.
PHƯƠNG
PHÁP THAM THIỀN
Nguyên tác HÁN VĂN: HƯ VÂN LĂO H̉A
THƯỢNG
Niên phổ và Pháp vựng
tăng đính bản
(Trích dịch từ trang 626
đến trang 633 và từ trang 637 đến trang 649)
Việt dịch: BÁO ÂN
Nguồn
: Thư viện Hoa sen

MỤC
LỤC
01
Những Điều Kiện Tiên Quyết Của Tham
Thiền
02
Tham Thiền
03
Sự Khó Khăn và Dễ Dàng của Hành Gỉa Tham
Thiền
04
Thoại Đầu
05
Vọng Tưởng
06
Toạ Thiền Nên Biết
07
Hạ Thủ Dụng Công
08
Chiếu Cố Thoại Đầu và Phản Văn Văn
Tự Tánh
09 Hai
Loại Khó Dễ Khi Dụng Công
10
Kết Luận
11
Tham Thiền Cảnh Ngữ
12 Chú
Thích
Pháp
môn dụng công tu tập tuy nhiều, chư Phật chư
Tổ Sư đều dùng tham thiền làm diệu môn, không
pháp nào cao hơn.
Trên
pháp hội Lăng Nghiêm, Phật sắc cho Bố tát Văn
Thù lựa chọn pháp môn viên thông – và ngài Văn Thù đă
chọn pháp môn “Nhĩ Căn Viên Thông” của Quán Thế Âm
Bồ tát là tối đệ nhất. Cho nên chúng ta nếu
“Phản văn văn tự tánh” chính là tham
thiền vậy.
I. NHỮNG
ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT CỦA THAM THIỀN
Mục
đích của tham thiền là minh tâm kiến tánh, tức là
muốn tiêu trừ sự ô nhiễm của Tự Tâm
để thấy rơ diện mục của Tự Tánh. Ô
nhiễm tức là vọng tưởng chấp
trước. Tự tánh là trí huệ đức
tướng Như Lai.
Trí
huệ đức tướng Như Lai, chư Phật và
chúng sanh đều đồng có đầy đủ,
không hai, không khác. Nếu xa ĺa được vọng
tưởng chấp trước th́ sẽ tự chứng
được trí huệ đức tướng Như Lai
của riêng ḿnh, tức là Phật (1).
Nếu
không th́ làm chúng sanh. Chỉ v́ chúng ta từ vô lượng
kiếp cho đến nay, mê muội luân chuyển trong ṿng
sanh tử, ô nhiễm đă lâu nên không thể ngay đó
“bất chợt” thoát khỏi vọng tưởng chấp
trước, thật sự thấy được
“Bổn Tánh”. V́ vậy nên phải tham thiền. Do đó
điều kiện tiên quyết của việc tham
thiền chính là “Dứt trừ vọng tưởng”.
A.
LÀM SAO DỨT TRỪ VỌNG TƯỞNG ?
Phật
Thích Ca thuyết pháp rất nhiều nhưng đơn
giản nhất không ngoài một chữ “NGƯNG”, ngưng
tức Bồ Đề.
Thiền
tông là do Đạt Ma Tổ Sư truyền qua Đông
Độ. Đến từ Lục Tổ Huệ Năng
trở về sau thiền tông được truyền bá
rộng răi khắp nơi chấn động và chiếu
sáng cổ kim. Nhưng những lời dạy tối quan
trọng mà Đạt Ma Tổ Sư và Lục Tổ
truyền dạy cho người học chỉ là “Xả
hết muôn duyên, chẳng sanh một niệm”. Dẹp
hết muôn duyên chính là xả bỏ hết các duyên. Cho nên
hai câu nói “Xả hết muôn duyên, chẳng sanh một
niệm” này thực tại là điều kiện tiên
quyết của việc tham thiền. Hai câu nói này nếu
chưa thực hiện được, chẳng những
nói “việc tham thiền không thể thành công” mà chính ngay
cả việc nhập môn cũng không thề làm
được.
Ấy
là do v́ muôn duyên ràng buộc niệm niệm sanh diệt, làm
ǵ mà hành giả c̣n đàm luận đến việc tham
thiền được? “Xả hết muôn duyên, chẳng
sanh một niệm” là điều kiện tiên quyết
của việc tham thiền, chúng ta đă biết rơ.
B.
VẬY TH̀ LÀM THẾ NÀO MỚI CÓ THỂ ĐẠT
ĐƯỢC?
Trên
đây đă nói là một niệm vĩnh viễn dứt
trừ th́ thẳng đến vô sanh, liền chứng ngay
TỰ TÁNH Bồ đề, hoàn toàn “không c̣n tơ hào nào dính
mắc”. Kế đền ắt dùng Lư trừ Sự, rơ
biết TỰ TÁNH bổn lai thanh tịnh; phiền năo
bồ đề, sanh tử niết bàn, tất cả
đều là giả danh, vốn chẳng can hệ ǵ
với TỰ TÁNH của chúng ta. Sự sự vật
vật đều như mộng huyễn bào ảnh (2).
Sắc
thân tứ đại này của chúng ta cùng núi sông,
đất đai đếu ở trong TỰ TÁNH, giống
như bọt nước biển trong biển cả mênh
mông, lúc khởi lúc diệt đều không làm ngăn
ngại bản thể. Chớ nên chạy theo tất
cả sự sanh trụ dị diệt huyễn hóa mà
khởi tâm mừng chán, lấy bỏ. Xả bỏ
suốt cả thân này, giống như dạng người
chết th́ căn, trần, thức, tâm liền tiêu trừ,
tham sân si ái đều diệt mất. Tất cả
nổi đau đớn của thân này như khổ vui,
ấm lạnh, no đói, vinh nhục, sanh tử, họa
phúc, kiết hung, chê khen, được mất, an nguy,
hiểm trở, bằng an đều nhất loạt
đặt bên ngoài. Như vậy mới được
tính là xả bỏ. Một xả bỏ, tất cả
xả bỏ, măi măi xả bỏ - gọi là xả bỏ
muôn duyên. Xả bỏ muôn duyên rồi, vọng tưởng
tự tiêu trừ, tâm phân biệt không sanh khởi, tâm
chấp trước được xa rời, cho
đến một niệm chẳng sanh th́ TỰ TÁNH quang
minh hiển lộ toàn thể.
Khi
những điều kiện tham thiền đă chuẩn
bị đầy đủ rồi, tiếp đó dụng
công chân tham thật cứu th́ việc minh tâm kiến tánh
mới có phần.
Ngày
ngày thường có thiền nhân đến hỏi pháp. Tuy
nhiên “Pháp vốn vô pháp”. Nếu lạc vào ngôn từ
giải thích tức không phải nghĩa chân thật.
Biết rơ tâm này vốn là Phật, ngay đó Vô Sự,
mỗi mỗi hiện thành. Nói tu nói chứng đều là
lời MA. Đạt Ma Tổ Sư đến Đông
Độ “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”
minh bạch chỉ bày là “TẤT CẢ CHÚNG SANH TRÊN CƠI
ĐẤT ĐỀU LÀ PHẬT”, thẳng ngay đó
nhận được TỰ TÁNH thanh tịnh này, tùy
thuận thế duyên không bị ô nhiễm. Trong mười
hai thời đi, đứng, nằm, ngồi tâm
đều không khác, tức là PHẬT HIỆN THÀNH, không
phải dùng tâm dùng sức, càng không cần tạo tác thi vi
việc này việc nọ, không cần lao nhọc dùng
đến lời nói suy nghĩ tinh vi. Cho nên nói thành
Phật là việc rất dễ dàng, là việc rất
tự tại. Hơn nữa Phật tánh ta đă nắm
sẵn trong tay, không cần t́m cầu bên ngoài. Tất
cả chúng sanh trên cơi trần này, nếu không cam chịu
trường kiếp trôi lăn luân chuyển trong bốn
loài sáu nẻo, vĩnh viễn ch́m đắm trong khổ
hải mà nguyện ước thành Phật – thường,
lạc, ngă, tịnh th́ phải cẩn thận tin chắc
lời dạy dỗ răn nhắc của chư Phật
chư Tổ, xả bỏ tất cả, thiện ác
đều đừng nghĩ đến, mỗi mỗi có
thể “lập tức” thành Phật. Chư Phật chư
Bồ Tát cùng lịch đại Tổ Sư phát nguyện
độ tận tất cả chúng sanh không phải không có
bằng cớ mà phát nguyện suông hay giảng dạy
những lời rỗng tuếch.
Như
trên đă nói pháp ấy là như thế. Hơn nữa
trải qua chư Phật, chư Tổ đă nhiều
lần nói rơ, dặn ḍ, giao phó chân ngữ, thật ngữ
chẳng có chút nào hư dối. Đáng tiếc chúng sanh trên
cơi đất này từ vô lượng kiếp đến
nay mê muôi trầm luân trong biển khổ sinh tử,
người sanh ra, kẻ chết đi, luân chuyển không
ngừng, mê hoặc điên đảo, bỏ tánh giác
hiệp với trần lao, giống như vàng ṛng bị
rớt xuống hầm phân, không chỉ không
được thọ dụng mà c̣n nhiễm ô không chịu
được. Đức Phật v́ đức
đại từ đại bi bất đắc dĩ
đành phải thuyết ra tám vạn bốn ngàn pháp môn,
giúp cho chúng sanh các sắc các dạng căn khí bất
đồng dùng đến để đối trị tám
vạn bốn ngàn tập khí thói hư tật xấu, tham
sân si ái. Ví như vàng đă bị nhiễm các loại
cấu bẩn, Phật mới dạy chúng ta dùng cái
nạo, bàn chải, nước, vải, các loại
để cọ rửa, mài giũa, lau chùi các cách v.v…
Cho
nên pháp Phật nói ra, môn môn đều là diệu pháp,
đều có thể giúp chúng sanh liễu thoát sinh tử,
thành Phật đạo. Chỉ có vấn đề khế
hợp với đương cơ hay không khế hợp
với đương cơ, không cần phải miễn
cưỡng phân chia pháp môn cao thấp. Lưu truyền
tại Trung Quốc các pháp môn phổ thông nhất là TÔNG,
GIÁO, LUẬT, TỊNH và MẬT. Năm loại pháp môn này,
tùy theo căn tánh và chí hướng của ḿnh, các hành
giả đều có thể thọ nhận một pháp môn
tu tập, chủ yếu tại “Nhất môn thâm nhập”,
trải qua một thời gian lâu dài không biến
đổi, nhất định có thể thành tựu.
Tông
môn chủ yếu tham thiền. Tham thiền là để
được “Minh tâm kiến tánh”, chính là muốn tham
thấu “Bổn lai diện mục” của ḿnh (Bổn lai
diện mục tức là Phật tánh). Cho nên nói rằng
:“Minh ngộ tự tâm, triệt kiến bản tánh”
(ngộ rơ tự tâm, thấy suốt bản tánh).
Pháp
môn này bắt đầu từ khi Phật Thích Ca “Niêm hoa
thị chúng” (đưa cao cành hoa lên để mọi
người thấy) cho đến Đạt Ma Tổ
Sư truyền sang Đông Độ trở về sau, sự
hạ thủ công phu có nhiều biến đổi.
Từ
đời nhà Tống trở về sau, căn khí của
học nhân thô sơ nông cạn, nói được mà làm
không được. Ví như khi nói “Xả bỏ tất
cả”, “chớ nghĩ thiện ác” nhưng mà tất
cả đều xả không được, nếu không
nghĩ thiện th́ lại nghĩ ác.
Đến
lúc này chư Tổ đành phải áp dụng biện pháp
lấy độc công độc, dạy học nhân tham
công án, ban đầu dạy khán thoại đầu,
thậm chí dạy học nhân phải “quyết tử bám
chặt vào thoại đầu”, dạy họ phải “bám
chặt liên tục vào thoại đầu không
được một sát na buông lỏng”, giống như
chuột gặm quan tài, gặm chặt một chỗ không
thông không ngừng. Mục đích là dùng NHẤT NIỆM
để tẩy bỏ MUÔN NIỆM.
Thật
ra đây chỉ là biện pháp bất đắc dĩ,
như thân bị nhọt độc, nếu không dùng dao
mổ xẻ chữa trị th́ khó mà sống nổi.
A.
CÔNG ÁN: Công án của cổ nhân có
rất nhiều (3)
B.
Người đời sau chuyên giảng KHÁN THOẠI
ĐẦU .NHƯ : Khán “Kéo cái tử thi này
là ai?” hoặc Khán “Trước khi cha mẹ chưa sanh,
bổn lai diện mục của ta ra sao?”. Gần đây
hành giả các nơi thường dùng nhiều nhất là
Khán “Niệm Phật là Ai?”
Thoại
đầu này kỳ thật đều cùng một dạng,
đều rất b́nh thường, quyết chẳng có chi
đặc biệt kỳ lạ. Như khi nói Khán “Tụng
kinh là Ai?”, Khán “Tŕ chú là Ai?”, Khán “Lễ Phật là Ai?”, Khán
“Ăn cơm là Ai?”, Khán “Mặc áo là Ai?”, Khán “Đi
đường là Ai?”, Khán “Ngủ nghỉ là Ai?”, v.v…
đều là cùng một dạng.
Mục
đích của các câu thoại trên đều giống nhau.
Đáp án dưới chữ “AI” chính là TÂM. Câu thoại
từ Tâm khởi, Tâm là đầu của câu thoại.
Niệm từ Tâm khởi, Tâm là đầu của niệm.
Muôn pháp đều từ Tâm sanh khởi, Tâm là đầu
của muôn pháp.
Thật
ra thoại đầu tức là ĐẦU của NIỆM.
Đầu tiên trước niệm chính là TÂM. Nói thẳng
ra “trước khi một niệm chưa sanh” chính là
thoại đầu.
Do
vậy chúng ta biết được KHÁN thoại
đầu chính là QUÁN TÂM. “Bổn lai diện mục
trước khi cha mẹ chưa sanh” chính là TÂM. KHÁN “Bổn
lai diện mục trước khi cha mẹ chưa sanh”
chính là QUÁN TÂM.
TÁNH
tức là TÂM. “ PHĂN VĂN VĂN TỰ TÁNH ” chính là “PHẢN
QUÁN QUÁN TỰ TÂM”.
Nói
“Viên chiếu thanh tịnh giác tướng”: Thanh tịnh
giác tướng tức là TÂM; CHIẾU tức là QUÁN
vậy.
Tâm
tức là Phật. Niệm Phật tức là QUÁN Phật,
QUÁN Phật tức là QUÁN Tâm.
Do
đó nói: “khán thoại đầu” hoặc nói: “khán niệm
Phật là ai?” chính là QUÁN Tâm; tức là QUÁN CHIẾU “Giác
thể thanh tịnh” của Tự Tâm; tức là QUÁN
CHIẾU Tự Tánh Phật.
Tâm
tức Tánh, tức Giác, tức Phật : không có h́nh
tướng, nơi chốn, hoàn toàn không thể đắc
(được), vốn tự thanh tịnh, biến
khắp pháp giới, không ra, không vào, không đi, không
đến”, tức là “Thanh tịnh pháp thân Phật vốn
hiện thành sẵn”.
Hành
giả phải đồng thời nhiếp cả sáu
căn, từ “NƠI một niệm vừa sanh khởi” mà
KHÁN (hay chiếu cố) thoại đầu này, KHÁN
đến tự tâm thanh tịnh tách rời niệm.
Lại
phải miên miên mật mật điềm điềm
đạm đạm mà khán, tịch mà chiếu, ngay đó
năm uẩn đều không, thân tâm đều vắng
lặng , H̉AN TOÀN KHÔNG MỘT VẬT. Từ đó ngày
đêm sáu thời đi đứng nằm ngồi
đều như như không động, lâu ngày công phu thâm
hậu THẤY TÁNH THÀNH PHẬT, qua hết mọi khổ
ách.
Tích
xưa Tổ Cao Phong bảo: “Hành giả có thể khán
thoại đầu giống như ném một miếng ngói
xuống đầm sâu muôn trượng, ngay đó rơi thẳng
xuống đáy. Nếu trong bảy ngày không được
khai ngộ th́ hăy chặt đầu lăo tăng đi
”. Quư vị đồng tham, đây là lời dạy của
người xưa, vốn là chân ngữ thật ngữ,
không phải lời dối trá của kẻ lường
gạt.
TUY
VẬY V̀ SAO TRONG ĐỜI HIỆN TẠI NGƯỜI
KHÁN THOẠI ĐẦU TH̀ NHIỀU MÀ NGƯỜI NGỘ
ĐẠO CHẲNG ĐƯỢC BAO NHIÊU ?
Đây
là do nơi người thời nay căn khí không
được như người xưa mà cũng do
người học thời nay đối với pháp tham
thiền khán thoại đầu phần đông đều
không chịu t́m hiểu rành mạch lư lẽ. Có
người tham bên đông hỏi bên tây, chạy
ngược bên nam, chạy xuôi bên bắc, kết quả
náo động đến già, đối với thoại
đầu hăy c̣n chưa được hiểu thấu
minh bạch, không biết cái ǵ là thoại đầu, không
biết như thế nào mới được tính là khán
thoại đầu, một đời cứ chấp
trước câu văn lời nói, danh xưng h́nh dạng,
trên THOẠI VỸ dụng tâm tu. Khán “Niệm Phật là
ai?” hả? Chiếu cố thoại đầu hả? Khán
đến khán đi, tham tới tham lui, quẩy thoại
đầu trên lưng rong ruổi đông tây, chỗ nào
hội ngộ được “BẢN NHIÊN của
ĐẠI ĐẠO VÔ VI “này? Làm thế nào đạt
đền được địa vị “Pháp
Vương TẤT CẢ KHÔNG THỌ NHẬN”? Mạt vàng
rơi vào mắt khiến cho mắt bị mù, chỗ nào
thấy được ánh hào quang nơi vàng tỏa ra
?
Đáng
thương tiếc thay có một nữ nhi rời nhà
học đạo, chí nguyện phi phàm, kết quả không
đạt được ǵ cả, thật đáng
thương xót.
Cổ
nhân bảo: Thà rằng ngàn năm không ngộ, không thể
để một ngày lầm đường! Việc tu
hành ngộ đaọ tuy dễ mà khó, tuy khó mà dễ.
Giống như công việc mở đèn điện,
nếu biết cách thức th́ chỉ búng một ngón tay là
ánh sáng chiếu khắp nơi, đen tối hàng vạn
năm liền trừ. Không biết cách thức th́ “ công
tắc” bị hoại, đèn bị hủy, phiền năo
càng tăng. Có một ít người tham thiền, khán thoại
đầu gặp cảnh ma, phát cuồng, bị bệnh
ói ra máu, lửa vô minh tăng trưởng, nhân ngă kiến
(4) sâu nặng. Những việc này không phải là những
bằng chứng rơ rệt sao? Cho nên người dụng
công tham thiền lại phải khéo điều ḥa thân tâm,
phải tâm b́nh khí ḥa, không ngăn, không ngại, không ta, không
người, đi đứng nằm ngồi đều
phải khế hợp với huyền cơ một cách
tuyệt diệu.
Pháp
tham thiền này vốn không thể phân biệt nhưng lúc
khởi công tu tập người sơ tham sẽ có
những khó dễ của người sơ tham, bậc lăo
tham sẽ có những khó dễ của bậc lăo tham.
III.
SỰ KHÓ KHĂN VÀ DỄ DÀNG
của HÀNH GIĂ THAM THIỀN (Phần 1)
A.
SƠ THAM :
1.
SỰ KHÓ KHĂN CỦA HÀNH GIẢ SƠ THAM :
Khó
khăn nơi thân tâm chưa thuần thục, chưa rơ cách
thức tu tập, dụng công không tiến triển, không
phải trong tâm nôn nóng th́ cũng lim dim ngủ gật qua
ngày. Kết quả thành ra “Năm đầu sơ tham,
năm thứ hai lăo tham, năm thứ ba chẳng tham”.
2.
SỰ DỄ DÀNG CỦA HÀNH GIẢ SƠ THAM :
Chỉ cần có đầy đủ tín tâm,
trường viễn tâm và vô tâm.
a.
TÍN TÂM :
-Thứ
nhất: Tin tâm ḿnh vốn là PHẬT, cùng với
mười phương ba đời chư Phật và
chúng sanh không khác biệt.
-Thứ
hai: Tin các pháp môn mà Phật Thích Ca nói ra mỗi mỗi
đều có thể kết thúc ḍng sanh tử mà thành
tựu Phật đạo.
b.
TRƯỜNG VIỄN TÂM (Tâm dài lâu):
Chính
là muốn nói khi hành giả đă chọn lựa pháp môn tu
nào th́ phải hành tŕ suốt cả đời, cho
đến các đời vị lai kế tiếp đều
phải như vậy mà hành tŕ, tham thiền vẫn cứ
như vậy mà tham thiền, niệm Phật vẫn
cứ như vậy mà niệm Phật, tŕ chú vẫn
cứ như vậy mà tŕ chú, học giáo lư vẫn cứ
theo pháp văn tư tu mà học. Bất cứ tu tập
loại pháp môn nào vẫn cứ lấy giới luật làm
gốc. Nếu quả thật sự như vậy mà làm,
tương lai không thể không thành tựu vậy. Lăo nhân
Vi Sơn (Tổ Quy Sơn) nói: “Nếu người nào có
thể theo pháp này tu hành suốt ba đời không bị
thoái chuyển th́ quả vị Phật quyết
định sẽ có kỳ”. Lại Vĩnh Gia lăo sư
cũng nói: “Nếu dùng vọng ngữ lừa bịp chúng
sanh, vĩnh viễn đọa lạc địa ngục
rút lưỡi hằng sa số kiếp”.
c.
VÔ TÂM : Tức là xả bỏ hết tất
cả, giống như người chết, trọn ngày tùy
duyên ứng xử, không tái khởi niệm chấp
trước phân biệt, trở thành một đạo nhân
vô tâm.
Người
mới phát tâm tu có đầy đủ ba tâm này xong
rồi, nếu là tham thiền khán thoại đầu
tức là khán “Niệm Phật là Ai?” th́ hành giả tự
ḿnh niệm thầm mấy câu “A Di Đà Phật” rồi
KHÁN xem niệm Phật này là ai? Niệm này từ đâu
khởi lên? Nên biết niệm này không phải khởi
từ trong miệng của ḿnh, cũng không phải từ
nhục thân của ḿnh. Nếu như từ nhục thân
hoặc từ miệng khởi ra th́ nếu như chết
đi thân miệng vẫn c̣n đó sao không thể niệm
được?
Nên
biết niệm này là từ Tâm ta khởi ra, tức từ
nơi Tâm mà niệm khởi. NHẤT ĐỊNH CHĂM
CHAM NH̀N THẲNG vào “CHỖ ĐÓ” như mèo ŕnh bắt
chuột, toàn bộ tinh thần tập trung vào “NƠI
ĐÓ” mà KHÔNG SANH HAI NIỆM .
Nhưng
cũng cần phải thích nghi mức độ tu tập
mau chậm, không thể quá hấp tấp mà phát sanh bệnh
chướng. Đi đứng nằm ngồi đều
dụng công tu tập như vậy, lâu ngày công phu thâm
hậu, cuống chín quả rụng, lúc nhân duyên đến
chạm nhằm hốt nhiên đại ngộ. Lúc bấy
giờ như người uống nước lạnh nóng
tự biết, thẳng đến chỗ vô nghi, như
tại đầu ngă tư đường gặp
được cha ḿnh, được đại an
lạc.
B.
LĂO THAM :
Gọi
LĂO THAM là để chỉ cho người đă từng
thân cận thiện trí thức, đă từng tu tập lâu
năm, đă từng trải qua một phen rèn luyện,
thân tâm thuần thục, biết rơ phép tắc tu hành, tự
tại dụng công, không cảm thấy cực nhọc
vất vả.
Chỗ
khó khăn của bậc này là tại nơi cảnh
giới rơ ràng tự tại lại ngưng trụ,
dừng bước nơi “Hóa thành”(5) mà không chịu đi
tiếp đến “Bảo sở” (6). Công phu chỉ
đắc dụng trong lúc tĩnh chứ không đắc
dụng trong lúc động, không đạt được
thọ dụng chân thật. Thậm chí gặp cảnh sinh
t́nh, sanh tâm thủ xả như cũ, yêu ghét dường
như cũ, công phu dùng ra như tảng đá ngâm trong
băng giá, không khởi được tác dụng. Lâu
dần đưa đến mệt mỏi biếng nhác.
Rốt cuộc không thể đạt được
kết quả mà khởi tác dụng.
Bậc
lăo tham thượng tọa, biết rơ việc khốn khó
này, lập tức đề khởi “thoại đầu
bổn tham”, phấn chấn tinh thần, nơi
“đầu sào trăm thước” lại hành tiến
bước, thẳng tới chỗ “ Cao cao phong
đảnh lập, Thâm thâm hải đễ hành” (7), thơng
tay tung hoành ngang dọc, được ra mắt lễ bái
tương kiến chư Phật chư Tổ.
Thoại
đầu tức là NHẤT TÂM. Tâm niệm này của
chúng ta không ở tại trung gian (ở giữa), trong, ngoài
mà cũng ở tại trung gian, trong, ngoài. Giống như
“HƯ KHÔNG CHẲNG ĐỘNG MÀ CÙNG KHẮP MỌI
NƠI ”. Thế nên không được hướng lên trên
mà đề thoại đầu, cũng không
được hướng xuống dưới thấp mà
đè nén thoại đầu. Hướng lên trên mà
đề ắt dẫn khởi trạo cử (8),
hướng xuống dưới thấp mà đè nén ắt
lạc vào hôn trầm (9), trái ngược bản tánh,
đều chẳng phải trung đạo.
Mọi
người sợ vọng tưởng nên việc hàng
phục vọng tưởng rất khó. Nói với quư
vị rằng chớ nên sợ vọng tưởng,
cũng chẳng nên phí công sức đi hàng phục vọng
tưởng. Chỉ cần nhận được
vọng tưởng, không chấp trước vào chúng, không
đuổi theo chúng, lại cũng chẳng nên tiêu khiển
vọng tưởng (10); chỉ việc NGƯNG tâm
niệm đang khởi liên tục th́ vọng tưởng
tự rời; nên nói: “Vọng khởi tức giác, giác
tức vọng rời”.
Có
thể lợi dụng vọng tưởng để công
phu, như khán xem “từ chỗ nào” vọng tưởng này
khởi lên? Vọng tưởng không tánh, đương
thể tức không, tức phục hồi tâm tánh “vốn
không” của chúng ta. Tự tánh thanh tịnh pháp thân Phật
tức là cái “hiện tiền” này. Cứu xét lẽ chân
thật mà nói “Chân vọng vốn đồng bản
thể, chúng sanh và chư Phật không hai”. Sanh tử
niết bàn, bồ đề phiền năo đều là
bổn tâm bổn tánh, không cần phân biệt, không cần
vui mừng chán ghét, không cần lấy bỏ. Tâm này thanh
tịnh bổn lai là Phật, không cần một pháp nào
cả. Ở chỗ nào có nhiều rắc rối, hăy tham
!!!
Công
việc thường ngày đều nên ở trong đạo
mà làm, v́ chỗ nào không phải là đạo tràng? Công phu tu
tập không dính mắc vào thiền đường nào
cả, cũng không phải “tọa” mới là thiền. Nói
thiền đường, nói tọa thiền bất quá là
v́, chúng ta, chúng sanh thời mạt pháp, chướng sâu
huệ mỏng mà thíết lập vậy thôi.
Tọa
thiền cần phải hiểu được cách
điều dưỡng thân tâm.Nếu không khéo điều
dưỡng thân tâm cho tốt, nhỏ th́ bị bệnh
hại, lớn th́ bị dính mắc vào ma cảnh th́
thật là đáng tiếc. Việc đi hương
tọa hương tại thiền đường
dụng ư là để điều dưỡng thân tâm. Phương
pháp điều dưỡng thân tâm rất nhiều, nay
chỉ lựa chọn những điều cần
thiết lược nói ra.
Lúc
ngồi kíết già nên thuận theo chính tọa tự nhiên,
không nên tác ư ưỡn thẳng lưng lên, nếu không
hỏa khí sẽ bốc lên trên, sau này mắt sẽ bị
đổ nhiều ghèn, miệng hôi, hỏa khí xông lên
đến đỉnh đầu sẽ làm hành giả không
thiết ăn uống, thậm chí có thể bị thổ
huyết. Lại cũng không nên ngồi thụng lưng
xuống thấp hay ngồi gục đầu; nếu không
th́ dễ bị hôn trầm. Như cảm giác
được hôn trầm đến th́ trừng to hai
mắt, ưỡn thẳng lưng một bận, nhẹ
nhàng di động bàn tọa th́ hôn trầm tự nhiên tiêu
diệt.
Lúc
“đi hương” gáy phải tựa vào cổ áo,chân
bước theo nhịp chân người đi trước
mặt.Trong tâm b́nh b́nh tịnh tịnh,không được
ngắm bên đông , ngóng bên tây mà chỉ nhất tâm “
chiếu cố thoại đầu.”
Nếu
dụng công cấp bách thái quá, lúc phát giác được
trong tâm bực bội bồn chồn th́ nên “buông xả muôn
duyên”, cả công phu cũng phải xả bỏ luôn,
nghỉ ngơi ước độ nửa cây hương
(độ nửa giờ) từ từ cảm thấy
thoải mái, sau đó mới tiếp tục đề khởi
dụng công trở lại. Nếu không th́ ngày tháng tích
lũy sẽ bị biến tánh thành khô khan, cộc cằn,
rất dễ nổi giận, thậm chí có thể phát
cuồng, nhập ma.
Tọa
thiền lúc có được chút ít thọ dụng, rất
nhiều cảnh giới sẽ hiện ra, nói không hết
được, chỉ là hành giả KHÔNG NÊN CHẤP
TRƯỚC vào chúng th́ sẽ không có ǵ trở ngại.
Lời tục có câu: “Thấy quái không phải là quái th́ quái
tự trừ”. Tuy nh́n thấy yêu ma quỷ quái đến
xâm phạm quấy nhiễu, hành giả cũng không cần
để ư đến chúng, cũng không nên sợ hăi. Ngay
cả thấy được Phật Thích Ca đến xoa
đầu thọ kư cho cũng chớ có màng hoặc sanh tâm
hoan hỷ. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Chẳng tự cho là Thánh,
gọi là cảnh giới tốt, nếu cho là Thánh,
liền lọt vào đám tà”.
A.
NHẬN THỨC CHỦ KHÁCH
HẠ THỦ CÔNG PHU PHẢI DỤNG CÔNG
NHƯ THẾ NÀO ?
Trên
pháp hội Lăng Nghiêm Tôn giả Kiều Trần Như có
nói đến hai chữ “Khách Trần” – chính là chỗ chúng
ta sơ tâm hạ thủ dụng công.
Tôn
giả nói:
1.
Ví như người lữ hành vào nương trọ
nơi lữ quán, hoặc ngủ qua đêm,hoặc
để ăn uống. Việc ăn uống ngủ
nghỉ xong xuôi liền thu xếp hành trang chỉnh tề
tiếp tục cuộc hành tŕnh, không rảnh rang ở
lại một chỗ. Nếu thật sự là chủ nhân
th́ tự ḿnh không phải đi đâu cả. Như
vậy suy ra: “Không trụ là khách, trụ là chủ nhân”; cho
nên lấy “KHÔNG TRỤ làm nghĩa chữ KHÁCH.”.
2.
Lại nữa, cơn mưa vừa tạnh, mặt
trời trong sáng mọc lên không trung, ánh sáng lọt qua khe
cửa, phát hiện trong hư không có vô số
tướng vi trần (bụi bặm).
-
Trần (bụi bặm): tính chất vốn diêu
động .
- C̣n hư không th́ vốn an nhiên tịch lặng.
Như
vậy suy ra:
-
Tịch lặng: gọi là KHÔNG
- Diêu động: gọi là TRẦN
Cho
nên lấy “DIÊU ĐỘNG làm nghĩa chữ TRẦN”.
***
Khách TRẦN: dụ cho VỌNG TƯỞNG.
***
Chủ KHÔNG ( tức hư không): dụ cho TỰ TÁNH
-
CHỦ NHÂN THƯỜNG TRỤ : vốn không theo gót chân
của khách lữ hành hoặc đến hoặc đi là
DỤ cho : Tự Tánh thường trụ VỐN KHÔNG
tùy theo vọng tưởng chợt sanh chợt
diệt.
Nên
nói: “Chỉ tự VÔ TÂM nơi vạn vật th́ sao phải
đề pḥng vạn vật thường vây quanh?”
-
TRẦN BẢN CHẤT TỰ DIÊU ĐỘNG : vốn không
làm trở ngại hư không tịch lặng là DỤ cho:
“Vọng tưởng tự sanh tự diệt” VỐN KHÔNG
làm trở ngại “ TỰ TÁNH NHƯ NHƯ BẤT
ĐỘNG”.
Nên
nói: “Một niệm KHÔNG SANH, muôn pháp không lỗi”.
Trong
đây:
Chữ
KHÁCH hiển bày nghĩa thô
Chữ TRẦN thuộc nghĩa vi tế
Người sơ phát tâm tu đạo trước tiên
cần nhận thức rơ ràng hai chữ “CHỦ” và “KHÁCH”
th́ tự nhiên không bị vọng tưởng làm lay
chuyển.
Tiến xa hơn nữa lại phải minh bạch rơ
ràng hai chữ KHÔNG và TRẦN th́ vọng tưởng
tự không thể làm chướng ngại.
Cho nên nói rằng “Biết được th́ không
phải là oan gia”.
Nếu có thể nơi đây cẩn thận
thẩm xét, lănh hội, th́ phương pháp dụng công
đă thấu rơ quá nửa rồi.
B.
THOẠI ĐẦU VÀ NGHI T̀NH
Thời
cổ đại, Tổ Sư “trực chỉ nhân tâm,
kiến tánh thành Phật”. Như “Pháp môn an tâm” của Tổ
Đạt Ma, “Luận Kiến Tánh” của Lục Tổ
Huệ Năng chỉ muốn học nhân “ngay đó gánh vác”
(11), V́ vậy mà không dạy khán thoại đầu. Cho
đến đời sau, chư vị Tổ Sư
thấy nhân tâm không được như xưa, không
thể “tử tâm tháp địa” (12), làm nhiều cơ
dối trá, thường thường lo đếm châu báu
nhà người làm châu báu nhà ḿnh nên đều không thể
không “lập môn đ́nh”, “xuất thủ nhăn” (13) khiến
cho học nhân khán thoại đầu.
Thoại
đầu th́ rất nhiều như:
-
Muôn pháp về một, một về chỗ nào?
- Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn
lai của ta ra sao?
- Nhưng dùng “Niệm Phật là ai?” là phổ biến
nhất.
THẾ
NÀO LÀ THOẠI ĐẦU ?
-
Thoại là lời nói.
- Đầu là trước khi phát khởi lời nói.
Như
niệm “A Di Đà Phật” là câu thoại, trước khi
chưa niệm là thoại đầu. Nói thoại
đầu tức lả “lúc một niệm chưa sanh”.
Một niệm vừa mới sanh đă thành thoại
vỹ (thoại đuôi). Lúc “Một niệm chưa sanh” này
gọi là: “không sanh, không trạo cử, không hôn trầm,
không dính mắc tịnh cảnh, không lọt vào không vong” –
gọi là “BẤT DIỆT”. Từng giờ từng phút luôn
luôn chỉ có ĐƠN ĐỘC một niệm “HỒI
QUANG PHẢN CHIẾU” trạng thái “ BẤT SANH BẤT
DIỆT” này gọi là KHÁN THOẠI ĐẦU hay là
CHIẾU CỐ THOẠI ĐẦU.
Khán
thoại đầu trước tiên phải phát khởi
NGHI T̀NH. NGHI T̀NH là “ CÂY GẬY của việc khán thoại
đầu “ (14)
THẾ
NÀO LÀ NGHI T̀NH?
Như
hỏi “Niệm Phật là ai?”, mọi người
đều biết là tự ḿnh niệm, nhưng là dùng
miệng niệm hay tâm niệm? Nếu như dùng miệng
niệm lúc đang ngủ, miệng vẫn c̣n đó sao không
biết niệm? Nếu dùng tâm niệm th́ tâm lại là cái
có h́nh dạng ǵ? Nhưng lại không có chỗ dự
đoán được, v́ vậy mà không hiểu rơ, bèn
tại trên chữ “AI” phát khởi niệm nghi nhỏ
nhẹ, miễn là không nên thô, càng nhỏ càng tốt. Tùy lúc
tùy nơi, luôn luôn “ CHIẾU CỐ (tức KHÁN) NHẤT
ĐỊNH NIỆM NGHI NÀY ”(15)
giống như cách nước chảy, không được
khán đứt đoạn, không được sanh hai
niệm. Nếu niệm nghi đang có th́ không nên
động đến nó, niệm nghi chưa có lại
nhẹ nhàng đề khởi.
Lúc
mới dụng tâm nhất định trong tịnh cảnh
so ra đắc lực hơn trong động cảnh,
nhưng thiết yếu là không nên sanh tâm phân biệt, không
nên để ư tới nó đắc lực hay không
đắc lực, không nên để ư tới trong
động hay trong tịnh, mà hành giả chỉ nhất
tâm nhất ư dụng công khán cho tốt là đủ rồi.
Bốn
chữ “Niệm Phật là ai?” tối quan trọng tại
chữ “AI”, c̣n lại ba chữ kia bất quá dùng để
chỉ sự quan trọng cuả chữ “AI” thôi.
Như
“Mặc áo ăn cơm là AI?”, “Đại tiện tiểu
tiện là AI?”, “Khởi vô minh là AI?”, “Năng tri năng giác
là AI?”
Bất
luận đi đứng nằm ngồi, một khi
chữ “AI” được cử lên nghi niệm liền
phát khởi rất dễ dàng, không đợi lập đi
lập lại hay suy nghĩ tác ư tính toán mới có. Cho nên
chữ “AI” thoại đầu thực tại là diệu
pháp tham thiền. Nhưng không phải đem chữ “AI”
hoặc bốn chữ “Niệm Phật là ai?” làm Phật
hiệu mà niệm, cũng không phải suy nghĩ tính toán
đi t́m coi người niệm Phật là ai mà gọi là
nghi t́nh. Có người đem bốn chữ “Niệm
Phật là ai?” niệm không ngừng miệng, không bằng
niệm câu “A Di Đà Phật”, công đức nhiều hơn.
Có
người suy nghĩ hồ đồ, vọng
tưởng tán loạn, kiếm bên đông t́m bên tây gọi
là nghi t́nh. Nào biết càng suy nghĩ vọng tưởng
càng nhiều, muốn thăng trở lại bị
đọa người tu không thể không biết.
Người
sơ tâm tham thiền, nghi niệm phát khởi rất thô
thiển, lúc đứt đoạn, lúc liên tục, lúc
thuần thục lúc không nên không được tính là nghi
t́nh, chỉ có thể gọi là vọng tưởng.
Từ
từ thu nhiếp được cuồng tâm, niệm
đầu (thoại đầu) cũng trụ
được chút ít mới gọi là tham thiền. Lại
từ từ công phu thuần thục không nghi mà tự nghi,
cũng không biết được là ngồi tại
chỗ nào, cũng không biết có thân tâm thế giới,
chỉ có nghi niệm hiện tiền, không gián đoạn.
Đây mới gọi là nghi t́nh.
Thực tế mà nói, lúc ban sơ th́ làm thế nào tính
được là dụng công tham thiền, chỉ là
khởi vọng tưởng thôi; cho đến lúc chơn
nghi này hiện tiền mới là thời gian chơn chính
dụng công tu.
Tới
thời điểm này, một “CỬA ẢI LỚN”
rất dễ dàng đưa hành giả vào “LỐI RẺ”:
1.
Lúc thanh thanh tịnh tịnh khinh an vô hạn này,NẾU
hơi mất “giác chiếu” liền bị sa vào trạng
thái hôn trầm nhẹ. Nếu có một bậc thiện tri
thức sáng mắt ở bên cạnh, một khi mắt
thấy tức khắc hiểu ra là hành giả đang
tại cảnh giới hôn trầm, liền đánh
xuống một hương bảng, lập tức “mây mù
đầy trời” liền tản mác, hành giả có
rất nhiều cơ hội nhân đó ngộ đạo.
2.
Lúc “thanh thanh tịnh tịnh không không động
động” (16) này, NẾU không có nghi t́nh là VÔ KƯ (17),
tức là “Tọa khô mộc nham” (18) hoặc c̣n gọi là
“Lănh thủy bào thạch đầu” (19).
Đến
lúc này phải Đề. Đề tức Giác Chiếu (20)
-
Giác tức không mê, tức là Huệ
- Chiếu tức không loạn, tức là Định
Chỉ
ĐƠN ĐỘC nơi một niệm “Trạm nhiên
tịch chiếu, như như bất động, linh linh
bất muội, liễu liễu thường tri” này (21),
như “Lănh hỏa trừu yên”(22), tựa một sợi
chỉ dài dằng dặc không đứt đoạn.
Dụng
công tới bước này, phải đủ MẮT KIM CANG
. Không tái đề, nếu tái đề tức là trên
đầu lại chồng thêm đầu.
Tích
có tăng hỏi Triệu Châu lăo nhân rằng:
-
Lúc một vật không đem đến th́ thế nào?
Tổ
đáp:
-
Buông xuống đi.
Tăng
nói:
-
Một vật không đem đến th́ buông cái ǵ?
Tổ
nói:
-
Buông không được th́ gánh nó lên.
Chính
là nói đến thời tiết này. Trong phong quang (23) này
như người uống nước nóng lạnh tự
biết, lời nói không thể đến được.
Người đạt đến mức này tự nhiên minh
bạch, người chưa tới được chỗ
này nói cũng vô dụng. Cho nên nói: “Trên đường
gặp kiếm khách nên tŕnh kiếm, không phải thi nhân
chẳng hiến thi”.
VIII.
CHIẾU CỐ THOẠI ĐẦU
và PHẢN VĂN VĂN TỰ TÁNH :
Pháp
tu “Phản văn văn tự tánh của Quán Thế Âm
Bồ tát” làm sao được xem là tham thiền?
-Vừa
nói “CHIẾU CỐ THOẠI ĐẦU” tức là dạy
hành giả từng giờ từng phút chỉ đơn
độc một niệm “HỒI QUANG PHẢN CHIẾU”
cái “BẤT SANH BẤT DIỆT” này (tức là thoại
đầu).
-Nói
“PHẢN VĂN VĂN TỰ TÁNH ” cũng là dạy hành
giả luôn luôn chỉ đơn độc một niệm
“ PHẢN VĂN VĂN TỰ TÁNH ”.
Hồi
tức là Phản (ngược lại).
Cái
“Bất sinh bất diệt” tức là Tự tánh.
“Văn”
với “Chiếu” tuy trong lúc “Thuận lưu” chạy theo âm
thanh, đuổi theo sắc tướng { v́ thính (nghe) không
vượt quá âm thanh, kiến (thấy) không vượt quá
sắc tướng} hiển nhiên phân biệt. Nhưng lúc
“Nghịch lưu” phản quán tự tánh, không chạy theo âm
thanh, không đuổi theo sắc tướng th́ nguyên là
một “TINH MINH”(24).
“Văn”
với “Chiếu” không có hai dạng. Nên biết nói
“Chiếu cố thoại đầu”, nói “Phản văn
văn tự tánh” tuyệt đối không phải dùng
mắt mà khán, cũng không phải dùng tai để nghe.
Nếu dùng mắt khán hoặc dùng tai nghe bèn là chạy theo
âm thanh, đuổi theo sắc tướng, là đă “bị
vật chuyển” gọi là “thuận lưu”. Nếu
chỉ ĐƠN ĐỘC MỘT NIỆM tại trong chỗ
“Bất sanh bất diệt”, không chạy theo âm thanh, không
đuổi theo sắc tướng th́ gọi là “nghịch
lưu” (Kinh Lăng Nghiêm gọi là “nhập lưu”), gọi
là “chiếu cố thoại đầu”, cũng gọi là
“phản văn văn tự tánh”.
IX.
HAI LOẠI KHÓ DỄ KHI DỤNG CÔNG (Phần 2)
Người
dụng công tu có hai loại khó dễ: khó dễ của
người mới dụng tâm tu và khó dễ của
bậc lăo tham (tu lâu).
A.
KHÓ DỄ CUẢ NGƯỜI MỚI DỤNG TÂM TU :
1.
KHÓ KHĂN: TÂM TRỘM CẮP KHÔNG CHỊU CHẾT
Bệnh
thông thường của người sơ tham chính là buông
xả không được vọng tưởng. Tập khí
vô minh, cống cao, tật đố làm chướng
ngại , tham, sân, si, ái, lười biếng ăn sâu,
thị phi nhân ngă trướng to đầy một bụng
th́ làm thế nào có thể cùng với đạo
tương ứng. HOẶC có một số xuất thân con
em nhà quan, không quên được tập khí (thói quen) cũ,
một số th́ không chịu đựng được
oan ức, nửa chút khổ cũng không chịu
được th́ làm thế nào có thể dụng công tu
đạo. Họ không chịu nhớ lại Đức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là người ǵ mà đi xuất
gia.
HOẶC
có một vài người biết được một ít
văn tự bèn “tầm chương trích cú”, trích dẫn
các câu, đem lời nói của cổ nhân ra giải thích t́m
hiểu, lại c̣n cho là phi thường rồi sanh
đại ngă mạn. Chợt gặp một cơn
đại bệnh bèn kêu khổ liên tục.
HOẶC
tới ngày ba mươi tháng chạp(tức ngày cuối
cùng của cuộc đời) bèn vội vội vàng vàng,
sự hiểu biết b́nh sanh một điểm cũng
dùng không được, hối hận cũng không kịp.
Người
có chút tâm đạo lại không biết chỗ hạ
thủ công phu, HOẶC lại sợ vọng tưởng,
trừ tới trừ lui không xong, suốt ngày phiền năo,
tự oán nghiệp chướng sâu nặng, do đó lui sụt
mất tâm đạo.
HOẶC
có người muốn liều mạng với vọng
tưởng, giận dữ giơ cao nắm tay, nộ khí,
ưỡn ngực, trợn mắt ra bộ quan trọng,
muốn cùng với vọng tưởng quyết liệt
tử chiến, nào biết được đối
với vọng tưởng có liều mạng cũng không
được mà ngược lại bị nó làm cho
thổ huyết, phát cuồng.
HOẶC
có người sợ lạc vào không vong, nào biết sớm
đă sanh ra “quỷ có”. Muốn không không cũng chẳng
chịu trở lại, muốn ngộ ngộ lại không
chịu đến.
HOẶC
có kẻ đem tâm cầu ngộ, nào biết
được cầu ngộ đạo, tưởng thành
Phật đều là đại vọng tưởng “cát
không thể nấu thành cơm được”. Cầu
đến năm con lừa quyết định cũng
không ngộ được.
HOẶC
có kẻ ráng chống chọi ngồi tịnh đến
một hai cây hương bèn sanh tâm hoan hỷ, nào hay chỉ
là “rùa mù vớ được bọng cây khô”, ngẫu nhiên
gặp nhằm, không phải do thực sự công phu, hoan
hỷ là ma sớm đă bám vào tâm rồi.
HOẶC
có người trong cảnh giới tịch tịnh,
cảm giác rất được thanh thanh tịnh tịnh
,nhưng trong động cảnh lại không có
được; nhân đó tránh chỗ huyên náo, hướng
về chỗ yên lặng- sớm đă là quyến thuộc
của hai lọai ma vương động tịnh
rồi.
Các
loại khó khăn như thế rất nhiều.
Người sơ dụng công tu khi chưa đến
được đầu đường th́ thật là
khó. Có giác mà không có chiếu th́ bị tán loạn không
thể “lạc đường” (25). Có chiếu mà không có
giác là ngâm trong “nước chết”(26), bị “nước
chết” xâm nhập sát hại .
2.
DỄ DÀNG : BUÔNG XĂ ĐẾN CHỈ C̉N MỘT
NIỆM
Dụng
công tuy nói khó, nhưng đến được đầu
đường th́ lại rất dễ.
THẾ
NÀO là sự DỄ DÀNG của người mới dụng
công tu ?
Không
có cái ǵ là khéo cả, chính là “ BUÔNG XẢ ”vậy - buông
xả cái ǵ ? Tức là buông xả tất cả vô minh,
phiền năo.
LÀM
THẾ NÀO mới có thể BUÔNG XẢ tất cả vô minh,
phiền năo được?
Như
lúc cử hành nghi lễ cầu văng sanh thử mắng
chửi cái tử thi nào đó một vài câu y cũng không
nổi giận, đánh mấy gậy y cũng không đánh
trả lại. Thường ngày hay sanh vô minh y cũng không
sanh được. Thường ngày háo danh háo lợi y
cũng không háo được. Thường ngày tập
nhiễm rất nhiều y cũng không tập nhiễm
được. Bất cứ cái ǵ y cũng không phân
biệt được. Bất cứ cái ǵ y cũng buông
xả được.
Các
vị đồng tham, thân xác chúng ta, một hơi thở
không trở lại th́ chỉ là một cái tử thi. Chúng ta
sở dĩ buông xả mọi việc không được
chỉ v́ coi trọng thân xác này nên mới sanh ra nhân ngă,
phải trái, yêu ghét, lấy bỏ. Nếu nhận thức
thân xác này là một cái tử thi, không quư báu nó, hoàn toàn không
coi nó là ta th́ có cái ǵ buông xả không được? Trong
mười hai thời không luận đi đứng
nằm ngồi, động tịnh, nhàn rỗi, bận
rộn, suốt thân trong ngoài chỉ có MỘT NIỆM NGHI
b́nh b́nh ḥa ḥa, không bị gián đoạn, không lẫn
lộn tơ hào niệm khác, một câu thoại đầu
như thanh “Ỷ Thiên trường kiếm” (27), ma
đến chém ma, Phật đến chém Phật, không
sợ bất cứ vọng tưởng nào cả th́ có
niệm nào làm hành giả phân tâm, AI phân biệt động
tịnh, AI chấp có chấp không? Nếu sợ vọng
tưởng lại tăng thêm vọng tưởng,
biết thanh tịnh sớm đă không phải là thanh
tịnh. Sợ lạc vào không vong, đă đọa vào
chấp có. Tưởng thành Phật sớm đă nhập
vào ma đạo. V́ thế nên nói rằng gánh nước,
bửa củi không chi không phải là diệu đạo.
Xới đất trồng rau, cày cấy ruộng
nương tất cả đều là thiền cơ, không
phải cả ngày ngồi xếp bằng tṛn mới tính là
dụng công hành đạo.
B.
KHÓ DỄ CUẢ BẬC LĂO THAM :
1.
KHÓ KHĂN : TRÊN ĐẦU SÀO TRĂM THƯỚC KHÔNG
THỂ TIẾN BƯỚC
Người
dụng tâm tu già dặn, dụng tới lúc chơn nghi
hiện tiền, có giác có chiếu vẫn thuộc sanh
tử, không giác không chiếu lại lạc vào không vong.
Đến cảnh giới này thực sự rất khó,
rất nhiều hành giả đến đây nước
mắt rơi không nổi, đứng tại “ đầu
sào trăm thước” không có cách để tiến
bước. Có người đến được
cảnh giới này, trong định phát được chút
trí tuệ, am hiểu vài đoạn công án của cổ
nhân bèn buông bỏ nghi t́nh, tự cho là đại triệt
đại ngộ, ngâm thơ làm kệ, nhướng
mắt trợn mày, xưng là thiện tri thức, không
biết rằng đă làm quyến thuộc nhà ma. Lại có
kẻ hiểu lầm ư nghĩa bài kệ “Ngoại tức
chư duyên, Nội tâm vô xuyển, Tâm như tường
bích, Khả dĩ nhập đạo” của Đạt Ma
lăo nhân (28) cùng câu thoại “Không nghĩ thiện, không
nghĩ ác, chính lúc đó cái ǵ là bản lai diện mục
của Thượng Tọa Minh?” của Lục Tổ (29),
bèn cho rằng ngồi tại “khô mộc nham” (30) là khuôn phép
cuối cùng. Các người ấy lấy “hóa thành” làm
“bảo sở” nhận đất khách làm quê nhà – công án “bà
già đốt am” (31) chính là mắng các gă chết ch́m trong
“tử thuỷ” vậy.
2.
DỄ DÀNG CUẢ BẬC LĂO THAM : MIÊN MẬT DỤNG
CÔNG
Đến
thời điểm này, chỉ nên không tự măn, không
ngưng nghỉ, miên miên mật mật dụng công, trong
miên mật lại thêm miên mật, trong vi tế lại thêm
vi tế. Một khi thời tiết đến, đáy thùng
tự nhiên bị lủng (32). Nếu không được
như thế th́ t́m thiện tri thức nhổ đinh tháo
chốt vậy (33).
HÀN
SƠN ĐẠI SĨ có bài kệ như sau: “Cao cao
sơn đănh thượng, Tứ cố cực vô biên,
Tĩnh tọa vô nhân thức, Cô nguyệt chiếu hàn
tuyền, Tuyền trung thă vô nguyệt, Nguyệt thị
tại thanh thiên, Ngâm thử nhứt khúc ca, Ca trung bất
thi thiền” – TẠM DỊCH : Trên đỉnh núi vút cao,
Bốn bề rộng vô biên, Tĩnh tọa không
người biết, Trăng cô chiếu suối lạnh,
Trong suối chẳng có trăng, Trăng treo tại
trời xanh, Ngâm nga khúc ca này, Ca ngâm chẳng phải
thiền.
HAI
câu đầu ngụ ư: chỉ thể chân thường
riêng lộ bày tự thân, không dính mắc vào vạn
tượng. Ánh sáng của nó chiếu vằng vặc
tận cùng khắp nơi không một tơ hào
chướng ngại. BỐN câu kế nói :diệu thể
chân như phàm phu cố nhiên không thể biết
được. Ba đời chư Phật cũng t́m không
được nơi chốn của cái “NGĂ” này, cho nên nói
không người biết được nó – Trăng cô
chiếu suối lạnh BA câu kế tiếp nói:
Đại sĩ phương tiện ví dụ Ngài tựa
như cảnh giới này. HAI câu chót: sợ người
nhận lầm ngón tay làm mặt trăng nên đặc
biệt đề tỉnh chúng ta là phàm có lời nói
đều không phải là thiền.
Đúng
là tôi vừa mới thuyết xong một khối
chữ,cũng là để tháo gở dính mắc và ngăn
chặn lối tẻ.Phàm có lời nói đều không có
nghĩa chân thật.Các bậc cỗ đức tiếp
người nếu không phải là gậy th́ là hét,nào có cái
kiểu mẫu rắc rối như thế này.Chẳng qua
ngày nay,không phải muốn so sánh với người
xưa,nhưng không thể không miễn cưởng dùng ngón
tay để chỉ mặt trăng.Các vị đồng
tham,cứu cánh ngón tay là ai ? mặt trăng là ai ? Hay tham!
Tâm
tức là Phật, Phật tức là giác. Giác tánh này chúng sanh
cùng Phật b́nh đẳng, không có sai biệt, “không tịch”
mà hoàn toàn không có một vật, chẳng thọ một pháp
nào, chẳng thể tu chứng, linh minh mà đầy
đủ muôn đức, diệu dụng hằng sa, không
cần tu chứng. Chỉ v́ chúng sanh mê muội ch́m
đắm trong sanh tử, trải qua nhiều kiếp dài
lâu, tham sân si ái, vọng tưởng chấp trước,
nhiễm ô đă sâu nên bất đắc dĩ mới nói tu
nói chứng. Nói “tu” cổ nhân gọi là sự không may,
bất đắc dĩ mới dùng.
Các
vị một ngày đến tối, dậy sớm ngủ
muộn, nỗ lực dụng công, kết quả không ra
ngoài bốn lọai cảnh giới:
1. Một
là: đầu đường vẫn chưa làm
được rơ ràng, khán chưa đạt đến
thoại đầu, lơ mơ theo chúng ngủ gật,
không phải vọng tưởng lộn xộn th́ cũng
hôn trầm dao động.
2. Hai
là: khán đạt đến thoại đầu, nắm
vững được chút ít thọ dụng, nhưng
lại nắm chết “miếng ngói gơ cửa” (34), niệm
dính câu thoại “Niệm Phật là ai?” này, trở thành
“Niệm thoại đầu”, cho rằng làm như vậy
có thể phát khởi nghi t́nh được khai ngộ, mà
không biết rằng đó là tại trên thoại vỹ
dụng tâm, chính là pháp sanh diệt, rốt cuộc không
đến “chỗ một niệm vô sanh”, tạm dùng c̣n có
thể, nếu chấp lấy làm thật pháp cứu cánh
th́ làm thế nào có kỳ hạn ngộ đạo? Cận
đại thiền tông sở dĩ không xuất nổi
nhân tài là v́ đa số duyên lầm tại trên thoại
vỹ dụng tâm.
3. Ba
là: có người hiểu được khán thoại
đầu, có thể chiếu cố “một niệm vô sanh”
hiện tiền hoặc biết niệm Phật là TÂM,
tức từ “chỗ” một niệm sanh khởi này
cứ khán thẳng đến “tướng” của “tâm vô
niệm”, dần dần chuyển sang được
cảnh vắng lặng, vọng tưởng thô đă
dứt, đến được tâm khinh an, sẽ có
nhiều loại cảnh giới xuất hiện:
-
Có người không biết thân ḿnh ngồi tại chỗ
nào.
- Có người cảm thấy được thân
thể bay vút lên nhẹ lâng lâng.
- Có người thấy được người
vật khả ái mà sanh tâm hoan hỷ
- Có người thấy được cảnh giới
đáng sợ mà sanh tâm sợ hăi.
- Có người khởi tâm dâm dục.
Loại
loại không đồng .Phải biết đó đều
là MA,dính mắc tức thành thiền bệnh.
4. Bốn
là: Có người nghiệp chướng so ra tương
đối nhẹ, lư lẽ minh bạch,dụng công
thích hợp, đă tu tập đúng phép tắc, nhẹ nhàng
thoải mái, vọng tưởng dường như
ngưng nghỉ, thân tâm tự tại, không có một
cảnh giới nào cả. Đến bước này,
đúng lúc tinh thần phấn khởi ,dụng công
hướng về trước. Chỉ cần phải chú
ư phía trước “khô mộc nham” có lắm ngă rẽ.
Có
nhiều người tại trong trạng thái hôn
trầm mà đ́nh trụ.
Có nhiều người được chút ít huệ
giải làm thơ làm văn, tự cho là đủ, khởi
cống cao ngă mạn.
Bốn
lọai cảnh giới trên đều là thiền
bệnh.
BÂY
GIỜ CHÚNG TA DÙNG THUỐC ĐỂ ĐỐI
TRỊ
THỨ
NHẤT: Như khán chưa đạt
đến thoại đầu, người có nhiều
vọng tưởng hôn trầm, vẫn cứ khán chữ
“AI” này của câu thoại “Niệm Phật là ai?”, chờ
khán đến khi vọng tưởng hôn trầm mất,
lúc chữ “AI” chưa mất th́ khán “Chỗ một niệm
vừa khởi” này. Chờ tới lúc một niệm không
khởi, tức là trạng thái vô sanh. Hay khán đến
chỗ “một niệm vô sanh” mới gọi là chân thật
khán thoại đầu.
THỨ
HAI : Về người chấp trước
“Niệm Phật là ai?”, tại trên thoại vỹ dụng
tâm là đă dùng lầm pháp sanh diệt: cũng có thể
chiếu theo ư thuật ở trên, tức hướng
“chỗ niệm khởi”, khán đến chỗ “một
niệm vô sanh”.
THỨ
BA: Về người quán vô niệm đă
được tịch tịnh khinh an mà ngộ đến
bất cứ cảnh giới nào: cũng chỉ chiếu
cố thoại đầu bổn tham, không sanh một
niệm. Phật đến chém Phật, ma đến chém
ma, nhất loạt mặc kệ nó th́ tự nhiên vô sự,
không lạc vào đám tà.
THỨ
TƯ : Về người vọng niệm
đă ngưng, nhẹ nhàng thoải mái, thân tâm tự
tại. Nên như cổ nhân nói “Muôn pháp về một,
một về chỗ nào?” theo một hướng mà
tiến bước đến chỗ cùng cực (tức
chỗ “một niệm vô sanh”), thẳng đến chỗ
“Cao cao phong đảnh lập, thâm thâm hải để
hành”, lại một lần nửa buông tay mà tung
hoành ngang dọc.
Trên
đây đă nói, đều là những phương pháp
đối với người độn căn thời
kỳ mạt pháp mà lập ra. Kỳ thật Tông môn là
tối thượng thừa. Đức Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật tại trên pháp hội Linh Sơn “niêm hoa’
(đưa cành hoa lên) là nhằm “truyền riêng ngoài giáo
điển”. Bao đời Tổ Sư cũng chỉ
truyền một Tâm pháp “chỉ thẳng tâm người,
thấy tánh thành Phật”, không lạc vào giai cấp, không
cần tu chứng, chỉ nói một lời hay nủa câu
tức xong. Không một pháp có thể được, không
một pháp có thể tu. Đương hạ tựu
thị (35), không khởi vọng duyên, tức như như
Phật – chỗ nào có nhiều lời “nhàn rỗi không
đâu vào đâu”?
1.
KINH PHÁP HOA (phẩm Xuất Hiện) nói: “Phật tử
không có chúng sanh nào mà không vốn đủ trí huệ
đức tướng Như Lai, chỉ v́ bám giữ
lấy vọng tưởng điên đảo mà chẳng
chứng ngộ được. Nếu ĺa vọng
tưởng th́ Nhất thiết trí, Tự nhiên trí, Vô
ngại trí hiển bày trước mắt.”
2.
MỘNG HUYỄN BÀO ẢNH : Kinh Kim cang nói :Nhứt
thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ diệc như điển, Ưng tác như
thị quán .Tạm dịch : Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng huyễn (giả), bọt, bóng, Như
sương mù, điện chớp, Nên quán theo như
thế.
3.
CÔNG ÁN : Trong chánh văn không có nói đến công án. Tạm
nêu công án Phật Thích Ca “Niêm hoa thị chúng” (công án Phật
cầm hoa) để làm mẫu: Thế Tôn xưa tại
pháp hội núi Linh Thứu cầm cành hoa giơ lên
trước chúng. Bấy giờ mọi người
đều làm thinh, chỉ có Ngài Đại Ca Diếp
mặt mày rạng rỡ mỉm cười. Phật
dạy “Ta có chánh pháp nhăn tạng, Niết bàn diệu tâm,
thật tướng vô tướng, pháp môn vi diệu,
chẳng lập thành văn tự, truyền riêng ngoài giáo,
nay trao cho Ma Ha Ca Diếp”.
4.
NHƠN NGĂ KIẾN : Nhơn ngă là bản ngă của con
người. Đó là nói kẻ phàm phu cố chấp
rằng thân con người thường có một cái
bản ngă làm chủ tể, chấp cho cái ngă đó là
thật. Ư kiến sai lầm như vậy gọi là
nhơn ngă kiến.
5.
HÓA THÀNH : Phẩm Hóa thành dụ Kinh Pháp Hoa nói:” Hóa thành” là
thành quách nhất thời được Phật biến
hoá ra. Đại ư nói chốn của hết thảy chúng
sanh thành Phật tức là chốn báu ( “Bảo sở”) .
Đường tới chốn báu đó xa xôi hiểm
trở ,sợ người đi mệt mỏi chùn
bước, nên giữa đường Phật biến làm
một ṭa thành quách để họ dừng nghỉ ở
đó bồi dưỡng tinh lực, rồi lại đi
tới chốn báu (Bảo sở) .Đức Phật
muốn làm cho hết thảy chúng sanh đạt tới
Phật quả chí cực của Đại thừa ,
nhưng v́ chúng sanh sức lực yếu hèn chẳng
thể kham nổi nên trước tiên thuyết về
Niết-bàn Tiểu thừa , khiến cho một khi được
Niết-bàn này th́ tạm coi đó là chốn dừng chân
nghỉ ngơi , rồi lại từ đó mà càng khiến
họ phát tâm tiến tới chốn báu chân thực.Vậy
th́ Niết -bàn Tiểu thừa chỉ là thuyết
để nhất thời dừng nghỉ, chỉ là
phương tiện của đức Thế Tôn.
6.
BẢO SỞ : Xem HÓA THÀNH.
7.
CAO CAO PHONG ĐĂNH LẬP, THÂM THÂM HẢI ĐỂ HÀNH :
Người xưa bảo: Nếu muốn cứu cánh
việc ấy, phải” Đứng trên chót vót đỉnh
non cao, đi sâu tận ḷng đáy biển thẳm” – tức
ư chỉ cảnh giới vô sanh.
8.
TRẠO CỮ: Tâm lao chao không điềm tĩnh. Trạng
thái tâm lư này khiến hành giả luôn luôn chao động,
không yên tĩnh.
9.
HÔN TRẦM: Là tối tăm trầm trệ. Trạng thái
tâm lư này thường làm cho tâm trí hành giả mờ mịt
và đần độn. Nghĩa là tâm trí không thông minh sáng
suốt, không nhạy bén lanh lợi mỗi khi tiếp xúc
ngoại cảnh. Tâm sở này ngăn che sự hiểu
biết của hành giả, khiến họ hiểu biết
chậm chạp và hiểu biết nông cạn, không
được sâu sắc linh hoạt, phản ứng
chậm chạp trước bất cứ sự việc
ǵ đưa đến.
10.
TIÊU KHIỂN VỌNG TƯỞNG: Cũng là nổi vọng
tưởng và đuỗi theo vọng tưởng. Vua Khang
Hy nhà Thanh đến thiền đường Cao Mân
để tập tham thiền. Trong lúc tọa hương
thay v́ tham thiền nhà vua lại ngồi tư tưởng
đến các vị phi tần (tức nổi vọng
tưỡng để tiêu khiển), bị thầy Duy Na
đi tuần hương phát hiện nên phải lănh hai
hương bảng cảnh sách.
11.
NGAY ĐÓ CÁNH VÁC: nguyên văn “trực hạ thừa
đương”, tức ngay đó làm Phật, ngay đó
đảm đương, không chần chờ do dự.
12.
TỬ TÂM THÁP ĐỊA : Quyết chí không thay ḷng
đổi dạ, khăng khăng một mực.
13.
XUẤT THỦ NHĂN : Sử dụng những phương
tiện thiện xăo (thủ đọan đặc
biệt) để giúp học nhân tự ngộ lại
bản tâm. LẬP MÔN Đ̀NH : Từng môn phái mở
trường riêng để dạy thiền cho học nhân.
14.
NGHI T̀NH LÀ CÂY GẬY CỦA KHÁN THOẠI ĐẦU:
Người già muốn đi tới phải nhờ cây
gậy. Cũng vậy, để tham thiền hành giả
phải hỏi một câu thoại để phát khởi
nghi t́nh. Khi vừa có nghi t́nh (tức lúc vừa dứt câu
thoại) hành giả lập tức TỰ ĐỘNG
NHIẾP TÂM lại để KHÁN THOẠI ĐẦU.
“Nhiếp tâm lại” tức là “Nhiếp tâm về
KHÔNG”. “Nhiếp tâm về KHÔNG” chính là “CHỖ MỘT NIỆM
CHƯA SANH” tức là” THOẠI ĐẦU”.Vậy
“Nhiếp tâm về KHÔNG “ là đă trực khán thoại
đầu ; tức là đă thành nghĩa “KHÁN THOẠI ĐẦU
“.Cho nên có thể hiểu :”Hể nhiếp tâm về không là
đang KHÁN THOẠI ĐẦU vậy
“. Nhờ PHÁT KHỞI
nghi t́nh mà hành giả TỰ ĐỘNG tham thiền nên nói
NGHI T̀NH là CÂY GẬY của THAM THOẠI ĐẦU (hay tham
thiền).Khi xưa chư Tổ dùng thủ đoạn
đánh hét giúp người học phát khởi nghi t́nh,
khiến họ” tự động nhiếp tâm về không”
để tham thiền mà không tự biết, nhờ
vậy mà rất mau chóng được ngộ
đạo .Ví như ngài Lâm Tế nhờ lănh ba gậy
của Tổ Hoàng Bá mà tự động tham thiền
đạt đến chơn nghi, kế gặp Tổ
Đại Ngu chỉ khai thị một câu mà
được đại ngộ.
15.
LUÔN LUÔN CHIẾU CỐ (HAY KHÁN) NHẤT ĐỊNH VÀO NGHI
NIỆM NÀY: Như câu (14) đă nói, khi nghi t́nh vừa phát
khởi hành giả sẽ “ lập tức tự
động” nhiếp tâm về KHÔNG KHÁN thoại
đầu.Tức là “Hể vừa có NGHI T̀NH liền có
TỰ ĐỘNG NHIẾP TÂM VỀ KHÔNG KHÁN THOẠI
ĐẦU ”. Hai việc: “phát nghi t́nh”, “tự động
nhiếp tâm về không khán thoại đầu” gần
như xảy ra cùng một lúc”.Tự động nhiếp
tâm về không khán thoại đầu” là kết
quả tất nhiên của việc phát khởi nghi t́nh .Cho
nên có thể hiểu : Tổ Sư nói “phát nghi t́nh” tức
nói “khán thoại đầu”vậy.Hoặc có khi nói “phát nghi
t́nh mănh liệt “ chính là muốn nói “ khán thoại
đầu quyết liệt vậy.”Cho nên nói tham thiền
là “từ nghi tới ngộ “ phải hiểu nghi là
nghi vấn-đề câu thoại đặt ra , mà ngộ
là ngộ BẢN TÂM cuả ḿnh” V́ khán thoại đầu
là khán TÂM.Tổ Đại Huệ từng bảo Sư
Đàm Ư :”Chỗ ngộ của Hương Nghiêm không
tại chỗ sỏi chạm trúc.Chỗ đắc
của Câu Chi không ở trên đầu ngón tay “.
16.
THANH THANH TỊNH TỊNH KHÔNG KHÔNG ĐỘNG ĐỘNG :
Không không động động là sự thông suốt
cực độ . Thanh thanh tịnh tịnh không không
động động là sự thanh tịnh rỗng
suốt cực độ.
17.
VÔ KƯ : Tánh vô kư là pháp không phải thiện không phải ác,
chẳng có chút niệm nào dính mắc sự lợi ích hay
tổn hại, chẳng thể tính toán hay phân biệt. Theo
Duy thức học có hai loại vô kư: vô kư có che lấp và vô
kư chẳng che lấp.
1.
Vô kư có che lấp: tự thể nó có tính chấp
trước rất yếu để che lấp thánh
đạo. Như trường hợp thức thứ
bảy luôn luôn chấp thức thứ tám là ta. Dù chẳng
có sức để trực tiếp lợi ích hoặc
tổn hại ḿnh và người, nhưng có cái tự
thể chấp trước. Sự vật nào đồng
như tánh này đều thuộc về vô kư có che
lấp.
2. Vô kư chẳng che lấp: tự thể nó
chẳng có tánh chấp trước, nhưng tự tánh
rất yếu, chẳng có chút sức nào để lợi
ích hoặc tổn hại ḿnh và người, như
thức thứ tám. Phàm có tánh đồng với loại này
đều thuộc về vô kư chẳng che lấp.
Vô
kư tánh này c̣n có tên là “căn bản vô minh” hay “vô thỉ vô
minh”,hay “tử thủy” (nước chết), hay “thùng
sơn đen” (Tổ Lâm Tế nói: hầm sâu đen tối
thăm thẳm, thật là đáng sợ),hay “đầu sào
trăm thước”. Hành giả tham thiền khi tới
cảnh giới “thanh tịnh trống rỗng” nếu không
có nghi t́nh tức không có “giác chiếu” th́ bị lọt vào
cảnh giới “vô kư không” đáng sợ này.
18.
TỌA KHÔ MỘC NHAM : Tức “tọa khô mộc ỷ hàn
nham” là ngồi trên cây khô, dựa vào đá lạnh,
tức là lọt vào cảnh giới vô kư không kể
trên.
19.
LĂNH THỦY BÀO THẠCH ĐẦU: Tảng đá ngâm trong
nước giá lạnh, ư chỉ cảnh giới
TỮ THỦY ( nước chết) tức cảnh
giới Vô kư không nói ở mục 17.
20.
ĐỀ TỨC GIÁC CHIẾU : “Khán” thoại
đầu là phải khán liên tục không để cho
có kẻ hở nhất là khi đă đến
được thoại đầu phải bám chặt
ở đó. Khi đă đến được thoại
đầu nếu để có kẻ hở sẽ bị
lọt vào vô kư không.Lúc đó phải mau chóng “nhiếp tâm
lại” để “tái khán lại” thoại đầu
gọi là “ĐỀ”.
21.
MỘT niệm “TRẠM NHIÊN TỊCH CHIẾU, NHƯ
NHƯ BẤT ĐỘNG, LINH LINH BẤT MUỘI, LIỄU
LIỄU THƯỜNG TRI”:
-
Trạm nhiên tịch chiếu: rơ ràng trong suốt, yên
lặng mà chiếu soi muôn vật.
- Linh linh bất muội: linh minh không mê
muội.
- Liễu liễu thường tri: rơ ràng
thường biết.
Tấm gương sáng lúc chiếu soi
vạn hữu th́ “Trạm nhiên tịch chiếu, như
như bất động”, nhưng gương là vật vô
tri nên không “linh linh bất muội, liễu liễu
thường tri”. C̣n chúng hữu t́nh do có “tánh giác” nên khi
chiếu soi vạn hữu th́ vừa “Trạm nhiên tịch
chiếu, như như bất động” lại vừa
“linh linh bất muội, liễu liễu thường tri”.
22.
LĂNH HOẢ TRỪU YÊN: Lửa sau khi tắt gọi là lănh
hỏa.Trừu yên là rút khói .Tức làn khói nhẹ bốc
lên từ vật được đốt cháy (ví dụ
như thuốc lá) khi lửa vừa tắt .
23.
PHONG QUANG : Tức bổn địa phong quang, ư chỉ
tự tánh.
24.
TINH MINH :Chính là Chơn Tâm. Kinh Lăng Nghiêm nói : sáu căn
dựa vào nhất Tâm sáng tỏ (một Tinh minh) chia thành sáu
ḥa hợp.
25.
LẠC ĐƯỜNG: tức Lạc đường
tự tại. Người tu trước trừ vọng
tưởng, kế đến trừ hôn trầm ,“công phu
lạc đường thân tâm tự tại”. Hành giả
tham thiền trước tiên tại trong trần thế
thực hành công phu, kế đến nơi huyễn thân
thực hành công phu, lại trong phiền năo thực hành công
phu, trải qua tận cùng khổ tâm từ nhỏ nhặt
cho đến rơ rệt, như vậy thân tâm trải qua lâu
dài liên tục rèn luyện, đến được
chỗ không c̣n vướng mắc khách trần, thân
được lặng, tâm được yên ổn, ư
được rổi rănh, đúng là lúc buông thân an trụ.
Thấy rằng phía trước không đường
để đi, nh́n lại sau không c̣n lo âu, cho nên
nói “Lạc đường thân tâm tự tại”
(tức nghi t́nh đă kết thành khối).
26.
TỬ THUỶ: Là nước chết, tên khác của vô
kư không.
27.
Ỷ THIÊN TRƯỜNG KIẾM: Thanh kiếm dài dựa
lưng trời.
28.
HIỂU LẦM BÀI KỆ CỦA TỔ ĐẠT MA:
Tổ Đạt Ma dạy: “Ngoại tức chư duyên,
Nội tâm vô xuyển, Tâm như tường bích, Khả
dĩ nhập đạo”. là ư muốn nói: Hành giả
phải dứt sạch vọng tưởng (ngoại chướng
nội ma) được “tâm không” vững chắc như
vách tường mà tham thiền th́ có thể nhập
đạo.
Nhưng
lại bị hiểu lầm là: dứt bặt vọng
tưởng là Đạo nên mới cho “Tọa khô mộc
nham” là khuôn mẫu (chấp cái vô kư không là cứu cánh). Theo
Tổ Nguyệt Khê trong Đại Thừa Tuyệt
Đối Luận th́ vọng tưởng có hai loại:
vọng tưởng sanh khởi và vọng tưởng
không khởi. Vọng tưởng sanh khởi là sanh tử
luân hồi, vọng tưởng không khởi cũng là sanh
tử luân hồi. Vọng tưởng sanh khởi là
NHẤT NIỆM VÔ MINH, vọng tưởng không khởi là
VÔ THỈ VÔ MINH (hay CĂN BẢN VÔ MINH ), hay c̣n gọi là
“Đầu sào trăm thước”.
Nói
bặt hết chư duyên (vọng tưởng đọan
dứt) là Đạo (hay Phật tánh) là sai lầm.
Vọng tưởng đọan dứt là
VÔ THỈ VÔ MINH không phải là Phật tánh.
Vọng tưởng sanh khởi (Nhất
niệm vô minh) là do VÔ THỈ VÔ MINH sanh khởi ,VÔ THỈ VÔ
MINH là THỄ ,NHẤT NIỆM VÔ MINH là DỤNG .
(Đề nghị đọc thêm trang web
http://thuvienhoasen.org Đại Thừa Tuyệt
Đối Luận của Thiền Sư Nguyệt Khê,
bản dịch: Thích Duy Lực) và (Kinh THẮNG MAN bản
dịch :Thích Đức Niệm )>
Hành gĩa tham thiền PHẢI VƯỢT
QUA chỗ “DỨT BẶT VỌNG TƯỠNG” hay
“ĐẦU SÀO TRĂM THƯỚC “ này mới KIẾN TÁNH
THÀNH PHẬT được (cũng nói là ĐÁY THÙNG TỰ
NHIÊN BỊ LŨNG ).
29.
HIỂU LẦM CÂU THOẠI CUẢ LỤC TỔ:
Lục
Tổ hỏi ngài Huệ Minh: “Đừng nghĩ thiện,
đừng nghĩ ác, chính ngay khi ấy cái ǵ là bổn lai
diện mục của Thượng Tọa Minh?”.
Đây
là ư Tổ dạy ngài Huệ Minh hăy trên “đầu sào trăm
thước” tức trong trạng thái “DỨT BẶT
VỌNG TƯỠNG” mà khán (tức Giác chiếu) coi “CÁI G̀”
là “Bổn lai diện mục” của ḿnh. Ngài Huệ Minh
phụng hành và ngay đó trực nhận ra Phật tánh
của ḿnh (đại ngộ).
Nhưng
lại bị hiểu lầm “Không nghĩ thiện, không
nghĩ ác “ là Phật tánh .
Không nghĩ thiện, không nghĩ ác là
cảnh giới vô kư không.
Hành
giả phải từ chỗ vô kư không hay“đầu
sào trăm thước” này tiến thêm một bước
nữa tức phải trực khán hay Giác chiếu th́
Bổn tánh sẽ TỰ HIỆN.Cho nên mới nói
“Đầu sào trăm thước cần tiến
bước, mười phương thế giới
hiện toàn thân”.Kinh THỦ LĂNG NGHIÊM nói:”Kiến
KIẾN chi thời , kiến phi thị kiến . Kiến du
ly kiến ,kiến bất năng cập”(Lúc kiến tánh là
BẢN KIẾN TỰ HIỆN).
30.
NGỒI TẠI “KHÔ MỘC NHAM” : Tức “Tọa khô mộc
ỷ hàn nham”.
31.
CÔNG ÁN “BÀ GIÀ ĐỐT AM ĐUỔI TĂNG”:
Xưa
có một bà lăo tu tại gia tham thiền đă đuợc
kiến tánh. Một hôm bà gặp một nhà sư tham
thiền đi khất thực rất có đạo
đức hành tŕ bèn mời về nhà cúng dường
cơm chay và đàm đạo về tâm rất là
tương đắc. Sau đó bà cất một cái am
để giúp cho nhà sư nhập thất và hàng ngày sai con
gái đem cơm đến cho sư dùng. Ba năm sau bà
bảo cô con gái: “Con đă đem cơm cho sư ăn được
ba năm rồi, hôm nay đưa cơm đợi lúc
thầy ấy dùng xong con đến ôm chặt và bảo
thầy ấy nói.” Người con gái làm theo lời mẹ
dặn đến ôm chặt nhà sư rồi bảo “Nói!
Nói!” Người tham thiền nói: “Khô mộc ỷ hàn nham,
tam đông vô noăn khí” (cây khô dựa núi tuyết, ba đông
không có chút hơi ấm). Người con gái về nhà
kể cho mẹ nghe. Bà già nghe xong đến mắng
người tham thiền rồi đưổi đi,
đốt luôn cái am và nói rằng: “Tôi cúng dường ba
năm mà chỉ cúng dường một gă chết ch́m !”.
Người tham thiền nghe cảm thầy hổ
thẹn, cầm bồ đoàn đi khất thực
trở lại, tự trách ḿnh được thí chủ
cúng dường ba năm mà tu chưa được khai
ngộ, bị chửi mắng là phải, bèn ra sức tái
dụng công tham thiền. Được ba năm lại
đến chỗ bà lăo, cùng nói chuyện công phu và
đề nghị bà lăo giúp cho nhập thất một
lần nũa. Lại nhập thất thêm ba năm và bà lăo
cũng bảo con gái đưa cơm như trước.
Tṛn ba năm cô gái cũng y theo lời mẹ dặn
đến ôm chặt lấy người tham thiền
bảo “Nói! Nói!” Kỳ này người tham thiền đáp
lại: “Trời biết, đất biết, ngươi
biết, ta biết, đừng cho bà già ngươi
biết”. Bà già nghe xong trong ḷng hoan hỷ nói với
người tham thiền: ‘Tốt lắm! Tốt lắm!
Mừng cho thầy đă được khai ngộ!”.
32.
ĐÁY THÙNG TỰ NHIÊN BỊ LŨNG : Ư chỉ
được Kiến tánh , đă phá được Vô
thỉ vô minh .
33.
T̀M THIỆN TRI THỨC NHỔ ĐINH THÁO CHỐT:
Nhổ
đinh tháo chốt là cởi mở trói buộc . Chẳng
hạn như Tứ Tổ Đạo Tín hỏi Tam Tổ
Tăng Xán: “Xin ḥa thượng từ bi ban cho pháp môn
giải thoát”. Tam Tổ hỏi; “Ai trói buộc ông?”. Đáp
“Không ai trói buộc”. Tam Tổ nói: “Vậy cầu giải
thoát làm ǵ?” Tứ Tổ ngay dưới lời nói
đại ngộ.
34.
MIẾNG NGÓI GỎ CỬA:
Nhà
bên Trung quốc khi xưa phần đông cửa
trước đều rất dày ,cho nên chủ nhà phải
để cạnh cửa một viên ngói giúp khách
đến dùng nó để gỏ cửa báo cho chủ nhà
hay .Tất nhiên khi chủ nhà biết được có khách
đến rồi th́ khách đâu cần cầm viên ngói này
gỏ cửa nửa.Cũng vậy hành giă tham thiền
hỏi một câu thoại là để phát khởi nghi t́nh
mà tự động tham thiền.Khi đă có nghi t́nh rồi
th́ lo nhiếp tâm về không mà khán thoại đầu
chớ c̣n niệm dính câu thoại nửa làm ǵ ?
35.
ĐƯƠNG HẠ TỰU THI : Đương hạ
nghĩa là: lập tức hay là ngay khi đó .Tựu thị
nghiă : chính là . Đương hạ tựu thị :ư
muốn nói “ngay khi đó chính là Phật”ông phải tu hành hay
t́m kiếm ở đâu nửa.