể của Thiền định viên măn, hằng diệt
trừ tính kiêu ngạo, nhất là tính tự cao của cơi
Trời, v́ đó là cội nguồn phát sinh phiền năo sa
đọa (rơi xuống các cơi thấp hơn). OMÏ
tiêu trừ kiêu ngạo và nghiệp phiền năo. OMÏ
đồng với h́nh tướng và công năng uy lực
của vua trời Đế Thích (Indra), vị Thánh của
hàng Trời. OMÏ thể hiện cho B́nh Đẳng Tính Trí
(Samanta jnơàna) hướng dẫn chúng sinh vượt qua
phương Nam vào thế giới Chúng Bảo Trang Nghiêm
của Đức Phật Bảo Sinh (Ratna Sambhava).
MA
( ) màu xanh
lục, âm vận tiêu biểu cho công hạnh, phát sinh
từ năng lực Thần thông Từ Bi vô ngại của
Quán Thế Âm Bồ Tát, thị hiện trước tất
cả chúng sinh. MA là tính thể của Nhẫn Nhục Ba La
Mật, có công năng tiêu trừ tính ganh ghét đố
kỵ đặc biệt đang ngự trị cơi A Tu La
(Asura). MA đồng hóa với Tướng và Dụng
của Ngài Dũng Hiền (V́ra Bhadra hay Vemacitra ), vị
Thánh trong hàng A Tu La. MA thể hiện cho ánh sáng của Thành
Sở Tác Trí (Krïtya musïtïhàna jnơàna) hướng dẫn chúng
sinh vượt qua phương Bắc vào thế giới
Thanh Tịnh Diệu Hạnh Thành Tựu của Đức
Phật Bất Không Thành Tựu (Amogha siddhi).
NÏI ( ) màu vàng, âm vận
biểu hiện cho Trí Tuệ bao hàm Thân, Khẩu, Ư,
Đức và Hạnh. NÏI hoán chuyển bản tính
vượt qua Thế gian luân hồi khổ năo. NÏI biểu
hiện cho năng lực Thần thông Du Hư rộng lớn
bao trùm tất cả, tùy duyên thị hiện của
Đức Đại Bi Quán Thế Âm. NÏI là tính thể
của Tŕ Giới Ba La Mật, hay diệt trừ sự si
mê, là nguyên nhân đưa đến sự sinh già bệnh
chết của loài người. NÏI đồng với h́nh
tướng và công hạnh của Đức Thích Ca Mâu Ni
(‘Sàkya Munïi) hóa thân của những vị Thánh trong loài
người. NÏI thể hiện ánh sáng Trí Tuệ Thần
thông diệu dụng, dẫn dắt chúng sinh vào thế
giới Thanh Tịnh Viên Măn của Đức Phật
Thứ Sáu là Ngài Chấp Kim Cương (Vajra dhàra – Tŕ Kim
Cương).
PAD ( )
màu xanh da trời, âm vận tiêu biểu cho bản thân (THÂN)
, thể hiện Thần thông du hư b́nh đẳng vô tận
của Đức Đại Bi Quán Thế Âm. PAD là tính
thể của Tinh Tiến Ba La Mật có công năng
diệt trừ sự vô minh, là nguyên nhân đưa
đến các sự khổ đau của cơi Súc sinh. PAD
đồng với h́nh tướng và công hạnh của
Ngài Sư Tử Dũng Mănh (Simïha Ugra hay Dhruva simïha ), vị
Thánh trong cơi Súc sinh. PAD là ánh sáng Pháp giới Thể Tính Trí
(Dharma dhàtu parakrïti jnơàna) hướng dẫn 06 loài chúng sinh
đi vào Thế Giới Trung Ương Mật Nghiêm
của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana).
ME ( ) màu đỏ, âm vận
của ngôn ngữ (KHẨU) biểu hiện cho năng
lực Thần thông an lạc vô tận của Đức
Đại Bi Quán Thế Âm ban bố cho tất cả chúng
sinh. ME là tính thể của Bố Thí Ba La Mật có công
năng tẩy trừ tính tham lam, tham dục, keo kiệt là
nguồn gốc sinh ra sự khổ năo đói khát của
loài Ngạ Quỷ. ME đồng hóa với sắc thân và
công hạnh của Tiêu Diện Đại Sĩ (Diệm
Khẩu – Jvala Mukha ) vị Thánh trong cơi Ngạ Quỷ. ME là
ứng hiện của ánh sáng Diệu Quán Sát Trí (Pratyave
Ksïana jnơàna) hướng dẫn chúng sinh vượt qua
phương Tây đi vào Thế giới Cực Lạc
của Đức Phật A Di Đà (Amitàbha).
HÙMÏ ( ) màu đen, âm
vận của ư, biểu hiện cho năng lực Thần
thông du hư của Tâm Từ vô tận mà Đức Quán
Thế Âm đă nh́n tất cả chúng sinh như con một
của Ngài. HÙMÏ là tính thể của Trí Tuệ Ba La Mật,
có công năng tiêu trừ tính giận dữ và thù hận là
nguyên nhân đưa đến quả báo phải chịu
cực h́nh khổ năo ở cơi Địa ngục. HÙMÏ
đồng với sắc tướng và công hạnh
của Đức Diêm La Pháp Vương (Yama dharma Ràjà hay
Dharmaràja ), vị Thánh cứu tinh cho chúng sinh trong cơi
Địa ngục. HÙMÏ là ứng hiện của ánh sáng
Đại Viên Kính Trí (Adar’sa jnơàna) hướng dẫn chúng
sinh vượt qua phương Đông đi vào Thế
giới Diệu Lạc của Đức Phật Bất
Động (Aksïobhya).
Ngoài ra, các danh sư Tây Tạng c̣n cho
biết rằng 06 chữ này có rất nhiều nghĩa lư nhiệm
màu bí mật, không ai có thể hiểu biết hết
được. Tuy nhiên, do câu chú này quá thông dụng lại
có công năng vô cùng màu nhiệm nên được nhiều
nhà Luận giải giải thích theo sự hiểu biết
của riêng ḿnh. Tựu trung đối với giáo
đồ Phật giáoTây Tạng th́ Lục Tự
Đại Minh Chú đă trở thành câu chú tiêu biểu cho Tâm
Đại Bi và sự ân sủng của tất cả
chư Phật Bồ tát, nhất là ân sũng của
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát nhằm cứu
độ muôn loài thoát khỏi mọi ách nạn khổ
đau, đồng thời nhân dân Tây Tạng rất tin
tưởng rằng Bồ Tát Quán Thế Âm là một
vị Phật của ḷng Bi mẫn, là vị Thần
hộ mệnh bậc nhất của dân tộc (Chenresi –
Thần Hộ mệnh của Núi Tuyết).
Ngày nay, khắp mọi nơi ở Tây
Tạng: trong những điệp khúc cầu nguyện, trên
những ḥn đá ở những đỉnh núi cao, trên
những bia đá, trên những lá cờ, trên vật khí
chuyển pháp luân, trên đôi môi của dân chúng … đều
có thể nhận thấy sự hiện hữu của Minh
Chú này.
_ Theo truyền thống Hoa văn th́
Lục Tự Đại Minh Chú chỉ xuất hiện
trong bài Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn, Nghi thức Ngũ Bộ
Chú, Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương …
nhưng bài chú này lại được truyền bá rất
rộng răi trong nhân gian đến nỗi hầu nhưng
người ta chỉ xem đó là câu chú b́nh thường
chuyên trừ tà ma, giải nạn chướng, trị
liệu bệnh tật … mà không hề hay biết
đến tính chất vi diệu rất bí mật của
Lục Tự Đại Minh Chú.
Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo
Vương (Karanïdïe Vyuha Sùtra) ghi rằng: “Thiện nam
tử ! Sáu chữ Đại Minh Đà La Ni đó là Bản
Tâm vi diệu của Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát.
Nếu biết Bản Tâm vi diệu ấy, tức biết
giải thoát”.
Đức Phật nói: “
Nếu có người thường thọ tŕ 06 chữ
Đại Minh Đà La Ni th́ khi tŕ tụng có 99 căng già sa
số Như Lai nhóm hội, có vô số Bồ Tát nhiều như
vi trần nhóm hội, cũng có chúng Thiên tử ở 32 cơi
Trời cũng đều nhóm hội. Lại có 04 vị
Đại Thiên Vương ở 04 phương làm hộ
vệ. Có Ta Nga La Long Vương (Sàgara Nàgaràjà), Vô Nhiệt
Năo Long Vương (Anavatapta Nàgaràja), Đắc Xoa Ca Long
Vương (Taksïaka Nàgaràja), Phạ Tô Chỉ Long Vương
(Vàsuki Nàgaràja). Như vậy, vô số trăm ngàn câu chi na
khế đa Long Vương đều đến hộ
vệ người thọ tŕ ấy. Lại ở khắp
trong cơi đất, hết thảy các Dược Xoa
(Yaksïa), Hư Không Thần (Àka’sa Devatà) đến hộ
vệ.
Thiện nam Tử ! Trong
lỗ chân lông Ngài Quán Tự Tại có trăm ức Như
Lai an trụ và khen ngợi người tŕ tụng ấy:
“Lành thay ! Lành thay Thiện nam tử ! Ngươi hay
được Như Ư Ma Ni Bảo, 07 đời gịng
họ của ngươi sẽ được giải
thoát”.
Thiện nam tử !
Người Tŕ Minh kia, ở trong bụng có các loài trùng th́
chúng sẽ được địa vị Bất Thoái
Chuyển của Bồ Tát. Nếu có người lấy 06
chữ Đại Minh Đà La Ni này mà đeo giữ nơi
thân, trên đỉnh. Thiện nam tử ! Nếu thấy
được người đeo giữ ấy th́ cũng
như thấy Thân Kim Cương, như thấy Tháp Xá
Lợi, như thấy Đức Như Lai, như thấy
một trăm ức Trí tuệ.
Nếu có Thiện nam Tín
nữ nào hay y Pháp, niệm 06 chữ Đại Minh Đà La
Ni này th́ người đó sẽ được biện
tài vô ngại, được Trí Tuệ Thanh Tịnh,
được Đại Từ Bi. Như vậy,
người đó ngày ngày được viên măn công
Đức của 06 Pháp Ba La mật Đa. Người
đó được Trời Chuyển Luân Thánh Vương
quán đỉnh. Khi người ấy nói, hơi từ
trong miệng phát ra chạm đến thân người nào
th́ người được chạm ấy phát khởi
Tâm Lành xa ĺa Tâm Sân độc, sẽ được
địa vị Bất Thoái Chuyển của Bồ Tát và
mau chóng chứng đắc Vô Thượng Bồ
Đề Chính Đẳng Chính Giác.
Nếu người đeo
giữ và thọ tŕ, lấy tay chạm đến thân
người khác th́ người được rờ
chạm ấy mau được Bồ tát vị. Nếu
kẻ nam, người nữ, con trai, con gái cho đến
dị loại Hữu T́nh khác thấy được
người đeo và thọ tŕ ấy th́ tất cả mau
được Bồ Tát vị. Người như thế
vĩnh viễn không c̣n chịu khổ: sinh, già, bệnh,
chết, khổ thương nhau xa ĺa … mà được
sự niệm tụng tương ương không thể
nghĩ bàn. Nay như thật mà nói lên 06 chữ Đại
Minh Đà La Ni vậy!”.
Đức Phật lại
bảo rằng: “Nếu có người biên chép 06 chữ
Đại Minh Đà La Ni này th́ đồng với chép 84.000
Pháp Tạng. Nếu có người lấy vàng báu cơi
Trời tạo h́nh tượng Như Lai Ứng Chính
Đẳng Giác, số như vi trần, làm như vậy
rồi, nói một ngày khánh lễ tán dương cúng
dường, chỗ thu hoạch quả báo không bằng
đă được quả Công Đức biên chép một
chữ trong 06 chữ Đại Minh Đà La Ni ấy,
đă khéo an trụ nơi Đạo Giải Thoát không
thể nghĩ bàn.
Nếu Thiện nam và
Thiện nữ, y Pháp niệm 06 chữ Đại Minh
Đà La Ni này th́ người đó sẽ đắc Tam Ma
Địa gọi là: Tŕ Ma Ni Bảo Tam Ma Địa,
Quảng Bác Tam Ma Địa, Thanh Tịnh Địa
Ngục Bàng Sinh Tam Ma Địa, Kim Cương Giáp Trụ
Tam Ma Địa, Diệu Túc B́nh Măn Tam Ma Địa,
Nhập Chư Phương Tiện Tam Ma Địa,
Nhập Chư Pháp Tam Ma Địa, Quán Trang Nghiêm Tam Ma
Địa, Pháp Xa Thanh Tam Ma Địa, Viễn Ly Tham Sân Ô
Tam Ma Địa, Vô Biên Tế Tam Ma Địa, Lục Ba La
Mật Môn Tam Ma Địa, Tŕ Đại Diệu Cao Tam Ma
Địa, Cứu Chư Bố Úy Tam Ma Địa,
Hiện Chư Phật Sát Tam Ma Địa, Quán Sát Chư
Phật Tam Ma Địa … được 108 món Tam Ma
Địa như vậy”.
Kinh này lại ghi rằng: Trừ Cái
Chương ! Tất cả Như Lai Mẫu Bát Nhă Ba La
Mật Đa tuyên nói 06 chữ Đại Minh Vương như
thế. Tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác
và các Bồ Tát, tất cả đều cung kính chắp tay
làm lễ. Thiện nam tử ! Ở trong Pháp Đại
Thừa th́ đây là tối thượng tinh thuần vi
diệu”.
Lại nữa, Kinh Đại Thừa
Trang Nghiêm Bảo Vương c̣n ghi nhận quá tŕnh hóa
độ các chúng sinh trong 06 nẻo luân hồi của
Đức Đại Bi Quán Tự tại và minh họa công
đức uy thần, năng lực cứu độ vi
diệu của Ngài đồng thời khẳng
định rằng mọi công đức uy thần mà Ngài
có được đều là thành quả của sự
chứng đắc Lục Tự Đại Minh Chú.
Dựa trên công đức uy thần,
năng lực hóa độ các chúng sinh trong 06 nẻo luân
hồi của Đức Đại Bi Quán Tự Tại,
hệ Đông Mật của Nhật Bản đă ghi
nhận 06 vị Quán Âm là 06 Hóa Tôn của 06 Đạo.
1.
Hóa Tôn Địa Ngục Đạo là: Thánh Quán Âm (Àryà
Avalokite’Svara)
2.
Hóa Tôn Ngạ Quỷ Đạo là: Thiên Thủ Quán Âm (Sahasra
Bhùja Avalokite’Svara)
3.
Hóa Tôn Súc Sinh Đạo là: Mă Đầu Quán Âm (Hàyagriva
Avalokite’Svara)
4.
Hóa Tôn Tu La Đạo là: Thập Nhất Diện Quán Âm (Eka
Da’sa Mukha Avalokite’Svara)
5.
Hóa Tôn Nhân gian Đạo là: Chuẩn Đề Quán Âm (Cu
dhe Avalokite’Svara)
6.
Hóa Tôn Thiên Đạo là: Như Ư Luân Quán Âm (Cinta Manïi Cakra
Avalokite’Svara)
Hệ Thai Mật của Nhật
Bản th́ thay Chuẩn Đề Quán Âm bằng Bất Không
Quyến Sách Quán Âm (Amogha pà’sa Avalokite’svara).
_ Ma Ha Chỉ Quán (quyển 2, phần
Thượng) cũng ghi nhận 06 vị Quán Âm là:
1.
Đại Bi Quán Thế Âm: phá 03 chướng của
nẻo Địa Ngục.
2.
Đại Từ Quán Thế Âm: phá 03 chướng của
nẻo Ngạ Quỷ.
3.
Sư Tử Vô Úy Quán Thế Âm: phá 03 chướng của
nẻo Súc Sinh.
4.
Đại Quang Phổ Chiếu Quán Thế Âm: phá 03
chướng của nẻo Tu La.
5.
Thiên Nhân Trượng Phu Quán Thế Âm: phá 03 chướng
của nẻo Nhân Gian.
6.
Đại Phạm Tấn Tật Quán Thế Âm: phá 03
chướng của nẻo Thiên Giới.
Tóm lại, qua mọi truyền thống
về Lục Tự Đại Minh Chú, các bậc
Đạo sư Mật Giáo đều công nhận Minh Chú
này chính là biểu tượng của Bản Tâm Đại
Từ Đại Bi của Đức Quán Thế Âm Bồ
Tát và cũng là Trí tuệ tinh túy của tất cả
chư Phật 10 phương, hàm chứa mọi
phước báo của Thế Gian và Xuất Thế Gian, nên
phải dốc sức tin kính tŕ niệm, y Pháp phụng hành
để mau chóng cùng nhau vượt thoát mọi sự
khổ đau, chấm dứt ṿng sinh tử luân hồi.
VÀI Ư NGHĨA CƠ BẢN CỦA
LỤC TỰ ĐẠI MINH CHÚ
I. Quan điểm của Mật giáo Ấn Độ:
Theo truyền thuyết của Ấn
Độ, khi trời đất mới h́nh thành, từ
trong lỗ rốn của Tỳ Lữu Noa (Visïnïu) sinh ra
một hoa sen, bên trong hoa sen có một vị Phạm Thiên
ngồi Kiết già và sáng tạo ra vạn vật. Một
trong các sự bí mật của sự sáng tạo là âm thanh
(svara) hay sự rung động. Do sự rung động này
mới phát sinh ra bản tính của các sự vật và
hiện tượng sinh hoạt. Tỳ Lữu Noa và vị
Thần phối ngẫu đều dùng hoa sen làm biểu
tượng.
Kinh Vệ đà có ghi: “Vũ trụ
tạo lập do sự phối hợp các âm thanh”.
Chân dogya Upanisïad ghi rằng:
Bản
thể của vạn vật là đất
Bản
thể của đất là nước
Bản
thể của nước là cây cối
Bản
thể của cây cối là người
Bản
thể của người là lời nói
Bản
thể của lời nói là thi ca Vệ đà.
Bản
thể của thi ca Vệ Đà là âm nhạc Vệ Đà
Bản
thể của âm nhạc Vệ Đà là Udǵtha (Tên gồm 3
chủng âm của Thượng đế).
Udǵtha (OMÏ) là bản thể tối
hảo, tối cao trong các bản thể và xứng đáng
với vị thế cao nhất: vị thế thứ tám.
Như vậy, OMÏ là phần tinh tuư, là
chủng tử âm của vũ trụ, là tiếng thần
diệu, là vũ trụ lực, là tâm thức thâm nhập
tất cả.
Dựa vào năng lực sáng
tạo này, hệ thống Mật giáo Ấn Độ
đă dùng Lục Tự Đại Minh chú là phương
tiện để chế ngự và chỉ huy luồng sinh
lực trong bản thân nhằm ḥa nhập vào nguồn sinh
lực tối cao tối thượng của vũ trụ,
thọ nhận niềm hạnh phúc hoàn hảo nhất và
đạt được sự sáng tạo tối
thượng.
![]()
Theo hệ thống này th́ OMÏ
( ) được kết hợp
bởi 3 âm A, U, MA. Trong đó, A ( ) là
Visïnïu tức là Đấng Pḥng hộ bảo toàn. U
( ) là ‘Siva tức là Đấng
Tồi phá hủy diệt. MA (
) là
Bràhma tức là Đấng sáng tạo. Do đó, âm OMÏ là tên gồm
3 chủng tử âm của Thượng Đế (Udǵtha)
biểu thượng cho Tam Thần nhất thể (Trimurti)
là nguồn sinh lực tối cao tối thượng
của vũ trụ.
MANÏI (fim ) là viên
ngọc báu có khả năng dứt trừ mọi tai
nạn bệnh tật và hay sinh ra mọi báu làm thỏa măn
tất cả nhu cầu. V́ thế, MANÏI c̣n được
gọi là Đá Vua hay MANÏI c̣n biểu thị cho quyền
lực tối thượng.
![]()
PADME
( ) là bên trong hoa sen.
Hoa sen tượng trưng cho các Luân xa (Cakra) là trung khu tích
tụ năng lực. Do đó, PADME là năng lực
tiền ẩn trong các Luân xa.
![]()
![]()
HÙMÏ ( )
được kết hợp bởi 3 âm H , Ù, MÏ .Trong
đó, H ( ) là âm của
hơi thở, là hợp khí của Bản ngă kết
hợp với sự sống động.Ù
( ) là âm của chiều sâu,
là ngưỡng cửa của im lặng. MÏ ( ) là
âm kéo dài hướng nội tâm, là âm đứng giữa
nguyên âm và phụ âm, là sự ḥa hợp không tiêu tán giữa
phụ âm và nguyên âm. Chính v́ lư do đó mà nó được
tŕnh bày bằng một âm tiêu dưới h́nh thức
một dấu chấm, hay một giọt hoặc một
ṿng trai nhỏ, tức là biểu tượng của
nhất thể, của tuyệt đối, của cái
bất di bất dịch, của cái vượt bên trên
đối đăi. Do đó, HÙMÏ là sự sống
động, sự thành tựu trong đời sống cao
thượng.
Như vậy, OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ
được diễn dịch là: “Khi một cá nhân nắm
vững được sự sống động (tức
là nguồn sinh lực tiềm ẩn trong thân) th́ sẽ khai
mở được năng lực tiềm ẩn trong các
Luân xa và đạt được quyền năng sáng
tạo tối thượng để ḥa nhập vào
luồng sinh khí tối cao của vũ trụ, thọ
hưởng niềm an lạc vĩnh cửu.”
Theo hệ thống này th́ Thần Visïnïu
tức là Trí tuệ cư ngụ nơi Cực Dương
ở đỉnh sọ năo. Thiên nữ Kunïdïalini biểu
thị cho năng lực sáng tạo ra vũ trụ cư
ngụ nơi Cực Âm ở đốt xương
sống cuối cùng. Nếu người hành Thiền
Định sau khi điều ḥa hơi thở, chế
ngự được các quan năng, tập trung ư chí tŕ
niệm Thần chú đánh thức Thiên nữ Kunïdïalini
rồi dẫn nàng vượt qua các Luân xa đến
phối ngẫu với Visïnïu. Khi ấy, Hành Giả sẽ
đạt được trạng thái xuất thần
nhập hóa, ḥa tan làm một với Đại ngă (Bràhman –
Phạm Thể).
Như Munïdïara Upanisïad có ghi:
“Đă dùng vũ khí lớn là Thánh Học
Bí Mật để làm cung
Người ta đặt vào đó cái
mũi tên nhọn là sự Thiền Định liên tục
không dứt
Người ta giương cung với tinh
thần tràn đầy cái ấy (Tâm thức phổ quát hay
Bràhman)
Này chàng trai cao quư ! Nó sẽ xuyên qua mục
đích của nó là sự bất diệt.
Âm Thiêng là Cung, Mũi tên là Ngă, Bràhman là
đích
Nhờ sự chú ư, nó sẽ xuyên qua
Phải hiệp với nó như mũi tên
đến đích”
Một khi Hành giả đạt
đến trạng thái hợp nhất với Đại
Ngă (Hợp nhất chứ không đồng hóa với
Đại Ngă) th́ Hành giả vượt thoát khỏi
mọi sự trói buộc của Thế Gian Huyễn
ảo (Màyà) và trở thành Bràhman, có cái Đại Giác và
năng lực của Bràhman.
II. Quan điểm của Mật giáo Tây
Tạng:
1. Theo ư nghĩa phổ truyền th́:
OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ được dịch là “Quy y viên ngọc
báu trong hoa sen” và được người Tây Tạng
diễn tả là: Khi ḷng Đại Bi (Màhà Karunïi) hoàn toàn
khai mở như một hoa sen (Padme) vươn lên khỏi
vũng bùn và bắt đầu nở hoa th́ hương
Từ (Maitriya) của Trí Tuệ (Manïi) bắt đầu
tỏa ra khắp nơi và mọi hành động của
Thân, Khẩu, Ư (OMÏ) mới thực sự phản ánh
trọn vẹn đúng như cái ư nghĩa cao đẹp
nhất của sự sống (HÙMÏ).
Theo
truyền thống này th́:
OMÏ
( ) có nghĩa
Quy mệnh hay là 3 nghiệp Thân Khẩu, Ư.
MANÏI (
) là viên ngọc Như Ư trong Trí tuệ sáng chói.
PADME
( ) là bên trong
hoa sen, hay ḷng Đại Bi nảy nở như hoa sen ló
khỏi vũng bùn.
HÙMÏ
( ) là ư nghĩa
cao đẹp của sự sống.
Ngoài
cách diễn dịch trên, nhân dân Tây Tạng c̣n nhận
định ư nghĩa của câu chú 6 chữ này là: “Khi ḷng
Từ Bi phát triển trọn vẹn như một bông sen
vươn cao khỏi vũng bùn Vô Minh th́ ánh sáng trí tuệ
mới chiếu sáng rực rỡ được”.
2.
Theo ư nghĩa phổ truyền khác th́:
OMÏ
: trượng trưng cho sự ḥa hợp của Trí
Tuệ và Thân, Khẩu, Ư đă giác ngộ.
MANÏI
: Ngọc Như ư, là viên ngọc quư được cầm
nơi tay của Đại Bồ Tát, tượng trưng
cho sự thanh tịnh.
PADME
: Là hoa sen, tượng trưng cho người đă
giải thoát tự tại ngoài sinh tử luân hồi. V́ hoa
sen mọc từ bùn nhơ nhưng không bị nhiễm bùn,
ám chỉ Đại Bồ Tát không c̣n bị ràng buộc
bởi Nghiệp Báo và Sinh tử. Ngài đă hoàn toàn tự
tại ngoài ṿng khổ đau và luân hồi nhưng Ngài không
an trụ cho riêng Ngài.
HÙMÏ
: Tượng trưng cho Trí Tuệ thành tựu siêu việt
của chư Phật, có tác động mănh liệt xóa tan
sự khổ năo của Thế Gian.
Truyền
thống này c̣n phối hợp 06 chữ của Lục
Tự Đại Minh Chú với 06 Ba La Mật là:
OMÏ
: Biểu tượng cho sự viên măn Thiền Định
Ba La Mật (Dhyàna pàramita), dứt bỏ Nhân luân hồi
ở Thiên Giới.
MA:
Biểu tượng cho sự viên măn Nhẫn Nhục Ba La
Mật (Ksïànti pàramita) dứt bỏ Nhân luân hồi ở Tu
La Giới.
NÏI
: Biểu tượng cho sự viên măn Tŕ Giới Ba La
Mật (‘Śla pàramita) dứt bỏ Nhân luân hồi ở Nhân
Gian Giới.
PAD:
Biểu tượng cho sự viên măn Tinh Tiến Ba La
Mật (V́rya pàramita) dứt bỏ Nhân luân hồi ở Súc
Sinh Giới.
ME
: Biểu tượng cho sự viên măn Bố Thí Ba La
Mật (Dàna pàramita) dứt bỏ Nhân luân hồi ở
Ngạ Quỷ Giới.
HÙMÏ
: Biểu tượng cho sự viên măn Trí Tuệ Ba La
Mật (Prajnơà pàramita) dứt bỏ Nhân luân hồi ở
Địa Ngục Giới.
Như
vậy, truyền thống này dùng Công Đức uy thần và
năng lực Thần Thông hóa độ vi diệu của
Đức Đại Bi Quán Thế Âm mà diễn tả ư
nghĩa của Lục Tự Đại Minh Chú .
3.
Theo quan điểm khác th́:
OMÏ
: là huyền âm sáng tạo nên không thể giải thích hay
nghĩ bàn.
MANÏI
: Tượng trưng cho cơi Niết Bàn (Nirvànïa)
PADME
: Tượng trưng cho Thế giới Vô Minh hay
Địa Ngục (Sïamsara: ṿng luân hồi)
HÙMÏ
: là huyền âm thể nhập.
Do
đó, Lục Tự Đại Minh Chú minh họa cho tư
tưởng: “ Khi Vô Minh th́ Thế Gian là sự đau
khổ, khi Giác ngộ th́ Thế Gian chính là cơi Niết Bàn.
Cũng như viên ngọc quư nằm trong hoa sen th́ Niết
Bàn thật ra không ở đâu xa mà chính là Thế giới Vô
Minh này”.
4.
Lại có quan điểm cho rằng:
OMÏ
: là tiếng kêu cứu của chúng sinh đang đau
khổ.
MANÏI
: là ngọc quư hay Trí tuệ.
PADME
: là hoa sen hay Từ Bi.
HÙMÏ
: là phát tâm cao thượng, cương quyết phát
triển hai đức tính Từ Bi và Trí Tuệ để
thoát khỏi sinh tử luân hồi.
Do
đó, Lục Tự Đại Minh Chú được
diễn giải là: “Khi nghe thấy tiếng kêu cứu
của chúng sinh th́ chư Phật Bồ tát thương xót,
nên đem giáo pháp ra truyền dạy để cứu
vớt họ. Muốn thoát khỏi ṿng luân hồi khổ
đau th́ phải biết phát triển Trí Tuệ và chỉ
có Trí Tuệ mới đem lại sự hiểu biết
một cách chính xác như thật, có nh́n rơ ràng mọi
vật th́ mới biết đâu là thật, đâu là
giả để t́m đường giải thoát. Nhưng
có Trí Tuệ vẫn chưa đủ mà phải biết
phát triển cả ḷng Từ Bi nữa. V́ thiếu Từ
Bi, người tu hành sẽ trở nên khô khan khắc
khổ, chán ngán Thế gian rồi khởi Tâm phân biệt mà
bị vướng mắc. Như viên ngọc sáng cần có
hoa sen đỡ lấy che chở th́ mới vươn lên khỏi
vũng bùn và chiếu sáng được. V́ thế, Từ
Bi và Trí Tuệ là hai đức tính cần có”.
Do
vậy, khi thấy sự đau khổ của Thế gian,
Hành giả phải biết tu tập phát triển Trí
Tuệ và Từ Bi để giải thoát cho ḿnh và
người khác.
5.
Trong quyển “Kindness Clarity and in sight” (Thiện Tri
Thức xuất bản ) Đức DaLai LaMa thứ 14 (Tezin
Gyatso) giải thích 06 chữ của Lục Tự
Đại Minh Chú là:
-
OMÏ : tạo bằng 03 chữ A , U , M tượng
trưng cho Thân, Ngữ và Tâm thức bất tịnh của
Thiền giả (Người hành Thiền), chúng cũng
tượng trưng cho Thân, Ngữ và Tâm Thức thanh
tịnh tuyệt vời của một vị Phật.
-
MANÏI : viên ngọc, tượng trưng những yếu
tố của phương tiện; ư định vị tha
đạt đến giác ngộ, Đại Bi, Đại
Từ như một viên ngọc chấm dứt sự nghèo
khổ. Ư định vị tha được giác ngộ
và có quyền lực loại bỏ sự thống khổ
và những khó khăn trắc trở của ṿng sinh tử
và sự giải thoát riêng cho cá nhân ḿnh. Như một viên
ngọc lấp đầy những nguyện vọng
của những chúng sinh, ư định vị tha
được giác ngộ thành tựu những mong mỏi
của họ.
-
PADME : là hoa sen, tượng trưng cho Trí Tuệ. Bởi v́
cũng như hoa sen mọc lên trong bùn mà không dơ nhiễm
bởi sự bất tịnh của bùn. Trí Tuệ có
quyền lực làm cho chúng ta trọn vẹn. C̣n khi không có
nó, chúng ta rơi vào mâu thuẫn.
-
HÙMÏ : dấu hiệu hợp nhất của phương
tiện và Trí Tuệ để cho sự tịnh hóa hoàn
toàn.
Sự
không phân biệt là sự kiện một Tâm thức mà trong
đó phương tiện và Trí Tuệ trong h́nh thức hoàn
măn của chúng, kết hợp với nhau thành một
thực thể không phân biệt. HÙMÏ là âm chủng tự
của A Súc Bệ Phật (Aksïobhya – Bất Động )
bất động bất loạn v́ không có ǵ có thể tác
động.
Tóm
lại, qua con đường thực hành, trong sự
phối hợp không thể phân chia của phương
tiện và Trí Tuệ, chúng ta có khả năng làm cho Thân,
ngữ, Tâm bất tịnh của ḿnh thành Thân, Ngữ, Tâm
siêu việt của một vị Phật. Phật Tính
(Buddhatà) không thể t́m được ở đâu khác ngoài
tự nơi ḿnh v́ những yếu tố cần thiết
cho sự thành tựu của nó th́ ở nơi chúng ta.
6.
Theo Đạo sư Tang Tong Gyalbo (Thang stongr Gayalbo) th́
Lục Tự Đại Minh Chân ngôn được coi là sự
chứa đựng, sự tập trung của tất
cả năng lực thiêng liêng phát ra từ ḷng Đại
Bi và sự đại diệu dụng của Đức
Quán Thế Âm Bồ Tát. Trong đó:
OMÏ
: bao gồm 05 loại h́nh tượng và Trí Tuệ của
Phật.
MANÏI
: có nghĩa là viên ngọc báu (Bảo châu)
PADME
: có nghĩa là hoa sen ( Liên Hoa)
Hợp
hai nghĩa này với nhau th́ MANÏI PADME có nghĩa là: “Ngài là
Bậc Thủ Tŕ Liên Hoa và Bảo Châu” và đây cũng chính
là Biệt hiệu khác của Quán Âm.
HÙMÏ
: có công năng bảo hộ chúng sinh trong 06 nẻo.
Như
vậy, ư nghĩa của Lục Tự Chân ngôn là: “Hỡi
Bậc Đạo sư của 05 Phật Thân và 05 Trí
Như Lai, Bậc Thủ Tŕ Liên Hoa và Bảo Châu! Xin Ngài hoan
hỷ gia hộ cho chúng sinh trong 06 nẻo vượt qua các
thống khổ”.
Đạo
sư Tang Tong Gyalbo nhấn mạnh rằng Chân ngôn này có
nhiều sự giải thích khác nhau. Tuy nhiên khi Tŕ Tụng
không cần thiết phải nghĩ tới tất cả ư
nghĩa ấy, chỉ một âm thanh của Lục Tự
này vốn hàm chứa sức mạnh đơn thuần
cố hữu sẽ tự nhiên truyền đạt Trí
Tuệ và Từ Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát cho Hành
giả và từ đó, qua Hành giả, nó sẽ truyền
đạt đến tất cả chúng sinh.
III.
Quan điểm của Mật giáo Trung Hoa và Nhật
Bản:
Theo
truyền thống của Mật Giáo Trung Hoa và Nhật
Bản, hầu như các bậc Đạo Sư chỉ
chú ư vào phương pháp Tu Tŕ, thực hành Lục Tự
Đại Minh Chú chứ không giải thích ư nghĩa của
nó. Thế nhưng, qua quá tŕnh tham khảo, chúng tôi nhận
thấy các bậc Đạo Sư Mật Giáo lại
rải rác giải thích ư nghĩa của từng câu chữ
trong Lục Tự Đại Minh Chú, nên mạnh dạn
kết hợp thành nghĩa thú như sau:
_ OMÏ (輆 )
được kết hợp bởi 03 chữ A , U , MA . Trong
đó:
A (狣) là “Tất cả Pháp vốn chẳng sinh” nên A mang
nghĩa của Pháp Thân (Dharma Kàya) hay Thân phổ
biến, là thực trạng giống nhau đối với
tất cả các Đấng Giác Ngộ. Tức là kinh
nghiệm về tổng thể, về thực tại siêu
nhân vị và sâu nhất của Pháp, của cơ sở
nguyên sơ. Từ đó, lưu xuất mọi trật
tự: vật lư, luân lư, tinh thần và siêu việt.
U (珈) là “Tất cả Pháp Thí Dụ chẳng thể
đắc” nên U mang nghĩa của Báo Thân (Samïbhoga Kàya) hay
Thân an lạc, là thực trạng lư tưởng hay
đặc tính Trí Tuệ của một vị Phật.
Tức là trạng huống sáng tạo của nguyên lư trong
lĩnh vực của thực tại lư tưởng và gây
cảm hứng. Từ đó, xuất phát mọi cảm
kích sâu sắc.
MA (亙) là “Tất cả Pháp Vô Ngă chẳng thể
đắc” nên Ma mang nghĩa của Hóa Thân (Nirmana kàya) hay Thân
biến hóa, là thực trạng cá vị trong đó sự
cảm kích biến thành hiện tướng và hành
động trông thấy được. Tức là sự
Thể nhập thành nhân vị hay cá vị của một
Bậc Giác Ngộ.
Do
đó, OMÏ nhiếp nghĩa vô biên, là đầu mối
của các chữ. Tức là nơi phát sinh của tât cả
các Pháp. Từ đây, OMÏ là MẪU của các Đà La Ni nên
thường đặt ở đầu câu. Ngoài ra, tùy theo
ư nghĩa của câu chú theo sau mà OMÏ biểu thị cho các
nghĩa: Tam Thân ( 03 thân), Quy Mệnh, Cúng Dường,
Cảnh giác, Nhiếp phục.
Đối
với cá nhân Hành giả, th́ OMÏ được xem là sự
hợp nhất của 03 Mật (Thân mật, Khẩu
mật, Ư mật) và tiền đề của 3 Mật là
cần phải trau dồi Thân, Khẩu, Ư cho thật trong
sạch. Chỉ khi nào giữ vững được Thân,
Khẩu, Ư th́ mới có thể bước chân vào con
được tu tŕ. V́ thế OMÏ được xem là
biểu tượng cho sức cố gắng phổ quát
của sự giải thoát, tức biểu tượng này
không phải là mục đích cuối cùng (như quan
điểm của Ấn Độ Giáo) mà chính là
điều kiện đầu tiên của chân giải thoát
và của sự chứng ngộ hoàn toàn (Quan điểm
của Phật giáo).
Lại
nữa, trong Ngũ Trí Như Lai Man Đa La của Mật
giáo Tây Tạng th́ OMÏ là chủng tử của Đức
Tỳ Lô Giá Na Như Lai (Vairocana Tathàgata) biểu
tượng cho yếu tố trong sáng của Tâm thức
đang rạng tỏa khắp Pháp giới (Dharma Dhàtu) mang
sức mạnh sáng tác và tràn đầy tính khoan dung, hỷ
xả, thông cảm mọi tư tưởng, chấp
nhận sự tự do cá nhân, định đoạt giáo
nghĩa theo tinh thần sống động không giáo
điều. Cho nên, OMÏ đại diện cho sự hiểu
biết chân chính và cũng là nền tảng của các Pháp
trong Phật giáo.
Như
vậy, trong Lục Tự Đại Minh Chú th́ OMÏ biểu
tượng cho nền tảng căn bản của sự
giải thoát, là “Sự hiểu biết chân chính”.
_
MANÏI (亙仗) là viên ngọc Như ư, biểu thị cho
giá trị vô thượng, nhờ nó mà mọi ước
nguyện được thỏa măn. Nên thông thường
MANÏI tượng trưng cho Đức Pháp Tài của chư
Phật Bồ tát, thường hay tuôn mưa tài bảo
của Thế gian và Xuất Thế gian để làm
thỏa măn các mong cầu của chúng sinh.
Tuy
nhiên, ngay từ h́nh thức ban đầu, Phật giáo
đă xác nhận viên ngọc quư là một biểu
tượng của 3 nơi chứa đựng sự giác
ngộ, đó là:
Phật
(Buddha) tức các Đấng Giác Ngộ.
Pháp
(Dharma) tức Chân lư đưa đến giác ngộ.
Tăng
(Sanơgha) tức là cộng đồng tu sĩ hay
những người đang tiến bước trên con
đường Giác ngộ.
Như
vậy, theo Phật giáo th́ giá trị vô thượng là
sự giác ngộ viên măn. Nhờ vào ánh sáng tỏa rạng
từ sự giác ngộ mà mọi tối tăm mê mờ
của Tâm Thức không c̣n khả năng trói buộc con
người ch́m đắm trong ḍng sinh tử khổ đau
nữa. Chính v́ thế cho nên người nào có
được viên ngọc quư tỏa rạng ấy th́
người đó thoát khỏi ṿng luân hồi, đồng
thời viên ngọc quư không thể t́m thấy ở bất
cứ nơi nào khác ngoài đóa sen (Padma) trong Tâm Ta.
Giáo
thuyết của Kim Cương Thừa (Vajra Yàna) xác
nhận là: “Những kẻ nào t́m thấy trong tâm có viên
ngọc Như ư th́ nó sẽ tỏa rạng Trí Tuệ giác
ngộ, lúc đó kẻ ấy sẽ biến cái Thức
sinh diệt thành cái Trí vĩnh cửu, nhận ra vô biên trong
hữu hạn và chuyển sự phiền năo luân hồi
thành Niết Bàn tự tại”.
Như
vậy, trong Lục Tự Đại Minh Chú, MANÏI không mang ư
nghĩa về phước báu mà được biểu
tượng cho Trí Tuệ sáng chói hay Phật tính bất sinh
bất diệt vốn có sẵn trong Tâm của mỗi
một chúng sinh.
_
PADME (扔榰 ) là bên trong hoa sen.
Theo
Phật giáo, hoa sen (Padma) là một h́nh ảnh biểu
tượng cho sự thuần khiết trong trắng không
hề bị ô nhiễm. Ư nghĩa căn nguyên của hoa sen
đều được diễn tả là: “Hoa sen mọc
từ bùn đen, vươn lên khỏi mặt nước,
ra khỏi mặt nước mới nở hoa và tỏa
hương thơm tinh khiết. Mặc dù sinh trưởng
từ bùn đen và nước bẩn nhưng nó không hề
bị nhiễm sự dơ bẩn của những thứ
này”.
Dựa
vào h́nh ảnh ấy, giáo đồ Phật giáo nhận
định rằng:
.)
Hạt sen: Biểu thị cho hạt giống của Tâm
Bồ Đề (Bodhicitta) cực tĩnh vốn có của
tất cả chúng sinh, dù bị trôi lăn trong bùn lầy
sinh tử nhưng không hề mất đi bản tính thanh
thịnh vốn có.
.)
Nảy nở trong bùn đen nước bẩn: Biểu
thị cho sự tinh tiến tu tập phạm hạnh
(Bràhma càrya) phát huy bản tính thanh tĩnh vốn có trong bùn
lầy chuớng ngại phiền năo và nước bẩn
sinh tử.
.)
Vươn lên khỏi mặt nước: biểu thị
cho trạng thái dứt trừ được Kiến
Hoặc phiền năo.
.)
Nở hoa: Biểu thị cho sự tu tập viên măn các
Đức Hạnh cần làm, là mọi hành động
tự lợi lợi tha dựa trên tính cách vô ngă, vô sở
chấp. Đây là trạng thái dứt trừ Tư Hoặc
phiền năo và Lậu Hoặc phiền năo.
.)
Tỏa hương thơm tinh khiết: Biểu thị cho
mùi thơm lan tỏa của Tâm Từ Bi Hỷ Xả bao
trùm mọi hoạt động Thân, Khẩu, Ư và là trạng
thái dứt trừ Trần Sa Hoặc phiền năo.
.)
Hoa nở bày gương sen và hạt sen: Biểu thị cho
Tâm thanh tĩnh (tức gương sen) là vùng đất nâng
đỡ hạt giống Bồ Đề quư báu bất
diệt (tức hạt sen) vốn có trong tâm. Đây là
trạng thái dứt trừ Vô Minh hoặc phiền năo,
tức là chuyển biến sự phiền năo luân hồi
thành Niết Bàn Tự tại.
Các
trạng thái trên đều minh họa cho hiện
tượng là khi Đức Hạnh và Trí Tuệ nảy
nở th́ nghiệp phiền năo yếu dần và mất
hẳn, tức là “Cái này sinh th́ cái kia diệt, cái này
diệt th́ cái kia sinh”. Như thế, hoa sen có thể
biểu tượng cho Tâm Thức sinh diệt của
mỗi một chúng sinh.
Bí
Tạng Kư ghi rằng: “Tâm phàm phu như hoa sen khép kín, Tâm
Thánh Nhân như hoa sen nở rộ”.
Hoặc
ghi là: “Trái tim thịt (Hrïdaya) của chúng sinh có 8 múi vốn
là hoa sen tám cánh nhiếp tŕ mạn đà là (Manïdïala :
Đạo tràng) của các Tôn”.
Theo
ư nghĩa này th́ hoa sen (Padma) biểu tượng cho Bản
Tâm của chúng sinh và Padme tượng trưng cho ư nghĩa
“Bên trong Bản Tâm”.
Như
vậy MANÏI PADME được diễn dịch là: ‘Trí
Tuệ sáng chói trong tâm của chính ḿnh” hay “Phật Tính
bất diệt trong Tâm Thức sinh diệt”.
A (狣)là “Tất cả Pháp vốn chẳng sinh” biểu
thị cho nghĩa Pháp Thân, dùng nhiếâp Lư thực tế
của tất cả Chân Như Pháp giới Tính.
HA (成) là “Tất cả NHÂN (hạt giống) chẳng
thể đắc” biểu thị cho nghĩa Báo Thân, dùng
nhiếp Giáo tất cả: Trong ngoài, lớn nhỏ,
quyền thực, hiển mật.
Ù (珅) là “ Tất cả Pháp Tổn Giảm chẳng
thể đắc” biểu thị cho nghĩa Ứng Thân,
dùng nhiếp Hạnh của tất cả: 3 Thừa, 5
Thừa.
MA (亙) được biểu diễn bằng một
điểm tṛn trên đầu chữ
( ) là “Tất cả Pháp Ngô Ngă
chẳng thể đắc” hay MA là Nhân Ngă (Atma) tức là
vọng t́nh sở chấp. Nếu ĺa được
Tổn giảm và Tăng ích liền hợp với Trung
đạo. Do đó, MA biểu thị cho Hóa thân, dùng Pháp vô
sở bất nhiếp nhất thiết quả (không có ǵ
không nhiếp được tất cả Quả).
Do
vậy, HÙMÏ biểu thị cho Tâm Bồ Đề
(Bodhicitta) của tất cả Như Lai, là nguyên lư t́nh
thương phổ biến của Tâm Giác ngộ. Hay HÙMÏ là
cửa ngơ của sự thành tựu trong đời qua
sự buông bỏ Bản Ngă và nguyện dâng hiến
trọn đời cho công việc cứu độ chúng
sinh. V́ thế, HÙMÏ c̣n biểu tượng cho cuộc
sống cao đẹp.
Lại
nữa, do Tâm Bồ Đề là biểu tượng cho
sự phá tan mọi nghiệp ác nên HÙMÏ c̣n mang nghĩa
“Tồi phá”, tức là đập tan mọi nhân Vô Minh
để hiển nghĩa Đại Không cực thiện.
V́
người phát Tâm Bồ Đề là người
nguyện hy sinh Bản Ngă của ḿnh và tận lực
thực hiện công hạnh hóa độ chúng sinh. Chính
sự hy sinh này đă tạo thành cái sức mạnh làm cho
Ma Vương (Màra Ràja) và quyến thuộc của nó
phải sợ hăi lánh xa. Do đó, HÙMÏ c̣n mang ư nghĩa
“Khủng bố”, tức là xua đuổi các loài ma ác,
quỷ dữ.
Lại
nữa, người phát Tâm Bồ Đề đă hy sinh
Bản Ngă nguyện đem lại sự an lạc tốt
lành cho tất cả chúng sinh nên tạo thành năng lực
ủng hộ bảo vệ cho họ vượt thoát
mọi chướng nạn. Do đó, HÙMÏ c̣n mang ư nghĩa
là “Hộ vệ khắp cả”.
Từ
các ư nghĩa này , nên HÙMÏ là chủng tự của các vị
Tŕ Kim Cương (Vajra Dhàra), Phẫn Nộ Minh
Vương ( Krodha Vidya Ràja ) Phẫn Nộ Thần
Vương (Krodha Devatà Ràja), hay HÙMÏ là chủng tử chung
của chư Thiên trong 3 Bộ và HÙMÏ được
biểu tượng cho đời sống cao đẹp
của Thánh Nhân.
Tóm
lại, OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ có thể được diễn
dịch là : “ Khi chân chính thức ngộ được Phật
Tính bất diệt vốn có trong Tâm của ḿnh th́ cuộc
sống cá nhân mới thực sự có ư nghĩa cao
đẹp nhất”.
Ư
tưởng này đă được Kinh Pháp Hoa (Saddharma
Punïdïarika Sùtra) minh họa qua h́nh ảnh một kẻ nghèo
khổ mang viên ngọc quư trong người mà chẳng
biết, lại cứ mải mê ch́m đắm trong
cuộc sống đói khát lang thang. Đến lúc gặp
một người tốt chỉ cho biết là ḿnh vốn
mang viên ngọc quư th́ kẻ kia chợt bừng tỉnh và
từ đó người cùng tử ấy bắt
đầu thực hiện một cuộc sống
đầy ấm êm và khoái lạc.
VÀI BÀI CHÚ TƯƠNG ĐƯƠNG VỚI LỤC TỰ ĐẠI MINH CHÚ
I.
Tỳ lô Giá Na Phật Quán Đỉnh Quang Chân ngôn:
Chân
ngôn này thường được gọi là “Quang Minh Chân
ngôn: hoặc xưng là “Tỳ Lô Giá Na Đỉnh Quang
Diệt Ác Thú Chân ngôn” hay “Bất Không Quyến Sách Tỳ Lô
Giá Na Phật Đại Quán Đỉnh Quang Chân ngôn”.
_
Kinh Bất Không Quyến Sách, quyển 28 do Ngài Tam Tạng
BẤT KHÔNG dịch riêng, có ghi là:
(
OMÏ Amogha vairocana mahà mudra manïi padme jvala pravarttaya Hùmï phatï Svàhà.
Kinh
này ghi nhận rằng: “Tất cả chư Phật trong 03
đời kiếp đều do sức tŕ Chân ngôn này mà mau
được thành Chính Giác. Thần chú này là MẪU của
vô số Bồ Tát Thánh chúng. Đấy là Đại
Thần chú, Đại Minh chú, Vô Thượng chú, Vô
Đẳng Đẳng chú. Do đấy mà có tên là Quang Minh
Chân ngôn. Chân ngôn này thường được Đức
Thích Ca Mâu Ni Như Lai cung kính lễ bái. Khi xưa, trong lúc tu
hành hạnh Nhẫn nhục, Tiên nhân Thích Ca Mâu Ni
thường tụng Chân ngôn chú này nên từ đỉnh
đầu hiện ra trăm ngàn sáng chiếu diệu Tam
Thiên Đại Thiên Thế giới mà thành Chính Giác. V́ thế
chú này gọi là Quang Minh Chân ngôn”.
“Lại
nữa, y vào lửa quang minh, hàng Địa Ngục,
Ngạ Quỷ, Súc Sinh, A Tu La đều được
giải thoát khỏi nẻo ác và mau được thành
Chính Giác. Chính v́ thế nên gọi là Quang Minh Chân ngôn”.
Do
vậy, tất cả Hành nhân, Trí giả thường có
thể tŕ Chân ngôn này. Tất cả Thiên Thần,
Địa Kỳ (Thần Đất), tất cả Linh
Quỷ …. Đều do đại nhân duyên này mà thành
Phật”.
-
Về Mật nghĩa của Chân ngôn này th́ các vị
Đạo sư chú giải là:
ÁN (OMÏ) là Mật ngôn quy mệnh Kim Cương Giới.
A mô già (Amogha) là Mật ngôn trong tâm của Như Lai,
biểu thị cho vạn đức của 03 Thân: Pháp, Báo,
Hóa.
Vĩ lô tả năng ( Vairocana) là lời Minh chú chân
thật của Như Lai.
Ma ha mẫu nại-la ma ni bát nạp-mạ (Mahà mudrà manïi
padme) là Mật Ngôn trong Tâm của 04 Bồ Tát Nhiếp Trí.
Nhập-phạ là bát-la mạt đa giă (Jvala pravartaya) là
Mật ngôn trong Tâm của các vị Bồ Tát, tất
cả chư Phật Như Lai trong 03 đời 03
kiếp.
Hồng phát-tra (Hùmï Phatï) là Mật ngôn đại thần
lực uy mănh, đại thế lực của Tỳ Lô Giá
Na Như Lai và Vô Lượng Thọ Như Lai, là ngôn cú phá
tan Địa Ngục sinh ra Tịnh Thổ.
Ta-bà ha (Svàhà) là ngôn cú chứng đắc Đại Bồ
Đề.
-
Về năng lực th́ Chân ngôn này có khả năng trừ
mọi bệnh tật khổ năo do nghiệp báo đời
trước gây ra hay do Quỷ Thần Vọng Lượng
gây bệnh … Ngoài ra, nếu gia tŕ 108 biến vào đất
cát rồi đem rải lên mồ mả, thi hài
người chết th́ do sức gia tŕ của Đức
Bất Không Tỳ Lô Giá Na Như Lai kèm với uy lực
thần thông của bài “Bản Nguyện Quán Đỉnh
Quang Chân Ngôn” nên chúng sinh ấy đều mau chóng xả
bỏ thân khổ sở tội báo ở trong các nẻo
Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, A Tu La và
được văng sinh về quốc độ Cực
Lạc ở phương Tây, được thân hoa sen hóa
sinh, được đắc Bồ Đề, không c̣n
bị đọa lạc.
-
Một bản khác (dị bản) của bài Quang Minh Chân
ngôn là:
OMÏ : Quy mệnh
Amogha vairocana : Phật bộ
Mahà vajra : Kim Cương bộ
Manïi : Bảo bộ
Padme : Liên hoa bộ
Jvala pravarttaya : Yết Ma bộ
Hùmï : Khủng bố
Phatï : Phá bại
Svàhà : Quyết định thành tựu
-
Theo Mật Giáo Nhật Bản, để tăng
cường cho uy lực của bài Quang Minh Chân Ngôn, các
vị Đạo sư c̣n gia tŕ thêm một số câu
chữ vào phần đầu và phần cuối của bài
Chú, kèm theo lời giải thích là:
OMÏ
: Tổng quy mệnh Kim Cương Giới.
Bhuhï
: Gia cú
Khamï
: Riêng quy mệnh Thai Tạng Giới, sự rất sâu kín
của Thai Tạng Giới.
(Ba
chữ Chân ngôn này thường được tŕ tụng
để quán Thế Gian này thành Tĩnh Thổ Cực
Lạc).
Amogha
vairocana : Bất Không Đại Nhật
Mahà
mudra manïi padme : Báu trên hoa sen
Jvala
pravarttaya : ánh sáng chiếu diệu
Hùmï
phatï Svàhà : Nghĩa của Kim Cương Giới
Vamï
Hùmï Tràhï Hŕhï Àhï – svàhà : 05 vị Phật được thêm
vào. Là bí mật trong bí, bí mật trong mật.
_
Theo ư nghĩa khác th́ bài “Quang Minh Chân ngôn” được
giải thích như sau:
(
OMÏ : là tổng quy mệnh Kim Cương Giới
(
Amogha vairocana : là Bất Không Biến Chiếu (hay Bất
Không Đại Nhật) biểu thị cho ư nghĩa:
Từ Pháp Thân vô h́nh vô sắc, do Tâm Đại Bi,
Đức Đại Nhật Như ai đă dùng sức
Đại Bi hiển hiện thành 5 vị Phật của
Kim Cương Giới là: Trung ương Tỳ Lô Giá Na
Phật (Vairocana Buddha), Đông phương Bất
Động Phật (Aksïobhya Buddha), Nam phương Bảo
Sinh Phật (Ratna Samïbhava Buddha), Tây phương A Di Đà
Phật (Amitàbha Buddha), Bắc phương Bất Không Thành
Tựu Phật (Amogha siddhi Buddha). Và mỗi một vị
Phật biểu thị cho một Trí của Như Lai là:
Pháp giới Thế Tính Trí (Dharma dhàtu prakrïti jnơàna),
Đại Viên Kính Trí (Adar’sa jnơàna), B́nh Đẳng Tính Trí
(Samanta Jnơàna ) , Diệu Quán Sát Trí (Pratyave ksïana jnơàna), Thành
Sở Tác Trí (Krïtya musïtïhàna jnơàna). Sự hiển hiện này
nhằm tạo phương tiện gia tŕ để
cứu độ tất cả chúng sinh trong Thế
giới.
Như
vậy, Bất Không Đại Nhật có thể
được xem là Bậc Đạo sư của 5
Phật Thân và 05 Trí Như Lai.
(
Mahà mudra manïi : là Đại Ấn Như Ư Bảo Châu,
biểu thị cho sự viên măn của Trí Đức
(Đại Ấn) và Phước Đức (Như ư
bảo châu).
(
Padme : là bên trong hoa sen, biểu thị cho Tâm Từ Bi
trắng tinh không có nhiễm dính (vô nhiễm trước).
(
Jvala pravarttaya : là ánh sáng chiếu diệu, tức là ánh sáng
phóng tỏa từ mặt trời Trí Tuệ, gồm có 03
loại:
a.
Tuệ Nhật Nhất Thiết Trí Quang: phóng tỏa ánh sáng
Chân không (Chân không Quang minh) soi khắp cơi Lục Phàm
Đồng Cư Thế Gian, nhằm phá tan sự tối
tăm của Kiến Tư Phiền Năo cho chúng sinh.
b.
Tuệ Nhật Đạo Chủng Trí Quang: phóng tỏa ánh
sáng Diệu Hữu (Diệu Hữu Quang Minh) soi khắp cơi
Nhị Thừa phương tiện Thế Gian, nhằm phá
tan sự tối tăm của Trần sa phiền năo cho
chúng sinh.
c.
Tuệ Nhật Nhất Thiết Chủng Trí Quang: phóng
tỏa ánh sáng Trung Đạo (Trung Đạo Quang minh) soi
khắp cơi Thật Báo Thế gian, nhằm phá tan sự
tối tăm của Vô Minh phiền năo cho chúng sinh.
Do
ư nghĩa này hồng danh Đại Nhật (vairocana) c̣n
biểu thị cho nghĩa “Trừ ám biến Minh”
(
HÙMÏ : được hợp thành bởi 3 chữ H , Ù , MÏ ,
trong đó:
H : là Hetu, là nguyên nhân hay nhân nghiệp
Ù : là Ùtpada
là Sinh hay Hữu (sự có)
MÏ : là Àtma
là Bản ngă.
Do đó, HÙMÏ là nguyên nhân sinh ra Bản ngă bao
gồm 03 thứ phiền năo là: Kiến Tư phiền năo,
Trần Sa phiền năo, Vô Minh phiền năo.
( PHATÏ : là sự phá bại hay đẩy
xa nội chướng.
( SVÀHÀ : là biểu thức của một
t́nh trạng tâm linh có ḷng tốt “Muốn ban phước,
muốn chúc sự an vui”. Nó thường đi đối
với phẩm vật dâng hiến hay các lời khen
tặng.
Theo nghĩa khác th́ SVÀHÀ được
kết hợp bởi SVÀ tức Svàbhava là Tự tính và HÀ
gồm có A là biểu tượng của Pháp Thân, HA là
biểu tượng của Báo Thân. Do đó, SVÀHÀ c̣n có ư
nghĩa là : “Thành tựu mùi vị an lạc của
Đại Niết Bàn”.
Như vậy, toàn bộ câu Chân ngôn: “OMÏ
Amogha vairocana, mahà mudra manïi padme, Jvala pravarttaya Hùmï phatï, Svàhà”
có thể diễn dịch là:
“Hỡi Đức Bất
Không Đại Nhật ! Bậc viên măn Trí Đức và
Phước Đức đang ngồi trên ṭa sen thanh
tịnh vô nhiễm trước. Hăy phóng tỏa ánh sáng
chiếu diệu phá bại mọi phiền năo đang
ngủ ngầm trong tâm của con, để con mau chóng thành
tựu mùi vị an lạc của Đại Niết Bàn”.
Do uy lực và ư nghĩa của Chân ngôn này,
các ḍng phái Mật giáo đă tùy căn cơ mà minh
định Bản Tôn của Chân ngôn này là : A Di Đà
Như Lai, Đại Nhật Như Lai, hay Bất Không
Quyến Sách Quán Thế Âm Bồ Tát (Amogha pà’sa Avalokite‘svara)
và xếp bài chú này vào phần Tán Niệm Tụng trong các
nghi thức (Sàdhana) tu tập Pháp Quán Âm.
Qua sự tham cứu trên th́ bài “Quang Minh
Chân ngôn” có thể được xem là tương
đương với ư nghĩa diễn dịch Lục
Tự Đại Minh Chú của Đạo sư Tang Tong
Gyalbo.
II. Thần chú HR̀HÏ (猭)
Trong Kim Cương Giới (Vajradhàtu)
chữ HR̀HÏ được dùng là chủng tự (B́ja) cho
Đức Phật A Di Đà. Chữ này xuất hiện
ở phần cuối của bài tán tiếng Phạn khi
lễ bái về phương Tây và được ghi chép
trong “Liên Hoa Bộ Tâm Niệm Tụng Nghi Quỹ” là:
“OMÏ – Sarva Tathàgata pùjamï pravartanàya Aøtmannamï
Niryàtayami – Sarva Tathàgata vajra dharma pravarttaya mayhamï – Hŕhï”.
Giáo sư Lê Mạnh Thát diễn dịch
là: “OMÏ ! Con xin hiến thân dâng lên cúng dường hết
thảy Như Lai. Nguyện hết thảy Như Lai v́ con
chuyển Kim Cương Pháp. HR̀HÏ”
_ Kim Cương Đỉnh Du Già Trung
Lược Xuất Niệm Tụng Kinh có ghi:
( OMÏ (Quy mệnh) Loke’svara
(Thế Tự Tại) HR̀HÏ
(Nghĩa bóng là: Quy mệnh
Đức Quán Thế Âm Tự Tại – Hŕhï)
_ Kim Cương Đỉnh Nhất
Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa
Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh có ghi:
( OMÏ (Quy mệnh) Loke’svara
(Thế Tự Tại) Ràja (Vương) HR̀HÏ.
_ Kim Cương Phong Lâu Các Nhất
Thiết Du Kỳ Kinh có ghi:
( OMÏ (Quy mệnh) Vajra (Kim
Cương) Loke’svara (Thế Tự Tại) Ràja
(Vương) Agni (Hỏa, ngọn lửa) HR̀HÏ.
_ Kim Cương Đỉnh Kinh Du Già Quán
Tự Tại Vương Như Lai Tu Hành Pháp có ghi:
( OMÏ (Quy mệnh) Samaye
(Bản Thệ Nguyện) Padme (trong hoa sen) HR̀HÏ.
_Tâm chú của Kim Cương Pháp (tức
Quán Thế Âm Bồ Tát) trong Kim Cương Giới Man
Đà La (Vajra dhàtu manïdïala) là:
( OMÏ (Quy mệnh) Vajra dharma
(Kim Cương Pháp) HR̀HÏ.
_ Về ư nghĩa của chữ HR̀HÏ th́
Đại Lạc Kim Cương Bất Không Chân Thật
Tam Muội Gia Kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa Lư Thú Thích, có ghi
là:
Chữ HR̀HÏ (猭 ) gồm
đủ 4 chữ H , R , ̀ , HÏ mà thành một câu Chân Ngôn,
trong đó:
H tức HA (成)
chỉ hết thảy NHÂN chẳng thể đắc.
R tức RA (先)
chỉ hết thảy Pháp chẳng ĺa bụi dơ.
̀ (珌 ) tức
Tự Tại chẳng thể đắc.
HÏ (:) với ư nghĩa 2 chấm bên cạnh là chữ AHÏ (珆) biểu
thị cho Niết Bàn.
Như vậy, HR̀HÏ có nghĩa là: “Do Giác
ngộ được các Pháp xưa nay không sinh (bản lai
bất sinh) nên 02 loại chấp trước (Năng
thủ và Sở Thủ) được loại trừ,
chứng được Pháp giới thanh tịnh”.
_ Lư Thú Thích lại nói rằng: “Chữ
HR̀HÏ cũng có nghĩa là xấu hổ. Nếu có đủ
hổ thẹn th́ không làm việc Bất Thiện, tức
là đầy đủ hết thảy các Pháp Vô Lậu. Cho
nên Liên Hoa Bộ (Padma Kulàya) cũng gọi là Pháp Bộ
(Dharma Kulàya). Do sự gia tŕ này nên ở Thế giới
CựcLạc (Sukha vàti) nước, chim, cây, rừng …
đều diễn Pháp âm (Dharma Svara). Nếu ai tŕ một
chữ Chân ngôn này, có thể trừ hết thảy tai
họa bệnh tật. Sau khi mệnh chung sẽ văng sinh
quốc độ An Lạc, Thượng Phẩm
Thượng Sinh.
Theo Kim Cương Giới Hiện
Đồ Sao Tư th́:
Chữ HR̀HÏ này do 04 chữ
HA, Ra, ̀, AHÏ tạo thành, chỉ cho 04 đức ở 04
phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trong đó:
HA là Nhân nghiệp
RA là Trần cấu (bụi dơ)
̀ là tai họa
AHÏ là đương thể phàm phu làm rơ viễn ly.
Như
vậy, HR̀HÏ là: “Toàn
thể phàm phu có nghĩa là viễn ly, thanh tịch, không có
bụi dơ (vô trần cấu)”
_
Theo một quan điểm khác th́ chữ HR̀HÏ
được hợp thành bỡi 04 chữ HA, RA, ̀, AHÏ ,
trong đó:
HA biểu thị cho sự si mê (Moha)
RA biểu thị cho sự tham lam (Ràga)
̀ biểu thị cho sự sân hận (Dvesïa)
AHÏ biểu thị cho sự chuyển nhập Niết bàn
(Nirvànïa)
Do
đó, HR̀HÏ biểu thị cho sự mau chóng ĺa các bụi
dơ tham, sân, si chứng được 04 đức thanh
tịnh là: Ái Nhiễm thanh tịnh (Ràga vi’suddha), Sân thanh
tịnh (Dvesïa vi’suddha), Uế thanh tịnh (Mala vi’suddha),
Tội thanh tịnh (Pàpa vi’suddha). Quan điểm này đă
minh họa được mật hiệu của
Đức Phật A Di Đà là Thanh Tĩnh Kim Cương
(Vi’suddha Vajra).
_
Trong Man Đa La Ngũ Trí Như Lai của Mật giáo Tây
Tạng th́ HR̀HÏ biểu thị cho Hỏa Đại (Tejahï)
và Tưởng Uẩn (Samïjnơa) nhằm minh họa cho sự
quán tưởng phân biệt với đỉnh cao là
thấy biết nội tâm một cách rơ ràng không ngăn
ngại. Năng khiếu nội quán trực giác với trí
phân tích cùng tột này chính là Diệu Quán Sát Trí và dạng
Thần cách hóa của chữ HR̀HÏ này chính là Đức
Phật A Di Đà ngồi trên lưng con công tỏa ánh sáng
chói màu hồng đỏ với câu chú xưng tán Ngài là :
“OMÏ – Amitàbha – Hŕhï” nghĩa là “Quy mệnh Đức Vô
Lượng Quang - Hŕhï”.
_
Lại nữa, theo “Lư Thú Thích” th́ Đức Phật A Di
Đà có Bi Nguyện tiếp dẫn chúng sinh, nên ở
Thế giới Cực Lạc th́ Ngài hiện thân Phật
(Buddha Kàya) tên là Vô Lượng Thọ (Amitàyuhï) c̣n ở
Thế giới Uế trược th́ Ngài hiện thành
Bồ Tát Đại Bi (Mahà karunïi Bodhisatva) tên là Quán Tự
Tại (Avalokite’svara). Như thế nếu xét từ Nhân
(Hetu) đến Quả (Phala) th́ Quán Tự Tại Bồ
Tát là một Tôn vị thân cận của Đức
Phật A Di Đà. C̣n xét từ nhân vị Tu hành đến
Quả Đức thành tựu th́ vị Bồ Tát ấy
trở thành Bộ chủ của Liên Hoa Bộ, thể
hiện Trí phương tiện Phổ Môn của
Đức Phật A Di Đà.
Chí
v́ lư do này mà chủng tử HR̀HÏ thường
được đặt sau Lục Tự Đại Minh
Chú , tức là “OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ – HR̀HÏ”.
_
Trong quyển “The healing power of mind”, phần ghi chú Thuật
ngữ của Đạo sư Tulku Thondup (do Tuệ Pháp
dịch) có ghi là:
“Trong
những kinh văn Phật giáo, Chân ngôn chỉ có 06 chữ,
nhưng phần lớn những kinh văn được
phát hiện (Terma) lại có 07 chữ, thêm HRI (HR̀HÏ) là
Chủng tự Tâm của Đức Quán Thế Âm. Trong chân
ngôn này, HRI là chủng tự Tâm của Phật,
được cầu khẩn và 06 chủng tự khác là
phương tiện để cầu khẩn nó.
OMÏ : A + O + M = OMÏ biểu tượng cho Thân, Ngữ và Tâm
của chư Phật, do Đức Quán Thế Âm hiện
thân.
MANÏI : Ngọc quư, biểu tượng cho sự thỏa
măn những ước nguyện, những phương
tiện thiện xảo.
PADME: Hoa sen, biểu tượng cho sự thanh tịnh
không nhiễm ô, cho Trí Tuệ tu tập những
phương tiện thiện xảo và Trí Tuệ là con
đường Tâm Linh của Đạo Phật và sự
hoàn thiện của chúng là phương tiện thiện
xảo và Trí Tuệ của Phật Tính.
HUNG (HÙMÏ ): sự hợp nhất, sự cầu khẩn
hay việc hợp nhất. Nó tượng trưng cho
sự hợp nhất giữa Trí Tuệ và phương
tiện thiện xảo. Nó cầu khẩn chư
Phật ban cho Trí Tuệ, phương tiện thiện
xảo và tất cả sự gia hộ ban
phước. Lần lượt HUNG (HÙMÏ) hợp nhất
Thân, Ngữ và Tâm của người ta làm một, không
thể tách rời với (Thân, Ngữ, Tâm) Phật.
HRI (HR̀HÏ): chủng tử Tâm, đại diện cho Tinh
Túy Tâm của Đức Phật Đại Bi để
cầu khẩn và được hợp nhất.
Nghĩa
đơn giản: “Ôi! Đức Phật ! Ngài nắm
giữ ngọc báu và hoa sen (Đại Bi và Trí Tuệ), mong
Ngài ban phước gia hộ cho con”.
_
Theo quan điểm khác, trong Chân ngôn “OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ – HR̀HÏ”
th́ chữ HR̀HÏ biểu thị cho sự sống
động tỏa nở tinh thần dâng hiến vị tha
của Bồ Tát Đạo trong Lục Tự Minh Chú .
Để
biểu thị ư nghĩa Tam Mật của Thân, Khẩu, Ư
trong câu chú này, Ngài Lạt Ma Govinda đă diễn tả
như sau:
Trong
OMÏ chúng ta cảm nhận Pháp Thân và Bí mật của Thân
phổ biến.
Trong
MANÏI là Báo Thân là bí mật của âm thanh thần chú, khơi
dậy Tâm thức chiêm ngưỡng và cảm hứng.
Trong
PADME là Hóa Thân và bí mật của tâm ư biến đổi
tất cả.
Trong
HÙMÏ, chúng ta cảm nhận thân Kim Cương là thân siêu
việt tổng hợp Tam Mật.
Trong
HR̀HÏ, chúng ta dâng hiến tập hợp nhân vị của
chúng ta trở thành thân Kim Cương để phục
vụ Đức Phật A Di Đà. Điều này trong khi
ấy có nghĩa là “Lư tưởng Bồ Tát
được thể hiện như nó đă
được thể hiện trong h́nh tướng
Đức Quán Thế Âm”.
Tóm
lại: Nếu dựa vào biểu tượng “Mau chóng ĺa
các Trần cấu” để tịnh hóa bản thân của
thần chú HR̀HÏ th́ có thể được dùng thay cho
cả câu chú Lục Tự Đại Minh.
Như
Ngài Kalu Rinpoche có nói:
“OMÏ
là tinh chất của Thân Giác ngộ
MANÏI
PADME biểu tượng cho Ngữ Giác ngộ
HÙMÏ
tiêu biểu cho Ư giác ngộ
Thân,
Ngữ, Ư của tất cả chư Phật ẩn tàng
trong âm thanh của Thần chú này. Thần chú này tịnh hóa
những chướng ngại của Thân, Ngữ, Ư và
đưa tất cả Hữu t́nh đến trạng thái
chứng ngộ. Khi tụng Thần chú này mà phối
hợp với Đức Tin và tinh tiến Thiền
Định, th́ năng lực chuyển hóa của Thần
chú sẽ phát sinh và tăng trưởng. Quả vậy,
chúng ta có thể Tịnh hóa bản thân bằng phương
pháp ấy”.
III.
Thần chú Đạo sư ( Guru Mantra)
Theo
truyền thống Mật Giáo Trung Hoa, Quán Thế Âm Bồ
Tát đă chứng ngộ được cảnh giới
cực thanh tĩnh của chư Phật. Cảnh giới
ấy chỉ có chư Phật tự chứng nên khó có
thể dùng ngôn ngữ văn tự mà diễn nói cho
người khác biết được. Chính v́ thế, Quán
Thế Âm Bồ Tát liền trụ vào Tam Muội Phổ
Quán, vận dụng trí Tuệ Phổ Môn phương
tiện của tất cả Như Lai, biểu hiện
thân tướng tốt đẹp rạng tỏa ánh quang
minh, ngồi trên ṭa sen, tay trái cầm hoa sen, tay phải
kết Khai Hoa Diệp Thế (tư thế bóc cánh sen). Dùng
phương tiện gia tŕ khiến cho tất cả chúng
sinh tự nhận biết rằng ḿnh vốn có hoa sen giác
ngộ, pháp giới thanh tĩnh, chẳng nhiễm phiền
năo, chỉ do một niệm vô minh nên bụi trần
dấy động che lấp Bản Tâm thanh tịnh vô
nhiễm trước và dựa vào đấy mà muôn vàn
khổ năo được dịp bủa vây, tạo tác
nghiệp ác lôi kéo trong biển khổ sinh tử. Nay nhờ
ánh quang minh Diệu trí soi tỏ th́ cần phải lắng
tâm nhiếp niệm, điều phục 06 Căn không cho
nhiễm dính 06 Trần cho đến khi các Căn Trần
đều dần dần trong lặng (Tịch tĩnh). Do
06 Căn th́nh ĺnh thanh tịnh không vướng bụi
dơ th́ Chân tính của tâm sẽ hiển bày sự cực
tĩnh vốn có xưa nay, tức là chứng ngộ
được Tâm Bồ Đề Trắng tịnh mà
vượt thoát luân hồi khổ năo.
Từ
ư nghĩa này, chúng ta nhận thấy rằng: Nếu
biết kết hợp lực gia tŕ của chư Phật
Bồ Tát thông qua lựa gia tŕ của Pháp Giới với ư
chí tự lực của bản thân để giữ ǵn
Thân, Khẩu, Ư cho thật trong sạch th́ chúng ta sẽ mau
chóng Tịnh hóa được 06 phiền năo căn bản
(Kiêu mạn ảo tưởng, ganh tỵ tranh
đấu, hoài nghi tự kiêu, tŕ độn mù quáng, tham
dục thèm khát, giận dữ oán hận) và dễ dàng
lặng yên quán sát thật tướng của 06 Trần cho
đến khi thật biết được bản tính
của chúng đều không vướng bụi dơ. Ngay
lúc ấy, chúng ta sẽ tự hiển hiện
được con mắt vô nhiễm và mọi sự
thấy biết đều như thật như thị.
Tức là chúng ta tự đánh thức được Chân
tính “Diệu Giác diệu minh cực Thanh Tĩnh không
nhiễm ô” vốn có trong Tâm ḿnh. Từ đó, chúng ta sẽ
xa ĺa mọi khổ năo và đi vào cuộc sống cao
đẹp của Thánh Nhân. Do cảm thông thật sự
với BI NGUYỆN của chư Phật Bồ Tát, chúng ta
dũng mănh phát khởi Đại Nguyện đi vào muôn
loài, thi hành vạn hạnh Đại Bi để hoằng
hóa Chính Pháp, cứu bạt khổ năo cho chúng sinh.
Điều này c̣n có nghĩa là: Khi c̣n mê muội, chúng ta chân
thành cầu xin chư Phật Bồ tát gia tŕ cứu hộ
ḿnh. Nhưng khi Giác Ngộ th́ chư Phật Bồ Tát
lại ở trong ḷng chúng ta, là chính ngay chúng ta.
Lục
Tổ Huệ Năng có dạy: “Khi mê Thầy độ,
Ngộ rồi con tự độ” hay “Niệm
trước mê mờ là chúng sinh, niệm sau giác ngộ là
Phật”.
_
Để có thể thực hiện được sự
liên hợp của lực gia tŕ với ư chí tự lực
của ta, các bậc Đạo sư Hiển giáo đă
dạy rằng:
“Đấng
Toàn Giác (Samyaksamïbuddha) là Bậc tự tu tự ngộ và
mở rộng ḷng Từ Bi để hóa độ chúng
sinh, nên h́nh tượng và hồng danh của Đấng
Toàn Giác, thực chất là những biểu tượng
nhằm kết tinh và dẫn dắt những lời
cầu nguyện của hàng Phật tử, những
người đang mong mỏi vượt thoát sự trói
buộc của ṿng sinh tử phiền năo. Do vậy”Khi
Quy y Phật th́ ta lễ lạy Phật với tâm
nguyện đạt đến sự sáng suốt hoàn
toàn, thông hiểu như thật lư sự của
vạn vật để rốt ráo xa ĺa phiền năo
khổ đau, chấm dứt sinh tử luân hồi”.
Lời
dạy này hoàn toàn chứa ư nghĩa là: “H́nh tượng và
công hạnh của chư Phật Bồ Tát chính là
phương tiện thiện xảo nhằm kêu gọi,
đánh thức Phật tính vốn có ngay trong Bản Tâm
của mỗi một chúng sinh để cho họ mau chóng
thoát khỏi sự phiền năo khổ đau”.
_
Ư nghĩa này đă được các Đạo sư
Mật Giáo cô kết thành Thần chú Đạo sư “OMÏ
ÀHÏ HÙMÏ – VARA GURU PADME – SIDDHI HÙMÏ” . Trong đó:
(
OMÏ (輆) biểu thị cho Thân
Giác ngộ, là nguyên lư bao quát tất cả thân phổ
biến.
(
ÀHÏ (猱) biểu thị cho
Ngữ Giác ngộ, là nguyên lư bao quát tất cả chú
thuật hay của âm thanh sáng tạo.
(
HÙMÏ (猲) biểu thị cho Ư Giác
ngộ, là nguyên lư t́nh thương phổ biến của
Tâm Giác ngộ (Boddhicitta) của tất cả chư
Phật.
(
VARA (向先 ) là y theo,tuân theo, thực
hành theo.
(
GURU (么冰) là danh từ chỉ
một Bậc Đạo sư.
(
PADME (扔榰) là bên trong hoa sen hay bên
trong Bản Tâm.
Kết
hợp hai nghĩa này lại th́ GURU PADME là vị
Đạo sư ngồi trên hoa sen, hay GURU PADME
được dùng để chỉ MINH SƯ TRÍ vốn có
trong Tâm của mỗi một chúng sinh.
(
SIDDHI (帆盎 ) là thành tựu, đạt
đến, chứng ngộ.
(
HÙMÏ (猲) là cuộc sống cao
đẹp của Thánh Nhân.
Như
thế, toàn bộ câu chú Đạo sư (Guru Mantra) có
thể được diễn dịch là: “Nương
vào Thân, Ngữ, Ư của các Đấng giác ngộ. Con
nguyện giữ ǵn Thân, Ngữ, Ư để đánh
thức được Vị Thầy đang ngự
trị trong Tâm của con và con nguyện noi theo sự
chỉ dẫn sáng suốt của Vị Thầy này
để đạt được cuộc sống cao
đẹp của Thánh Nhân”.
Trong
quyển “Đường Mây Qua Xứ Tuyết” do
Lạt Ma Govinda biên soạn và Nguyên Phong phỏng dịch th́
Ḥa thượng Tomo Geshe Rinpoche đă dạy cho Lạt Ma
Govinda trong buổi lễ Nhập Môn tại Yi Ga Cho-Lin là:
“Nếu
con muốn làm Thầy của con th́ con đừng nh́n cái
thân thể vô thường nay c̣n mai mất này như vị
Thầy của con. Chúng ta đều là những kẻ
bất toàn, thay v́ nh́n vào những điểm bất toàn
này, con hăy nh́n thẳng vào Phật tính vốn hoàn hảo và
hiện diện trong tất cả chúng sinh. Thay v́ chấp
nhận những điều Ta chỉ dạy cho con như
điều đó đến từ Ta th́ con phải coi đó
là những chân lư vẫn hằng có trong vũ trụ, mà
Đức Phật Thích Ca đă chứng ngộ và giảng
giải trong Giáo Pháp của Ngài. Ta chỉ là một kẻ
tuân theo những Giáo Pháp đó mà đi, theo ngọn
đuốc mà Đức Phật Thích Ca đă soi
đường. Khi con quỳ lạy trước mặt
ta, con hăy nghĩ đến Đức Phật Thích Ca,
Người đă khai ngộ cho tất cả chúng sinh và
chỉ có Ngài là NGƯỜI DUY NHẤT được
hưởng tất cả mọi sự tôn kính đó.
Đừng nh́n vào ngón tay chỉ mặt trăng.
Đừng trông cậy vào ta như người sẽ
đưa con đến chân lư mà hăy trông cậy vào chính con,
trông cậy vào cái Phật tính luôn tiềm tàng sẵn nơi
con để hướng dẫn con trên đường
về bến Giác. Đừng nh́n vào thân thể này, bộ
áo này hay những điều Ta nói như là một sự
thật Tuyệt đối mà hăy chứng nghiệm nó, nghi
ngờ nó, xét đoán nó cho đến khi không c̣n nghi ngờ
hay thắc mắc nào. Đừng v́ quá cung kính hay lễ
phép mà không dám đặt câu hỏi, v́ như vậy là con
đă mất đi một cơ hội tiến gần
hơn đến sự thật.
Điều
quan trọng nhất mà con phải biết là tất cả
mọi chúng sinh đều có khả năng thành Phật,
đều có sẵn Phật tính trong ḿnh, chỉ v́ mê
lầm không nhận ra tính chất cao quư thiêng liêng nơi
ḿnh mà chúng sinh mới bị mê đắm vào ṿng đau
khổ.
V́
tất cả chúng sinh đều có Phật tính nên tất
cả chúng sinh đều tuyệt đối b́nh
đẳng, không có sai khác. Nếu con tự cho rằng ḿnh
cao cả hơn kẻ khác và có thái độ khinh bỉ
với họ th́ con không thể nào tiến xa hơn trên con
đường giải thoát. Con phải biết rằng lư
do chúng ta sống trong Thế Giới bất toàn và tất
cả mọi sự xảy ra đều chịu sự chi
phối của Luật Nhân Quả. Bằng thái độ
sống chân chính, con có thể vượt qua các trở
ngại khó khăn, thay thế những sự kiện
bất toàn bằng những sự kiện toàn vẹn và
nhờ thế không những con trở nên vẹn toàn hơn
mà c̣n biến Thế Giới này thành tốt đẹp
hơn nữa”.
Ḥa
thượng Tomo lại dặn Govinda rằng:
“Một
ngày nào đó, con sẽ thấy được những Hóa
thân của chư Phật và chư Bồ Tát, vốn là
những điểm linh quang hiện hữu trong Tâm con.
Dĩ nhiên hiện nay đó chỉ là một quan niệm
trừu tượng v́ nghiệp chướng con c̣n
dầy, con chưa thể ư thức rơ rệt được.
Nhờ tŕ tụng bài Thần chú khẩu truyền, con
sẽ tiêu trừ được những nghiệp
chướng này và đến khi đó con sẽ quán
chiếu mọi sự vật một cách rơ ràng hơn.
Nhờ suy gẫm về tính Không của sự vật
cũng như phát triển Tâm Bồ Đề rộng
lớn mà con sẽ nhận được Pháp giới,
thấy được những hải hội chư
Phật, chư Bồ tát … hiện ra rơ ràng như thật
trước mắt con th́ con sẽ ư thức rằng cái
Thế giới bên trong cũng như bên ngoài có thể
chuyển biến được. Lúc đó, tùy con lựa
chọn muốn sống trong Thế giới nào,
hướng ra bên ngoài hay quay lại bên trong, muốn
trở thành nô lệ của xác thân ch́m đắm trong sinh
tử luân hồi hay biết tận dụng khả năng
vốn sẵn có trong người để chuyển mê
khai ngộ, vượt qua khỏi xiềng xích kiềm
tỏa của ṿng luân hồi”.
_
Như chúng ta đă biết các hành động của Thân,
Khẩu, Ư trong đời quá khứ đều
được lưu trữ trong Tâm thức và tạo nên
khuynh hướng tư tưởng cá nhân trong đời
hiện tại. V́ thế Bản ngă của một
người bao gồm toàn thể khuynh hướng đó
và chỉ có những khuynh hướng mới chỉ rơ tính
t́nh, tinh thần, ư niệm tốt xấu của một
người. Nếu một người có khuynh
hướng vững mạnh th́ khó ḷng bị xoay chuyển
bởi ngoại cảnh trừ phi người ấy
gặp một biến cố lớn lao làm cho họ tự
rời bỏ khuynh hướng của ḿnh.
Chúng
ta phải nhớ rằng: “ Người ấy tự
rời bỏ chứ không phải biến cố kia phá
vỡ khuynh hướng của họ”. Do đó, chư
Phật Bồ Tát hóa hiện trên đời thi hành vạn
hạnh Đại Bi, cứu độ chúng sinh bằng
cách sử dụng mọi phương tiện thiện
xảo, h́nh thành những tấm gương cho chúng sinh nh́n
thấy để từ đó họ quay trở lại
nh́n vào Tâm Tính ḿnh mà tự sửa đổi dần dần
cho đến khi tự họ vượt thoát
được nẻo sinh tử luân hồi.
Như
Đức Phật thường nói rằng: “Ta chỉ là
người dẫn đường vạch rơ phương
cách cho chúng sinh đi đến nẻo giải thoát.
Nhưng đi hay không là tự chúng”.
Do
ư nghĩa này, nếu chúng ta mau chóng tự nhận thấy
những lỗi lầm cần phải sửa chữa
của ḿnh đồng thời ư thức được
việc cần làm của chính ḿnh th́ chúng ta sẽ mau chóng
vượt thoát mọi sự khổ đau, đạt
được sự tự tại an lạc.
Tổ
Huệ Năng có dạy rằng: “Hằng thấy
lỗi ḿnh là phương pháp Kiến tánh”.
Các
vị đệ tử của Đức Phật Thích Ca,
hầu như sau khi chứng đạo, Vị nào cũng
nói rằng: “Những việc cần làm, Ta đă làm xong”.
Để
minh định việc cần làm của một cá nhân, Ḥa
thượng Tomo đă tiết lộ cho Lạt Ma Govinda
rằng: “ Tu sĩ U Khanti chính là Hoàng đế Mindon Min
(Trị v́ nước Miến Điện từ năm 1851
đến năm 1878) đầu thai để hoàn tất
tâm nguyện xây dựng Quốc tự Kuthaw Daw ở Mandala
để chứa toàn bộ kinh điển, mà Ngài chưa
kịp làm trong kiếp làm vua”.
Theo
truyền thống Mật giáo Tây Tạng, để
tiếp tục giữ ǵn và bảo vệ Chính Pháp của
Mật giáo Hoàng Mạo phái, Sư trưởng Gedun Truppa
liên tục tái sinh (Tulku – Hóa thân) thành các Sư Trưởng
Gedun Gyatso, Sonam Gyatso, yonsten Gyatso, Lobsang Gyatso …, Thupten Gyatso
(Dalai Lama đời thứ 13) Tenzin Gyatso (Dalai Lama
đời thứ 14)
_
Tuy nhiên, để ư thức được việc cần
làm của chính ḿnh th́ quả là điều khó khăn. V́
thế, các vị Đạo sư Hiển Giáo
thường dạy rằng: “Khi ta quy y Pháp hay
Đỉnh lễ Pháp th́ ta phải phát khởi Tâm
nguyện thường gặp Chính Pháp giải thoát và
thường tu tập được Chính pháp giải
thoát, đồng thời ta quy y Pháp với Tâm Nguyện là
đạt được sự: Định tĩnh,
tự tri, tự giác, tự chủ, điều dụng và
vị tha ngay trong cuộc sống hiện tại này”.
Ngoài
ra, ta nên cầu khẩn chư Phật Bồ Tát rũ ḷng
Từ Bi chỉ bảo Pháp tu tập thích hợp với
căn cơ của chính ḿnh như: rút thăm để
chọn lựa Pháp tu (Kinh Viên Giác), gieo quẻ thẻ để
thẩm định Nghiệp báo và t́m cách sửa chữa
(Kinh Địa Tạng Chiêm Sát), vào Đàn Tràng ném hoa
để t́m Bản Tôn hoặc lắng Tâm nhập vào
Thiền quán để cầu xin hành xứ tu hành (Nghi
Thức Mật Giáo).
Kinh
Kim Cương Đỉnh Du Già Quán Tự Tại
Vương Như Lai Tu Hành Pháp có ghi: “ Kết A Di Đà
Định Ấn, đặt lên trên Bán Già, ngưng
thở, quán sát một cách tường tận rằng các
Pháp đều do Tự tâm, hết thảy phiền năo
như quáng nắng, như hoa đốm giữa hư
không. Sau khi quán như vậy xong, khẩn nguyện chư
Phật chỉ thị hành xứ cho ḿnh và tụng Chân ngôn:
“OMÏ SAMAYE PADME HR̀HÏ – Nghĩa là: Quy y Bản thệ
nguyện trong Tâm – Hŕhï”
Riêng
các bậc Đạo sư Tây Tạng th́ việc thành kính
thỉnh triệu vị Thầy trong Tâm Ta là điều
tốt nhất. Một khi vị Đạo sư của
Bản Tâm đă thức dậy th́ ánh sáng trí tuệ dần
dần tỏa rạng, thanh lọc những nhận
thức mê lầm che lấp Bản Tâm. Từ đó, qua
những tấm gương hóa độ của chư
Phật, Bồ Tát, Hiền Thánh, Đạo sư, Kinh
điển, giáo lư, môi trường sinh hoạt … sẽ
dần dần giúp ta khám phá được chân lư ẩn tàng
trong Tâm ḿnh và lúc ấy các lực gia tŕ của chư
Phật Bồ Tát, lực gia tŕ của Pháp giới sẽ
ḥa nhập với lực cố gắng của tự ngă
giúp ta an nhiên sinh hoạt trong Thế giới đầy
uế trược khổ đau này. V́ thế, các Ngài
thường truyền dạy bài cầu nguyện là:
“Từ
đóa sen ḷng sùng kính trong tim con
Hỡi
Đức Thầy Từ Bi ! Chỗ mong cậy duy nhất
của con
Hăy
xuất hiện che chở con trong cơn nguy khốn
Bởi
các nghiệp quá khứ và cảm xúc hỗn loạn
Như
viên ngọc an trú trên đầu con, Manïdïala của
Đại Lạc.
Khơi
dậy tỉnh giác và sáng suốt trong con
Xin
Thầy !”
Đối
với các vị Đạo sư Tây Tạng th́ một
vị Thầy được xem là tốt hơn những
vị Phật. V́ mặc dù ḷng Từ Bi và năng lực
của chư Phật luôn luôn hiện hữu, song những
mê mờ đă ngăn che không cho chúng ta gặp chư
Phật một cách trực tiếp, c̣n vị Thầy th́
chúng ta có thể gặp và bằng mọi cách vị
Thầy có thể chỉ cho ta thực hiện
được con đường giải thoát của
chư Phật. Nói cách khác, với Tâm hồn Đại Bi
b́nh đẳng kèm với Trí Tuệ siêu việt ẩn tàng
trong h́nh vóc con người, vị Thầy dễ gần
gũi với Môn Đệ và dần dần chỉ cho
họ ngày càng tự hiểu rơ ḿnh hơn cho đến lúc
họ thấy rơ Tự Tính của Tâm ḿnh.
Theo
truyền thống Huyền Linh, Bậc Đạo sư
thể hiện sự kết tinh của những ân sũng
của tất cả chư Phật, tất cả Bậc
Thầy và các bậc Giác Ngộ. Nhờ sự hiện
diện của vị Thầy đầy ḷng Bi Mẫn mà
môn đệ mau chóng được thọ hưởng
sự an lành của TâmThức và trực tiếp thụ
nhận được năng lực của chư
Phật, Bồ Tát, các Đấng Giác Ngộ vốn
hiện diện chung quanh chúng sinh để chờ dịp
giúp đỡ họ. Từ đó, một niềm tin
tưởng, tri ân, hỷ lạc và sùng kính Pháp phát sinh trong
Tâm người đệ tử. Qua đó, tâm hồn
của môn đồ và tâm giác Ngộ của Bậc
Thầy ḥa nhập cùng nhau để cùng trực kiến bản
tính chân thật của Tâm. Thật ra, vị Thầy bên
ngoài chỉ thẳng cho chúng ta thấy được chân
lư của vị Thầy bên trong chúng ta. Chân lư ấy càng
được khải thị qua lời dạy của
Vị Thầy th́ chúng ta càng nhận ra rằng vị
Thầy bên ngoài và Bậc Thầy bên trong là bất khả
phân, và nhờ sự hợp nhất này, chúng ta sẽ
nhận chân được Trí Giác ngay thẳng.
Đạo
sư
“Kẻ
nào mà lời Thầy đă thâm nhập vào Tâm
Sẽ
thấy được chân lư như viên ngọc trong ḷng bàn
tay”
Do
ḷng tri ân sùng kính với niềm tin tuyệt đối, các
vị Đạo Sư Tây Tạng đều công nhận
rằng Liên Hoa Sinh Đại Sĩ (Padma Samïbhava) là Bậc
Đạo sư cao cả nhất trong các bậc
Đạo Sư (Padma Samïbhava là người thành lập
Đạo Phật ở Tây Tạng vào Thế kỷ
thứ 8. Ngài thành lập Đạo viện Samye và khởi
xướng lên ḍng tu Nying Mapa. Ngày nay, Ngài được
thờ phụng như một vị Tổ đầu tiên
đă truyền bá Mật Tông ở Tây Tạng).
Theo
truyền thống Tây Tạng, Liên Hoa Sinh Đại Sĩ
được một Không Tiến Nữ (Dïàkinïi: Không Hành
Mẫu) truyền Pháp. Sau khi được ban phước
cho Thân Khẩu Ư th́ Ngài thành thân của tất cả chư
Phật, lời nói của Ngài là lời nói thiêng liêng
của tất cả chư Phật, và Tâm ư của Ngài
trở thành Tâm Bồ Đề (Bodhicitta). Từ
đấy, Ngài là hiện thân của một nguyên lư không có
thời gian. Ngài là Bậc Thầy của tất cả và
giáo lư của Ngài là hiển thị bởi nhiều bậc
Thầy vĩ đại, hậu thân của ngài. Một
trong những giáo lư của Ngài để lại là Tử
Thư Tây Tạng (Bardo Thodol) và câu Chú biểu tượng
cho ân sũng của Ngài là : “OMÏ ÀHÏ HÙMÏ – VAJRA GURU PADMA SIDDHI
HÙMÏ” và được tôn xưng là Kim Cương
Thượng Sư Thần Chú (Vajra Guru Mantra). Đây là
một dị bản của Thần Chú Đạo Sư.
_
Trong quyển “The Healing power of Mind”, phần ghi chú của
Ngài Tulku Thundup do Tuệ Pháp dịch có ghi chú Chân ngôn của
Liên hoa Sinh Đại Sĩ là:
OMÏ : chủng tự của Thân Phật
ÀHÏ : chủng tự của Khẩu Phật
HÙMÏ : chủng tự của Tâm Phật
VAJRA : Kim cương (cứng chắc) Pháp Thân (bản tính
tuyệt đối của Phật)
GURU : đạo sư (sự phong phú) Báo Thân (Tướng
thanh tịnh của Phật)
PADMA : Hoa sen (sự thanh tịnh) Hóa Thân (Thân Phật,
Tịnh của Phật)
SIDDHI : Thành tựu, đạt được những
kết quả chung và không chung
HÙMÏ: xin ban cho, mong rằng.
_
Trong quyển “Việc lớn sinh tử” do Ngài Sogyal Rinpoche
biên soạn và sư cô Thích Nữ Trí Hải dịch th́ hai
Ngài Dudjon Rinpoche và Dilgo Khyentse Rinpoche giải thích ư nghĩa
của bài Kim Cương Thượng Sư Thần Chú
như sau:
(
OMÏ ÀHÏ HÙMÏ : Những âm OMÏ ÀHÏ HÙMÏ có nghĩa ngoài, nghĩa
trong và nghĩa mật. Nhưng ở mỗi tầng như
vậy, OMÏ đều tiêu biểu cho Thân, ÀHÏ : Lời và HÙMÏ
: Ư. Cả ba câu tiêu biểu cho năng lực ân sủng
của chư Phật để chuyển hóa Thân, Lời,
Ư.
a)
Theo nghĩa ngoài: OMÏ tịnh hóa mọi ác nghiệp của
Thân, ÀHÏ của Lời, HÙMÏ của Ư. OMÏ ÀHÏ HÙMÏ đem
lại Thân, Lời, Ư chư Phật. OMÏ là tinh túy của
h́nh sắc, ÀHÏ của âm thanh, HÙMÏ của ư. Khi đọc
Thần chú này là ta tịnh hóa hoàn cảnh cũng như
bạn thân và những người ở trong đó. OMÏ
tịnh hóa tất cả nhận thức, ÀHÏ tất cả
âm thanh và HÙMÏ tất cả Tâm, ư nghĩ với cảm xúc.
b)
Theo nghĩa trong: OMÏ tịnh hóa những huyệt
đạo vi tế, ÀHÏ tịnh hóa nội phong hay khí
lực và HÙMÏ tịnh hóa tinh chất sáng tạo.
Ở tầng mức sâu
hơn: OMÏ ÀHÏ HÙMÏ biểu trưng cho 03 Thân của Liên Hoa
Bộ. OMÏ là Pháp Thân Phật, Phật A Di Đà, Đức
Phật của ánh sáng vô lượng. ÀHÏ là Báo Thân, Quán
Thế Âm, vị Phật của Tâm Từ Bi. Và HÙMÏ là
Ứng Hóa Thân, Liên Hoa Sinh. Điều này có nghĩa, trong
trường hợp Thần chú này cả 03 Thân đều
thể hiện trong một vị là Padma Samïbhava (Liên Hoa
Sinh).
c)
Ở tầng ư nghĩa sâu kín nhất : OMÏ ÀHÏ HÙMÏ đem
lại sự thực chứng 03 khía cạnh của
Bản thân. OMÏ đem lại sự thực chứng,
dụng của Tâm hay năng lực Bi Mẫn vô biên. ÀHÏ
đem lại sự thực chứng Tướng hay
bản chất sáng chói của Tâm. Và HÙMÏ đem lại
sự thực chứng Thể Tính như bầu trời
của Tâm.
(
VAJRA GURU PADMA
(
VAJRA được ví như Kim Cương, đá quư
nhất và cứng nhất. Cũng như Kim Cương có
thể cắt bất cứ thứ ǵ mà chính nó th́ không có ǵ
phá hủy được, cũng thế Trí Tuệ bất
nhị bất biến của chư Phật không bao
giờ bị hại hay bị phá hủy bởi vô minh, và
có thể cắt đứt mọi vọng tưởng
chướng ngại, nhưng Đức Tính và hoạt
động của Thân Lời Ư của chư Phật có
thể làm lợi lạc Hữu T́nh với năng lực
sắc bén vô ngại như Kim Cương và cũng như
Kim Cương không bị tỳ vết, năng lực sáng
chói của nó luôn phát từ sự chứng ngộ bản
chất Pháp Thân của thực tại, bản chất
của Phật A Di Đà.
(
GURU: có nghĩa là “sức nặng” chỉ một
người tràn đầy đức tính kỳ diệu,
thể hiện Trí Tuệ, hiểu biết, Từ Bi và
phương tiện thiện xảo. Cũng như vàng ṛng
là kim loại nặng nhất, quư nhất. Cũng thế,
những Đức Không Lỗi, không thể nghĩ bàn
của Bậc Thầy làm cho vị ấy không ai
vượt qua được, thù thắng hơn tất
cả.
GURU
tương đương với Báo Thân, và với Quán
Thế Âm, vị Phật của Tâm Đại Bi. Lại
nữa, v́ Padma Samïbhava (Liên Hoa Sinh) giảng dạy con
đường Mật Tông, biểu tượng là Kim
Cương và nhờ thực hành Mật Tông mà Ngài
đạt giác ngộ tối thượng, cho nên Ngài
được biết đến dưới Danh hiệu
là Kim Cương Thượng Sư (Vajra Guru).
(
PADMA là hoa sen, có nghĩa là Liên Hoa Bộ trong 05 Bộ và
nhất là khía cạnh ngôn ngữ giác ngộ của chư
Phật ấy. Liên Hoa Bộ là ḍng hộ Phật mà con
người thuộc vào. V́ Padma Samïbhava là Ứng Thân
trực tiếp của Phật A Di Đà (vị Phật
nguyên ủy của Liên Hoa Bộ) nên Ngài được
gọi là Padma (Hoa sen). Danh hiệu Liên Hoa Sinh của Ngài,
kỳ thật ám chỉ câu chuyện Ngài sinh ra trên một
đóa sen nở.
Khi
những âm VAJRA GURU PADMA đi liền nhau th́ cũng có
nghĩa là tinh túy và ân sủng của Kiến, Thiền và
Hành. Vajra nghĩa là tinh chất của chân lư bất khả
hoại, bất biến, cứng chắc như kim
cương mà chúng ta cầu mong thực hiện
được trong Kiến (cái Thấy) của chúng ta. Guru
tiêu biểu tính chất ánh sáng và sự cao quư của giác
ngộ mà ta cầu cho kiện toàn trong Thiền định
của ḿnh. Padma tiêu biểu cho Bi Mẫn mà chúng ta cần thể
hiện trong hành động của chúng ta. Và nhờ
đọc tụng Thần Chú này mà ta nhận
được ân sũng của Tâm Giác Ngộ, những
đức tính cao quư và ḷng Bi Mẫn của Padma Samïbhava và
tất cả chư Phật.
(
SIDDHI HÙMÏ
SIDDHI
là thành tựu, đạt đến, ân sủng và chứng
ngộ. Có 02 thứ thành tựu : Tương Đối và
Tuyệt Đối. Nhờ nhận được ân
sũng tương đối, tất cả chướng
ngại trong đời như: bệnh tật
được tiêu trừ, mọi ước nguyện
đều thành tựu, những lợi lạc như
sống lâu, tiền của tăng và mọi hoàn cảnh
đều tốt lành, giúp cho ta tiến đến giác
ngộ.
Thành
tựu hay ân sũng tuyệt đối đem lại giác
ngộ, trạng thái thực chứng hoàn toàn Đấng
Liên Hoa Sinh, để tự lợi và lợi tha. Bởi
thế nhờ nhớ đến và cầu nguyện
với những năng lực Thân, Lời, Ư của Ngài mà
chúng ta sẽ được những ân sủng
tương đối và tuyệt đối.
SIDDHI
HÙMÏ: được xem là thâu tóm vào tất cả ân sũng
như nam châm hút sắt. HÙMÏ tiêu biểu Tâm Giác Ngộ
của chư Phật và là xúc tác thiêng liêng của Thần
chú, giống như tuyên bố lên quyền năng và chân lư
của Thần chú “Hăy là như vậy !”.
Ư
nghĩa cốt yếu của bài chú là “Con thỉnh
triệu Ngài, Đấng Kim Cương Thượng
Sư, với ân sũng của Ngài, xin hăy ban cho con những
thành tựu Thế Gian và Xuất Thế Gian”.
Ngài
Dilgo Khyentse Rinpoche giải thích:
“12
âm OMÏ ÀHÏ HÙMÏ – VAJRA GURU PADMA SIDDHI HÙMÏ mang tất cả ân
sũng của 12 bộ Kinh Giáo của Phật, tinh túy
của 84.000 Pháp môn. Bởi thế tụng một lần
Thần Chú Kim Cương Thượng Sư cũng có
phước như là 12 bộ loại Kinh Điển và
thực hành các Pháp môn khác. 12 bộ loại Kinh Điển
là phương thuốc giải cứu chúng sinh khỏi 12
Nhân Duyên giam giữ chúng ta trong ṿng sinh tử: Vô minh, Hành,
Thức, Danh sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái,
Thủ, Hữu, Sinh, Già, Chết. 12 móc xích này là guồng
máy luân hồi sinh tử, làm cho luân hồi tiếp nối.
Nhờ đọc tụng 12 âm của Thần Chú Kim
Cương Thượng Sư, 12 Nhân duyên được
tịnh hóa, tẩy sạch cấu uế của nghiệp
cảm và giải thoát sinh tử.
Mặc
dù chúng ta không thể trông thấy được
Đức Liên Hoa Sinh, nhưng Tâm Giác Ngộ của Ngài
đă thể hiện dưới h́nh thức Thần Chú
này. Thần Chú này có được toàn thể ân sũng
của Ngài. Bởi thế, khi bạn kêu cầu Ngài
bằng cách tụng 12 âm thanh Thần Chú này, th́ bạn
được ân sũng và công đức vô lượng.
Trong thời đại khó khăn này, không có chỗ
nương tựa nào bảo đảm hơn Thần Chú
Kim Cương Thượng Sư của Ngài”.
_
Trong thực tế, để có được sự
gần gũi với Bậc Đạo sư chân chính th́
quả là quá khó khăn nhất là trong thời đại
hỗn loạn về Tâm linh và Giáo pháp này.
Trong
quyển “Trong động Tuyết sơn, Tenzin Palmo và
cuộc sống chân lư” của tác giả Vicki Mackenzie do
Thích Nữ Minh Tâm dịch có ghi là:
“Những
lũng đoạn trong Tăng đoàn Phật giáo ở Âu
Mỹ bắt nguồn từ những tật xấu lợi
dưỡng cá nhân của các vị Tăng sĩ. Theo
Phật giáo Tây Tạng, vai tṛ và cương vị của
vị Đạo sư rất quan trọng. Các tín
đồ kính ngưỡng vị Đạo sư của
ḿnh như một vị Phật. “Đạo sư (Guru) là
Phật. Đạo sư là Pháp. Đạo sư là
Tăng”. Từ sự suy tôn đó, người ta thần
thánh hóa vị Đạo sư và cho tất cả những
ǵ vị Đạo sư đó nói đều là đúng,
đều thật và họ đă vô t́nh tôn vinh bản ngă
của ông Đạo sư để rồi đưa
đến những hậu quả thảm hại, ê
chề. Ông Đạo sư cũng vẫn c̣n bằng
xương bằng thịt, đă chứng Thánh quả ǵ
đâu, nên những sự tôn sùng cúng dường quá mức
đă làm nảy sinh tâm tham đắm mê muội. Ví dụ
như trường hợp của Chogyam Trungpa, nguời
Thầy hướng dẫn Tâm linh và cũng là người
bạn đầu tiên của Tenzin Palmo (Nhân vật nữ
chính của sách này) đă để lại bao nhiêu là tai
tiếng bê bối sau khi ông ta qua đời năm 1987.
Trungpa không những ch́m đắm trong men rượu mà c̣n
liên hệ t́nh dục với các nữ tín đồ hay
đệ tử của ông ta. Nhiều người đă
than phiền và tố cáo các hành vi sai trái xúc phạm danh
tiết phụ nữ của Trungpa; họ c̣n cho biết là
cuộc đời họ thực sự đă bị phá
hủy bời ông này. Kinh khủng hơn nữa là
người đệ tử kế thừa của Trungpa,
Thomas Rich, Pháp danh là Osel Tanzin, sanh tại Mỹ, không
những đă nhiễm căn bệnh nguy hiểm AIDS mà ông
ta đă hết sức dấu kín mà c̣n lây luôn cho một
nữ đệ tử trong số hàng loạt các Nữ Tín
Đồ dấu tên của ông ta. Đó là một vài
trường hợp điển h́nh trong số rất
nhiều vụ tai tiếng bê bối của các vị
Đạo sư ở Âu Mỹ.
Các
nữ tín đồ thật vô cùng ngây thơ khi bị các
ông Thầy lừa bịp nói là các cô đă được
tuyển chọn để làm vợ các ông trong sự
liên hệ “Thần Bí” theo phái Mật Tông Tây Tạng. V́
thế, các cô rất ư là hănh diện và sung sướng
là ḿnh đă trúng tuyển đặc biệt. Niềm tin mù
quáng vào ông Thầy đă khiến các cô bị lừa
bịp thảm thương và đồng thời cũng
gây tiếng xấu ảnh hưởng đến Tăng
đoàn Phật giáo. Tenzin Palmo nhận xét rằng
người phụ nữ Tây phương c̣n kém kinh
nghiệm và không hiểu biết phải làm thế nào
để t́m cho được một vị Minh sư, và
ngay cả đến ư nghĩa thế nào là một vị
Đạo sư chân chính, đúng đắn, họ cũng
không rơ nữa. Sự khao khát học hỏi giáo lư và
nương tựa vào một vị lănh đạo tinh
thần đă khiến các phụ nữ Tây phương dễ
bị mắc lừa và trở thành con mồi ngon cho sự
lợi dụng thỏa măn tính dục.
Nhiều
người Tây phương đă hiểu sai về thiên
chức vị Đạo sư. Họ cho rằng vị
Đạo sư là người d́u dắùt họ từng
bước một trên con đường t́m cầu chân lư
như đứa con cần sự d́u dắt của
người mẹ. Nhưng thực ra không phải vậy.
Vị Đạo sư là người có bổn phận
giúp đỡ mọi người nhận thức rơ ràng
hơn, trưởng thành hơn, tỉnh thức hơn.
Chức năng của vị Đạo sư là giới
thiệu cho chúng ta con đường trở về bản
nguyên và sợi dây liên kết giữa Thầy tṛ là một
sự cam kết tôn trọng lẫn nhau. Về phần
người học tṛ th́ phải có Trí Tuệ suy xét
những ǵ Thầy ḿnh làm có đúng Chánh Pháp hay không, nghe
lời Thầy dạy và thực hành theo những ǵ
Thầy hướng dẫn. Về phần người
Thầy cũng phải dậy dỗ hướng dẫn
học tṛ ḿnh đạt đuợc chân lư, dù phải
trải qua vô lượng kiếp.
Đức
Đạt La Lạt Ma cũng có lời khuyên chân thật
rằng: “Quư vị phải t́m hiểu ḍ xét về
người Thầy ḿnh ít nhất là 10 năm. Quư vị
phải nghe, phải quan sát, phải nh́n cho thật kỹ,
cho đến khi quư vị nhận xét ông Thầy đó chắc
chắn là trong sạch. Ngay trong lúc t́m hiểu đó, quư
vị cư xử với vị Thầy đó như
một người b́nh thường và nhận những
lời dạy của ông ta như là “một thông báo,
một lời giới thiệu”. Một người
Thầy chân chính, đúng đắn không bao giờ đi t́m
cầu học tṛ hay tín đồ ǵ cả. Chính Đức
Hạnh và đời sống thanh cao của vị Thầy
sẽ hướng dẫn các Tín đồ t́m đến
vị Thầy xin nương tựa” (Tr. 143 – Tr.144)
Ngoài
ra, Đức Đạt La Lạt Ma cũng công khai
thừa nhận rằng “Trong 100 Tu sĩ th́ chỉ có 10
ông là hoàn toàn đức hạnh, đầy đủ
phẩm chất” (Tr.147)
Chính
v́ thế cho nên dựa vào lời dạy của Đức
Phật là: “Tác ư tác nghiệp”, các vị Đạo
sư Hiển giáo thường khuyên dạy các giáo
đồ hăy cẩn thận trong việc t́m cầu một
người Thầy dẫn đạo và cách tốt
nhất là tự ḿnh cố gắng làm lành lánh dữ,
cố gắng thường thấy lỗi của ḿnh,
cố gắng rèn luyện thân tâm dần dần xa ĺa các tâm
ư: ảo tưởng kiêu mạn, ganh tỵ tranh
đấu, hoài nghi tự kiêu, tŕ độn mù quáng, tham
dục thèm khát, giận dữ oán hận đồng
thời gieo duyên với các Bậc Đạo sư chânh
chính qua pháp Quy y Tăng. Các Ngài dạy rằng:
“Tăng
là người đào tận phiền năo. Bởi v́ các
vị ấy luôn cố gắng tu tập giáo pháp giải
thoát nhằm đào bới tận gốc rễ phiền
năo, điều phục thân tâm vượt thoát tham dục,
dứt trừ ngu si”.
Do
vậy “Khi Quy y Tăng. Ta đỉnh lễ chư
Tăng với tâm nguyện cầu cho ḿnh thường
gặp các Đạo sư chân chính và nguyện tự xây
dựng cho ḿnh một cuộc sống: Hiền thiện,
ngay thẳng, mực thước, chân chính, vị tha ngay
trong đời hiện tại này”.
Như
thế, do NHÂN chân thật th́ chắc chắn ta sẽ
đạt được Quả chân thật nghĩa là ta
sẽ gặp được vị Đạo sư chân
chính và trực kiến được vị Đạo
sư Vô Thượng trong Tâm của ḿnh.
Qua
các vấn đề trên, nếu nhấn mạnh vào khía
cạnh đánh thức và tuân theo Minh Sư Trí vốn có
trong Tâm ḿnh để có được cuộc sống cao
đẹp có ư nghĩa th́ bài Thần Chú Đạo Sư
“OMÏ ÀHÏ HÙMÏ VARA GURU PADME SIDDHI HÙMÏ” chính là phương pháp
căn bản để trực kiến được
viên ngọc Trí Tuệ trong Tâm hoa sen của Lục Tự
Đại Minh Chú.
IV.
Thần chú Tức Thân Thành Phật:
Như
Ư Bảo Châu Chuyển Luân Bí Mật hiện thân thành
Phật, Kim Cương Chú Vương Kinh, phẩm thứ
6 “A Xà Lê Thành Phật” có ghi là:
“Bấy
giờ Đức Thích Ca Mâu Ni nhập Nhất Thế Phật
phát tâm giác ngộ Pháp giới B́nh Đẳng Tính Giả tu
hành Bồ Đề Đại Niết Bàn thuờng
trụ Kim Cương Tam Muội, nói Hữu T́nh quyết
định thành Phật chân ngôn là:
OMÏ
A VAMÏ RAMÏ HAMÏ KHAMÏ MANÏI PADME
HÙMÏ.
Nếu
có Hữu t́nh tụng một biến tức
được giải thoát khỏi biển sinh tử
đến cơi Niết Bàn. Tất cả Hữu T́nh
đều thành 03 loại Tất Địa, tất cả
ư nguyện, Thiện nguyện trong một thời thành
tựu. Cho nên, các ông phải một ḷng tu hành Pháp này,
khiến mở được kho báu Bí Mật Vô
Thượng cho người tu hành Chân ngôn, tức là Vô
Thượng thậm thâm Bí Pháp, rất là Bí Mật trong các
Pháp Bí mật.
Phật
nói Chân Ngôn xong, tức thời hiện Biến Chiếu
Như Lai, đầu đội măo Ngũ Phật, nói
Tức Thân Thành Phật Đại Hải Ấn, c̣n có tên
là Tam Muội Gia Ấn. Nếu có Phật tử muốn
được Tức Thành Phật nên tu Pháp Quán này, hay
khiến Thân cha mẹ sinh ra thành Thân Phật. Liền
hướng Bản Tôn Như Ư Bảo Châu Vương nói Pháp
Giới Tháp Bà Ấn. Chắp tay trống ḷng (Hư tâm
hợp chưởng) 8 ngón như Bảo b́nh (b́nh Báu)
tức thành Bí Ấn.
Quán
chữ A (狣) hết thảy Trí
Tuệ rộng lớn thanh tịnh Pháp môn, chữ này
rộng lớn biến khắc hư không trong ngoài không phân
biệt, có 02 màu vàng trắng chiếu khắp Địa
Luân Diệu Thế, ĺa các cảnh giới, khởi ư
nhiếp các Hữu T́nh an trụ tại tâm, đồng
với Hư không, thành tựu tất cả Thượng
phẩm Tất Địa.
Chữ
VAMÏ (圳) nhập vào trung tâm là Man
Đà La gia tŕ tự thân, sắc như màu trắng
tuyết, là Thủy Luân rửa thân không c̣n tội lỗi,
ĺa các Cấu Quả (Quả dơ bẩn).
Chữ
RAMÏ (劣) tự thể thanh
tịnh Vô cấu Môn.
Chữ
HAMÏ (曳) Nhân nghiệp ĺa khỏi
tất cả Pháp, rời các Cấu, ra khỏi sinh tử.
Chữ
KHAMÏ (丈) là Đại Không, không
sinh, an trụ Pháp giới, không nói năng, không có hai
tướng.
Ở
nơi thanh tịnh rộng 03 khuỷu tay, “Trừ
Địa” như trong Nghi thức Hộ Ma. Giữa
cửa để đài sen 32 cánh, trên để Như Ư
Bảo Châu Vương Bồ Tát phóng quang chiếu khắp.
Sáu đạo Hữu T́nh gặp ánh quang liền bỏ thân
được Bất Hoại Kim Cương Tam Muội,
trụ Giáo Vương Phổ Hiền Thánh vị. Tất
cả các Như Lai và 16 vị Bồ Tát xoa đầu
thọ kư ban cho măo Phật, thọ mệnh 01 kiếp, không
bỏ Thân này thấy được Phật Di Lặc,
mạng chung liền được văng sanh Vô Lượng
Thọ Phật quốc”.
Như
chúng ta đă biết, Đức Phật có dạy rằng:
“Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ
thành”. Từ câu nói này, các hệ phái Đại Thừa
đă mở rộng thành các quan điểm tư
tưởng: “Tất cả chúng sinh đều có
Phật tính”, “Bản chất con người sẵn
có Phật tâm”, “Chúng Hữu T́nh có năng thành Phật”
… và toàn bộ Giáo Pháp của Phật giáo đều tập
trung vào sự hóa độ chúng Hữu T́nh.
Dựa
vào những căn tính khác nhau của chúng sinh, Đức
Phật đă giảng dạy các Pháp môn: Danh sắc
(Nàma Rùpa- Tâm và Sắc) , 5 Uẩn (Pamïca Skandha), 6 Xứ
(Sïadïàyatana), 12 Xứ (Dvàda’sàyatana), 18 Giới (Asïtïàda’sa
dhàtavahï), 6 Đại giới (Sïadïa dhàtu) … nhằm giúp cho
chúng Hữu T́nh nhanh chóng trực ngộ được
thực chất của ḿnh và nương vào đó
để vượt thoát cảnh khổ năo của ṿng
luân hồi sinh tử.
Sự
khảo sát thực chất của chúng Hữu T́nh không ra
ngoài dạng Sắc (Rùpa) và Tâm (Citta) nên hệ thống
Mật giáo đă dùng 6 đại: Địa đại
(Prïthivi – dhàtu), Thủy đại (Ab-dhàtu), Hỏa
đại (Tejo-dhàtu), Phong đại ( Vàyu-dhàtu), Không
đại (Àkà’sa-dhàtu), Thức đại (Vijnơàna-dhàtu) làm
đối tượng Thiền định, trong đó 05
đại đầu là Sắc và đại thứ sáu là
Tâm. Sắc là nguyên tắc vận chuyển của muôn
vật và Tâm là nguyên lư phản chiếu trên sắc. Cho nên 05
đại đầu là LƯ cái được biết, là
sự thật và đại thứ 06 là TRÍ tức là cái
biết hay người biết (Giác giả), là Trí Tuệ
nhận biết sự thật. Cả hai dạng Sắc,
Tâm (hay Lư, Trí) đều không thể tác rời nhau mà
tồn tại được. Như vậy, khi
đối vật, nếu chúng Hữu T́nh đem Tâm tham ái
(Ràga) Sân hận (Dvesïa) Si mê (Moha) phản chiếu lên chúng th́
vạn pháp trở thành ṿng dây phiền năo cột chặt
chúng sinh vào ṿng sinh tử luân hồi. Ngược lại,
nếu chúng Hữu T́nh dùng Tâm ư sáng suốt (Buddhi),
Định tĩnh (Samàdhi), Trong lành (vi’sudhha) phản
chiếu lên vật th́ vạn Pháp trở thành diệu
dụng nhiệm màu thúc đẩy bậc Giác Giả an
nhiên tự tại, vượt thoạt mọi phiền năo
khổ đau.
Do
ư nghĩa này, khởi điểm của Mật tông Du Già
Phật giáo không phụ thuộc vào Vũ trụ học hay
Thần học siêu h́nh mà chính là thuộc Tâm lư học.
OMÏ
(輆) là Thực đại
(Vijnơàna-dhàtu) biểu tượng cho Tâm Trí, là nguyên lư
nhận biết vạn vật.
A
(狣) là Địa Đại
(Prïthivi-dhàtu) biểu tượng cho nguyên lư rắn chắc
sinh ra đất đai, núi, ḷng biển … Ngoài ra A c̣n
biểu tượng cho nguyên lư Bất động, h́nh
tướng và đọa tính (tức quán tính của
vật chất).
VAMÏ
(皿) là Thủy đại
(Ab-dhàtu) biểu tượng cho nguyên ư ngưng tụ, dính
ướt sinh ra sông, suối, vạn nguồn nước
… Ngoài ta VAMÏ c̣n biểu tượng cho sự tiêu tan, sự
ḥa hợp nhất trí, thuốc trường sinh, sự
phản chiếu, chiều sâu của Tâm thức.
RAMÏ
(劣) là Hỏa đại
(Tejo-dhàtu) biểu tượng cho nguyên lư nấu chín, nung
nóng sinh ra vàng, ngọc, châu báu, mặt trời, mặt
trăng, tinh thần, hỏa châu, ánh sáng … Ngoài ra RAMÏ c̣n biểu
tượng cho sự trông thấy, sự phá hoại,
sự nóng chảy, sự thu nhiếp, nhiệt tâm, sự
phấn khởi, sự hy sinh, năng khiếu nội quán,
trực giác.
HAMÏ
(曳) là Phong đại
(Vàyu-dhàtu) biểu tượng cho nguyên lư rung động,
bốc hơi, lay chuyển sinh ra ngũ cốc, quả
trái, hoa lá … Ngoài ra, HAMÏ c̣n biểu tượng cho ḍng
nghiệp báo, hoạt động phổ biến của Tâm
linh.
KHAMÏ
(丈) là Không đại
(Àkà’sa-dhàtu) biểu tượng cho nguyên lư rỗng không, vô
hạn, vô ngại, dung chứa tất cả hiện
tượng sinh ra hương thơm, nhan sắc xinh đẹp,
phú quư, phước Đức, tướng mạo trang
nghiêm, 3 cơi 6 nẻo… Ngoài ra KHAMÏ c̣n biểu tượng cho
nguyên lư sáng tạo tự do của Tâm thức.
Khi
tiếp xúc với nguyên tố rắc chắc (Địa
đại) do Tâm ư chấp trước vào h́nh tướng
giả hợp của vạn vật nên chúng sinh đă
khởi tâm tham lam muốn chiếm hữu vạn vật
làm của riêng cho ḿnh. Trong khi chiếm hữu, có lúc
được có lúc không nên Tâm Thức đă tạo ra
sự giận dữ ḥa hợp với nguyên tố ngưng
tụ, dính ướt (Thủy đại) là cho Tâm Trí
bị mờ ám không nhận biết được
thực tướng của vạn hữu là Vô
thường (Anitya), phiền năo bất toàn (Duhïkha) Vô ngă
(Anàtman). Từ đây, sự mê mờ của Tâm Thức
đă phố hợp với nguyên lư nung nấu (Hỏa
đại) tạo thành nhiệt tâm đam mê ích kỷ,
chỉ muốn làm thỏa măn mọi cảm giác có
được. Đồng thời nhiệt tâm ích kỷ
này đă phối hợp với nguyên lư rung động, lay
chuyển (Phong đại) tạo nên những hành vị
vị kỷ vọng tha (v́ ḿnh quên người khác) ghen ghét
những ǵ không phù hợp với ḿnh. Chính hành vi vị
kỷ vong tha này đă phối hợp cùng nguyên lư rỗng
không, vô hạn, vô ngại (Không đại) tạo nên ḍng
sinh mệnh Hữu T́nh trong 3 cơi 6 đường. Khi ḍng
sinh mệnh được tạo lập, do mê lầm
đắm chấp vào tư tưởng “Thật có ta,
thật có vật” nên chúng sinh lại buông thả, tùy theo
sự đam mê ích kỷ mà măi măi chịu trôi nổi trong
ḍng sinh tử khổ đau.
Ngược
lại, khi tiếp xúc với vạn vật, nếu tâm ư
không lệ thuộc vào h́nh tướng của vật
chất, luôn luôn thấy như thật với chính Trí
Tuệ là “Cái này không phải của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải là tự ngă của tôi” th́
Địa đại sẽ trở thành nguyên lư Bất
động, nâng đỡ và chở che vạn vật
một cách vô tư. Lúc ấy, Thủy đại trở
thành nguyên lư phản chiếu rơ ràng mọi chân tướng
của vật chất. Hỏa đại trở thành nguyên
lư nhận biết phân biệt rơ ràng. Phong đại
trở thành nguyên lư hoạt động vô tư vô kỷ
(không có cái của ta, không có cái ta) nhằm thúc đẩy
Không đại hiện bày nguyên lư tự do tối
thượng, là đỉnh cao của Tâm thức giải
thoát. Khi đó, chúng sinh đă tự ḿnh phá vỡ cái Bản
ngă hẹp ḥi, bỏ qua sự giới hạn và trở
thành một với cái vô hạn, nghĩa là trực kiến
được chân thể của Chân Như.
_
Theo Ngũ Luân Tam Muội th́:
A
(狣) có nghĩa là “Tất
cả Pháp vốn chẳng sinh”. Trong quá tŕnh Thiền
định, đột nhiên hành giả tự giác
được tướng của thân tâm đều
trống rỗng (‘Sùnya – Không) phá hủy chủ thể và
quan niệm chủ quan về Thế giới, chỉ chú ư
đến Thể NHƯ (Tàthata) Khách quan. Nhận rơ
được các vật cũng như cái rỗng không, cái
rỗng không cũng là các vật. Tức nhận biết
được các tổng thể trong mỗi h́nh
tướng hiện tượng. Cái biết về cái vô
hạn trong cái hữu hạn, cái vô thời hạn trong cái
có thời hạn, nghĩa là cái biết bao quát về
tất cả sự vật hữu tướng và vô
tướng. Nhờ vậy, Tâm hành giả an nhiên bất
động giống như ĐẤT có đủ 02
nghĩa Trụ Tŕ bất động và sinh ra vạn
vật. V́ thế, Tam Muội này được gọi là
ĐỊA LUÂN TAM MUỘI.
VAMÏ
(圳) là thanh chuyển của
chữ VA (向) với VA là chủng
tử của ngôn ngữ, nó đưa đến sự
giận dữ chướng ngại. Nhưng trong chữ VA
lại có chữ A. Khi nhập vào chữ A th́ ĺa được
sự giận dữ và chướng ngại. Do vậy, A
Tự Môn có nghĩa là “Vượt quá đường ngôn ngữ”.
Khi chữ VA được chấm thêm điểm
đại không trên đầu th́ trở thành VAMÏ (圳). V́ điểm Đại Không
biểu thị cho nghĩa Tam Muội đại không nên
VAMÏ chính là Đại Bi Trí Thủy (Nước Trí
Đại Bi) hay dập tắt lửa sân nộ và nuôi
lớn căn lành vượt qua chướng ngại. Trong
quá tŕnh Thiền Định, Hành giả ở trong
Địa Luân Tam Muội, nếu an nhiên với mọi
cảm giác dẫn đến sự an lạc tràn khắp
thân thể, nước Định thấm ướt Tâm
và phát ra mọi công đức của Thiền định.
Nghĩa là Hành giả tự giác trong Tâm, tăng
trưởng căn lành, thân tâm nhu nhuyễn, phá nát Tâm cao
ngạo sân nộ và tùy thuộc Thiện pháp giống
như Nước có 02 nghĩa là thấm ướt sinh
trưởng và tự tính nhu nhuyễn. V́ thế, Tam
Muội này được gọi là THỦY LUÂN TAM
MUỘI.
RAMÏ
(劣) là thanh chuyển của
chữ Ra (先), trong đó Ra Tự Môn có
nghĩa là “Giải thoát được các tội lỗi”.
Do có điểm Đại Không trên đầu nên RAMÏ chính
là Trí Hỏa Tam muội hay thiêu đốt tất cả
bụi dơ vô thủy vô minh của chúng sinh và giúp cho
mầm giống của Tâm Bồ Đề được
sinh trưởng giống như lửa có 02 nghĩa là thiêu
cháy và làm chín. Trong Thiền Định, hành giả trực
kiến được sự tiếp hợp của các
trạng thái trái ngược nhau. Bằng nhiệt tâm buông
xả, hành giả thu nhiếp được tất
cả Đức Tính, nối liền các điều cao siêu
nhất với sự sâu kín nhất. Nghĩa là hành giả
phát khởi Kiến Tư Chân Tuệ, phá vỡ tất
cả trần sa phiền năo, bước vào địa
vị Tam Hiền Thập Địa. V́ thế, Tam Muội
này được gọi là Hỏa Luân Tam Muội.
HẠM
(曳) là thanh chuyển của
chữ HA (成) trong đó Ha Tự Môn có
nghĩa là : “Mau ĺa các nhân duyên”. Do có điểm Đại
Không trên đầu nên HẠM chính là Tự Tại Lực
Tam Muội hay đuổi trừ ma ác, đập nát các
phiền năo, được đạo phương
tiện, hay phát sinh các loại căn lành xuất thế,
sinh trưởng công đức. Trong Thiền Định,
hành giả trực nhận được sự biến
đổi luân hồi của cơ thể và tăng dần
sự giác ngộ trong tâm trí giống như gió hay phá
hoại và lay động vạn vật. V́ thế HAMÏ
được gọi là PHONG LUÂN TAM MUỘI
KHAMÏ
(丈) là thanh chuyển của
chữ KHA (几) trong đó Kha Tự Môn có
nghĩa là: “Trí ngang bằng với Hư Không”. Do có
điểm Đại Không trên đầu nên KHAMÏ chính là
Đại Không Tam Muội, hay cắt đứt tất
cả Kiết sử, thành tựu A La Hán (Arhat). Nếu
tại Tâm Bồ Tát tức là Kim Cương Bát Nhă (Vajra
Prajnơa – Kim Cương Tuệ) hay phá trừ Tổng
Hoặc của Vô minh (Avidya) chứng đắc Nhất
Thiết chủng Trí. Bồ Tát y vào đó có thể
đắc quả Đại Bồ Đề. Trong
Thiền Định, các cảm giác có ngă của hành giả
được phóng thích, được tự do, vượt
qua cái muốn của nhân vị. Lúc đó, các quyền
năng Tâm thức được thức tỉnh và
thực hiện được sự hoàn măn cao cả
nhất của tinh thần trong thực trạng giác
ngộ. Nghĩa là tâm Thức Cá Nhân trở thành Tâm thức
Tổng thể, là đỉnh cao của sự giải
thoát, là Đẳng ngang bằng của Tự Thân và Pháp
giới, giống như Hư Không ngang bằng tất
cả. V́ thế, KHAMÏ được gọi là KHÔNG
LUÂN TAM MUỘI.
_
Nếu hành giả tu tŕ Chân ngôn dùng 05 chữ A VAMÏ RAMÏ HAMÏ
KHAMÏ bố trí trên 05 bộ vị của thân thể
để trang nghiêm gia tŕ thân ḿnh th́ gọi là: Ngũ
Tự Nghiêm Thân Quán, Ngũ Luân Thành Thân Quán, Ngũ
Tướng Thành Thân Quán.
Chữ
A (狣) là h́nh vuông, màu vàng (Ṕta)
quán làm Kim Cương Luân, gia tŕ ở thân dưới và
gọi là Du Già Tọa, trụ ở Kim Cương kiên
cố là đất của Tâm Bồ Đề.
Chữ
VAMÏ (圳) là h́nh tṛn, màu trắng
(Avadàta) quán làm Thủy Luân, gia tŕ trên rốn, gọi là
Đại Bi Thủy, hay đắc được
Đại Bi Tam Muội.
Chữ
RAMÏ (劣) là h́nh tam giác, màu
đỏ (Lohita) quán làm Hỏa Luân, gia tŕ ở trái tim,
gọi là Trí Hỏa Quang, hay trừ Cấu Uế.
Chữ
HAMÏ (曳) là h́nh bán nguyệt, màu
đen (Krïsïnïa), quán làm Phong Luân, gia tŕ ở Tam Tinh, gọi
là Tự Tại Lực, hay đuổi trừ ma ác.
Chữ
KHAMÏ (丈) là h́nh chấm, h́nh
giọt, màu tạp sắc (Vicitra varnïa) quán làm Không luân, gia
tŕ ở đỉnh đầu, gọi là Đại Không,
hay ngang bằng giữa Tự thân và Pháp giới.
_
Theo ư nghĩa “Phát sinh chư Phật” th́ 05 đại
được diễn tả là:
A
là gieo hạt giống Tâm Bồ Đề xuống giữa
Đất Tâm Nhất Thiết Trí
VAMÏ
là dùng nước Đại Bi làm cho thấm ướt
hạt giống.
RAMÏ
là dùng mặt trời Đại Tuệ soi vào để
thúc chín hạt giống
HAMÏ
là dùng gió phương tiện hô hào khuyến thích thúc
đẩy hạt giống tăng trưởng
KHAMÏ
là dùng cai trống rỗng của Đại Không làm cho
hạt giống tăng trưởng không ngăn ngại.
Nhờ thế hạt giống bất tư nghị kia
cứ thứ lớp lớn dần cho đến khi tràn
đầy Pháp giới, hiện thành cây Pháp Vương.
_
Trong “Tam Chủng Tất Địa Phá Địa
Ngục Chuyển Nghiệp Chướng Xuất Tam
Giới Bí Mật Đà La Ni” do Tam Tạng Thiện Vô Úy
dịch th́:
“A
VAMÏ RAMÏ HAMÏ KHAMÏ được gọi là Ngũ Tự Pháp
Thân Chân ngôn. Nếu từ chữ A quán xét rơ ràng như
mặt trời chiếu trên hư không tức là Liễu
Quán Phật Tính và sẽ gặt được phuớc báo
không có ǵ sánh được”.
Ngoài
ra Kinh này c̣n ghi nhận là:
Chữ
A là Kim Cương Bộ (Vajra Kulàya) là Lư Pháp Thân của
Đại Nhật Như Lai, vốn có tính thanh tĩnh nên
chẳng thể đắc được Lư cùng cực
cứu cánh. Theo quy ước th́ Địa là Sắc
uẩn (Rùpa Skandha) được phối trí với
Đức A Súc Như Lai ở phương Đông.
VAMÏ
là Liên Hoa Bộ (Padma Kulàya) là Báo Thân của Đại
Nhật Như Lai, tức là Pháp Thần thông tự tại
thuộc biển Trí của Đại Nhật Như Lai.
Theo quy ước th́ Thủy là Tưởng Uẩn (Samïjnơa
Skandha) được phối trí với Đức A Di
Đà Như Lai ở phương Tây.
RAMÏ
là Bảo Bộ (Ratna Kulàya) là Hóa Thân của Đại
Nhật Như Lai, tức là Lư Hỏa trong đất Tâm
của Đại Nhật Như Lai, hay thiêu đốt
tất cả bụi dơ vô thủy vô minh của chúng sinh
và sinh mầm giống của Tâm Bồ Đề. Theo quy
ước th́ Hỏa là Thọ Uẩn (Vedanà Skandha)
được phối trí với Đức Bảo Sinh
Như Lai ở phương Nam.
HAMÏ
là Yết Ma Bộ (Karma Kulàya) là Pháp Thân Đại Lực
của Đại Nhật Như Lai, tức là nghĩa
của 03 môn giải thoát, 03 Tế chẳng thể
đắc thuộc Phong đại trong sự
thường trụ vô lượng của Đại
Nhật Như Lai. Theo quy ước th́ Phong là Hành Uẩn
(Samïskàra Skandha) được phối trí với
Đức Bất Không Thành Tựu Như Lai ở
phương Bắc.
KHAMÏ
là Hư Không Bộ (Àkà'sa Kulàya) là Tướng Vô Kiến
đỉnh của Đại Nhật Như Lai, là xứ
đại Không Trí, tức sở chứng của 05 vị
Phật, là Lư Trí của Chân Như tịch diệt Theo quy
ước th́ Không là Thức uẩn (Vijnơàna Skandha)
được phối trí với Đức Tỳ Lô Giá Na
ở phương chính giữa.
_
Theo hệ thống Mật giáo Tây Tạng th́ A Súc Như Lai
là dạng Thần cách hóa của Trí Đại Viên Kính
(Adar’sa Jnơàna) là kinh nghiệm Tâm thức bất động,
trực tiếp trông thấy mọi hiện tượng
đang hiện hành trong Pháp Giới một cách rơ ràng không
vướng mắc. Tức là trí thanh lọc làm tiêu tan và
thu nhiếp tất cả yếu tố nhân vị của
cá nhân.
Bảo
Sinh Như Lai là dạng Thần cách hóa của Trí B́nh
Đẳng Tính (Samanta Jnơàna) là Trí thấy biết sự
nhất thể sâu kín, căn bản của các thực
thể. Do Trí này mà mọi t́nh cảm ích kỷ riêng tư
được chuyển hóa thành t́nh thương bao quát
tất cả.
A
Di Đà Như Lai là dạng Thần cách hóa của trí
Diệu Quán Sát (Pratyaveksïana Jnơàna) là Trí thấy biết
nội tâm một cách rơ ràng, là Trí khéo quán tướng chung
tướng riêng của các Pháp mà không hề bị ngăn
chuyển, lạiy theo từng loại căn cơ của
chúng Hữu T́nh mà thuyết Pháp giáo hóa họ một cách
tự tại.
Bất
Không Thành Tựu Như Lai là dạng Thần cách hóa của
Trí Thành Sở Tác (Krïtya Musïtïhàna Jnơàna) là Trí phân biệt rơ
ràng các hậu quả của mọi hành động và thành
tựu được tất cả công Đức. Đây
là Trí giải thoát các nghiệp.
Tỳ
Lô Giá Na Như Lai là dạng Thần cách hóa của Trí Pháp
Giới Thể Tính (Dharma dhàtu parakrïti Jnơàna) là Trí thâm
nhập khắp nơi trong Pháp giới, chuyển hóa Tâm
thức cá vị thành Tâm Thức tổng quát.
Do
Trí Vô ngại vô tư nhận biết mọi sự vật
đúng theo bản chất chân thật của chúng mà
Đại Viên Kính Trí đă đẩy xa sự giận ghét
oán hận và tŕ độn mù quáng, chấm dứt những
h́nh thức hiện sinh quỷ quái ở cơi Địa
Ngục và cơi Súc Sinh.
Do
Trí B́nh Đẳng không chấp trước, vô tư vô
kỷ mà B́nh Đẳng Tính Trí đă làm mất Bản ngă
tự phụ hoài nghi, chấm dứt h́nh thức hiện
sinh ở cơi Người.
Do
Trí phân biệt cao diệu nên Diệu Quán Sát Trí đă
loại bỏ sự tham dục đam mê thèm khát, chấm
dứt h́nh thức hiện sinh ở cơi Ngạ Quỷ.
Do
Trí biểu thị ḷng Từ Bi và hảo tâm mà Thành Sở
Tác Trí đă làm chấm dứt sự ganh tỵ tranh
đấu, chấm dứt h́nh thức hiện sinh ở
cơi
Do
Trí thấy biết thực tại cao siêu nhất mà Pháp
Giới Thế Tính Trí đă đẩy xa những ảo
tưởng kiêu mạn của chư Thiên và tham vọng có
một h́nh thức hiện sinh như thế.
Như
vậy, 05 Trí chính là phương tiện loại bỏ
mọi h́nh thức tái sinh trong 03 cơi 06 đường,
nghĩa là chấm dứt ḍng sinh tử phiền năo khổ
đau. Nói cách khác, khi nhận biết được
thực tính của 05 đại th́ 05 Uẩn tan ră (Ngũ uẩn
giai không) và 05 Trí hiện bày, tức là Phật Trí hiển
hiện trong Tâm. Từ đấy, chúng Hữu T́nh từ
bỏ mọi h́nh thức phiền năo trói buộc mà đi
vào cuộc sống cao đẹp của Thánh nhân.
Theo hệ thống Đông Mật
của Nhật Bản th́ 05 đại: địa,
thủy, hỏa, phong, không là 05 phần của Tháp Suất
Đỗ ba (Stùpa) tượng trưng cho Chân như là
một Thân viên măn biểu thị cho cái bị biết
(tức Thai tạng Giới – Garbha dhàtu) c̣n Thức
đại là cái (tức Kim Cương Giới – Vajra dhàtu)
phản chiếu trên cái sự biết và Pháp Thân Đại
Nhật Như Lai đại diện cho sự dung hợp
của 02 bên được diễn tả như sau:

Pháp
Thân của Đại Nhật Như Lai là dạng nhân cách
hóa của Pháp (Chân Như) với mục đích nhấn
mạnh rằng “Bản chất của con người là
Pháp Thân Đại Nhật”.
V́
vậy, Đại sư Hoằng Pháp (Kobo) tức Không
Hải (KuKai) đă nói “Kinh và Luận che dấu sự bí
mật của Chân ngôn thừa. Nếu không dùng h́nh vẽ,
người ta không thể hiểu được”
_
Qua sự khảo sát trên, chúng ta nhận thấy:
OMÏ
A VAMÏ RAMÏ HAMÏ KHAMÏ nghĩa là nhận biết được
thực tính của 05 đại: địa thủy
hỏa phong không, và được Thần cách hóa thành
Biến Chiếu Như Lai (Vairocana Tathàgata).
MANÏI
là viên ngọc báu hay Trí Tuệ, được Thần cách
hóa thành Như Ư Bảo Châu Vương Bồ Tát (Cinta manïi
ràja Bodhisatva) hay ban Phước báu và Trí tuệ cho chúng
Hữu T́nh nhằm giúp cho họ thọ nhận
được Tam Muội Kim Cương Bất Hoại và
Thánh vị của Phổ Hiền Bồ tát (Samanta Bhadra
Bodhisatva). Do Phổ Hiền Bồ Tát đại diện cho
Tâm Bồ Đề , nên rốt ráo Như Ư Bảo Châu
Vương Bồ Tát lại chính là Phật Trí vốn có
của chúng hữu T́nh.
PADME
là bên trong hoa sen, hay bên trong bản Tâm thanh tịnh không
cấu nhiễm.
HÙMÏ
là cuộc sống cao đẹp của Thánh nhân.
Do
vậy, “OMÏ A VAMÏ RAMÏ HAMÏ KHAMÏ – MANÏI PADME HÙMÏ” có thể
được diễn dịch là: “Khi nhận biết
được thực tính của của 05 đại th́
Phật Trí hiển hiện trong Tâm Thanh Tịnh vô nhiễm
cấu để đi vào cuộc sống cao đẹp
của Thánh nhân”
Dựa
vào ư nghĩa này th́ Thần chú “Tức Thân Thành Phật” là
phương tiện trực kiến Phật Trí của
Lục Tự Đại Minh Chú Tự Minh chú.
V.
Thần chú Bát Nhă (Prajnơa Pàramita Mantra)
Lược bản “Bát Nhă Ba La
Mật Đa Tâm Kinh” được kết thúc bằng câu
chú nguyện 丫包 丫包 扒先丫包 扒先戌丫包 回囚 送扣
“
GATE GATE PÀRAGATE PÀRASAMÏGATE BODHI SVÀHÀ”
Câu
Chú này hàm chứa đường lối thực hành Giáo
Pháp giải thoát của Phật Giáo và nhấn mạnh vào
sự lợi ích thật sự của Trí Tuệ Bát Nhă là
dứt trừ tận gốc rễ sự trói buộc
của phiền năo khổ đau,đem lại sự an
lành cho tất cả chúng sinh.
_
Trong quyển “Kindness Clarity and insight” do Thiện Tri Thức
xuất bản th́ Đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ 14 có dạy rằng:
“Trong
Tâm Kinh, sự tiến bộ biểu lộ trong câu Thần
Chú GATE GATE PÀRAGATE PÀRASAMÏGATE BODHI SVÀHÀ
(vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, hoàn
toàn vượt qua bên kia, hăy ở như thế trong sự
giác ngộ)
Chữ
GATE đầu tiên liên hệ đến con đường
tích tập (gom chứa)
Chữ
GATE thứ hai là con đường sửa soạn.
Trong
02 giai đoạn này, sự tiếp cận Tính Không c̣n mang
dấu vết Nhị Nguyên, có Trí Tuệ, cái soi thấu Tánh
Không và có Tánh Không được soi chiếu.
PÀRAGATE
: vượt qua bên kia, chỉ ra sự băng qua từ
mức độ Thế Gian của con đường
Thấy (Kiến đạo vị) khi vượt qua giai
đoạn này, tri giác Nhị Nguyên tan biến
PÀRASAMẠGATE
: hoàn toàn vượt qua bên kia, chỉ ra con đường
Thiền Định suốt trong đó các bạn thực
hành đă làm quen ngày càng nhiều với Tánh Không mà các bạn
đă có tiếp cận trực tiếp đầu tiên tên
con đường Thầy.
Để
có thể kết thúc, cái nh́n chánh đáng (Chánh kiến) cho
phép các bạn siêu vượt ṿng sinh tử luân hồi và
thực hiện giác ngộ (BODHI) cái trạng thái biến
bạn thành một người an lạc và giải thoát cho
tất cả (SVÀHÀ).
_
Theo cách giải thích khác th́:
GATE
(丫包) là vượt qua, có nghĩa là hăy
vượt qua những sai lầm về lư trí đă do ư
thức phát khởi lên nhiều thức che mờ thực
tại mà sinh ra sự kiêu mạn, sự nghi ngờ, sự
thấy biết sai lệch của xác thân, sự hiểu
biết sai chân lư, sự hiểu biết bởi: thành
kiến, tập quán, dục vọng h́nh thành. Sự tu
tập sai đường như: tuyệt thực, hành
hạ xác thân, cầu trường sinh bất tử … do
giáo lư ngoại đạo xây dựng. Nếu những ai
đă có cố gắng và thật sự vượt qua
những mê lầm này (Diệt trừ Kiến Hoặc) th́
sẽ thấu hiểu chân lư VÔ NGĂ đồng thời
nhận biết được lối đi chân chính. Giai
đoạn này gọi là KIẾN ĐẠO.
GATE
(丫包) là vượt qua. Khi đă thấy
được lối đi chân chính th́ thế lực
của Tham ái chấp thủ đă được giảm
bớt. Tuy nhiên, thế lực này đă được
củng cố từ bao đời kiếp khó có thể phá
vỡ ngay nên hành giả cần phải cố gắng
chuyên chú vượt qua những sai lầm về t́nh
cảm. Tức là, hăy vượt qua các Tâm niệm: Tham ái,
Sân hận, Si mê, được 05 Thức Thân hỗ
trợ khi đối đăi với 05 Trần cảnh. Do
đó, những ai nắm vững tinh thần “Vô sở
Trụ, vô sở Chấp” và đă học tập rèn
luyện các Pháp Môn thích ứng với ḿnh để
thấm ướt năng lực giải thoát th́ sẽ mau
chóng vượt qua những phiền năo chướng
ngại này. Khi Tham ái, Sân hận, Si mê đă bị tiêu
diệt tận gốc rễ (Dứt trừ Tư
Hoặc) th́ trạng thái an lạc giải thoát hiển
hiện.
PÀRAGATE
(扒先丫包) là vượt qua bờ
bên kia. Khi trạng thái an lạc giải thoát hiển
hiện, tức là các bậc Tu hành đă thật sự
xả kỷ diệt Ngă chấp hoàn toàn để siêu hóa lư
trí, chứng ngộ Không Tính (‘Sùnyata) của vạn hữu
hay là đă biết chuyển y để biến diệu hữu
thành Chân Không. Lúc này các bậc tu hành đă hoàn thiện công
Đức vô vi, mọi nợ nần của Tâm Thức
đă được hoàn tất và chấm dứt sinh
tử luân hồi (Dứt trừ Lậu Hoặc). Đây là
trạng thái TỰ GIÁC VIÊN MĂN hay hoàn thiện trí tuệ Bát
Nhă bờkia, tức là chứng ngộ Niết Bàn và là
mục đích cuối cùng của hàng Nhị Thừa.
PÀRASAMÏGATE
(扒先戌丫包) là vượt qua bờ
bên kia hoàn toàn. Đối với các Bậc Bồ Tát th́
mục đích rốt ráo là chứng đắc quả
vị Vô Thượng chính đẳng chính Giác cho nên khi
Thiện căn chưa đầy đủ th́ các Ngài không
chứng nhập quả vị Niết Bàn mà vận
dụng Trí Tuệ Bát Nhă bờ cao thượng chuyển
Chân Không thành Diệu Hữu, hay là rời Chân Đế
(Pàramartha) ḥa nhập cùng Thế Tục Đế (Samvrïti)
thi hành hạnh nguyện cao cả qua việc hóa độ
chúng sinh để hoàn thiện phước báu Hữu vi.
Khi công hạnh GIÁC THA viên măn th́ vị Bồ Tát Nhất sinh
Bổ xứ sẽ lâm phàm kiếp chót để hoàn
chỉnh GIÁC HẠNH viên măn, tức là hoàn thiện Phật
Trí và chứng nhận quả vị Vô Thượng chính
Đẳng Chính Giác (dứt trừ Vô Minh Hoặc).
BODHI
(回囚 ) là giác ngộ, giác tuệ, Phật Trí.
SVÀHÀ
(送扣) là đem lại sự an lành phứơc
tuệ cho tất cả chúng sinh. Ư nghĩa này cũng
tương đương với nguyên lư t́nh thương
phổ biến của Tâm Giác Ngộ của tất cả
chư Phật là chữ HÙMÏ (猲)
Như
vậy, Thần chú Bát Nhă có thể được diễn
dịch là :
“Vượt
qua kiến Hoặc, vượt qua Tư Hoặc, dứt
trừ Lậu Hoặc, dứt trừ Vô Minh Hoặc,
chứng đắc Phật Trí, đem lại sự an lành
cho tất cả chúng sinh”.
Dựa
vào ư nghĩa này th́ Thần chú Bát Nhă chính là chi tiết tu
tập để chứng đắc PHẬT TRÍ trong
Lục Tự Đại Minh.
VI.
Các Tay Ấn của Lục Tự Đại Minh Chú:
Theo
phương thức phổ truyền th́ Ấn quyết
(Mudra) là một phương tiện khéo léo để giao
tiếp với các năng lực siêu h́nh. Trong đó, bàn tay
trái là tay biểu thị cho Định (Samàdhi), tay phải
biểu thị cho TUỆ (Prajnơa), 05 ngón tay biểu thị
cho 05 đại: Ngón út là Địa, ngón vô danh là Thủy,
ngón giữa là Hỏa, ngón trỏ là Phong, ngón cái là Không.
Có
truyền thống cho rằng: ngón út phải là Bố Thí,
ngón vô danh phải là Tŕ Giới, ngón giữa phải là
Nhẫn Nhục, ngón trỏ phải là Tinh Tiến, ngón cái
phải là Thiền Định, ngón út trái là Tuệ, ngón vô
danh trái là phương tiện, ngón giữa trái là Nguyện,
ngón trỏ trái là Lực, ngón cái trái là Trí.
Hoặc
có truyền thống th́ tính ngược lại: 10
độ được phối trí từ tay trái qua tay
phải, từ ngón út đến ngón cái.
Thật
ra, Mật Giáo chỉ là một trong các phương cách tu
hành của Phật giáo nên đường lối hành tŕ dù
có mang h́nh thức nào chăng nữa th́ nó vẫn không
thể rời xa khỏi Pháp nền tảng của
Phật Đà. Do vậy, các Đàngiới (Manïdïala) Ấn
quyết (Mudra) Linh phù (Yantra) Thần chú (Mantra) Đà La Ni
(Dhàranḯ – Tổng Tŕ) đều hàm chứa lư thú giải
thoát hoặc bản nguyện Từ Bi phổ độ
của chư Hiền Thánh trong Phật Đạo.
Nay
chúng tôi xin tŕnh bày một và tay ấn thông dụng của
Lục Tự Minh Chú.
1)
Liên Hoa Hợp Chưởng Ấn: (Padma Jàli Mudra)
Chắp
hai tay lại sao cho mười đầu ngón tay dính vào
nhau. Xong đặt trướng lông ngực biểu
thị cho tư thế kính lễ (Namaskara) rồi tụng
Lục Tự Minh Chú.
-
Ư nghĩa: 05 ngón tay trái biểu thị cho 05 đại
của chúng sinh, 05 ngón tay phải biểu thị cho 05
đại của Giác Ngộ giới. Chắp hai tay dính
nhau biểu thị cho năng lực chẳng thể phân
chia hai giới. Nếu năng lực này bị Tham Sân Si chi
phối th́ nó đưa chúng Hữu T́nh đi vào cơi luân
hồi, ngược lại năng lực này
được Giới Định Tuệ điều
khiển th́ nó đưa người tu hành đến cơi
giải thoát sinh tử.
Đây
cũng là ư nghĩa là các Đạo sư Mật giáo
thường nói : “Dâm, Nộ,Si chính là Giới, Định,
Tuệ”
Nay
chắp tay để trước ngực theo tư thế
kính lễ, nghĩa là tôi xin một ḷng từ bỏ cơi luân
hồi, nguyện xin mau vào cơi giải thoát.
2)
Bát Diệp Liên Hoa Ấn:
Chắp
hai tay lại sao cho ở giữa hai ḷng bàn tay có khoảng
trống không (Hư Tâm hợp chưởng) rồi tŕ
tụng hồng danh Quán Thế Âm. Từ từ mở các
ngón vô danh, giữa, trỏ, ra giống như hoa sen nở
thành 8 cánh, rồi tŕ tụng Lục Tự Minh Chú.
-
Ư nghĩa: 02 tay chắp lại giữa trống không
biểu thị cho ư nghĩa mỗi một chúng sinh vốn
có Tâm Bồ Đề cực thanh tịnh. Tŕ tụng
Hồng danh Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu xin
lực gia tŕ của ngài giúp cho ta phá vỡ màn Vô minh che
lấp Bản Tâm.
-
Mở các ngón tay thành hoa sen 08 cánh, biểu thị cho sự
chuyển đổi Tâm phàm phu thành Tâm Thánh Nhân. Tŕ tụng
Lục Tự Minh Chú để cầu xin mau chóng trực
ngộ được Phật Trí vốn có trong Tâm của
ḿnh.
3)
Ngũ Trí Quang Minh Ấn:
Ngửa
02 ḷng bàn tay, cài chéo 08 ngón út, vô danh, giữa, trỏ sao cho
nên phải đè bên trái. Lấy ngón cái phải đè lên
mặt ngón út trái, ngón cái trái đè lên mặt ngón út phải,
ngón trỏ phải móc đè lên mặt ngón giữa trái, ngón
trỏ trái móc đè lên mặt ngón giữa phải, dựng
đứng hai ngón vô danh. Tŕ tụng Lục Tự Minh
Chú .
-
Ư nghĩa: Dùng 05 Trí của Đức Phật, tịnh hóa
06 Tâm Thức phiền năo căn bản để xa ĺa
sự kiện sinh trong 06 cơi.
4)
Năng Sinh Phật Đỉnh Ấn:
Cài
chéo 10 ngón tay với nhau trong ḷng bàn tay, bên phải đè bên
trái, rồi nắm lại thành Quyền (Kim Cương
Phật Ấn). Dựng đứng 02 ngón giữa cùng dính
mặt nhau, co 02 ngón trỏ gác phía sau lưng 02 ngón giữa,
dựng song song 02 ngón cái đặt ở lằn thứ hai
của 02 ngón giữa. Tŕ tụng Lục Tự Minh Chú.
-
Ư nghĩa: Kết Kim Cương Phật Ấn biểu
thị cho sự quyết tam cầu xin cơi giác ngộ hóa
độ chuyển đổi Tâm chúng sinh. 02 ngón út biểu
thị cho Nghiệp đức bên trong, 02 ngón vô danh biểu
thị cho Đức Thuyết Pháp đoạn nghi, 02 ngón
giữa biểu thị cho Pháp thể của Pháp Nhĩ
căn bản, 02 ngón trỏ biểu thị cho Giới
Tuệ thường hay khai mở Tâm Bồ Đề cho
chúng sinh, 02 ngón cái biểu thị cho một Đức Thành
Tựu của Pháp Giới Thể Tính Trí.
Tŕ
tụng Lục Tự Minh Chú để cầu xin mau
được khai mở Tâm Giác Ngộ.
5)
Ngoại Phộc Thanh Liên Gia Tŕ Ấn:
Cài
chéo 10 ngón tay bên ngoài, các mặt ngón bám trên lưng bàn tay
rồi nắm lại thành quyền (Ngoại phộc
ấn) dựng 02 ngón trỏ rồi hơi co lại sao cho
đầu ngón chạm nhau giống như h́nh cánh sen,
duỗi thẳng hai ngón cái song song nhau.
Dùng
ấn này gia tŕ 04 nơi trên thân của ḿnh là: Tim, Trán.
Cổ họng, đỉnh đầu. Mỗi nơi
vừa kết ấn vừa tụng chú ‘OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ –
ADHISÏTÏHA SVAMÀMẠ” (Omï Manïi Padme Hùmï - Hăy gia tŕ cho con)
-
Ư nghĩa: Hoa sen xanh (Ńla Padma) là loài hoa không có lá nên rất
nhẹ, nếu bị ném xuống th́ có thể bay mau.
Nay
dùng Ấn này gia tŕ trên thân biểu thị cho sự cầu
xin lực gia hộ để mau chóng vượt biển
khổ mà sinh vào cơi Giác Ngộ.
Thông thường th́ Thần chú (Mantra) chỉ
được tu tŕ để thực hiện những
thỉnh cầu. Do đó, bài Thần chú căn bản
phải được lập đi lập lại
thường xuyên cho đến khi nhận được
lực gia tŕ của Bản Tôn. Muốn mau chóng
được Bản Tôn gia tŕ th́ hành giả phải
nắm vững phương pháp Tịnh hóa Tâm thức và
tự h́nh thành cho ḿnh một niềm tin trong sáng chân thành.
a) Phương pháp Tịnh hóa Tâm
thức: có 04 năng lực
- Năng lực
nương dựa: Nương tựa vào Trí tuệ đă
được biểu lộ của Bản Tôn Quán Thế
Âm .
- Năng lực
hối tiếc: Luôn sám hối những hành động
xấu xa đă phạm phải.
- Năng lực
đối trị: Cương quyết chống lại và
dũng mănh từ bỏ những hành động xấu xa
đó.
- Năng lực
quyết định: Cương quyết không bao giờ
lập lại những hành động xấu xa đó và
luôn t́m cách thực hiện những hành động tốt
lành.
Nhờ phát triển được
04 năng lực này th́ Thân, Khẩu, Ư của hành giả
sẽ mau chóng được thanh tịnh.
b) Phương pháp phát triển
đức tin: có 04 giai đoạn
-
Niềm tin trong sáng: Tin vào phẩm tính kỳ diệu
của Bản Tôn Quán Thế Âm.
-
Niềm tin mong mỏi: luôn luôn mong ước đạt
được những phẩm tính hoàn hảo đó
để hóa độ chúng sinh.
-
Niềm tin xác tín: Luôn nghiên cứu t́m ṭi cho đến khi
biết chắc những phẩm tính của Quán Thế Âm
Bồ Tát là có thật.
-
Niềm tin không thể đảo ngược: biến
đức tin trở thành một phần của bản
thân ḿnh, nghĩa là tin vững chắc rằng ḿnh có thể
đạt được những phẩm tính hoàn hảo
ấy mà không có ǵ có thể làm cho ḿnh mất đi niềm
tin đó được.
Ngoài
ra, khi tŕ tụng, hành giả cần phải có tâm chí thành
th́ mới có thể nhận được lực gia tŕ
của Bản Tôn. Một khi đă tương ứng
được phần nào lực gia tŕ của Bản Tôn
th́ mới có thể sử dụng các mẫu Thần chú sau
để hoàn thành những hoạt động khác nhau.
1. Quán Âm Linh Cảm Chân ngôn:
OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ – Mahà jnơàna Ketu savàda –
Ketu ‘sana , vidhàriya , sarvàtha parisàdhaya , Nàpurnïa Nàpari , uttàpanà –
Namahï Loke’svaràya svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ – là tinh chất màu
nhiệm của cây phướng Đại Trí. Hăy ngồi
dưới cây phướng ấy, xa ĺa mọi sự
chấp giữ mà tác thành tựu trong khắp các cơi. Hăy tinh
luyện các căn cho tinh sạch sao cho không có ǵ không làm
đầy đủ và không có ǵ có thể vượt
hơn được.
Con xin quy mệnh công đức
nội chứng của Đức Thế Tự Tại.
Nguyện cho con được thành tựu như Ngài)
2. Tăng phước trí Thần
chú:
OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva loka Jnơàna vidya ,
dhàra dhàra, dhiri dhiri , Hŕmï Hŕmï , Jahï , punïya Jnơàna pusïtïimï Kuru –
OMÏ
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ – Hỡi Đấng
Gia tŕ và Ǵn giữ Trí Tuệ Minh của tất cả
Thế gian . Hăy câu triệu âm thanh của đại
huyễn hóa khiến cho con được tăng
trưởng phước trí, chứng đạt 03 thân
giải thoát của chư Phật).
3. Như Ư Thần chú:
OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva Artha siddhi ,
siddhi Kuru – Svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ. Hỡi Đấng
thành tựu tất cả của cải. Hăy giúp cho con làm
được sự thành tựu như Ngài).
4. Bảo nguyên (Nguồn báu) Thần
chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Mohe, daridra, duhïkha Jambhe – Dhàna medhi – Hŕhï Svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy đập nát
nỗi đau khổ của sự nghèo hèn ngu si, khiến
cho con được thành tựu mọi công đức
của chủng tử HR̀HÏ)
5. Trừ Tội chướng
Thần chú:
OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva pàpamï Àvaranïa
vi’suddhe Svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ – Hăy khiến cho
tất cả tội lỗi chướng ngại của
con đều được thanh tịnh)
6. Trừ Bố Úy (Sợ hăi)
Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva bhaya vimocana – Ràja, cora, Agni, udaka, vịsïa
Bhàyani pra’samaya – Svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy dập tắt
tất cả sự sợ hăi. Hăy tiêu trừ mọi sự
sợ hăi do vua chúa, trộm cướp, lửa,
nước, thuốc độc … gây ra để cho
được an lành.)
7. Trừ chướng nạn
Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva vighnàmï ‘sàntïimï kuru svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả sự chướng nạn được vắng
lặng, để cho con được an lành).
8. Trừ cuồng tâm (Tâm điên
loạn) Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva vikule bhyahï ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ. Hăy làm cho tất
cả sự điện cuồng được vắng
lặng, để cho con được an lành)
9. Trừ Nhiệt bệnh Thần
chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva Jvaràn ‘sàntïimï kuru svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ. Hăy làm cho tất
cả bệnh nóng sốt được vắng lặng,
để cho con được an lành).
10. Trừ Bệnh tật Thần
chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva Vyàdhin ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả bệnh tật được vắng lặng,
để cho con được an lành).
11. Trừ Phi thời yểu tử
Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva Akàla mrïtyùn ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả sự chết yểu không đúng thời
được vắng lặng, để cho con
được an lành).
12. Trừ Ác mộng Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva duhïsvapnàn ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả giấc mộng xấu ác được vắng
lặng, để cho con được an lành).
13. Trừ Oan gia Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva ‘satrùn ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả oan gia được vắng lặng, để cho
con được an lành).
14. Trừ Bất tường
Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva Durni mittàni ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả điều chẳng lành được vắng
lặng, để cho con được an lành).
15. Trừ chú trớ yểm
đảo Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva krïtyà - kàkordhàn ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả ma thuật của sự trù yếm nguyền rủa
được vắng lặng, để cho con
được an lành).
16. Trừ Binh đao Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva yuddhàni ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả các cuộc chiến tranh được vắng
lặng, để cho con được an lành).
17. Trừ Phiền năo Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva upadravàn ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả sự phiền năo được vắng lặng,
để cho con được an lành).
18. Trừ Quỷ Thần Thần
chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva grahàn ‘sàntïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy làm cho tất
cả quỷ thần xấu ác được vắng
lặng, để cho con được an lành).
19. Tăng trưởng thọ
mệnh Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – mama Àyuhï pusïtïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy khiến cho
tuổi thọ của con được tăng
trưởng như ư nguyện).
20. Tăng trưởng Công
đức Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – punïya pusïtïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy khiến cho
phước đức của con được tăng
trưởng như ư nguyện).
21. Tăng trưởng Trí tuệ
Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – prajnơà pusïtïimï kuru – svàhà.
(OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ . Hăy khiến cho Trí
tuệ của con được tăng trưởng
như ư nguyện).
Ngoài
vài mẫu Thần chú trên, các vị Đạo sư
Mật giáo c̣n giảng dạy những định thức
khác để tu Pháp Tức Tai là:
Trừ Chú trớ yểm đảo Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva krïtyà kakordebhyahï raksïamï kuru – svàhà.
(OMÏ MANI PADME HÙMÏ . Hăy tác ủng
hộ giúp cho con thoạt khỏi tất cả ma thuật
của sự trù yếm nguyền rủa, để cho con
được an lành).
Trừ Ác quỷ thần Thần chú:
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ – Sarva grahebhyahï raksïamï kuru – svàhà.
(OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ . Hăy tác ủng hộ giúp cho con thoát khỏi tay
của hàng Quỷ Thần xấu ác, để cho con
được an lành).
Các mẫu Thần Chú khai triển
này được các bậc Đạo sư Mật Giáo
sử dụng rất nhiều tùy theo Pháp môn Tu như : pháp
Tàra, pháp Chuẩn Đề, Pháp Thiên Quang Nhăn …
_ Bạch Độ Mẫu chú:
OMÏ TÀRE TUTTÀRE TURE – MAMA
ÀYUHÏ PUNÏYE JNƠÀNA PUSÏTÏIMÏ KURU – SVÀHÀ.
( OMÏ TÀRE TUTTÀRE TURE – Hăy khiến cho
Thọ mệnh, Phước đức, Trí tuệ của
con được tăng trưởng như ư nguyện).
_ Chuẩn Đề Tăng Ích chú:
OMÏ CALE CULE CU
DHE – MAMA ÀYUHÏ PUNÏYE JNƠÀNA
PUSÏTÏIMÏ KURU – SVÀHÀ.Ï
( OMÏ CALE
CULE CU
DHE . Hăy
khiến cho Thọ mệnh, Phước đức, Trí
tuệ của con được tăng trưởng
như ư nguyện).
_ Trừ
Tặc Nạn chú:
OMÏ VAJRA DHARMA –
AVI’SA CORA BHAYA – HÙMÏ PHATÏ SVÀHÀ.
(Quy mệnh Kim Cương Pháp. Hăy cột
trói nạn giặc cướp. Hăy khủng bố phá
bại nạn này để cho con được an lành).
_ Cầu Đa
Văn chú:
OMÏ VAJRA
DHARMA – PRAJNƠA SUTRAMÏ MAHÀ NÀYA – SVÀHÀ
(Quy mệnh Kim Cương Pháp. Quyết
định Thành tựu Đại Lư Thú của Kinh Bát Nhă).
_ Sinh Phạm
Thiên chú:
OMÏ VAJRA DHARMA –
SVABHÀVA BRAHMA UDBHAVA – SVÀHÀ
(Quy mệnh Kim
Cương Pháp. Hăy khiến cho Tự tính của con phát sinh
ra Phạm Thiên, thành tựu như nguyện).
Trong quá tŕnh tu
tŕ Thần Chú, do quyền năng của Tâm Trí tác
động lên các âm tiết của Thần Chú nên
người tu tŕ chân ngôn cũng có thể phát sinh
được một số công năng nhất
định. Tuy nhiên, các hiện tượng cảm ứng
này chỉ là sự tác động do tha lực của các
vị Hiền Thánh, chư Thiên và Quỷ Thần nhằm tăng
thêm niềm tin cho Hành giả có thể mạnh dạn
bước trên đường tu hành, nên năng lực
đó chẳng thể trụ lâu dài trừ khi hành giả
luôn luôn rèn luyện tâm trí xa lánh điều ác, nuôi lớn
điều lành cho đến khi luôn luôn hành điều
lành. Nếu không chẳng bao lâu, hành giả sẽ gặp
nhiều tai họa thậm chí điên cuồng và có thể
mất mạng.
Do vậy, các
bậc Đạo sư Mật Giáo luôn luôn khuyên dạy môn
đồ phải nắm vững mọi đường
lối tu tập của Hiển Giáo và Mật Giáo (Hiển
Mật Viên Thông) để có thể xây dựng một
nền tảng vững chắc cho pháp tu giải thoát
của Phật Đà.
MỘT SỐ PHƯƠNG
PHÁP TU TR̀ LỤC TỰ MINH CHÚ
Do sự lưu truyền rộng răi nên tùy
theo Tín ngưỡng và căn tính của từng địa
phương mà cách thức tu tŕ “Lục Tự Minh chú” có
nhiều sự sai khác. Đại đa số giáo
đồ Phật giáo thường tŕ niệm Lục
Tự Minh chú để cầu xin Đức Quán Thế Âm
Bồ Tát ban rải thần lực cứu khổ trừ
mê, diệt trừ sợ hăi hoặc cầu nguyện thác
sinh về cơi Cực Lạc theo phương pháp phổ
thông là Lần chuỗi tŕ chú, Chuyển pháp luân tŕ chú, Quán
tưởng tŕ chú.
( Hệ Mật
giáo Ấn Độ thường dùng âm thanh tŕ chú phối
hợp với sự điều ḥa hơi thở
để thanh lọc thân tâm hoặc quán tưởng
chữ PHẠN an bố trên thân thể nhằm khai mở
luồng sinh lực tiềm ẩn trong các luân xa để
ḥa nhập cùng năng lực vũ trụ.
( Hệ Mật
giáo Nhật Bản cho rằng: V́ Đại nguyện
Từ Bi muốn cứu bạt khổ năo cho tất cả
chúng sinh trong 06 nẻo luân hồi nên 06 chữ trong Tâm chú của
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đă hóa thành 06 vị
Quán Âm là 06 Tôn của 06 nẻo.
a) OMÏ hóa
hiện thành Như Ư Luân Quán Âm là Hóa Tôn của Thiên Giới.
Chân ngôn của Ngài là:
Namo Ratnatrayàya.
Namahï Àrya
avalokite ‘svaràya Bodhisatvàyà , mahà satvàya , mahà karunïikàya.
Tadyathà: Omï cakra
vartti Cintamanïi mahà padme ruru tisïtïa jvala akarsïaya hùmï phatï
svàhà.
+ Như Ư Luân
Tâm chú là:
Omï Padma
cintamanïi jvala hùmï
+ Như Ư Luân
Tùy tâm chú là:
Omï Varada
padme hùmï
b) MA hóa hiện
thành Thập Nhất Diện Quán Âm, là Hóa Tôn của A Tu La
Giới. Chân ngôn của Ngài là:
Omï
– Ruhe ‘svara – hŕhï
c) NÏI hóa
hiện thành Chuẩn Đề Quán Âm, là Hóa Tôn của Nhân
Gian Giới. Chân ngôn của Ngài là:
Omï – Cale Cule Cu
dhe - svàhà
d) PAD hóa
hiện thành Mă Đầu Quán Âm, là Hóa Tôn của Súc Sinh
Giới. Chân ngôn của Ngài là:
Omï –
Amrïta udbhava hùmï phatï
e) ME hóa hiện
thành Thiên Thủ Quán Âm, là Hóa Tôn của Ngạ Quỷ
Giới. Chân ngôn của Ngài là:
Omï – Vajra
dharma – hŕhï
f) HÙMÏ hóa
hiện thành Thánh Quán Âm, là Hóa Tôn của Địa Ngục
Giới. Chân ngôn của Ngài là:
Omï – Arolik –
svàhà
V́ mỗi Tôn
H́nh là một biểu tượng của sự giải
phóng tùy theo tâm trạng và tŕnh độ của mỗi người,
đồng thời âm thanh phát ra đúng cách có thể
tạo ra các quyền năng siêu h́nh ảnh hưởng
đến cơi giới xa xăm nào đó, nên ngoài việc tŕ
tụng Lục Tự Minh chú, giáo đồ Mật giáo
Nhật Bản c̣n quán tưởng 06 chữ Chân ngôn
biến thành 06 vị Quán Âm để tu pháp Tức Tai,
Tăng Ích, hoặc Giáng Phục.
( Tại Trung
Hoa, các vị Đạo sư Mật giáo thường
truyền dạy phương pháp “Định tâm niệm
chú” nghĩa là tập trung tâm ư chuyên chú vào một
đối tượng để loại trừ Tâm Tán
loạn. Theo cách này, hành giả cần phải giữ ǵn
thân tâm cho trong sạch, cữ ăn Ngũ Tân (hành, hẹ,
tỏi, nén , hưng cừ) và các vị tanh hôi. Lại
phải phát tâm Bồ Đề, khởi ḷng Đại Bi,
chí thành quy y Đức Quán Thế Âm. Tu tập như
vậy lâu dần th́ tai họa tiêu tan, cầu ǵ
được nấy. Ngoài ra các vị Đạo sư
c̣n khuyên dạy phương pháp “Tán Tâm niệm chú” nghĩa
là có thể tŕ niệm lục Tự Minh chú bất cứ
lúc nào (đi, đứng, nằm, ngồi), bất cứ
chỗ nào, bất cứ đang làm việc ǵ … nhằm gieo
duyên với Đức Quán Thế Âm và loại trừ
dần dần tâm ư tà bậy.
_ Nhiều
hệ phái vô vi Trung Hoa đă sử dụng câu chú “ÁN MA NI BÁT
DI HỒNG, HỒNG RỊ BÁT MA NI ÁN” hoặc “ÁN MA NI BÁT DI
HỒNG, HỒNG DI BÁT NI MA ÁN” kèm với sự quán
tưởng linh phù để liên hệ với mẹ Sinh
mẹ Độ và tương ứng với các vị
Thần Thánh để cầu xin Bí pháp tu tập.
_ Hoặc có
hệ phái an bố Lục Tự Minh chú để luyện
pháp TỊNH THÂN như sau:
Đứng ngay
thẳng, tay trái: ngón cái vịn đầu ngón trỏ thành
h́nh cái ṿng, duỗi thẳng các ngón c̣n lại và buông xuôi theo
thân ḿnh. Tay phải kết Ấn Cam Lộ án theo từng
bộ vị từ lỗ rốn, bên trái rốn, bên trên
rốn, bên phải rốn, bên dưới rốn, cổ
họng. Mỗi
nơi mỗi đọc Chân Ngôn.
(1) ÁN
Ngô Thân Tỳ lô Giá Na Phật.
(2) Ma
Ngô Thân Bất Động Phật
(3) NI
Ngô Thân Bảo Sinh Phật
(4) BÁT
Ngô Thân Vô Lượng Thọ Phật
(5) DI
Ngô Thân BẤt Không Thành Tựu Phật
(6) HỒNG
Ngô Thân Đại Thế Chí Kim Cương.
_ Hoặc có hệ phái dùng Lục
Tự Minh chú để bồi dưỡng khí lực,
trị liệu bệnh tật.
+ Theo giáo sư Lâm Vân (Trung Hoa)
để cứu chữa cơ thể đang bị suy
nhược bệnh hoạn th́ có thể sự dụng 06
âm của Lục Tự Minh chú kèm với 06 màu chính, thành
phương pháp bồi dưỡng khí lực, gọi là
LỤC ĐOẠN THIỀN.
Phải theo đúng Pháp: Bắt
quyết tĩnh tâm (
Quán tưởng hai bàn chân có hai
mặt trời nhỏ đang tỏa ánh sáng và hơi nóng
khiến gót chân nhận biết được. Từ
đó hai tia nắng trắng tinh mang âm ÚM (OMÏ) từ
dưới gan bàn chân nhập vào thân xác.
Tia nắng trắng tinh xuyên qua hai
đầu gối, biến thành hai tia nắng màu hồng
mang âm MA (MA).
Tia nắng hồng xuyên qua hai đùi
đến vùng xương chậu. Đến nơi
rồi hóa thành tia nắng màu vàng, mang theo âm NI (NÏI).
Tia nắng vàng đi đến vùng
dưới rốn 3 phân (Huyệt Đan Điền )
biến thành tia nắng màu xanh lục, mang theo âm BÁT (PAD).
Tia nắng xanh lục chầm
chậm lan đến bụng dưới, tim, phổi, vùng
trước ngực, rồi dừng lại ở vùng
cổ họng, biến thành màu xanh da trời mang theo âm MÊ
(ME).
Tia nắng xanh da trời phóng
tới vùng đỉnh đầu, tràn ngập năo bộ,
đi đến giữa trán (Tam tinh). Đến đây tia
nắng xanh da trời biếnt hành màu đen, khắp
cả vùng đầu đều nghe được âm HỒNG
(HÙMÏ).
Lập lại 06 âm của Thần
chú, đủ 9 lần.
+ Trong quyển “Tạng Mật Tinh
Yếu” do học giả KHƯU LĂNG (Trung Hoa) biên
soạn. Để điều trị bệnh tật th́ có
thể sử dụng Lục Tự Chân ngôn chính âm, Lục
Tự Chân ngôn biến âm, Lục Tự Chân ngôn Quyền
pháp.
a) Lục Tự Chân Ngôn chính âm:
ÁN, MA, NI, BÁT, DI,
HỒNG, SẮC
(OMÏ MANÏI PADME
HÙMÏ – SA)
Chữ ÁN (OMÏ)
thuộc A Tự Môn của Phạn văn, là đầu
của tất cả TưÏ mẫu, chiếm sự
khởi đầu của cách phát âm, tức là cái bắt
đầu của Lục Tự, là cội nguồn của
Trí Tuệ khoái lạc. Tiếng ấy được phát
ra từ huyệt Khí Hải (dưới rốn 5cm) men theo
mạch NHÂM đi thẳng lên đến vùng cổ họng
(Hầu bộ). Há miệng hơi chúm lại, đi ra
ở khoang mũi (Tỵ xoang) có âm thanh Úm Úm. Tiếng đó
trên đầu, ngay trong miệng chuyển ṿng lại tràn
đầy 7 khiếu. Nếu có bệnh về mắt
(Mục tật) th́ trợn mắt cho khí đi ra. Nếu
bị viêm tai (Nhĩ viêm) ắt rung lắc tai để
khử bỏ bệnh điếc. Nếu bị viêm mũi
(Tỵ viêm) có thể ấn một lỗ mũi cho khí
đi ra. Nếu bị choáng váng đầu, căng
thẳng năo đau đầu, thiên đầu thống th́
dẫn khí lên đầu, liền hướng xuống
dưới cho khí đi ra.
Chữ MA (MA) là
mở âm của miệng họng (Khẩu hầu âm). Lúc
khởi âm trước tiên mím môi sau đó mở môi ra, âm
thanh rung ở cổ họng, huyệt Thiên Đột phát
tê, lan dần đến hai cánh tay cho đến hai ḷng bàn
tay phát tê th́ có thể trịliệu bênh: viêm họng, ho
khạc, viêm khớp vai, đau ê ẩm hai cánh tay.
Chữ NI (NÏI)
là âm của đầu lưỡi, chảy rót vào trái tim,
khiến đất tâm sáng tỏ (Tâm địa quang minh).
Lúc phát âm này, hai cánh tay ôm vùng trước ngực, âm thanh chấn
động lồng ngực bắn ngược vào ḷng bàn
tay khiến cho hai huyệt Lao Cung phát tê. Trị liệu
bệnh: động tim, nóng ngực, bệnh phổi, cao
huyết áp, và hoành cách mạc ( lớp da mỏng nằm
khoảng giữa ngực và bụng). Dùng cách trên để
trị bệnh về nội tạng.
Chữ BÁT (PAD)
là âm môi. Trước tiên ngậm miệng, sau đó mở
miệng. Hai ḷng bàn tay đối trước bụng,
Nội khí từ phía trước Đan Điền
nhập vào, sau đó từ Đan Điền đi ra,
Mệnh Môn và xương sống lưng đều có
cảm giác ấm áp. Trị bệnh : đau eo, viêm
thận, viêm xương sống …
Chữ Di (Me) lúc
phát âm th́ hơi mở miệng, âm ở dưới
lưỡi, tiếng hướng xuống dưới.
Nội khí men theo Mạch ĐÁI chuyển động,
Tiểu phúc (Bụng dưới) hơi có cảm giác
chấn động. Chủ trị bệnh: Hạ tiêu
(Miệng trôn của Bàng Quang), viêm gan, viêm ruột,
đầy bụng …
HỒNG SẮC
(HÙMÏ – SA) liên kết hai tiếng để tiện dùng.
HỒNG (HÙMÏ) đồng với phương pháp phát thanh
của Tinh Khí, chủ yếu là dẫn khí đi lên,
đến cổ họng liền chuyển xuống
dưới, phát ra âm thanh SẮC (SA) là âm lưỡi
cuốn lại, hơi mở miệng. Khi men theo hai đùi
đi xuống dưới, thẳng đến huyện
Dũng Tuyền, hai đầu gối hơi cong. Chủ
trị bệnh : đau bắp đùi, viêm khớp. Ngoài ra
c̣n có tác dụng Thu âm và hạ tả (bệnh tiêu chảy).
b) Lục
Tự Chân ngôn biến âm:
Âm có thuận có
nghịch, thuận là chính âm, Lục Tự Chân ngôn
đều là chính âm. Do chính, nghịch chuyển là Biến
âm, phần lớn là Thổ âm (âm địa phương).
Chính âm so ra ôn ḥa, bổ tả đều thích hợp. Phàm
bệnh khí phần nhiều đều thuộc
Lương khí (khí mát mẻ). Lúc chuyển ôn ḥa th́ cũng
là lúc bệnh t́nh chuyển biến tốt.
Cái phát của
Biến âm, phần lớn là Lương khí. Phàm bệnh
tật có lúc chống lại nhiệt, viêm mà sinh ra nóng
sốt liền dùng khí mát khử bỏ lửa ấy.
Thực tiễn chứng minh có hiệu quả nhất
định.
Biến âm có: Ô,
Mẫu, Lỗ, Bổ, Phổ, Sắc.
Ô (Wu,
đọc là Gu) tức là biến của âm ÁN (OMÏ). Từ
khẩu h́nh (h́nh dạng của các miệng) vốn có
lại làm cho như h́nh cáimiệng mím sâu, tựa như
ngậm mà chẳng phải ngậm, miệng chỉ
để một lối nhỏ phát ra tiếng. Ngay lúc viêm
gan đang thịnh vượng, mắt đỏ hồng
là lúc hỏa khí kết uất ở bên trong, có thể dùng
chữ này để tiêu trừ. Đối với
chứng miệng lưỡi sinh ung nhọt cũng có
hiệu quả.
Chữ MẪU
(Mu, đọc là Mù) là biến của âm MA (MA). Do ban
đầu mở miệng phát ra tiếng, lại chuyển
thành âm của miệng mím môi lại. Nếu bị
phiền nhiệt, ho khạc không dứt, phát âm này một
lần, tức thời có thể khỏi bệnh.
Chữ LỖ
(Lu, đọc là Lù) là biến của âm NI (NÏI). Hai chữ
LỖ, NI đều có thể trị bệnh tim, phổi.
Chữ NI là âm đầu lưỡi, chữ LỖ là âm chụm
miệng. Chữ NI có thể hướng xuống bên
dưới (Hạ giáng) mà chữ LỖ có thể
hướng đi lên trên (Thượng thăng). Tức
chữ NI dùng để giáng Tâm hỏa, chữ LỖ dùng
để làm trong mát sức sống của phổi (Thanh
phế nhiệt).
Chữ BỔ
(Bu, đọc là Bù) là biến của âm BÁT (PAD), khẩu
h́nh là âm của môi miệng ngậm, hay giải sức nóng
của Tỳ vị.
Chữ PHỔ
(Pu, đọc là Phù) là biến của âm DI (ME) khẩu h́nh
là âm của môi miệng ngậm, cóhiệu quả trị
liệu bệnh Tiện tích (Táo báo).
Chữ SẮC
(Ch́, đọc là Chứ) đồng với chính âm
trước kia (SA) chẳng vượt qua điều lúc
trước, là âm của lưỡi cong lại rồi sau
đó là âm của đầu lưỡi. Công dụng là giáng
cái Du tà của Tam Tiêu, Thông Thiện triệt địa, bài
trừ tất cả bệnh Tà.
Lục Tự
Chân ngôn,một âm một chữ đều có sở
thuộc. Đối với thân con người tương
ứng từng vùng bị bệnh, từ cái đầu cho
đến bàn chân, thứ lớp rơ ràng. Nếu bệnh có
phản ứng ở 2 vùng bệnh liền lấy 2 chữ
tương đương mà phát ra tiếng. Nếu như
có 3 vùng bệnh th́ chạm 3 chữ phát thanh. Nếu bị
nhiều loại bệnh tật h́ có thể trị
liệu toàn diện. Nếu bị nhức đầu, tiêu
chảy, đau chân ch́ dùng 3 chữ ÁN, Di, Sắc (OMÏ, ME, SA)
mà phát thanh.
Phát ra tiếng
lớn nhỏ cũng có chỗ không giống nhau. Như
tiếng của Tinh, Khí, Thần có thể phát to một
chút.
Sáu chữ
Chân ngôn, có lúc cần nhu ḥa, có thể chọn cách phát âm
vừa phải, có lúc có thể mặc niệm (niệm
thầm) hoặc niệm nhỏ tiếng, một lần
phát thanh với thời gian dài th́ hiệu quả tốt
nhất.
Cách phát thanh
của Tạng ngữ có tính hồi chuyển, tính ḥa
chiến (rung ngân). Đây là đặc điểm của
nó, so với ngôn ngữ khác th́ có ưu điểm lớn.
c) Lục
Tự Chân ngôn Quyền pháp:
.) Chính âm
Quyền pháp:
Chữ ÁN:
Đứng thẳng, 2 ống chân để ngang nhau, thân
ngay ngắn, hai tay nắm quyền, úp lại để 2
bên háng (chỗ 2 đùi liền với mông) đứng yên
lặng khoảng nửa khắc (7 phút rưỡi) buông
mở bàn tay, hướng ḷng bàn tay lên trên, 2 ngón giữa
đối nhau, thong thả chậm răi nâng lên theo
trước ngực. Nội khí mên theo Mạch Nhâm đi lên
đến huyệt Thiên Đột. Từ cổ họng
phát ra tiếng ÁN (OMÏ). Ngay trong miệng có âm thanh chuyển
ṿng rung động. Liên tiếp phát 3 lần, mỗi
lần buông tay xuống sau đó liền nâng tay lên.
Chữ MA:
Hướng 2 ḷng bàn tay vào bên trong đối ngay bằng
với Hầu đầu (cục xương gồ lên
ở cổ họng) phát ra tiếng MA (MA) kèm theo sự rung
động của thân thể. Hai tay theo nhau dần dần
hướng ra bên ngoài bung mở, 2 ḷng bàn tay có sự
chấn động, ḷng bàn tay phát tê. Cứ như thế,
khai hợp 3 lần.
Chữ NI: Hai
tay hướng trước ngực ôm ṿng, phát ra tiếng
Ni (NÏI), lồng ngực có sự chấn động. Liên
tiếp phát 3 lần, cánh tay tùy theo mà khia hợp 3 lần.
Chữ BÁT: Hai
ḷng bàn tay đối ở bên dưới huyệt Đan
Điền, ư niệm trụ ở Huyệt Mệnh Môn,
phát ra tiếng BÁT (PAD), Mệnh Môn và cột sống lưng
có cảm giác ấm áp. Liên tiếp phát 3 lần.
Chữ DI: Hai
ḷng bàn tay đối ở bên dưới huyệt Đan
Điền, phát ra tiếng DI (ME) men theo Mạch Đái mà
chuyển động. Liên tiếp phát 3 lần.
Chữ
HỒNG, chữ SẮC: Hai tay hướng 2 ḷng bàn tay lên
trên rồi nâng lên, dẫn động Nội khí đến
cổ họng rồi phát ra tiếng HỒNG (HÙMÏ). Lật
ngược ḷng bàn tay hướng vào bên trong, đầu
ngón tay hướng xuống dưới, theo liền đó
phát ra tiếng SẮC (SA) đồng thời 2 đùi
hơi co lại, ngón tay hướng xuống dưới,
ngón hướng về ngón chân, ư hệ thủ huyệt
Dũng Tuyền. Liên tiếp phát 3 lần.
.) Biến âm
Quyền pháp:
Chữ Ô
đồng với thế tay của âm ÁN, phát ra tiếng Ô
(GU). Liên tiếp phát 3 lần.
Chữ MẪU
đồng với thế tay của âm MA, phát ra tiến
MẪU (MÙ). Liên tiếp phát 3 lần.
Chữ LỖ
đồng với thế tay của âm NI, phát ra tiếng
LỖ (LÙ). Liên tiếp phát 3 lần.
Chữ BỔ
đồng với thề tay của âm BÁT, phát ra tiếng
BỔ (BÙ). Liên tiếp phát 3 lần.
Chữ PHỔ
đồng với thế tay của âm DI, phát ra tiếng
PHỔ (PHÙ). Liên tiếp phát 3 lần.
Chữ SẮC
(CHỨ): Thế tay là hướng 10 ngón xuống
dưới, đối chuẩn với 10 ngón chân. Liên
tiếp phát ra tiếng 3 lần.
Thu công: 1 phóng
ra, 2 thu vào, 3 dừng lại.
1 phóng ra, 2 thu vào, 3 dừng lại.
1 phóng ra, 2 thu vào, 3 dừng lại.
Ngoài ra, trong quyển
“Tạng Mật Tinh Yếu” học giả KHƯU LĂNG
c̣n biên soạn cách tu “Quán Thế Âm Bồ Tát pháp” là:
Quán Thế Âm
Bồ Tát được lưu truyền rộng răi trong
nhân gian, người ta cho rằng Quán Thế Âm có
đủ Tâm tính Đại Từ Bi, Ngài cứu độ
chúng sinh không hề có hạn lượng. Nhân đó, lưu
truyền h́nh tượng của Ngài trong dân gian rất
nhiều, danh xưng cũng rất nhiều, nên gốc
rễ pháp tu này là dùng sự hoạt dụng làm chủ. Pháp tu
như sau:
a)
KẾT ẤN:
-
Liên Hoa Hợp chưởng Ấn: 2 tay hợp 10 ngón, sau
đó giương mở như hoa sen hé nở, chỉ có 2
ngón cái và 2 ngón út cùng chạm dính nhau (Theo người
dịch th́ Ấn này có tên là BÁT DIỆP LIÊN HOA ẤN).
-
Quán Âm Ấn: Hai tay nội phộc, rồi dựng
thẳng ngón cái phải. (Theo người dịch, đây là
LIÊN HOA BỘ TÂM ẤN).
-
Bạch Y Quán Âm Ấn: 2 tay Nội phộc, hướng
2 ngón trỏ lên hư không dựng thẳng, chẳng
để chạm dính nhau.
V́ Quán Âm Bồ Tát phân thân rất
nhiều nên
b)
QUÁN TƯỞNG:
Tốt
nhất là tưởng niệm h́nh tượng Quán Âm mà
tự ḿnh đă nh́n thấy. Quán tưởng tráitim của
ḿnh hoá thành vành trăng bắn ra một đường ánh
sáng trắng bay lên hư không, biến hóa thành một TÔN
Tự Tính Quán Âm, thân màu trắng khoác áo dài (Thiên y) trang
sức bằng vật báu và anh lạc, ngồi trên đài
sen, trang nghiêm hiền từ, có vô lượng ánh sáng trong
suốt màu trắng bắn chiếu ra, có thể quán
tưởng Lục Tự Đại Minh chú vây quanh
Đức Quán Âm phóng tỏa ánh sáng.
c) Y THEO PHÁP KHÍ QUÁN ĐỈNH:
Nếu Đức Quán Âm có tay
cầm viên Minh châu th́ viên Minh châu hóa thành một tia sáng
trắng, thành một độ cong chiếu rưới vào
hành giả.
Nếu Đức Quán Âm có tay
cầm Quyển Kinh th́ Quyển Kinh hóa thành một tia sáng
trắng, thành một độ cong chiếu rưới vào
hành giả.
Nếu Đức Quán Âm có tay
cầm Hoa sen th́ Hoa sen hóa thành một sáng trắng, thành
một độ cong chiếu rưới vào hành giả.
Nếu Đức Quán Âm có tay
cầm Tịnh B́nh th́ Tịnh B́nh cam lộ hóa thành một
tia sáng trắng, thành một độ cong chiếu
rưới vào hành giả.
d) TỤNG TÂM CHÚ:
.) Quán Thế Âm Bồ Tát Tâm chú:
“Úm Ma Ni Bái Mê
Hồng” (108 lần)
( OMÏ MANÏI PADME
HÙMÏ )
.) Quán Thế Âm
Bồ Tát Tâm chú:
“Úm Ma Ni Bái Mê
Hồng Xá” (108 lần)
( OMÏ MANÏI PADME
HÙMÏ – SA)
Hai chú này
đều thông dụng, nên chọn lựa một câu.
Quán
tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thành một
điểm nhỏ màu trắng nhập vào đỉnh
khiếu (huyệt Bách Hội) thuận theo mạch chính
giữa (Trung Mạch) đến ngồi ở đài sen
trong trái tim của Hành giả, liền phóng lớn
tương đương với màu giống của Thân Hành
giả. Hành giả tức là Quán Thế Âm, Quán Thế Âm
tức là Hành giả, không hai không khác.
e) NHẬP
ĐỊNH:
Vô tư vô
niệm địa, nhập vào Tam ma địa của Quán
Thế Âm Bồ Tát (Tay kết Định ấn).
Trọng
điểm của Pháp này vẫn là quán tưởng mặt
trên, có thể dùng Pháp khí cầm tay của Quán Âm rồi quán
tưởng hóa thành ánh sáng. Nếu không có Pháp khí th́ có
thề dùng tay Ấn hóa thành ánh sáng.
_ Một số vị Đạo Sư
lại vận dụng màu sắc kèm theo h́nh thức vị
trí của 6 chữ của Minh Chú để h́nh thành Pháp tu
.) Tức Tai (‘Sàntika) là Pháp làm tiêu
trừ các loại bệnh nạn, việc ác của thân
ḿnh hoặc người khác. Khi thực hiện Pháp này th́
các chữ của Minh Chú thuần màu trắng
.) Tăng Ích (Pusïtïika) là Pháp tu tăng
ích về Trí Tuệ, Phước Đức, thọ
mệnh cho ḿnh và người khác. Khi thực hiện Pháp
này th́ các chữ của Minh Chú thuần màu vàng.
.) Kính Aùi (Va’sikakaranïa) là Pháp tu cho ḿnh
và người khác được chư Phật, Bồ Tát
gia hộ ; hoặc muốn được Quân Vương
và mọi người yêu thương giúp đỡ. Khi
thực hiện Pháp này th́ các chữ của Minh Chú thuần
màu đỏ.
.) Giáng Phục (Abhicàruka) là Pháp tu
chiết phục các nhóm ác, hoặc điều phục các
người ác và Quỷ Thần. Khi thực hiện Pháp này
th́ các chữ của Minh Chú thuần màu đen.
.) Câu Triệu (Akarsïanïi) là Pháp
triệu thỉnh Bản Tôn hay chư Quỷ Thần. Khi
thực hiện Pháp này th́ các chữ của Minh Chú là màu
tạp sắc.
Khi tu nhằm lợi ích
cho tự thân ḿnh th́ thờ phượng và quán đồ
h́nh là:

Khi tu nhằm lợi ích
cho người khác th́ phụng thờ và quán đồ h́nh
là:

Khi tu nhằm lợi ích cho ḿnh và người khác th́ phụng thờ và quán đồ h́nh là:

_ Mật Giáo
Nepal đă vận dụng 12 h́nh thức ứng hóa cùa
Bồ Tát Quán Thế Aâm theo 12 tháng Aâm Lịch trong năm
để thực hiện Pháp Tu mang lại lợi ích cho
nhiều người hơn.
Tháng Giêng
(Dần): Simïhanàda Loke’svara
Tháng Hai (Măo):
Padmanrita Loke’svara
Tháng Ba (Th́n):
Hariharihari Vahana Loke’svara
Tháng Tư
(Tỵ): Trailokya Vasankari Loke’svara
Tháng Năm
(Ngọ): Rakta Loke’svara
Tháng Sáu (Mùi):
Ńlakanïtïha Loke’svara
Tháng Bảy
(Thân): Màyàjàla Loke’svara
Tháng Tám
(Dậu): Karanïdïavyùha Loke’svara
Tháng Chín
(Tuất): SïadïaKsïaŕ Loke’svara
Tháng
Mười (Hợi): ‘Sŕmat Loke’svara
Tháng
Mười Một (Tư): Halahalahala Loke’svara
Tháng
Mười Hai (Sửu): Khasàrpanïa Loke’svara
Trọng
yếu của Pháp tu này chính là Pháp Tứ Vô Lượng Tâm
của Bồ Tát Quán Thế Aâm và được phân làm hai
giai đoạn:
_ Giai
đoạn tự giác (Xả, Hỷ, Bi, Từ):
.)
Xả :Hành Giả cần phải biết buông bỏ
những điều bất thiện và luôn luôn thực hành
điều thiện nhằm lập công bồi đức.
Trong giai đoạn tu tập này, Hành Giả tự làm
giảm bớt thế lực chi phối của tâm Tham và
tâm Nghi đồng thời phát khởi tâm buông bỏ ṿng
sinh tử khổ đau
.) Hỷ:
Hành Giả cần phải biết vui với sự thành
công của người khác nhằm diệt trừ tâm
đố kỵ , nuôi dưỡng tâm b́nh đẳng và phát
tâm xấu hổ để tiến tu. Trong giai đoạn
tu tập này, Hành Giả tự làm giảm thế lực
chi phối của Tâm Sân và Tâm Mạn (Kiêu ngạo, khinh
thường người khác)
.) Bi: Hành
Giả biết khởi ḷng thương xót khi gặp
những nỗi khổ đau của người khác. Trong
giai đoạn tu tập này, Hành Giả tự làm giảm
thế lực chi phối các tâm Aùc Kiến
.) Từ:
Hành Giả biết khởi tâm mong muốn đem lại
niềm an vui hạnh phúc cho người khác.Trong giai
đoạn tu tập này, Hành Giả tự giảm bớt
thế lực chi phối của tâm Si
Do thường
xuyên tu tập các Pháp trên, Hành Giả tự biết rằng
muôn cứu giúp người khác th́ tự bản thân
phải có đủ khả năng. Nhờ vậy Hành
Giả luôn tinh tiến tu tập tịnh hóa thân tâm của
ḿnh cho đến khi thực sự mong muốn thành
Phật để hóa độ chúng hữu t́nh ( Đây
mới đúngï là Chân thật phát Tâm Bồ Đề )
Để có
thể nhanh chóng Tịnh Hóa Thân Tâm của ḿnh, Hành Giả
cần phải nương vào sự tiếp độ
hộ tŕ của Bồ Tát Quán Thế Aâm
.) Vào tháng
Giêng ( Dần) : Hành Giả nên niệm tŕ như sau:
Nam mô Quán
Thế Aâm Bồ Tát
Bi Nguyện
thật thâm sâu
Như mẹ
hiền hộ giúp con
Vượt
khổ đau nguy nàn
Niệm
niệm Quán Thế Aâm
Niệm trừ
Tham, Sân, Si
Niệm
niệm từ tâm khởi
Niệm
niệm thành Giác Tuệ
Đại Bi
Đại Nguyện Cứu Khổ Cứu Nạn Quan
Thế Aâm
Nam mô Quán
Thế Aâm Bồ Tát
OMÏ NAMO
SIMÏHANÀDA LOKE’SVARÀYA
OMÏ MANÏI PADME
HÙMÏ
.)
Tương tự vào tháng Hai (Măo) th́ tŕ niệm như trên
nhưng chỉ cần thay câu Chú Nguyện là:
OMÏ NAMO
PADMANRITA LOKE’SVARÀYA
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ
Các tháng c̣n
lại đều dựa theo cách thay đổi trên
_ Ngoài cách
niệm tŕ trên, các vị Đạo Sư Aán Độ c̣n
truyền dạy phương cách niệm tŕ dựa vào
năm, tháng, ngày, giờ nhằm tăng trưởng uy
lực hộ niệm của Bồ Tát Quán Thế Aâm.
Ví dụ : Hành
Giả bắt đầu niệm tụng vào năm Bính
Tuất, Tháng 6, ngày Dần, giờ Dậu th́ tŕ niệm
như sau:
NAMO RATNATRAYÀYA
NAMAHÏ
ÀRYA AVALOKITE’SVARÀYA BODHISATTVÀYA MAHÀ
SATTVÀYA MAHÀ KARUNÏIKÀYA
OMÏ
SÏADÏAKSÏAR̀ LOKE’SVARA NAMAHÏ
OMÏ
ǸLAKANÏTÏHA LOKE’SVARA NAMAHÏ
OMÏ
SIMÏHANÀDA LOKE’SVARA NAMAHÏ
OMÏ
KARANÏDÏAVYÙHA LOKE’SVARA NAMAHÏ
OMÏ
MANÏI PADME HÙMÏ
( Phương
cách này c̣n có thể được tŕ niệm dựa theo
năm , tháng, ngày, giờ sinh của Hành Giả
nhằm tăng cường uy lực tự hộ thân ḿnh
)
_ Giai
đoạn Giác Tha (Đại Từ, Đại Bi,
Đại Hỷ, Đại Xả):
.)
Đại Từ : Hành Giả trải rộng tâm mong
muốn đem lại sự an vui cho tất cả chúng
hữu t́nh (Dứt trừ Tham)
.)
Đại Bi: Hành Giả trải rộng tâm muốn
cứu giúp tất cả chúng Hữu T́nh thoát khỏi
mọi sự khổ đau (Dứt trừ Sân)
.)
Đại Hỷ : Hành Giả trải rộng tâm vui vẻ
tán thán tất cả chúng Hữu T́nh biết thực hiện
Chính Pháp Giải Thoát (Dứt trừ Mạn và Aùc
Kiến)
.)
Đại Xả : Hành giả trải rộng Tâm như
hư không không dính mắc vào bất cứ h́nh thức nào (
Dứt trừ Nghi và Si )
Các Pháp này
được thực hiện theo Thiền Quán và thi hành
qua các hành động cụ thể cho đến khi Hành
Giả thực sự chứng đắc được
trạng thái an lạc tịch tĩnh ( Thực chứng Vô
Ngă)
_ Thông thường giáo đồ Phật
giáo Trung Hoa hay tŕ tụng Lục Tự Minh chú kèm với 04
câu chú khác và gọi là NGŨ BỘ CHÚ.
a) Tịnh Pháp
Giới Chân ngôn:
OMÏ RAMÏ biểu
thị cho lực gia tŕ của Kim Cương Bộ, giúp
cho hành giả tu tập viên măn 02 Pháp: Bố thí Ba La
Mật (Dàna Pàramita) và Tŕ Giới Ba La Mật (‘Śla Pàramita)
để dọn sạch dất Tâm và gieo hạt giống
Bồ Đề.
b) Văn Thù
Sư Lợi Nhất Tự Hộ Thân Chân ngôn:
OMÏ
‘SRHYIMÏ biểu thị cho lực gia tŕ của
Bảo Bộ giúp cho hành giả tu tập viên măn 02 Pháp:
Nhẫn Nhục Ba La Mật (Ksïànti Pàramita) và Tinh Tiến Ba
La Mật (V́rya Pàramita) để nuôi lớn Tâm Bồ
đề.
c) Lục
Tự Đại Minh Chân ngôn:
OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ biểu thị cho lực
gia tŕ của Liên Hoa Bộ, giúp cho hành giả tu tập viên
măn Thiền Định Ba La Mật (Dhyàna Pàramita) để
chứng ngộ Tâm Bồ đề.
d) Chuẩn Đề Cửu Thánh Tự
Chân ngôn:
OMÏ CALE CULE
CU
DHE SVÀHÀ biểu thị cho
lực gia tŕ của Yết Ma Bộ, giúp cho hành giả tu
tập viên măn Tuệ Ba La Mật (Prajnơa Pàramita) để
chứng nhập Tâm Bồ đề.
e) Nhất Tự Kim Luân Phật
Đỉnh Chân ngôn:
BHRÙMÏ biểu
thị cho lực gia tŕ của Như Lai Bộ, giúp cho hành
giả tu tập viên măn 04 Pháp: Phương tiện Ba La
Mật (Upàya Pàramita), Nguyện Ba La Mật (Pranidhàna Pàramita),
Lực Ba La Mật (Bala Pàramita), Trí Ba La Mật (Jnơàna
Pàramita) để thành tựu Tâm Bồ đề.
Cách thức tŕ
tụng Ngũ Bộ Chú là tŕ lần lượt mỗi chú
108 lần hoặc tŕ một lúc cả 05 chú, cứ như
vậy cho đủ 108 lần. Thời gian tŕ tụng là 04
giờ: Tư (23h ( 01h), Ngọ (11h ( 13h), Măo (5h ( 7h), Dậu (17h
( 19h).
_ Theo hệ phái
khác th́ Lục Tự Đại Minh Chú được tŕ
tụng chung với 07 câu chú khác và cũng gọi đó là Ngũ
Bộ Chú.
a)
OMÏ RAMÏ
b)
OMÏ ‘SRHYIMÏ
c)
OMÏ BHRÙMÏ PHATÏ
d)
OMÏ MAHÀ SITATÀPATRA
e)
OMÏ ÀHÏ HÙMÏ HR̀HÏ
f)
OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ
g) OMÏ CALE CULE CU
DHE SVÀHÀ
h)
BHRÙMÏ
Cách thức tŕ tụng giống
như trên và nhấn mạnh rằng chỉ 21 ngày th́ hành
giả sẽ nhận được lực gia tŕ qua
những điềm báo tốt lành.
_ Khi Mật Giáo Tây Tạng du
nhập vào Trung Hoa th́ một số vị Đạo sư
đă dạy cách tu TAM MẬT trong “Mật Tông Vô
Thượng Du Già Song Thân Dục Lạc Đại
Định", là:
a)
Thân Mật: Kết Ấn (Đại Thủ ấn)
b)
Khẩu Mật: Tŕ chú.
c)
Ư Mật: Quán tưởng
d)
Án Linh: miệng tụng “OMÏ ÀHÏ HÙMÏ” đỉnh
lễ 03 lần.
.) Quán tưởng Mă Đầu Minh
Vương Hộ Pháp và tŕ tụng câu chú: “OMÏ – MOKSÏA PADMA
RÀJA – MÀN’SCATU HÀYAGRIVA – HURU HURU – HÙMÏ PHATÏ”
.) Người
.) Người Nữ, chủ
yếu là quán tưởng Kim Cương Hợi Mẫu
(Vajra Varàhi) là Phạn huyệt tiến vào trong thân của
ḿnh. Quán tưởng ḿnh là Thành Tượng của Kim
Cương Hợi Mẫu và tŕ tụng câu chú là: “OMÏ OMÏ OMÏ
– SARVA BUDDHA DÏÀKINÏIYE – VAJRA VARNÏANÏIYE – VAJRA VAIROCANIYE – HÙMÏ HÙMÏ
HÙMÏ – PHATÏ PHATÏ PHATÏ – SVÀHÀ”
( Tại Việt
-
OMÏ ÀHÏ HÙMÏ VAJRA GURU PADMA SIDDHI HÙMÏ
-
OMÏ PADMA VAJRA HÙMÏ
-
OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ
-
OMÏ VAJRA PÀNÏI HÙMÏ
-
OMÏ MAHÀ SITATÀPATRE HÙMÏ BHRÙMÏ
-
OMÏ AMRÏTA TEJE HARA HÙMÏ
-
OMÏ BHRÙMÏ HÙMÏ
-
OMÏ ÀHÏ VIRA HÙMÏ KHACARAHÏ - BHRÙMÏ
( Tại Tây Tạng, theo sự
khởi truyền “Bộ Pháp của Gambhava Sange” về chú
Lục Tự dùng phép xuyên Tam Điền để trợ
giúp khai mở Thần Thức, tác các Pháp khác cho mau thành
tựu. Cách tập như sau:
Trước khi tu tập, xưng
niệm hồng danh của Đức Phật Thích Ca,
Đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát và Di
Lặc Bồ Tát. Xong ngồi tập, đặt gót chân trái
lót huyệt Hội Âm, gác chân phải lên chân trái, ngồi Bán
Già, tay kết Định Ấn, hít thở và quán
tưởng.
Hít thở từ mũi vào,
dẫn hơi từ ẤN ĐƯỜNG xuống KHÍ
HẢI, đưa vào trong HOÀNG Đ̀NH THẦN, thầm
niệm “ OMÏ”, tại chỗ đó thấy một hạt
châu. Tiếp theo, trầm vai đưa hạt châu chạy
vào trong ống giữa thân lên tới TRUNG HUỲNH Đ̀NH,
thấy hạt châu sáng lên trong ống màu đỏ, bọc
bên ngoài hạt châu và bên ngoài ống đỏ c̣n một
ống trắng sáng (02 ống đồng tâm, ống
trắng ngoài, ống đỏ trong, hạt châu ở chính
giữa ( )
thầm đọc “MANÏI”. Thấy hạt châu sáng rực
rồi từ từ ngay ống giữa thân đi theo
đường xuyên Tam Điền qua cổ họng đi
thẳng qua Bách Hội thành búp sen màu đỏ. Hạt châu
lên đến Bách Hội th́ búp sen nở thành hoa sen 7 cánh,
trên có một vị Phật phóng tỏa hào quang (Đức
Phật nào cũng được, tùy ư thích), thầm
niệm “ PADME”, xong thở ra ẤN ĐƯỜNG,
thầm niệm “HÙMÏ”.
Xong
làm lại như trên 12 lần ( 01 chu kỳ là 12 lần).
Tùy theo sức, thực hiện mấy chu kỳ cũng
được.
_
Theo Đạo sư Tang Tong Gyabo, vị Thánh Tăng của
Phật giáo Tây Tạng ở vào thế kỷ 15 th́ Pháp tu
tŕ Lục Tự Minh Chú được ghi nhận trong pháp
tu “Quán tưởng Đức Quán Thế Âm” như sau:
(Bản dịch của Thượng Tọa Thích Minh
Lễ)
(1)
QUY Y
Quy
y Phật, Pháp và Thánh Tăng
Cho
đến khi con thành Chánh giác
Nguyện
các công đức con tạo nên (như tu Từ Bi, Bố
Thí …)
Giúp
con thành Phật độ chúng sinh
(Đọc
3 lần)
(2)
Con cùng chúng sinh đầy hư không
Đảnh
có sen trắng và ánh sáng
Trên
có chữ HR̀HÏ hiện rơ ràng
Chí
tôn Đại Thánh Quán Thế Âm
Trắng
sạch, quang minh, sáng năm sắc (trắng, lam,
đỏ, vàng, xanh)
Mỉm
cười thương xót nh́n chúng sinh
Bốn
tay: hai tay chắp trước ngực
Y lụa, ngọc báu, trang nghiêm thân
Vai choàng da lộc (hươu),
đảnh măo báu
Trên đảnh hóa Phật A Di Đà
Hai chân chéo lại thế Toàn Già
Lưng dựa một vành trăng trong sáng
Ngài là Chơn tánh mọi Quy y
(3) (Cầu nguyện với Đức
Quán Thế Âm. Quán tưởng tất cả chúng sinh cùng
với hành giả đồng thanh cầu nguyện)
Chúng con đảnh lễ Quán Thế Âm
Chí Thánh hoàn toàn không lỗi lầm
Bảo Thân (Thân báu) trong trắng không
tỳ vết
Đảnh đầu trang sức
Phật Toàn Giác
Đôi mắt Từ bi nh́n chúng sinh
(Tụng 3 hay 7 lần, càng nhiều càng
tốt)
(4) Dốc ḷng cầu nguyện như
thế xong
Chí Thánh Bảo Thân phóng hào quang
Tịnh trừ vọng tưởng,
tướng nghiệp ác
Ngoại cảnh hóa thành nước
Cực Lạc
Chúng sanh ba nghiệp Thân, Khẩu, Ư
Sắc, Tiếng, Pháp Trần đều
thành Không
Tất cả đều là không phân
biệt.
(5) Tự Tâm đồng thời quán
tưởng, miệng tụng Lục Tự Minh Chú “ÁN MA NI
BÁT DI HỒNG” – OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ. Phản quán Tự Tánh,
chiếu Tam luân không tịch: Không người tạo tác,
không người lănh thọ, không sự tạo tác.
(6) (Sau khi xả Thiền Quán đứng
dậy hồi hướng)
Tướng con, chúng sanh là tướng
Ngài
Âm thanh, âm ba Chú Lục Tự
Bao nhiêu Tâm Vương, Tâm sở niệm
Tổng thành trung khu của Đại Trí
(7) Nguyện nhờ công đức tu
tập này
Con sẽ mau thành Quán Thế Âm
Khắp độ tất cả chúng sanh
Cùng qua bờ Giác chẳng chừa ai
(Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật
Đạo)
_Như chúng ta đă biết, Lục
Tự Đại Minh Chân ngôn chính là món quà quư báu mà
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đă ban phát cho chúng sinh
trong cơi TA BÀ (Saha Loka Dhàtu) nhằm ngăn ngừa và dứt
trừ “Khổ, Chướng, Hoặc” ở 03 cơi 06
đường.
Do quyền năng tâm trí tác động lên
âm thanh và h́nh sắc của Chân ngôn mà mỗi chữ của
Chân ngôn sẽ biểu hiện thành một uy lực rất
lớn, cực vi diệu và linh nghiệm. Cho nên các hành
giả Mật Tông Tây Tạng thường dùng “Lục
Tự Đại Minh Chân ngôn” trong phương pháp Thiền
Định và Quán tưởng để thanh lọc thân xác
thoát khỏi 06 phiền năo chính cùng với 06 cơi do nhóm
phiền năo ấy tạo nên. Nhờ thường xuyên tu
tập Pháp “Tịnh Hóa Lục Đạo”, hành giả
sẽ tự thanh lọc nghiệp căn bản của
ḿnh, từ đó mau chóng cắt đứt được
gốc rễ tương quan của ḿnh với sinh tử.
Theo Mật Tông Tây Tạng, nếu các
cảm xúc phiền năo không đựơc tịnh hóa th́
chúng sẽ điều động Thần Thức tái sinh
vào cơi nào đó trong Lục đạo. Các cảm xúc
phiền năo thường tích tụ trong hệ Tâm vật lư
là những huyệt đạo vi tế hàm chứa
nhữngn ăng lực đặc biệt trong cơ
thể.
Mật Điển Dzogchen nhận
định rằng:
“ Hạt giống Địa Ngục và
nhân của nó là giận dữ, được định
vị ở dưới hai gót chân.
Cơi Ngạ Quỷ và nhân
của nó là Dục Tham, có gốc ở Bàn tọa.
Cơi Súc Sinh và nhân của nó là
Ngu Si th́ có vị trí ở lỗ rốn.
Cơi Người và nhân của
nó là Hoài nghi, có vị trí ở trái tim.
Cơi Tu La và nhân của nó là ganh
tỵ, nằm ở Yết hầu (cổ họng)
Cơi Trời và nhân của nó là
Kiêu mạn, th́ có vị trí ở Đỉnh đầu.”
Trong khi tu tập Pháp “Tịnh hóa Lục
đạo” hành giả tŕ tụng âm thanh và quán tưởng
h́nh sắc mỗi chữ của Chân ngôn được an
bố trên mỗi vị trí tương ứng, đồng
thời khởi tâm cầu nguyện và quán tưởng
tất cả nghiệp do cảm xúc đặc biệt
ấy tạo nên đều khô kiệt, mỗi phần thân
thể liên hệ đến nghiệp của cảm xúc
ấy đều hoàn toàn tan thành ánh sáng ḥa nhập với
Pháp giới thanh tịnh.
Như vậy, chữ OMÏ (輆) màu
trắng được an bố ở đầu, chữ
MA (亙) màu xanh lục
được an bố ở cổ họng, chữ NÏI (仗) màu
vàng được an bố ở trái tim, chữ PAD (扔
) màu xanh lục được an bố ở lỗ
rốn, chữ ME (伙) màu hồng được
an bố ở bàn tọa, chữ HÙMÏ (猲) màu
đen huyền được an bố ở hai gót chân.
Các ư tưởng cầu nguyện đi
kèm theo âm thanh của mỗi chữ theo Chân ngôn là:
OMÏ : Nguyện cho con dứt trừ
được Tâm ư ảo tưởng kiêu mạn và xa ĺa
được các Khổ, Chướng, Hoặc trong Thiên
Giới.
MA : Nguyện cho con dứt trừ
được Tâm ư ganh tỵ tranh đấu và xa ĺa
được các Khổ, Chướng, Hoặc trong A Tu La
Giới.
NÏI : Nguyện cho con dứt trừ
được Tâm ư hoài nghi tự kiêu và xa ĺa
được các Khổ, Chướng, Hoặc trong Nhân
Gian Giới.
PAD : Nguyện cho con dứt trừ
được Tâm ư tŕ độn mù quáng và xa ĺa
được các Khổ, Chướng, Hoặc trong Súc
Sinh Giới.
ME : Nguyện cho con dứt
trừ được Tâm ư tham dục thèm khát và xa ĺa
được các Khổ, Chướng, Hoặc trong
Ngạ Quỷ Giới.
HÙMÏ : Nguyện cho con dứt trừ
được Tâm ư giận dữ oán hận và xa ĺa
được các Khổ, Chướng, Hoặc trong
Địa Ngục Giới.
Điều
cần nhớ là trong khi tŕ niệm Lục Tự Minh Chú,
hành giả phải luôn luôn nghĩ đến Đức
Quán Thế Âm Bồ Tát như là Ngài đang hiện diện
trong nội tâm ḿnh chứ không phải bên ngoài. Bất
cứ sự mong cầu quyền lực nào bên ngoài
đều là những vọng niệm cần phải
loại trừ v́ không có uy lực nào bên ngoài có thể giúp
chúng ta thành Phật được, ngay chính sự mong
cầu điều ǵ dù là sự b́nh yên, niềm
phước lạc cũng là vọng niệm rồi.
Thực tế, Bồ Tát là đặc tính Từ Bi thanh
tịnh của Tâm và chúng sinh là đặc tính Tham
trước uế trược của Tâm. Cho nên, chính
năng lực đưa chúng sinh vào 03 nẻo 06
đường cũng chính là năng lực giúp chúng sinh
vượt thoát ṿng sinh tử luân hồi. Do ư nghĩa này,
Mật Tông Phật Giáo nhấn mạnh rằng “ Dâm,
Nộ, Si chính là GIỚI, ĐỊNH, TUỆ và Phiền Năo
cũng chính là Bồ Đề”.
Ngoài
ra, một công phu tu tập siêng năng vẫn chưa
đủ mà c̣n phải chú trọng việc mở mang Trí
Tuệ qua việc tham cứu học hỏi mọi Giáo lư
và Mật Điển, nắm vững đạo lư Nhân
Quả, thường xuyên gieo trồng phước báo công
đức, luôn làm lành lánh dữ, rèn luyện Tâm ư cho trong sạch
để hỗ trợ cho Pháp tu và cần nhất là luôn
thực hiện 03 điều ṇng cốt của con
đường giải thoát sinh tử là : sự từ
bỏ, chính kiến về Tính Không và phát tâm Bồ
Đề.
Khi
Pháp “Tịnh Hóa Lục đạo” được thành
tựu th́ Tâm ư của hành giả đă vượt khỏi
các Tâm phàm phu, dứt trừ được mọi ô
nhiễm che lấp thân tâm và thực nhận
được Giác Tính cực thanh tĩnh vốn có xưa
nay, tức là chứng ngộ được Tâm Bồ
đề. Trong thực tế, th́ thành quả này chỉ có
ở cuối quá tŕnh tinh cần tu tập Thiền
Định Ba La Mật (Dhyàna Pàramita) c̣n b́nh thường
th́ phương pháp này chỉ giúp cho hành giả
được văng sinh về cơi Cực Lạc của
Đức Phật A Di Đà. V́ thế, các Đạo
sư Mật Tông Tây Tạng thường làm pháp tu luyện
này cho người chết đồng thời nhất tâm
quán tưởng rằng sau khi tác Pháp xong, tất cả nghiệp
của họ đều thanh tịnh và thân xác họ,
bản thể họ tan thành ánh sáng rực rỡ ḥa
nhập vào ánh sáng đỏ rực của Đức
Phật Vô Lượng Quang (Amitàbha) đang tỏa rộng
ở phương Tây. Dựa vào ư nghĩa này, các giáo
đồ Phật giáo Tây Tạng thường hướng
về Đức Liên Hoa Thủ Bồ Tát, xưng tụng
“Lục Tự Minh Chú” để cầu nguyện cho ḿnh
(hay cho người chết) được văng sinh về
Thế giới Cực Lạc.
Tóm
lại, khi tŕ niệm “OMÏ MANÏI PADME HÙMÏ” hành giả tự an
trụ Tâm Trí trong Pháp Thiền Định quán tưởng
nhằm chặn đứng sự lao xao cuồng
động của Tâm Trí cho đến khi cuồng tâm
ngưng lại th́ lúc ấy hành giả tự chứng
ngộ được bản tâm thanh tịnh vô nhiễm
trước vốn có nơi ḿnh, nghĩa là chứng
ngộ được Phật Tính bất sinh bất
diệt đang tiềm ẩn trong Tâm Thức sinh diệt
vậy.
10/07/2006