Phương
Pháp tu tập qua những thí dụ
TT. Thích Phước Sơn
05/12/2005
|
|
Nhằm
hướng dẫn đệ tử tu
tập đạt được hiệu quả
tốt nhất, đức Phật đă linh động
vận dụng trí tuệ tŕnh bày bằng những ví dụ
vừa thực tế, vừa sống động, mang tính
hấp dẫn và đầy tính khả thi. Sau đây,
soạn giả xin giới thiệu một số ví dụ
để độc giả nào tha thiết t́m hiểu giáo
lư thâm diệu và phương pháp thiện xảo của
đức Đạo sư có thể dễ dàng tham
khảo và đem ra áp dụng.
“Này các Tỳ kheo, có
những tạp chất xen lẫn trong vàng như bụi,
cát, đá, sạn; người thợ lọc vàng đem
vàng đổ vào trong cái máng, rồi dội nước vào,
dạu qua dạu lại, rửa đi rửa lại. Làm
như vậy xong, lúc bấy giờ vàng c̣n lại các
tạp chất nhỏ hơn, như cát đá sạn
mịn, rồi người thợ lọc vàng rửa
đi rửa lại thêm nữa. Bây giờ, vàng c̣n dính chút
ít cát mịn và bụi đen, rồi người thợ
lọc vàng rửa lần cuối cho hoàn toàn hết các
tạp chất, chỉ c̣n lại vàng khoáng.
Rồi
người thợ vàng bỏ thỏi vàng ấy vào trong cái
ḷ, thụt ống bễ, thụt nhiều lần cho
đến khi vàng bắt đầu chảy, nhưng không
chảy ra khỏi miệng ḷ. Thế rồi, người
ấy tiếp tục thụt ống bễ, nhưng vàng
ấy chưa đạt được tinh chất, anh ta
lại tiếp tục thụt ống bễ cho đến
khi miếng vàng trở nên nhu nhuyến, chói sáng, không bị
bể vụn, mềm dẻo dễ sử dụng. Giờ
đây, nếu muốn làm thành kiềng vàng, hoa tai, ṿng
xuyến hay chiếc nhẫn, người thợ kim hoàn có
thể dùng thỏi vàng ấy chế tạo những
vật trang sức mà ḿnh mong muốn.
Cũng vậy, này các Tỳ kheo, khi tu tập tăng
thượng tâm, nếu các kiết sử thô tạp như
thân ác hành, khẩu ác hành, ư ác hành c̣n tồn tại, Tỳ
kheo phải nỗ lực tư duy, t́m cách loại bỏ,
gọt sạch, dứt tuyệt, không cho sinh khởi
trở lại. Khi làm như vậy xong, Tỳ kheo tiếp
tục tu tập tăng thượng tâm; nếu các
kiết sử bậc trung như dục tầm, sân tầm
và hại tầm c̣n tồn tại, phải nỗ lực
nhiều hơn nữa loại bỏ, dứt tuyệt,
không cho chúng sinh khởi trở lại. Khi làm như vậy
hoàn tất, Tỳ kheo lại tiếp tục tu tập
tăng thượng tâm, nếu thấy các kiết sử
vi tế như ư tưởng về gia tộc, về
quốc độ, về danh dự c̣n tồn tại,
phải tiếp tục nỗ lực diệt trừ chúng,
không cho chúng sinh khởi. Khi tâm đă nhu nhuyến dễ
sử dụng, nếu muốn đạt được
các pháp thần thông, như thần túc thông, thiên nhĩ thông
v.v... Tỷ kheo có khả năng thành tựu các pháp thần
thông ấy”. (Kinh Tăng Chi Bộ I, chương 3 pháp,
phẩm Hạt muối, kẻ lọc vàng, tr.459-61).
2.
Tu tập như huấn luyện con ngựa
Tôn giả
Bhaddali thiếu nghị lực chế ngự tự thân,
thường bị các dục vọng sai khiến.
Để giáo hóa tôn giả về phương pháp
điều phục nội tâm,đức Phật tŕnh bày
về cách thức huấn luyện con ngựa:
“Này Bhaddali, ví như một người huấn luyện
ngựa thiện nghệ, khi nhận được
một con ngựa tốt, hiền thiện, trước
hết phải huấn luyện con ngựa ấy cho quen
với dây cương. Trong khi huấn luyện, nếu nó
vùng vẫy, nhảy chồm, nhảy ngược, chống
cự, v́ trước đây chưa được
huấn luyện, huấn luyện viên cứ tiếp
tục tập luyện, dần dần con ngựa sẽ
làm quen với dây cương. Thế rồi, huấn
luyện viên lại huấn luyện ngựa làm quen với
yên ngựa. Khi huấn luyện, ngựa sẽ vùng vẫy,
kháng cự, nhưng huấn luyện viên kiên tŕ tập
luyện, dần dần ngựa sẽ quen với yên
ngựa. Giờ đây, người huấn luyện
lại tập luyện con ngựa diễu hành, đi ṿng
quanh, đi bằng đầu móng chân, chạy nước
đại, phi hết tốc lực, hí vang v.v... Khi con
ngựa đă luyện tập thuần thục các động
tác trên, huấn luyện viên lại tập ngựa làm quen
với các vật trang sức như lục lạc, ṿng hoa,
châu ngọc v.v... Này Bhaddali, khi con ngựa đă
được tập luyện thành thạo các việc
kể trên, nó trở thành một tuấn mă, lương mă,
một bảo vật của quốc vương. Cũng
vậy, này Bhaddali, một Tỳ kheo thành tựu các
đức tính thù thắng sẽ trở thành bậc
đáng tôn kính, đáng trọng vọng, đáng lễ bái,
cúng dường, là phước điền vô thượng
ở đời. Này Bhaddali, khi Tỳ kheo thành tựu Chánh
tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh
mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định,
Chánh trí và Chánh giải thoát sẽ trở thành bậc
đáng tôn kính, đáng trọng vọng, đáng lễ bái,
cúng dường, là phước điền vô thượng
ở đời”. (Kinh Trung Bộ III, kinh Bhaddai 65, tr. 231-34)
3.
Tu đúng phương pháp như lên dây đàn
Một
thuở nọ đức Thế Tôn an trú tại núi Linh
Thứu, gần thành Vương Xá, c̣n Tôn giả Sona ở
rừng Sita cách Vương Xá không xa. V́ thiếu chánh
niệm để phiền năo chi phối, Sona muốn
trở lại đời sống thế tục, làm các công
đức, hưởng thụ hạnh phúc như một
người b́nh thường. Với tha tâm thông, Thế Tôn
biết tâm niệm của người đệ tử,
liền vận dụng thần túc đến trước
Sona, hỏi thầy về những suy nghĩ vừa
rồi. Sona thú thực ḿnh có suy nghĩ như vậy.
Phật liền hỏi thầy về phương pháp
chơi đàn Tỳ bà - vốn là sở trường
của Sona - để khích lệ tôn giả tiếp
tục tinh tấn:
“Này Sona, ông nghĩ thế nào,
khi các dây đàn Tỳ bà quá căng có phát âm đúng thanh
điệu không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Khi dây đàn quá chùng, âm thanh
có êm dịu không?
- Thưa không, bạch Thế
Tôn.
- Vậy khi vặn dây đàn
không căng, không chùng, vừa đúng mức trung b́nh, âm
thanh có êm tai không?
- Thưa có, bạch Thế
Tôn.
- Cũng vậy này Sona, khi tâm
trí quá căng thẳng th́ phát sinh dao động; khi tâm trí
quá thụ động th́ đưa đến biếng
nhác. Do vậy, ông cần phải vận dụng tâm trí quân
b́nh, không quá căng thẳng, cũng không quá thụ
động th́ sự tu tập mới đạt
được tiến bộ.
- Thưa vâng, bạch Thế
Tôn.
Sau khi vâng
lời Thế Tôn chỉ giáo, tôn giả Sona sống
độc cư, an tịnh, không phóng dật, nỗ
lực một cách quân b́nh, nhờ vậy đă chứng
đạt mục đích mà các thiện gia nam tử
xuất gia kỳ vọng: Vô thượng cứu cánh
phạm hạnh, và an trú trong hiện tại. (Kinh Tăng
Chi Bộ, tập 3, chương 6 pháp, Đại phẩm
VI, (I) Sona, tr.155-58).
4. Tu phạm hạnh như người cày ruộng
Một hôm,
vào buổi sáng, Thế Tôn khoác y, cầm bát, đi khất
thực ngang qua nông trường của Bà la môn Bhàradvaja. Trông
thấy Thế Tôn, Bà la môn nói:
- “Này Sa môn, tôi cày và gieo lúa. Sau
khi cày và gieo lúa, tôi sử dụng sản phẩm đă thu
hoạch. Vậy, Sa môn có cày và gieo lúa, sau khi cày và gieo lúa,
sử dụng sản phẩm đă thu hoạch không?
- Này Bà la môn, Ta cũng có cày và
gieo lúa; sau khi cày và gieo lúa, Ta sử dụng sản phẩm
đă thu hoạch.
- Nhưng tôi đâu có thấy
cái ách, bắp cày, lưỡi cày, chiếc roi và các con ḅ
của tôn giả Gotama mặc dù tôn giả nói: “Ta
cũng có cày và gieo lúa, sau khi cày và gieo lúa, ta sử dụng
sản phẩm đă thu hoạch?”.
Rồi
Thế Tôn dùng kệ trả lời Bà la môn:
“Ḷng tin là hạt giống,
Khổ hạnh là trận
mưa
Trí tuệ đối với
ta,
Là cày và cái ách
Tàm quí là bắp cày,
Ư căn là dây buộc.
Chánh niệm là lưỡi cày
Thân, khẩu được
hộ tŕ,
Ta nhổ lên tà vạy,
Chứng đạt chân
giải thoát.
... Như vậy cày ruộng
này,
Đưa đến quả
bất tử.”
(Tương Ưng Bộ kinh
tập I, chương VII, II, phẩm Cư sĩ, 1. Cày
ruộng, tr.213)
5. Hộ tŕ các căn như rùa sợ chó sói
Đức
Thế Tôn nói với các Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo, vào
buổi chiều một bữa nọ, con rùa và con chó sói
cùng đi t́m mồi. Rùa trông thấy chó sói từ đàng xa,
liền thụt cổ và bốn chân vào trong mai, nằm im
lặng, bất động. Từ đàng xa, chó sói trông
thấy rùa, liền đi đến gần bên, suy nghĩ:
“Khi con rùa này tḥ ra bộ phận nào, ta sẽ chụp
lấy, bẻ găy, rồi xơi tái”. Thế nhưng, con rùa
không tḥ ra bộ phận nào cả; chó sói không t́m
được cơ hội, nên chán ngán bỏ đi.
Cũng
vậy, này các Tỷ kheo, ác ma thường xuyên ở trong
tư thế ŕnh rập các ngươi với suy nghĩ:
“Rất có thể ta sẽ nắm được cơ
hội do sự thiếu cảnh giác của các Tỷ kheo,
đối với đôi mắt... cái lưỡi... ư
căn của họ”.
Do đó, các
ngươi phải luôn luôn tỉnh táo hộ tŕ các căn:
Khi mắt thấy sắc đẹp, không nên đắm
trước toàn bộ hay các chi tiết. Nếu thấy những
nguyên nhân ǵ, v́ nhăn căn không được hộ tŕ,
khiến tham ái, ưu bi, các ác hạnh sinh khởi, hăy
chế ngự nguyên nhân ấy, nỗ lực hộ tŕ nhăn
căn. Khi tai nghe tiếng... Mũi ngửi hương...
Lưỡi nếm vị... Thân cảm xúc... Ư nhận
thức các pháp, không nên đắm trước toàn bộ
hay các chi tiết. Nếu thấy những nguyên nhân ǵ, v́ ư
căn không được chế ngự, khiến tham ái,
ưu bi, các ác hạnh sinh khởi, hăy chế ngự nguyên
nhân ấy, nỗ lực hộ tŕ ư căn.
Này các Tỷ kheo, khi nào các ngươi sống hộ tŕ các
căn th́ ác ma sẽ không nắm được cơ
hội, chán ngán các ngươi rồi bỏ đi cũng
như con chó sói đối với con rùa kia vậy”.
(Tương Ưng Bộ kinh, tập IV, phần 4, phẩm
4: Rắn độc, đoạn III: con rùa, tr.184).
6. Cây khô mới lấy được lửa
Một hôm,
đức Thế Tôn gặp Aggivessana, đệ tử
của phái Ni Kiền Tử, Ngài thuyết giảng cho ông
về cách lấy lửa từ trong cây:
- “Này Aggivessana, ví như có
một khúc cây đầy nhựa sống, đặt trong
nước ẩm ướt, rồi một người
cầm dụng cụ lấy lửa đến khúc cây
ấy, suy nghĩ: “Ta sẽ kéo lửa, làm cho sức nóng
xuất hiện”. Vậy, anh ta có thể dùng dụng cụ
kéo lửa cọ xát khúc cây ấy cho sức nóng xuất
hiện được không?
- Thưa không, Tôn giả Gotama. V́ khúc cây ấy ẩm
ướt, nên anh ta có h́ hục kéo cách mấy lửa
cũng không thể xuất hiện.
- Cũng vậy, này Aggivessana,
những Sa môn, Bà la môn nào sống không xả ly, không
đoạn trừ các dục của thân và tâm, như
dục tham, dục hôn ám, dục khát ái, dục nhiệt năo,
th́ không thể tự nhiên chứng được tri
kiến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Và nếu
như th́nh ĺnh cảm thọ những cảm giác đau
nhói khốc liệt th́ họ cũng không thể chứng
được tri kiến Vô thượng Chánh giác.
Này Aggivessana, ví như
một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa
sống, được vớt lên khỏi nước,
đặt trên đất khô, rồi người kia cầm
dụng cụ đến cọ xát làm cho lửa xuất
hiện được không?
- Thưa không, Tôn giả Gotama.
V́ khúc cây ấy đẫm ướt, nên người
ấy chỉ chuốc lấy mệt mỏi và bực
bội mà thôi.
- Cũng vậy, này Aggivessana,
những Sa môn, Bà la môn nào không xả ly các dục về thân
và tâm th́ không thể chứng được tri kiến Vô
thượng Chánh giác.
Này Aggivessana, ví như có một khúc cây khô, không có
nhựa, được vớt khỏi nước,
đặt trên đất khô, rồi một người
cầm dụng cụ lấy lửa đến, suy
nghĩ: “Ta sẽ lấy lửa, ánh lửa sẽ hiện
ra”. Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể làm
cho lửa xuất hiện được không?
- Thưa được, Tôn
giả Gotama. V́ khúc cây ấy khô, không có nhựa, lại
được vớt lên khỏi nước, đặt
trên đất khô.
- Cũng vậy, này Aggivessana,
những tôn giả Sa môn, Bà la môn nào sống xả ly các
dục về thân và tâm, đă đoạn tuyệt khát ái...,
th́ có thể tự nhiên chứng được tri kiến
Vô thượng Chánh giác; hoặc th́nh ĺnh cảm thọ
những cảm giác đau nhói, sẽ chứng
được tri kiến Vô thượng Chánh giác.” (Trung
Bộ kinh, tập 1, kinh 36: Saccaka, tr.528-31).
7. Người tu như khúc gỗ trôi theo ḍng nước
Một
thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Kosambi, trên
bờ sông Hằng, trông thấy một khúc gỗ trôi theo
ḍng nước, liền nói với các Tỷ kheo:
- “Này các Tỷ kheo, nếu
khúc gỗ ấy không tấp vào bờ bên này, không tấp
vào bờ bên kia, không ch́m giữa ḍng, không mắc cạn
trên cồn cát, không bị con người nhặt lấy, không
bị phi nhân nhặt lấy, không bị cuốn vào
nước xoáy, không bị mục nát bên trong, th́ nó sẽ
hướng về biển, xuôi về biển, trôi nhập
vào trong biển. V́ cớ sao? V́ ḍng sông Hằng hướng
về biển, xuôi về biển, trôi nhập vào trong
biển.
- Cũng vậy, này các Tỷ
kheo, nếu các ngươi không tấp vào bờ bên
này...không bị mục nát bên trong th́ các ngươi sẽ
hướng về Niết bàn, xuôi về Niết bàn, trôi
nhập vào Niết bàn.
- Bạch Thế Tôn, xin
Thế Tôn giải thích ư nghĩa các ví dụ mà Thế Tôn
vừa nêu.
- Này các Tỷ kheo, bờ bên này
đồng nghĩa với 6 nội xứ;
Bờ bên kia đồng
nghĩa với 6 ngoại xứ
Bị ch́m giữa ḍng
đồng nghĩa với hỷ tham;
Bị mắc cạn trên
cồn cát đồng nghĩa với ngă mạn;
Bị cuốn vào nước
xoáy đồng nghĩa với 5 dục công đức;
Bị con người
nhặt lấy nghĩa là sống quan hệ mật
thiết với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an
lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ đau
khổ, tự trói ḿnh vào công việc mà họ phải làm.
- Bị phi nhân nhặt
lấy nghĩa là sống phạm hạnh với hy
vọng: “Với giới luật, khổ hạnh, phạm
hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một Phạm
Thiên”.
- Bị mục nát bên trong
nghĩa là thọ tà giới, theo ác pháp, sống bất
tịnh, có những hành vi đáng ngờ vực, có
những hành động mờ ám được che đậy:
không phải Sa môn nhưng hiện tướng Sa môn, không
phải phạm hạnh nhưng hiện tướng
phạm hạnh, nội tâm hủ bại, chứa
đầy dục vọng như đống rác bẩn.
Này các
Tỳ kheo, đó là ư nghĩa những ví dụ mà Ta đă
nêu trên”. (Tương Ưng Bộ kinh, tập IV, phẩm 4,
đoạn 4: khúc gỗ, tr.185-7).
Nhân dịp
măn khóa V của Tăng Ni sinh Học viện Phật giáo
Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi giới
thiệu 07 ví dụ về phương pháp tu tập mà
đức Phật đă bi mẫn giảng dạy cho các
đệ tử xuất gia. Tôi hy vọng các Tăng Ni luôn
luôn nỗ lực t́m hiểu và giới thiệu cho mọi
người cùng hiểu những lời dạy vừa vui
tươi, vừa thâm thúy của bậc Đạo sư,
rồi vận dụng vào trong đời sống hàng ngày,
hầu hoàn thiện chính ḿnh và nêu gương cho
người khác. Thiết nghĩ, đó cũng là nghĩa vụ
thiết thực của hàng trưởng tử Như
Lai trên bước đường hoằng dương
Chánh pháp.
admin
(Theo Lưu Dấu Một Thời)