
PHỦ
ĐỊNH THỨC
VÀ
BIỆN CHỨNG PHÁP TRUNG QUÁN
Tác
Giả: B.K. Matilal
Dịch Giả: Thích Viên Lư
Cho
đến nay, dù đã trải qua mấy
mươi thế kỷ được phổ
truyền, đạo lý Tánh Không của Bồ
Tát Long Thọ vẫn còn diệu lực
vượt thoát lên trên tất cả những
hạn cuộc của thế giới tri thức
và luận lý tương đối của con
người. Tại sao? Bởi vì, đạo
lý Tánh Không ấy không phải được
xây dựng trên nền tảng của tri thức
và luận lý thuộc thế giới tỷ
lượng hay biến kế chấp của tâm phan
duyên. Đạo lý Tánh Không mang trong nó nội
dung mầu nhiệm của năng lực chiếu
sáng từ trí tuệ thực chứng
chân lý hay cội nguồn tối hậu của vạn
hữu. Chính khả tính vi diệu của quang
lực trí tuệ này mới có công
năng đẩy nhận thức và luận
lý mà nó sử dụng xóa sạch
vết tích trầm trệ cố hữu trong tri
thức và luận lý để lao vút vào
cõi tịch lặng chân như.
Tinh
yếu của đạo lý Tánh Không của Bồ
Tát Long Thọ xưa nay vốn là thể tài
sâu rộng mà biết bao luận sư, giảng sư,
học giả, trí thức đã dày công
nghiên cứu và lưu bố. Nhưng, không phải
vì thế mà không còn gì để truy
tầm hay ham học. Ngược laị, càng
có nhiều người diễn giải càng
có thêm nhiều chiếu kiến mới lạ
rất giá trị để suy nghiệm. Triết gia
Bimel Krishna Matilal chính vì thể nghiệm
được điều này nên đã gia công
nghiên cứu về đạo lý Tánh Không qua
lãnh vực tri thức luận và lý
trong tác phẩm lớn của ông, cuốn:
Epistemology, Logic, and Grammar in Indian Philosophical Analysis. Tác
phẩm này đã được dịch sang
Hoa ngữ bởi Phùng Lễ Bình trong
tác phẩm: Trung Quán và Không Nghĩa.
Nay
Thượng Tọa Thích Viên Lý, một tác
giả và dịch giả của hàng chục pho
sách rất giá trị, phát tâm dịch sang
tiếng Việt để giúp cho người
học Phật, nhất là những ai quan tâm
đến giáo nghĩa Không Tánh của Bồ
Tát Long Thọ. Mặc dù, đây là một
tác phẩm chứa đầy những
phương pháp lý luận tinh vi, những
thuật ngữ triết học, luận lý
học, và Tánh Không học chuyên biệt, dịch
giả bằng phong cách đặc dị
và bút pháp trong sáng đã giúp cho
người đọc cảm thấy nhẹ nhàng
và dễ nắm bắt hơn.
Với
lòng tri ân sự cống hiến lớn lao
của Thượng Tọa Thích Viên Lý cho
nền Phật học nước nhà qua bản
dịch này, Viện Triết Lý Việt Nam và
Triết Học Thế Giới xin trân trọng
giới thiệu đến quý độc giả
dịch phẩm Phủ Định Thức và
Biện Chứng Pháp Trung Quán.
Viện Triết Lý Việt
Phủ
Định Thức và Biện Chứng Pháp
Trung Quán là một chương trong nhiều
chương của cuốn Epistemology, Logic, and Grammar in
Indian Philosophical Analysis (Tri Thức Luận, Luận
Lý, và Văn Phạm trong Phân Tích Triết
Học Ấn Độ) do Bimel Krishna Matilal, một
triết gia lừng danh của Ấn, biên khảo
và được Phùng Lễ Bình dịch
sang Hoa ngữ, được in trong quyển Trung
Quán và Không Nghĩa, thuộc một trong 100
cuốn được dịch và tập
đại thành từ những tác phẩm
nổi tiếng nhất về Phật học, hoặc
có liên quan trực tiếp hay gián tiếp
đến Phật giáo, đã từng
được biên soạn, sáng tác bởi
rất nhiều ngôn ngữ do những học
giả, đạo sư, giáo sĩ đầy
thẩm quyền của nhiều quốc gia trên thế giới.
Tất
cả những cuốn sách dẫn
thượng đều được dịch sang
Hoa ngữ qua nhiều dịch giả chuyên nghiệp
và được gọi chung là “Thế
Giới Phật Học Danh Trước Dịch
Tùng” do Hoa Vũ Xuất Bản Xã ấn hành.
Tất nhiên, ngoài tên gọi chung, ở mỗi
cuốn đều có tựa đề riêng và
được đánh dấu theo số
thứ tự tùy theo thời kỳ
chuyển dịch hoặc tùy theo thể loại.
Phủ Định Thức và Biện Chứng
Pháp Trung Quán được đánh dấu
bằng số 62 và trong đó
được in chung với những tư
liệu nghiên cứu giá trị khác như: Trung
Quán Và Không Nghĩa; Tánh Không Của Phái
Trung Quán; Tánh Không Của Tư Tưởng Duy
Thức; Quan Niệm Tuyệt Đối Của
Phái Trung Quán; Lịch Sử Liên Quan Giữa
Trung Quán Và Du Già; Sự Đối Lập
Và Chân Lý Quan Của Hai Học Phái Trung
Quán; Triết Học Tánh Không, v.v…Đương
nhiên, Phủ Định Thức và Biện
Chứng Pháp Trung Quán là một biên khảo
đầy công phu và hết sức giá trị.
Như
một cống hiến nhỏ cho những ai đã
và đang tìm hiểu một nền tư
tưởng cực kỳ thâm áo của hệ
thống đạo học tánh không mà biểu
trưng ngời sáng là Bồ Tát Long
Thọ, dù đang bận rộn với một
số Phật sự, mỗi ngày, sau phần công
tác đầy tính hành chánh, tôi cố
gắng dành ít thì giờ để
dịch thuật và xem đây là một thời
khóa tu học nghiêm túc của mình, vì
mỗi khi trầm mình trong những dòng tư
tưởng lớn để truy tìm
những chữ nghĩa thích hợp cho công
tác chuyển ngữ; dịch giả thật
sự cảm thấy tâm hồn mình hoàn
toàn an nhiên thanh thản, tựa hồ như
đang tham thiền nhập định, hay trì tụng
một thời kinh chú nào đó;
trước một pho tôn tượng trang nghiêm
của một bậc đại giác thánh giả.
Chính
bằng và nhờ vào những
giờ phút dịch thuật như vậy mà
đôi khi phải đối diện với rất
nhiều nan đề tưởng chừng như
bế tắc, người dịch lại tìm
thấy được những ngõ thoát
tuyệt đích an toàn và cảm nghe trong
người dâng lên một luồng khí tươi
mát ngập tràn nghị lực, để
rồi từ đó lại tiếp tục lên
đường dấn thân cho cuộc hành trình
mà theo tôi ngay từ lúc khởi hành
cũng là lúc mà chính kẻ lên
đường đã và đang
bước vào lãnh địa sau chót
nhưng vĩnh viễn không bao giờ cùng tận,
vì mọi sự đều luôn là bất
tận và mãi mãi vô cùng. Tôi lại đang
quay cuồng với bao nhiêu ngữ nghĩa hoàn
toàn vô nghĩa!
Xin
tạm dừng lại ở đây để
mời bạn bước vào thế
giới tư tưởng vi diệu mà một
phần là của Bồ Tát Long Thọ và
phần khác là của Bimel Krishna Matilal, với
một lời cầu nguyện khiêm tốn: Chúc
bạn luôn được toại nguyện trong
mọi ước vọng cao đẹp nhất
của mình và xin đừng quên rằng
Phật giáo Việt Nam đang trong thời kỳ
pháp nạn rất cần sự đóng
góp của bạn cho công cuộc giải trừ.
Tu Viện
Bảo Pháp
Ngày 4-7-2000
Cẩn bút,
Thích Viên Lý
TIẾT
1
CHÚ THÍCH VỀ NIÊN ĐẠI
Chánh
Lý Kinh Nyayasutras - cách ngôn của hệ thống
Chánh Lý (Nyaya) - được soạn trong
khoảng thời gian giữa năm 200 sau Tây
lịch. Bồ Tát Long Thọ đã thành công
trong việc thiết lập trường phái
Phật giáo Trung Quán (Màdhyamika) trong hậu
bán thế kỷ thứ nhì sau Tây lịch. Khó
có thể xác định một cách chính
xác sự liên hệ về thời gian
giữa Bồ Tát Long Thọ và bản
đúc kết cuối cùng của Chánh Lý
Kinh. Trong khi một số kinh (sutras) đó có
vẻ được soạn trước
thời của Bồ Tát Long Thọ, một số
kinh khác thì lại có vẻ được
soạn sau thời của ngài.
Thanh Biện (Bhàvaviveka)
là một triết gia quan trọng về Phật
giáo Đại Thừa, sanh sau Trần Na
(Dinnàga). Ngoài những tác phẩm khác, ông
đã viết bình luận về tác phẩm
chủ yếu của Long Thọ. Ông còn phê phán
trường phái Qui Mậu Luận Chứng
(Pràsangika), thuộc Trung Quán Phái, do Phật
Hộ (Buddhapàlita), một người sanh
trước ông, kiến lập. Thanh Biện là
người chính yếu khởi
xướng trường phái Tự Lập
Luận Chứng (Svàtantrika), thuộc Trung Quán
phái. Còn Nguyệt Xứng (Candrakìrti),
là triết gia lớn nhất của phái Qui Mậu
Luận Chứng và cũng là người
đã phê bình về Thanh Biện; vì vậy
phải coi ông là nhân vật xuất hiện
giữa Thanh Biện và Pháp Xứng
(Dharmakìrti).
Chúng ta có thể tìm
thấy trong những tác phẩm của triết
gia Kumàrìla (Cưu Ma Lị La) và các
triết gia thuộc trường phái Chánh
Lý – Thắng Luận (Nyàya – Vaisesika) một
số sách hữu ích phê bình về
những quan điểm triết học của Long
Thọ.
TIẾT 2
LẬP TRƯỜNG CỦA PHÁI TRUNG QUÁN KHÔNG
TÁNH
Dưới một quan
điểm nào đó, lập trường
của phái Trung Quán có thể
được coi là không có sơ hở nào
về phương diện luận lý để bị
đã kích. Nhưng bút giả muốn nhấn
mạnh ở đây về nhóm chữ
“dưới một quan điểm nào đó”.
Quan điểm đó thường bị hiểu
lầm và từ thời của Long Thọ cho
tới nay đã có nhiều người phê
bình và bác bỏ lập trường
của phái Trung Quán về những nguyên do
luận lý, bằng cách vạch ra sự mâu
thuẫn của nó. Nhưng trong tác phẩm Hồi
Tránh Luận (Vigrahavyavartani) Long Thọ đã
đặt cơ sở trên nghịch lý về
luận lý học để đối đáp một
cách thành công đối với lời phê
bình đó. Trái với điều mà
người chống đối phái Trung Quán
có thể tin tưởng, sự hiện
diện của những nghịch lý luận lý
(logical paradox) giúp hỗ trợ cho lập
trường của phái Trung Quán, thay vì
đả phá nó.
Phái Trung Quán hoài
nghi về tất cả các hệ thống triết
học khác. Họ không tin vào thực tại
(hiểu theo ý nghĩa tối hậu của
chữ này) của đa-nguyên-tánh thuộc
hiện tượng. Họ phủ nhận rằng
chân lý tối hậu có thể là tương
đối hoặc có thể tùy thuộc
vào bất cứ điều gì khác.
Triết lý của họ vạch trần tính
cách không xác thực (hoặc tính
cách “bất khả biện minh”) của trật
tự đa nguyên mà chúng ta thường
hình dung ra trong kinh nghiệm và ý
tưởng. Về phương diện này họ
rất gần gũi với tinh thần của
những người thuộc phái Bất
Nhị Luận (Advatin). Cả phái Trung Quán lẫn
phái Bất Nhị Luận đều hướng
về một loại chủ thuyết triết học
tuyệt đối nào đó. Nhưng phái
Bất Nhị Luận có vẻ nhiệt tâm hơn
đối với một lập trường siêu
hình học khi họ đánh giá những
tư tưởng và kinh nghiệm thông
thường. Còn phái Trung Quán thì
cố gắng duy trì một thái độ
thờ ơ về tồn hữu học.
Hai phái Trung Quán và
Bất Nhị Luận có vẻ đồng ý
về một điểm khác. Chân lý tối
hậu, dù đó là không-tánh (sùnyatà)
hay là Phạm Thiên (Brahman), luôn luôn tiềm ẩn
đối với kinh nghiệm thông thường
và ý tưởng của chúng ta;
người ta chỉ có thể đạt
tới chân lý tối hậu bằng kinh
nghiệm trực tiếp và hầu như thần
bí, qua nội quán thâm sâu hoặc qua trực
giác của một loại người
đặc biệt nào đó. Vì vậy,
có thể nhận xét rằng, cả hai trường
phái nói trên đều có khuynh hướng
mở khóa cánh cửa đi vào chủ
nghĩa thần bí của triết học.
Nhưng, chúng ta không nên
khinh thường những từ ngữ
“chủ nghĩa thần bí” – hay “chủ nghĩa
thần bí nhận tri” (cognitive mysticism). Bởi
vì, như chúng ta ngày càng ý thức
rõ hơn về những giới hạn của
ngôn ngữ trong nỗ lực phân tách, tâm trí
chúng ta nhận thấy có những điều
không dễ diễn tả, tuy rằng chúng ta
khó có thể phân tách một cách
hợp lý về cái “không thể diễn
tả” này. Có vẻ như cả phái Trung
Quán và phái Bất Nhị Luận đều
có quan điểm triết học này.
Dưới một quan
điểm nào đó, chủ nghĩa tuyệt
đối chỉ là chủ nghĩa “hoài nghi
học thuật” (academic skepticism). Bút giả cho
rằng muốn hiểu biết chính xác về
loại chủ nghĩa tuyệt đối của
phái Trung Quán thì cần phải đi vào
trung đạo, giữa sự “cả tin” thái
quá và hoài nghi thái quá. Thật ra
chủ thuyết về “không tánh” (sùnyanà)
là sự phê phán tất cả mọi quan
điểm, mọi hệ thống triết học.
Nhưng, bút giả cho rằng chủ thuyết
này có thể bị giải thích sai lầm
một cách tai hại, không những bởi
những người chống đối nó
mà cả tới những người ủng
hộ nó, để khiến người ta
hiểu lầm rằng nó thực sự
BÁC BỎ tất cả mọi quan điểm, tất
cả mọi hệ thống triết học khác.
Thật ra, chủ thuyết này chỉ muốn vạch
trần cho chúng ta thấy: người ta sai
lầm về luận lý (hoặc về biện
chứng pháp) nếu coi bất cứ hệ
thống siêu hình học nào đó là có
giá trị tuyệt đối. Bút giả xin trích
dẫn nhận xét của T.R.V. Murti đề làm
sáng tỏ quan điểm này: “Biện
chứng pháp của phái Trung Quán không
phải là sự phản luận
(refutation);...Phản luận là bác bỏ quan
điểm của đối phương bởi
một người nào quan tâm tới việc
thiết lập một quan điểm của chính
họ. Còn sự phê bình là dùng lý
trí để phân tách một cách khách quan.”
Long Thọ vận dụng
thuyết “duyên khởi" (pratiya-samutpàda) của
Phật giáo thời sơ khai để cho thấy
sự tương đối (nghĩa là
sự tương lập lẫn nhau) của tất
cả mọi quan niệm, và do đó ngài
nói rằng chúng ta không thể
được coi là “thực”, khi nhìn
từ quan điểm tuyệt đối. Ở
đây rõ ràng là ngài muốn nói
rằng thực tại cần phải tự
hỗ trợ, độc lập và tuyệt
đối. Trong bộ Trung Luận (Madhyamakasàstra) Long
Thọ khảo sát một số quan niệm siêu
hình học và phổ biến, như “thời
gian,” “không gian,” “sự chuyển động,” nhân”,
“duyên,” và “sanh,” và cho thấy rằng mỗi
khái niệm đó sẽ dẫn tới
những mâu thuẫn và phi lý, nếu chúng
ta coi chúng là thực một cách tuyệt
đối. Mô thức tổng quát của lối
biện luận này có thể được
tóm tắt như sau: Nếu chúng ta giả
thử một vật x nào đó là hiện
hữu một cách độc lập, thì
hoặc là chúng ta không thể thuyết minh
một cách nhất trí (và hợp lý)
về vật đó–để tránh sự mâu
thuẫn về luận lý–hoặc là giả
thiết của chúng ta về sự hiện
hữu độc lập của nó sẽ dẫn
tới một hậu quả phi lý nào
đó, trái với kinh nghiệm của
chúng ta.
Trong câu kệ thứ 18,
Phẩm thứ 24 của Trung Luận, Bồ Tát
Long Thọ thiết lập một liên hệ đồng
nhất giữa những từ ngữ “không
tánh,” “duyên khởi,” và “trung đạo.”
Nhân duyên sở sanh pháp
ngã thuyết tức thị không,
Diệc vi thị giả danh,
Diệc thị Trung Đạo
nghĩa.
Bất cứ cái gì do
nhân duyên sanh ra ta đều gọi là “không”
Cái đó cũng
được gọi là giả danh,
Cái đó cũng có
nghĩa là Trung Đạo.
Theo giải thích của
Nguyệt Xứng về câu kệ này, chúng ta
có thể thiết lập công thức sau đây:
Duyên khởi = Không Tánh =
Giả Danh = Trung Đạo
“Trung Đạo” mà Long
Thọ nói trong câu kệ này là chỉ
để tránh hai cực đoan của chủ
nghĩa hư vô và chủ nghĩa thường
hằng. Thật ra, có thể truy nguyên tư tưởng
này từ bài thuyết pháp của
Đức Phật với Kàtyayàna. Long
Thọ viện dẫn bài thuyết pháp này
và Nguyệt Xứng ghi chú rằng nó
xuất hiện trong những bộ kinh A Hàm.
Nguyệt Xứng cho
rằng không tánh–là cái không có nguyên
thủy TỰ NHIÊN của chính nó –
được coi là Trung Đạo vì nó
dẫn tới sự xa lìa hai cực
đoan là hiện hữu hoặc sanh
khởi và vô hiện hữu hoặc hủy
diệt. Cái gì không có
nguyên–thủy–của–chính–nó thì không có
sự hiện hữu hoặc sanh khởi
hoặc hiển hiện, và khi nó không có
sự hiện ra thì nó cũng không có
sự biến mất hoặc hủy diệt
hoặc vô hữu. Vì vậy, “không tánh”
có nghĩa là Trung Đạo (Xin tham khảo
chú giải của Nguyệt Xứng về câu
kệ thứ 18, Phẩm thứ 24 của Trung
Luận).
Chúng
ta cần phải bàn thêm về sự đồng
nhất giữa duyên khởi và giả danh
(hoặc quan niệm). Tác giả A. Wayman giải
nghĩa chữ upàdàya prajnapti là
“định danh khi có sự lệ thuộc”
(designation when there is dependence). Ông cũng lập một danh
sách gồm những thí dụ để
dẫn chứng những “định danh lệ
thuộc” từ những lời chú giải
của Tson-kha-pa về Phẩm thứ 6 trong sách
Nhập Trung Luận (Madhyamakavàtàra) của
Nguyệt Xứng. Trong Tịnh Minh Cú Luận
̣(Prasannapadà), Nguyệt Xứng đã
viện dẫn ít nhất là một thí dụ.
Danh sách sau đây căn cứ vào danh sách
của Wayman (xin tham khảo sách của Wayman, trang 146):
Lệ Thuộc vào Duyên: –
Định Danh:
1. Ngũ uẩn – “Ngã”
2. Bộ bánh xe, trục xe, v.v… –
“Xe”
3. Hạt giống, v.v... – “Mầm”
4. Đất, nước,
lửa, không khí, không gian và ý thức –
“Người”
5. Khúc dây thừng – “Con
rắn” (do ảo giác)
6. Nhân và duyên – “Không–tánh”
Những thí dụ trên
đây cho thấy ý niệm về giả danh (cái
danh giả huyễn vì lệ thuộc vào
những duyên). Theo nhãn quan của bút giả,
duyên khởi và giả danh chỉ là hai cách
khác nhau để nói về cùng một ý
niệm: Không–Tánh. Chúng ta có thể nói:
giống như sao hôm và sao mai đều là tên
của một thiên thể duy nhất nhưng có hai
ý nghĩa khác nhau, cho nên “duyên khởi” và
“giả danh” đều chỉ là một cái tên
giống nhau tuy rằng chúng ta có thể có
những ý nghĩa khác nhau.
Nguyệt Xứng giải
thích “duyên khởi” là do sự xuất
hiện hoặc nổi lên của sự vật
nào đó (như cái mầm, nhận thức,
v.v...) tùy thuộc vào “nhân” (hetu) và “duyên”
(prataya). Sự “định danh tùy thuộc”
(tức giả danh) là hành động
“định danh” (chỉ định một cái tên) cho
sự vật nào đó–thí dụ như
cái xe–tùy thuộc vào những sự
vật khác, như bộ bánh xe và trục xe,
v.v...Cả hai chữ “duyên khởi” và “giả
danh” đều mô tả cùng một thực
thể: cái Tuyệt Đối của không–tánh.
Chữ “duyên khởi” (do nhân duyên mà sanh ra)
là đứng trên lập trường siêu
hình học để hình dung sự tuyệt
đối của Không; còn chữ “giả danh”
là đứng trên lập trường nhận
thức luận để hình dung cái
đồng nhất bất nhị của Không. Nói
cách khác, Duyên Khởi gạt bỏ siêu hình
học của nhân quả để thay vào đó bằng
thuyết “nhân duyên tương tác.” Còn Giả Danh
thì vạch trần tính cách vô hiệu quả
của sự định danh bằng ngôn
ngữ, và do đó phủ định khả
thể của bất cứ khái niệm tri
thức nào về thực tại, và thay
thế vào đó bằng khái niệm
về sự “định danh tùy thuộc.” Tất
cả sự định danh của chúng ta
đều là “tổng hợp,” khi chúng ta
TỔNG HỢP những yếu tố khác nhau
thành một sự vật nào đó
để “định danh” (đặt tên) cho nó.
Tóm lại, duyên khởi là một nguyên
tắc thành lập giữa các đối
tượng, còn giả danh thì thành lập
giữa các đối tượng và
nhận thức/ý thức của chúng ta
về chúng. Nhưng, trong cả hai trường
hợp, chúng ta đều đi tới
không-tánh, vì chúng ta buộc lòng phải
nhận thấy sự thiếu vắng của sanh
khởi “độc lập” hay sanh khởi do
“chính bản chất của nó.” Thứ
nhất, sự thiếu vắng sanh khởi
“độc lập” dẫn tới không tánh;
thứ nhì, “vô sanh” (non-origination) và sự
thiếu vắng định danh tuyệt đối
cũng dẫn tới không-tánh.
Long Thọ tránh cả
hai lập trường cực đoan: chủ
nghĩa hư vô và chủ nghĩa thường
hằng. Nhưng, có điều cần biện
luận ở đây là ngài không có ý
định BÁC BỎ một lập trường vì
muốn chấp nhận lập trường
đối nghịch. Ngài từ chối
những lập trường đó vì tin
rằng kết cuộc chúng ta sẽ dẫn
tới một kết luận phi lý, nếu xác
quyết rằng chúng có giá trị
tuyệt đối.
Long
Thọ giải thích thuyết “không-tánh” của
ngài như là bao hàm hai giai tầng của chân
lý, đó là: Tục đế (chân lý
thế tục—samvrti-sataya) và chân đế (chân lý
tối hậu, đệ nhất nghĩa đế, hay
thắng nghĩa đế—paramartha-sataya). Tục
đế kiến lập trên những giả thiết
và tiền đề chưa được
khảo nghiệm. Nếu khảo sát những
tiền đề này qua những phạm trù
luận lý được chấp nhận
ở giai tầng thế tục thì sẽ thấy
rằng chúng có những mâu thuẫn nội
tại. Chúng ta không thể lãnh hội chân
đế bằng ngôn ngữ (Điều này
chính là một giáo điều căn bản
của Phật giáo mà Long Thọ đã
từng đề cập). Nhưng, đồng thời,
nếu không dùng ngôn ngữ thì chúng ta không
có cách nào khác để thuyết giảng
về chân đế. Vì vậy, ngôn ngữ thế
gian được sử dụng để
vạch ra sự thiếu khả năng của ngôn
ngữ trong việc bày tỏ chân đế. Và
Long Thọ trông mong rằng phương cách này
sẽ dẫn chúng ta một cách gián tiếp
tới một điểm mà chúng ta sẽ
có thể lãnh hội được chân
đế (là cái không thể diễn tả). Long
Thọ cũng cảnh giác người ta
đừng vội vàng cho rằng mình
đã hiểu được thuyết
không-tánh của ông: “Giống như nắm
bắt con rắn ở phía đuôi
hoặc áp dụng khoa học sai lầm, sự
hiểu lầm không-tánh có thể gây nguy hại cho
người kém thông minh.” Hơn nữa, ông
còn nói: “Khi hiểu được không-tánh
thì có thể hiểu tất cả chư pháp;
nếu không hiểu được không-tánh thì
không thể hiểu được chư pháp.”
Trước
khi tổng kết lập trường của Long
Thọ, bút giả muốn bàn về việc phiên
dịch chữ sunya là “không” (“empty” trong Anh ngữ).
Chữ này là một ý niệm toán
học được các nhà toán học
Ấn Độ trước thời của Long
Thọ ít lâu đặt ra. Long Thọ đã
khôn khéo sử dụng ý niệm toán
học này vào triết học. Chữ sunya
có nghĩa là số không (zero) trong toán học;
đây là một biểu hiện không có giá
trị tuyệt đối nào của chính nó
mà chỉ có một giá trị về vị
trí. Khi nói rằng một ý niệm là
không (sunya) thì có nghĩa rằng nó
giống như số không (zero) vì nó không có
giá trị tuyệt đối của chính nó
mà chỉ có một giá trị tương quan
với một vị trí trong một hệ
thống. Vì thế, ý niệm toán học
của số không (zero) thật là thích hợp
với triết thuyết không-tánh (sunyata) của
Long Thọ đến nỗi có người
nghĩ rằng phải chăng Long Thọ đã
chịu ảnh hưởng của các toán
học gia khi ông đem chữ đó vào
triết học. Nếu chúng ta không ngại bị chê
cười là đặt ra chữ
mới thì thậm chí chúng ta có thể
dùng chữ “zeroness” để dịch chữ
sunyata sang Anh ngữ.
TIẾT 3
HAI GIAI TẦNG CỦA CHÂN LÝ
Phật giáo
đặt căn bản trên chủ thuyết về
“hai chân lý”: Chân lý “ẩn dấu” hay chân lý
thế tục và chân lý tối hậu hay tuyệt
đối. Những ai không hiểu được
sự phân biệt giữa hai chân lý thì không
hiểu được tinh nghĩa – hay ý nghĩa
thâm thúy – của Phật giáo (theo Long Thọ trong
TrungQuán Luận). Vì thế, tất cả
những lời thuyết giảng của
Đức Phật có thể được
phân loại thành “tuyệt đối” hay “tối
hậu” (nìtàrtha), và “thực dụng” hay
“thế tục”.
Thuyết giáo về thế tục
được gọi là samvrti hay loka-sanvrti.
Nguyệt Xứng đề nghị ba cách giải
thićh từ ngữ samvrti, căn cứ
vào ngữ-nguyên học: (1) Sự che đậy
hoàn toàn hoặc “cái màn” của vô minh
che đậy chân lý, (2) chỉ hiện hữu
nhờ tùy thuộc các nhân duyên; (3) hành vi
thế tục hay ngôn ngữ liên quan tới giả
danh và cái được giả danh
(đặt tên), tới tri nhận và cái
được tri nhận. Cách giải thích thứ
ba có vẻ đưa ra ý kiến hữu
dụng về bản chất của thế tục
(samvrti). Những gì được bày
tỏ trong hành vi ngôn ngữ (speech behavior) của
chúng ta cùng với chính hành vi ngôn
ngữ cấu thành cảnh giới của
thế tục, tức là cảnh giới
“tùy tục” (conventional) và “thực dụng.”
Cái gọi là giả danh, hoặc dùng
văn tự hay danh tánh, tùy thuộc vào
sự gán ghép của một số
“điều kiện” (nimitta) hoặc phẩm chất.
Một cái gì đó trở thành
“đối tượng của ý thức”
(citta-gocara) qua một hình thức nào đó
mà chúng ta có thể gọi là “điều
kiện” (nimitta) để gán cho nó một cái
tên. Vì vậy, sự giả danh đặt
cơ sở trên sự áp đặt của
một “điều kiện” hoặc một “phẩm
chất,” khiến cho vật được giả danh
trở thành một huyền thoại
được cấu tạo bởi điều
kiện hay phẩm chất đó. Nhưng Nguyệt
Xứng nhận thấy rằng lãnh vực
của giả danh và cái được giả
danh, tức lãnh vực của tri thức và
những đối tượng của nó,
giống như thế giới tùy tục, có
một giá trị thực dụng lớn lao.
Bồ Tát Long Thọ nói: “Không thể mô tả chân
lý tối hậu, nếu không dùng tới ngôn
ngữ tùy tục (vyavahara). Và nếu không
thể hiểu được chân lý tối
hậu thì không thể chứng quả Niết
Bàn.” (Trung Quán Luận).
Tuy nhiên, học thuyết “hai chân lý” có thể
bị phê bình, căn cứ vào những
lý do rõ rệt. Người ta có thể
hoài nghi về cách phân chia chân lý thành hai
giai tầng. Thí dụ như triết gia Kumàrila
lý luận rằng người ta khó
hiểu tại sao chân lý lại có thể là
một loại nằm ở giai tầng thế tục
(hay “thực nghiệm”) và hoàn toàn khác
với giai tầng tối hậu (hay “siêu nghiệm”).
Kumàrila (Cưu Ma Li La) nêu ra một câu hỏi
thực tiễn đưa tới sự
hoài nghi một cách thành thật về vấn
đề “phân chia đẳng cấp chân lý”
này. Cái gọi là chân lý tùy tục
hoặc “che dấu” (samvrti) thật ra chỉ là
một lối nói bóng bẩy để thay thế
cho “bất chân” (mithyà) hay “phi-thực.” Nhận
xét của ông là lợp lý.
Chân lý không thể có
hai loại. Theo luật nhân quả, nếu cái gì
đó được coi là thực
ở giai tầng “che dấu,” thì có nghĩa
là: (1) hoặc luật nhân quả thực ra
không đúng, (2) hoặc luật nhân quả CHE
DẤU trạng thái đích thực của
thực tại, hay chân lý tối hậu. Lập
trường của phái Trung Quán không giống
lập trường của phái Duy Vật Thuận
Thế (Lokàyata Càrvaka) Ấn Độ; phái
này cho rằng luật nhân quả không có
thật. Theo phái Trung Quán thì thà chấp
nhận điều thứ nhì và chủ
trương cho rằng luật nhân quả là
có thật, nhưng chỉ nằm ở giai
tầng tùy tục mà thôi. Nhưng Kumàrila
bảo rằng nói như vậy là nói theo
lối triết lý “hai chiều.” Ông lý luận
rằng thật ra thực tại ở giai
tầng “che dấu” không khác với phi thực
tại. Chỉ sau khi hiểu rõ cái gì là
chân đế chúng ta mới có thể xác
lập được nhận thức rằng
vạn pháp đều là giả trên giai tầng
thế tục; nhưng, chân đế lại còn
bị thế tục đế che đậy. Tuy nhiên,
như chúng ta đã nhận xét, nếu không
có loại trực giác thần bí nào
đó thì không thể hiểu được
chân lý tối hậu (tattva). Và như đã
nói, chân đế không thể được mô
tả bằng ngôn ngữ. Vì vậy, một
người có lập trường thực
tế như Kumàrila cảm thấy việc phân chia chân
lý thành hai giai tầng, và từ đó
ngụ ý rằng mọi sự vật
ở giai tầng “che dấu” đều là
“phi-thực,” là chuyện không công bằng.
Ngoài ra, giữa chân lý tối hậu và chân
lý thế tục chẳng có một
đặc tính chung nào cả, do đó
chúng ta không thể gán cho chúng cùng một
chữ “chân lý” (satya).
Phái Trung Quán có thể trả
lời rằng phê bình này không công
bằng đối với lập trường
triết học của họ. Họ khẳng
định nhân và quả chỉ là những
khái niệm được “hiện thực
hóa” bởi thiên kiến của tri thức nhân
loại. Nhưng, nếu chúng ta coi những
khái niệm này là thực về
phương diện siêu hình (hay tối hậu),
thì chúng ta sẽ đối diện với
những mâu thuẫn về luận lý và
những điều phi lý khác. Cũng chỉ
vì sự khó khăn này, nghĩa là
vì hoàn cảnh khó khăn mà chúng ta
gặp phải khi coi những giả thiết
của mình là đúng tối hậu, cho nên
phái Trung Quán muốn nhẩy vọt lên giai tầng
tối hậu và khẳng định rằng
nhìn từ quan điểm tối hậu thì
nhân quả đều là những khái niệm
TRỐNG RỖNG (KHÔNG). Nhưng, phái Trung Quán không
thể phủ nhận rằng những khái
niệm này được người thế
tục tin là thật và rằng những
khái niệm này it́ ra cũng có một
giá trị thực tiễn nào đó trong
thế giới hiện tượng. Nhưng khi
một triết gia kiêu căng nào đó cho
rằng chúng ta là thực một cách
tối hậu thì họ phạm phải sai lầm to
lớn.
Người theo chủ nghĩa hiện
thực có thể đối đáp
rằng việc xác định nhân quả không
phải là chuyện không thể làm
được trong đời sống thực
tế, miễn rằng chúng ta tập
được đức tính khoan dung một
chút đối với những mâu thuẫn
luận lý. Nếu có người tin A là
nhân của B, và chúng ta không thấy điều
đó là sai, qua những cuộc thí
nghiệm và những kinh nghiệm trong vòng
một thời gian nào đó, thì chúng
ta đừng nên phủ quyết điều tin
tưởng của họ. Theo bút giả thấy,
phái Trung Quán không phản đối việc
nhận những tín niệm loại đó
như là có tính cách chân thực một
cách tạm thời, nghĩa là chân thực
ở giai tầng thế tục. Họ chỉ phủ
nhận chúng có tính cách tối hậu. Khi
phái Trung Quán muốn mở ngỏ vấn
đề này, thái độ của họ tỏ
ra rất thận trọng, vì vậy, đó là
thái độ rất hữu ích cả về
phương diện triết học lẫn khoa học.
Nhưng, khi họ nhất định xác quyết
rằng nhân và quả thực sự không
thể xác định được, thì
họ sẽ có thể bị chỉ trích
rằng họ muốn tránh né vấn
đề này.
Khi họ biện luận, phái Trung Quán có
thể nói rằng ngoài giá trị
thực tiễn nào đó, họ không thấy
bất cứ lý do luận lý nào để
chấp nhận khái niệm nhân quả như là
có tính cách chân thực nội tại.
Thật ra, theo phái Trung Quán, tất cả các
hiện tượng đều không thể xác
định và không thể định nghĩa;
chúng không thể hiện hữu một cách
độc lập.
TIẾT 4
TÍNH CÁCH BẤT XÁC ĐỊNH CỦA THẾ
GIỚI HIỆN TƯỢNG
Trong phần này
chúng ta sẽ thảo luận về ý niệm
bất xác định của thế giới
hiện tượng. Như Sriharsa đã nhận
xét đúng, một người thuộc
phái Bất Nhị Luận tuyệt đối, sẽ
tán đồng với một người
thuộc phái Trung Quán về quan điểm coi
thế giới hiện tượng như là
có đặc tính bất khả xác
định. Hiểu theo một ý nghĩa nào
đó, một hiện tượng là một
sự kiện được cảm nhận
và do đó chúng ta không thể coi rằng
nó CHỈ LÀ hư cấu, hiểu theo nghĩa
rằng chúng ta không thể coi người con
của một phụ nữ tuyệt sản là
vật hư cấu. Vì vậy, chúng ta phải
chấp nhận rằng thế giới hiện
tượng có sự hiện hữu tạm
thời. Nói cho đúng, nếu thế
giới hiện tượng chẳng phải
là một thực thể thì tất cả
những sinh hoạt thực tế của chúng
ta sẽ không thể thi hành được; và,
ngay cả những kỷ luật đạo
đức và tinh thần cũng sẽ mất
hết ý nghĩa. Vì vậy, thế giới
hiện tượng này được coi
là không thật mà cũng không giả, nhưng
nó là bất khả xác định và
bất khả minh chứng trên phương diện
luận lý. Theo ngôn ngữ của Long Thọ,
tính cách bất xác định này của
thế giới hiện tượng
được gọi là “đặc tính
duyên khởi của chư pháp” hoặc là
“không tánh (sunyata) của chư pháp.”
Ở đây, chúng ta thực sự
đối diện với một nghịch lý
hiển nhiên và rất lý thú. Mỗi hiện
tượng đều là bất xác
định về luận lý; chúng ta không thể
nói hiện hữu và cũng không thể
nói nó không hiện hữu. Khi bốn
trường hợp này đều bị
phủ định thì hiện tượng
trở thành bất xác định, tức
là “trống không” (sùnya), nghĩa là không có
bất cứ giá trị tuyệt đối
nào. Vật tối hậu đó cũng là
bất xác định và không thể mô tả.
Thật ra, cái tối hậu chính là
không-tánh (sunyata) của mọi vật, mọi hiện
tựợng. Đi theo lối phân tách này,
chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về ý
nghĩa thâm sâu trong câu kệ sau đây của Long Thọ:
“Thế gian không có gì
khác với Niết Bàn,
Và Niết Bàn không khác
gì với thế gian.
Giữa ‘thái cực’
(Koti) của Niết Bàn và thái cực’
của thế gian,
Không có một chút khác
nhau nào cả.”
Tuyệt đối và hiện tượng
không khác nhau. Khi đứng trên điều kiện
duyên khởi và lập trường đa nguyên
tánh để xét thế gian này, chúng ta
bảo rằng nó có tính cách hiện
tượng hay thế tục (samvrti). Nhưng, khi
chúng ta không qui chiếu vào duyên khởi và
đa nguyên tánh để xét thế gian thì
nó được coi là Niết Bàn, là
cái Tối Hậu.
Cho nên, chúng ta thấy, thật ra việc chỉ
trích phái Trung Quán về chuyện họ phân
biệt chân lý thành hai giai tầng là
điều không công bằng. Hiện tượng
chính là hình thức “che dấu” của
tối hậu, nhưng, nó không khác gì tối
hậu. Vì vậy, cần phải nhấn mạnh
rằng thuyết không-tánh không bao hàm sự
phủ nhận thế giới hiện
tượng, mà chỉ bao hàm thái
độ vô-chấp đối với những
hiện tượng và không chấp nhận bất
cứ lý thuyết nào nói rằng
thế giới hiện tượng là
thực một cách tối hậu.
Trong luận lý học hiện đại chúng
ta thường nói về sự hợp
lý, sự nhất quán, và sự bất
nhất quán của những hệ thống.
Nếu nói theo luận lý để tìm hiểu
chân lý, chúng ta có thể định nghĩa
một hệ thống tìm hiểu chân lý nào
đó là HỢP LÝ nếu nó tỏ ra
là đúng đối với một cách
diễn tả theo văn tự của nó. Một
hệ thống tìm hiểu chân lý NHẤT QUÁN
nếu nó tỏ ra là đúng đối
với cách diễn tả nào đó theo
văn tự của nó; và nó là BẤT
NHẤT QUÁN nếu nó không có cách diễn
tả theo văn tự của nó để cho
thấy nó là đúng. Ba từ ngữ
được định nghĩa rõ ràng
này có thể được dùng để
giải thích những phân biệt của giáo
lý Trung Quán về “không-tánh.” Phái Trung
Quán bảo rằng người ta có
thể cho thấy mỗi lý thuyết về thế
giới hiện tượng đều bất
nhất quán hoặc phi lý.
TIẾT 5
NGHỊCH LÝ CỦA KHÔNG TÁNH
Như bút giả
đã biện luận ở những phần
trên, không-tánh dẫn đến lý thuyết về
tánh bất khả xác định của thế
giới hiện tượng (samvrti). Nhưng,
bản thân lý thuyết này (về tánh bất
khả xác định của thế giới
hiện tượng) không phải là một lý
thuyết. Bạn đừng nên coi rằng câu
nói này chỉ là một trò chơi
chữ nghĩa, vì nó có thể cho thấy
một ý nghĩa hợp lý về câu nói
“không-tánh dẫn đến lý thuyết về
tánh bất xác định của thế
giới hiện tượng.” Lý thuyết
về không-tánh bản thân nó không phải là
một lý thuyết, vì nó không thể phủ
định một cách thành công. Bút giả xin
giải thích rõ hơn về điểm này.
Ý niệm của tánh bất khả xác
định là người ta có thể
khẳng định một định đề
có vẻ nghịch lý: Cái bất khả
xác định chẳng phải là bất
khả xác định, và đồng thời
là bất khả xác định. Vì vậy,
sự phủ định của cái bất khả
xác định cũng trở thành bất
khả xác định. Câu nói này rõ
ràng là trái ngược với ý
tưởng của chúng ta về luận lý.
Nhưng, chúng ta hãy cố gắng liễu tri
ý nghĩa của nó.
Giả thử chúng ta coi x là bất
xác định. Điều này hoặc có
nghĩa rằng không có thuộc từ
(predicate) nào có thể áp dụng một
cách THÀNH CÔNG cho x, hoặc có nghĩa
rằng tất cả các thuộc từ –
gồm cả những nghịch lý – ĐỒNG
THỜI có thể áp dụng cho x. Để
phủ nhận đề xuất “x là bất xác
định” một cách thành công, người
ta phải cho thấy rằng một thuộc
từ “P” nào đó – chứ không phải
là “phi P” đối nghịch của P – sẽ có
thể áp dụng cho x. Nói cách khác, nếu
chúng ta không thể cho thấy rằng “P” có
thể áp dụng cho x theo cách này, thì
chúng ta không thể gán bất cứ ý
nghĩa nào cho sự phủ định của
chúng ta về đề xuất “x là bất
xác định.”.. Nhưng điểm chính yếu
trong lý luận biện chứng pháp của Long
Thọ là biện luận rằng không thể
tìm thấy một thuộc từ “P” nào để
áp dụng cho x mà cuối cùng không khiến
chúng ta sẽ phải áp dụng cả “phi P” cho x.
Một phương pháp nữa
thường được dùng để
phủ định đề xuất “x là bất
xác định” là coi thuộc từ “bất
xác định” như là một thuộc
từ khác, kế đó đi theo con
đường của Long Thọ để
chứng tỏ rằng đề xuất
đó sai. Nói cách khác, nếu chúng ta chấp
nhận “x là bất xác định,” rồi đi
theo phương thức suy luận của Long Thọ,
thì cuối cùng chúng ta sẽ bị dẫn
đến xự chấp nhận cái trái
ngược của nó là “x chẳng
phải là bất xác định.” Đây
thực sự là cách mà những
người thuộc phái Chánh Lý (Naiyayika),
chẳng hạn như Uddyotakara, đã dùng
để phủ định phương pháp của
Long Thọ. Nhưng, đó không phải là cách
phủ định hợp thức. Việc gọi
“bất xác định” là một thuộc
từ là phạm vào “sai lầm về phạm
trù” – một sai lầm đã gây ra một số
nghịch lý về ngữ-nghĩa học (xem
đoạn sau).
Chúng ta có thể nhận thấy, như
đã được nói trước
đây, bản thân luận thuyết không-tánh
chẳng phải là một luận thuyết, cho nên
có thể nói rằng bản thân thuộc
từ “bất xác định” chẳng phải
là một thuộc từ. Bởi vì
chữ “bất xác định” được
dùng ở đây có nghĩa là “vô
phương áp dụng bất cứ lúc
nào,” và nếu “vô phương áp dụng
bất cứ thuộc từ nào”
được dùng làm thuộc từ
của cái gì đó thì chính cái
đó không thể được gọi là
“bất xác định.”
Có hai cách để hiểu điều
nghịch lý này của tánh bất xác
định: một cách đơn giản và
một cách phức tạp hơn. Nếu chúng
ta chấp nhận cách thứ nhất thì
nó có thể dễ dàng cho thấy đây không
phải là một nghịch lý thực
sự. Nhưng cách thứ nhì thì
lý thú hơn về phương diện triết
học, và có lẽ gần gũi hơn
với tinh thần của phái Trung Quán.
TIẾT
6
NGỤY BIỆN PHÁP VÀ NHỮNG NGHỊCH
LÝ NGỮ-NGHĨA HỌC
Người ta có
thể tìm thấy những nghịch lý về
ngữ-nghĩa học (semantic paradox) trong thời
kỳ sơ khai của phái tranh luận và ngụy
biện (tức là phái
vàdajalpa-vìtandà) rất thịnh hành
ở Ấn Độ, ngay cả trước
thời của Bồ Tát Long Thọ. Một trong 24
lối phủ định (jàti) ngụy biện nằm
trong chương thứ 5 của Chánh Lý Kinh,
được gọi là “thường trú
tương tựa” (nityasama). Thí dụ sau đây
sẽ cho thấy cái xảo thuật
được dùng làm cách đối
đáp “vô nghĩa lý’ trong trường
hợp này:
Người đề
xướng đưa ra luận án: “âm thanh là
vô thường.” Người chống lại
sẽ đối đáp: “Có phải từ ‘vô
thường’ này là một thuộc từ
thường hằng (của âm thanh) hay không?
Nếu nó là một thuộc từ
thường hằng thì tiếng động
trở thành thường hằng. Nếu nó
không phải là một thuộc từ
thường hằng thì tiếng động
cũng trở thành thường hằng.”
Nói cách khác,
vấn đề sẽ trở thành nghịch
lý nếu người ta được
quyền nêu ra những câu hỏi như vậy.
Uddyotakara nói
rằng không nên cho phép người ta nêu ra
những câu hỏi như vậy, bởi vì
“một cái gì đó là vô thường”
có nghĩa là nó không có sự hiện
hữu thường hằng, và
người ta không thể hỏi “cái có
sự hiện hữu vô thường có
sự hiện hữu thường hằng
không?” (mà không tự mâu thuẫn với
chính họ). Nhưng cách diễn giải này
của Uddyotakara phá hủy tình huống nghịch
lý mà không đưa ra ý nghĩa thực
sự của ngụy biện pháp nguyên thủy. Cho
nên, bằng cách đơn giản nhất,
Uddyotakara giải thích điều nghịch lý
như là giả-nghịch-lý và dễ dàng
biến ngụy biện pháp thành sự vô
nghĩa.
Ở đây, Uddyotakara
giải thích theo một loại nghịch lý về
ngữ nghĩa (semantical paradox). Ông nói rằng
thuộc từ “vô thường” trong thí dụ
nói trên thực sự là một biến
thể đối với bất cứ
đặc tính thuộc-từ (predicate property)
nào. Lối phủ định ngụy biện gồm
có việc đặt câu hỏi có phải
một thuộc từ nào đó (nghĩa
là một đặc tính thuộc-từ)
có thể xác định chính bản thân
nó hay không. Trong đa số trườngt
hợp, đây là một câu hỏi hết
sức vô nghĩa, thí dụ hỏi: “Có
phải thuộc-từ ‘xanh’ chính nó là xanh
hay không?” Vì vậy, Kanàda, trong khi tạo
dựng phạm-trù luận của ông, nói
rằng cần phải đặt ra qui luật
để coi một màu sắc nào đó
(chẳng hạn như ‘xanh’) là một
đặc tánh (guna) không thể được
làm thành thuộc từ của màu xanh
đó, hoặc của bất cứ
đặc tánh (guna) nào khác. Nhưng, trong
vài trường hợp nào đó,
những câu hỏi như vậy không tức
khắc cho thấy sự vô nghĩa của nó;
thí dụ: “Có phải vô thường là vô
thường hay không?” Dù chúng ta trả
lời theo bất cứ cách nào,
hoặc “phải” hay “không phải”, chúng ta sẽ
bị dẫn tới sự từ bỏ
luận đề nguyên thủy: x là vô
thường.
Một xảo thuật
tương tự như trên cũng đã
được áp dụng để chống
phái Trung Quán. Luận điểm chủ yếu
của phái Trung Quán là: Thế giới
hiện tượng là vô thường, vì
vậy không có thuộc từ nào có thể
xác định nó. Bây giờ một câu hỏi
được nêu ra: Vậy chính chữ
“bất xác định” có phải là một
thuộc từ hay không? Nếu nó là thuộc
từ thì thế giới hiện
tượng không phải là bất xác định,
vì có ít nhất là một thuộc
từ có thể áp dụng cho nó. Nếu
nó không phải là thuộc từ thì nó
là cái gì? Nói cách khác, nếu
định đề “thế giới là bất
xác định” là bất xác định
thì chúng ta không thể nói rằng thế
giới hiện tượng là bất xác
định. Và, nếu định đề này
không phải là bất xác định thì
“bất xác định” trở thành một
thuộc từ mô tả một đặc tánh
xác định của thế giới hiện
tượng và do đó phủ định
luận đề nguyên thủy nói trên.
Bút giả đã
từng nhắc tới câu trả lời
của phái Trung Quán đối với
sự chỉ trích này: Chính bản thân
“bất xác định” không phải là một
thuộc từ; chính bản thân “không-tánh” không
phải là một luận thuyết về thế
giới vô thường. Khi xác định
rằng chúng ta không thể xác định
bất cứ thuộc từ nào của chủ
từ x, thì chính việc xác định
đó không phải là sự xác định
bất cứ thuộc từ nào của chủ
từ x đó. Có lẽ phái Trung Quán
nên nói rằng chính bản thân tính cách
bất xác định về đặc tính
không phải là bất xác định, vì
họ sẽ đồng ý rằng cái bất
xác định không thể đồng thời
vừa là xác định vừa là
bất xác định.
Bút giả công nhận
rằng lý luận này có vẻ như
muốn bí ẩn hóa vấn đề triết
học. Nhưng, điều cần nói là
lằn ranh phân cách giữa cái xác
định và cái bất xác định,
giữa Tuyệt Đối và Hiện
Tượng, giữa Niết Bàn và cõi
Luân Hồi, bản thân nó không phải là bất
xác định. Nói cách khác, trên cơ
bản chúng ta không thể thuyết minh điều
gì về lằn ranh phân cách này. Và
đây là một lý do tốt để tin
tưởng (nếu không nói ra một cách minh
bạch) rằng chúng ta không thể phân biệt
(advaya) và là bất nhị. Biện chứng
pháp theo đường lối nay sẽ dẫn
tới Tuyệt Đối luận.
Nếu ở những
phần trước đây bút giả từng
nói rằng lối phê bình trên đây về
tánh bất xác định dẫn chúng ta
tới gần hơn với những nghịch
lý về ngữ nghĩa (chẳng hạn
như “nghịch lý nói dối “khi nói”:
“những gì tôi đang nói không phải là
sự thật” – nghĩa là vừa nói
dối vừa nói thật...) Bút giả xin
nói rõ hơn về điểm này. Công
thức trên đây về điều mà chúng ta
gọi là “nghịch lý về bất xách
định” không giống hệt như những
trường hợp về nghịch lý về
ngữ nghĩa. Một cách trực tiếp
và đơn giản để giải quyết
nghịch lý về bất xác định nói
trên như sau. Câu nói “một sự vật là
bất xác định: thật ra là sự vi
phạm nguyên tắc luận lý thông
thường mà chúng ta có thể nói
“mọi sự vật hoặc là P hoặc
không phải là P.” Nếu phủ nhận nguyên
tắc này thì chẳng khác nào
nói: “cái gì đó không là P mà
cũng chẳng phải không là P,” nếu nói
như vậy có nghĩa là “bất xác
định về thuộc từ” (predicate indeterminate).
Vì vậy, khi chúng ta duy trì nguyên tắc
luận lý “mọi sự vật hoặc là
P hoặc không là P” thì điều nghịch
lý nói trên sẽ không thể phát sanh. Đây
là một đường lối tốt để
giải quyết nghịch lý, nhưng, chúng ta
có thể lâm vào nguy cơ giải thích sai
chủ ý triết học của phái Trung Quán.
Nguyên tắc luận lý
đơn giản và chính xác “mọi
sự vật hoặc là P hoặc không
là P” tùy thuộc vào sự kết cấu
của một định nghĩa minh bạch về
ý nghĩa của “không,” tức là ý
nghĩa của sự phủ định. Kỳ
thực, có thể nói rằng nguyên
tắc đó chỉ là một cách để
định nghĩa ý của phủ định –
nghĩa là đưa ra một ý nghĩa xác
định cho sự phủ định với
mục đích thiết lập một hệ thống
luận lý nào đó. Ngoài ra, nguyên
tắc đó cũng giả thiết rằng
mỗi thuộc từ có thể
được áp dụng một cách
đúng hay sai cho bất cứ yếu tố
nào trong toàn thể thế giới đang
được bàn luận tới (Đoạn
dưới đây sẽ bàn thêm về phủ định).
Theo ý kiến của bút giả thì động
lực triết học của phái Trung Quán
không phải là phủ định nguyên tắc
luận lý nói trên (mà tất cả chúng ta
phải chấp nhận) mà là vạch trần
sự hữu hạn của nguyên tắc
này, để chúng ta khỏi giải thích sai
phạm vi áp dụng của nó.
Cho nên, bút giả nghĩ
rằng điều nghịch lý về sự
bất xác định dẫn chúng ta tới
một trạng huống giống như tình trạng
phải đối diện với một số
nghịch lý về ngữ nghĩa. Có lẽ
căn nguyên của sự rắc rối mà
chúng ta phải đương đầu trong
những nghịch lý về ngữ nghĩa
cũng cùng một nguồn gốc với
sự rắc rối trong trường
hợp này. Nếu đúng như vậy,
chúng ta có thể coi rằng một giải
pháp tổng quát cho các nghịch lý về
ngữ nghĩa sẽ đem lại một giải
pháp thỏa đáng cho nghịch lý về
bất xác định. Những tiến triển
hiện đại vè triết học phân tách
từ thập niên 1930 có thể đưa ra
vài giải pháp cho những nghịch lý về
ngữ nghĩa này. Chúng ta còn phải
đợi xem liệu một số những
giải pháp đó sẽ thích ứng
với nan đề đã được nêu
lên bởi sự phê phán trên đây về
phái Trung Quán hay không
TIẾT 7
HAI PHƯƠNG DIỆN CỦA PHỦ ĐỊNH
Sự nhầm lẫn
giữa những sai biệt trong ý nghĩa
của phủ định đã gây ra nhiều bối
rối về luận lývà biện chứng pháp.
Cho nên trong đoạn dưới đây, bút
giả sẽ phân tách khái niệm của phủ
định theo một đường lối sẽ
có thể làm sáng tỏ lập
trường của phái Trung Quán.
Thông thường,
một điều phủ định đại
để có hai hương diện khác nhau:
phủ nhận và ảnh hưởng ứng. Ở
đây xin bàn trước về phương
diện thứ nhì: Khi chúng ta nói “không”
đối với một câu hỏi nào đó
thì chúng ta đương nhiên cũng bao hàm
sự hưởng ứng để trả
lời “có” đối với một câu hỏi
khác nếu nó được đặt ra
đúng cách. Loại hưởng ứng
này có những mức độ khác
nhau. Khi chúng ta nói: “Đóa hoa kia không là đỏ”
tức là chúng ta sẵn lòng nhìn
nhận rằng đóa hoa đó có một
màu sắc khác nào đó (thậm
chí có thể là một màu sắc
rất gần với màu đỏ). Khi chúng ta
nói “Con người không phải là đấng
tạo hóa của vũ trụ” thì cấp độ
hưởng ứng của chúng ta rất
thấp. Trong trường hợp này thậm
chí người ta có thể lý luận
rằng chúng ta không sẵn lòng chấp
nhận ý kiến cho rằng vũ trụ có
một đấng tạo hóa.
Phương diện
thứ nhất của phủ định, tức
là phủ nhận, hiện diện trong mọi phủ
định, nhưng mức độ của nó
cũng thay đổi. Nếu chúng ta đọc câu
thí dụ thứ nhất là “Đóa hoa kia
là không-đỏ,” hoặc chúng ta lấy
một thí dụ khác, như “Thân thể này
có sự bất tỉnh nhân sự” thì
cường độ của sự phủ
nhận rất thấp. Trong những trường
hợp này chúng ta khuynh hướng
ứng một lập trường nào hơn
là phủ nhận bất cứ liên hệ nào
giữa chủ từ và thuộc từ.
Nhưng sự phủ nhận của chúng ta
rất rõ ràng trong trường hợp
thứ nhì: “Con người không phải là
đấng tạo hóa của vũ trụ.” Nếu
không nhận thức được
cường độ mạnh hay yếu trên cả
phương diện phủ định thì sẽ
dẫn đến nhiều nan đề triết học.
Các nhà văn phạm
và luận lý Ấn Độ cố gắng
nắm bắt hai phương diện này
của phủ định bằng cách đưa ra
lý thuyết của họ về hai loại phủ
định: paryudàsa (phủ định bằng
danh từ) và prasajya-pratisedha (phủ định
bằng động từ). Trong loại phủ
định paryudàsa phương diện
“hưởng ứng” phần lớn lấn
át phương diện “phủ nhận,” trong khi
loại phủ định pratisedha thì có tình
trạng trái ngược. Câu hỏi
“người ta có thể tìm thấy liên hệ
nào đó về sự biến thiên trái
ngược giữa hai phương diện phủ
định này hay không” nằm ngoài phạm vi
của bài này. Nhưng, bút giả có khuynh
hướng ngả về phía phái Trung Quán
để nói rằng trong một số
trường hợp phủ định,
phương diện “phủ nhận” có thể rõ
ràng đến nỗi nó giảm phương
diện “hưởng ứng” xuống tới
độ hoàn toàn không còn nữa.
Cho nên, khi phái Trung Quán
muốn phủ định một đề luận
của đối phương, họ có thể
mạnh dạn dùng loại phủ định này
mà không lo rằng sẽ phải chấp nhận
hậu quả của sự phủ định của
mình, và do đó, họ có thể thành
công duy trì một thái độ bất
hưởng ứng. Vi vậy, Thanh Biện
(Bhàvaviveka) đã biện minh một cách rõ
ràng cho loại phủ định mạnh mẽ
nhất (prasajya-pratisedha) khi ông giải thích quan
điểm của Bồ Tát Long Thọ từ
lập trường của phái Tư Lập
Luận Chứng (Svàtantrika).
Nhằm đạt
tới loại phủ định mạnh mẽ
nhất này, phái Trung Quán có thể mạnh
dạn vận dụng kế hoạch phủ định
liên kết gồm bốn mặt (catuskoti) hoặc
giải nghĩa theo lối này, sự mâu thuẫn
của cách phủ định phối hợp
bốn mặt sẽ biến mất. Có thể
nói rằng, Tuyết Đối hay Niết Bàn
hàm chứa sự phủ định của
tất cả những thuộc từ (hay
những đặc tánh, trong ý nghĩa
phủ định cực đoan này). Khi tất
cả những khả thể đều bị phủ
định thì “không-tánh” thắng thế.
Trong những sách
viết về luận lý học hiện đại,
phủ định thường được coi
như loại phủ định “đề nghị”
(“propositional” negation), và, dấu hiệu của phủ
định thường được
đặt ở phía trước
những câu phủ định. Theo cách đó
thì phủ định co thể được
định nghĩa như sau: sự phủ
định một câu nói là để bảo
rằng nó sai nếu câu nói đó
được người ta coi là
đúng; và sự phủ định là
để bảo rằng một câu nói
được cho là đúng trong bất
cứ hoàn cảnh nào mà câu nói
đó bị coi là sai. Đây có vẻ là
một quan điểm rất đơn giản về
phủ định mà phương diện “phủ
nhận” hoàn toàn quân bình với
phương diện hưởng ứng. Nói
cách khác, nếu chúng ta phủ nhận câu
nói P, thì chúng ta hưởng ứng
việc chấp nhận sự thật của
điều trái ngược, tức là P.
Nhưng, tuy rằng quan điểm này đơn
giản hóa những qui luật sơ
đẳng của luận lý, nó lại
thờ ơ đối với hình thức
phủ định cực đoan của phái Trung
Quán – khi phủ nhận một lập
trường không nhất thiết có nghĩa
rằng người phủ nhận
hưởng ứng một lập trường
nào khác.
Trong khi phái Trung
Quán nhấn mạnh phương diện “phủ
nhận” của phủ định, chúng ta có
thể nói rằng phái Chánh Lý – Thắng
Luận (Nyàya-Vaisesika) nhấn mạnh vào
phương diện “hưởng ứng” của
phủ định, theo một đường lối
hầu như đặt biệt. Trong một phủ
định thuộc loại paryudàsa, khi phương
diện hưởng ứng đương nhiên
khống chế, phái Chánh Lý bảo
rằng chúng ta xác định :sự
khác biệt của cái bị phủ định”
của chủ từ. Chẳng hạn như
phái Chánh lý giải thích câu “cái
bình không phải là mảnh vải” là “cái
bình là vật gì đó khác với
một mảnh vải.” Ở đây, cái bình
được gán cho một đặc
tánh gọi là “khác với một mảnh
vải.” Ngay cả khi chúng ta sử dụng
cách phủ định mạnh mẽ (pratisedha),
phái Chánh Lý cũng vẫn coi phương
diện “phủ nhận” là phụ thuộc đối
với phương diện “hưởng
ứng.” Do đó, câu nói “cái bình
không hiện hữu trên mặt đất”
được diễn giảng là “sự
vắng mặt của cái bình tạo
đặc tánh cho mặt đất,” và
nhóm chữ “sự vắng mặt
của cái bình” được coi như
muốn nói về một đặc tánh
khách quan của mặt đất. Thật ra,
phương pháp của phái Chánh Lý rất
là cơ bản, vì nó phủ nhận
rằng có hoặc cần nên có bất
cứ đường lối phán đoán
lưỡng cực xác định hoặc
phủ định nào. Nó thực sự
giảm trừ phương diện phủ nhận
thành số không và coi phủ định như
là một phần không thể thiếu của thuộc
từ.
Hai ý niệm phủ định
khác nhau đang thịnh hành trong những
trước tác hiện đại về
những gì được gọi là
“luận lý tự do” (free logic): phủ định
lựa chọn (choice negation) và phủ định
loại trừ (exclusion negation). Thí dụ mà
chúng ta đã nói ở trên: “Đóa hoa
kia không là đỏ: sẽ là một
trường hợp phủ định lựa
chọn, nếu nó ngụ ý rằng đóa
hoa thực sự có một màu sắc
khác nào đó. Ý niệm này có
thể rất thích hợp với khái
niệm về phủ định của phái Chánh
Lý, nếu chúng ta qui định rằng
chữ “không” trong trường hợp này
cần được tái tạo như là
một phần của thuộc từ “không-đỏ.”
Thật ra, lối diễn giải của phái Chánh
Lý không đòi hỏi chúng ta phải
đặt lại vị trí của chủ từ
khi có sự mở rộng thêm về một
thuộc từ về màu sắc nào
khác, mà chỉ bảo chúng ta hãy tái
tạo thuộc từ thành “không-đỏ” và
coi thuộc từ mới này như là
một tổng thể trong sự mở rộng
thêm mà chủ từ sẽ được
tái định vị trí.
TIẾT 8
“CHỦ NGHĨA THẦN BÍ” CỦA PHÁI TRUNG
QUÁN
Trong đoạn cuối
cùng này, bút giả sẽ bàn về giả
thuyết “thần bí” mà đôi khi người
ta bảo rằng nó là phù hợp
với lập trường của phái Trung
Quán. Người ta không ngạc nhiên khi thấy
biện chứng pháp của Long Thọ đã
trở thành một cội nguồn phong phú
của chủ nghĩa thần bí ở Đông
Phương.
Hai đặc tánh
chủ yếu của triết học Trung Quán rất
gần gũi với những gì mà
chúng ta có thể gọi là những
̣điểm phổ quát của tất cả
các loại chũ nghĩa thần bí. Thứ
nhất, có sự tin tưởng vào
khả thể của loại kiến thức mà
chúng ta gọi là khải thị, trực
giác, hoặc thậm chí sự trực
diện với hiện tại. Có người
biện luận rằng, những loại kiến
thức khác, tức là kiến thức
qua các giác quan, lý trí, và phân tách,
chỉ hoạt động ngoài bề mặt,
chỉ ở tầng diện thế tục, samvrti,
và nó che đậy chân lý tối hậu; cho
nên, loại kiến thức thứ nhì này
nằm ở giai tầng thấp hơn đối
với loại kiến thức thứ nhất.
Trực giác là đơn vị trọng
tài duy nhất của chân lý tối hậu, vì
nó không lệ thuộc vào bất cứ quan
điểm nào, và, cũng không nhờ cậy
vào bất cứ ký hiệu nào (thuộc
về ngôn ngữ hay những gì khác).
Loại kiến thức thấp tùy thuộc
vào quan điểm mà chúng ta bị đặt
vào, hoặc chỉ là những giả
thiết của chúng ta, và tùy thuộc vào
những ký hiệu mà chúng ta dùng để
tự bày tỏ.
Đặc ̣điểm
thứ nhì của phái Trung Quán là tin
tưởng vào sự nhất thống;
sự nhất thống này có khuynh hướng
bác bỏ tất cả những phân hóa và
dị biệt, vì coi rằng chúng ta là
những hiện tượng hư ảo. Phái
Trung Quán cho rằng tất cả những
đa nguyên này chỉ là cái màn che dấu
thực tướng của chân lý tối
hậu, duy nhất và vô nhị. Tuy nhiên, quan niệm
về thực tướng bất nhị (advaya)
này đặt cơ sở trên những
biện luận lý để cố gắng cho thấy
sự bất khả đắc của
“tự-tánh” (own-nature) (svabhàva), tự
ngã hoặc nhân quả.
Dù cho họ nắm
vững những kỹ xảo luận lý
thích hợp, người ta có thể
hoặc không thể phê bình những biện
luận của phái Trung Quán. Người ta
có thể phê bình biện chứng pháp
của phái Trung Quán và bảo rằng
những ̣điều có vẻ phi lý và
mâu thuẫn do những lý luận biện
chứng pháp đó gây ra có thể
được giải thích, hoặc giải
quyết, bằng một hệ thống luận lý
bao quát hơn. Nhưng, người ta không thể
phê bình phái Trung Quán, vì lúc nào
họ cũng có thể khoác chiếc áo
lãnh đạm và nói rằng họ không
thấy có gì đáng nói và cũng
chẳng quan tâm. Nếu những lý luận
của phái Trung Quán dẫn tới những
phi lý cho thấy rằng chúng ta là ngụy
biện ẩn tàng, thì đó chỉ là
lầm lỗi trong luận lý của đối
phương, hoặc vì họ đã không
áp dụng luận lý khi nói về cái
tối hậu. Nguyệt Xứng nhấn mạnh
rằng phái Trung Quán không bao giờ phủ
nhận rằng luận lý chỉ thành công
một cách hữu hạn ở giai tầng chân
lý thế tục. Nhưng, có lẽ có
người thấy cần nói thêm ở
điểm này, rằng những nghịch
lý hoặc phí lý có vẻ là
mục tiêu mà phái Trung Quán cảm thấy
những luận lý của họ phải
đạt tới, chứ họ không nghĩ
rằng chúng ta nan đề cần giải
quyết bằng một lý thuyết hay hơn
và bao quát hơn.
Một ý niệm
trọng yếu khác của tất cả các
triết gia thần bí là niệm về cái
“không thể bày tỏ.” Chân Lý Tối Hậu không
thể bày tỏ, nhưng có thể liễu
ngộ bằng trực giác. Ý niệm này
cũng xuất hiện trong triết học của
phái Trung Quán. Vì sự hiểu biết, hay
tư tưởng, của chúng ta luôn luôn
vượt xa ngôn ngữ – là thứ chỉ
đại diện cho những điều chúng ta
hiểu biết – do đó sự liễu ngộ
bằng trực giác này có một
giá trị giáo dục rất lớn trong
triết học. Điều này cũng có thể
là một thử thách để sửa
đổi, xác minh, và tái nhận xét
những triết thuyết của chúng ta. Nhưng,
nếu chúng ta diễn giải – một cách sai
lầm, theo thiển ý của bút giả –
rằng điều đó có nghĩa là
chúng ta nên từ bỏ tất cả những
nổ lực phân tách theo lý trí, thì
chúng ta sẽ thấy mình trở thành
những người nghèo nàn đang
dự đám tang của triết học.
Tu Viện Bảo
Pháp
Ngày
4 tháng 7 năm 2000
---
o0o ---
Tŕnh
bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 1-4-2006