|
PHẬT
PHÁP VỚI TUỔI TRẺ
(tập
hợp bài viết đã đăng trên tập san Pháp Luân)
TÂM MINH
VƯƠNG THÚY NGA
(chưa có)☺
Tuổi trẻ đến với đạo Phật với nhiều bỡ ngỡ
như người lạc vào khu rừng đầy hoa thơm cỏ lạ nhưng lại khó tìm
lối ra. Tiết mục “Tuổi Trẻ Với Phật Pháp” đến với các bạn trẻ để
chúng ta cùng tìm hiểu và thực hành Phật Pháp, hầu đạt được an
lạc, hạnh phúc và thảnh thơi ngay trong cuộc sống trước mặt cho
bản thân, gia đình và cho mọi người quanh ta. Kính mời quý vị và
các bạn trẻ cùng theo dõi câu chuyện hôm nay với tiêu đề “Ăn
chay, Ăn mặn” với các bạn trẻ (A), (B) và (C). Đây là một vấn đề
mà nhiều người quan tâm đến, lại là một vấn đề hết sức tế nhị
nên chúng tôi không dám tự tiện lý luận mà phải dựa vào những
bài viết của hai vị sau đây: một là Tiến sĩ Victor A. Gunesekara,
người Úc gốc Tích Lan, hiện là giáo sư đại học Queensland và là
tổng thư ký hội Phật Giáo Queensland, Úc Đại Lợi; hai là Đại đức
Thích Trí Siêu, ở Chùa Linh Sơn, Paris, Pháp quốc.
A: Này các bạn ơi, các bạn có biết các vị
tu sĩ Phật giáo (PG) Tây Tạng ăn thịt bò không? Nghĩa là họ
không ăn chay đó mà. Quý thầy tu Việt Nam mình mà thuộc Nam tông
cũng vậy, ăn mặn đó! Nhưng họ chỉ ăn một bữa.
C: Bậy nào, tại sao lại như vậy được?
B: Không phải bậy đâu. Các bạn có biết
không? Chúng ta thường tiếp xúc với quý Thầy tu Bắc tông, quí vị
này theo truyền thống “tu hành thì phải ăn chay” nên chúng ta
ngạc nhiên khi gặp những vị tu sĩ PG ăn mặn nghĩa là ăn thịt đó
thôi. Thật ra khi xưa, có nhiều sự kiện được ghi lại trong đời
sống đức Phật và chư Tỳ-kheo, ban đầu họ đã ăn thịt.
A: Thật vậy sao?
B: Thật chứ! Này nha, hồi đức Phật còn tại
thế, khi đi khất thực, ai cho cái gì, quý Thầy ăn cái đó, không
phân biệt ngon dở. Có câu chuyện kể rằng Đại đức Pindola
Bharadvaja đã thản nhiên ăn ngón tay của một người cùi rụng rơi
vào bình bát của Ngài, khi người này cúng dường vật thực. Như
vậy, việc ăn chay hay ăn mặn đâu còn là vấn đề nữa?
C: Đức Phật có cấm các thầy Tỳ-kheo ăn thịt
không?
B: Thời đức Phật còn tại thế, khi đi khất
thực, Tỳ-kheo được phép ăn 5 thứ thịt, gọi là ngũ tịnh nhục.
A: Đó là 5 thứ thịt gì vậy?
B: Đó là qui định về việc ăn thịt: 1. Thịt
ăn mà không thấy người giết. 2. Thịt ăn mà không nghe tiếng của
con vật kêu la. 3. Thịt ăn mà không nghi người ta giết vì mình
và cho mình ăn. 4. Thịt của con thú tự chết. 5. Thịt của con thú
khác ăn còn dư. Có chỗ người ta ghi gọn lại là ‘‘Tam tịnh nhục’’
(không thấy, không nghe, không nghi ngờ) để nói đến qui định của
đức Phật về việc ăn thịt.
C: Vậy còn theo giới luật thì sao?
B: Trong giới luật của Tỳ-kheo (Pratimoksha),
dù là 227 giới của Tiểu thừa hay 250 giới của Đại thừa đều không
có giới nào cấm ăn thịt cả. Do đó, một vị Tỳ-kheo ăn thịt chay
hay thịt mặn đều không thể xem là phạm giới được. Ngoài ra, các
bạn không nghe người ta nói ‘‘ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói
dối’’. Câu này không phải nói ăn mặn tốt nhưng là để cảnh tỉnh
người ăn chay, vì nhiều người ăn chay thì sinh tâm ngã mạn, chê
người không ăn chay.
A: Như vậy tại sao Phật tử Đại thừa lại có
giới ăn chay?
B: Trong 2 kinh Đại thừa Lăng-già và Đại
Bát-niết-bàn, đức Phật dạy đệ tử không được ăn thịt cá, vì như
vậy làm mất hạt giống từ bi. Trong Kinh Phạm Võng nói về Bồ tát
giới cũng có 10 giới trọng và 48 giới khinh (trong đó giới khinh
thứ 3 là cấm ăn thịt). Vì vậy, ai thọ Bồ-tát giới phải ăn trường
trai. Gần đây Thượng tọa Đức Niệm soạn dịch cuốn Tại gia Bồ-tát
giới gồm 6 giới trọng và 28 giới khinh, trong đó không bắt buộc
phải trường trai nữa mà phải giữ ít nhất là 6 ngày chay trong
một tháng.
C: Như vậy, nếu ta thích ăn chay vì lòng từ
bi hay giữ giới Bồ-tát thì cứ việc ăn chay, mấy ngày trong 1
tháng cũng được, ăn chay trường cũng được nhưng đừng chỉ trích
hay coi thường người không ăn chay như ta, có phải không?
B: Đúng rồi, bạn nắm vững vấn đề ăn chay ăn
mặn rồi đó!
A: Các bạn có biết rằng Phật tử Nam tông
chỉ trích quý thầy Bắc tông ăn chay là ‘‘chạy theo Đề-bà-đạt-đa’’
không? Tại sao vậy hả?
B: Tại vì vào thời đức Phật, Đề Bà Đạt Đa
yêu cầu Ngài ban hành thêm 5 giới luật của hàng xuất gia: 1.
Tỳ-kheo phải sống trọn đời trong rừng; 2. Tỳ-kheo phải sống đời
du phương hành khất; 3. Tỳ-kheo phải đắp y may bằng những mảnh
vải rách lượm ở các đống rác hay trong nghĩa địa; 4. Tỳ-kheo
phải sống dưới gốc cây. 5. Tỳ-kheo phải ăn chay suốt đời. Đức
Phật tuyên bố rằng các đệ tử của Ngài được tự do hành động về 5
điều này, muốn theo hay không tùy ý.
C: Nghe nói chư Tăng và các Lạt ma Tây Tạng
ăn thịt bò và đặc biệt thịt Yak (một loại bò núi rất to) phải
không? Các bạn có biết tại sao không ?
B: Có một lần trong một buổi thuyết pháp,
Lạt ma Thrangou Rinpoche trả lời câu hỏi “tại sao các sư Tây
Tạng không ăn chay?” như sau: dân Tây Tạng giết một con Yak nuôi
được 10 người trong một tháng, trong khi đó nấu một bó cải có
thể làm chết biết bao nhiêu côn trùng sâu bọ mà chỉ nuôi được
một người trong một bữa! Vậy thì cái nào lợi và ai sát sanh
nhiều hơn!
A: Cũng có lý của họ. Tương tự, chúng ta
thường nghe mấy bà nội trợ thắc mắc: ăn chay là tránh sát sanh
nhưng còn chuyện xịt thuốc cho ruồi, kiến, gián, chuột v.v...
trong nhà bếp, nhà kho v.v.. chết thì làm sao đây? Đó là chưa
nói làm ruộng, làm vườn, trồng cây v.v... lại còn phải xịt thuốc
trừ sâu nữa!
B: Đúng vậy, sau khi nghe hết mọi lý lẽ, ăn
chay hay ăn mặn là tùy ý bạn; cái chính mà người Phật tử cần lưu
tâm là ăn để sống, để nuôi thân chứ không phải sống để mà ăn”.
C: Nói đúng lắm, chúng ta ai cũng nghe câu
bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất nghĩa là bệnh từ miệng
vào và tai họa từ miệng mà ra vì vậy phải ăn sao cho đúng phép
dưỡng sinh.
A: Thế nào là đúng phép dưỡng sinh? Nghe
nói người Tây phương không phải là Phật tử họ cũng ăn chay đó,
vì ăn chay có nhiều chất bổ dưỡng có phải không?
C: Phải rồi! Ăn chay rất tốt chứ, vì ăn
chay là ăn các loại ngũ cốc, hoa quả, rau cải tươi, bơ sữa,
fromage (cheese), đậu, mật ong, nước trái cây, nước suối v.v...
là những loại thực phẩm đầy đủ chất bổ dưỡng cho cơ thể, đầy đủ
sinh tố, giúp cho tâm trí bén nhạy, sáng suốt, và vắng lặng. Còn
những thức ăn như thịt cá, hành tỏi, rượu, cà phê, thuốc lá,
thuốc phiện v.v... đồ hộp, đồ gia vị, đồ hóa học đều có hại cho
cơ thể, làm tiêu hao năng lực, kích thích cả thân và tâm trí,
làm con người mất tự chủ. Càng dùng ít càng tốt.
B: Đó chính là lý do người ta càng ngày
càng ngán và sợ thịt. Đó là chưa nói ăn thịt làm cho dạ dày mau
mệt, những loại dầu thực vật tốt cho cơ thể hơn là dầu động vật
v.v… Ngoài ra còn phải ăn thong thả, ăn vừa đủ, đừng để quá no;
phải biết ăn theo mùa, những trái cây rau quả đúng mùa thì vừa
rẻ vừa tốt và bổ dưỡng.
A: Nãy giờ chúng ta chỉ nói chung về ăn
chay và ăn mặn mà chưa đi sâu vào chi tiết như tại sao có những
luận cứ chống lại việc ăn thịt về phương diện tôn giáo? Nói rõ
hơn là đạo Phật.
B: Trong kinh Lăng Già nói rằng chúng ta
không nên ăn thịt thú vật vì vài lý do sau đây: 1. Những thú vật
hiện nay có thể là bà con bạn bè với chúng ta trong những kiếp
quá khứ. 2. Chính cha mẹ bà con bạn bè của chúng ta hôm nay có
thể tái sanh làm thú vật trong các kiếp sau này. 3. Thịt được
xem là ô uế vì sự phóng uế của thân xác. 4. Viễn ảnh bị giết
khiến cho thú vật kinh hoàng. 5. Toàn bộ thịt chẳng khác gì một
xác chết thối rữa. 6. Ăn thịt có thể khiến cho tánh tình thêm
nóng nảy, độc ác, gợi cảm nhục dục. 7. Theo bản tánh tự nhiên,
con người không phải là con vật ăn thịt.
C: Thật vậy đó, cơ thể con người giống loài
ăn cỏ nhưng không hoàn toàn là loài ăn cỏ vì cấu trúc dạ dày của
con người khác hẳn với loài ăn cỏ, nhưng bộ ruột dài thì giống
với loài ăn cỏ mà khác với loài ăn thịt. Đó là một cơ cấu thỏa
hiệp giữa loài ăn cỏ thuần túy và loài ăn thịt thuần túy; vì
vậy, “con người là một loài ăn tạp”. Thực phẩm chay thích hợp
cho sức khoẻ con người vì trong các thức ăn chay có các chất đạm
cao để cân bằng với lượng Cholesterol dư thừa trong cơ thể. Bệnh
cao Cholesterol là hậu quả tai hại của việc dùng quá nhiều sản
phẩm từ động vật.
A: À, mà các bạn có biết vào thời đức Phật,
các tôn giáo khác có cấm ăn thịt không?
C: Không, không phải tất cả tín đồ các tôn
giáo đều bị cấm ăn thịt; bởi vì bạn không nhớ là ở Ấn Độ có tục
lệ giết súc vật để tế thần linh đó sao? Chính đức Phật đã lý
luận với người Bà-la-môn tế lễ khi cứu một con dê con sắp bị
thọc huyết đó! Tuy nhiên, đa số tín đồ Hindu (Ấn Độ giáo) lại ăn
chay, hay ít nhất họ tránh ăn thịt bò. Còn phái Kỳ-na thì “kỹ
lưỡng” hơn nữa; họ không những chỉ ăn chay mà lại còn cấm ăn một
số trái cây có một số sinh vật bé li ti sống trên đó như trái
vải, họ cũng cấm dùng bữa sau khi mặt trời lặn vì như vậy sẽ có
một số thiêu thân lao vào bếp lửa chết v.v…
B: Còn nữa, theo kinh Thánh thì sau khi tạo
dựng nên Trời đất Thượng đế đã ra lệnh cho con người phải ăn rau
đậu, nhưng lệnh cấm đó đã được hủy bỏ sau cơn đại hồng thủy rồi.
Ở Trung Hoa thì vào năm 511 trước Tây lịch, Lương Võ Đế đã ra
lệnh cấm ăn thịt và tại hầu hết các nước Tây phương và nơi tiểu
lục địa Ấn Độ đã có sự chống đối việc ăn thịt các con vật cưng
(pets) hay các loài bò sát.
A: Nghe nói ở Ấn Độ thời đức Phật tuy không
cấm ăn thịt nhưng cũng có một số con vật không được đụng tới
phải không?
C: Phải đó, ở xã hội Ấn Độ thời đó, thịt
của 10 sinh vật sau đây bị cấm xử dụng; đó là: thịt người, thịt
voi, ngựa, chó, rắn, sư tử, cọp, beo, gấu và linh cẩu.
A: Tại sao những con vật này lại ưu tiên?
B: Mặc dù không ai nói chi tiết tại sao
nhưng ngầm hiểu rằng sở dĩ có sự cấm đoán vì đã được công chúng
đồng ý. Đức Phật của chúng ta thường có khuynh hướng chấp nhận
những phong tục xã hội đang thịnh hành, miễn là đừng mâu thuẫn
với những nguyên lý giáo pháp của Ngài.
C: Tại sao trong 10 con vật không có con bò
cái? Hiện nay nó là con linh vật cấm kỵ nhất của Ấn Độ giáo đó
mà!
B: Điều đó cho thấy có lẽ vào thời đức
Phật, Ấn Độ giáo chưa được phát triển và sự kiện bò cái sau này
mới được thừa nhận. Tuy nhiên, đối với chúng ta hôm nay việc
quan trọng là qua cuộc nói chuyện này, tóm tắt cho được “tại sao
Phật dạy người Phật tử phải ăn chay” và “ăn chay như thế nào mới
được gọi là đúng với Chánh pháp”.
A: Vậy thì các bạn làm ơn tóm tắt lại hai
trọng tâm đó đi!
B: Những lợi ích của sự ăn chay là: thân
thể khỏe mạnh, tránh các bệnh nan y và làm việc được dai sức. Ăn
chay giúp trí óc được sáng suốt, tánh tình thuần hậu và nhất là
tập thói quen nếp sống thanh bạch, ăn uống giản dị, thực hiện
hạnh “ít muốn, biết đủ” của người con Phật.
C: Còn nữa! Ăn chay đúng Chánh pháp là ăn
chay mà không chấp vào chuyện này, không chê bai người không ăn
chay, không “nhiều chuyện” kiêng cử đủ thứ như chén đũa, soong
nồi v.v… phải để riêng làm phiền đến mọi người trong gia đình,
trong tập thể... điều cốt yếu là mình mượn phương tiện ăn chay
để mở rộng tâm từ.
A: Vậy các bạn có biết, thông thường người
ta ăn chay mấy ngày mỗi tháng không?
B: Ăn chay 2 ngày 1 tháng thì ăn vào ngày
Rằm (15 Âm lịch) và mồng Một; ăn 4 ngày thì thêm 14 và 30 tháng
thiếu thì ngày 29 tức là 30 đó; 6 ngày thì thêm mồng 8 và 23; 10
ngày thì thêm 18, 24 và 28, 29 (hay 27, 28 tháng thiếu); tóm lại,
nếu ăn chay 10 ngày thì vào những ngày: 1, 8, 14, Rằm, 18, 23,
24, 28, 29, 30 (hay 27, 28, 29 tháng thiếu)
C: Như vậy buổi thảo luận về ăn chay ăn mặn
hôm nay cũng tạm đầy đủ phải không các bạn? Chúng ta hãy tạm
biệt nhau và xin hẹn lần sau nha!
A&B: Tạm biệt! Tạm biệt !
05. Vu lan &
địa
ngục
trong tâm thức
mỗi
người
Mỗi mùa Vu Lan về, chúng ta thường nghĩ đến
và kể cho nhau nghe về Mục Liên Thanh Đề, người mẹ nghiệp chướng
nặng nề của ngài Mục-kiền-liên và thương hại cho bà đã bị đọa
vào địa ngục, khi vừa đưa bát cơm vào miệng thì cơm đã hóa thành
than hồng cháy đỏ, bụng đói mà không sao ăn được v.v... Câu
chuyện xưa còn đó, nhưng có một điều chúng ta có quên không? Đó
là: địa ngục ấy vẫn hiện tiền trên thế gian này, trong cõi đời
này. Nhiều người trong chúng ta cũng đã từng trải qua thảm cảnh
ấy: bưng chén cơm ngon lành lên ăn, nhưng ăn không vô vì lửa thù
hận, lửa đố kỵ, lửa nghi kỵ, lửa ghen ghét, lửa cố chấp v.v...
đang bừng cháy trong tâm, phải không bạn? Đó chính là địa ngục
trong tâm thức của mỗi người chúng ta; hôm nay, nhân mùa Vu lan,
chúng ta thử tìm hiểu về địa ngục ấy.
Chúng ta thường nghe nói: “Khi tham sân và
chấp thủ nổi dậy thì trăm ngàn cửa địa ngục mở ra trước mắt” hay
“một niệm sân nổi lên, đốt cháy cả rừng công đức”. Như vậy câu
hỏi: “Địa ngục có hay không? Nếu có thì cảnh giới ấy ở đâu?” rõ
ràng đã được trả lời rồi, phải không bạn?
Địa ngục là nơi thọ nghiệp của những chúng
sanh tạo nhân tham lam, sân hận và si mê. Có người bị ba thứ độc
dược này khống chế và sai sử, luôn sống trong những toan tính,
những âm mưu thâm độc để hại người rồi để lo sợ bị người hại và
từ đó ăn không ngon, ngủ không yên, sống trong ác mộng; cuộc đời
bỗng dưng thành địa ngục, triền miên đau khổ phiền não, đó cũng
là nguyên nhân của luân hồi trong 3 đường ác. Nói là ba thứ độc
nhưng nguyên nhân cũng là thứ độc tưởng như “thường tình” nhất,
đó là tham - đầu mối của mọi lỗi lầm đáng tiếc. Thật vậy, con
người khi tham mà không được toại nguyện thì hay nổi sân và khi
tham, sân đã chế ngự tâm ta thì ta không còn kiểm soát được lời
nói, ý nghĩ và việc làm nữa, tâm trở nên bất an, náo động và hỗn
loạn (biểu hiện của SI), nói những lời không nên nói, làm những
việc không đáng làm, tư tưởng xấu xa đen tối, nói cách khác, ta
đang ở trong cảnh giới địa ngục vậy.
Tại sao tham? Làm sao để chế ngự tham, sân,
si? - Tham là vì quá ích kỷ, chỉ biết thương mình, chỉ nghĩ tới
mình, cái gì cũng ‘Tôi’ và ‘của tôi’. Bao nhiêu công sức, trí óc
đều tập trung lo cho cái ‘Tôi’ và cái ‘của tôi’: Tôi phải giàu,
tôi phải giỏi, con tôi phải hạnh phúc v.v... Suy cho cùng, ngay
cả tình mẫu tử có khi cũng chỉ là một dạng đặc biệt của lòng
tham, nói theo danh từ Phật học là do “chấp ngã” (chấp là có một
cái ‘Tôi’). Thật vậy, đã có những bà mẹ thương yêu con mình đến
nỗi phải giết con của người khác (để cướp ngôi vua chẳng hạn;)
có những bà mẹ hành hạ con người khác không chút thương xót để
phục vụ cho con mình tối đa; có những bà mẹ thương con bằng cách
ép buộc nó đi theo con đường mình chọn, bất chấp nguyện vọng,
chí hướng, tâm tư, tình cảm của con, v.v...
Sự bành trướng của cái ‘Tôi’ là cái ‘của
tôi’. Nhân danh ‘quê hương tôi’, ‘gia đình tôi’, ‘đất nước tôi’,
‘đảng phái tôi’, v.v... người ta đã gây ra biết bao nhiêu là lỗi
lầm, tội ác? Thật vậy, tham sân si quả đã xâm chiếm hành tinh
chúng ta: Tham tiền, tham địa vị, danh vọng, tham mở rộng thị
trường, phát triển quân sự, bành trướng thế lực chính trị,
v.v... Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi một ngày nào đó thế giới
này bốc lửa, nếu chúng ta cứ để cho tham, sân, si cháy bùng hay
cháy ngầm trong lòng mỗi người, mỗi phe nhóm, mỗi đảng phái, mỗi
quốc gia, v.v... Quả đất này rồi sẽ nổ tung khi 3 cái rễ lớn của
tâm tự ngã tham, sân, si khoét sâu vào lòng nó.
Muốn loại bỏ tham, sân, si, ta cần phải
huấn luyện tâm mình, vì một cái tâm thiếu huấn luyện luôn luôn
dính mắc vào ưa - ghét, lấy - bỏ: Nắm giữ cái ưa thích, xua đuổi
cái ghét bỏ, luôn phản ứng với mọi chuyện xảy ra trong chiều
hướng ấy, đó là một cái tâm ‘mất quân bình và mỏi mệt’. Muốn đưa
tâm về trạng thái quân bình và thảnh thơi ban đầu, ta phải đối
diện với những tư tưởng, tình cảm và cảm giác của chính mình,
phải quan sát một cách đơn thuần những gì đang xảy ra trong tâm
ta khi chúng vừa khởi lên với một thái độ khách quan, không phê
phán, đánh giá, tự hào hay xấu hỗ v.v... và không can thiệp vào
những gì đang xảy ra. Nói cách khác là ta phải thực tập chánh
niệm trong mọi lúc và ở mọi nơi vậy. (Thực tập chánh niệm là ý
thức rõ ràng mình đang làm gì, nói gì, nghĩ gì. Ví dụ: khi đi
biết là mình đang đi, khi ăn cơm biết là mình đang ăn cơm, khi
giận, biết là mình đang giận, v.v...)
Khi việc tu tập về sự quan sát đơn thuần
này được phát triển và tiến bộ, chúng ta sẽ đối diện với tư
tưởng và cảm giác của mình cũng như với hoàn cảnh và với tha
nhân một cách khách quan, không còn bị tham ái, chấp thủ và sân
hận chi phối. Danh từ nhà Phật hay gọi là “đối cảnh mà không
khởi niệm” vậy. Từng bước, chúng ta sẽ loại dần 3 thứ độc tham,
sân, si ra khỏi tâm mình để thật sự có an lạc và giải thoát. Một
cách tích cực hơn, như trong Duy thức dạy, ta phải tu tập thường
xuyên 3 thiện tâm: Vô tham, vô sân và vô si. Vô tham biểu lộ qua
sự ‘ít muốn và biết đủ’, lòng độ lượng, không dính mắc, và bố
thí; vô sân biểu lộ qua tâm từ (đem vui), tâm bi (cứu khổ), nhẫn
nhục, tha thứ, hỷ xả; và vô si biểu lộ qua sự tỉnh thức, hiểu
biết, nhìn mọi sự vật, hiện tượng và cả con người một cách như
thật (như - nó - là) không thành kiến, không tham đắm, cũng
không xua đuổi.
Ngày nay, con người đua nhau đi tìm các
hành tinh mới, tìm hiểu mặt trăng, hỏa tinh, v.v... đua nhau chế
tạo vũ khí hạt nhân, hơn thua nhau trong các lĩnh vực kinh tế,
chính trị... nhưng lại quên một điều vô cùng quan trọng: Ấy là
sự hiểu biết sâu sắc về nội tâm mình. Chiến tranh thế giới, hiểm
họa lớn nhất của hành tinh chúng ta, phải chăng chỉ là sự biểu
hiện của tham, sân, si, của lương tâm con người dưới một hình
thức vi tế hơn? Chỉ có cách quay về với nội tâm, tìm hiểu chính
mình, tu tập để loại bỏ ác tâm thì nhân loại mới có thể tự cứu
mình ra khỏi họa diệt vong do tham, sân, si gây ra, và mỗi người
chúng ta mới không bao giờ phải đọa vào địa ngục của 3 độc do
chính mình dựng lên để nhốt mình mà thôi.
Cầu mong cho chúng ta và tất cả loài hữu
tình sớm thức tỉnh để đừng ai phải trở thành một Thanh Đề với
chén cơm hóa thành than đỏ, đừng ai bị đau khổ vì cô đơn trong
địa ngục “ngã mạn”, đừng ai bị lạnh lẽo vì tự giam trong tháp
ngà thành kiến và cố chấp của mình (cũng là một loại địa ngục ở
trần gian), đừng ai tự cho mình là “hòn núi cao” để khỏi bơ vơ
vì không có tình bạn chân thật, và đừng ai vì “cái tôi” mà phải
hy sinh cái “chúng ta” hay cái “mọi người” để tất cả chúng ta
được sống chung trong hoà thuận, tin yêu, vui vẻ trên “hành tinh
xanh” này.
06. Tuổi
thơ và người lớn
Kính thưa Anh Chị Em Áo Lam,
Là huynh trưởng GĐPT, đối tượng giáo dục
của chúng ta là các em Oanh Vũ, các em ngành Thiếu..., nói chung
là tuổi trẻ. Có nhiều huynh trưởng có thể dạy và chơi với đoàn
sinh ở mọi lứa tuổi, có huynh trưởng lại chỉ quen dạy và chơi
với các em Oanh Vũ hay ngành Thiếu, có người lại chỉ quen và
thích nói chuyện, tiếp xúc với ngành Thanh... Hôm nay, nhân
trong mùa trăng trung thu, chúng ta thử tìm hiểu về tuổi thơ.
Tất cả chúng ta ai cũng đã từng là trẻ con
nhưng khi nói về tuổi thơ, ai cũng đề cập đến như về một thế
giới bí mật, xa lạ nào đó như chúng ta chưa bao giờ là một đứa
con nít vậy!!☺☺!! Hình như đó là tâm lý chung của mọi người. Từ
thuở xa xưa, trong đồng dao, ca dao Việt Nam đã có chuyện Chú
Cuội với Hằng Nga rồi. Theo truyền thuyết đó, Cuội là một thiếu
niên mới lớn, nhà nghèo nhưng không ham cơm áo, gạo tiền mà ham
mơ mộng. Đi chăn trâu không lo chăm chú theo dõi trâu lại lo
chạy theo những hình bóng của tiên nga với vũ khúc nghê thường
làm say mê lòng người (mà chỉ có Cuội là có thể nghe và thấy
được Hằng Nga và bầy tiên nữ chứ đâu có ai thấy được!) Kết quả
là bỏ trâu ăn lúa của người ta, về nhà bị đánh đòn. Nhưng ai nói
gì thì nói Cuội vẫn ‘giữ vững lập trường’ là thật có nghe khúc
hát của tiên nữ, thật có thấy Hằng Nga và không có bài hát nào ở
trần gian có thể so sánh được cũng như không có cô gái nào trong
làng đẹp như nàng Hằng Nga mà Cuội đã ‘thấy’. Không biết cậu bé
đã thấy thật hay chỉ thấy trong lúc mơ màng nhưng kết quả tai
hại tiếp theo là Gái - vợ chưa cưới của Cuội mà gia đình đã hỏi
cho - cũng cho rằng Cuội đã mắc bệnh tâm thần (nói theo ngôn ngữ
mới) và từ bỏ Cuội. Phần Cuội, chàng trai đúng như đang sống
trên mây, không buồn vì mọi người cho mình điên, bị đánh đòn, bị
Gái bỏ, trái lại vẫn đi tìm bầy tiên nga, vẫn lắng nghe ‘tiếng
hát Thiên Thai’ và một ngày kia chàng trai đã bỏ làng đi biền
biệt. Người ta đồn rằng chàng đã lên cung trăng với cô Hằng...
Câu chuyện bịa đặt nhưng thật nên thơ, nói
lên cái đặc tính của tuổi thơ - đó là sự nhạy bén với cái đẹp,
sự mơ mộng đến những phương trời xa lạ nhưng hấp dẫn khác hẳn
với cuộc sống thực tế đơn điệu hằng ngày. Tuổi thơ quả thật
thiếu thực tế nhưng vô cùng can đảm, không biết e sợ mà trái lại
ưa khám phá những vùng đất mới, khung trời mới... Chỉ có tuổi
trẻ mới ‘nghe’ được những âm thanh tuyệt vời, mới ‘thấy’ được
‘thế giới thần tiên’. Thế giới ngày nay có phong phú hơn, có
muôn màu muôn vẻ hơn là cũng nhờ những bàn tay và khối óc của
tuổi trẻ: dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân... như chàng thanh
niên Tất-đạt-đa năm xưa dám bỏ cuộc đời thường - dù đó là cuộc
sống cao sang của một vị vương giả - để dấn thân vào một phương
trời vô định với muôn vàn khó khăn, thử thách... tưởng chừng như
không thể vượt qua. Chính vì Chàng cũng đã ‘nghe’ được tiếng gọi
‘bí mật’ của lòng từ bi, gọi là ‘bí mật’ vì đâu có ai nghe được;
người ta chỉ nghe tiếng đàn hát, nói cười,... thường tình mà
thôi. Cuối cùng, Chàng đã chiến thắng chính mình để đem lại đạo
giải thoát cho nhân loại hôm nay.
Đó là một cách nhìn, một lối suy nghĩ, một
cách nói biểu tượng của chúng ta về tuổi thơ. Chúng ta nói trẻ
thơ sống trong thế giới thiên thần, chúng ta nói cuộc đời của
trẻ con ‘mỗi trang là một bài thơ’... nhưng chúng ta phải thấy
rằng thế giới ấy chỉ thần tiên trên mặt nổi; thực chất, thế giới
ấy cũng đầy cạm bẫy, đầy cám dỗ nguy hiểm. Thật vậy, nếu trẻ con
không được người lớn chăm sóc, giáo dục và bảo vệ thì nguy hiểm
có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Này nhé, các em đâu có biết lửa
các em đốt từ một que diêm nhỏ xíu có thể gây nên hỏa hoạn? Các
em đâu biết leo cây thì có thể bị té bể đầu gảy cổ. Các em đâu
biết đi vào những chỗ cỏ rậm có thể bị rắn cắn; ăn trái cây bậy
bạ có thể bị độc chết người; tự động bước xuống nước gặp chỗ sâu
là chết đuối liền, v.v…
Nói tóm lại, tuổi thơ sống thường xuyên
trong nguy hiểm đe dọa, đó là chưa nói đến những đe dọa do chính
người lớn gây ra. Như có một bà mẹ bỏ quên con nhỏ trong xe đi
công chuyện, khi ra xe thì em bé đã chết vì nóng và ngạt; hay có
ông cha uống rượu say cũng bỏ quên con mình cả đêm trong xe,
sáng ra khi người cha tỉnh rượu sực nhớ đi tìm con thì em bé đã
chết cóng từ lâu!
Còn ‘người lớn’ thì sao? Chúng ta tự cho
mình khôn ngoan, biết phân biệt điều gì nguy hiểm, điều gì không.
Có thật thế hay không đây? - Thưa không! Chúng ta vẫn thường
xuyên chơi những trò chơi nguy hiểm nhưng tự hào mình khôn ngoan,
không coi những trò chơi này là dại dột. Thí dụ, như chiến tranh.
Trò chơi này không nguy hiểm sao? Nhưng cả những bậc được tôn là
Thánh nhân vẫn tán thành chiến tranh, cho đó là hành xử khôn
ngoan để giải quyết những vấn đề khó giải quyết. Trẻ con không ý
thức được những nguy hiểm rình rập quanh mình vì chưa nhận thức
đầy đủ về thế giới quanh nó. Còn chúng ta, chúng ta đã biết rõ
quy luật thiên nhiên và xã hội quanh ta chưa? Tất cả những công
trình nghiên cứu về khoa học cũng như về nhân văn không có định
luật nào là vĩnh cửu, định luật cũ được thay bằng những định
luật mới, sai lầm trước được điều chỉnh bởi ‘sự thật’ sau; để
rồi một thời gian sau sự thật này cũng ‘không còn thật’ nữa.
Đúng như lời than thở của một nhà thơ nào đó: ‘Sự thật hôm nay
không thật đến ngày mai’. Nói cách khác, ‘người lớn’ chúng ta
cũng không biết gì nhiều về thế giới quanh mình, và do đó không
ý thức hết được những nguy hiểm đang rình rập và vì vậy, những
điều ta làm và tự cho là ‘đỉnh cao trí tuệ’ biết đâu lại là trò
chơi nguy hiểm của trẻ thơ?
Tuy nhiên, trước mắt, bằng những hiểu biết
kém cỏi của mình, chúng ta vẫn phải bảo vệ tuổi thơ bởi vì chúng
ta là ‘người lớn.’ Muốn có ‘thiên đường tuổi ngọc’ thì phải có
những thiên thần canh giữ thiên đường, thế giới trẻ thơ mới là
thiên đường, còn không thế giới ấy sẽ là địa ngục. Mà thiên thần
và ác quỷ là ai? Chúng lẫn lộn đấy, thưa các bạn! Bởi vì cả hai
tồn tại ngay trong tâm mỗi người chúng ta. Cho nên, có những
điều ta tưởng làm tốt cho trẻ nhỏ, hóa ra làm xấu. Trẻ con không
phải là Bồ-tát; mà ngay cả Bồ-tát khi chưa giác ngộ vẫn còn
những tham lam, ích kỷ, và nhiều tật xấu. Chúng ta chăm sóc các
con em của chúng ta tránh bị ảnh hưởng của những thói hư, tật
xấu của xã hội; nhưng bên cạnh đó còn những tật xấu bẩm sinh,
đúng là ‘nội ma ngoại chướng’. Do vậy, việc chăm sóc và giáo dục
cũng như bảo vệ tuổi thơ không phải là dễ, đó luôn luôn là vấn
đề ‘nóng hổi’ của người lớn chúng ta: Của cha mẹ đối với con trẻ,
thầy cô giáo đối với học sinh của mình, anh chị huynh trưởng đối
với các em đoàn sinh, và ngay cả quý thầy đối với các chú điệu
của mình.■
07. Tụng
kinh – Trì chú – Niệm Phật
Lời thưa: Trong chương trình Phật
pháp của Đoàn sinh cũng như Huynh trưởng có nhiều đề tài mà ai
nấy đều cho là “khó” giảng dạy, xin đưa ra vài ví dụ cụ thể như
sau:
Trong lịch sử đức Phật Thích Ca, chuyện
hoàng hậu Ma-gia sinh thái tử Tất-đạt-đa ở nơi hông phải, không
phải như những bà mẹ bình thường ở thế gian này.
Cõi nước của đức Phật A Di Đà ở phương Tây,
ở đó có không khí, cảnh vật rất thanh tịnh, đẹp đẽ, có chim nói
Pháp rất hay, ai sinh qua đó sẽ tu thành đạo quả. Muốn được sinh
qua đó phải nhất tâm niệm Phật A Di Đà; người được đến cõi này
sẽ sinh ra trong một hoa sen chứ không phải sinh trong bào thai
mẹ như bình thường chúng ta thấy ở cõi Ta bà.
Niệm Phật, trì Chú, tụng Kinh cầu ở tha lực
của chư Phật, chư Bồ-tát. Những mẫu chuyện tiền thân v.v…
Những đề tài trên đây được gọi khó giảng
dạy không phải vì người Huynh trưởng chúng ta thiếu niềm tin, mà
vì thế hệ trẻ hôm nay cái gì cũng đòi “mắt thấy tai nghe” mới
cho là có lý mặc dù họ vẫn hiểu rằng mắt tai của con ngưòi có
khả năng rất hạn hẹp. Những màu sắc mà mắt ghi nhận được không
ngoài dải 7 màu: Đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím (lam = màu
xanh nước biển). Ngoài 2 giới hạn màu đỏ và màu tím thì mắt ta
không thấy được nữa! Tai cũng vậy, những âm thanh quá nhỏ, ví dụ
nhỏ hơn cả tiếng lá rơi, lỗ tai người sẽ chịu thua ngay (nhưng
con chó có thể nghe được) hay những âm thanh quá lớn cũng làm
tai ta đau nhức.
Ngoài ra, đôi khi còn có hiện tượng chính
bản thân một số Huynh trưởng cũng không đồng ý về cầu nguyện ở
tha lực, về những chuyện thần thoại trong lịch sử đức Phật. Đã
nói về tôn giáo tất nhiên phải nói đến đức tin; mặc dù đức tin ở
mọi người có nhiều sắc thái khác nhau, nên khi diễn đạt cũng sai
khác. Ở đây, chúng ta không bàn đến cách hiểu, cách nhìn Kinh,
Chú… từ góc cạnh nào để đưa đến kết luận nào… mà chúng ta chỉ
muốn giới thiệu với anh chị em Huynh trưởng một cách nhìn, một
lối suy nghĩ về những vấn đề trên đây của một số Huynh trưởng
trẻ; họ đã tìm cách áp dụng vào cuộc sống như thế nào và thông
qua thực hành họ đã “thấy” được diệu dụng của Phật pháp, như đức
Thế Tôn đã dạy: “… cũng giống như uống nước, ai uống thì tự biết
nóng lạnh ngọt lạt như thế nào...”, còn chỉ nói suông thì không
ai có thể hiểu ai, không ai tin ai được cả!! ☺☺!! Xin mời các
bạn tham dự buổi pháp đàm của ba Huynh trưởng trẻ A,B,C - trao
đổi với nhau kinh nghiệm thực tập - về đề tài:
Tụng Kinh, Trì Chú, Niệm Phật
A: Kinh thực sự có nghĩa là gì hở các bạn?
Và tụng Kinh để làm gì?
B: Kinh là những lời dạy của đức Phật.
Phương pháp chủ yếu của Kinh là khiến ta thay đổi cách nhìn, từ
đó dẫn ta tới sự thay đổi về nhân sinh quan và vũ trụ quan. Tụng
Kinh là đọc thành tiếng, một mình hay tập thể, để được nghe,
được nhắc nhở về những lời dạy đó, để thân tâm được trong sạch,
sáng suốt.
C: Tại sao tụng Kinh thì tâm được trong
sạch sáng suốt?
B: Tại vì Kinh dạy ta nhìn từ chân lý bất
biến, nhìn theo cái nhìn của Phật. Xin lấy một ví dụ: Từ lâu
chúng ta quen nhìn mọi sự vật, hiện tượng theo cái ưa ghét, lấy
bỏ của mình, như: Chim bồ câu đẹp, cú mèo xấu, mùa Xuân ấm tốt,
mùa Đông lạnh xấu, thích vui ghét buồn v.v… Phật dạy (Kinh dạy)
chúng ta phải nhìn mọi sự vật hiện tượng “như nó đang là”
(as-it-is) với tâm bình đẳng; không thêm thắt, không khởi tâm ưa
ghét hay mong cầu. Như vậy thì tâm mình thanh tịnh, sáng suốt,
không bị ô nhiễm vì tham muốn hay ghét bỏ. Mà thay đổi cái nhìn
tức là thay đổi cách sống, cách suy nghĩ v.v… một sự thay đổi
rất cơ bản đối với người mới tu như chúng ta. Do đó, tụng Kinh
cũng là một cách học Phật pháp thực hành, cũng thuộc về một nghệ
thuật sống sao cho tâm được thanh tịnh.
A: Thật là hay đó! Nhưng mà nhân sinh quan
là gì? Vũ trụ quan là gì?
B: À, xin lỗi, nếu dịch ra tiếng Anh là bạn
hiểu ngay. Nhân sinh quan Phật giáo chẳng hạn, là quan điểm của
Phật giáo về con người, về đời sống con người v.v…; còn vũ trụ
quan là quan điểm về thế giới, về vũ trụ, về sự hình thành và
tan rã của nó. (Nhân sinh quan của PG = Opinion of Buddhism
about human life; vũ trụ quan của PG = Opinion of Buddhism about
the Universe)
C: Và đức Phật dạy ta những gì về nhân sinh
quan và vũ trụ quan? Nghĩa là Kinh đã dạy những gì?
B: Kinh dạy con người là một tập hợp của 5
uẩn: Sắc uẩn (body), Thọ uẩn (feelings), Tưởng uẩn (perception),
Hành uẩn (mental formation) và Thức uẩn (consciousnous). Như vậy,
Sắc uẩn là thân và bốn uẩn còn lại là tâm. Vì vậy, thân này
không chắc thật, sống chết vô thường. Tâm cũng vậy, luôn luôn
biến đổi, dao động, khi Ma khi Phật, không đáng tin cậy.
A: Hay ghê! Hèn gì hôm bữa đọc bài Kinh gì
mà có câu “thân như bọt nước, do gió thổi mà thành; niềm vui nỗi
khổ của chúng sanh cũng thế, có rồi không. Tưởng thì như ánh
nắng nơi cánh đồng xa kia, nhìn thì đẹp nhưng đến nơi có khi
nắng đã tắt” v.v... mình không hiểu gì cả, nay nghe B nhắc lại
lời dạy của đức Phật về 5 uẩn một cách rõ ràng ngắn gọn, thật là
dễ hiểu.
B: Cảm ơn! Vậy là chúng ta đã nắm được ý
nghĩa Kinh là gì và đọc tụng Kinh được lợi ích gì rồi phải
không?
C: Phải rồi, nãy giờ chúng ta chưa tụng
Kinh mà vẫn thấy rất rõ diệu dụng của Kinh rồi đó, phải không
các bạn?
A: Đồng ý, chúng ta có thể đi qua phần thứ
hai là Chú rồi. Chú là gì? Trì Chú là gì? Và tại sao ta cần phải
trì Chú?
B: Chú, tiếng Sanskrit là Dharani, chúng ta
thường gọi theo tiếng Tàu là Đà-la-ni, hay chân ngôn (Mantra).
C: Chú, nói đầy đủ là thần chú, là một câu
hay một nhóm âm... có sức mạnh thần bí (theo Phật giáo Mật tông).
B: Đúng, thần Chú chứa đựng sức mạnh đặc
biệt của vũ trụ hoặc biểu hiện của một khía cạnh nào đó của Phật
tánh; đây cũng là một phương tiện trợ giúp tâm thức của hành
giả.
A: Nghe nói đọc thần Chú là gây được rung
động cùng tần số (frequency) với thần linh phải không?
B: Phải rồi! Vì Đà-la-ni còn được coi là
“tổng trì” nghĩa là thâu nhiếp tất cả - trong một câu kinh ngắn
mang sức mạnh siêu nhiên. Ngoài ra, trong ba cửa: Thân, miệng, ý
thì Mantra thuộc về miệng và tác động thông qua luồng âm thanh
rung động do sự tụng niệm Mantra phát sinh. Hành giả luôn luôn
vừa đọc Mantra vừa quán tưởng một đối tượng và tay giữ một “ấn”.
Theo Mật tông Tây Tạng, chức năng của các Mantra tùy theo thứ
bậc (cao thấp khác nhau); người trì Chú có thể thấy các linh
ảnh, có thể tránh những tai họa sắp xảy ra v.v... Người ta
thường dùng chữ “không thể nghĩ bàn” để chỉ về những diệu dụng
của sự trì tụng thần Chú.
A: Các bạn chưa định nghĩa “Trì Chú” là gì?
B: Trì là nắm giữ một cách chắc chắn; trì
Chú là niệm Chú một cách tinh tấn, và đúng cách như sau:
Lúc đọc Mantra,
Đừng quá gấp rút,
Đừng quá chậm rãi.
Đọc đừng quá to tiếng
Đừng quá thì thầm.
Không phải lúc nói năng
Không để bị loạn động.
C: Đúng rồi đó, mà bạn B này, bạn hay dùng
chữ “hành giả”, hành giả là ai vậy?
A: Là người thực hành thiền định, thực hành
Phật pháp, người tu tập như chúng ta đây, phải không?
B: Phải rồi, đạo Phật là đạo để thực hành,
không phải để thảo luận suông, nên Phật tử chân chính là người
biết đem những giáo lý của đức Phật dạy ra thực hành. Ta có thể
thực hành bất cứ pháp môn nào (Phật có tới tám vạn bốn ngàn pháp
môn!) cũng đều được gọi là “hành giả” để phân biệt với “học giả”
- là những người chỉ nghiên cứu đạo Phật, viết về đạo Phật nhưng
có thể không phải là Phật tử và không thực hành giáo lý Phật đà.
C: Cảm ơn bạn, vậy bây giờ ta trở lại vấn
đề đi, sau khi biết Chú là gì, trì Chú là gì rồi, ta hãy trả lời
câu hỏi “vì sao phải trì Chú?” đi!
B: Chú có công năng phi thường như vậy, nên
nếu hành giả thành tâm trì Chú thì sẽ thấy được hiệu lực ngay và
nhiều lợi lạc không thể tưởng tượng được (nói cách khác là
“không thể nghĩ bàn”); các bạn có biết không? Người Phật tử Ấn
và Tây Tạng còn khắc những câu thần Chú lên các núi đá nữa đó,
ví dụ như câu “Om Mani Padme Hum”. Những nhà du lịch (biết về
Chú, có thể họ cũng là Phật tử) cho biết khi nhìn thấy câu thần
chú này, họ chỉ đọc thầm và quán tưởng ý nghĩa của câu này thôi
mà nghe như cả núi rừng đều có tiếng vang dội lại!
C : Trình độ về định của các vị này thật là
mạnh quá hở các bạn?
A: Phải rồi! Thật là thú vị! Bây giờ các
bạn có thể nói sơ ý nghĩa của các Chú mà anh chị em mình thường
đọc tụng như chú Đại Bi, chú Vãng Sanh, chú Lăng Nghiêm, chú
Chuẩn Đề, chú Cát Tường, chú Thất Phật Diệt Tội v.v... hay
không?
C: Mình chỉ biết sơ ý nghĩa chú Đại Bi là
do mình được đọc “Đà-la-ni xuất tượng”, trong đó giải thích rằng
cứ mỗi âm hoặc mỗi nhóm âm đều là một danh hiệu Phật, Bồ-tát,
chư Long Thần Hộ Pháp, Quỷ Thần, hay Càn-thát-bà v.v... đại ý là
tất cả những vị đó đều hứa bảo hộ, che chở, giúp đỡ cho hành giả
được thân tâm an lạc, tai nạn tiêu trừ để có thể tinh tấn tu
hành đạo giải thoát. Nhưng mà nhớ là họ chỉ bảo hộ mình làm việc
Đạo, lợi ích cho mình và cho mọi người chứ còn nếu làm việc hại
người thì họ không giúp đâu đó nha!☺☺!! Bạn B chắc còn biết ý
nghĩa các Chú khác, nói cho chúng mình nghe đi!
B: Chú Vãng Sanh có hiệu lực giúp hành giả
sám hối chân thật, để tội chướng, nghiệp chướng được tiêu trừ
tận gốc rễ, sớm ngày vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc. Chú
Lăng Nghiêm thì giúp hành giả trí tuệ tăng trưởng, vượt thắng
những chướng ma bên ngoài và cả bên trong lòng mình để thân tâm
an lạc, không bị ràng buộc vướng bận vào ái dục. Tôi nhớ trong
kinh Lăng Nghiêm, lúc ngài A-nan gặp nạn Ma-đăng-già, đức Thế
Tôn sai ngài Văn Thù đem thần Chú đi cứu A-nan, không biết có
phải là thần Chú này không. Chú Chuẩn Đề được xem là thần Chú
diệt trừ tà ma, quỷ quái v.v... không chỉ bên ngoài mà còn những
thứ ma dễ sợ nhất, khó trừ nhất vẫn là năm mươi mấy thứ ma ở
ngay trong tâm mình: Ma lười biếng, ma ngã mạn, ma đố kỵ, ma sân
hận, ma si mê v.v... (đức Phật đã giảng rõ ràng trong kinh Lăng
Nghiêm). Chú Cát Tường có hiệu lực giúp thân tâm an lạc, tai nạn
tiêu trừ hay tránh xa, ngày đêm an lành gặp mọi điều may mắn.
A: Còn “Thất Phật diệt tội chân ngôn” là
sao? Có ý nghĩa gì?
B: Đó là thần chú gồm tên bảy vị Pháp vương
có công năng giúp hành giả trong việc chuyển hóa tâm thức, chân
thành sám hối những tội nghiệp lớn nhỏ trong nhiều đời nhiều
kiếp để có thể diệt trừ những tội lỗi đã tích tụ từ ngàn xưa do
vô minh gây ra. Ngoài ra, có nhiều chân ngôn như chân ngôn của
Bồ-tát Quán Thế Âm “Om Mani Padme Hum” (chúng ta thường nghe Tàu
phiên âm “Án Ma Ni Bát Di Hồng” đó). Thần chú này chỉ có sáu âm
nhưng có công năng diệt trừ sáu cảm giác độc hại, đã kéo chúng
sanh vào sáu nẻo luân hồi; làm trong sạch hóa (purify) tâm ta.
Sáu độc đó là: tham, sân, si, ngã mạn, đố kỵ, ái dục - thần chú
có năng lực chuyển hóa chúng trở về trạng thái thanh tịnh ban
đầu của chúng. Đó là lý do tại sao có người cảm nhận được một
cách sâu sắc năng lực siêu phàm đến nỗi họ phải khắc lên núi đá
như đã kể hồi nãy cho các bạn nghe.
A: Thiệt là hay quá! Thế các bạn có kinh
nghiệm gì trong việc trì Chú không? Kể cho mình cùng nghe đi!
C: Mình thấy trì Chú giúp mình có định lực
mạnh hơn rất rõ. Nhờ chú tâm cao độ để đừng “ăn” mất chữ, đừng
nhầm lẫn đoạn trên với đoạn dưới v.v... mình dần dần luyện được
sự nhất tâm; khi trì Chú, mình không nhớ nghĩ những chuyện đời
thường. Nói cách khác, tâm mình không “bay nhảy” như khỉ, như
vượn được nữa.
B: Ngoài ra, nhiều khi trì Chú sẽ giúp mình
vượt qua những trở ngại (về tâm) một cách đáng ngạc nhiên. Hồi
đó, mình bắt chước đức Thế Tôn rải tâm từ ra cho mọi loài chúng
sanh; bắt đầu bằng cách rải tâm từ đến những người thân, bà con,
bạn bè... nhưng mình gặp chướng ngại khi nghĩ đến những người
“dễ ghét”!☺☺!! Mình cảm thấy rất xấu hổ khi biết nguyên nhân của
chướng ngại này; nhưng mình vẫn thực tập. Cho đến một hôm, mình
thấy “đối tượng” đó không còn “dễ ghét” nữa và tâm mình bằng
lòng rải tâm từ đến đối tượng ấy. Từ đó, mình cảm thấy rất rõ
diệu dụng của Kinh, Chú, cũng như diệu dụng của sự thực hành
tụng Kinh, niệm Phật, trì Chú đó các bạn ạ! Đến nay mình cảm
thấy rất hạnh phúc là mình đã tiến bộ, mình không còn thấy ai
“dễ ghét” hết, hay nói cách khác mình có thể “yêu thương tất cả”
- tất nhiên là ở mức độ thấp nhất, cho nên mình còn phải tu tập
nhiều nhiều.
A: Chết, chúng mình còn một phần nữa, đó là
“niệm Phật”. Pháp môn này thì mình cũng hiểu và thực hành hằng
ngày; mình nói các bạn nghe thử có phải không nha! Niệm Phật là
tưởng nhớ đến Phật, hình dung tướng mạo trang nghiêm của Phật,
các đức hạnh của Ngài (từ bi, trí tuệ, tinh tấn, thanh tịnh, hỷ
xả) để noi theo gương sáng của Ngài và làm hiển hiện vị Phật ở
trong tâm ta (Phật tánh) một ngày gần đây.
C: Đúng rồi đó, niệm Phật cũng giúp ta
thanh lọc tư tưởng. Trong khi niệm Phật, nhớ nghĩ đến danh hiệu
của Ngài, ta không còn để tâm “niệm ma” nữa (ma là ma trong
chính nội tâm mình, ma tham sân, ma si mê, ma ngã mạn, ma đố kỵ,
ma ích kỷ v.v... là những “con ma” đáng ghê sợ nhất). Các bạn
thường niệm danh hiệu các đức Phật hay các vị Bồ-tát nào?
B: Niệm danh hiệu đức Phật hay Bồ-tát nào
cũng được, điều cần thiết là phải thành tâm, chú tâm theo dõi
từng chữ, từng âm trong câu niệm, ví dụ “Nam mô Bổn sư Thích Ca
Mâu Ni Phật” hay “Nam mô Đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát” v.v... Lúc
niệm danh hiệu đức Bổn sư, hành giả quán hạnh tinh tấn của Ngài;
lúc niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, ta chiêm ngưỡng hạnh từ
bi của Ngài và cố gắng noi theo. Người tu pháp môn Tịnh Độ thì
niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà cầu vãng sanh; người muốn mong
cầu thoát khỏi một căn bệnh hiểm nghèo thì cầu đức Dược Sư; cũng
có người muốn niệm danh hiệu đức Phật Di Lặc v.v... Một cách
tổng quát, chúng ta có thể niệm hồng danh của bất cứ vị Phật hay
vị Bồ-tát nào, chỉ cần phải nhất tâm niệm Phật, đừng để cho tâm
khởi lên một ý niệm gì ngoài câu niệm Phật.
A: Điều này mới thật là khó đó!
C: Tất nhiên rồi! Có như vậy thì ba nghiệp
(thân, miệng, ý) mới không còn tác hại người khác, nghĩa là ba
nghiệp được thuần thiện, thuần lành.
B: Nhưng thật không phải dễ đâu nha! Sử
dụng ba nghiệp sao cho đạt đến chỗ “bất hại” (không có khả năng
làm hại ai cả) thì đó đúng là một nghệ thuật sống cao thượng
đáng khâm phục.
A: Bạn có thể nhắc lại cho mình biết tại
sao cần phải niệm Phật không?
B: Niệm Phật là nhớ nghĩ đến hạnh lành của
chư Phật và chư Bồ-tát, là “cột” cái tâm lại nơi tiếng niệm Phật,
không để nó chạy lang thang như con trâu chạy lung tung đạp nhằm
lúa mạ của người ta, đem đến khổ đau phiền não cho mình và cho
người. Như vậy mình luôn sống trong chân lý, tâm mình an trú
trong chân lý, nghĩa là mình có an lạc và làm cho mọi người
chung quanh đều an lạc.
C: Vậy là cả ba thứ tụng Kinh, trì Chú và
niệm Phật đều giúp hành giả phát triển định lực cả phải không?
B: Đúng thế, ngoài ra tụng Kinh, trì Chú và
niệm Phật còn giúp ta thanh tịnh tâm ý, cho ta những kinh nghiệm
quí báu về nội tâm của mình. Chúng ta không thể nào hiểu được
những điều này nếu chúng ta không thực hành.
C: Phải rồi, không những thực hành các pháp
môn này, ta còn phải thực hành những lời Phật dạy trong Kinh nữa
nha! Nếu không, chúng ta sẽ biến thành những con vẹt đó.
A: Chí lý, chí lý! Chúc các bạn thực tập
tốt bài học này, còn bây giờ phải chấm dứt ngang đây vì đã hết
giờ rồi!!☺☺!! Xin chào tạm biệt nha!
B và C: Tạm biệt! Tạm biệt!
“Bạn Có Biết” là một chương trình trong đó
các bạn trẻ đưa ra những câu hỏi thường thức về Phật pháp, đạo
đức, luân lý của người Việt Nam nói riêng, người phương Đông nói
chung, rồi trả lời để các bạn trẻ khắp nơi nắm được vấn đề. Qua
đó, có thể học hỏi, hiểu biết thêm về Phật pháp, đạo lý làm
người, phong tục tập quán v.v... của người Việt Nam chúng ta.
Ngoài ra, khi câu trả lời có một vài chữ lạ
đối với người nghe thì những chữ đó cũng thành ra một “câu hỏi
con” để các bạn trẻ có thể hiểu được lời giải đáp một cách trọn
vẹn.
Đạo Phật là gì? Đạo Phật có phải là một
triết học hay không?
Đã có rất nhiều bàn cãi về câu hỏi này: Đạo
Phật là một tôn giáo, một triết học, một khoa học, hay một nền
luân lý? Ở đây, chúng tôi xin trả lời một cách đơn giản đạo Phật
là đạo Phật, bao gồm tất cả những định nghĩa mà bạn đã đặt ra.
Thật vậy, nếu tôn giáo được định nghĩa như
là sự thờ phụng một đấng thiêng liêng, thì đạo Phật là một tôn
giáo với sự thờ cúng chư Phật, chư Bồ-tát, chư Tổ v.v...
Đạo Phật có phải là một triết học hay không?
- Phải, những lý thuyết về Duy thức, về Nghiệp, về Tái sinh v.v...
đòi hỏi người muốn nghiên cứu đạo Phật như một triết học phải có
trình độ nghiên cứu thâm hậu về triết học Đông và Tây phương.
Duy Thức là gì? - Là một môn học có thể gọi
là khoa Tâm lý học Phật giáo (Buddhist Psychology).
Tái sinh là gì? (Reincarnation) - Đạo Phật
cũng là một khoa học qua các lý thuyết Nhân quả, Nhân duyên
sinh, Ngũ uẩn v.v...
Lý thuyết Nhân quả như thế nào? - Đó là lý
thuyết thực tế nhất, không cần học nhiều cũng biết, bất cứ nước
nào cũng đều có những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn, thần thoại
v.v... dạy về đạo lý nhân quả: ở hiền gặp lành, gieo lúa được
lúa, gieo cà được cà.
Ngũ uẩn là gì? - Là 5 nhóm cấu tạo nên “con
người” theo cách nhìn của Phật giáo; đó là: sắc (Body), thọ
(Feelings), tưởng (Thoughts), hành (Mental Formation-intentions
of body, mouth, mind), thức (Consciousness).
Đạo Phật cũng là Luận lý học, Giáo dục học
hay Đạo đức học, có phải không? - Phải, là tất cả những thứ đó,
vì sao? Những bộ luận của chư Tổ, bộ Giới luật của các vị xuất
gia, những lời dạy của đức Phật Thích-ca về việc hiếu thuận
trong gia đình, việc cai trị dân chúng, về tu học đạo tỉnh thức
v.v... cho biết đạo Phật bao gồm mọi môn học đã nêu trên với
đường lối tu tập thực hành có phương pháp, có lý luận, qua kinh
nghiệm tu hành v.v...
Đức Phật còn hay đã mất rồi? Nếu Ngài đã
mất rồi thì làm sao Ngài giúp đỡ chúng ta được?
Đứng về phương diện lịch sử thì đức Phật
Thích-ca đã viên tịch lúc Ngài được 80 tuổi; nhưng Ngài dạy đệ
tử rằng: “Sau khi ta viên tịch, thì Pháp (là những lời dạy của
Ngài) chính là Thầy của các con”.
Đứng về phương diện bản thể, Phật không bao
giờ mất, đức Phật chính là giáo lý của Ngài và ngược lại. Ngoài
ra, đức Phật có dạy rằng: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật
sẽ thành”. Nói cách khác, trong mỗi chúng sanh đều có hạt giống
Phật; nếu chúng ta tu tập tinh chuyên thì một ngày nào đó những
hạt giống Phật ấy sẽ nở ra hoa giác ngộ, nghĩa là chúng ta cũng
thành Phật như đức Phật Thích-ca vậy.
Tuy đức Phật lịch sử đã viên tịch nhưng
giáo lý của Ngài để lại có thể giúp đỡ chúng ta chứ; ví dụ như
Edison, nhà bác học phát minh ra điện tuy đã chết từ lâu nhưng
những ánh sáng, điện lực mà chúng ta dùng hằng ngày, ứng dụng về
điện không ngừng được cung cấp cho cuộc sống con người, nâng cao
đời sống con nguời thì không chết theo thân xác của nhà bác học.
Cũng vậy, đức Phật Thích Ca đã nhập diệt hơn 2500 năm nhưng giáo
lý của Ngài không những không mất đi mà trái lại còn được lan
truyền trên thế giới từ Á Đông sang Tây phương, có thể chữa lành
thân bệnh và tâm bệnh của con người.
Đức Phật có phải là một vị thần linh, có
thể ban phước giáng họa cho chúng ta không?
Đức Phật không phải là một vị thần linh và
cũng không phải là con của một vị thần linh nào, cũng không phải
là sứ giả do một vị thần linh nào gởi đến thế giới này cả. Ngài
thuần túy là một con người đến cõi đời này với hình thức bình
thường như tất cả chúng ta: có “cha sinh mẹ đẻ.” Ngài dạy cho
chúng ta thấy rằng con người có thể hoàn thiện mình bằng chính
khả năng của mình, nói cách khác tất cả chúng ta đây đều có khả
năng giác ngộ như Ngài.
Đức Phật không có khả năng ban phước giáng
họa cho ai cả và Ngài dạy rằng không có ai có thể ban phước hay
giáng họa cho ai cả. Mỗi hành vi thiện của mình là một phước lớn
và mỗi hành vi ác tự nó là một sự trừng phạt. Thật vậy, nếu ta
làm ác mà pháp luật không biết (vì ta giấu giếm) thì chính lương
tâm ta không để ta yên, cứ lo sợ ưu phiền, ăn không ngon ngủ
không yên, tâm ta luôn ở trong âu lo, sợ hãi, bất an. Như vậy
còn khổ hơn là thà bị ở trong tù nữa.
Bạn có thể tóm tắt giáo lý cơ bản của đạo
Phật vào một vài câu thôi hay không?
Xin kể bạn một câu chuyện vui. Một người
đến hỏi một nhà sư: Bí quyết để thành Phật là gì? Nhà sư đáp:
Tránh tất cả các việc ác, làm tất cả các việc thiện, giữ tâm ý
trong sạch (kinh Pháp cú). Người kia nói: Thật là dễ quá, ai mà
không biết, một đứa bé lên ba cũng biết! Nhà sư đáp: Đúng vậy,
một em bé lên ba cũng nói được nhưng một ông già 80 tuổi làm
suốt đời cũng không được. Vậy nếu bạn muốn tóm tắt đạo Phật vào
trong vài câu kệ thì đây là các câu bạn muốn:
Tránh tất cả việc ác
Làm tất cả việc lành
Giữ tâm ý trong sạch
Ấy lời chư Phật dạy.
Còn giáo lý cơ bản sâu hơn một chút là gì?
Đó là giáo lý Tứ diệu đế hay “Bốn sự thật
cao quý”. Những nhà Phật học ví Tứ diệu đế xuyên suốt giáo lý
Phật đà như một bánh xe nối các căm xe, niền xe và trục xe vậy.
Tứ là bốn, Diệu là vi diệu, tuyệt diệu, quí báu, và Đế là sự
thật.
Vậy “đế” thứ nhất là gì?
Đế thứ nhất (tức là chân lý thứ nhất) là
khổ đế (dukkha = sufferings). Sống là khổ, nói cách khác, không
ai có thể sống mà không có kinh nghiệm về sự khổ cả. Đức Phật
dạy: “Nước mắt của chúng sanh chứa đầy trong bốn bể (đại dương)”.
Như vậy đạo Phật có yếm thế (chán đời, bi
quan) không? - Không, đức Phật dạy “sống là khổ”, nhưng không
nói “hãy lìa bỏ cuộc sống” hay “cuộc sống đáng chán”. Đây là một
kinh nghiệm mà ai cũng phải trải qua: một đứa bé mới lọt lòng mẹ
đã khổ rồi (vì ra khỏi bụng mẹ, nóng lạnh bất chợt v.v... Và một
thi sĩ đã nói: Em bé mới chào đời đã thấy khổ vì “đời có vui sao
chẳng cười khì”; già cũng làm ta khổ, bệnh, chết cũng vậy; nhưng
những người thân của ta lại rơi lệ biệt ly! Nói tóm lại, con
người ai cũng phải khổ vì sinh, già, bệnh, chết; chưa nói còn
nhiếu thứ khổ nữa!
Có lý lắm, xin bạn nói tiếp tục về “đế” thứ
hai?
Đế thứ hai là Tập đế (samudaya = the
roots). Tập đế là nguyên nhân của Khổ, nguồn gốc của Khổ. Khi ta
tiếp xúc với Khổ, ta hãy nhìn sâu vào nó để thấy gốc rễ của nó,
ta sẽ thấy được cái gì đã nuôi dưỡng nó, nhờ vậy ta có thể tiêu
diệt nó bằng cách không cung cấp thức ăn cho nó nữa.
Cái gì là thức ăn nuôi dưỡng cái Khổ hở
bạn?
Đó là tham ái và chấp thủ. Tham lam, yêu
ghét, lấy bỏ, v.v... là những thức ăn cung cấp cho Khổ! Thế
nhưng con người luôn luôn chạy đi tìm khoái lạc trong những
trạng thái tâm bệnh hoạn như thế! Thật vậy, khi thích thì nắm
giữ say sưa, mất thì đau đớn, khổ sở; khi ghét thì tìm trăm
phương ngàn kế để lìa bỏ, khi thấy người không giống mình, không
ủng hộ mình thì sinh tâm thù hằn, tìm cách bôi nhọ, làm hại
v.v... những cái đó chính là cái nhân của đau khổ phiền não tự
mình chuốc lấy mà thôi. Nếu ta sống với cái tâm thanh tịnh, bình
đẳng thì tham ái và chấp thủ không có cơ hội “vùng lên” đem Khổ
đến cho ta nữa, mà vắng mặt Khổ tức là an lạc vậy.
Vậy còn “đế” thứ ba là gì?
Đế thứ ba là Diệt đế (nirodha = the
cessation). Diệt đế là sự chấm dứt đau Khổ. Đức Phật dạy về Khổ
nhưng không nói rằng không thể chấm dứt Khổ được. Diệt đế chính
là sự chữa lành bệnh Khổ của chúng sanh. Diệt đế là sự vắng lặng
hoàn toàn, tịch tĩnh hoàn toàn, còn gọi là trạng thái Niết-bàn.
“Đế” thứ bốn là gì?
Đế thứ bốn là Đạo đế (magge = the path):
Đạo đế là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau. Con đường đó
đối với Phật tử chúng ta là Bát chánh đạo; đó là: Chánh kiến
(Right view), Chánh tư duy (Right thinking), Chánh ngữ (Right
speech), Chánh nghiệp (Right actions), Chánh mạng (Right
livehood), Chánh tinh tấn (Right diligence), Chánh niệm (Right
mindfullness), Chánh định (Right Concentration).
Xin bạn cho biết áp dụng Bát chánh đạo vào
cuộc sống hằng ngày như thế nào?
Thiền sư Achaan Chah nói rằng Bát chánh đạo
giản dị nhất nằm ngay trong chúng ta là: hai mắt, hai tai, hai
mũi, một lưỡi và một thân. Nào, bạn nghĩ thử có phải không? -
Đây là 8 cánh cửa vào Đạo, tâm chúng ta đi trên con đường ấy.
Biết những cửa này và quan sát chúng thì tất cả giáo pháp sẽ
hiện hành.
Tu hai con mắt:
Khi hai mắt ta tiếp xúc với sắc (cảnh vật
bên ngoài) mà thiếu ánh sáng của chánh niệm thì ham muốn liền
khởi lên và tâm dao động: ưa-ghét, lấy-bỏ liền hiện ra dưới đủ
mọi hình thức. Nếu ta tu tập chánh kiến thì khi nhìn mọi sự vật
hiện tượng, phải nhìn dưới ánh sáng của vô thường, vô ngã, không
tham đắm cũng không xua đuổi. Từ cái nhìn của con mắt thịt,
chúng ta tiến xa hơn một bước về cái nhìn hướng thượng để nhìn
tất cả các sự vật hiện tượng trong cuộc đời này với tâm bình
đẳng không ưa ghét, mong cầu, than trách v.v... Không chỉ thích
mùa Xuân mà ghét nắng của mùa Hạ, không buồn khi mùa Thu đến,
không ta thán khi mùa Đông tuyết đóng băng v.v... Sống thuận
theo bốn mùa của thiên nhiên; mùa nào cũng tốt, ngày nào cũng
vui như thi sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Đông ăn măng trúc, Thu ăn giá
Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao...
Hay như thiền sư Vạn Hạnh, không lo âu sợ
hãi trước những thăng trầm của cuộc đời:
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi
Thịnh suy như hạt sương đọng nơi đầu ngọn
cỏ)
Thế còn lỗ tai thì tu như thế nào?
Tai cũng là một cửa đi vào Đạo. Khi nghe
khen ta không chấp vào lời khen mà sinh ra ngã mạn, khi nghe chê
cũng không vì chấp vào lời chê mà chán nản, ghét người chê mình.
Những lời khen, lời chê… tự nó không xấu nhưng nếu ta chấp vào
chúng mà khởi tâm bất thiện thì cái nguy hiểm là ở chỗ này. Hãy
quán sát âm thanh đơn thuần là âm thanh thì hiểu được Đạo. Khen
hay chê đều không thể biến ta thành người khác: khi ta bình thản
trước những lời chê bai, chưởi mắng của một người nào đó, tức là
ta đã độ được tâm mình, độ được người ấy mà chính cũng là người
ấy đã độ ta. Đức Phật nói không sai: “Tai cũng là một biển lớn
mà ta phải vượt qua” . Vì vậy: giữ tâm bình thản trước mọi âm
thanh thì chính là ta đã “tu hai lỗ tai” rồi.
Tu cái lưỡi:
Cái lưỡi cũng quan trọng trong việc ăn và
nói. Tham ăn cũng có thể đưa đến những tai hại và sai lầm không
sửa lại được. Ví dụ như ăn vào những chất độc làm hại cơ thể,
hại dạ dày, hại gan v.v... Nguy hiểm hơn một chút là khi được ăn
ngon, uống say có thể bị mua chuộc, bị ám hại, bị lợi dụng
v.v... mà không thể đề phòng được. Vì vậy tu cái lưỡi là khi ăn,
phải biết “ăn chánh niệm”, nghĩa là ta phải biết rằng “ăn để mà
sống”, thức ăn có tác dụng như thuốc bổ, có thể nuôi sống thân
mạng mình. Trước khi ăn phải khởi lên một niệm biết ơn những
người gián tiếp hay trực tiếp lo cho ta bữa ăn này. Khi ăn phải
nhai thật kỹ, không ăn quá no, không vừa ăn vừa lo nghĩ, giận
hờn, phiền muộn... như thế thì thức ăn mới được tiêu hóa, dễ
dàng nuôi dưỡng cơ thể.
Còn “nói” chính là thể hiện hay tu tập
“Chánh ngữ”. Đó là lý do chúng ta thường được nghe câu “phải uốn
lưỡi bảy lần trước khi nói” vậy. Đánh răng và súc miệng mỗi buổi
sáng là cần thiết và quan trọng như thế nào thì giữ gìn lời nói
của mình “cho sạch nghiệp nói năng” còn quan trọng hơn nữa. Muốn
nói cho “sạch nghiệp” thì phải nói lời chân thật, lời dịu dàng,
lời đoàn kết, đem lại an vui lợi ích cho người khác. Đừng bao
giờ nói trong lúc đang giận dữ, vì “giận thì mất khôn”. Cái lưỡi
sẽ “phun” ra những nọc độc bắn vào người khác làm tổn thương họ
và sau khi nguôi giận, có thể ta sẽ ân hận suốt đời. Đó là chưa
nói: trong lịch sử nhân loại xưa nay không hiếm gì ví dụ một lời
nói có thể làm sụp đổ một ngai vàng, cũng có thể đem lại hòa
bình cho nhân loại, cũng có thể gây ra chiến tranh thế giới v.v...
Những điều này nhắc ta sự quan trọng của lời nói tức là Chánh
ngữ trong Bát chánh đạo.
Xin tặng Bạn bài thi kệ này để chúng ta tự
nhắc nhở mình về cách nói năng của mình ngay lúc vừa thức dậy,
đi đánh răng và súc miệng:
Đánh răng và súc miệng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời chánh ngữ
Hoa nở tự vườn tâm.
Tu hai lỗ mũi:
Tu hai lỗ mũi là “biết thở Chánh niệm”. Thở
chánh niệm là “thở vào ta biết ta đang thở vào, thở ra ta biết
ta đang thở ra” mà không chú ý đến gì khác ngoài hơi thở. Điều
này nghe thì dễ nhưng làm thì khó. Ai đã từng thực tập đếm hơi
thở (sổ tức quán) đều có kinh nghiệm này: nếu không có chánh
niệm, ta sẽ đếm nhầm ngay (và phải bắt đầu lại! ☺☺!!).
Năng lượng chánh niệm do hơi thở tạo ra sẽ
giúp ta an trú trong hiện tại, không tìm về quá khứ, không mơ
tưởng tương lai - những thứ này là nguyên nhân của đau khổ phiền
não. Khi đã có khả năng kiểm soát hơi thở vững vàng, ta sẽ điều
hòa được những ưa-ghét, lấy-bỏ của hai lỗ mũi; lúc đó mùi hôi
không còn làm ta giận dữ, khó chịu cũng như mùi thơm không còn
khả năng lôi cuốn, chiếm giữ hay sai sử tâm ta nữa; vì vậy mới
nói rằng: an lạc sẽ đến với những người biết điều hòa hơi thở
hay biết thở chánh niệm.
Tu Thân:
Ba nghiệp dữ (ác nghiệp) của thân là: sát
sanh, trộm cướp và tà hạnh (nghiệp = những hành động cố ý, gây
ra tội). Đức Phật dạy: nguyên nhân của những nghiệp dữ này là do
ý (tâm) chủ động hết thảy:
Tâm dẫn đầu mọi Pháp
Tâm chủ, tâm tạo tác
Nếu với tâm ô nhiễm
Nói lên hay hành động
Khổ não sẽ theo sau
Như xe theo (con) vật kéo.
(kinh Pháp Cú 1)
Tâm dẫn đầu mọi Pháp
Tâm chủ, Tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư thanh tịnh
Hạnh phúc sẽ theo sau
Như bóng không rời hình.
(kinh Pháp Cú 2)
Thật vậy, nếu mắt tiếp xúc với sắc, tai
tiếp xúc với âm thanh... mà không có ý phụ họa thì đâu có tạo
nghiệp? Thấy sắc, nghe tiếng rồi khởi lên ý niệm đẹp-xấu, hay-dở,
rồi khen-chê, ưa-ghét, lấy-bỏ; mới thành ra dính mắc, mới đâm ra
ăn cướp, ăn trộm, giết người, cướp của v.v... Như vậy những
nghiệp của thân chính ra là do ý dẫn dắt vậy. Chúng ta thấy rõ
rằng: mắt, tai, mũi, lưỡi chính là ở trong thân rồi; nhưng nói
về thân để còn nói đến thân thể, tay chân... nữa; nói chung, tất
cả những bộ phận trên thân người đều có thể gây ra tội. Cho nên,
đến đây chúng ta có thể thêm vào lời dạy của ngài A Chah Chaan:
Bát chánh đạo trong ta gồm: hai mắt, hai tai, mũi, lưỡi, thân và
ý.
Đạo Phật dạy nhiều giáo lý từ thấp đến cao,
có ích lợi như vậy mà tại sao có những Phật tử vẫn đi vào chùa
xin xăm, coi bói toán, xin bùa v.v... như vậy là họ có tin vào
thuyết nhân quả không?
Trước hết, những người đi vào chùa xin xăm,
đi coi bói v.v... chưa hẳn tất cả đều là Phật tử.
Thứ đến, cho dù họ là Phật tử nhưng xin xăm,
coi bói v.v... là do tính hiếu kỳ chứ chưa hẳn họ đã tin.
Thứ ba, có nhiều người gọi là Phật tử là vì
gia đình thờ Phật nhưng bản thân họ không nghe, không đọc kinh
điển, không tu tập theo các phương pháp truyền thống như Thiền,
Tịnh độ v.v... cho nên họ không hiểu đúng những lời dạy của đức
Phật, đức tin của họ có thể lớn hơn trí huệ của họ.
Tại sao có một số chùa chủ trương cho Phật
tử xin xăm và giải xăm cho họ?
Xin xăm không phải theo truyền thống Phật
giáo nhưng có thể nói là một tập quán lâu đời của dân tộc ta;
đặc biệt trong những ngày Xuân, ngày Tết, người ta thích coi bói,
xin xăm để thử xem năm tới có tốt hơn năm rồi không; ngoài ra
một số những thanh niên nam nữ tuy không tin nhưng cũng bắt
chước hay chiều ý người bạn trai (hay bạn gái) của mình.
Các chùa tất nhiên là hiểu biết rõ ràng
giáo lý nhân quả, nhưng cũng phải “tùy thuận chúng sanh”, cho họ
cơ hội làm quen với chùa, làm quen với việc đi chùa, từ đó họ có
thể tiếp cận với Phật pháp và hiểu được sâu hơn. Nhiều khi ban
đầu họ đến chùa vì những chuyện “lãng xẹt” nhưng giúp họ lui tới
chùa, quen được những thiện tri thức làm cho họ cảm mến, kính
phục chẳng hạn, đưa họ vào Đạo một cách dễ dàng. Cái duyên đối
với chùa, với Phật, với chư Tăng Ni nhiều khi rất đặc biệt, nên
xin xăm cũng có thể đem họ đến với Đạo. Vì vậy, các chùa khó có
thể bỏ tục xin xăm trong mấy ngày Tết.
“Bạn Có Biết?” đúng là một chuyện dài nhiều
tập! Xin hẹn các bạn lần sau ! JJ!! ❑
12. Đức
Quán Âm với
Ngày Hạnh của
ngành Nữ
GĐPTVN
Thưa Anh Chị Em Lam viên thân mến,
Mỗi ngành của GÐPT đều có ngày truyền thống
của mình: Ngành Nam (Thiếu Nam và Nam Huynh trưởng) thì có ngày
Dũng, là ngày vía Xuất gia - nhằm mồng 8 tháng 2 âm lịch, ngành
Oanh Vũ thì có ngày Hiếu - nhằm ngày Vu Lan Rằm tháng Bảy, ngành
Nữ (Thiếu Nữ và Nữ Huynh trưởng) thì có ngày Hạnh. Trong ngày đó,
các ngành có những sinh hoạt đặc biệt như trại họp bạn, những
khóa tu học, hội thảo, triển lãm, đi thăm các bệnh viện, nhà
dưỡng lão, cô nhi viện, v.v... Ngoài ra còn để báo cáo, tổng kết
sinh hoạt của Ðoàn, những thành quả của Ngành sau một năm, nói
lên sức sống của đơn vị mình. Trong ngày đó, các em được thi đua
về Phật pháp, hoạt động thanh niên; được biết, được làm quen với
những điển hình xuất sắc của các đơn vị bạn... Riêng về ngành Nữ
còn có triển lãm nữ công gia chánh. Ðó là chưa kể những sáng
kiến của riêng từng đoàn, từng tỉnh, v.v… có thể đưa ra nhiều
hình thức tổ chức ngày Hạnh sao cho các em vừa được gần nhau,
gần các chị Trưởng của mình, để có cơ hội hàn huyên tâm sự…
Ðúng ra ngày Hạnh của ngành Nữ ngày xưa
được tiến hành qua ba giai đoạn: 19/2 là tổng kết sơ khởi ở Ðoàn,
19/6 là báo cáo lên Ðơn vị, tổ chức trong đơn vị gia đình, và
19/9 mới là ngày tổng kết toàn tỉnh với các đơn vị bạn. Ở Ðoàn
thì do Ban Huynh trưởng ngành Nữ tổ chức, ở tỉnh thì do BHD tổ
chức… Bởi vì ở trong nước, số lượng GÐPT rất đông, mỗi tỉnh
không thôi đã có gần cả trăm đơn vị rồi, còn ở hải ngoại thì ít
hơn và thời gian đi lại khó khăn hơn nên thường chỉ được tổ chức
ở các Miền, và có thể vài năm mới tổ chức một lần, chỉ có ở đơn
vị mới tổ chức ngày Hạnh hằng năm thôi. Vì vậy, chỉ có một ngày
chứ không phải ba ngày như ngày xưa mà các em thường chọn 19/6
nhằm mùa hè, các em ngành Thiếu được nghỉ hè.
Ngày Hạnh cũng như những ngày truyền thống
trong GÐPT là dịp để các em ôn lại những việc đã làm, tự soi rọi
lại mình, tiếp xúc với bạn bè ở các đơn vị khác, được thấy nghe
những con người cụ thể, những điều hay đẹp, mới mẻ… của đơn vị
bạn, để tự mình cố gắng tiến bộ trong tu học và tu tập. Riêng
ngành Nữ, các em được các Chị trưởng nói về đức Quán Thế Âm, về
ý nghĩa những hạnh nguyện cao cả rộng lớn của Ngài để các em
thường chiêm ngưỡng, thực hành hạnh lắng nghe, lòng từ bi, trí
tuệ, v.v... của Ngài nói riêng, của chư Phật và Bồ-tát nói
chung, cũng như sự thống nhất tư tưởng Phật giáo mà các em đã
được các anh chị trao truyền. Chúng ta hãy cùng với ngành Nữ ôn
lại một chút.
Thưa Anh Chị Em Lam viên kính mến,
Hình tướng có nam có nữ còn trí tuệ thì
không có phân biệt nam nữ, cho nên về khả năng giác ngộ thì nam
nữ giống nhau. Đức Quán Thế Âm Bồ-tát chứng được tánh nghe nhiệm
mầu nên tiếng của Ngài là tiếng nói nhiệm mầu, tiếng nói thanh
tịnh, tiếng nói ứng hợp thời cơ, tiếng như âm thanh hải triều;
cứu giúp chúng sanh được mọi sự an lành, thoát mọi nỗi khổ sợ
hãi, v.v... nhưng Ngài vẫn không rời tự tánh thanh tịnh như
trong kinh Pháp Hoa đã nói:
“Diệu âm Quán Thế Âm
Phạm âm hải triều âm
Thắng bỉ thế gian âm”.
(tiếng mầu nhiệm Quán Thế Âm
tiếng Phạm, tiếng hải triều
tối thắng hơn tất cả âm thanh của thế gian).
Tại sao nói: “Đức Quán Thế Âm chứng được
tánh nghe nhiệm mầu”? Ấy là tại vì Ngài tu phép nhĩ căn viên
thông. “Chứng” là chỉ rõ được cái nhĩ căn hiện tiền, vẫn viên
dung vô ngại, cùng khắp, hơn hẳn các căn khác - đây là lời đức
Phật xác chứng trong kinh Lăng Nghiêm.
Trong đoạn “Viên thông về nhĩ căn”, đức
Quán Thế Âm đã trình bày chỗ tu chứng của Ngài. Đó là do nghe,
nghĩ và tu mà Ngài đã vào Tam-ma-đề (Samàdhi = đại định): Nghe
là nghe Phật pháp, hiểu rõ đạo lý của Phật, do đó phát được Văn
tuệ (trí tuệ do nghe). Nghĩ là suy nghĩ những điều đã học được,
nhận rõ đạo lý ấy nơi tâm cảnh hiện tiền, do đó phát ra Tư tuệ
(trí tuệ do tư duy). Sau khi nhận rõ đạo lý nơi tâm cảnh hiện
tiền, Ngài luôn luôn đem cái đạo lý ấy mà huân tập tâm tính,
nương theo đạo lý ấy mà tu tập, diệt trừ các mê lầm, do đó phát
ra Tu tuệ (trí tuệ do tu tập). GĐPT chúng ta nói chung, ngành Nữ
nói riêng, đã áp dụng Văn-Tư-Tu trong việc giáo dục đàn em và
chính mình, thể hiện qua các bài học Phật pháp với ba phần rõ
rệt: Em nghe, Em suy nghiệm, Em tu tập.
Thưa Anh Chị Em Áo Lam kính mến,
Noi theo gương Ngài ở mức độ cao hơn, hàng
Huynh truởng chúng ta còn học tập đức Quán Thế Âm ở việc Ngài
“quán cái tánh nghe không thêm bớt, không thay đổi, không sinh
diệt, cùng khắp mười phương không ngăn ngại.” Ngài quán các
tướng động, tĩnh hiện ra trong tánh nghe là như huyễn như hóa,
không có tự tánh nên không còn phân biệt “Ta” và “Người”. Chúng
ta đã diễn đạt ra đơn giản hơn, đó là “đức Quán Thế Âm Bồ-tát đã
vượt qua biển lớn của lỗ tai (nhĩ căn)” và chúng ta cũng đã đặt
câu hỏi để mình tự trả lời: Tại sao tai cũng là biển lớn phải
vượt qua? Tại vì những lời qua tiếng lại, những lời khen tiếng
chê v.v... cũng làm tâm dao động. Những lời khen chê, tự nó
không xấu nhưng do ta chấp vào lời khen để sinh tâm ngã mạn, hay
chấp vào lời chê để sinh tâm thù oán thì đó là sai. Quán sát âm
thanh đơn thuần là âm thanh thì hiểu được Đạo. Khi ta điềm nhiên
trước những lời chê bai, chửi mắng, nhục mạ, v.v… là ta đã độ
được tâm mình, độ được tâm người kia.
Nhớ chuyện xưa, đức Phật im lặng lắng nghe
người Bà-la-môn kia mắng chửi Ngài đến nỗi người ấy phải kinh
ngạc hỏi: “Tại sao tôi nhục mạ Ngài cả buổi mà Ngài không giận
dữ hay chưởi mắng lại?” Đức Phật hỏi: “Khi ông đem cho ai cái gì
mà họ không nhận thì ông làm sao?” Người Bà-la-môn đáp: “Thì tôi
đem về”. Đức Phật nói: “Cũng thế, những lời nhục mạ lúc nãy của
ông cho, Như Lai không nhận, vậy ông hãy đem về đi”!☺☺!! Thật
vậy, khen hay chê đều không thể biến ta thành ra người khác. Ta
hãy cố gắng giữ gìn chánh niệm, tỉnh lặng để nghe tất cả âm
thanh với tâm không phân biệt; nghe khen không ngã mạn, nghe chê
không chán nản, oán thù. Được như thế thì tất cả mọi âm thanh
đều là pháp, những lời chê là thử thách sự kiên định của tâm, là
phương pháp rèn luyện tâm, điều phục tâm dao động. Được như thế
là ta đã phần nào noi theo gương đức Quán Thế Âm - vượt qua biển
lớn của tai rồi.
Thưa Anh Chị Em Lam viên,
Trong mùa vía Quán Thế Âm này, chúng ta hãy
cùng với ngành Nữ tiến thêm một bước nữa, nguyện học theo hạnh
Ngài “tự nghe cái nghe”, hay “xoay cái nghe vào bên trong” (Phản
văn văn tự tánh hay phản quan tự kỷ). Đức Quán Thế Âm dạy rằng,
xoay cái nghe vào bên trong tức là thoát ly thanh trần. Điều này
được soi sáng bằng câu trả lời của ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ với
đệ tử khi người này hỏi “mục đích tu thiền là gì?”:
“Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha
đắc”, có nghĩa là: Người tu phải soi rọi lại chính mình, đó là
bổn phận; không phải từ bên ngoài mà được Đạo. Để giúp thêm tài
liệu cho Anh Chị Em chúng ta vững tin rằng đây chính là tinh
thần thống nhất được truyền từ trên xuống dưới của hệ thống kinh
điển qua lịch đại tổ sư. Xin nhắc lại vài giai thoại Thiền,
trước hết là câu chuyện “niêm Hoa vi tiếu” trên đỉnh Linh Thứu:
Trong Pháp hội, đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên và đưa mắt
nhìn mọi người, đến Ca-diếp, Tôn giả mỉm cười, đức Phật liền
nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn diệu tâm, nay đem trao
cho Ca-diếp”. Như vậy, tôn giả Ca-diếp được đức Thế Tôn truyền y
bát làm vị tổ thứ nhất. Sau đó, khi đức Phật đã nhập Niết-bàn
rồi, tôn giả A-nan hỏi Ngài Ca-diếp: Thế Tôn truyền y bát cho sư
huynh, có truyền thêm gì nữa không?
Ca-diếp không trả lời mà cất tiếng gọi:
A-nan!
A-nan đáp: Dạ!
Ca-diếp nói tiếp: Cây phướng trước Chùa ngã.
Ngay đó, tôn giả A-nan ngộ.
Chúng ta nghe vậy thì ngơ ngác, vì Tôn giả
A-nan đã nhận biết cái chân thật của mình, còn chúng ta đang
lăng xăng quá nên chưa nhận ra cái gì giả và cái gì thật nơi
mình cả!☺☺!!
Tương tự như vậy, khi Thần Quang thưa với
tổ Đạt-ma rằng:
Bạch hoà thượng, tâm con không an, xin hoà
thượng dạy con pháp an tâm.
Tổ đáp: Hãy đem tâm ra ta an cho!
Thần Quang sửng sốt, xoay lại tìm cái tâm
của mình mà không thấy tâm đâu hết! Ông bèn thưa lại với Tổ:
Bạch hoà thượng, con tìm tâm con không ra.
Tổ bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó!
Ngay khi ấy, Thần Quang đại ngộ, được tổ
Bồ-đề-đạt-ma thu nhận làm đệ tử và đổi tên là Huệ Khả.
Thưa Anh Chị Em,
Như vậy chúng ta thấy rõ rằng từ “Chánh
pháp nhãn Tạng” của đức Thế Tôn trên đỉnh Linh Thứu đến pháp tu
“nhĩ căn viên thông” của đức Quán Thế Âm, qua cái “pháp an tâm”
của tổ Bồ-đề-đạt-ma, quả thật không khác lời tuyên bố của tổ
Bồ-đề Đạt-ma về tinh thần Thiền tông, cốt tủy của Đạo giải
thoát, khi Ngài đến Trung Hoa. Đó là:
Bất lập văn tự,
Giáo ngoại biệt truyền,
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.
(Không có văn từ chữ nghĩa,
Truyền riêng ở ngoài giáo lý,
Chỉ thẳng tâm người,
Thấy tánh thành Phật).
Chúng ta tuy chưa đạt đến trình độ nghe một
câu là trực ngộ nhưng chúng ta đã có phương pháp Văn-Tư-Tu, đã
biết gốc ngọn của Đạo mình, đã biết được Đạo không phải là lý
thuyết suông mà phải tu sau khi “Văn-Tư” rồi.
Vì vậy, để kỷ niệm ngày vía Quán Thế Âm,
cũng là ngày Hạnh của ngành Nữ GÐPT, để tán thán và cảm niệm ân
đức sâu dày của Ngài “bố thí pháp vô úy cho chúng sanh”, không
gì quí hơn là anh chị em chúng ta quyết tâm vâng theo lời khuyên
của Ngài, tu tập nghe cái tánh nghe; hãy xoay cái nghe vào bên
trong như ngài Ca-diếp đã dạy ngài A-nan như vậy. Chúng ta hãy
dừng lại, đừng chạy theo ngoại cảnh mà hãy tự nghe cái tánh nghe
của mình. Khi một căn của chúng ta đã thực hành được thì các căn
còn lại cũng đều sẽ được như vậy.
Thân kính chúc ngành Nữ GÐPT nói riêng, và
tất cả Lam viên nói chung, một mùa vía Quán Thế Âm - Mùa Hạnh -
an lạc, giải thoát để hoàn thành mọi Phật sự được giao phó.
Trân trọng,
Tâm Minh
13. Bước
đầu làm quen với
Thiền
Kính thưa quí vị và các bạn,
Ðối với các bạn trẻ, đạo Phật rất hấp dẫn
vì tính cách khoa học và khai phóng của nó; không giáo điều,
thần bí và “độc tài” như ở vài tôn giáo khác. Tuổi trẻ luôn tìm
hiểu Phật pháp bằng cách tham gia vào những sinh hoạt tu học,
cũng như tham dự những khóa tu do các vị Thiền sư hướng dẫn. Tuy
nhiên, mấy chữ “tu Thiền”, “tu Tịnh độ”, “Tu Mật tông”… đối với
họ vẫn còn mới mẻ và cao siêu quá, cho nên những người Huynh
trưởng có bổn phận giải đáp những câu hỏi rất cần thiết nhưng
đôi khi hơi ngây ngô của các em - cũng là huynh tưởng nhưng HTr.
trẻ, chưa thông hiểu những ngôn ngữ Thiền, Tịnh, Mật, v.v…
Hôm nay chúng tôi xin mời quí vị và các bạn
cùng chúng tôi tham dự một buổi hội thoại bỏ túi giữa anh chị em
Huynh trưởng GÐPT, tạm gọi tên là A, B, C (A là H.Tr lớn, thông
hiểu danh Phật pháp hơn hai em B và C).
B: Thưa Anh, kỳ vừa rồi, em nghe mấy bác
nói “tôi tu Thiền” hay “tôi tu Tịnh Ðộ”… em không hiểu; vì anh
chị dạy chúng em “tu là sửa”. Vậy thì các bác sửa Thiền và Tịnh
Ðộ sao?
C: Thiền và Tịnh Ðộ thật ra là gì? Tại sao
phải sửa? Ai thì có thể sửa được?
A: Thong thả đã, anh trả lời B trước rồi
mới đến câu hỏi của C nha!
B&C: Dạ, dạ!
A: Ðúng vậy, Thiền và Tịnh Ðộ là hai cách
tu, nói đúng hơn là hai pháp môn trong rất nhiều pháp môn tu của
Phật giáo; nói nôm na là hai cánh cửa trong rất nhiều cánh cửa
để vào Ðạo, vào Phật pháp. Như vậy, các bác đã nói “tắt”, đáng
lẽ ra phải nói: “tôi tu theo pháp môn Thiền”, hay “tôi tu theo
pháp môn Tịnh độ”. B, em hãy nói cho C biết Thiền là gì?
B: Thiền là thiền định (Meditation,
Concentration - Zen) là tập trung tư tưởng, chú tâm về một đề
mục nào đó, một việc gì đó. Ví dụ em tập trung tư tưởng vào việc
đếm hơi thở hay vào việc quan sát tượng đức Phật Thích Ca (hay
đức Phật A-di-đà, đức Quán Thế Âm, v.v...). Còn Tu là gì? Bạn
(C) hãy nói đi!
C: Tu là sửa, sửa những thói hư, tính xấu
như tính tham lam, tính hay giận dữ, hay nổi nóng… Những tính
xấu đó làm cho chúng ta trở nên khổ sở, bất an, phiền não; và đó
là những hạt giống xấu đã được huân tập từ muôn ngàn kiếp trước
rồi. Bây giờ chúng ta tu là để loại trừ những hạt giống xấu đó
và gieo vào tâm ta những hạt giống của sự vui vẻ, hiền hòa, bình
tĩnh, từ bi…
A: Như vậy là các em nắm được vấn đề chính
yếu. Tu là sửa những thói hư tật xấu, và tu Thiền hay tu Tịnh độ
là sửa theo cách dạy, theo phương pháp của Thiền tông hay của
Tịnh Ðộ tông.
B: Em nghe anh nói tu có nghĩa là “sửa” và
cũng có nghĩa là “chuyển hóa” phải không? Xin anh cho chúng em
ví dụ để hiểu rõ hơn.
A: Như chúng ta đã biết, phiền não hay giận
dữ không phải ở luôn trong tâm chúng ta. Chúng chỉ là “những đám
mây đen” hay “những cơn mưa giông” kéo ngang qua “bầu trời Tâm
yên tĩnh”. Như vậy, khi ta biết dùng trí tuệ để xua tan phiền
não hay dẹp cơn giận dữ thì cũng như mặt trời hiện ra sau cơn
mưa hay xua tan mây đen vậy. Lúc đó, giận dữ hay phiền não đã
được chuyển hóa thành bình yên và an lạc. Tuy nhiên hết nắng lại
mưa đấy! Không phải phiền não không trở lại đâu!☺☺!! Vì vậy mà
chúng ta phải tu hoài!
C: Anh có nói rằng mục đích của sự tu hành
là sửa những thói hư, tánh xấu (gọi chung là phiền não) còn tụng
kinh, ngồi thiền,… đều là phương tiện; có phải vậy không?
A: Ðúng vậy! Anh xin nói thêm về Thiền.
Thiền hay “thiền na” tiếng Sanskrit là dhyãna còn tiếng Pali là
jhãna, tiếng Trung Hoa là tĩnh lự, tiếng Anh như các em đã biết
là meditation, tiếng Nhật là zenna hay zen. Thiền là gồm những
phương pháp tu tập khác nhau nhưng với mục đích chung là đạt
được kinh nghiệm của sự tỉnh giác, giác ngộ, chứng ngộ, giải
thoát, v.v...
Thiền gồm có hai: Thiền chỉ và Thiền quán.
“Chỉ” là dừng lại, giữ tâm thức an tịnh, không tán loạn, đình
chỉ mọi ý nghĩ lăng xăng. “Quán” là xét, soi rọi kỹ về một vấn
đề gì, tìm cách “thấy” rõ hơn… ví dụ quán về thân tứ đại, về
khổ, về vô thường, v.v...
Ðó là những định nghĩa và ý niệm tổng quát
về Thiền ở trình độ của anh chị em chúng ta; bây giờ chúng ta
hãy nói về thực tập Thiền trong đời sống mà GÐPT chúng ta đã và
đang áp dụng đi!
C: Dạ, em xin anh nói thêm cho chúng em về
mục đích và phương tiện như câu hỏi trên của em mà anh mới trả
lời một nửa!☺☺!!
A: Phải rồi, xin lỗi em! Mục đích tu là sửa
những thói quen xấu, sai lầm, chữa những “bệnh” tham lam, ganh
tị, độc ác,… những bệnh làm cho tâm mình dao động, điên đảo, bất
an… trả lại cho tâm những giây phút tĩnh lặng, trong sáng. Thế
nhưng nhiều người nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích. Họ chỉ
lo ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, v.v… mà quên kiểm chứng xem
tính xấu của mình có bớt không? Tính tốt có tăng thêm không?
Những thói quen xấu ác có hoạt động mạnh không?
B: Sao vậy hở anh? Em tưởng hễ mình siêng
năng ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật thì nhất định phải tiến bộ
chứ!
A: Em nói cũng đúng nhưng đúng một phần
thôi, không phải “nhất định” như em nói đâu, bởi vì có người
tụng kinh, trì chú, v.v… mà trong bụng lại có ý hại người hay
ngồi thiền để giữ tâm được định trước tiếng rên la của đồng loại!
B: Thật vậy sao anh? Cái gì mà lạ vậy? Như
vậy sao gọi là tu được?
C: Cái này em có biết vì đã đọc trong sách
đó! Như trong truyện dịch từ một cuốn sách của Nhật - “Shogun” -
có ông tướng gì đó, tra tấn tù binh của ổng bằng cách đun người
ấy trong một thùng nước sôi; nạn nhân rên la thảm thiết, những
người dân ở gần đó phải dọn đi hết mà ông ta cứ “ngồi thiền” để
“định tâm” và “an nhiên tự tại” ăn uống, tẩm bổ, hưởng thụ cuộc
sống sung túc của mình.
B: Thật là kinh khủng quá! Tu cái gì kỳ
vậy?
A: Ðó không phải là tu mà họ chỉ lợi dụng
phương pháp định tâm của Thiền để dùng vào mục tiêu riêng của họ
mà thôi! Còn có một chuyện nữa làm các em ngạc nhiên hơn. Đó
là chuyện trước khi sư Từ Ðạo Hạnh xuất gia; ông ta luyện chú
Đại Bi để có phép rồi trở về giết pháp sư Ðại Ðiên để trả thù
cho cha.
C: Em cũng có đọc qua chuyện đó trong cuốn
Thiền Sư Việt Nam của Thầy Thanh Từ, phải không anh? Rõ ràng
phương tiện là trì chú nhưng mục đích lại là giết người thì đâu
có phải là tu theo Phật anh hở?
A: Đúng vậy đó, các em! Những người như vậy
là tu theo Ma chứ không phải tu theo Phật rồi! ☺☺!! Các em có
nghe nói “Phật cao một thước, Ma cao một trượng” không? Ý nói
về phương tiện thì Ma không thua Phật đâu, nó chỉ thua Phật ở
mục đích, cứu cánh của sự tu hành mà thôi, còn tâm Ma và tâm
Phật trong chúng ta thì chỉ cách nhau trong gang tấc. Riêng về
thiền sư Từ Ðạo Hạnh; sau khi trả thù cha, ông ta đã ăn năn và
bỏ tất cả để thật sự tu hành và sau này đã trở nên một thiền sư
Việt Nam nổi tiếng vào thế kỷ thứ 12 đó các em ạ.
B: Như vậy người ta gọi là “bỏ đồ đao xuống
là thành Phật” đó phải không anh?
C: Không phải vậy, ông này đâu có phải là
chuyên môn giết nguời đâu mà bạn nói như thế?
A: C nói đúng, trường hợp vị sư này là do
một phút nông nổi, bất giác, bị lòng thù hận xâm chiếm, bị mối
thù giết cha khống chế, bị quan niệm sai lầm cố chấp và hẹp hòi
về chữ Hiếu thúc đẩy nên mới dấn thân vào sự trả thù và tư tưởng
trả thù đã che mờ lương tri, không còn nhớ lời Phật dạy “lấy oán
báo oán, oán không bao giờ dứt” và cũng không còn nhớ bài học
của ngài Ngộ Ðạt trong kinh Thủy Sám nữa!
B: Anh nói “bất giác” có phải là trái nghĩa
với tỉnh giác không?
A: Phải đó, trong một phút bất giác, ta có
thể nói hay làm những điều tệ hại không thể tưởng tượng được, có
thể khiến ta phải hối hận, đau khổ… về sau này. Vì vậy, Thiền áp
dụng trong cuộc sống của GÐPT chúng ta là nhằm cho các em tập
tỉnh thức (mindful), ý thức rõ ràng mình đang làm gì, đang nói
gì, đang nghĩ gì; biết được những ý nghĩ, lời nói ấy, việc làm
ấy không gây đau khổ cho mình và cho người khác, mà nếu tích cực
hơn thì còn đem lại an vui hạnh phúc cho mình và người chung
quanh nữa.
C: Em biết rồi, đó là “sáng cho người thêm
niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” phải không anh?
B: Em cũng biết rồi, như các anh chị dạy
chúng em phải học thuộc các thi kệ và khi thấy cái gì, làm cái
gì… đều nghĩ đến người khác và nguyện cho mọi người được an lạc
có phải không?
C: Ví dụ như khi đi ra đường thấy đường
sạch sẽ ta liền nhớ bài kệ:
Thấy đường sạch sẽ
Nguyện rằng chúng sanh
Thường hành đại bi
Tâm luôn tươi mát.
Còn thấy đường bụi bặm thì đừng có phàn
nàn, “đường gì mà dõm vậy!” mà phải nhớ đến bài kệ này nha!
Gặp đường đầy bụi,
Nguyện rằng chúng sanh
Rời xa bụi bặm
Giữ lòng thanh tịnh.
Hễ gặp đám đông hãy nghĩ đến bài kệ:
Khi thấy đám đông
Nguyện rằng chúng sanh
Nói lý thậm thâm
Hòa hợp tất cả.
Và bản thân mình thì áp dụng bài kệ này để
khi hội họp thì nói lý lẽ để xây dựng, không nổi nóng, không cố
chấp… đó là những phương pháp để mình thực tập về sự tỉnh thức
phải không anh?
A: Đúng vậy! Các em rất giỏi, đã thuộc nằm
lòng những bài kệ để “phòng hộ” tâm như lời dạy của chư Tổ về
Thiền:
Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần
Đem ý thức tinh chuyên phòng hộ.
B: Tại sao phải “phòng hộ” tâm hở anh? Khi
tiếp xúc với cảnh, tâm bị nguy hiểm chăng?
A: Phải đó! Ví dụ như khi mắt thấy của cải,
vàng bạc, v.v... thì tâm sinh ham muốn, ý muốn ăn cắp khởi lên,
người ăn trộm sẽ tìm cách để cướp của, kể cả giết người… rồi sau
đó anh ta có thể bị tù tội, xử tử, v.v... các em thấy có phải
không những tâm gặp nguy hiểm và thân cũng gặp nguy hiểm nữa hay
không?
Có người nói rằng nếu đối cảnh mà không
sinh tâm thì không cần phải học Thiền nữa.
C: Như vậy, Thiền dạy cho ta làm những gì
từ thấp lên cao hở anh?
B: Bạn hỏi gì mà nhiều vậy? Bộ bạn muốn
thành Phật liền sao?
A: Câu hỏi của C đúng thật là nhiều đó,
nhưng anh sẽ trả lời một phần theo hiểu biết của anh và chương
trình học của GÐPT chúng ta thôi nha!
Trước khi tu tập Thiền, chúng ta đều được
dạy phải hội đủ ba điều kiện: phát Bồ đề tâm, xa lìa tham sân
chấp ngã và hiểu rõ tánh Không; nếu thiếu một trong ba yếu tố đó
thì dù luyện thần thông cao đến đâu cũng chỉ là hành Ma đạo mà
thôi! ☺☺!!
C: Chúng em đã học về phát Bồ-đề tâm, tham
sân chấp ngã rồi, còn tánh Không có phải là thực tánh duyên khởi
của các Pháp không anh?
B: Nghĩa là mọi sự vật hiện tượng trong vũ
trụ này, ở thế giới ta-bà này đều không có thực tánh và không có
cái gì độc lập tồn tại? “Cái này có vì cái kia có, cái này sinh
vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt...” phải không?
A: Đúng vậy, và chúng ta phải thường quán
sát để thấy như thế. Như vậy thì trong khi tu thiền, hay bất cứ
tu theo pháp môn nào, tâm ta cũng không có mong cầu, mà chỉ thực
hành theo lời dạy của Kinh, của Thầy mà tu tâm sửa tính; vì đã
biết duyên khởi, đã tin nhân quả, nghiệp báo… thì không còn gì
để mong cầu hay van xin ai cả; chính mình là người sẽ ban ân hay
giáng họa cho mình, tùy vào những hành vi của mình qua ba ngỏ
thân, miệng, ý là thiện hay bất thiện mà thôi.
C: Như vậy, xin Anh tóm tắt lại cho chúng
em GÐPT chúng ta tu Thiền như thế nào?
B: Em đâu thấy chương trình có tu thiền đâu
anh?
A: Tuy không ghi rõ là tu Thiền nhưng những
bài về “Chánh niệm và Tỉnh thức”, “Ăn cơm trong chánh niệm”,
“Hạnh lắng nghe”, “Nghệ thuật nghe Pháp thoại” hay 5, 10 phút
ngồi tĩnh tâm trước hay sau buổi lễ Phật hằng tuần, hay những
bài thi kệ, v.v… tất cả đều nằm trong nội dung của giáo dục
Thiền đấy các em ạ!
C: Xin anh trở lại câu hỏi của em!
A: Về lý thuyết, chúng ta học cho biết về
các phương pháp Thiền, về thực hành chúng ta chú trọng hai phần:
Sám hối (tu tâm dưỡng tánh) và tập ngồi thiền (tại Chùa cũng như
ở nhà hay ở những khóa tu học). Ðó là lý do tại sao dù ở ngành
nào, bậc nào chúng ta cũng đều tụng bài sám hối đầu tiên hết
trong các buổi lễ Phật. Tụng và thực hành sám hối chân thật về
các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, v.v...), chúng ta phải soi rọi lại
mình, từ cái thấy, cái nghe, v.v… Ví dụ: Mắt thấy sắc (vật chất:
cái hoa, của cải, con người, v.v…) có sinh tâm tham lam muốn
chiếm hữu không? Tai nghe lời khen tiếng chê có sinh tâm ngã mạn
hay giận dữ, ganh ghét không? v.v... Nếu thấy mình có lỗi thì
phải biết sửa lỗi.
Về thực hành Thiền thì tùy theo trình độ,
ngồi thiền, tĩnh tâm, tham dự những khóa tu học, v.v... Nhưng dù
bất cứ dưới hình thức nào cũng không xa rời mục đích giữ gìn
chánh niệm và cần nhất là áp dụng Thiền trong đời sống, luôn
nhìn lại mình từng giờ, từng phút chứ không phải chỉ trong thời
gian 5 phút, 15 phút hay 1 giờ… của thời khóa tu tập hằng ngày
mà thôi đâu!
B: Thưa anh, còn những điều chúng ta học
trong bài Lục độ Ba-la-mật thì sao? Chúng ta mới áp dụng “sổ tức
quán” và “niệm Phật quán” trong thiền định thôi, phải không?
A: Phải, chúng ta chỉ mới bước đầu làm quen
với Thiền mà thôi. Nói đúng hơn, chúng ta chỉ áp dụng phép đếm
hơi thở để giữ tâm tĩnh lặng, để tập dừng lại các tư tưởng lăng
xăng… Tâm có lặng thì mình mới có dịp soi rọi lại mình, để
“thấy” được những tư tưởng khởi lên như thế nào, tồn tại và lặn
xuống như thế nào, v.v... Ðó là một trong những cách để chuyển
hóa tâm giận dữ, tâm đố kỵ… Còn về pháp quán thì chúng ta chỉ
mới tập “quán vô thường” bằng cách trầm tư suy gẫm về vô thường
trong đời sống, trong trời đất, trong lịch sử nhân loại, và
trong chính tâm ta.
Câu chuyện cũng đã dài rồi. Hôm nay chúng
ta tạm dừng đây nha!
C: Cảm ơn anh đã giải thích cho chúng em
rất nhiều về chữ “tu” nhất là những điều lý thú về tu Thiền.
B: Lần sau anh sẽ nói thêm và kể cho chúng
em nhiều mẫu chuyện ý nghĩa về Thiền nữa chứ?
A: Được! Tạm biệt các em!
B&C: Tạm biệt! Tạm biệt!
14. Thiền
bây giờ và
ở đây
Kính thưa quí vị và các bạn,
Xin kính chào tái ngộ quí vị và các bạn,
xin mời quí vị và các bạn cùng tham dự cuộc hội thoại của 3 anh
em huynh trưởng trẻ A, B, C tản mạn về “Thiền bây giờ và ở đây”
(The Here & Now Meditation).
A: Hôm nay theo như đã hứa, anh sẽ nói
chuyện với các em về phương pháp Thiền bây giờ và ở đây; nhưng
trước hết, anh muốn các em nói cho anh biết tại sao người ta
thiền? (meditate)
C: Để tìm sự an ổn nội tâm (inner peace) để
chấm dứt đau khổ, phiền não, để nâng cao tâm hồn và khí chất (to
improve one’s heart and behavior), để mở mang trí tuệ (to
develop wisdom)…
B: Để chứng nghiệm chân lý (to realize the
Truth), để chữa trị (to heal)? để thăng tiến về phương diện tâm
linh (to evolve spiritually); để đạt đến giác ngộ (to attain
enlightenment)?
A: Đúng vậy, các em đã nói rất đúng về
những mục đích từ nhỏ đến lớn từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp của việc tu thiền. Nguyên nhân của phiền não bất an là
do cái tâm (mind) lăng xăng của ta; nó không ngừng chạy nhảy tứ
tung, liên tục lải nhải, không phút nào ngừng nghỉ, ngay trong
giấc ngủ của chúng ta.
B: Dạ, em hiểu rồi, cái tâm mình nó luôn
bận rộn với những hồi tưởng về quá khứ.
C: Và những lo lắng, sợ hãi, toan tính về
tương lai, phải không anh?
A: Phải đó, và nó còn dày vò chúng ta với
những quan điểm và cái nhìn “méo mó” của con người vì quen phê
phán, phân tích, lý luận, để dựng lên những yêu-ghét, lấy-bỏ. Từ
đó mới phát sinh ganh tị, hận thù, bạo lực, v.v…
B: Như vậy làm sao Thiền có thể đương đầu
với cái tâm như vậy hở anh?
A: Trước hết, mục đích chính của Thiền là
làm cho cái Tâm lắng dịu xuống (“lying down” that “mind”); trong
Thiền phương Ðông, người ta thường nói là “giữ cho Tâm ở cùng
với Thân”.
C: Nghĩa là sao hở anh?
A: Nghĩa là tùy thuộc vào mục đích khác
nhau, dùng những phương pháp tập cho tâm dừng lại (stopping),
hoặc giữ tâm hoàn toàn tĩnh lặng (complete stillness), hay vắng
bặt tư tưởng (absence of thoughts), hay tỉnh giác về chuyển động
của tư tưởng, hay ngăn chặn sự khởi lên của tư tưởng (prevention
of arising thoughts)…
B: Còn “Thiền bây giờ và ở đây” thì làm
sao?
A: “Thiền bây giờ và ở đây” không chỉ có
nghĩa ngồi khoanh chân lại hằng giờ; cũng không phải tham thiền
hay thiền định như chư Tăng Ni… Tất cả chúng ta đều có thể thực
hành một cách dễ dàng.
C: Chúng ta ngồi Thiền sau giờ lễ Phật hay
trước giờ lễ Phật có phải là loại Thiền này không?
A: Đúng vậy! Chúng ta ngồi thiền với tâm
bản nhiên, không mong cầu, không sợ hãi điều gì, cũng không thấy
mình chứng đắc một cái gì.
B: Anh nhắc lại kỹ thuật cho chúng em đi
(“here and now” meditation technique) – kỹ thuật của mức thứ
nhất đó (level one technique).
A: Có 3 bước :
Bước 1, hít vào thật chậm qua mũi, thở ra
bằng miệng, cảm thấy như có một làn sóng quét sạch từ đầu đến
chân làm toàn thân thư giãn (relax) hoàn toàn. Mắt nhắm hay mở
cũng được nhưng nhớ đừng chú mục vào đâu cả và cũng đừng tập
trung tư tưởng vào bất cứ gì.
Bước 2, biết rằng “thân đang ở đây”, tâm
đang đi đến vùng trái tim; để cho thân tâm thư giãn, nhất là thư
giãn tất cả những cơ bắp (muscles) quanh mắt và trán dù mắt nhắm
hay mở. Mơ hồ biết rằng tâm đang ngự tại vùng trái tim (vaguely
know that the mind is sitting at the heart area).
Giữ nguyên trạng thái không suy nghĩ, không
tập trung đó tối thiểu là 1 phút và tối đa là 30 phút. Có thể
nhắm mắt lại nếu thiền lâu hơn một phút.
B: Thường anh cho chúng em ngồi 15 phút
nhưng chỉ vài phút là tâm “chạy nhảy” rồi anh à!
A: Anh biết chứ! Nếu tâm bắt đầu lang
thang, chúng ta lập tức im lặng nhắc nhở nó “thân đang ở đây”
thì nó sẽ trở về chỗ cũ, còn chúng ta cũng thả lỏng thân tâm như
lúc mới bắt đầu.
C: Còn bước thứ 3 thì sao anh?
A: B thử nhắc lại bước thứ 3 đi, chắc em
còn nhớ?
B: Dạ, bước thứ 3 là hít vào một hơi thật
sâu và thở ra chậm rãi, thư giãn thân thể để kết thúc thời thiền
tập.
A: Chúng ta có thể thiền bất cứ lúc nào
chúng ta muốn: khi đi dạo, khi ngồi trên xe bus, khi sắp hàng
đợi đến phiên mình, v.v… thời gian dài ngắn tùy hoàn cảnh, có
thể chỉ là vài phút.
C: Mục đích để thư giãn, tinh thần bớt căng
thẳng, tránh được stress phải không anh?
A: Phải rồi, nhưng mục đích chính của chúng
ta là để luôn sống trong hiện tại, trong sự kiểm soát của tâm và
giữ tâm tĩnh lặng và cân bằng (quân bình - equanimity) giữa cuộc
đời huyên náo này.
B: Vậy hằng ngày, ta phải thường tự nhắc
nhở “thân đang ở đây” thở thật sâu và giữ sự yên tĩnh trong 30
giây, sau đó trở lại công việc bình thường và giữ tâm ở vùng
trái tim càng lâu càng tốt, phải không anh?
A: Đúng vậy, hãy thực tập thật tốt, thật
nhuần nhuyễn bước 1 để có thể kinh nghiệm tình trạng tĩnh lặng
trong một thời gian kha khá rồi mới nên qua mức thứ 2. Nhớ rằng
“dục tốc bất đạt” (rushing may hinder successes).
C: Anh nói lại cho chúng em, đặc tính của
Thiền “bây giờ và ở đây” là gì hở anh?
A: Đặc tính của thiền bây-giờ-và-ở-đây là
không bị kiềm chế: Hành giả giữ hoàn toàn trong trạng thái không
làm gì cả (inaction) không tập trung (unfocused), không chú mục
(unwatchful), không kiềm chế (unrestraining) và không chú tâm
(un-contemplative).
B: Lợi ích của Thiền “bây giờ và ở đây” là
gì?
A: Trước hết là đơn giản và dễ thực hiện.
Thứ nữa là sau khi kinh nghiệm được sự tĩnh lặng của tâm, hành
giả có thể tiến xa hơn dù thực tập theo phương pháp khác cũng
được.
Hơn nữa, chúng ta không thể thực hiện “thế
giới hòa bình chúng sanh an lạc” nếu chúng ta không có sự bình
an trong tâm hồn.
C: Phải rồi, em nhớ hôm bữa anh nói còn
phải thay đổi cách nhìn của mình về những sự việc chung quanh
mình sao cho “tích cực” nữa phải không?
A: Đúng vậy! Ðau khổ phiền não thật ra đến
từ trong lòng ta, không phải do bên ngoài! B này, em hãy nói xem
chúng ta phải thay đổi cách nhìn như thế nào trong những trường
hợp nào?
B: Dạ, trước hết là phải thay đổi thói “lải
nhải của tâm”. Ví dụ mẹ em rầy oan cho em một lần; nhưng em cứ
nhớ hoài và lâu dần thì tưởng ngày nào mẹ em cũng la em như vậy!
Ta nói tâm ta hay “lải nhải” là vậy; những lúc đó ta phải tỉnh
giác kéo tâm lại cho nó biết việc ấy không có, đừng có lải nhải
nữa.
A: Còn gì nữa? Bây giờ em đã nhớ chưa C?
Nói tiếp đi!
C: Dạ nhớ rồi! Chúng ta thường hay dùng chữ
“phải” mà không biết dùng chữ “nên”. Vì vậy, chúng ta bực tức
khi mọi người không vâng lời ta, vì họ đâu có suy nghĩ giống ta!
Tại sao ta “bắt buộc” họ phải đồng ý? Đó chính là nguyên nhân
đem lại phiền não cho ta.
A: Còn nữa, chúng ta thường “muốn” rất
nhiều mà không được toại nguyện, thế là đau khổ phiền não! Làm
sao để đối trị? Chúng ta hãy cân nhắc “ta MUỐN cái này hay là
CẦN cái này?” Nếu câu trả lời là “cần” hãy tiến tới, nếu câu rả
lời là “muốn” thì hãy quên nó đi!
B: Hay quá! Còn nữa, hãy sống trong hiện
tại! Như mẹ em, thường đau khổ vì những việc đã xảy ra trong quá
khứ! Còn ba em thì trái lại, không ngừng lo lắng vì những chuyện
chưa xảy ra. Như vậy ba mẹ em quên mất là họ đang sống trong
hiện tại! Và sự lo lắng đau khổ của họ thật là… một bên là vô
duyên, một bên là vô cớ và không thay đổi được cái gì cả, ngoại
trừ tự làm khổ mình !☺!☺!
A: Các em rất giỏi, bây giờ anh đưa ra
những tiêu đề sau đây, các em xem thử làm như thế nào, nghĩ như
thế nào, thay đổi cách nhìn như thế nào mới là tích cực, góp
phần vào việc ổn định nội tâm nha:
Tin vào nghiệp
Sự tương quan giữa người và người
Rút ra được bài học gì?
Về đúng-sai, thiện-ác v.v…
Hạnh phúc và đau khổ
Thay đổi người khác
Thay đổi hoàn cảnh
Sự tha thứ
Sự tin tưởng
v.v…
Các em có thêm vấn đề gì nữa, mình sẽ cùng
nhau thảo luận trong lần họp mặt tới đây nha!
B&C: Dạ! Dạ! Tạm biệt anh! ■
15. Thiền
ở
đây và bây giờ
(tt)
Kính chào tái ngộ quí vị và các bạn,
Hôm nay, chúng tôi xin mời quí vị và các
bạn theo dõi một cuộc hội thoại giữa 3 huynh trưởng trẻ A, B, C
về Phật Pháp nhập môn; vì cả 3 anh em đều không thông thạo tiếng
Việt lắm, cũng như danh từ Phật Pháp, nên thỉnh thoảng phải nhắc
nhở nhau những danh từ tiếng Anh, tiếng Pali đã học được để dễ
ghi nhớ hay hiểu rõ hơn. Ðề tài hôm nay tiếp nối câu chuyện
“Thiền bây giờ và ở đây”.
A: Chào các em, sao, hôm nay các em có vấn
đề gì mới không? Có suy gẫm những điều anh nói hôm trước không?
B: Dạ, thưa anh, hôm bữa anh có nói Thiền
nói riêng và Phật pháp nói chung dạy chúng ta “không nên bám víu,
nắm giữ hay dính mắc bất cứ điều gì” (nothing whatsoever should
be grasped at or clung to) có phải không ạ?
A: Phải rồi, em nhớ đúng lắm!
C: Như vậy mình cũng không nắm giữ Phật
pháp sao?
A: Đúng vậy, mình phải thực hành Phật Pháp
chứ không phải là nắm giữ Phật pháp; đức Phật, giáo pháp của
Ngài như chiếc bè để qua sông, không phải để vác lên vai mà đi!
Em có thể nói rõ hơn điều này cho bạn C hiểu không?
B: Dạ được, này nha bạn C, ví dụ khi bạn
hiểu được ý nghĩa của giới; ví dụ giới không trộm cắp, bạn thực
hành nó, nghĩa là kiềm chế lòng tham, không lấy những đồ vật
không phải của mình chứ không phải bạn học thuộc lòng các giới
đó, đem ra “khoe” mình thông thuộc, nào là không sát sanh, không
nói dối, không trộm cắp… mà không hề tự hỏi mình xem chứ mình có
hay nói dối không, có hay bắn chim, bắt cá hay không v.v…
A: Còn nữa! Tại sao một người thất bại
trong việc giữ giới không trộm cắp? Tại vì người ấy bám víu vào
sự vật đến nỗi không tự kiềm chế được lòng ham muốn mới đi đến
phạm giới trộm cắp.
C: Em hiểu rồi, cũng như tại sao tâm trí ta
luôn xao lãng, không phút nào có thể định tâm? Ðó là tại vì tâm
ta đang còn dính mắc một điều gì, còn vướng bận một điều gì,
phải không anh?
A: Đúng vậy, khi C trả lời câu hỏi này, anh
chợt nhớ đến…
B: Một bài hát, có đúng không?
A: Đúng!..
C: Em cũng vậy, đó là bài hát ngắn của anh
Thanh Toàn:
Gatê,Gatê, Paragatê, Parasamgatê, Buddhi
Svaha!(3)
Này anh em ơi tiến lên tiến lên soi lại
mình đi,
Tâm chúng ta vướng bận điều gì?
Tâm chúng ta vuớng bận điều gì!
Gatê,Gatê, Paragatê, Parasamgatê, Buddhi
Svaha!(3)
A: Vậy là 3 anh em mình tâm linh tương
thông rồi ! ☺☺!!
C: “Tâm linh tương thông” là gì hở anh?
B: Là telepathy đó!
C: Ồ thì ra là vậy, dễ hiểu vô cùng!
B: Xin hãy trở lại vấn đề của chúng ta, làm
sao để thực hành sự không bám víu, không nắm giữ? (how to put in
practice this non-grasping and non-clinging?)
A: Đức Phật chỉ dẫn rất rõ ràng cho chúng
ta cách thực hành thật đầy đủ như sau:
Khi thấy một vật, chỉ đơn thuần là thấy vật
ấy (viewing an object by way of the eye, just see it).
Khi nghe một âm thanh, chỉ đơn thuần là
nghe âm thanh ấy.
Khi ngửi một mùi, chỉ đơn thuần là ngửi mùi
ấy.
Khi nếm một vị, chỉ đơn thuần là nếm vị ấy.
Khi thân xúc chạm một vật, chỉ đơn thuần là
sự xúc chạm.
Khi một ý nghĩ khởi lên, hãy nhận biết và
ghi nhận ý nghĩ ấy.
B: Thật là hay quá! Như vậy em có thể nói
ngắn gọn lại như vầy không? Khi nghe thì chỉ là nghe,
Khi thấy thì chỉ là thấy,
Khi ngửi thì chỉ là ngửi,
Khi nếm thì chỉ là nếm,
Khi xúc chạm thì chỉ là sự xúc chạm,
Khi một ý nghĩ khởi lên trong tâm thì ý
thức điều đó.
A: Được chứ! Đại ý là khi tiếp xúc với thế
giới bên ngoài qua các giác quan (senses), chúng ta chỉ đơn
thuần ghi nhận mà không để cho ý niệm về “tôi”, “ta”… xen vào.
C: Em chưa hiểu, anh nói rõ hơn một chút
được không?
A: “Khi thấy một vật gì, chỉ đơn thuần là
thấy” có nghĩa là: khi mắt tiếp xúc với một vật, em hãy quan sát
vật ấy, ghi nhận chúng để biết cần phải làm gì nhưng đừng để cho
tâm yêu - ghét khởi sinh. Vì sao? Nếu em khởi tâm yêu thích thì
ham muốn theo liền, em sẽ tìm cách nắm giữ nó, bám víu nó; nếu
để cho ghét khởi lên thì sân hận sẽ phát sinh và em sẽ tìm cách
hủy hoại nó… từ đó mà có yêu ghét lấy bỏ, đó là sự dính mắc vào
cái ta hay tự ngã ( ego_ self ); nếu là như vậy thì sẽ có phiền
não khổ đau đến liền!
C: Nhưng thực tế, hễ thấy cái gì là ta
“yêu” hay “ghét” ngay, ví dụ thấy cái hoa đẹp thì ta thích, thấy
con rắn thì ta sợ, thấy con chó dữ thì ta ghét v.v... làm sao
“giữ cho cái thấy thuần là cái thấy” được?
B: Vậy mới gọi là phải tu tập, phải thực
tập.
A: B nói đúng! Phải thực tập để cái nhìn sự
vật ngưng ngay tại đó, và trí tuệ nội quán (wisdom, insight) sẽ
vận hành một cách tự nhiên.
C: Nói cách khác, ta đừng có thành kiến,
chỉ ghi nhận sự vật như-nó-đang-là ( as-it-is) phải không anh?
A: Ðúng vậy, cho nên có câu nói các em còn
nhớ không? “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” đó!
B: Dạ, em có nhớ_nghĩa là “tiếp xúc với
trần cảnh mà không khởi tâm yêu ghét thì không cần phải hỏi
thiền nữa” phải không anh?
A: Phải rồi!
C: Như vậy em đã hiểu; khi nghe một âm
thanh thì ta cứ việc nghe: ví dụ nghe ai khen thì đừng khởi tâm
ngã mạn, nghe chê đừng chán nản hay thù ghét người chê mình v.v…
phải không anh?
A: Phải đấy! Hằng ngày, mắt ta thấy vật này,
người kia, cảnh nọ, tai nghe đủ loại âm thanh, mũi ngửi đủ thứ
hương thơm cũng như mùi hôi… cả 6 giác quan không ngừng tiếp xúc
với ngoại cảnh, như vậy, chỉ cần thực tập công phu “thấy chỉ
thấy, nghe chỉ nghe…” cũng đủ là một phép rèn luyện tâm rất tốt
rồi!
B: Như vậy gọi là tu thân đó phải không anh?
A: Em muốn nói chữ “tu thân” nào? Ðức Khổng
Tử ngày xưa có nói: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ;
thì không phải hoàn toàn giống hai chữ tu thân của anh em mình,
tu thân đó là nói chung; còn ở đây, chúng ta thấy rằng chúng ta
có thể khởi sự Tu (quán sát - thiền tập) ngay nơi thân và tâm
của mình-bây giờ và ở đây.
C: Tu như thế nào là đạt hở anh?
A: Trong thực hành, chúng ta phải luôn quán
sát thân tâm một cách chánh niệm, tỉnh thức. Khi ta chỉ đơn
thuần quán sát thân tâm, biểu hiện qua 6 giác quan mà không thêm
bất kỳ một yếu tố nào vào, có nghĩa là không xem thân này là
“tôi” hay “ta” hay “của tôi”, “của ta”… tức là ta đang thực hành
Bát chánh đạo.
B: Ồ hay quá! Anh giảng rõ chỗ này cho
chúng em nghe đi anh!
A: Trước hết chúng ta đã biết đến 6 giác
quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; mỗi giác quan có 5 yếu tố;
ví dụ về sự thấy, B cho anh biết 5 yếu tố của sự thấy là những
gì?
B: Thưa anh, đó là: căn, trần, thức, xúc,
thọ.
Mắt = cơ quan thu nhận hình sắc (căn),
Vật được mắt nhìn thấy = đối tượng (trần),
Thức = sự nhận biết đối tượng
(consciousness of the eye),
Xúc = sự xúc chạm xảy ra giữa mắt, vật được
thấy và thức,
Thọ = cảm giác vui, khổ hay thờ ơ (không
vui, không khổ).
A: Giỏi lắm! Như vậy, có tất cả mấy yếu tố,
C cho anh biết đi!
C: Dạ thưa anh, mỗi giác quan có 5 yếu tố
thì 6 giác quan có tổng cộng là 30 yếu tố.
A: Ðúng vậy! Các em thấy không? Mỗi yếu tố
đều có thể bị chúng ta nắm giữ lấy, lầm tưởng đó là “ta” hay
‘của ta.” Nếu thiếu chánh niệm, chúng ta có thể nhầm lẫn sự nhận
biết là “tôi” hay “ta”; tương tự, chúng ta có thể bám víu vào
xúc hay thọ và xem chúng là “tôi” hay “ta”.
B: Em hiểu rồi, thật là dễ sợ anh hở? Vì
mỗi ngày như vậy, chúng ta có thể lầm tưởng biết bao nhiêu lần
với 30 yếu tố đó, xem rằng chúng là “ta” hay “tôi” hay “của tôi”…
A: Phải rồi! Và nếu có sự dính mắc vào sự
vật thì liền đó sinh phiền não đau khổ ngay; như thế là ta đã tự
xô mình vào mạng lưới chằng chịt của chấp ngã, tham ái, và vậy
là ta không đi trên con đường đức Phật đã dạy; có phải không C?
Em thử giải thích xem?
C: Dạ thưa anh, vì đức Phật dạy chúng ta
đừng chấp chặt vào 6 giác quan cùng với các yếu tố liên hệ đến
chúng.
A: Đúng rồi, vậy là C đã nắm được vấn đề tu
ngay trên thân này: nhờ luôn luôn canh phòng bằng chánh niệm,
quan sát các sự vật và ghi nhận mọi ý tưởng sinh khởi… nên chúng
ta không nhận giác quan nào hay yếu tố nào liên hệ đến chúng làm
“ta “ hay “của ta” cả, chính ngay lúc đó Bát chánh đạo khởi sinh.
B: Bây giờ em càng hiểu rõ tại sao ngài
Achaan Chah nói tu Bát chánh đạo là tu hai con mắt, hai lỗ tai,
hai cái mũi và cái lưỡi rồi!
A: Các em rất giỏi! Bây giờ các em có câu
hỏi nào nữa không?
C: Thưa Anh, hôm bữa anh có nói chúng em
hãy suy nghĩ về nghiệp; hôm nay em muốn hỏi anh: nghiệp có vai
trò như thế nào trong Phật học? (What role does Kamma play in
Buddhism)
A: Trước hết, B hãy trả lời cho anh: nghiệp
là gì?
B: Thưa anh, nghiệp (kamma) là những việc
làm, những hành động của thân miệng, ý với tác ý (cetanã), nghĩa
là cố ý chứ không phải vô tình hay tình cờ.
A: Đúng rồi! Những tư tưởng, lời nói và
hành động đều được phát sinh do “ý muốn làm” Phật giáo gọi ý
muốn làm đó là “tác ý” (cetanã). Tất cả những hành động có tác ý
dù thiện hay bất thiện đều tạo nghiệp. Những hành động không có
chủ tâm, không có tác ý, dù biểu hiện bằng lời nói hay việc làm
đều không tạo nghiệp.
C: Thưa anh, như vậy nghiệp có phải là định
mệnh hay số mạng không?
A: Không, Phật giáo không nói rằng nghiệp
là do tiền định hay một oai lực nào giáng lên con người mà chính
những hành động (cố ý) thiện hay ác tự nó gây ra những phản ứng
lành hay dữ.
B: Nghiệp và nghiệp lực có khác nhau không?
A: Nghiệp tự nó là một năng lực.
C: Thưa anh, nghiệp được tích trữ nơi thân
hay trong tâm con người?
A: Em hỏi anh đúng ngay câu mà cách đây mấy
trăm năm, vua Milanda đã hỏi ngài Nãgasena (ta quen gọi là ngài
Na Tiên Tỳ-kheo); anh kể lại cho các em nghe đây:
Một hôm vua Milanda hỏi Ðại đức Nãgasena:
Kính bạch Ðại đức! Nghiệp được tích trữ ở
đâu?
Tâu Ðại vương! Ta không thể nói nghiệp được
tích trữ ở một nơi nào trong cái tâm luôn luôn biến đổi, hay một
nơi nào khác trong thân thể con người. Nhưng tùy thuộc nơi danh
và sắc, nghiệp khởi hiện trong một lúc thích ứng. Cũng như ta
không thể nói trái xoài được tích trữ ở nơi nào trong cây xoài,
nhưng tùy thuộc nơi cây xoài, và khi đầy đủ cơ duyên, nó sẽ trổ
ra đúng lúc, đúng mùa.
B: Thật chí lý! Ngài Na Tiên cho ví dụ về
trái xoài và cây xoài hay quá! Tuy nhiên, em xin anh nói thêm về
sự chuyển hóa tâm bằng con đường thiền ‘bây-giờ-và-ở-đây’ đi
anh!
A: Ðúng vậy, anh xin lỗi! Đức
Ðạt-lai-lat-ma (ÐLLM) 14 nói: chìa khóa của sự chuyển hóa tâm là
hiểu biết về sự vận hành của tình cảm và tư tưởng trong ta, biết
được chúng hoạt động ra sao.
C: Thì ta đã biết như trên đây, khi tiếp
xúc với sự vật rồi đó phải không anh?
A: Phải, nhưng chưa đủ! Chúng ta còn phải
nhận diện được những tư tưởng tình cảm đối nghịch trong nội tâm
ta khi chúng khởi lên (tâm sân, tâm từ…) và tự tìm ra cách giảm
thiểu những năng lực bất thiện như giận, ghét, và phát triển
những tình cảm đối nghịch với chúng là tình thương và lòng từ
bi.
B: Nghĩa là chúng ta phải luyện tập không
ngừng nghỉ để nuôi dưỡng những tính thiện trong ta, phải không
anh?
A: Phải đó, ÐLLM 14 cũng nói rằng bản chất
các cảm nghĩ trong con người là khi ta càng để tâm đến chúng và
biết cách khai triển thì chúng càng lớn mạnh, vì vậy, chúng ta
phải thực hiện việc huân tập này khi thực tập thiền, vì thiền
theo Phật giáo là một thứ kỷ luật tâm linh giúp chúng ta kiểm
soát tư tưởng và cảm xúc.
C: Em hiểu rồi, đức Phật có giải thích là
tại sao con người cho dù có hưởng thụ bao nhiêu dục lạc và “thỏa
mãn ước nguyện” thì rốt cuộc vẫn đau khổ phiền não? Đó là tại vì
cái tâm đầy những tư tưởng tình cảm lăng xăng, lung tung, vô kỷ
luật mà con người không kiểm soát được lại bị chúng kiểm soát
ngược lại và khống chế nên mới ra nông nổi đó phải không anh?
A: Đúng vậy!
B: Vì vậy nên mới nói thiền là một thứ kỷ
luật tâm linh?
A: Phải! Thiền giúp ta chú tâm vào một đối
tượng nhất định; đến đây anh phải nói thêm cho các em về hai
danh từ mới nữa, đó là “Thiền chỉ” hay thiền vắng lặng (Samatha)
và “Thiền quán” hay “Thiền Minh sát” (Vipassana) chính là qua
thiền quán ta có thể luyện được cho mình khả năng chú tâm vào
một đối tượng nhất định.
C: Anh có thể cho em một ví dụ làm sáng tỏ
sự khác biệt giữa thiền chỉ và thiền quán không?
A: Ví dụ như thiền quán về vô thường chẳng
hạn. Có một người luôn luôn chú tâm vào ý tưởng “mọi sự vật hiện
tượng trong thế giới này đều thay đổi từ phút này sang phút
khác”: người ấy đang thực hành thiền chỉ (thiền vắng lặng).
Có một người khác, thiền quán về vô thường
bằng cách luôn luôn áp dụng, kiểm chứng giáo lý vô thường vào
mọi sự vật hiện tượng, làm mạnh thêm sự tin tưởng về định luật
vô thường trong họ: người này đang áp dụng Thiền Minh sát.
B: Đây là Thiền Phật giáo phải không anh?
A: Không chỉ Phật giáo mới áp dụng hai
phương pháp thiền này. ÐLLM 14 nói rằng những người Ấn Ðộ giáo,
Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo, v.v… đều thực hành hai phương
pháp thiền này từ rất xa xưa, ví dụ họ chú tâm và đề mục Thượng
Ðế và họ đã đạt đến sự tin tưởng tuyệt đối về Thượng Ðế; và đức
Phật cũng dạy là trước Ngài đã có rất nhiều bậc đạo sư đạt mức
độ rất thâm sâu về thực hành thiền định.
C: Em biết rồi! Nhưng đạo Phật khác với các
tôn giáo khác là ba đặc điểm (tam pháp ấn) phải không anh?
B: Là 4 đó, không phải 3 ạ!
A: Ba cũng được mà 4 cũng được, đó là những
gì, B thử kể ra đi!
B: Dạ, đó là: 1. Mọi sự vật hiện tượng (tất
cả các pháp) đều do nhân duyên tạo thành, thay đổi không ngừng
(vô thường); 2. Những gì bất tịnh đều đưa đến khổ (khổ); 3.
Không có sự vật nào có tự tánh riêng biệt và tồn tại độc lập cả
(vô ngã _ Không); 4. Niết-bàn là nơi thật sự có an lạc (Niết-bàn
tịch tĩnh).
C: Anh B, có điều thứ hai em không hiểu;
anh nói rõ hơn đi!
B: Chữ “ bất tịnh” ở điều thứ hai có nghĩa
là những tư tưởng tình cảm tiêu cực, làm tâm bị nhiễm ô và khi
tâm bị nhiễm ô thì dẫn đến đau khổ phiền não; nói cách khác, nếu
tâm không bị nhiễm ô thì con người sẽ có hạnh phúc lâu dài như
lúc ban sơ chúng ta hằng ao ước.
C: Như vậy thì em hiểu rồi, ý nói là gốc rễ
của đau khổ phiền não không phải từ bên ngoài đến mà chúng đã
nằm sâu trong tâm ta từ lâu?
A: Đúng thế! Như vậy các em đã nắm được ý
nghĩa của ba pháp ấn (hay 4 pháp ấn) rồi chứ gì? Có thắc mắc gì
về đó nữa không?
B: Dạ, còn “Niết-bàn tịch tĩnh” em nghĩ
rằng mình nghe Phật dạy chứ mình làm sao biết “Niết-bàn là nơi
nào” được?
A: Ở trình độ anh chị em chúng ta, phải
hiểu “Niết-bàn tịch tĩnh” xác định rằng bản chất của tâm là
thanh tịnh; những ý niệm sai lầm, những tư tưởng, tình cảm, cảm
nghĩ,… tiêu cực không có trong bản chất của tâm. Chúng chỉ là
“những đám mây đen” đi ngang qua “bầu trời tâm” trong sáng. Như
vậy khi tâm trở lại bản tánh tự nhiên của nó như thiền sư Bankei
nói “tâm Phật bất sinh” thì lúc đó tâm ở trạng thái Niết-bàn.
C: Còn vô ngã và tánh không giúp ta cái gì,
thưa anh?
A: Tuệ giác về tánh rỗng không của các pháp
có khả năng giúp ta loại trừ những tư tưởng và cảm xúc bất thiện
cũng như những nhận thức sai lầm, gốc rễ của chúng. Nhờ vậy, tâm
ta sẽ không bị ô nhiễm, hay sẽ được tịnh hóa khi những chất cấu
bẩn được quét ra khỏi nó.
B: Thưa anh, tâm Phật hay Phật tánh sẵn có
trong mỗi chúng sanh, như vậy, trí tuệ và từ bi cũng sẵn có
trong mình rồi, tại sao chúng ta phải tận lực để phát triển nó
bằng phương pháp thiền nữa?
A: Em hãy xem những hạt giống. Tất cả hạt
giống đều có khả năng trở thành một cái cây, nhưng nếu không
được gieo trồng trên đất tốt, không được chăm sóc tốt như tưới
tẩm, làm cỏ, bón phân, giữ nhiệt độ thích hợp… thì liệu nó có
trở thành một cái cây mạnh khỏe không? Cũng thế, những hạt giống
trí tuệ và từ bi trong ta nếu không được ta tận lực nuôi dưỡng
thì làm sao nở ra hoa giác ngộ được? Đó là chưa nói khu vườn tâm
của chúng ta còn có những hạt giống tiêu cực; ví như cỏ dại luôn
mạnh hơn hoa quí; ai đã từng làm vườn đều biết điều này. Vậy
“làm cỏ” tức là quét sạch những cấu bẩn làm ô nhiễm tâm.
C: Hôm nay chúng ta đã học nhiều quá rồi
anh! Em thích nhất là vô ngã (không có “tôi” và “của tôi”) và
tánh không, em đọc lại bài thơ mà trước buổi nói chuyện này em
chưa hiểu lắm; bây giờ em càng thích hơn.
B: Bài thơ gì? Của ai?
C: Dạ của ngài Shantiveda, do ÐLLM 14 giới
thiệu:
“Tôi đâu cần nói gì thêm?
Người ích kỷ làm việc lợi cho mình
Phật làm việc ích lợi cho người khác
Hãy nhìn vào sự khác biệt đó.
Nếu tôi không đổi hạnh phúc của tôi
Lấy sự đau khổ của người khác
Tôi sẽ không đạt tới quả vị Phật
Và ngay trong cõi Ta bà, tôi cũng sẽ
không vui.
Gốc rễ của mọi khổ đau trên thế gian
Nằm trong các ý nghĩ về “Tôi”
Nguồn gốc tất cả hạnh phúc
Là ý nghĩ hướng về người!
A: Hay lắm! Phải đó các em, mỗi khi ta đối
xử vị tha thì ta lập tức thấy bình thản và an lạc hơn, lòng từ
bi đã đem lại phước báo cho ta ngay lập tức… chúng ta bớt lo cho
bản thân mình nhiều mà chuyển sự quan tâm ấy qua tha nhân; đó
chính là chuyển hóa tâm. Bây giờ, chúng ta nghỉ nha! Tạm biệt
các em, hẹn lần sau!
B& C: Dạ, tạm biệt, tạm biệt!!!
Kính thưa quí vị và các bạn,
Tuổi trẻ Phật giáo hôm nay đến với Phật
Pháp như đi lạc vào một khu rừng đầy hoa thơm cỏ lạ, ngoài việc
thưởng thức hương sắc tuyệt vời đem lại an lạc cho bản thân, các
em còn muốn được biết tên, nhớ tên những danh từ Phật pháp để
khi đọc sách, tham khảo có thể hiểu được dễ dàng. Đó là lý do
các anh chị đi trước thường nói chuyện, trao đổi với các em của
mình để vốn liếng tiếng Việt về Phật pháp được nâng cao.
Hôm nay, chúng tôi xin kính chào tái ngộ
với quí vị và các bạn trong đề tài “8 cái biết” dưới hình thức
một cuộc hội thoại bỏ túi giữa 3 anh em huynh trưởng trẻ A, B, C
đã được làm quen với quí vị và các bạn.
A: Chào các em, hôm nay anh muốn giới thiệu
với các em về một danh từ được Việt hóa, coi thử các em có còn
nhớ “gốc gác” của nó là gì không? đó là danh từ “cái biết”.
B: Dạ thưa anh, em nhớ chứ! Nhưng anh nói
“8 cái biết” thì em không biết hết.
C: Em cũng vậy, “cái biết” có phải là
consciousness mà chúng ta thường gặp trong các bài Phật pháp với
danh từ chữ Hán là “thức” phải không Anh? Nhưng em đã quen chữ
này rồi nên khi Anh nói “cái biết” em nghe lạ tai hơn là chữ “thức”.
B: Ðúng vậy đó anh, khi học về chánh niệm,
anh có nhắc tụi em “to act in full consciousness” tức là ý thức
rõ việc mình đang làm, đồng nghĩa với “mindfullness” đó phải
không Anh?
A: Các em khá lắm, như vậy các em hãy áp
dụng chữ “thức” là “cái biết” để nghĩ xem chúng ta đã học được
bao nhiêu loại thức rồi? C hãy kể trước đi nha!
C: Dạ thưa anh, như chúng em đã học trong
bài “ngũ uẩn” thì có 6 cái biết (thức); đó là: nhãn thức
(consciousness of the eyes), nhĩ thức (consciousness of the
ears), tỉ thức (consciousness of the nose), thiệt thức
(consciousness of the tongue), thân thức (consciousness of the
body) và ý thức (consciousness of mind).
A: Đúng rồi, B có gì bổ sung không?
B: Dạ, em muốn thêm là khi nói đến “thức”
thì phải nói đến “căn” và “cảnh”; vì bộ ba căn+cảnh+thức không
thể tách rời nhau nên được gọi là “tam hòa hiệp” (threefold
continuation).
C: Dạ, em cũng nhớ ra rồi. 6 căn là mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý. 6 trần là đối tượng của 6 căn; đó là
sắc (form), thanh (sounds), hương (perfume), vị (taste), xúc
(contact), pháp (dharma hay dhamma).
A: Các em rất giỏi, anh chỉ muốn bổ sung
thêm 1 chút là chữ “thức” (vijnana), một thuật ngữ quan trọng
trong Phật pháp, chỉ sự nhận biết. Như các em đã nhắc lại được 6
cái biết rồi, trước khi nói thêm 2 cái biết nữa, anh hỏi các em
thêm vài chi tiết về 6 cái biết trên.
B: Hãy cho anh biết, khi nói căn+cảnh+thức
không thể tách rời nhau, chúng ta muốn nói đến cái gì?
B: Dạ thưa anh, chúng ta muốn nói rằng: Nếu
mắt nhìn (look at) mà không có mặt của nhãn thức thì tuy nhìn mà
không thấy gì cả (we don’t see anything). Tương tự, tai nghe mà
không có sự hiện diện của nhĩ thức thì nghe mà không hiểu là
đang nghe cái gì, v.v... Ngoài ra, sự kết hợp của 3 yếu tố
căn+cảnh+thức làm phát sinh ra xúc và đưa đến cảm thọ (vui, buồn,
không vui không buồn).
C: Nghe khen thì vui, nghe chê thì buồn và
hết nghe rồi vẫn còn nhớ lại những cảm giác đó…
A: Đúng thế các em ạ! Vì vậy nói đến “thức”
là phức tạp rồi. Trong Phật pháp chúng ta thường gặp những chữ
như “biển thức” hay “thức biến”... ý nói các thức không hoạt
động độc lập mà kết hợp với nhau, xuất hiện rồi biến đi, tạo ra
một biển cảm giác gồm những hiện tượng tâm-vật lý sinh diệt
không ngừng (the whole process of these psycho-physical
phenomena which are constantly becoming and passing away…)
B: Vậy ngoài 6 cái biết trên đây còn cái
biết (thức) nào nữa hở Anh?
A: Còn thức thứ 7 và thức thứ 8 nữa.
C: Thức thứ 7 tên là gì? tác dụng như thế
nào hở Anh?
A: Thức thứ 7 tên là Mạt-na thức; Mạt-na là
cái gốc của Ý nên Mạt-na còn được gọi là Ý căn (cũng như con mắt
là nhãn căn vậy). Nói 1 cách dễ hiểu, những lúc ý thức bị gián
đoạn (ngủ mê, bất tỉnh nhân sự, côma, bị chụp thuốc mê...) nó
không bị mất hẳn mà nương vào thức thứ 7 là Mạt-na; ý thức vì
vậy được ví như cái cây có cái rễ là thức thứ 7 (Mạt-na). Công
năng của thức thứ 7 này là chấp trước, so đo, suy xét, phân
biệt, phân biệt ta và nguời, bảo thủ cho “cái tôi”, “cái ta”
(self).
B: Còn thức thứ 8 là gì hở Anh?
A: Thức thứ 8 là A-lại-da thức (Alaya), còn
có tên là Tàng thức. A-lại-da thức được coi như là cái KHO chứa
mà Mạt-na dùng để cất hết vào đó những điều mắt thấy, tai nghe,
mũi ngửi, lưỡi nếm… dưới dạng chủng tử (hạt giống, seeds) Ðó là
lý do tại sao có nhiều cảnh, nhiều người, ta gặp từ hồi thơ ấu
vẫn có thể tái hiện trong trí ta khiến ta nhớ lại.
C: Như vậy Mạt-na là mạnh nhất phải không
anh? Vì nó có khả năng dùng A-lại-da để cất giữ…
A: Nói như vậy để cho dễ nhớ cũng được,
Mạt-na có khả năng TRUYỀN những điều mắt thấy, tai nghe, v.v...
(gọi là các pháp hiện hành) vào A-lại-da, vừa có khả năng TỐNG
các chủng tử ở trong A-lại-da khởi ra hiện hành nữa.
B: Như vậy, A-lại-da, thức thứ 8 là một cái
kho vĩ đại, vì nó có thể cất giữ những gì Mạt-na muốn nắm giữ
trong nhiều đời nhiều kiếp phải không Anh?
A: Đúng vậy, Hòa thượng Thiện Hoa có một
bài kệ nói về 8 thức hay 8 cái biết, chúng ta cùng học thuộc
lòng cho dễ nhớ nha:
Anh em 8 chú 1 chàng si
Duy có Ý thức rất linh ly
5 người ngoài cửa lo buôn bán
Làm chủ trong nhà đệ bát y
C: Em không hiểu gì cả! Anh giảng rõ nghĩa
đi nha!
B: Em hiểu rồi, để em nói cho C nghe: 1
chàng si = si mê, chấp ngã đó, ám chỉ thức thứ 7 (Mạt-na) là
chấp có cái tôi và cái của tôi; Ý thức rất linh ly là rất nhạy
bén, linh động, khôn ngoan; “5 người ngoài cửa” = 5 thức trước:
nhãn thức, nhĩ thức… thân thức; đệ bát y là thức thứ 8 đó (bát =
8, thất là 7, lục là 6, v.v...)
A: Như vậy, các em đã hiểu “8 cái biết” là
gì rồi phải không?
B&C: Dạ phải!
A: Bây giờ anh muốn các em cho anh biết,
sau khi học qua 8 cái biết này, chúng ta áp dụng vào cuộc sống
như thế nào?
B: Chúng ta tu cho từng cái biết, nghĩa là
đối với 5 cái biết trước (nhãn thức, nhĩ thức,…) chúng vô tư vô
tội, chúng ta tu tập làm sao để cái thấy vẫn chỉ là cái thấy
thuần túy, cái nghe chỉ là cái nghe...
C: Dạ, em cũng hiểu rồi, tu tập về cái
thấy, chúng ta để cho cái thấy khách quan, đừng khởi tâm phân
biệt, ham muốn, phê phán, v.v... ví dụ mắt ngắm nhìn một bông
hoa thì chỉ thuần là quan sát, nhìn ngắm, chiêm ngưỡng vẻ đẹp
của hoa, không khởi tâm muốn hái cái hoa đem về nhà, hay khởi
tâm chê bai cái vườn hoa, người chủ khu vườn v.v... và v.v...
Cũng thế, khi nghe chỉ thuần là nghe âm thanh mà không bị vướng
vào yêu-ghét, lấy-bỏ… nghĩa là đừng để cho anh chàng Mạt-na chen
vào.
A: Vậy là các em đã nắm được vấn đề; các em
có nghĩ đến áp dụng tu tập về thức thứ 7 và thứ 8 như thế nào
không?
B: Dạ, như trên dây, chúng ta cố gắng loại
trừ tâm phân biệt, giữ tâm bình đẳng đối với mọi người, mọi vật
mà ta thường tiếp xúc-nghĩa là không kỳ thị, không phân biệt đối
xử-đó là một phương pháp tu cho thức thứ 7 không hoành hành
ngang nhiên, lộng quyền nữa.
C: Còn đối với thức thứ 8 thì chúng ta cố
gắng xông ướp (huân tập) vào tâm thức mình những hạt giống tốt:
những hạt giống của từ bi, trí tuệ, tinh tấn, v.v… để trung hòa
những hạt giống xấu đã được xông ướp vào từ nhiều đời nhiều
kiếp…
B: Anh có thể nói thêm về thức thứ 8 và
chủng tử với hiện hành khác nhau như thế nào cho chúng em biết
không anh?
A: Thức thứ 8 được xem là thức căn bản vì
nó chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và là
nguồn gốc của tất cả các hiện tượng tinh thần. Tất cả những việc
làm có tác ý (intention) của thân, miệng, ý (gọi chung là
nghiệp) đều được tích lũy trong A-lại-da thức dưới hình thức
những hạt giống, đợi nhân duyên đầy đủ sẽ hiện hành.
C: Thế nào là nhân duyên đầy đủ? Và hiện
hành là như thế nào? Anh cho em một ví dụ cụ thể đi nha!
A: Ví dụ, trong tâm thức chúng ta có những
hạt giống thiện và bất thiện: như những hạt giống của sự giận dữ,
sân hận là bất thiện, nếu gặp thuận duyên như bị ai chọc tức,
khiêu khích, mắng chưởi, đánh đập… thì những hạt giống đó sẽ
hiện hành ngay-nghĩa là chúng ta liền đỏ mặt nổi giận, rồi phản
ứng lại bằng mắng chưởi, đánh đập. Những hành động hiện hành mới
này-chính là những chủng tử mới của nghiệp, lại được xông ướp
vào Tàng thức, tạo ra một vòng tròn tiếp tục tạo tác và chịu sự
chi phối của nhân quả luân hồi. Những hạt giống tư tưởng trong
A-lại-da cũng như hạt giống trong cây chanh: hoa chanh và trái
chanh tuy chưa xuất hiện nhưng nó đã ẩn tàng trong cây chanh,
chỉ cần hội đủ thời gian, sự tưới tẩm, bón phân… cây chanh sẽ
đơm hoa kết trái.
B: Nói vậy, khi các hạt giống đang ngủ yên
trong Tàng thức thì gọi là Nhân, khi đầy đủ các trợ duyên nó
hiện khởi ra thì gọi là Quả, phải không Anh?
A: Đúng vậy, và nhân quả luân lưu, cho nên
mới nói: chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân tập chủng tử.
Vì vậy, GÐPT chúng ta chú trọng giáo dục về xông ướp (xông ướp).
Những điều mắt thấy, tai nghe,… những hành động của thân, miệng,
ý… được cất kỹ vào Tàng thức chờ ngày xuất hiện. Do vậy chúng ta
phải rất cẩn trọng trong việc tu tập và giáo dục cho đàn em, con
em của chúng ta.
C: Em hiểu rồi, vì vậy, chúng ta phải siêng
năng tưới tẩm những hạt giống tốt trong tâm như từ bi, trí tuệ,
thanh tịnh, v.v... để khi đủ trợ duyên sẽ đơm hoa kết thành
những trái an lạc hạnh phúc.
B: Còn những chủng tử xấu (tham sân si) như
sâu ăn hại cây, như cỏ dại chiếm đất làm cây khô héo ta phải xịt
thuốc trừ sâu, phải siêng năng nhổ sạch cỏ… để chúng khỏi xông
ướp vào A-lại-da làm nhân cho những quả đắng về sau .
A: Đúng vậy! Ngoài ra, chúng ta phải làm
gương tốt cho các em trong khi nói năng, sinh hoạt: đừng nói một
đằng làm một ngã, đừng dạy các em những thói hư tật xấu (như hút
thuốc, uống rượu, cờ bạc, nói xấu lẫn nhau, ăn nói bậy bạ, nổi
nóng...) Ngược lại, chúng ta trao truyền cho các em qua những
bài học về Phật Pháp, Việt ngữ, Hoạt Ðộng thanh niên… những lời
hay ý đẹp, những nét đẹp của văn hóa dân tộc, những đức tính,
những truyền thống, những nền nếp sống đạo đức… là chúng ta đã
xông ướp vào Tàng thức của các em một vườn hoa thơm trái ngọt,
như trao tặng các em một hành trang vào đời rất quí giá vậy.
C: Nhờ bài học về A-lại-da này, em biết
nghiệp không chỉ là do những tác ý trong đời này mà còn do bao
nhiêu đời kiếp trước nữa… thật là ghê gớm quá! Như vậy, nghiệp
không phải do từ bên ngoài mà do tự bên trong tâm của ta phải
không Anh?
A: Đúng vậy! Thực tế cho thấy các trẻ em
cùng cha mẹ, cùng trong một điều kiện về vật chất, hoàn cảnh…
giống nhau nhưng tính tình có khi rất khác nhau; thậm chí anh em
song sinh cũng không giống nhau hoàn toàn về tâm tính; vì vậy
giáo dục phải lấy căn bản là con người (đứa trẻ) chứ không thể
theo một khuôn mẫu nào cố định được.
Anh tặng các em mấy câu thơ của thi hào
Nguyễn Du nói về nghiệp nha:
…Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẩn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
B: Cụ Nguyễn Du cũng giỏi Phật pháp quá Anh
hở? Cụ nói “mang lấy nghiệp” vào thân nghĩa là cụ hiểu rằng
“nghiệp” chính là những chủng tử đã được xông ướp vào A-lại-da
đó mà!
A: Đúng rồi, nhưng em đã “khen phò mã tốt
áo” rồi đó B à!
C: Là sao hở anh ?
A: Là mình khen một thi sĩ tài hoa và trí
tuệ thì cũng như khen 1 vị phò mã có áo đẹp vậy thôi, có gì lạ
đâu, ai mà không biết !! ☺☺ !!
Thôi nha, bữa nay tạm đủ, tạm biệt các em !
B&C: Tạm biệt! Tạm biệt!■
Bạn thân mến,
Cứ mỗi lần Vu Lan đến, lòng tôi lại rộn lên
bao nhiêu ý nghĩ về Mẹ, về chữ Hiếu, về sự Chết, về Ðịa ngục, về
Tái sinh v.v...
Mẹ là đề tài muôn thuở; chữ Hiếu, vì vậy
cũng đã có quá nhiều người đề cập đến và viết về, cho nên hôm
nay tôi muốn gởi đến Bạn những ý nghĩ nhỏ của mình về sự chết,
về tái sinh, về địa ngục v.v... Bạn nha!JJ!!
Bạn còn nhớ không? Năm xưa, khi chúng ta
còn học Trung học, chúng ta đã định nghĩa “chết” là gì không?
Chết là chấm dứt những phản ứng cháy trong cơ thể mình (vì Hóa
học hữu cơ dạy chúng ta rằng “thở” là phản ứng cháy của cơ thể
chúng ta - vốn là một hydrat carbon - với ôxy để sinh ra khí
carbonic và hơi nước; như vậy chết là chấm dứt các phản ứng cháy
đó): đó là cái chết vật lý-hóa và sinh học .
Thật ra con người nói chung và chúng ta -
bạn và tôi - nói riêng, đã chết rất nhiều lần, đó là “sinh diệt
trong từng sát na,” Bạn có từng nghe cụm từ này không? Ðúng vậy,
từ máu huyết cho đến các tế bào trong cơ thể con người đều thay
đổi từng ngày từng gìờ, thế cho nên con người mới có phát triển,
lớn lên, già đi rồi mới đi đến chết được chứ! Ðó là về thân; còn
tâm cũng vậy, khi vui khi buồn, khi “ma” khi “Phật”… không hề
đứng yên một chỗ cho nên có thi sĩ đã than “từ tôi phút trước
qua tôi phút này”, nhiều khi không cần phải một phút mà chỉ một
giây thôi, thậm chí một sát na thôi!
Ngoài cái chết vật lý-hóa-sinh học ra, con
người còn có thể chết về mặt ý thức. Thật vậy, có khi nào bạn ăn
mà không biết mình đang ăn? nghe mà không hiểu người ta nói cái
gì, nhìn mà không thấy cái gì cả (nghĩa là không nhận biết được)
hay không? Ðấy là những lúc bạn quá đau khổ hay giận dữ, nỗi đau
hay sự xúc động, giận dữ… đã làm mờ cặp mắt, làm điếc lỗ tai,
làm hư vị giác,… làm cho chúng ta tạm thời như bị hư tất cả các
giác quan, không thể cảm nhận được cái gì quanh ta cả, như vậy
không phải ta đang chết hay sao?
Bạn có sợ chết không? Bạn có sợ bị đưa
xuống địa ngục không? Bạn có biết bạn sẽ tái sinh về đâu không?
Bạn có mong giải thoát sinh tử luân hồi không? Ðó là những điều
tôi muốn nói chuyện với Bạn trong mùa Vu Lan này.
Ðức Phật nói: không ai thương lượng được
với đạo quân Thần Chết, nghĩa là không ai hẹn truớc được, không
ai muốn đi sớm hơn cũng không thể trể hơn được cả! Ðến giờ đến
ngày khi Thần Chết đến là mình phải ra đi. Như vậy tại sao chúng
ta không chuẩn bị sẵn sàng để đừng bị bối rối, hụt hẫng… khi cái
chết đến bất ngờ?
Chuẩn bị bằng cách nào ư? Theo lời đức Phật
dạy, mỗi ngày trước khi lên giường ngủ ta phải tự nhủ rằng: có
thể ngày mai không dậy nữa; như vậy những gì cần làm hãy làm đi,
đừng hẹn đến mai; đối với mọi người hãy tử tế, vui vẻ đi để nếu
không có dịp gặp lại họ nữa thì cũng không có gì phải ân hận. Về
bản thân, để chuẩn bị cho một sự ra đi nhẹ nhàng, nghĩa là “sống
an chết lành” ta phải thực tập buông bỏ để ra đi không một chút
luyến tiếc, dính mắc.
Thế nào là buông bỏ? Buông bỏ là không bám
víu, không tham đắm cũng không ghét bỏ, giữ cho cái thấy, cái
nghe… hằng ngày vẫn chỉ là cái thấy, cái nghe thuần túy, trong
sáng; và đối với các giác quan khác cũng vậy. Từ đó tâm ta sẽ
tĩnh lặng, minh triết và tuệ giác sẽ tăng trưởng. Chúng ta thực
tập sự buông bỏ để thấy rằng mỗi khi buông bỏ được một cái gì mà
mình rất ưa thích thì ta sẽ cảm nhận được một sự mãn nguyện sâu
xa hơn là sự bám víu vào nó.
Buông bỏ còn có nghĩa hoan hỷ, không chấp
nê, dễ tha thứ, bao dung, bao gồm việc ai chưởi mình cũng không
trả thù, ai nói oan mình cũng không nổi sân... vui với sự thành
tựu của người khác…
Khi tâm ta đã tĩnh lặng, ta sẽ không còn sợ
cái gì nữa; vì chết là một giai đoạn khác của sự sống và vì ta
không còn bám víu vào bất cứ gì ở đời sống này cho nên vô thường
đối với ta không có gì gọi là “đột ngột” cả! Thật vậy, thân này
tan rã nhưng không có nghĩa là sự sống không có; những giáo lý
về thân trung ấm, về nghiệp, về tái sinh… chúng ta đều đã được
học; cho nên dù chưa có ai chết rồi sống lại kể cho mình biết về
những chuyện bên kia cửa tử nhưng chúng ta vẫn biết rằng đời sau
của chúng ta đã được định hình sơ bộ bởi những nghiệp mà chúng
ta đã gây ra trong kiếp này.
Bạn có sợ đọa địa ngục không? Nếu Bạn không
hại ai, nếu Bạn không làm cho ai đau khổ, nếu Bạn không độc ác,
không khủng bố ai, v.v... thì Bạn không cần phải sợ đọa vào địa
ngục, vì địa ngục là nơi “tạm trú” của những người ác độc, luôn
tìm cách hãm hại người khác, đau khổ của mọi người là hạnh phúc
của họ v.v...
Nếu Bạn không bỏn xẻn, rít róng, thấy người
ta đói không đành lòng, biết bố thí cho người nghèo khó, bần hàn,
biết chia cơm xẻ áo cho đồng loại, v.v… thì Bạn khỏi cần sợ sẽ
đọa vào ngạ quỷ v.v... Nói cách khác, tuy chúng ta không phải
là những nhà tiên tri, bói toán nhưng chúng ta cũng suy ra được
chúng ta sẽ tái sinh vào những cõi như thế nào.
Bạn có biết cận tử nghiệp không? Ðó là cái
nghiệp xuất hiện trước khi chết có công năng làm thay đổi lộ
trình tái sinh của chúng ta; ví như chúng ta sắp lên tàu đi
Sàigòn thì đột nhiên nhận được một bức điện tín bảo phải đi Sóc
Trăng vậy đó!JJ!! Như vậy cận tử nghiệp thật là quan trọng phải
không Bạn? Vì vậy, chúng ta phải hết sức thận trọng trong mọi
hành động về thân, miệng, ý, để tránh việc trước khi ra đi về
cõi Thiện vì suốt đời làm lành, mà phải nhận một bức điện bảo
đổi lộ trình đi về một nơi bất thiện nào đó!
Cuộc đời này, cho dù chúng ta có sống đến
trăm năm hay hơn nữa, cũng chỉ là một giấc mộng, nghĩa là khi
tỉnh giấc “nồi kê chưa chín,” mọi chuyện xảy ra đều không có
thực, hay nói cách khác “tất cả đều KHÔNG” như một nhà thơ kia
đã nói:
“Dù cho mộng dữ hay lành
Ðến khi tỉnh giấc cũng là không thôi”.
Cứ như vậy, chúng ta sống, chết, tái sinh,
sống chết... cứ mãi trôi lăn trong 3 cõi 6 đường; ai mà không
muốn giải thoát khỏi sinh tử luân hồi phải không Bạn? Nhưng tu
như thế nào để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi thì ngoài khả
năng của tôi rồi; tôi chỉ có thể thảo luận với Bạn về việc sống
trong đời này mà giải thoát khỏi những phiền não đau khổ vì cố
chấp, hẹp hòi… mà thôi.
Mùa Vu Lan, ngày Rằm Xá tội vong nhân, luôn
xui cho mình nghĩ đến những tư tưởng liên quan đến cái chết, đến
thọ nghiệp, đến Mục Liên Thanh Ðề, đến “Văn tế thập loại chúng
sanh” của thi hào Nguyễn Du… và lòng ta tự nhiên chùng xuống…
Bạn có thấy buồn không? Bây giờ chúng ta hãy nghĩ rằng Vu Lan
cũng là mùa Báo Hiếu, Mùa chư Tăng xuất hạ, mùa Hoan Hỷ của quí
Ngài với ngày Tự Tứ, như ngày Tết của nhân gian, chư Tăng được
tăng thêm hạ lạp: nghĩ như vậy là ta vui lại liền, có phải không
Bạn? Xin tặng Bạn 5 chữ “T” của một vị Thầy dạy chúng ta tu
tập đạo giải thoát, đó là: Thương, Tha, Tùy, Thôi, Thoáng.
Thương = từ bi (sáng cho người thêm niềm
vui, chiều giúp người bớt khổ)
Tha = tha thứ, bao dung
Tùy = tùy duyên
Thôi = buông bỏ
Thoáng = open-minded
Thân chúc Bạn một mùa Vu Lan an lạc và giải
thoát.❑
18. Đạo
Phật với
giáo dục tuổi
trẻ
Kính thưa quí vị,
Gia Ðình Phật Tử (GÐPT) là một tổ chức giáo
dục tuổi trẻ của Phật giáo. Ðoàn sinh GÐPT thoạt đầu là con em
của các đạo hữu của các chùa, quí Thầy giao cho huynh trưởng
GÐPT nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục các em theo tinh thần Phật giáo.
Ngoài những buổi học ở trường, ngày Chủ nhật, các em theo cha mẹ
đến chùa; ở đó các em được chơi mà học và học mà chơi. Theo năm
tháng, tổ chức lớn mạnh, phát triển cực kỳ nhanh chóng từ trong
nước ra hải ngoại, đến nay GÐPT đã có mặt khắp nơi từ Âu Châu,
Úc Châu đến Mỹ, Canada…
Trong GÐPT có đủ nam, phụ, lão, ấu; đứng
đầu là bác Gia trưởng đến các anh/chị Huynh trưởng rồi đến Ðoàn
sinh. Tuổi của các em đoàn sinh từ 5, 6 tuổi đến 18, 20 chia
thành 2 Ngành: Nam và Nữ. Mỗi Ngành có 3 độ tuổi: Oanh Vũ (từ 6
đến 12); Thiếu (từ 13 đến 18) và Thanh (từ 18 trở lên). Như vậy,
nói về giáo dục tuổi trẻ Phật giáo trong GÐPT là chủ yếu đề cập
đến các em Oanh Vũ và các em ngành Thiếu. Ở cái tuổi “giao thời”
13, 14... các em chưa phải người lớn cũng không còn là trẻ con,
cơ thể cũng như tâm hồn đang trải qua thời kỳ thay đổi rõ rệt,
làm ảnh hưởng rất lớn đến tính tình, tâm tư, tình cảm… của các
em. Do vậy, công việc của các anh chị huynh trưởng không phải dễ
dàng, cần phải có đức tính yêu trẻ, hiểu trẻ, và rất nhiều kiên
nhẫn nữa. Xin mời quí vị nghe cuộc mạn đàm giữa những Huynh
trưởng trẻ A,B,C,D,E đang thao thức, băn khoăn, lo lắng về những
biểu hiện của các em đoàn sinh của mình; liệu mình có đủ khả
năng hướng dẫn tốt các em ở các độ tuổi phức tạp này hay không.
A là Huynh trưởng lớn, B đang cầm Ðoàn Thiếu Nam, C đang cầm
Ðoàn Thiếu Nữ, D đang giữ Ðoàn Nam Oanh Vũ (OV) còn E đang giữ
Ðoàn Nữ Oanh Vũ.
A: Các em bảo rằng có chuyện hỏi anh phải
không? Là chuyện gì vậy?
B: Dạ, các em của em đang độ tuổi teenager
(1) thật là khó bảo quá Anh! Bên cạnh các em ngoan, có vài em cá
biệt, em thật đau đầu, chịu hết nổi!
A: Tất nhiên rồi! Teenager thì chính phụ
huynh cũng sợ, đừng nói là anh chị em huynh truởng chúng ta; còn
C có chuyện gì không em?
C: Dạ, các em Thiếu nữ của em thì không
nghịch ngợm nhưng khó hòa đồng và nhiều em suốt buổi họp Ðoàn
không nói một tiếng; hỏi thì có em nói bực bội cha mẹ, có em nói
bực mình với các anh chị em trong nhà, em thì nói “không biết
tại sao chiều nay em thấy buồn quá!”
A: Cũng dễ hiểu thôi em à! Giữa cha mẹ và
con cái, dù là ở trong nước cũng có “hố ngăn cách” nghĩa là lỗ
hổng giữa 2 thế hệ (generation gap) cho nên có rất nhiều mâu
thuẫn đã xảy ra, huống gì ra hải ngoại với tập quán phong tục
Tây phương quá phóng khoáng mà bậc làm cha mẹ có người chưa hấp
thụ và tiêu hóa nổi. Nhiều phụ huynh còn giữ thói quen “quân sư
phụ” nghĩa là trong nhà thì ông cha là số 1, ổng nói gì cũng
phải nghe, gần như không có quyền tự quyết định cho mình; nhiều
em đoàn sinh của chúng ta còn bảo rằng “bị ba má bắt buộc mới đi
chùa” đó em! JJ !! Có nhiều em còn bị chứng trầm uất (to be
gnawed by suppressed resentment and unable to confide to anyone)
không biết tâm sự với ai, cứ chất chứa trong lòng, rồi sinh
bệnh, trầm uất cũng là một căn bệnh nan y đó em!
C: Dạ, em hiểu chứ! Vì vậy đối với các em
đó làm sao mà chữa đây!
B: Mình nghĩ là phải tìm cách để các em ấy
cởi mở lòng mình ra, chịu tâm sự với bạn, từ đó bạn sẽ hiểu được
nguyên nhân của vấn đề và mình mới tìm thuốc chữa được, có phải
không thưa Anh?
A: Đúng vậy, chuyện này không phải dễ đâu…
mặc dù trong lòng ai cũng có những hạt giống thương yêu và muốn
được thương yêu, các em này cũng có nhưng đã bị những người thân
bỏ quên không tưới tẩm nên bây giờ những hạt giống ấy đã bị chôn
vùi quá sâu, khó nẩy mầm lại được (these seeds were unable to
sprout because people forgot to water them).
C: Dạ, em cũng hiểu những điều Anh và bạn B
chỉ điểm nhưng làm cách nào cho em ấy chịu mở miệng, em cứ suy
nghĩ hoài!
A: Điều này thì em giỏi hơn anh và B đấy em
à, vì em là Chị trưởng, em có nhiều tình thương, bao dung, có
nhiều lời nói, cử chỉ dịu dàng, thân ái, biết chăm sóc người ta
một cách tỉ mỉ,… Đó chính là những lợi khí để thu phục nhân tâm,
để xoa dịu lòng người, dễ gần gũi người ta, dễ cho người ta chịu
tâm sự, cái này chính là nghề của huynh trưởng Nữ đấy, em tự lo
liệu đi nha! Còn D coi sóc bầy Oanh Vũ Nam cũng có vấn đề sao?
D: Dạ, thưa Anh, hầu hết các em OV Nam của
em rất ngoan nhưng cũng như chị C tâm sự với chúng ta vừa rồi,
tương tự tình hình của Ðoàn Thiếu Nữ, OV Nam của em cũng có vài
em cá biệt, nghĩa là quậy phá kinh khủng, không chịu đứng ngồi
cho yên trong lớp học, trong vòng tròn, thậm chí trong các trò
chơi! Em thấy mệt mỏi quá!
B: Có em không chịu nói tiếng Việt trong
giờ Việt ngữ phải không? Có em không chịu đứng vào vòng tròn
phải không? Lại có em nói chuyện liên tục trong giờ Phật pháp
nếu mình không nhìn chăm chăm vào nó phải không?
D: Sao Anh biết hay vậy?
B: Thì anh đã từng gặp những em cá biệt như
vậy rồi!JJ!!
A: Trong những trường hợp đó, em xử sự thế
nào?
B: Dạ thưa Anh, thường em gọi riêng các em
đó nói chuyện, hỏi lý do tại sao không chịu nói tiếng Việt, tại
sao không thích vào trong vòng tròn, tại sao nói chuyện phá các
bạn trong khi các bạn đang học v.v… Thường thì những nguyên nhân
cho chúng ta thấy các em cố chấp vào một điều gì đó, hay không
ưa một bạn nào đó, hay không có sách vở để theo dõi nên không
hiểu rồi muốn chọc phá các bạn “cho vui” thôi! Hầu hết các
nguyên nhân đều sai nên mình có thể thuyết phục em chấm dứt
những hành vi tiêu cực của mình.
A: Còn nếu nguyên nhân bất mãn của các em
có lý do chính đáng (ví dụ bắt các em ngồi trong phòng quá lâu,
nhồi nhét vào đầu óc (ta thường gọi là “nhồi sọ”) các em nhiều
quá, vòng tròn quá rộng và nhiều thành phần, nhiều lứa tuổi… làm
các em thấy không thoải mái tự nhiên thì chúng ta phải cải tiến
phương pháp truyền đạt của chúng ta, làm sao để các em “học mà
chơi” và trong chơi vẫn học được.
D: Anh có thể cho em một ví dụ không?
A: Được chứ! Ví dụ học bài lịch sử đức Phật
Thích Ca, nếu các em không thích phương pháp thuyết giảng thì
chúng ta chiếu phim cho các em xem-phim nói tiếng Anh nhưng sau
khi xem xong, chúng ta hỏi bằng tiếng Việt và tập cho các em trả
lời bằng tiếng Việt; mỗi buổi học chiếu một đoạn ngắn thôi, để
bảo đảm giờ học và chương trình cũng như gây sự hứng thú cho các
em đoàn sinh. Trò chơi trong vòng tròn phải được giải thích rõ
ràng và thu hút sự chú ý của đoàn sinh, nghĩa là phải chọn trò
chơi mới một chút và giới thiệu một cách hấp dẫn… Ủa, thế còn E,
đoàn Nữ OV của em cũng có chuyện nữa sao?
E: Dạ phải đó Anh! Các em Nữ OV sắp tới đây
sẽ được cắt dây (2) lên Ðoàn; phần nhiều cũng được vui nhưng có
vài em khóc không chịu lên Ðoàn Anh à, cứ đòi ở lại OV để được
vòi vĩnh các chị, được cưng chìu… làm sao đây hở Anh?
C: Thì chúng ta hồi đó cũng vậy; ai cũng
nuối tiếc tuổi thơ của mình, đó là tâm lý chung mà em! Em phải
chịu khó dỗ dành, hứa hẹn là “mấy chị H.Tr. đoàn Thiếu Nữ cũng
sẽ cưng các em lắm, chưa gì đã sắm quà lên Ðoàn cho các em rồi,
các em ngoan và giỏi, chị nào lại không thương, Ðoàn nào lại
không hân hoan đón tiếp”.
A: Đúng vậy đó E, các em nữ, nhất là OV nữ
thích được dỗ ngọt, nuông chiều… lắm! Nhưng cưng vừa vừa thôi
nha, không khéo cứ làm nũng làm nớt hoài không ai ưa đâu!
E: Dạ, còn nữa, em quên nói với Anh trong
bài báo Ðoàn em, vào dịp Vu Lan này có một em viết về cha mẹ, mà
viết “…They are stupid…”(3) Em ấy bảo rằng ba má không hiểu nó
nên mới la rầy nó… Em bảo dù sao đi nữa, em ấy phải bỏ mấy chữ
đó em mới cho đưa vào tờ báo của Ðơn vị mình nếu không thì thôi!
Em giảng cho em ấy hiểu rằng nói cha mẹ mà nói là “stupid” thì
đó là vô lễ, là bất hiếu nhưng em ấy nói “không, em thương ba
má, em không bất hiếu nhưng họ stupid thì em nói là stupid chứ
đâu phải là vô lễ?” Bây giờ em sẽ phải làm sao?
A: Em nói với em ấy rằng: em thương ba má,
em có hiếu với ba má thì em đâu có làm cho ba má buồn? Ba má la
rầy em là có lý do, nếu em không hiểu mà trách ba má thì chính
em mới là stupid đó; làm sao em nói ba má “stupid” được?
B: Con nít ở đây tức cười lắm, nó thấy bạn
nó là người Mỹ, Mễ v.v… kêu cha mẹ, cô chú… bằng tên thì nó cho
rằng những người ấy cũng như bạn bè, ngang hàng, muốn nói gì thì
nói! JJ!!
C: Đúng vậy! Vì thế chúng ta chắc phải có
một buổi họp chung Oanh Vũ Nam Nữ lại, nói về ngày Hiếu và nhấn
mạnh thêm về phong tục tập quán của người Việt Nam mình đối với
ông bà cha mẹ v.v… mới được!
D: Điều này thì đâu có năm nào mình không
làm đâu?
E: Nhưng mỗi tháng lại có các em mới vào,
nhiều em giống như “Mỹ con” vậy, hoàn toàn không biết phong tục
Việt Nam là gì, thậm chí có hôm có một em còn hỏi em rằng : “Chị
ơi, em là người nước nào?” (What’s my country?) nữa chứ! Đủ biết
ở nhà phụ huynh không bao giờ nghĩ rằng mình phải dạy cho con
biết nó là người Việt Nam!” JJ!!
A: Thế đấy các em ạ, cho nên trong những
giờ học tiếng Việt mình phải bồi dưỡng thêm cho các em những
thiếu sót này, chứ không cần đợi Vu Lan mới nói đến chuyện hiếu
thảo với cha mẹ đâu!
B: Tóm lại, nhiệm vụ của chúng ta rất nặng
nề! Vừa làm huynh trưởng, vừa làm babysit.(4) Ðối với các em
bình thường ngoan hiền siêng năng thì công việc của chúng ta
tương đối dễ dàng còn đối với các em cá biệt thì thật là khó lắm.
A: Đúng vậy, chúng ta cần truyền đạt, hướng
dẫn các em sao cho các em thích các môn học với những trợ huấn
cụ ví dụ như phim ảnh, băng vidéo, DVD, Cassette, TV… để trong
khi học các em có cảm tưởng như được giải trí (học mà chơi). Các
em cũng đừng quên khung cảnh thay đổi cũng tạo được hưng phấn
trong lòng các em đoàn sinh nha! Thỉnh thoảng cho các em học
dưới bóng cây, đi dạo rồi sau đó sinh hoạt trong những công viên
có nhiều hoa đẹp v.v... Gần gũi với thiên nhiên, các em dễ mở
rộng lòng mình ra hơn, bớt căng thẳng hơn, vừa có lợi cho thân
và tâm của các em nữa.
C: Và em nghĩ rằng nếu mỗi huynh trưởng
chuyên chăm sóc từ năm em trở lại thì dễ thân với các em hơn, có
thì giờ để tìm hiểu, thân cận, từ đó các em mới có thói quen nói
chuyện với huynh trưởng, dễ tâm sự khi cần thiết.
B: Em nghĩ tập cho các em sống trong tinh
thần đồng đội cũng giúp các em cởi mở, không chỉ với huynh
trưởng mà cả với các bạn đồng đội nữa!
A: Phải rồi, và anh tin rằng tất cả các em
đều sẽ thành công vì các em rất lo lắng cho đàn em của mình,
hiểu biết và thương yêu là hai yếu tố quan trọng nhất trong việc
giáo dục tuổi trẻ đấy các em ạ! Buổi mạn đàm đã dài rồi đó, các
em nghỉ ngơi nha! Tạm biệt các em, tuần sau gặp !
B,C,D,E: Dạ, chúng em xin chào tạm biệt Anh!
Tuần sau gặp! ■
Ghi chú:
(1) Teenager = lứa tuổi dậy thì của các em,
từ 12 đến dưới 18
(2) Lễ cắt dây = còn gọi là lễ lên Ðoàn của
một em Oanh Vũ (Y phục của OV là áo chemise lam và jupe xanh (có
dây). Trong lễ Lên Ðoàn dây treo jupe được cắt bỏ đi, ý nói em
sẽ không mặc Jupe nữa mà mặc quần trắng áo dài Lam.
(3) They are stupid = họ dốt nát
(4) Babysit = giữ trẻ
19. Bổn
phận
người
Phật
tử
tại
gia
Kính thưa quí vị,
Tuổi trẻ, đến với đạo Phật với nhiều bỡ ngỡ
như người lạc vào khu rừng đầy hoa thơm cỏ lạ nhưng lại khó tìm
lối ra. Tiết mục “Tuổi trẻ với Phật pháp” đến với các bạn trẻ,
đặc biệt là những bạn trẻ Phật tử VN ở hải ngoại, trưởng thành
tại một nơi mà tiếng mẹ đẻ không được dùng trong sinh hoạt hằng
ngày, để giúp nói đến những việc rất bình thường nhưng có thể
“khó” với họ. Ngoài ra, “Tuổi trẻ với Phật pháp” sẽ giúp chúng
ta cùng tìm hiểu và thực hành Phật pháp, hầu đạt được an lạc,
hạnh phúc và thảnh thơi ngay trong cuộc sống trước mặt cho bản
thân, gia đình và cho mọi người quanh ta. Kính mời quý vị và các
bạn trẻ cùng theo dõi câu chuyện hôm nay với tiêu đề “Bổn phận
người Phật tử tại gia” với các bạn trẻ A,B,C.
A: Xin chào các bạn! Người Phật tử là người
con Phật, đi theo con đường của đức Phật, học sống theo giáo lý
của Ngài, nhưng tại sao lại gọi là “người Phật tử tại gia” hả?
C: Gọi như vậy để phân biệt với người Phật
tử xuất gia là quí vị Sa-di, Sa-di-ni, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, v.v…
sống ở chùa, “ly gia cát ái” nghĩa là thoát ly khỏi sự ràng buộc
của tình cảm gia đình đó.
A: Người Phật tử tại gia có phải còn được
gọi là Ưu-bà-tắc (nam) và Ưu-bà-di (nữ) hay “cận sự nam”, “cận
sự nữ” hay “thiện nam”, “tín nữ” nữa phải không?
B: Đúng rồi, nói tóm lại, là Phật tử chúng
ta có “4 Chúng đồng tu” là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di.
A: Vậy thì các bạn hãy cho biết bổn phận
của những người Phật tử tại gia (PTTG) là gì ngay đi!
C: Bổn phận chính của người PTTG là sống
đúng với Phật pháp, truyền bá Phật pháp đến mọi người để mọi
người được an lạc.
B: Như vậy vấn đề là trước hết, người PTTG
phải biết áp dụng Phật pháp vào đời sống hằng ngày để tự mình có
sự an lạc, rồi mới đem an lạc cho người khác được, có phải
không?
A: Phải rồi! Làm sao để gọi là sống đúng
theo Phật pháp và có an lạc?
B: Trong Phẩm “Tịnh hạnh” của kinh Hoa
Nghiêm, ngài Văn Thù có trả lời cho Phật tử tại gia, những vị
Bồ-tát ở nhà, sống như thế nào gọi là sống đúng theo Phật pháp
(sách do thầy Hằng Trường Việt dịch và giảng).
C: Có phải ngài Văn Thù dạy ta nhìn mọi sự
vật, hiện tượng trong cuộc đời này bằng cặp mắt trí tuệ, hướng
về chân lý chứ đừng nhìn với cái tâm hẹp hòi, cố chấp...?
B: Đúng rồi! Ngài có đưa ra hơn 10 lời dạy
cho người PPTG sử dụng để sống đúng tinh thần Phật pháp trong
những hoàn cảnh sinh hoạt bình thường ở gia đình.
A: Thật là hay quá, bạn hãy cho biết những
lời dạy ấy đi!
B: Bài học thứ nhất là Ngài dạy: ở gia đình,
người PTTG phải nhường nhịn (không tranh giành), phải bao dung
với mọi người, nói năng nhỏ nhẹ, phải biết lắng nghe, chuyện qua
rồi đừng có nhắc lại, đừng trách móc, tránh bàn luận chuyện đúng
sai, hay dở của các thành viên trong gia đình; nên chia sẻ chân
lý, truyền đạt những gì mình học được trong Phật pháp để mọi
người biết làm những điều thiện lành tránh điều hung ác.
C: Có phải bài kệ thường nhắc nhở chúng ta
mà hôm trước bạn đã nhắc đến hay không?
Bồ-tát ở nhà
nguyện rằng chúng sanh
biết nhà tánh Không
tránh mọi bức bách.
A: Tôi nhớ ra rồi! Nghĩa là mình yêu mến
gia đình nhưng đừng quá tham luyến, quá khẩn trương để sinh ra
đủ thứ stress - là “bức bách” - phải không?
B: Phải rồi, các bạn đã nhớ đúng rồi đó.
Còn đối với cha mẹ thì hiếu thảo, chăm sóc nhưng cũng phải biết
rằng đức Phật đã dạy: “Tất cả chúng sanh đều là cha mẹ của chúng
ta trong bảy kiếp”; ý nói là thương yêu thờ phụng cha mẹ là
hiếu, nhưng phải từ lòng hiếu đó lan rộng ra đến mọi người chứ
không phải chỉ biết chăm lo cho cha mẹ mình mà xúc phạm đến cha
mẹ người khác, hay vì lòng hiếu mà làm những chuyện sai trái tội
lỗi v.v... thì đó lại là bất hiếu. Ngoài ra, phải biết cha mẹ
cần mình nhất là những lúc già yếu, bệnh tật, xúc cảm, tuyệt
vọng, hãy gần gũi họ, lắng nghe họ và chia sẻ kinh nghiệm tu học
với họ. Các bạn còn nhớ bài kệ này chứ?
C: Ừ, nhớ! Bài kệ nhắc nhở chúng ta là:
Hiếu thảo cha mẹ,
Nguyện rằng chúng sanh
Khéo phụng sự Phật,
Chăm sóc hết thảy!
A: Tôi cũng nhớ bài kệ nói về gia đình nhỏ
gồm vợ con nhưng 2 câu cuối chưa được thông suốt, các bạn hãy
giảng nghĩa giùm nha:
Vợ con sum vầy,
Nguyện rằng chúng sanh
Oán thân bình đẳng
Vĩnh ly tham trước.
B: Đức Phật dạy: “Phải có duyên nợ với nhau
trong nhiều đời nhiều kiếp mới thành vợ chồng”, vì vậy phải
thương yêu giúp đỡ chia sẻ hạnh phúc hay đau khổ với nhau cho
đúng đạo lý. Mặt khác, đừng yêu đương tham đắm quá mà sinh ra
ích kỷ, rồi từ đó nghi kỵ, hiểu lầm, ghen tuông, ly dị v.v...
kéo theo liền! Phải tập sống theo “trung đạo”-không thắt chặt
quá, không thả lỏng quá-thì tình vợ chồng, con cái mới bền vững
và dành cho nhau sự tự do đúng mức. Đó cũng là ý nghĩa mấy chữ
“vĩnh ly tham trước” và “bình đẳng” đối với kẻ oán, người thân
trong 2 câu cuối. Thế còn về “ngũ dục thất tình” các bạn có còn
nhớ bài kệ nhắc nhở chúng ta như thế nào không?
A: Đó là:
Được hưởng ngũ dục,
Nguyện rằng chúng sanh
Nhổ mũi tên dục,
Cứu cánh yên ổn.
Nhưng tôi chưa nhớ ra ngũ dục là gì? Và tại
sao gọi là “mũi tên dục”?
B: Ngũ dục là 5 “đối tượng” (object) của
dục vọng: tiền tài vật chất, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống hưởng
thụ, ngủ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thùy). Đặc tính của ngũ dục
là khiến người ta nghiện ngập chìm đắm-các bạn đừng tưởng chỉ có
rượu hay thuốc phiện mới làm người ta nghiện đâu nha-ngay cả
danh vọng, địa vị, sắc đẹp cũng làm người ta say đắm và nhận
chìm người ta được (“sắc bất ba đào dị nịch nhân” - có nghĩa là
“sắc đẹp không có sóng nhưng nhận chìm người ta dễ dàng” đó!)
C: Bạn nói đúng quá! Ai đã nếm mùi ngũ dục
thật khó mà buông xả. Cho dù bạn muốn tránh né, nó cũng vẫn còn
gốc rễ nằm sâu trong đáy lòng, phải không? Hèn gì đức Phật nói
“ngũ dục là gốc rễ của địa ngục đọa lạc” - giống như mũi tên độc
đã ngấm vào da thịt, khó nhổ cho ra và dù nhổ ra được thì đau
đớn biết bao nhiêu và chất độc đã ngấm vào cơ thể rồi!
A: Như vậy thì nguy rồi! Cuộc sống của
người PTTG luôn có ngũ dục vây quanh, làm sao mà tránh đây các
bạn?
B: Thì mình phải giữ mình bằng cách “tiết
chế” những ham muốn (to bound your desire, to limit) chứ đâu có
làm sao hơn! Mình thực hành các hạnh sau đây: biết đủ (tri túc),
tịch tĩnh, đạm bạc, buông xả, ít muốn (tránh hưởng thụ).
C: Tôi nghe quý thầy giảng rằng muốn tránh
ngũ dục mình phải suy nghĩ như thế này: làm giàu để làm gì? Chết
có đem theo được không? (để đối trị với “tài”)
Sắc đẹp làm mê đắm lòng người, có thể dẫn
đến tội ác, phạm giới v.v... có đáng cho mình hy sinh mọi thứ để
chạy theo “sắc” hay không?
Danh là thật hay là giả, là hình hay bóng?
Chạy theo có phí thời gian không? (Tỉnh giấc mộng nồi kê chưa
chín”)
Thực (ăn): bệnh là do miệng mà vào, tham
thực cực thân, ăn vào dễ, nhả ra khó
Ngủ nghỉ (thùy): hưởng thụ sướng thân, sinh
biếng nhác, ham vui, phóng dật; đến lúc giật mình thì thời gian
không còn nữa, cái chết đến gần... có phải một đời hối hận
không?
A: Thế còn đi xem văn nghệ, ca nhạc v.v...
có phải là “ngũ dục” không?
C: Cũng có bài kệ nói về ca nhạc tụ họp đó
nha:
Ca nhạc tụ họp
Nguyện rằng chúng sanh
Vui với chân lý
Biết nhạc là giả.
B: Ca nhạc, thơ văn, hội hoạ v.v... nói
chung là văn nghệ có tác dụng nuôi dưỡng tinh thần, tâm hồn con
người, đặc biệt âm nhạc có sức mạnh thay đổi trạng thái tâm hồn
của người nghe. Vẻ đẹp, cái hay, cái kỳ diệu của nhạc và thơ,
không chỉ loài người mới có, thật là đa dạng và phong phú, trời
cũng có nhạc nữa đấy (nhạc trời) và tiếng chim hót, tiếng suối
reo, thông reo v.v... không phải cũng là những khúc nhạc làm êm
dịu tâm hồn ta hay sao? Tuy nhiên, âm nhạc có thể cứu người mà
cũng có thể hại người; cái chính là chúng ta luôn tỉnh giác để
biết rằng tìm vui trong ca nhạc chỉ là tạm bợ, niềm vui chân
chính, cứu cánh của an lạc phải là tìm vui nơi Chánh pháp, nơi
chân lý.
C: Niềm vui nơi chân lý có phải là vui với
Pháp, với sự chấm dứt của vọng tưởng, sự dừng lại của mọi ham
muốn tham đắm hay không?
B: Phải đó!
A: Các bạn có muốn nghe câu chuyện về “Bài
ca vô thanh” mà đức Phật đã kể ở một cõi trời không?
C: Muốn chứ, bạn hãy kể đi!
A: Có một vị Bồ-tát được mời lên một cung
Trời thuyết pháp. Ngài yên lặng nhập định, chuẩn bị giảng kinh.
Các Thiên nữ tán hoa, múa hát, nhạc Trời trổi lên ai nghe cũng
thấy tâm thần nhẹ nhõm và hoàn toàn bị cuốn hút vào. Sau khi vị
Bồ-tát thuyết pháp xong, vua Trời Đế Thích hỏi: “Thưa Ngài, Ngài
là bậc đã du hành vô số cõi Trời, đã nghe vô số âm nhạc, phải
chăng âm nhạc của chúng tôi ở đây là hay nhất?” Vị Bồ-tát chắp
tay đáp rằng: “Thật hổ thẹn, xin Ngài thứ lỗi, theo thiển kiến,
chẳng âm nhạc nào xuất sắc bằng bản nhạc của sự im lặng tuyệt
đối, chẳng có bài hát nào du dương bằng âm điệu của chân lý, của
Pháp!” Vua Trời bỗng nhiên tỉnh thức, học tập lắng nghe bài ca
vô thanh.
B: Trên đây là những nhắc nhở chúng ta,
những người PTTG về những sinh hoạt bình thường, làm sao để được
an lạc và làm cho mọi người thân quanh mình được an lạc. Ngoài
ra, về xử thế, chúng ta còn được dạy về “cách cho”, tức là bố
thí nữa:
Cho ai vật gì
Nguyện rằng chúng sanh
Cho được mọi thứ
Lòng chẳng ái trước.
Nghĩa là đã cho thì nên thật lòng cho,
không hối tiếc, không tính toán hay mong cầu được trả công vì
“cho” là thành khẩn muốn làm vui lòng người, không phải là trao
đổi, mua chuộc, nịnh bợ v.v... Cho-hay bố thí chính là phương
pháp mở rộng lòng từ bi, đối trị bệnh ích kỷ, hà tiện, keo kiệt,
tham lam v.v... Các bạn còn gì bổ sung không?
C: Tôi còn nhớ ngài Văn Thù còn dạy bài kệ
này cho người PTTG:
Nếu bị ách nạn
Nguyện rằng chúng sanh
Tùy ý tự tại
Việc làm vô ngại!
Tôi có một thắc mắc là tại sao bị ách nạn
là việc mình hoàn toàn bị động mà làm sao mình lại “tự tại”, “vô
ngại” được hở các bạn?
B: Bạn thắc mắc đúng lắm! Gặp tai nạn, bị
áp bức, khống chế, ép buộc, oan ức v.v... là những điều đâu có
ai muốn xảy ra cho mình, tất nhiên là mình ở trong hoàn cảnh bị
động và bất lực rồi, thế nhưng mình vẫn có thể “chủ động” trong
cách tư duy (suy nghĩ, phản tỉnh) để không đi đến tình trạng
khủng hoảng, tuyệt vọng, than thân trách phận, oán trời trách
đất hay làm những việc điên rồ phải hối hận cả đời như tự tử hay
giết người hay nuôi thù oán hằng chục năm v.v...
A: Tôi hiểu rồi! Nghĩa là khi gặp ách nạn,
oan ức, mình nghĩ rằng đây là nghiệp nhân quá khứ của mình đã
“chín” thành quả rồi-mình đã từng gây nhân hống hách, hiếp đáp
người, gây khó khăn cho người, nói oan cho người, nên nay mình
gặt quả bị mất tự do, tự tại, tự chủ. Bây giờ mình phải gây nhân
lành gieo hạt giống thiện, từ bi hỷ xả để có thể gặt quả “tai
qua nạn khỏi ách nạn tiêu trừ” phải không các bạn?
C: Phải rồi! Có còn gì nữa không, các bạn?
B: Còn chứ! Vừa rồi, chúng ta chỉ mới nói
về bổn phận đối với bản thân mà chưa nói tới việc hộ trì Tam
bảo.
A: Phải rồi, Phật có dạy Chúng xuất gia thì
trụ trì ngôi nhà Phật giáo còn hàng Phật tử tại gia phải hộ trì
(protect, sponsor) Tam bảo đó nha!
C: Cho một ví dụ cụ thể đi! Tôi thường nghe
Tam bảo hộ trì mình, bảo vệ mình chứ đâu có nghe mình mà bảo vệ
và hộ trì (sponsor) cho Tam bảo đâu anh!
B: Tam bảo hộ trì mình là hộ trì về tâm
linh, về kinh điển, về Phật pháp, còn mình hộ trì Tam bảo là về
vật chất, về phương tiện và chống lại “thú dữ” giữa cuộc đời làm
hại chư Tăng, Ni… Tại bạn không nhớ đó thôi! Hồi Pháp nạn 1963,
các chùa trên toàn quốc miền Nam Việt Nam bị lính tấn công vào
đánh đập chư Tăng Ni và Phật tử, hồi đó Phật tử chùa nào tụ họp
về chùa đó để bảo vệ chư Tăng, Ni... Người Phật tử, bao gồm GÐPT
của anh chị em chúng ta, cũng có mặt với quý Thầy, quý Sư cô của
mình trong cơn biến động đó. Hằng ngàn hàng vạn Tăng Ni, Phật tử
đã bị bắt bớ giam cầm, có vị đã tự thiêu để cầu nguyện, có vị bị
chết vì súng đạn đàn áp hay chết trong tù…
C: Hồi nãy chúng ta mới nói đến các pháp
tu, nhưng chưa nói hết, chỉ mới nói đến Bố Thí tức là thực hành
hạnh Từ Bi, các bạn nhớ không?
B: Nhớ chứ, thực hành Bố thí là thực hành 1
trong 4 nhiếp sự (Four Assistant Methods): Bố thí (Donation_
donation of Goods, of Dharma, of Encouragement), Ái ngữ
(Friendly Speech), Lợi hành (Benificial Actions), Ðồng sự
(Collaboration) - Những điều này chúng ta đã biết rồi.
A: Chúng ta cũng cần nhắc nhau rằng chúng
ta không chỉ biết hộ trì Tam bảo lúc Chùa gặp nguy hiểm mà ngày
thường cũng vậy, không những chúng ta hộ trì bảo vệ chư Tăng Ni
mà chúng ta còn quan tâm những việc như xây cất tu bổ chùa, việc
ăn ở của chư Tăng Ni, việc tổ chức tu học cho Phật tử, việc chi
phí cho các đại lễ Phật Ðản, Vu Lan, Tết Nguyên đán v.v… cũng
cần có tài chánh. Chúng ta cũng phải quan tâm đóng góp phần
mình; bởi vì nếu không có Chùa, chúng ta làm sao “làm quen” với
Tam bảo được, phải không?
C: Phải rồi, nhưng đó là việc của Ban hộ
trì Tam bảo ở các Chùa phải không?
B: Đúng vậy; nhưng có nhiều Chùa nhỏ, ít
chư Tăng, ít Thiện nam Tín nữ thì họ phải tự túc, nếu biết được,
chúng ta cũng phải có bổn phận quan tâm hộ trì Tam bảo ở những
nơi đó.
A: OK. Vậy cũng tạm đủ rồi. Nếu PTTG chúng
ta làm được những điều như chúng ta vừa học tập và thảo luận
trên đây thì cũng đủ đem lại hạnh phúc, an lạc cho bản thân, cho
gia đình và cho mọi người quanh ta, đó cũng là cách hoằng dương
Phật pháp một cách hữu hiệu nhất, phải không các bạn?
C: Phải rồi, vậy bài học hôm nay tạm đủ,
xin tạm biệt nha!
A và B: Tạm biệt! Tạm biệt! ❑
20. Phật
giáo phương Tây
Kính thưa quí vị và các Bạn,
Hôm nay nhóm huynh trưởng trẻ muốn nói về
sự du nhập của Phật giáo hay Phật pháp nói riêng vào các nước
Tây phương; chúng tôi xin mời quí vị theo dõi nội dung cuộc nói
chuyện với 3 bạn trẻ quen thuộc A, B và C sau đây.
A: Chào các em, hôm nay chúng ta nói về đề
tài gì đây hở?
B: Thưa anh, ngày nay có thể nói rằng GÐPT
đã có mặt trên khắp 5 châu (4 châu thì đúng hơn, vì ở Phi Châu
chưa có GÐPT): Âu, Á, Úc, Mỹ; nhưng tại sao trong chương trình
dạy Phật pháp cho các em, chúng ta không nói đến sự du nhập của
Phật giáo ở Tây phương hở anh? Trong khi đó chúng ta học rất kỹ
về sự du nhập của đạo Phật vào Việt Nam?
C: Dạ, đúng vậy, em thấy quý Thượng tọa,
Hòa thượng bên Đức, bên Pháp có rất nhiều đệ tử xuất gia người
phương Tây: Anh, Pháp, Ðức, Mỹ… điều đó chứng tỏ họ cũng có biết
về đạo Phật rất lâu rồi phải không anh?
A: Phải đó! Phật giáo thật ra đã có mặt ở
phương Tây từ rất lâu nhưng mãi đến đầu thế kỷ thứ 19 mới có
những cuốn sách nói về Phật giáo dưới danh từ Buddhism (Anh) hay
Boudhisme (Pháp) hay Buddhismus (Ðức).
B: Phật giáo truyền đến Tây phương là Phật
giáo (PG) Ấn Ðộ, PG Trung Hoa, hay PG Nhật bản hay PG Việt Nam
hở anh?
A: Như chúng ta đã biết, mặc dù đức Phật
Thích-ca bắt đầu giảng dạy Phật pháp tại Ấn Ðộ nhưng đạo Phật
đâu có được phát triển mạnh tại Ấn Ðộ; lại nữa, vào thế kỷ thứ
11, PG gần như biến mất ở Ấn Ðộ do Ấn Ðộ giáo tàn sát tín đồ
Phật Giáo và đốt phá tất cả kinh sách, chùa chiền và tu viện PG…
Mặc khác, chúng ta thấy khi Phật giáo du nhập vào một đất nước
nào thì nó liền hội nhập với phong tục, tập quán, văn hoá truyền
thống… của nước đó. Vì vậy, PG Việt Nam khác với PG Nhật Bản hay
PG Trung Hoa, và cũng không giống PG Tây Tạng… mặc dù cũng Thiền,
cũng Tịnh độ, cũng Mật tông, v.v... Do đó, khi vào đến các nước
phương Tây (Anh, Pháp, Ðức, Mỹ, Canada, Úc…), Phật Giáo cũng
mang sắc thái đặc biệt của Anh, Pháp, Mỹ, Canada… chứ không còn
giống hoàn toàn 100% với PG của các nước Việt Nam, Lào, Cao Miên,
Thái Lan, Nhật Bản, Trung Hoa, v.v... nữa.
B: Tại sao người ta nói rằng ngày nay Phật
giáo đi vào các cộng đồng xã hội phương Tây một cách dễ dàng và
sống động hở anh?
A: Tại vì giáo lý đạo Phật dựa trên căn bản
duy lý và thực nghiệm, và đạo Phật giống như một triết lý sống
hơn là một tôn giáo thuần túy nên gần gũi với các quan điểm về
khoa học thực nghiệm của phương Tây.
C: Anh cho em một ví dụ cụ thể để em hiểu
được câu nói này của anh!
A: Ví dụ như giáo lý Nhân quả, giáo lý
Duyên khởi, hay Bát chánh đạo, Tứ diệu đế… giáo sư Rhys Davids (người
Anh) đã phát biểu rằng: “…khi nghiên cứu các tôn giáo trên thế
giới, tôi đã khám phá ra rằng không một tôn giáo nào có thể vượt
qua được vẻ đẹp và sự quán triệt Bát chánh đạo và Tứ diệu đế của
đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem áp dụng vào cuộc đời tôi theo
con đường đó.”
B: Em nghe nói có một vị Ðạt-lai Lạt-ma Tây
Tạng đã nói từ cách đây mấy trăm năm rằng Phật giáo nói chung và
PG Tây Tạng nói riêng sẽ được truyền bá rộng khắp qua Tây phương
phải không Anh ?
A: Đúng vậy, anh có đọc trong một cuốn sách
mà anh quên tên sách rồi, có ghi rõ tên của vị Ðạt-lai Lạt-ma đó
nữa, và Ngài nói rằng: “Khi những con chim sắt bay lượn trên bầu
trời, thì PG Tây Tạng sẽ được truyền giảng khắp nơi ở phương Tây
và người dân Tây Tạng cũng đi ra các nước phương Tây.” Hồi đó
chưa có máy bay nên người ta không hiểu “chim sắt bay lượn trên
bầu trời” là gì, sau này người ta đã hiểu được câu nói của Ngài
như một câu “sấm” báo trước những điều sẽ xảy ra trong tương lai
vậy đó! Vì sau đó đức Ðạt-lai Lạt-ma 14 cũng như những người dân
Tây Tạng bị Trung Quốc xâm chiếm, bắt bớ, phải trốn ra nước
ngoài, bây giờ quả thật đã sống ở khắp nơi, từ Ấn Ðộ, Âu châu
cho đến Úc, Canada, Mỹ… Những trường học cho Tăng sĩ Tây Tạng
cũng có ở khắp nơi và ở đâu, đức Ðạt-lai Lạt-ma 14 cũng được
kính mến, ngưỡng mộ như một vị Phật sống. Ngài thường được mời
giảng dạy Phật pháp tại các trường đại học, các buổi thuyết
giảng của Ngài rất đông người nghe - hàng mấy ngàn người, mà vé
vào cửa đã phải đặt mua từ mấy tháng trước mới có.
C: Như vậy người Tây phương có đọc được chữ
Ấn Ðộ (Pali và Sanskrit) không anh?
A: Có chứ! người Tây phương sau khi đã biết
PG thì tập trung nghiên cứu, học hỏi chứ không phải như dân
mình, biết đến PG đã hơn 2000 năm rồi và PG mạnh nhất là từ
những triều đại Ðinh, Lê, Lý, Trần... nhưng đến thế kỷ 21 rồi
cũng còn rất nhiều người tự cho mình là Phật tử nhưng không biết
Bát chánh đạo hay Tứ diệu đế là gì nữa!☺☺!!
B: Vì Ấn Ðộ là thuộc địa của Anh nên người
Anh biết đạo Phật sớm nhất phải không anh?
A: Cũng có thể lắm! nhưng tài liệu có ghi
là những luận điểm Phật giáo viết bằng tiếng Sanskrit được Brian
tìm thấy ở Nepal vào khoảng năm 1820, Christian Lassen thì đọc
được tiếng Pali, Jean-Pierre Abel-Rémusat đọc được Kinh Phật
bằng chữ Hán, và không lâu sau đó thì Hung Alexandre Csomas de
Koros đọc được Tạng ngữ. Từ đó đạo Phật thật sự được đưa vào
phương Tây và được các học giả, triết gia... nghiên cứu rất sâu
và sách về Phật pháp ở phương Tây cũng rất phong phú và đa dạng.
C: Anh có thể cho chúng em biết sơ lược về
sự phát triển PG ở vài nước phương Tây tiêu biểu không?
A: Được chứ! ví dụ tại nước Anh thì Hội PG
Anh quốc và Ái Nhĩ Lan (Buddhist Society of Great Britain &
Ireland) được thành lập từ năm 1907, năm 1923 đổi tên thành The
Buddhist Society; một trong những sáng lập viên là giáo sư Rhys
Davids, người đã xuất bản nhiều sách nói về kinh điển PG bằng
tiếng Pali và dịch ra tiếng Anh. Hiện nay có 340 cơ sở, đoàn thể,
tổ chức, hội đoàn PG… trên khắp nước Anh trong đó có 2 tu viện
nổi tiếng nhất, đó là: Amaravati và Chithurst. Chương trình Phật
Pháp được chính phủ cho giảng dạy từ Tiểu học đến Ðại học và có
chương trình truyền bá PG qua các đài truyền hình, truyền thanh
BBC nữa.
B: Còn ở Pháp, PG có phát triển như ở nước
Anh không?
A: Pháp là nước đã từng chiếm Ðông Dương
(Việt Nam, Cambodia và Lào) làm thuộc địa nên đã tiếp xúc với
nền văn minh Á Đông sớm nhất. Hơn nữa, sau khi chiến tranh Ðông
Dương (1954) kết thúc, làn sóng người Việt định cư trên đất Pháp
tăng lên rất cao, và sau năm 1975 thì làn sóng người VN tị nạn
càng tăng lên cao hơn nữa. Phật giáo Việt nam theo chân người
Việt cũng phát triển và tất nhiên, bên cạnh đó Phật giáo Trung
Hoa, PG Nhật Bản và PG Tây Tạng… cũng bành trướng nhanh chóng
tại đất nước lớn mạnh nhất Âu châu này. Hiện nay cộng đồng Phật
giáo Pháp đã có hơn 200 cơ sở với hơn 600 ngàn Phật tử; có tu
viện Monastère Nalanda là nơi đào tạo và huấn luyện chư Tăng Ni
cho các nước Âu Châu. Ở miền Nam nước Pháp có cơ sở Làng Mai
(Plum Village) của Thiền sư Nhất Hạnh cũng là nơi đào tạo và
phát triển phong trào học Thiền kể từ năm 1982. Mặc dù Phật Giáo
mới du nhập vào Âu châu vào giữa thế kỷ 19 nhưng số Phật tử tại
Pháp đã chiếm 5% trong khi đó tín đồ Thệ giáo chiếm 6% và tín đồ
Thiên Chúa giáo La Mã chiếm 12%. Những nhà nghiên cứu Phật học,
những học giả, giáo sư đứng hàng đầu trong việc truyền bá đạo
Phật tại Pháp là Eugene Burnouf, Sylvan Levi, Paul Demieville và
Louis Reneu.
C: Thế còn ở nước Nga có Phật tử không hở
anh?
A: Ồ, có chứ, không những có mà Phật giáo
hiện diện trên đất Nga rất sớm nữa đó! Từ năm 1908 đã có một
ngôi chùa tên là Kuntsechoinei được xây dựng ở St. Petersburg
rồi! Em ruột của Nga Hoàng Nicolas II là hoàng thân Ukhtomsky
rất uyên bác về Phật học.
Kể từ năm 1917 thì phong trào PG ở đây cũng
như các tôn giáo khác đều bị đàn áp và triệt tiêu; mãi cho đến
cuối năm 1989 khi Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết sụp đổ thì Phật
giáo Nga mới được phục hoạt. Chùa Kuntsechoiney được trả lại và
được sửa chữa, hiện đang có các vị Sa-di tu học. Hội Phật giáo
Estonia (The Estonian Buddhist Association) có 2 ngàn Phật tử
với vị lãnh đạo được bầu làm cố vấn trong hội đồng chính phủ.
Các cộng đồng PG ở Novosibirsk, Kiev, Khalov và Tashkent cũng
được thành lập, 2 ngôi chùa Ivolga và Ago đã được trùng tu, cũng
là nơi sinh hoạt cho 20 đoàn thể Phật tử ở Siberia. Ở Kalmykia,
một trung tâm PG cũng được thành lập và các hội Phật học trước
đây ở Moscow (Mát-scơ-va) và Latvia cũng đang tái sinh hoạt rất
tích cực. Các đài truyền thanh, truyền hình đều có chương trình
phát thanh Phật giáo hằng tuần, điều này chứng tỏ người Nga đang
có sự lựa chọn mới cho cuộc sống tâm linh của họ.
C: Ở Âu châu còn có nước nào có phong trào
Phật Giáo phát triển được nữa không anh?
A: Tại lúc nảy em hỏi các nước tiêu biểu
thôi, chứ thật ra, Phật giáo hiện diện ở hầu hết các quốc gia Âu
Châu như Ðức, Ý, Hoà Lan, Thụy Sĩ… kể cả ở Bắc Âu (Na Uy, Thụy
Ðiển) và Ðông Âu (Ba Lan, Tiệp Khắc); không những thế, chúng ta
còn có GÐPT và BHD/GÐPT tại Âu Châu nữa đó!
B: còn Phật giáo ở Úc Châu thì sao hở anh?
A: theo thống kê của báo Sun Herald số Phật
tử ở Úc vào năm 1986 là 80.387 người đã tăng thành 200.000 người
vào năm 1991. Như vậy là trong vòng 15 năm đã tăng 25%! Hội đồng
PG New South Wales (Buddhist Council of New South Wakes) đã ghi
nhận: “Phật giáo là tôn giáo phát triển nhanh nhất tại Úc”. Trên
toàn nước Úc (và Tân Tây Lan - New Zealand) có khoảng 190 cơ sở
Phật giáo, 2 viện Cao đẳng Phật học để đào tạo Tăng tài như
thiền viện Wat Buddha Dhamma Meditation center ở New South
Wales, thiền viện Bodhinyana ở Perth và chùa Buddhist Vihara ở
Auckland (NZ)... đó là những nơi thu hút Phật tử và khách thập
phương nhiều nhất. Thượng tọa Pannayavaro người Úc đã từng tu
học ở Tích Lan và Miến Ðiện hơn 20 năm và đã thành lập thiền
viện Vipassana tại Sydney. Cũng chính vị này đã mở trang báo
điện tử giảng giáo lý của đức Phật qua internet và con số người
theo dõi chương trình này đã lên tới 50.000 người.
C: Ở Úc và New Zealand không có chùa Việt
Nam sao anh?
A: Có chứ và rất nhiều nữa là khác, có cả
GÐPT Việt Nam nữa; nhưng đây chúng ta chỉ bàn đến Phật giáo nói
chung chứ chưa đề cập đến Phật giáo Việt Nam ở Úc.
B: Ở Úc mà nhiều chùa Việt Nam vậy, huống
gì ở Mỹ hở anh? Vì Hoa Kỳ có rất nhiều người Việt.
A: Đúng vậy, và cộng đồng người Việt hải
ngoại đông nhất và mạnh là ở Mỹ. Cứ nhìn vào con số các chùa và
tu viện... được xây dựng rải rác khắp các tiểu bang trên đất
nước Hoa Kỳ này, cũng đủ thấy sự lớn mạnh của PG Việt Nam ở đây.
C: Chúng em cũng chưa biết hết những Tiểu
bang nào có chùa của người Việt Nam và là những chùa nào nữa đó
anh, nói cho chúng em nghe đi!
A: Có tất cả 39 tiểu bang trong 50 Tiểu
bang của Hoa Kỳ đều có PG Việt Nam hoạt động, và chỗ nào có
người Việt thì ở đó có chùa hay tự viện.
B: Wow! sự hiện diện của PG Việt Nam trên
đất Mỹ thật là càng ngày càng phát triển đến mức độ không ai ngờ
được! Nếu không có anh thì hôm nay em không biết được sự phát
triển “phù đổng thiên vương” của PG Việt Nam tại Mỹ rồi!! Em cảm
thấy tự hào quá! Xin cảm ơn anh thật nhiều!
C: Em cũng vậy.
A: Thôi, chào tạm biệt các em!
B& C: Tạm biệt! Tạm biệt!
Kính thưa quí vị và các bạn,
Xin kính chào tái ngộ với quí vị và các bạn,
Tuổi trẻ hôm nay đến với đạo Phật không còn
như tuổi trẻ của những năm 50-60 nữa, hồi đó con người nói chung
và tuổi trẻ nói riêng, đức tin mạnh hơn lý luận nên huynh trưởng
GÐPT lúc đó dạy Phật pháp cho các em dễ dàng hơn, nhất là những
bài học có chút màu sắc thần thoại, thần thông, những hiện tượng
lạ hay những phép tu Mật tông, pháp chuyển di tâm thức (phowa),
trì chú, v.v... Mà những điều này, dù không có trong chương
trình nhưng các em cũng có thể đọc trên Net và đưa ra thắc mắc
nhờ anh chị Trưởng giải đáp!☺☺!!
Tuổi trẻ thường hay đòi được “mắt thấy tai
nghe” mặc dù hơn ai hết, họ đã được khoa học cho biết rằng khả
năng thấy, nghe của mắt tai của con người rất hạn chế: những màu
sắc mắt ghi nhận được không ngoài dãi 7 màu: đỏ, cam, vàng, xanh
(green), lam (blue), chàm (indigo), tím; ngoài 7 màu đó, mắt
không thể thấy được rất nhiều những màu sắc khác gọi chung là tử
ngoại (ultraviolet, ngoài màu tím) hay hồng ngoại (infra-red,
ngoài màu đỏ). Còn tai cũng vậy, những âm thanh quá nhỏ - gọi
chung là những hạ âm - lỗ tai con người không ghi nhận được
nhưng loài chó có thể nghe được; còn những âm thanh quá lớn cũng
có thể làm lỗ tai bị đau nhức hay thậm chí có thể bị điếc luôn!☺☺!!
Như vậy mà còn đòi mắt thấy tai nghe gì nữa! Tuy nhiên, không vì
thế mà người huynh trưởng không dám dạy cho đoàn sinh của mình
những bài có trong chương trình tu học và chủ yếu là dạy cho các
em áp dụng những bài học ấy vào cuộc sống như thế nào.
Vì thế các huynh trưởng trẻ, thường trao
đổi với nhau về những vấn đề liên quan đến tu học của mình và
dạy lại cho các em đoàn sinh của mình. Hôm nay, chúng tôi kính
mời quí vị nghe cuộc hội thoại bỏ túi về vấn đề “Ta-bà và Cực
lạc” lan rộng đến những từ ngữ Tha lực, Tự lực, Tịnh Ðộ, tu
Thiền, tu Tịnh độ, Thiền Tịnh song tu, tu Mật tông, v.v… giữa 3
huynh trưởng A, B, C mà chúng ta đã từng làm quen trong mục này.
A: Chào các bạn, hôm nay chúng ta nói về đề
tài gì hả?
B: Trước hết là về một câu hỏi của một em:
“Tịnh Ðộ là gì? Cõi Cực lạc có hay không có?” và câu hỏi này
được nhiều em hưởng ứng, các em rất thích nghe câu trả lời của
mình.
C: Vậy bạn đã trả lời như thế nào?
B: Tôi trả lời rằng: “Trong kinh A-di-đà,
đức Phật Thích-ca có giới thiệu về cõi nước của đức Phật A-di-đà
ở Tây phương, đó là cõi Tịnh Ðộ hay Cực lạc.” Và tôi có đọc
những đoạn cho các em biết về cõi nước đó, cũng có nói sơ về 48
lời nguyện của đức Phật Di-đà.
A: Rồi các em có hỏi tiếp không?
B: Có chứ! Các em bảo rằng mình là Phật tử
thì mình tin, còn những người khác làm sao để cho họ tin?
C: Rồi bạn trả lời như thế nào?
B: Tôi đem câu chuyện ngụ ngôn “Rùa và Cá”
kể cho các em nghe và kết luận rằng: Rùa sống được cả trong nước
lẫn trên cạn nên có thể biết những chuyện ở trong nước và có khả
năng đi lên trên mặt đất để thấy những cảnh tượng trên mặt đất;
còn Cá chỉ biết sống dưới nước, không có phổi, thở bằng mang,
v.v... nên không thể hiểu được những gì có trên mặt đất mà Rùa
thì không thể diễn tả cho Cá biết những gì ở trên mặt đất vì
những thứ đó dưới nước không có, làm sao nói cho Cá hiểu được?
Cũng vậy, cõi Cực lạc chỉ có trí Phật mới hiểu được vì Phật biết
cả 2 cảnh giới – Ta-bà và Tịnh độ; còn chúng ta chỉ biết Ta-bà
thôi, làm sao đức Phật giảng cho ta nghe hiểu được, chúng ta là
Phật tử nên tin Phật là được rồi.
C: Phải rồi, bạn có thể nói rằng người đã
ăn xoài mới biết mùi vị của nó, còn người chưa bao giờ ăn làm
sao biết? Vả lại, làm sao bảo người ta tả ra cho mình hiểu được?
A: Đúng vậy, đừng nói là Cực-lạc, chỉ nói
Paris, London, New York, Sydney, v.v… nếu bạn là một người suốt
đời chưa ra khỏi nơi mình sống là miền thượng du Bắc Việt hay
miền đầm lầy Cà Mau, chưa bao giờ nghe ai nói đến thì cũng không
thể nào biết được.
B: Phải, phải! Mình còn nói với các em là
trong vũ trụ (universe) có hàng triệu ngân hà (galaxies), mỗi
ngân hà có hàng tỷ ngôi sao, mỗi ngôi sao lại có những vệ tinh
quay quanh nó, tạo nên một hệ thống hành tinh của nó. Quả đất
của chúng ta cũng chỉ là một vệ tinh của một ngôi sao lớn là mặt
trời tạo nên thái dương hệ - tức là hệ thống hành tinh của thái
dương (thái dương=mặt trời). Ðiều đó khoa học mới kham phá sau
này nhưng trong Kinh đức Phật đã nói (cách đây mấy ngàn năm) đến
“tam thiên đại thiên thế giới” rồi!
C: Như vậy là tốt rồi, chuyện các em đã
giải quyết xong, hãy nói chuyện của mình đi!
A: Bạn lại có chuyện gì?
C: Mình không còn thắc mắc Tịnh Ðộ có hay
không như các em nữa nhưng nghe nói người tu Tịnh Ðộ chỉ cần
niệm Phật và dựa vào tha lực của đức Phật A-di-đà là được vãng
sanh, vì đức Phật A-di-đà có lời nguyện là ai niệm danh hiệu
Ngài đều được vãng sanh Cực lạc; mình thấy vô lý quá! Các Bạn có
thể nói rõ điểm này không?
B: Đâu có ai nói “hồ đồ” như vậy được !☺☺!!
Người tu Tịnh Ðộ nương vào tha lực của đức Phật A-di-đà là đúng,
nhưng nếu không tự lực tích cực làm lành tránh ác, giữ tâm niệm
thanh tịnh, không tạo thói quen nhất tâm niệm Phật… thì làm sao
khi chết có thể sáng suốt niệm Phật cầu vãng sanh được? Làm sao
giữ tâm đừng tán loạn để niệm Phật được?
A: Đúng vậy, thí dụ như mình có đủ hết các
địa chỉ, số điện thoại cần thiết như bệnh viện, cấp cứu, bác sĩ
gia đình, v.v... nhưng đến khi bệnh nặng nổi lên làm mình đau
đớn, thần trí không tỉnh táo, không tìm ra được những địa chỉ đó
đã ghi ở đâu thì làm sao mà kêu cứu được hở bạn C? Đó là chưa
nói có còn đủ sức để bấm (dial) những số phone đó không nữa!☺☺!!
C: Mình hiểu rồi, như vậy dựa vào tha lực
chỉ là một phần, còn phải nỗ lực tinh tấn niệm Phật, và một khi
đã nhất tâm niệm Phật tức là phải có định tâm rồi, đâu khác gì
Thiền nữa, phải không?
B: Đúng vậy! Chúng ta phải biết kết hợp tự
lực và tha lực chứ không nên quá khích cho rằng mình chỉ cần tự
lực không cần tha lực hay ngược lại, chỉ cần 6 chữ Di-đà là tốc
vãng Tịnh Ðộ!
A: Bạn nói đúng lắm, ai nói rằng tu Thiền
không cần tha lực? Tu Thiền mới chính là cần tha lực đó, không
phải sao? Các bạn có nghe nói không, tu Thiền mà không có Thầy
hướng dẫn thì nhiều người đã đi đến điên loạn, tẩu hỏa nhập ma,
v.v... cho nên cái tha lực lớn nhất đó là ông Thầy của mình,
người hướng dẫn cho mình tu Thiền đó các bạn ạ! Ði tham dự các
khóa tu, đi nghe giảng ở Chùa, hay nghe những bài giảng trên
Net, v.v... không phải là tha lực sao?
C: Phải rồi, mình đồng ý, tha lực còn làm
mình vững tin hơn, có thể nói là nhờ có tha lực mà tự lực sẽ
tăng trưởng; nhưng có người nói rằng vừa tu Thiền vừa tu Tịnh độ
giống như người đi qua sông bằng cách đứng 2 chân lên trên 2
chiếc thuyền; như vậy thì nguy hiểm quá!
B: Với giả thuyết như vậy thì thấy rõ người
ấy sẽ bị té nhưng nếu dựa vào thực tế, trong những cuộc đua
thuyền vòng quanh thế giới, người ta thấy rằng phần lớn những
loại thuyền đôi (catamaran) hay thuyền 3 (trimaran) là những
loại thuyền buồm gồm 2 hay 3 chiếc thuyền nhỏ ghép lại, đều
thắng giải vì nó chắc chắn không bị hư giữa đường (gảy cột buồm,
lủng đáy, v.v...) và đi nhanh hơn nhiều.
A: Ðúng thế, với 37 Phẩm trợ đạo mà chúng
ta đã học, ta có thể tu theo một hay nhiều phẩm vì mỗi phẩm hỗ
trợ cho những phẩm kia, đâu có thể nói rằng “tu bố thí thì chỉ
nên lo chuyện bố thí đi, đừng vừa tu bố thí vừa trì giới” được,
có phải không?
C: Bạn muốn nói rằng Bồ-tát tu Lục độ
Ba-la-mật cũng như đi trên chiếc thuyền có sáu máy hay thuyền
buồm gồm sáu thuyền nhỏ ghép lại? Như vậy tốc độ sẽ nhanh lắm?
A: Phải! Vì vậy điều phải cần biết là người
lái có đủ khả năng điều khiển thuyền máy không; cũng như đi xe
hơi nhanh hơn đi bộ nhưng phải biết lái xe, đi máy bay phản lực
nhanh hơn xe hơi nhưng phải biết lái máy bay phản lực vì nếu
không đủ khả năng hay sơ sót về kỷ thuật thì không những không
đến nơi mà còn mất mạng, tan xác nữa !☺☺!!
B: Như vậy là chúng ta đã nắm vững về tha
lực, tự lực. Bây giờ xin hỏi các bạn, ta có thể tu hai, ba pháp
môn cùng lúc hay không? Ví dụ như ta thường nghe “Thiền Giáo
đồng hành”, hay “Thiền Tịnh song tu”, hay “Thiền Tịnh Mật đồng
hành” đó!
C: Tôi có nghe một vị Thầy giảng rằng có
thể tu hai, ba pháp môn cùng một lúc, ta có thể chọn một cái làm
pháp môn chính (chánh tu) và những cái kia là phụ (trợ tu, trợ
đạo).
A: Phải rồi, có lý lắm, như vậy nếu bạn tu
Thiền mà muốn tu thêm Tịnh Ðộ thì chỉ cần khi xả thiền, bạn phát
nguyện và hồi hướng cầu về Cực lạc để được tiếp tục tu học với
Tăng thân thanh tịnh của cõi đó.
B: Tổ Vĩnh Minh, vị tổ thứ 6 của Tịnh Ðộ
tông, có nói: “Có Thiền có Tịnh Ðộ giống như cọp thêm sừng” (Hữu
Thiền, hữu Tịnh Độ dụ như đới giác hổ).
C: Nhưng hiện giờ chúng ta đang ở cõi
Ta-bà, hằng ngày phải đối diện với nhiều phiền não khổ đau, làm
sao để đối phó và vượt qua những chướng ngại đó, hay chỉ cần
niệm Phật A-di-đà là đủ?
A: Tu Tịnh độ mà nếu chúng ta không xa lìa
ham muốn, không buông bỏ yêu-ghét, thị phi, không thoát ra khỏi
lưới ái dục, còn luyến tiếc hư danh, tài sản, v.v... thì cho dù
đức Phật A-di-đà có đến rước, e rằng chúng ta cũng không đi nỗi,
vì nghiệp ái quá nặng, không phải sao? ! ☺☺!!
B: Hay! Bạn nói làm tôi nhớ đến câu chuyện
của Thangtong Gyelpo, vị Thầy Mật tông Tây Tạng nổi tiếng về
phép “chuyển di tâm thức” (Phowa); nghĩa là có khả năng tống
thần thức của người hấp hối về thẳng cõi Cực lạc. Người nào vừa
chết hay đang hấp hối mà có duyên lành gặp được hay thỉnh được
Ngài thì coi như chắc chắn vãng sanh.
C: Thật là kỳ diệu, câu chuyện như thế nào?
B: Một hôm, Ngài đến một làng kia, tập họp
dân làng lại và tuyên bố rằng: hôm nay là ngày lành tháng tốt,
ai muốn về Cực lạc ta sẽ giúp cho. Nói xong, Ngài nhìn khắp mọi
người nhưng không ai trả lời cả, trong khi ngày thường, họ băng
ngàn lội suối để thỉnh Ngài về nhà làm phép phowa hay cầu siêu
cho thân nhân. Thấy lạ, Ngài hỏi từng người. Chỉ vào một thanh
niên, Ngài hỏi: “Chú không muốn về Cực lạc à?” Người thanh niên
trả lời: “Dạ, thưa Ngài! con muốn lắm chứ nhưng còn mẹ già nên
không thể bỏ đi”. Chỉ vào một người trung niên, Ngài hỏi: “Anh
có muốn về Cực lạc không?” - “Thưa Ngài, con muốn lắm nhưng bây
giờ còn vợ con nên chưa đi được”, v.v… Cứ như thế Ngài hỏi hết
mọi người trong làng, cả người trẻ lẫn người già, người nào cũng
từ chối chưa muốn về Cực lạc bây giờ với đủ mọi lý do: còn cha
mẹ, vợ con, ruộng đất, nhà cửa, nợ nần, v.v... và v.v... Cuối
cùng có một em bé 10 tuổi bằng lòng về cõi Cực lạc ngay hôm nay
- em mồ côi cha mẹ và không có họ hàng bà con gì hết!
C: Hèn gì đức Phật ngày xưa khi về kinh
thành Ca-tỳ-la-vệ chỉ cho phép những người xuất gia mới được đi
theo Ngài thôi!
A: Tôi nghĩ rằng ngay cả những vị xuất gia
nếu có mặt trong làng trên đây cũng chưa chắc đã sẵn sàng để về
Cực lạc ngay bây giờ vì quí Ngài còn nhiều việc phải làm như
việc Chùa, những Phật sự quan trọng còn dang dở, v.v…
B: Đúng vậy, như bạn A đã nói hồi nãy, tu
Tịnh Độ cũng phải trau giồi phước huệ, làm chủ tâm ý, có định
lực để xa lìa ái dục, xa lìa ham muốn… thì khi lâm chung, đức
Phật A-di-đà đến rước mới đủ dũng cảm cắt đứt những hệ lụy tình
cảm thế gian thường tình đi theo Ngài về Cực lạc được chứ!
C: Đúng rồi, chỉ có Thần Chết, xuất hiện
bất cứ lúc nào mới đem một người đi khi thọ mạng đã hết, không
ai lấy hẹn trước, cũng không ai từ chối được mà thôi. Vì vậy, ta
phải chuẩn bị để khi Thần Chết hiện ra ta vẫn còn sáng suốt để
nhất tâm niệm Phật A-di-đà, cầu Ngài đến rước chúng ta về Cực
lạc, phải không?
A: Phải, phải! Những ai đang tu Tịnh Ðộ có
nghĩa là họ đã biết và đã gieo duyên với đức Phật A-di-đà từ
nhiều đời nhiều kiếp trước nhưng nghiệp ái quá nặng, định tâm
còn yếu nên chưa xả được, vì vậy mới kẹt lại Ta-bà đó thôi. Chư
Tổ có câu: “Ái bất trọng bất sinh Ta-bà, niệm bất nhất bất sinh
Tịnh Ðộ” đã rõ ràng quá rồi!
C: Câu đó nghĩa là gì vậy?
B: Nghĩa là “nghiệp ái không nặng thì đã
không sinh ra ở cõi Ta-bà này, niệm Phật không nhất tâm thì
không thể sinh về Tịnh Ðộ Cực lạc được”.
C: Như vậy, tu Tịnh thêm Thiền để tăng định
lực như thế nào hở các bạn?
A: Bạn chia thời khóa biểu ngồi Thiền, niệm
Phật... hay thực hành chuyên niệm là tốt nhất.
B: Ngồi Thiền giúp thân trụ vững vàng thì
tâm mới định. Trong lúc ngồi niệm Phật, bạn phải nhiếp tâm chăm
chú không để những ý tưởng khác chen vào; nếu có một tạp niệm
thì phải nhận ra ngay, trở về với chánh niệm, để biết rằng niệm
Phật là nhớ nghĩ đến Phật; chứ niệm Phật mà nhớ nghĩ chuyện đời,
vui buồn giận hờn, v.v... thì làm sao tương ưng với Phật và cảnh
giới Tịnh Ðộ của Phật được?
C: Cảm ơn các bạn nhiều, tôi đã hiểu vì sao
niệm Phật không chuyên nhất thì không thể sinh về thế giới Tây
phương Cực lạc được.
A: Dù tu Thiền, tu Tịnh hay Thiền Tịnh song
tu nhưng đang còn sống ở thế gian này, chúng ta vẫn phải thực
hành những công hạnh khác như lễ Phật, sám hối, bố thí, cúng
dường… để tạo phước, mới mong nghiệp chướng (hay ma chướng của
ngoại cảnh hay ở ngay trong tâm chúng ta) không phá hoại đường
tu của chúng ta.
B: Đúng vậy, mục đích chính của tu hành là
để cầu giải thoát sinh tử luân hồi. Tu Thiền, tu Tịnh Độ, tu Mật
tông… hay bất cứ tu pháp môn nào mà vẫn còn tham đắm thế gian,
không xa lìa ái dục, thì cũng giống như muốn chèo thuyền qua
sông mà dây neo buộc vào bờ vẫn chưa chịu tháo ra! ☺☺!!
C: Các bạn có nghe nói Ta-bà với Tịnh độ là
một hay không? Và có nghe bài kệ này chưa?
Trang nghiêm Tịnh độ
Nơi cõi Ta-bà
Ðất Tâm thanh tịnh
Hiển lộ ngàn hoa.
A: Có nghe rồi! Đó là quan niệm của Thiền
“bây-giờ và ở-đây” (now and here); theo đó, chánh niệm là Tịnh
độ, là an lạc rồi. Lúc đó dù ta đang uống trà, đang đánh răng
súc miệng, đang mở máy TV hay máy vi tính (computer), đang lặt
rau, đang đổ rác, v.v… Nghĩa là bất cứ đang làm việc gì bình
thường nhất, giản dị nhất, ta cũng cảm nhận được thực tại nhiệm
mầu, cảm nhận được cái tịnh trong cái bất tịnh (cái sạch trong
cái dơ), cái thường trong vô thường, vì lúc đó tâm ta đang ở
trạng thái thật thanh tịnh, vườn tâm đang nở hoa .
B: Có phải bạn nói những thi kệ phỏng theo
“Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu” mà chúng ta đã dạy cho các em học
thuộc và áp dụng trong đời sống hằng ngày không?
A: Phải đó!
C: Tôi cũng đã nhớ ra rồi, để tôi đọc các
bạn nghe nha!
Chén trà trong hai tay
Chánh niệm nâng tròn đầy
Thân và tâm an trú
Bây giờ và ở đây.
Ðánh răng và súc miệng
Cho sạch nghiệp nói năng
Miệng thơm lời chánh ngữ
Hoa nở tự vườn tâm.
Một thùng rác bẩn
Một bông hồng thơm
Muôn vật chuyển hóa
Thường trong vô thường.
Mặt trời xanh rờn
Một rổ rau tươi
Vạn pháp nương nhau
Làm nên cuộc đời.
C: Tôi quên mất 2 bài về máy vi tính và xem
TV rồi!
B: Đó là :
Tâm là máy truyền hình
Với muôn ngàn nút bấm
Chọn thế giới an lành
Cho tươi vui cuộc sống.
Thắp lên máy vi tính
Ý tiếp xúc với tàng
Tuệ giác càng tăng trưởng
Nuôi lớn “hiểu” và
“thương”.
A: Nói tóm lại, Ta-bà hay Cực lạc đều xuất
phát từ tâm, khi tâm ta thanh tịnh, ta thấy thế giới thanh tịnh;
khi tâm ta lăng xăng, ngoại cảnh đều lăng xăng tán loạn theo…
Trong cuộc sống, vì vậy nhiều khi trong một vài sát-na nào đó,
một vài giây phút nào đó, ta quả thật đã nếm được mùi vị an lạc
của thế giới thanh tịnh ở cõi Tây phương Cực lạc của đức Phật A-di-đà,
chỉ là không lâu, ta lại bị cuốn hút vào những ham muốn, vui
buồn, đấu tranh… của cuộc đời, nên đời đời cứ trôi lăn trong
sinh tử.
B: Như vậy hôm nay chúng ta đã giải quyết
được nhiều nghi vấn về tu hành, về Nhân gian Tịnh Ðộ, Tự lực,
Tha lực… Thật vui và lợi ích, xin tạm biệt các bạn, chúng ta hẹn
gặp lại lần sau nha!
A và C: Tạm biệt, tạm biệt!
Kính thưa quí vị và các bạn,
Tuổi trẻ Phật giáo hôm nay khác với tuổi
trẻ PG ngày xưa rất nhiều. Ví dụ như ngày xưa Phật tử không được
đọc những Kinh “lớn” như Kim Cang, Lăng Nghiêm, Duy Ma Cật, v.v...
vì quí Thầy, quí Sư Cô cố vấn giáo hạnh sợ các em chưa đủ tuổi
để hiểu, rồi đâm ra hiểu lệch lạc, “mang tội”… Còn bây giờ, cho
hay không cho cũng không thành vấn đề, các em chỉ cần lên “net”
thì cái gì cũng có. Tuy nhiên, có nhiều chuyện thì các em biết
về chữ nghĩa mà thực tế chưa biết hay có nhiều danh từ rất dễ
hiểu mà các em không hiểu, trái lại những từ “cao siêu hơn” thì
lại hiểu được! Vì vậy, các em luôn thắc mắc. Xin mời quí vị theo
dõi cuộc hội thoại của mấy anh chị em huynh trưởng GÐPT trẻ A,
B, C mà chúng ta đã làm quen qua mấy lần trước với đề tài Tứ
Ðộng Tâm, chủ yếu là Bồ-đề Ðạo Tràng.
A: Chào các em, hôm nay gần cuối năm 2005
rồi! Các em định nói chuyện gì đây?
B: Dạ, chúng em định hỏi anh về mấy chữ “tứ
động tâm” là gì?
C: Phải đó, Tứ vô lượng tâm hay Tứ thánh đế
hay Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Tứ nhiếp pháp… chúng em đều đã
học nhưng Tứ động tâm sao chúng em chưa học hở anh?
A: Các em đã biết rồi nhưng không gọi tên
như vậy thôi, chứ sao lại chưa học được!
C: Thật sao? Biết hồi nào?
A: Hồi học lịch sử đức Phật Thích-ca từ sơ
sinh đến nhập diệt đó! Các em đều biết đức Phật đản sinh ở đâu?
Thành đạo ở đâu? Thuyết giảng bài pháp đầu tiên ở đâu? Và nhập
diệt ở đâu chứ?
B: Dạ, nhất định rồi, dễ mà! đức Phật sinh
ở vườn Lâm-tỳ-ni, thành Ðạo ở Bồ-đề Ðạo Tràng, thuyết giảng Tứ
Ðế (Bốn sự thật cao thuợng) ở vườn Nai (Lộc Uyển), và nhập diệt
ở thành Câu-thi-la.
A: Đúng rồi! 4 chỗ em vừa kể gọi là “4 động
tâm” hay “tứ động tâm” cũng vậy; vì khi người con Phật đến đó
không ai là không xúc động mạnh, xúc động đến tận tâm can.
C: À thì ra vậy, hèn gì em cứ thắc mắc tại
sao mình không được học!
A: Bây giờ các em muốn nói động tâm nào
trước?
B: Dạ, hôm nay sắp đến ngày Thành Ðạo, anh
nói cho chúng em về Bồ-đề Ðạo Tràng trước đi nha!
A: Bồ-đề Ðạo Tràng ở thành phố Bodh Gaya
của Ấn Ðộ. Ðây có lẽ là Thánh tích quan trọng nhất, được chính
phủ Ấn đặc biệt quan tâm tu sửa, và hằng năm du khách Phật tử
hay không Phật tử đều đến đây tham quan rất đông.
C: Vậy hồi tháng 11/04 có lễ hội hành hương
(LHHH) của GÐPT, anh cũng có đi chứ?
A: Ðúng vậy, các thành viên của các phái
đoàn GÐPT được ăn, ở và sinh hoạt tại Trung tâm tu học Viên giác
ở Bodh Gaya (Viên Giác Institute Center) của thầy Thích Như Ðiển,
rất gần Bồ-đề Ðạo Tràng. Mỗi buổi sáng, cứ 4giờ30 là anh chị em
mình được quí Thầy hướng dẫn ra Bồ-đề Ðạo tràng, dưới cội Bồ-đề
lịch sử để đi kinh hành, tụng kinh, bái sám và lễ lạy (nghĩa là
đê đầu đảnh lễ) cội cây Bồ-đề.
B: Thật là thích quá anh hở? GÐPT chúng ta
ở đó được mấy ngày và làm những việc gì hở anh?
A: Có nhiều phái đoàn, nhiều anh chị vì
công tác, đã đến trước nhiều ngày nên không thể nói chính xác là
anh chị em chúng ta lưu lại đó mấy ngày, nhưng tất cả mọi người
đều đã ở đó ít nhất là 5 ngày, và liên tiếp trong 3 ngày cuối
cùng, trước khi rời BÐÐT, chúng ta đã tiến hành các Phật sự quan
trọng, mang tính chất lịch sử, đó là lễ “rước ánh sáng” đại hùng
đại lực, đại từ bi về Ðại hội, lễ “thí phát gieo duyên lành xuất
gia” cho một số anh chị em huynh trưởng và lễ thọ cấp Dũng ngay
dưới Cội Cây Bồ-đề lịch sử của người anh Cả hải ngoại của chúng
ta, anh Tâm Huệ Cao Chánh Hựu.
C: Anh có thể mô tả sơ cho chúng em quang
cảnh chung của Bồ-đề Ðạo Tràng như thế nào không?
A: Được chứ, đó là một khu rộng lớn, cỡ lớn
hơn những công viên lớn (park) ở Hoa kỳ mà chúng ta thường gặp,
gồm nhiều Thánh tích như Đại Tháp (Maha), hồ Rồng Mù
(Muchalinda), tòa tháp Animes Lochan, nơi đức Phật Thích-ca ngồi
quan sát trong tuần thứ 2 sau khi thành đạo, mặt hướng về cội
Bồ-đề, và nhiều tòa tháp, công trình xây dựng mang đặc tính của
nhiều quốc gia Phật giáo cúng dường, như đại hồng chung của Nhật
Bản, Việt Nam, công trình “hòn non bộ” Ngũ Hành sơn với núi non
hoa lá kiểu bonsai do nghệ nhân xứ Huế thực hiện. Trong tháp
Animes Lochan hiện chứa 3 tạng kinh Hoa Nghiêm bằng chữ Tây
Tạng.
B: Chỗ đó có đông người bản xứ đến tụng
kinh như chúng ta không?
A: Họ còn đến sớm hơn anh chị em mình nữa!
Nghĩa là họ đã có mặt từ nửa đêm hay tự bao giờ không rõ, người
thì dâng hoa, tụng kinh, chiêm bái các tượng Phật, người cầu
nguyện, ngồi thiền, v.v... Không chỉ người dân bản xứ mà nhiều
người “ngoại quốc” như Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Âu Châu,
Việt Nam, v.v... Các vị Lạt-ma Tây Tạng đảnh lễ khác hơn dân VN
mình. Họ mang 2 chiếc dép vào 2 bàn tay, và khi gieo mình xuống
đảnh lễ; họ duỗi thẳng 2 cánh tay lên đầu, bằng cách “chà” 2 bàn
tay lên mặt đất để thân mình nằm sát đất - đúng nghĩa “gieo 5
vóc” xuống đất (đầu mình và tứ chi).
C: Bên trong Ðại Tháp như thế nào hở anh?
A: Bên trong Đại Tháp có tượng đức Phật
Thích-ca trong tư thế kiết già, tay trái gác lên đùi phải, tay
phải buông xuôi, bàn tay trong tư thế bắt ấn địa xúc, mặt hướng
về phía Đông. Nghe nói bức tượng này đã có trên 1700 năm và tác
giả điêu khắc bức tượng này là hóa thân của Bồ-tát Di-lặc. Bức
tượng đã được tìm thấy và phục chế sau một thời gian dài bị chôn
vùi,…
B: Còn cây Bồ-đề lịch sử?
A: Thân cây Bồ-đề to lắm, ít nhất là 5, 7
người ôm mới kín vòng! Tàng lá Bồ-đề phủ rộng ra khoảng 10m trĩu
xuống, có những trụ chống làm giá đỡ, khá cao; người ta đã xây
một bức tường bằng xi măng vây kín cội Bồ-đề, chỉ để một cửa vừa
đủ cho một người ra vào, bên trong có tòa Kim Cang bằng sa thạch
do vua Asoka lập, nơi đức Phật ngồi nhập đại định 49 ngày. Anh
chị em mình được vào thăm bên trong, vì thầy Như Ðiển có mượn
chìa khóa mở cửa cho anh chị em chiêm bái cội Bồ-đề. Mọi người
đi chung quanh cây, chạm trán vào thân cây, có người còn vốc một
nắm đất dưới gốc nữa. Nghe đâu những vị quản lý khu BÐÐT có nhắc
nhở “yêu cầu quí PT đừng lấy đất dưới gốc cây, vì như thế cây sẽ
chết!” Hai năm trước, cội Bồ-đề suýt chết vì hàng trăm, hàng
ngàn người đến thăm viếng, mỗi người đều vốc một nắm đất! Cây
làm sao sống nổi! Phải nhờ hội bảo vệ thực vật quốc tế chăm sóc,
cây mới sống được đến nay!☺☺!!
Vị trí cội Bồ-đề phía Tây Bắc, từ tòa ngồi
đức Phật nhìn ra sông Ni-liên-thuyền là hướng Đông, và sao Mai
mọc lên cũng từ hướng đó.
B: Cội Bồ-đề còn gì đặc biệt không anh?
A: Bên ngoài cội Bồ-đề lịch sử còn có hai
dấu chân Phật rất lớn, to gấp 10 lần dấu chân bình thường, khắc
trên đá và được lồng kính để bảo vệ. Phật tử đem hoa đặt lên mặt
kính cúng dường. Hoa được dùng để cúng dường hầu hết không phải
hoa sen mà là hoa Súng, màu trắng hay hồng tím; cánh hoa và cọng
rất to gấp mấy lần hoa Súng ở Việt Nam hay ở Hoa Kỳ. Ði vào khu
vực Bồ-đề Ðạo Tràng, tất cả giày dép đều được để ở ngoài, nên
khi đi thiền hành hay đi thăm các nơi bên trong đều đi chân trần,
cảm nhận được sự mát lạnh của nền gạch hay đất.
C: Còn hồ Rồng Mù như thế nào anh?
A: Chỗ này có tượng đức Phật Thích-ca ngồi
giữa hồ, đây là nơi đức Phật ngồi tọa thiền trong tuần lễ thứ 6
sau khi giác ngộ. Hình tạc tượng Ngài ngồi nhập định và được rắn
thần hổ mang chúa xòe mang ra rất rộng để che mưa cho Ngài. Rất
xa bên kia là sông Ni-liên-thuyền, rừng khổ hạnh cây thưa và xơ
xác, và ngôi làng Sujata (khu làng lấy tên người nữ mục đồng
dâng bát sữa lên đức Thế Tôn trước khi Ngài thành đạo). Sông
Ni-liên-thuyền mùa hè không có nước, nằm trơ trọi với những bãi
cát vàng rộng và dài với vài con lạch nhỏ nơi dân làng dùng để
tắm gội, giặt giũ… Nghe nói mùa mưa thì nước sông Ni-liên-thuyền
dâng lên đến bụng.
B: Anh chị em còn đi đâu nữa, sau khi rời
BÐÐT hở anh? đến động tâm thứ 2 hở?
A: Không, phái đoàn còn đi cứu trợ các nơi
quanh khu vực BÐÐT rồi sau đó mới đi đến thành Vương-xá, lên núi
Linh Thứu được nhìn thấy thạch động của ngài A-nan, ngài Maha
Ca-diếp, thăm Phật học viện Nalanda, thăm Tịnh xá Trúc Lâm,
v.v... rồi mới đi chiêm bái động tâm thứ 2, đó là vườn Nai (Lộc
Uyển - Samath).
C: Vườn Nai ở có xa BÐÐT lắm không anh?
A: Từ Bồ-đề Ðạo Tràng, phải vượt 300km mới
đến vườn Nai. Ngày xưa phương tiện giao thông khó khăn hơn bây
giờ, đủ biết đức Thế Tôn phải tốn biết bao nhiêu ngày giờ để đến
Lộc Uyển độ cho 5 anh em ông Kiều-trần-như! Vườn Nai hay Lộc
Uyển thuộc xứ Ba-la-nại (Banerès) là một khu rộng rãi vô cùng
với nhiều cây cao bóng mát, chim hót vang lừng. Thật là một nơi
lý tưởng để chuyển pháp luân; hèn gì trước đức Thích-ca đã có 3
vị Phật khác là Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm và Phật Ca-diếp. Ðại
Tháp chuyển pháp luân (Dharmekkha) đánh dấu nơi đức Phật giảng
bài Pháp đầu tiên. Tháp có hình khối tròn, cao 31,3m đường kính
28,3m đứng sừng sững, thi gan cùng năm tháng, do vua A-dục
(Asoka) dựng lên cách đây hơn 2 ngàn 3 trăm năm (300 năm trước
Tây lịch); trong vườn còn lưu lại 6 bức tượng, của đức Bổn sư và
5 anh em tôn giả Kiều-trần-như.
B: Anh có nhìn thấy trụ đá của Vua A-dục
sai khắc với hình 4 con sư tử mà anh chị em chúng ta dùng làm
biểu tượng cho trại HL/HTr. A Dục không anh?
A: Có chứ, đó là trụ đá cao 21,33m đánh dấu
nơi đức Phật Thích-ca phân công cho 60 vị đệ tử của Ngài đi
hoằng pháp khắp nơi... Ngày nay, trụ đá này đã bị gãy làm mấy
khúc! Trên đó có ghi lời dạy của đức Thế Tôn với các đệ tử của
Ngài là phải sống hòa hợp thương yêu nhau. Tượng sư tử thì được
đặt tại viện bảo tàng, ở ngoài khuôn viên vườn Lộc Uyển.
C: Quí Thầy có thuyết pháp cho anh chị em
mình tại vườn Nai không hở anh?
A: À may có câu hỏi của em, anh quên kể, là
sau khi hành lễ xong, quí Thầy bảo anh chị em chúng ta ngồi vòng
tròn dưới các tàng cây đầy bóng mát để nghe quí Thầy nói về
những sự kiện liên quan đến Lộc Uyển. Anh có cảm giác như được
trở về quá khứ khi đức Thế tôn thuyết bài pháp đầu tiên cho anh
em ông Kiều-trần-như vậy! Rải rác đây đó trong vườn Nai còn
nhiều nền móng thấp, di tích của các tu viện, Tăng xá ngày xưa…
B: Thế rồi đoàn người lại đi thăm động tâm
thứ 3 phải không anh?
A: Phải đó! Từ vườn Nai, đoàn hành hương
vượt thêm 260 km về phía Bắc để đến động tâm thứ 3 là Câu-thi-na
(Kushinagar), nơi đức Phật nhập Niết-bàn. Câu-thi-na thuộc thành
phố Kasia, bang Uttar Pradesh, một trong những bang nghèo nhất
xứ Ấn Ðộ. Khi đến chùa Niết-bàn, nơi cách đây hơn 2500 năm đức
Phật từ giã thế gian và chư đệ tử của Ngài; lòng mọi người se
lại… Tượng Niết-bàn dài chừng 6m, toàn thân Ngài sắc vàng, thế
nằm gối đầu lên tay phải, đỉnh đầu hướng về phương Bắc, đúng như
tài liệu tu học của anh chị em mình - nhiều người lấy la bàn ra
kiểm chứng và rất lấy làm hoan hỷ nữa! Ngôi chùa Niết-bàn này do
hội Phật giáo Miến Ðiện (Myanmar) xây cất.
C: Vậy anh chị em mình có được thấy chỗ trà
tỳ nhục thân của đức Phật khi xưa không anh?
B: Và có được thấy ngọc xá-lợi của đức Phật
không?
A: Có, đại tháp trà tỳ nơi hỏa táng nhục
thân đức Phật ở cách chùa Niết-bàn khoảng 1 km về phía Bắc. Tuy
nhiên ngôi tháp đã bị phá hư từ lâu, bây giờ thay vào đó là một
mộ gạch cổ to lớn tạc tượng đức Phật nằm, đầu cũng hướng về
phương Bắc. Chung quanh ngôi mộ là một công viên với đủ loại hoa
đầy màu sắc, hương thơm… xá-lợi Phật được thờ trong các chùa
Việt Nam, chùa Thái Lan… với kiến trúc đặc trưng của mỗi nước.
Anh chị em chúng ta được Ni sư trụ trì chùa Linh Sơn mở kim quan
ra cho chiêm ngưỡng ngọc xá-lợi đủ màu, và được Ni sư giải thích
tường tận về tính chất bất hoại linh thiêng của ngọc xá-lợi.
C: Như vậy động tâm thứ tư là vườn
Lâm-tỳ-ni đáng lẽ được xem trước hết vì đó là nơi Thái tử
Tất-đạt-đa (Sidhartha) đản sanh nhưng bây giờ được xem sau cùng
phải không anh? Tại sao vậy?
A: Đúng đó! Động tâm thứ 4 là vườn
Lâm-tỳ-ni (Lumbini); mà vườn Lâm-tỳ-ni ngày nay thuộc Népal chứ
không thuộc Ấn Ðộ. Từ Câu-thi-na phải đi hơn 148km mới đến
Sonauli là biên giới Ấn Ðộ - Népal và phải mất nửa giờ để làm
thủ tục visa qua biên giới! Népal là một xứ nhỏ và nghèo nhưng
đã phá bỏ thành kiến về giai cấp từ lâu, thật xứng đáng là quê
hương của đức Từ Phụ Thích-ca Mâu-ni.
B: Có phải Népal có rất nhiều đảng phái
không anh?
A: Phải đó! Có đến 80 đảng phái lớn
nhỏ!☺☺!! Ngoài ra, quân chính phủ và quân phiến loạn thường đụng
độ, tình hình không được an ninh. Mấy năm trước đây, một ngôi
chùa Nhật ở Lâm-tỳ-ni bị cướp tấn công và bắn chết vị Sư phó Trụ
trì! May mắn là lúc anh chị em mình qua thì hai bên đang ngưng
chiến nên tình hình tương đối yên tĩnh. Khu vực vườn Lâm-tỳ-ni
rộng mênh mông và đang trong thời kỳ xây dựng qui mô để đón du
khách. Phái đoàn của anh chị em chúng ta được quí Thầy hướng dẫn
hành lễ, tụng niệm trước trụ đá của vua A Dục xây vào năm 249
trước Tây lịch, và tấm bảng có hàng chữ khắc bằng tiếng Anh và
tiếng Pali (hay Sanskrit?) đại ý như sau: Lòng tưởng nhớ đến
ngày trọng đại của Trời, Người, cách đây mấy ngàn năm: “Ngày Ðản
sanh của đức Thế Tôn! Chính nơi đây Ngài đã sinh ra làm thân
người, rồi xuất gia tìm Ðạo, để chỉ đường giải thoát cho chúng
sanh.”
C: Có chỗ nào ghi dấu 7 bước chân của Thái
tử sơ sinh không hở anh?
A: Để từ từ anh kể. Phía ngoài là cảnh
hoang tàn đổ nát của những đền đài vương giả một thời vàng son,
nhưng bên trong có đền mẫu hậu Maya, với một tấm bia đá để sâu
dưới mặt đất, đánh dấu nơi đức Phật đản sanh, được bao bọc bằng
một lớp gương dày. Phía trên tường là một tấm phù điêu khắc hình
mẫu hậu Maya đang với tay bẻ cành cây Vô-ưu, bên hông ngài Maya
là thái tử mới sinh và di mẫu Maha Ba-xà-ba-đề đang dang tay ẵm
Thái tử. Bên trong có những ô đất vuông vức, ghi vị trí từng dấu
chân của đức Sơ sinh bước đi và dấu chân của Maya hoàng hậu, chỗ
ấy được gọi là ngôi bảo tồn “bảy bước xưng tôn”; gần đó có một
hồ nước có nhiều bậc đi xuống. Tục truyền đó là nơi hoàng hậu
Maya xuống tắm trước khi sinh Thái tử và cũng là nơi Thái tử
được tắm sau khi đản sinh. Tấm bảng ghi “Sacred Pond. Mayadevi
bathed here before giving birth to Buddha” còn được gọi là nơi
“chín rồng phun nước”. Anh chị em GÐPT rất vui khi nhớ lại bài
tán tụng ghi trong cẩm nang LHHH:
Chí tâm đảnh lễ
Dưới cây Vô-ưu
Ðản sanh thị hiện
Chín rồng phun nước
Bảy bước xưng tôn
Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
B: Như vậy, đức Phật của chúng ta là người
Népal anh hở? Anh có thể nói thêm về người dân Népal không?
A: Đúng vậy, đức Phật Thích-ca và hoàng
triều Ca-tỳ-la-vệ là dân Népal, không phải Ấn-độ, da họ nâu và
sáng chứ không đen và phục sức đơn giản, không phức tạp và loè
loẹt như dân Ấn. Phụ nữ Ấn thích đẫy đà, mập mạp còn phụ nữ
Népal thì cao và thon thả. Dòng họ Thích-ca bây giờ vẫn còn
trong hình thái bộ tộc như xưa, tất cả đều theo Bái Hỏa giáo,
thờ thần Lửa và suy tôn một trinh nữ khoảng 15, 16 tuổi làm nữ
vương, hằng năm có những cuộc tế lễ, rước kiệu, v.v...
C: Thật lạ quá phải không anh? Bà con dòng
họ của đức Phật mà không biết Phật là ai, lại đi thờ Thần Lửa,
trong khi cả thế giới đang qui ngưỡng đức Phật như một nhà giáo
dục vĩ đại, một giáo chủ đặc biệt, độc đáo với giáo lý vô ngã,
với những câu tuyên bố bất hủ như: “Ta là Phật đã thành, các
người là Phật sẽ thành” hay “Không có giai cấp trong giọt máu
cùng đỏ và giọt nước mắt cùng mặn” hay “oán thù không thể tiêu
diệt hận thù, chỉ có từ bi mới dập tắt được lửa hận thù mà
thôi”, v.v... em thật không hiểu nổi! ☺☺!!
A: Đúng vậy, thật đáng tiếc nhưng cũng dễ
hiểu thôi vì Ấn Ðộ nói chung và Népal nói riêng đã từng bao phen
bị Hồi giáo cai trị, họ đã giết hại nhiều thế hệ của Phật tử nói
chung, dòng họ Thích-ca nói riêng… mục đích tiêu diệt Phật giáo,
làm tuyệt giống Phật nên chỉ còn Sri Lanca là còn lưu truyền
kinh điển, Phật pháp.
B: Buổi nói chuyện hôm nay thật bổ ích cho
chúng em, mặc dù phần cuối nhắc đến dòng họ Thích-ca làm anh chị
em chúng ta thật bùi ngùi! Em xin cảm ơn anh nhiều và xin hẹn
gặp lại lần sau. Tạm biệt!
A & C: Tạm biệt! Tạm biệt! ❑
Kính thưa quí vị và các bạn,
Mùa Xuân lại trở về, thiên hạ lại
chúc nhau, gởi đến cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất (best
wishes) về sức khỏe (sự trường thọ), tài lộc (của cải vật chất,
công danh sự nghiệp), gia đình (con đàn, cháu đống)… nhưng những
lời chúc này vẫn bị thi sĩ Tú Xương “chê”:
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã giầu.
(giã trầu)
Rồi nếu họ chúc thăng quan tiến chức
thì thi sĩ đi buôn lọng, chúc đông con, nhiều cháu thì thi sĩ
“đuổi” họ “lên núi ở với khỉ”, v.v... Nhà thơ trào phúng này thì
không có cái gì mà ông không châm biếm nếu ông cho là “nhố
nhăng, kịch cỡm”.
Thiền sư Bankei cũng không thấy “năm
mới” hay “năm cũ” gì cả, ông nói:
Có gì quan trọng năm mới hay năm cũ?
Tôi duỗi chân nằm ngủ an nhiên.
Vì đối với Thiền sư:
Mùa Xuân hoa đào nở
Mùa Thu có lá rơi
Cảnh sắc tự nhiên của đất trời
Tất cả đều là ngữ ngôn của diệu
pháp.
Và nói chung, đối với các thiền sư,
thì các Ngài không “lăng xăng” bận tâm như chúng ta bận tâm với
Xuân, Hạ, Thu, Đông, vì nội tâm của các Ngài đã được chuyển hóa,
không còn phân biệt nên không bị ràng buộc bởi không gian, thời
gian… nữa!
Còn đối với Xuân Diệu, nhà thơ đã một
thời được coi như “thi sĩ của tình yêu”, cũng bi quan khi nhìn
tuổi trẻ đi qua không cách gì ngăn lại:
Nói làm chi rằng Xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại?
Như vậy, những gì chúng ta chúc nhau
có phải là “best wishes” không? Xin mời quí vị và các bạn tham
dự cuộc hội thoại bỏ túi giữa 3 huynh trưởng GÐPT mà chúng ta đã
từng làm quen, nói về những lời chúc tốt đẹp nhất, thiện xảo
nhất, hoàn toàn nhất là như thế nào?
B: Hôm nay gần Tết rồi! Chúng ta hãy
bàn về những lời chúc tụng và mong ước đi nha!
C: Phải đó, nói về “xảo nguyện” dịp
này là đúng điệu nhất!☺☺!!
A: Đề tài hôm nay thật mới lạ quá!
Xảo nguyện dịch ra tiếng Anh là gì hả?
C: Tạm dịch là “perfect wishes” đi!
B: Phải đó, Xảo nguyện là những thỉnh
nguyện (mong ước) thiện xảo.
A: Thế nào mới là một mong ước thiện
xảo đây? Chứ không phải mình muốn mong ước cái gì cũng được sao?
B: Mong ước là quyền của mình, nhưng
không phải mong ước nào cũng là thiện xảo cả đâu. Thật vậy, các
bạn thấy không? Thói thường, chúng ta hay mong cầu kiểu như “cầu
cho tôi thi đậu” hay “cầu cho tôi buôn may bán đắt” hay “cầu cho
tôi được trúng số” hay “cầu cho gia đình tôi sớm ngày ổn định”,
v.v... nghĩa là những lời cầu nguyện xoay quanh “cái tôi” hay
“cái của tôi” không thôi!
C: A, tôi hiểu rồi, có phải bạn nói
rằng “xảo nguyện” là những điều mong cầu không xoay quanh “cái
tôi” nhỏ hẹp mà hướng về tha nhân, về muôn loài chúng sanh nữa
phải không?
B: Phải rồi!
A: A, tôi cũng nhớ ra rồi, ví dụ như
trong bài Tự quy y: “Tự về nương Phật, xin nguyện chúng sanh,
thể theo đại đạo, phát tâm vô thượng. Tự về nương Pháp, xin
nguyện chúng sanh, hiểu rõ kinh tạng, trí huệ như biển. Tự về
nương Tăng, xin nguyện chúng sanh, bao gồm đại chúng, tất cả hòa
thuận.” Đó phải không?
B: Đúng lắm, các bạn nói và hiểu đúng
lắm! Tuy nhiên, “Xảo nguyện” không chỉ là những lời nguyện thiện
xảo mà còn là một phương pháp giáo dục cái nhìn cũng như điều
chỉnh những phản ứng của mình trước những cảnh “mắt thấy, tai
nghe, thân tiếp xúc.”
A: Hay quá ha? Nhưng bạn hãy nói rõ
thêm một chút nữa đi!
B: Tôi xin nói rõ hơn về những phản
ứng của mình trước mỗi hoàn cảnh: Các bạn thấy không? Thật ra,
bản thân của các sự vật, hiện tượng chỉ là một dữ kiện (data)
bình thường. Nhưng vì mỗi người chúng ta ai cũng có muôn ngàn ký
ức (memories) và cảm xúc (strongly affected, very much
impressed) về một cảnh nào đó, một vật gì đó... cho nên mỗi vật,
mỗi cảnh đều gắn liền và gợi lên một tâm trạng cảm xúc. Có khi
đối với người này thì vật đó, cảnh đó không gợi lên cái gì hết
nhưng với người kia thì gây ra thật nhiều xúc động không ai ngờ
được.
C: Phải đó! Lấy thí dụ như khi nhìn
một cuốn kinh: có người nhớ ngay đến đức Phật, chùa, nhà thờ,
Chúa... hay cảm thấy an lạc, hạnh phúc, nhẹ nhàng, thanh
thoát... có người lại liên tưởng đến các tà giáo, mê tín, dị
đoan, những nhà tu đạo đức giả, sư hổ mang... hay gợi lên những
cảm xúc như chán ghét, mệt mỏi, buồn ngủ, hay những ý tưởng như
“láo”, “vô ích”, “dài dòng”, “dõm” v.v...
B: Đúng vậy, hễ mắt nhìn thấy gì, thì
óc lập tức phản xạ (react, reflect), liên kết với những dữ kiện
sẵn có trong ký ức. Có những phản xạ tự nhiên để tự bảo vệ bản
thân (fight or fight response) như khi thấy con rắn, con cọp...
lập tức toát mồ hôi, nhảy lùi lại và quay lưng chạy.
A: Vậy là chuyện thường, đâu có gì
phải sửa đổi các phản xạ?
B: Ngoài những phản xạ tự nhiên như
vậy ra, còn có những phản xạ làm cho tim mình đập mạnh, thần
kinh căng thẳng. Ví dụ như, có một anh X kia từng bị người bạn Y
của mình phê bình, châm biếm trước đám đông, nên mỗi khi gặp Y
thì anh X tránh mặt hay lòng thấy khó chịu, thần kinh căng
thẳng; đó cũng là một cách phản xạ. Trái lại, nếu gặp người mình
ngưỡng mộ, yêu mến thì tim cũng đập mạnh nhưng cảm giác khoan
khoái, nhẹ nhàng, phấn khởi, chứ không căng thẳng, khó chịu chút
nào!!☺☺!! Từ lúc nhỏ chúng ta đã quen
với những phản xạ không lựa chọn như vậy, không hề ý thức về quá
trình hình thành của chúng ra sao. Nếu những phản xạ ấy đưa đến
an lạc giải thoát thì rất may mắn, nhưng nếu những phản xạ ấy
đưa đến phiền não, bệnh hoạn, chấp trước vào bản ngã, v.v... thì
chúng ta cần phải sửa đổi chúng lại.
C: Làm cách nào để sửa đổi lại những
phản xạ ấy?
B: Phương pháp để giáo dục cái nhìn
và điều chỉnh lại những phản xạ gọi là “xảo nguyện” đó. Mỗi lần
nhìn thấy cảnh, hay làm một công việc trong ngày, chúng ta đều
lập một lời nguyện thiện xảo, ví dụ như: Múc nước để rửa tay,
xin nguyện cho mọi người, có đôi bàn tay sạch, gìn giữ Giáo pháp
này.
A: Hay ghê, bạn hãy nói rõ hơn đi
nha!
B: Cái nhìn và phản xạ tuy là 2 quá
trình (process) khác nhau nhưng chúng xảy ra tiếp theo nhau
trong khoảnh khắc (thời gian rất ngắn); bởi vậy, giáo dục phản
xạ tức là giáo dục cái nhìn, thay đổi cách nhìn tức là thay đổi
cuộc sống, vì nhìn là sống. Phải giáo dục cái nhìn để phản xạ
không phải là phiền não, chấp trước.
C: Thật là hay đó! Vậy bắt đầu giáo
dục cái nhìn là làm như thế nào?
B: Trước hết là đổi hướng nhìn. Từ
xưa đến nay chúng ta chỉ quen nghĩ đến mình (cái tôi nhỏ hẹp),
bây giờ mỗi khi đối cảnh (tiếp xúc với cảnh bên ngoài), ta phải
bắt đầu lời nguyện là: “nguyện rằng chúng sanh”, nghĩa là nghĩ
đến tất cả mọi người trước hết, cũng có nghĩa là hướng đến chân
lý.
A: Rồi làm sao thay đổi phản xạ?
B: Như đã nói, những vật, cảnh... mà
mắt nhìn thấy thường gắn liền với những ký ức đã nằm sâu trong
tiềm thức (subconsciousness); bây giờ ta phải làm sao để móc nối
cái nhìn với chân lý chứ không cho nó móc vào với những ký ức đã
tích tụ từ xa xưa. Muốn vậy, khi thấy một cảnh hay làm một việc
ta phát một lời nguyện hướng về chân lý; lâu dần sẽ giúp ta sống
với chân lý.
C: A, tôi hiểu rồi, vì vậy ban đầu
lời nguyện chỉ là một lời nhắc nhở để ta ngẫm nghĩ về chân lý,
sau rồi thành thói quen, hễ gặp cảnh là tự động phát nguyện,
những lời nguyện không bị móc nối vào ký ức mà lại móc với chân
lý giải thoát phải không?
A: Vậy chứ “Xảo Nguyện” có giống như
thực tập các bài thi kệ của thầy Nhất Hạnh dịch thoát từ cuốn
“Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu” dành cho các chú Sa-di (tiểu) trong
chùa không hả?
B: Chính thị đó, bạn hiểu rồi chứ gì?
Tuy nhiên “Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu” chỉ là một phần; còn phẩm
Tịnh Hạnh (kinh Hoa Nghiêm) mới đầy đủ những thi kệ dùng cho
phương pháp Xảo Nguyện - khoảng chừng 141 bài thì phải.
C: Bạn có biết thật sự công dụng của
những bài kệ cũng như các phương pháp xảo nguyện là ở đâu không?
B: Một chú sa di (hay chúng ta đây)
hằng ngày đọc tụng những bài thi kệ cho đến khi thuộc lòng rồi
sau đó thực tập quán tưởng và suy nghĩ theo lời nguyện trong
kinh. Như vậy, chú bắt đầu có cái nhìn theo chân lý, rồi đưa tới
được sống theo chân lý, kết quả tất nhiên là một ngày nào đó chú
sẽ chứng nhập chân lý.
A: Các bạn có thể giới thiệu những
bài kệ đó không? Để chúng ta cùng nhau tập sửa đổi cái nhìn và
điều chỉnh lại các phản xạ theo đúng chân lý.
B: Được chứ, ngoài những bài trong
kinh - lập nguyện khi làm những công việc thường ngày trong chùa
- Thầy Nhất Hạnh còn sáng tác thêm những bài kệ mà ngày xưa đức
Phật chưa dạy cho các chú tiểu, vì lúc đó chưa có điện thoại,
cũng chưa có máy vi tính... nữa đó! Còn thầy Hằng Trường thì
dịch trọn phẩm Tịnh hạnh của kinh Hoa Nghiêm đầy đủ về phương
pháp “Xảo Nguyện”. Ví dụ như là:
Kệ nghe Ca nhạc
Ca nhạc tụ họp
Nguyện rằng chúng sanh
Vui với chân lý
Biết nhạc là giả.
Kệ bước xuống đất
Bỏ chân xuống đất
Nguyện rằng chúng sanh
Tâm đắc giải thoát
An trụ bất động.
Kệ Bước đi
Thoăn thoắt dấn bước
Nguyện rằng chúng sanh
Dạo tịnh pháp giới
Tâm không chướng ngại.
Đường thẳng
Gặp đường thẳng tắp
Nguyện rằng chúng sanh
Cõi lòng chính trực
Không dối, không nịnh.
Thấy cây cầu
Khi thấy cây cầu
Nguyện rằng chúng sanh
Rộng cứu độ hết
Giống như cây cầu.
Thấy nước chảy
Nếu thấy nước chảy
Nguyện rằng chúng sanh
Có chí làm lành
Tẩy trừ cấu hoặc.
Mở máy vi tính
Thắp lên máy vi tính
Ý tiếp xúc với Tàng
Tập khí nguyện chuyển hóa
Nuôi lớn Hiểu và Thương.
Mở cửa sổ
Mở cửa nhìn pháp thân
Đời mầu nhiệm vô cùng
Lòng dặn lòng tỉnh thức
Dòng nước Tâm trong ngần.
C: Mình cũng có thể tự đặt ra những
thi kệ riêng cho mình chứ, phải không bạn?
B: Đúng vậy, miễn là mình biết được
bố cục của các thi kệ và lời nguyện của mình hướng về chân lý,
vậy là được rồi.
A: Vậy chứ bạn nói có thi kệ về cầm
máy điện thoại hay là đi thiền hành hay là đi xe đạp đâu?
B: À đây, bạn muốn biết thì tôi đọc
nha:
Cầm điện thoại lên
Tiếng đi ngoài ngàn dặm
Xây dựng niềm tin yêu
Mỗi lời là châu ngọc
Mỗi lời là gấm thêu.
Thiền hành
Ý về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dậy
Từng buớc nở hoa sen.
Đi xe đạp
Ngồi thẳng trên xe đạp
Vững chãi giữ thăng bằng
Phước xin tu cùng Huệ
Hành và Giải song song.
Đổ rác
Một thùng rác bẩn
Một bông hồng thơm
Muôn vật chuyển hóa
Thường trong vô thường.
B: Các bạn có thích thêm nữa không?
C: Thôi, đủ rồi để học thuộc lòng và
áp dụng đã rồi mới nhận thêm những bài kệ khác chứ!
A: Sắp Tết rồi, bạn B thử làm những
bài kệ nhỏ chúc Tết cho vui đi!
B: Nếu như vậy thì mình cũng đi vào
chúc Tết cho cái “của tôi” rồi!
C: Bạn nói sao, tôi không hiểu!
B: Thì chúc quí Thầy của mình nè, quý
Sư cô (nói chung là chư Tôn đức Tăng Ni của mình) rồi chúc ông
bà cha mẹ, bà con họ hàng… không phải sao?
A: Ðúng vậy, nhưng “ăn theo thuở, ở
theo thời” mà; nếu không mình sẽ “không giống ai” và đắc tội với
mọi người đó!
B: Đồng ý, vậy chúng ta luân phiên
làm những bài kệ chúc Tết đi nha; tôi “xung phong” đây:
Xuân về Tết đến
Kính chúc Thầy Cô
Chúng sanh dị độ
Pháp thể khang an
C: Đến tôi phải không?
Năm hết Tết tới
Kính chúc Ông Bà
Cha Mẹ chúng con
Sức khỏe dồi dào
Thân tâm an lạc
A: Tôi cả đời không biết làm thơ làm
kệ, mà các bạn cũng bảo làm kệ chúc Tết, phải liều chứ biết sao!☺☺!!
Mùa Xuân Bính Tuất
Ðã đến đây rồi
Kính chúc bà con
Anh em cùng khắp
Dồi dào sức khỏe
“Mở mắt vễnh tai”
Luôn luôn tỉnh thức!
C: Tôi thì chúc cho đất nước thanh
bình chúng sanh an lạc nha!
Xuân của đất trời
Tết của chúng ta
Chúc cho đất nước
Cùng khắp năm châu,
Thế giới hòa bình
Chúng sanh an lạc.
B: Vậy thôi, hôm nay đến đây tạm đủ
rồi, xin tạm biệt các bạn!
A&C: Tạm biệt, tạm biệt!!
24. Hạnh
nguyện Quán Thế Âm
Kính thưa quí vị và các bạn!
Như chúng ta đã biết, Phật tử trẻ
tuổi hôm nay ở trong nước cũng như hải ngoại, học Phật pháp
không chỉ với tín tâm và tự tìm tòi như lớp đàn anh của họ ngày
xưa, mà bao giờ cũng tìm hiểu thật kỹ qua những câu hỏi có thể
và có khi rất ngây ngô khờ khạo, với kiến thức ít ỏi, nông cạn,
vốn liếng chữ Hán lại không có… nhưng các em vẫn đạt được mục
đích là có thể biết được nhiều hơn đàn anh của họ ngày xưa ở
tuổi đó, vì họ dám hỏi; không như ngày xưa, không dám hỏi “lôi
thôi” nên cái biết nhiều khi không rõ ràng và rất lúng túng khi
phải trả lời cho đàn em của mình. Hôm nay chúng tôi xin mời qúi
vị và các bạn tham dự cuộc hội thoại bỏ túi giữa 3 anh chị em
huynh trưởng trẻ với đề tài Hạnh nguyện Quán Thế Âm để thấy rõ
đặc điểm này. Ngoài ra, xin quí vị và các bạn chỉ điểm thêm cho
những sai sót hay thiếu sót về những luận bàn, giải thích...
trong những cuộc hội thoại này. Xin chân thành cảm ơn.
A: Chào các em, hôm nay các em lại có
câu hỏi gì nữa đây?
B: Dạ chúng em muốn hỏi anh có phải
trong 5 hạnh, Từ bi, Trí tuệ, Thanh tịnh, Tinh tấn, Hỷ xả, đức
Quán Thế Âm tượng trưng cho hạnh Từ bi phải không anh?
A: Phải đó! Ngài thường được thế gian
gọi là “mẹ hiền Quan Âm”.
C: Thế nhưng tại sao sau khi mình đọc
kinh Phổ Môn, lại có 12 lời nguyện của Ngài, trong đó, có cả
Thanh tịnh, Hỷ xả… nữa hả anh?? Và còn có “hàng tà ma trừ yêu
quái” nữa:
Nam mô hàng tà ma trừ yêu quái Quán
Âm Như Lai năng trừ nguy hiểm nguyện.
B: Dạ, đúng vậy, các em thiếu nam của
em thắc mắc tại sao Phật giáo không mê tín dị đoan mà còn có
“hàng tà ma, trừ yêu quái”.
A: Có vậy mà các em không trả lời
được sao?
B: Dạ được chứ, nhưng không mạnh dạn
và rõ ràng lắm anh ạ! ☺☺!!
A: Thật ra, trong những bài học Phật
pháp, chúng ta “phân định” các biểu tượng của 5 hạnh như đức
Phật Thích-ca tượng trưng cho hạnh Tinh tấn, đức Phật A-di-đà
hạnh Thanh-tịnh, đức Quán Thế Âm Bồ tát hạnh Từ bi, để cho các
em dễ nhớ, điều đó không có nghĩa đức Phật Thích-ca không từ bi
hay đức Quán Thế Âm Bồ-tát không tinh tấn…; nói chung 5 hạnh là
đặc trưng của chư Phật, chư Bồ tát, đó là chưa nói các em cũng
đã biết 10 đức tính của Như Lai (Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh
hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự
trượng phu v.v…) rồi mà! Trở lại câu hỏi của các em: các em có
biết “tà ma” là gì và ở đâu không?
C: Dạ, chúng em biết chứ! “Tà” là
trái nghĩa với “chính” và ma là ngũ ấm ma, ma ở ngay trong lòng
mình, như ma sân si, ma thèm khát, ma ham ăn ham ngủ, ma nghi
kỵ, ma ganh tị v.v... phải không anh?
A: Phải rồi! “Tà ma” và “yêu quái” là
những năng lượng tiêu cực bên ngoài hay chính bên trong (nội
tâm) của chúng ta; vì vậy muốn trừ tà ma, trước hết là trừ tà ma
ngay trong lòng mình, B hãy cho anh biết làm sao để trừ “tà”
đây?
B: Dạ, muốn trừ “tà” thì phải lấy
“chính” mà đối trị, muốn “chính” thì phải lấy giới mà phòng hộ,
như mình đã học:
Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần
Ðem ý thức tinh chuyên phòng hộ.
Nghĩa là phải lấy giới làm đầu, giữ
cho tâm mình được chính thì “tà” ở ngoài không xâm nhập vào
được, không xô ngã được.
A: C có nhớ tại sao nói “mắt là biển
lớn mà chúng ta phải vượt qua” hay không?
C: Dạ nhớ! Vì khi mắt tiếp xúc với
sắc thì ham muốn có thể nổi dậy, thèm khát cũng có thể nổi dậy,
tham sân cũng có thể nổi dậy… tạo thành những đợt sóng lớn hay
sóng ngầm, những trận cuồng phong, những con quái vật, mà tâm ta
như một chiếc thuyền ở giữa đại dương đó; nếu ta không vững tay
chèo, không có chiếc la bàn của Giới thì nhất định sẽ bị lạc
hướng và bị nhận chìm trong biển phiền não khổ đau.
A: Chính vì thế, đức Quán Thế Âm có
lời nguyện, nếu trong cơn nguy hiểm, sắp bị tà ma yêu quái hay
bị nước cuốn trôi, nhận chìm… mà ta niệm danh hiệu Ngài thì Ngài
sẽ “hàng tà ma trừ yêu quái” giùm cho ta; nói cách khác, niệm
danh hiệu Ngài có năng lực giúp ta tỉnh thức, nhận ra mình đang
làm gì để có thể thoát ra khỏi “tà ma” và “yêu quái” sắp làm hại
cuộc đời tu tập của mình, kéo mình ra khỏi biển lớn của giận dữ,
thù hận, nghi kỵ v.v...
B: Tà ma trong mình và bên ngoài đều
có thể hại mình hết, có phải không anh?
A: Đúng vậy, tà ma nói chung là những
sự việc, những lời nói và việc làm… có thể làm khơi dậy “ma
tính” trong chúng ta hay cho người khác, ví dụ những lời nói
khích, lời nói chia rẽ, nói sai sự thật, lời nói gây nghi ngờ...
ví dụ như những lời của Ma vương nói với thái tử Tất-đạt-đa
trước khi Ngài thành đạo...
C: Nhưng Ngài đâu có bị dụ dỗ hay nổi
ma tính lên đâu?
B: Đó là tại vì Ngài có đạo lực vững
mạnh, giới đức thâm hậu, phải không anh?
A: Phải rồi! Các em có nhớ 10 đạo
quân của Ma vương là những gì không?
C: Dạ nhớ! Đó là: 1. Tham dục (Kãmã),
2. Bất mãn với đời sống thánh thiện (Arati), 3. Ðói và khát
(Khuppĩpãsã), 4. Ái dục (Tanhã), 5. Hôn trầm và Dã dượi
(Thĩna-middha), 6. Sợ hãi (Bhĩru), 7. Hoài nghi (Vicikicchã), 8.
Phỉ báng và cố chấp (Makkha-thambha), 9. Lợi lộc (Lãbha), Khen
tặng (Siloka), Vinh dự (Sakkãra), Thanh danh bất chính (Yasa) và
10. Tự đại và khinh người (tự đánh giá mình quá cao và khinh rẻ
người khác-Attukkamsanapara-vambhana)
A: Ðúng rồi! Như vậy, bất kỳ khi nào
và ở đâu mà trong chúng ta xuất hiện 1 trong 10 thứ trên đây thì
ta phải biết đó chính là tà ma hay yêu quái chứ không ở đâu xa
hết!
B: Em hiểu rồi, như vậy câu chuyện
cái “kính chiếu yêu” của các đạo sĩ ngày xưa là nói về yêu ma
trong con người mình anh hở?
C: Cái gì? Kính chiếu yêu? Anh kể em
nghe đi!
A: Đây là nói về ngôn ngữ biểu tượng
(symbolic) - có nhiều khi “ma tính” trong người mình nổi lên làm
cho ngay cả mình cũng không còn nhận ra được mình nữa, đó chính
là lúc mình trở thành con ma của ái dục, con cọp của giận dữ,
hung thần của khủng bố v.v… B hãy kể cho C nghe chuyện cái kính
chiếu yêu mà ông thầy cho đệ tử trong “Cửa tùng đôi cánh gài”
đi!
B: Dạ! Đó là câu chuyện của một chàng
dũng sĩ tu luyện công phu với sư phụ của mình trên núi; một hôm
chàng nóng lòng muốn xuống núi cứu đời. Sư phụ thấy đệ tử mình
còn non, sợ anh ta sa ngã nên khuyên can nhiều lần nhưng anh ta
cứ quyết chí xuống núi cứu nhân độ thế. Bất đắc dĩ, sư phụ để
anh ta đi nhưng cho anh ta một cái kính (gương soi) bảo rằng
hằng ngày hãy soi vào để biết mình như thế nào, nếu thấy mặt
mình “xấu” đi thì phải biết mà quay về. Lúc đầu, anh ta sống và
làm việc rất tốt, siêng năng soi gương để “thấy rõ” con người
mình nhưng sau 7 năm anh ta gặp nhiều “ma chướng,” rồi gặp thất
bại, anh ta buồn chán, cô đơn, và cảm thấy mệt mỏi không còn
hăng hái như buổi ban đầu, anh cũng nhác soi gương nên cũng
không biết mặt mũi mình bây giờ ra sao… Một hôm đi ngang qua
vùng núi của Sư phụ, anh bỗng nhớ người và trở về chùa thăm
nhưng cánh cửa chùa đã khép lại, anh dùng sức đẩy nhưng cánh cửa
vẫn trơ trơ…
C: Ủa, tại sao lạ vậy? Anh ta đẩy
không được cửa để vào thì Phật tử làm sao đẩy ra?
B: Ừ, đây là ý nói sư phụ đã làm phép
không cho người xấu vào mà!!
C: Vậy rồi làm sao? Anh ta bỏ đi hả?
B: Không, anh ta đành buồn bã ngồi
suốt đêm bên ngoài chờ người sư đệ đi lấy nước buổi sáng sớm hôm
sau; khi gặp sư đệ, anh hỏi thăm mọi người còn người sư đệ thì
nhắc đến cái gương sư phụ cho anh khi xuống núi, bảo anh lấy ra
để 2 anh em soi chung… Nhìn vào gương, anh hét lên một tiếng rồi
bất tỉnh vì ảnh của sư đệ hiện lên trong gương là một thiên
thần, còn anh lại là một ác quỷ, có nanh vuốt dễ sợ lắm; anh
không nhận ra được chính mình nữa! Người sư đệ vốc nước suối phả
lên mặt anh để anh tỉnh lại, rồi nói: “Không ngờ phố phường dưới
đó đã tàn hại cuộc đời của đại sư huynh như vậy”… câu chuyện này
em đọc đã lâu rồi nên không nhớ chính xác nhưng đại khái cái
kính chiếu yêu là vậy!
A: Câu chuyện này mục đích khuyên
chúng ta khi giới luật chưa vững vàng thì phải hết sức cẩn trọng
tu tập, giữ giới, không nên “xông pha” vào những nơi buông lung
phóng đãng, nhất định sẽ bị “ma quái” - ma trong lòng mình họp
với ma ngoài xã hội phong lưu, kéo ta ra ngoài biển, nhận chìm
chúng ta đến nỗi chúng ta không ngóc đầu lên được. Trở lại với
12 lời nguyện của đức Quán Thế Âm, các em còn có chỗ nào thắc
mắc nữa không?
C: Dạ còn, lời nguyện thứ 5 là…
“Nam mô thanh tịnh bình thùy dương
liễu Quán Âm Như Lai cam lộ sái tâm nguyện”
Em không hiểu mấy chữ “thùy” “cam lộ”
hay “cam lồ” và “sái tâm” nghĩa là gì nên không dịch ra tiếng
Việt để hiểu rõ ràng được, chỉ hiểu sơ sơ thôi! ☺☺!!
A: Chắc là B hiểu chứ? Em thử giải
thích coi!
B: Dạ, “thùy” là rũ xuống, buông
xuống, còn “sái” là rải xuống, rưới xuống phải không anh?
A: Đúng rồi! Lời nguyện thứ 5 nói đức
Quán-thế-âm có một cái bình Thanh tịnh, trong đó đựng một loại
nước cam lồ (hay cam lộ cũng vậy) nghĩa là giọt sương cung cấp
vị ngọt, mát mẻ… đó là giọt nước điều chế từ chất liệu Từ bi và
Trí tuệ của đức Quán Thế Âm, mà khi Ngài dùng cành dương liễu
nhúng vào đó, rảy xuống, rưới xuống cõi lòng đau khổ, phiền não,
nặng trĩu của chúng ta thì sẽ làm trái tim chúng ta rộng mở ra,
dập tắt được lửa phiền não, lửa giận hờn, lửa nghi kỵ… trong ta,
làm cho tâm ta trở nên tươi mát, nhẹ nhàng, an vui…
C: Thì ra đó là ngôn ngữ biểu tượng;
thật là hay quá! Vậy thì đức Quán Thế Âm ngàn mắt ngàn tay là
như thế nào hở anh?
A: Nếu anh chị em chúng ta cũng có
hạnh nguyện “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt
khổ” và đã thực hành được điều đó thì có phải mỗi người chúng ta
là một “tiểu Bồ-tát Quán Thế Âm” không? Nói cách khác mỗi người
chúng ta là một cánh tay, một con mắt của Ngài, cùng có hạnh
nguyện từ bi đem vui cứu khổ cho mọi loài chúng sanh. Các em có
thấy như vậy không? Em nào có thể cho anh một ví dụ cụ thể
không?
B: Dạ, ví dụ như những sư cô, những
ma soeur… lượm trẻ sơ sinh bị cha mẹ bỏ rơi, hay trẻ mồ côi… đem
về nuôi dạy các em nên người, hay làm việc thiện nguyện trong
những bệnh viện phong cùi, lao, tâm thần, trong những trung tâm
người già, bệnh tật, hay khuyết tật… họ đều là những cánh tay,
con mắt của Bồ-tát Quán Thế Âm.
C: Hay những người lính cứu hỏa, hy
sinh thân mạng mình để cứu dân chúng, hay trong những thiên tai,
bão lụt, rất nhiều người quên thân mình, đã xả thân cứu được
nhiều người thoát chết.
A: Đúng vậy, như thánh Gandhi, mẹ
Thérésa, đức Ðạt-lai Lạt-ma thứ XIV… chúng ta đều có thể xem họ
là hóa thân của Bồ-tát Quán Thế Âm.
C: Dạ, em hiểu rồi, bây giờ qua
nguyện thứ 6 chữ nào em cũng hiểu nghĩa hết nhưng em không hiểu
toàn thể nói cái gì anh giảng giùm cho em nha!
“Nam mô đại từ bi, năng hỷ xả Quán Âm
Như Lai thường hành bình đẳng nguyện”.
B: Em cũng vậy đó anh! Em chưa hiểu
rõ nguyện “thường hành bình đẳng” là nguyện như thế nào?
A: Câu này có nghĩa là đức Quán Thế
Âm Bồ-tát có 4 tâm vô lượng Ðại Từ (great Loving
Kindness-Mettã), Ðại Bi (Great compassion-Karunã), Ðại Hỷ (Great
Joy-Muditã), Ðại Xả (Great Equanimity-Upekkhã); với sự trang bị
của 4 tâm vô lượng này, Ngài cứu độ chúng sanh một cách bình
đẳng; nghĩa là chỉ cần nghe tiếng kêu đau thương là Ngài cứu
không phân biệt người xấu hay người tốt, người da đen, da trắng
hay da vàng, người theo Phật hay không theo Phật, người hiền
triết hay người ngu si, người thường nhớ nghĩ đến Phật hay không
bao giờ nghĩ đến Phật v.v... đó gọi là “thường hành bình đẳng”,
không có tâm phân biệt. Chúng ta phải hiểu rõ nghĩa của Từ, Bi,
Hỷ, Xả của bốn vô lượng tâm mới hiểu được chữ bình đẳng. Các em
còn nhớ đặc tính của bốn tâm vô lượng này không?
C: Dạ nhớ: kinh nói tâm Từ (mettã) là
cái gì làm cho lòng ta êm dịu; tâm Từ phải được rải khắp đồng
đều cho mọi chúng sanh, phải bao trùm vạn vật, phải sâu rộng và
đậm đà như tình mẫu tử trong khi bảo vệ cho đứa con một của
mình, dù hy sinh tính mạng cũng vui lòng. Nhưng tâm Từ không
phải chỉ dừng lại ở tình mẫu tử ích kỷ chỉ lo cho con mình, hay
tình bạn, tình đồng chí, đồng bào, đồng loại… trong nghĩa hẹp,
mà phải vượt lên trên, không phân biệt thân sơ, bạn thù, chủng
tộc v.v... mới được. Nghịch nghĩa với tâm Từ là thù hận, oán
ghét, sợ hãi, đối phó,… khi những tình cảm này có mặt thì không
thể nào có tâm Từ.
B: Đúng vậy, đức Phật còn nói về năng
lực của tâm Từ như sau: “Như Lai sống trên một ngọn núi giữa đám
sư tử, cọp, beo, hươu, nai… các thứ giữa rừng rậm cỏ hoang.
Không một con vật nào sợ Như Lai và Như Lai cũng không sợ con
vật nào. Chính nhờ oai lực của tâm Từ nâng đỡ, bảo vệ và giúp
Như Lai sống yên ổn”.
Tâm Bi là động lực làm cho tâm rung
động trước sự đau khổ của người khác và muốn giúp người ấy thoát
cảnh khổ; tâm Bi bao trùm tất cả chúng sanh đau khổ. Kẻ thù gián
tiếp của tâm Bi là ưu sầu, phiền muộn.
A: Các em đều nhớ được đặc tính của
tâm Từ và tâm Bi; còn tâm Hỷ và tâm Xả thì như thế này:
Hỷ là tâm vui trước hạnh phúc và
thành công của người khác. Hỷ là niềm vui làm tiêu tan lòng ganh
tị. Vì vậy nên mới nói kẻ thù của Hỷ là lòng ganh tị. Tâm Xả là
tâm vô tư trong sáng trong cái thấy, nhận xét và lý luận nghĩa
là thấy mọi sự vật, hiện tượng... như-nó-đang-là (as-it-is)
không để cho yêu-ghét, lấy-bỏ xen vào. Vì Hỷ-Upeckkhã = “Upa”+
“ikkhã”; upa là đúng đắn, chân chính, vô tư; ikkhã là trông
thấy, nhận định, suy luận.
B: Dạ, như vậy em hiểu rồi, với tứ vô
lượng tâm, đức Quán Thế Âm Bồ-tát rõ ràng là “thường hành bình
đẳng” đối với muôn loài chúng sanh. Nói cách khác, Ngài thường
rải tâm Từ, tâm Bi… đến mọi người, mọi loài, ở mọi cảnh giới,
không phải chỉ riêng ở cõi Ta-bà của chúng ta thôi đâu, phải
không anh?
A: Phải đó! Vậy là các em hiểu rõ
ràng rành mạch hạnh nguyện thứ sáu này rồi chứ gì? Và áp dụng
hẹp vào GÐPT chúng ta: chúng ta yêu mến và quan tâm các em của
mình một cách đồng đều không phân biệt đối với các em; ví dụ như
em nào ngoan thì mình thương, năng hỏi han chú ý, còn em nào
bướng bỉnh nghịch ngợm trái tính trái nết thì mình bỏ mặc, không
hỏi han đến chứ?
C: Dạ, không có đâu anh; em cũng đã
hiểu rõ về hạnh nguyện này rồi nhưng còn hạnh nguyện thứ bảy nữa
với mấy chữ “trú dạ tuần” và “thề diệt tam đồ” em không hiểu gì
cả anh ạ! ☺☺!!
Nam mô trú dạ tuần vô tổn hại Quán Âm
Như Lai thề diệt tam đồ nguyện.
A: “Trú” là ngày, “dạ” là đêm, đọc
kinh cầu an “trú dạ lục thời hằng cát tường” mà em quên rồi sao?
“Tuần” là đi tuần tra, đi rảo, giống như anh chị em mình chia
phiên trực ngày trực đêm trong sinh hoạt trại vậy đó; đi tuần để
kiểm soát coi có gì có thể gây nguy hại cho trại sinh không? Có
trại nào, trại sinh nào vi phạm kỷ luật không, ví dụ như giờ
nghỉ rồi mà còn hát hò hay điện thoại v.v… hay quên dập tắt lửa
trại, thắp nến đọc sách trong trại... có thể gây ra hỏa hoạn.
Tương tự như trong các thiền đường, mỗi khi đại chúng ngồi
thiền, có một vị Tăng cầm cái “bảng” đi “tuần tra” xem ai ngủ
gật hay ngủ thì vị này sẽ đập vào vai cho người ngủ gật tỉnh
lại, chú tâm vào việc thiền tập, khỏi bị “kỷ luật”
B: Dạ, còn “tam đồ” là nẻo về của 3
đường ác: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh phải không anh?
A: Đúng vậy, nguyện thứ 7 này nói đức
Quán Thế Âm ngày đêm quán chiếu coi có cái gì làm tổn hại cho
chúng sanh không để kịp thời ngăn cản, đừng để cho chúng sanh
tạo nghiệp dữ mà phải rơi vào ba đường ác là súc sanh, ngạ quỷ,
địa ngục.
B: Như vậy, đức Quán Thế Âm nguyện
“thề diệt tam đồ” là nguyện giúp chúng sanh khỏi rơi vào ba
đường ác địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh bằng cách đi tuần tra
ngày đêm để coi thử “everything” có “OK” hay không; nếu có ai
phạm giới, hay có ác ý gây tổn hại cho Tăng thân tu học, cho
cộng đồng chúng sanh hay ai đó có ý giết người… thì Ngài lập tức
ngăn cản đừng để người ấy phạm tội phải rơi vào đường ác, phải
không anh?
C: À như vậy, bây giờ thành dễ hiểu
rồi! Và nếu chúng ta muốn làm một cánh tay hay một con mắt của
đức Quán Thế Âm trong hạnh nguyện này thì ta cũng thường xuyên
“tuần tra” anh em, để nhắc nhở và cho họ giật mình tỉnh thức
trước khi bị phạm luật, phạm giới anh hở?
A: Phải rồi, nhưng điều quan trọng
hơn là phải tự cảnh giác, tự “tuần tra” tâm mình trước khi lo
cho mọi người đó nha! ☺☺!! Có như vậy bản thân mình mới khỏi rơi
vào ba đường ác. Ba đường ác không phải ở dưới lòng đất hay trên
bầu trời đâu, nó ở ngay trong ta và chung quanh ta đó, các em
biết không?
B: Dạ, chúng em biết rồi anh, địa
ngục trong tâm thức của mỗi người mà!☺☺!!
A: Biết rồi thì tốt! Hôm nay đến đây
tạm đủ nha, xin hẹn các em lần sau! Tạm biệt!
B và C: Dạ, xin cảm ơn anh, tạm biệt!
(Lớp học Thành Duy Thức Luận của TT.
Tuệ Sỹ)
Kính thưa Thầy,
Hôm nay con trích vài trang trong Nhật ký
tu học ké của con gởi đến Pháp Luân để gợi nhớ về những kỷ niệm
thật vui trong những giờ học Duy Thức của chúng con mà giờ đây
không còn nữa vì Thầy bận nhập thất, dịch kinh, v.v… nên lớp học
đã nghỉ dài hạn và chưa bắt đầu lại được!
Con gọi là “tu học ké” vì lớp này của quý
thầy, cô và chỉ một số anh chị em (ACE) cư sĩ chúng con được
tham gia mà thôi. Lớp có nhiều hôm học đông, nhiều hôm vắng,
nhiều hôm lớp vui, nhiều hôm im lặng… nghĩa là không có buổi học
nào giống buổi nào, nhưng có cái chung là hôm nào cũng vui nhộn
hẵng lên khi Thầy “vào lớp” và chùng xuống khi Thầy chào từ giã
lớp.
Con không trình bày ở đây nội dung bài
giảng của Thầy vì buổi học nào cũng giảng về chủng tử, alaya, sự
có mặt của alaya, v.v... chứng minh sự hiện hữu của thức thứ 8,
càng lúc càng tinh vi và nhất là những buổi học của chư Tăng Ni
mà Thầy dạy cách dịch từ Hán ra Việt… thật khó “nuốt”, khó hơn
dịch từ tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Anh… ra Việt văn nhiều! Văn
phạm chữ Hán “bí ẩn” quá Thầy ơi!JJ!!
Nhiều hôm con bị Thầy chê: “Tiếng Hán một chữ cũng không biết!”
Con chỉ ghi vào đây những điều Thầy dặn dò
phải đào sâu thêm cái gì, phải học như thế nào, và nhất là những
câu hỏi của chư Tăng, Ni hay của ACE chúng con.
Ví dụ như bài giảng của Thầy có liên hệ đến
Mộng và Thực. Câu hỏi được đặt ra là: Thế nào là Mộng? Tại sao
nói đời là Mộng mà mình không tỉnh mộng được?
Thầy dạy: Mộng là thật hay là giả? Có thật
hay không có thật? Có nhiều khi mình mộng, nhưng những sự việc
xảy ra trong giấc mộng đó có tác dụng lên thực tế. Trường hợp
rất thường xảy ra và rất nhiều người đã gặp: Nằm mơ thấy đá banh
và giơ chân đá thì tỉnh dậy, thấy chân đá đụng vào vách tường!
Hay giấc mơ của Thầy mơ thấy mình đi từ Vạn Hạnh về Già Lam; khi
đi qua giàn mướp trước chùa thì giàn mướp sập, Thầy đưa tay lên
đỡ, thì tỉnh dậy thấy 2 tay đang đỡ cái giàn mùng rớt xuống!
Dù là “thật” hay “giả” thì mộng vẫn là một
quá trình (process) huân tập không phải “tự nhiên mà có”. Những
hoài niệm, nhớ nhung, những tư tưởng tình cảm được tích tụ dài
ngày dài tháng khi có điều kiện sẽ thành Mộng, có khi một giấc
mộng đã được “chuẩn bị” từ 5, 10 năm… Cuộc đời cũng là một giấc
mộng mà muốn “tỉnh mộng” phải được xử lý quá trình huân tập ấy
bằng quá trình tu tập chứ không phải một sớm một chiều có thể
tỉnh được ngay! Thầy thường liên hệ với những danh từ dùng cho
máy tính (computer) để ACE trẻ hiểu dễ dàng như: Giấc mộng
(chiêm bao) bao gồm nạp dữ liệu (huân tập), tích lũy vào tâm
thức (chứa vào Alaya), dị thục (quản lý, xử lý dữ liệu).
Thầy còn nói, vi tính đối với thời đại
chúng ta là thần thông diệu toán. Nó thay đổi từng giờ từng
phút; chúng ta học Duy Thức nói riêng, học Phật Pháp nói chung
là để áp dụng vào cuộc sống của chúng ta và để tìm ra những
phương pháp chữa bệnh, trị bệnh, cứu chúng sanh chứ không phải
học để chơi, để nói dốc (hý luận)… Đã có những bác sĩ tâm thần,
bác sĩ phân tâm… nghiên cứu từ những giấc mơ để chữa bệnh tâm
thần hay tâm lý cho nhiều bệnh nhân… (Thiền và sức khoẻ tâm hồn,
tinh thần; Thiền và sức khoẻ thể chất).
Freud cũng giải thích về những giấc mộng do
ẩn ức (refoulement) mà ra, và cũng đã phân biệt tính chất những
sóng não (brainwave) với những giai đoạn của giấc mộng: REM,
SLOW-WAVE, NON-REM…
Những điều Thầy giảng và đề cập đến, khi
“học bài” con đều tìm lại những tin tức liên hệ đến qua sách vở
và trên net, thật rất thích thú. Ví dụ như về nghiên cứu và áp
dụng Phật Pháp (Thiền) vào việc cứu giúp chúng sanh. Có một bản
tin nói rằng từ năm 1992 ngài Đạt-lai Lạt-ma (ĐLLM) thứ 14 đã
mời tiến sĩ Richard Davidson nghiên cứu về trạng thái thần kinh
(tức hoạt động của não bộ và các tế bào thần kinh) khi thực hành
Thiền; tiến sĩ Davidson cũng là một người thực hành thiền nên
ông đã nhận lời đến vùng chân núi Hy-mã-lạp-sơn với các máy vi
tính, máy điện não đồ, máy họa hình các chuyển động trong bộ
não… khảo cứu bộ não các vị thiền sư Tây Tạng khi thực hành
Thiền, qua các tiếng dội từ trường (Functional Magnetic
Resonance Imaging). Công trình nghiên cứu này không những chỉ
cho thấy hoạt động của bộ não trong thời gian thiền mà còn biết
được cả ảnh hưởng tốt đẹp tồn tại sau nhiều tháng kế tiếp. Đã có
nhiều nhà khoa học khác người Mỹ như Paul Ekman, Stephen
Kosslyn, người Pháp như Mathieu Ricard, v.v… tham gia chương
trình này. Cứ 2 năm 1 lần, các nhà khoa học cùng họp nhau ở dưới
chân Hy-mã-lạp-sơn (nơi cư ngụ của ĐLLM 14) hay một nơi hẹn
trước, dưới sự chủ tọa của đức ĐLLM 14 để hội luận về lợi ích
của Thiền, và của những cảm xúc tích cực (từ, bi, hỷ, xả, an
lạc…) cũng như các phương thức chuyển hoá những cảm xúc tiêu cực
(giận dữ, hận thù, bất an, phiền muộn…) Ngoài ra, hiện nay có
khoảng 250 trường đại học áp dụng chương trình hướng dẫn Thiền
để phát triển sức khỏe và tạo đời sống an vui của tổ chức Giảm
Căng Thẳng Bằng Tỉnh Thức (Mindfulness-Based Stress Reduction
hay MBSR) do tiến sĩ Jon Kabat-Zinn thuộc viện đại học Y khoa
Massachussetts Umass Medical School thành lập trên 25 năm qua.
Tiến sĩ Kabat Zinn và các đồng nghiệp của ông (bác sĩ, y tá, cán
sự xã hội, bác sĩ tâm thần…) trong chương trình MBSR đã chữa trị
cho trên 16 ngàn người và đã đào tạo được trên hai ngàn chuyên
viên có thể hướng dẫn bệnh nhân về chương trình này.
Trở lại với bài học, để trả lời câu hỏi của
một học viên: mộng có thật hay không có thật? và cuộc đời là giả
hay thật? Thầy phân biệt rất hay và vui. Thầy cho một ví dụ: Một
người ngồi coi phim (vidéo) và một con kiến bò trên màn hình TV.
Người coi phim biết những vở kịch, những chuyện phim… đều là
giả, nhưng vẫn khóc, vẫn cười, vẫn buồn, giận, lo lắng… theo như
tâm trạng của các diễn viên; con kiến bò trên màn hình không
biết gì cả, không vui không buồn, cứ bò… Như vậy, giả hay thật,
là tùy xử lý của người quan sát. Sơn hà đại địa, thế giới, vũ
trụ này cũng vậy, cũng như những biến hiện trên màn hình nếu
chúng ta là những người ở trên rừng mới về thành phố, không biết
gì đến văn minh, nên khi nhìn vào màn hình thấy sư tử cọp beo,
thấy bắn súng, thấy người chết, tưởng thật phát sợ; còn Bồ-tát
như những kỹ sư điện toán biết đó chỉ là phim ảnh, các diễn viên
đóng tuồng có sống có chết, nhưng tất cả không phải thật, diễn
xong vở tuồng, các diễn viên lại nói cười vui vẻ, không có gì
xảy ra hết!
Không khí các buổi học đều rất trang
nghiêm, không ai ngắt lời Thầy và rất sợ Thầy dừng lại hỏi (mà
“bí” thì quê lắm!) Gần hết buổi học, nhờ những câu hỏi và trả
lời của Thầy mà không khí đã có pha tiếng cười và những câu nói
chuyện ngắn qua “tấm bảng” Thầy giảng bài. Thỉnh thoảng có thầy
cô hay ACE cư sĩ ngâm thơ, ca hát… tặng Thầy, nhất là lúc Thầy
sắp nhập thất.
Buổi học cuối trước khi Thầy nhập thất được
ban điều hành lớp gọi là “buổi học chót” lúc nào cũng buồn! Có
nhiều thầy ở xa gọi vào thăm và nói lời tạm biệt Thầy, khiến con
nghĩ ngay đến câu “nhất nhật bất kiến như tam thu hề” (một ngày
không gặp mặt dài như 3 năm) huống chi là nhiều tháng, rồi lại
“khoảnh khắc thành thiên thu”. Con tự nhủ: với lý “không” của
nhà Phật, mình cũng có thể nói “thiên thu thành khoảnh khắc” để
thấy bây giờ và 3 tháng nữa không khác, chỉ thoáng qua như là
một giấc mộng thôi. Nghĩ như vậy để bớt thấy buồn vì sau hôm nay
không còn được học với Thầy mỗi tuần hai lần nữa!
TÂM
MINH
(Trích đoạn
Buổi học chót viết ngày 30.09.2005 trong tập Những
trang nhật ký của Tâm Minh)
Kính thưa
quý vị và các
bạn,
Chúng ta thường
nghe nói: “Người
Việt Nam chúng
ta đa số
theo đạo Phật”
hay “Đúng ra, người
Việt Nam theo đạo
thờ cúng ông
bà”, v.v... Nhưng
sự thật, nhiều
người Việt
Nam không biết gì
về đạo Phật
mặc dù họ
có đi chùa
đều đặn vào
những ngày lễ
như Phật
Đản, Vu Lan, v.v… Ở
trong nước, phần
nhiều gia đình
nào cũng có
bàn thờ ông
bà nhưng
ở hải ngoại
thì không phải
như vậy, bàn
thờ ông bà tổ
tiên không phải
thường xuyên
được để
trong nhà của
tất cả người
Việt ở hải
ngoại, mà có
nhiều gia đình
chỉ khi nào
có cúng giỗ,
hay Tết… mời
bày ra; trừ
nhà của những
huynh trưởng GĐPT
mới có đầy
đủ bàn thờ
Phật, bàn thờ
tổ tiên
trong nhà. Vì
vậy, một số
các em đoàn
sinh ở nhà có
thể không nghe cha mẹ
nói về Phật,
về ngày Phật
Đản, v.v... và
có em chỉ biết
Phật Đản, Vu
Lan, v.v… nhờ
qua sinh hoạt với
GĐPT. Chương
trình tu học
của GĐPT có
bài “Lịch sử
đức Phật Thích-ca
từ sơ sanh
đến nhập diệt”,
nhiều em đoàn
sinh bảo rằng
em có đem về
kể cho ba mẹ
nghe, thật ra ba mẹ
không biết nhiều
như em!JJ!!
Hôm nay, chúng
tôi xin mời quí
vị và các
bạn theo dõi cuộc
hội thoại bỏ
túi “về ngày
Phật Đản” giữa
các huynh trưởng
GĐPT mà chúng
ta đã làm
quen: A, B, C. Họ nói
về những vấn
đề từ thô
thiển đến
“cao siêu”, mục
đích là để
trao đổi kinh nghiệm
hướng dẫn
đàn em của họ
và nhất là
để giải đáp
thắc mắc của
các em thường
xuyên đặt
ra, về những
vấn đề “siêu
hình” có khi
trả lời
được, có khi
chưa trả lời
dứt khoát, có
khi “bí” luôn. Ước
mong được quí
vị và các
bạn bao dung và
chỉ giáo.
A: Chào các
em! Hôm nay có chuyện
gì đặc biệt
không?
B: Dạ, sắp
đến Phật
Đản rồi anh!
Em không biết tại
sao các anh chị
thường nói
“mùa Phật
Đản là mùa
Bồ-đề thay lá”?
Bồ-đề là
nghĩa đen
hay nghĩa bóng?
Là cây Bồ-đề
hay là đạo Bồ-đề
hở anh?
C: Dạ thưa
anh, nhà em có
trồng cây Bồ-đề,
mùa Xuân thì
lá xanh non đâm
ra đẹp lắm,
có phải vì
vậy mà nói
mùa Phật
Đản là mùa
Bồ-đề thay lá
hay không?
A: Phải rồi!
Mùa Phật
Đản nhằm vào
tháng Tư âm
lịch, tháng
Năm dương lịch,
lúc đó ở Việt
Nam mình là
mùa Hè, nhưng
ở đây là mùa
Xuân, vì ở đất nước
rộng lớn này,
nhiều nơi tháng
3, tháng 4 vẫn
đang còn có
tuyết. Vì vậy,
Bồ-đề ở Việt
Nam có thể
thay lá sớm
hơn nhưng nói
chung là vào
mùa Phật
Đản; người
ta còn nói mùa
Phật Đản là
mùa sen nở vì
hoa sen nở vào
mùa hè và
hoa sen cũng thường
được dùng làm
biểu tượng
cho đạo Phật
(Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa)
B: Về tuợng
Phật sơ
sanh, các em Oanh Vũ
của em thắc
mắc là tại
sao có chỗ
thì tượng
đức Phật
đưa tay phải
chỉ lên trời,
tay trái chỉ
xuống đất, có
chỗ thì ngược
lại, theo anh thì
tượng nào mới
đúng hở anh?
C: Em cũng
có bị vài
em hỏi như vậy
và có em ngành
Thiếu của em
hỏi rằng tại
sao đạo Phật
là đạo vô ngã mà đức
Phật sơ sanh
của mình lại
nói câu “Thiên
thượng thiên
hạ duy ngã độc
tôn”, nghĩa là
“trên trời,
dưới trời,
chỉ có ta là
bậc đáng tôn
kính” phải
không anh? Anh trả lời
cho em đi nha!
A: Trước hết,
anh xin lỗi là
anh “chịu thua” hai câu hỏi
này vì với
câu thứ nhất,
anh chưa bao giờ
chú ý về
“tay phải tay trái”
của tượng Phật
sơ sinh và
thứ hai, câu nói
của đức Phật
sơ sinh, và đức
Phật sơ sinh
đã bước
đi bảy bước,
dưới mỗi bước
chân có một
hoa sen nở ra, v.v…
Sự tích này
được ghi lại
và anh đã
được nhìn thấy
ở Bồ-đề
đạo tràng, hình
ảnh bàn chân
đức Phật và
bảy hoa sen, v.v…
Mặc dù anh
đã được nghe
và đọc những
lời giảng về
câu nói của
Ngài, nhưng
anh chưa nắm
vững lắm, nên
anh hứa sẽ hỏi
lại quý Thầy
và lần sau sẽ
giải thích
rõ ràng cho các
em nha! Còn câu hỏi
nào nữa?
B: Về việc
“tắm Phật sơ
sinh” trong ngày lễ
Phật Đản có
ý nghĩa gì
hở anh?
C: Có phải
theo tục truyền
khi đức Phật
đản sinh, có
hai vòi nước
nóng và lạnh
phun ra để tắm
Phật không anh?
A: Cũng có
sự tích
ấy, nhưng
ngoài ý kỷ
niệm ngày Phật
đản sinh, “tắm
Phật” còn có
ý nghĩa sâu xa hơn
một chút:
đó là khi múc
nước tắm Phật,
mỗi người chúng
ta đều phải
nghĩ đến sự
thanh lọc tâm ý để
tâm ý không bị ô nhiễm
bởi ba độc
tham sân si. Vì vậy,
bài học của
“Tắm Phật” là
dạy chúng ta
phải thường
xuyên “tắm gội”
tâm mình trong đời
sống hằng ngày,
chứ không phải
đợi đến ngày
Phật Đản mới
nghĩ đến! Không những
chỉ trong lúc
tắm Phật hay
tắm gội thân
mình mà ngay
cả trong những
lúc rửa chén
bát hằng ngày
nữa!
B: À, em nhớ
ra rồi, có bài
kệ nói là
rửa chén bát
với tâm chánh
niệm, thanh lọc
tâm ý thì việc
rửa chén bát
đó cũng linh
thiêng không kém
gì tắm tượng
Phật sơ sinh
phải không anh?
Washing the dishes
Is like bathing a baby Buddha
The profane is the sacred
Everyday mind is Buddha’s mind
A: Phải rồi!
Nếu tâm ta thiện,
những việc làm
của thân, miệng,
ý đều nhằm
huấn luyện
tâm, cải tạo
tâmv.v... thì tất
cả đều là Phật
pháp, cái
tâm bình thường
ấy chính là
tâm Đạo, là
tâm Phật.
C: Còn trái
lại, cho dù
chúng ta có đọc
“thiên kinh vạn
quyển” nhưng
miệng luôn nói
chuyện thị
phi, ý luôn nghĩ cách
làm hại người
khác nếu họ
làm trái ý mình
v.v... thì thật
uổng công, có đúng
không anh?
A: Nói
đúng lắm! Vì
vậy, nếu chúng
ta nghĩ rằng
mình đã
đi chùa 5 năm,
10 năm, 30 năm,
40 năm... rồi
nhưng lại
không từ bỏ
những tham lam (không phải
chỉ tham tiền
mới gọi là
tham đâu nha!JJ!!)
thành kiến,
cố chấp,
ganh tị, tranh chấp,
hẹp hòi,
ích kỷ, phe
nhóm, cục bộ,
v.v... thì phiền
não vẫn còn
y nguyên và
như thế thì
việc đi chùa
của chúng ta
cũng coi như
“dõm” đó nha!
JJ!!
B: Dạ, chúng
em hiểu rồi!
A: Nãy giờ
các em hỏi,
bây giờ đến phiên
anh nha! Các em nói
cho anh nghe thử các
em đã học
được những bài
học nào qua
sự kiện
đức Phật
đản sinh?
C: Dạ,
đức Phật
đản sinh hay thị
hiện ra giữa
cuộc đời này
là để chỉ
cho chúng sanh phương
pháp “ngộ nhập
Phật tri kiến”.
B: Em cũng
biết như vậy
đó anh, nhưng
bạn C có thể
cho mình biết
thế nào là
ngộ nhập Phật
tri kiến không?
C: Thưa
anh, có phải
“ngộ” là biết
rõ, không lờ mờ,
còn “nhập” là
sống với, hòa
nhập vào?
A: Phải
đó, em nói
tiếp đi!
C: Và “Phật
tri kiến” hay tri kiến
Phật là cái
thấy, cái biết
của Phật;
đó là cái
thấy “như thật”
thấy thật tướng
của sự vật,
sự việc như-nó-là
(as-it-is) chứ không kèm
theo sự yêu
- ghét, lấy
- bỏ hay những
ý tưởng phân biệt
của riêng mình.
Em thường được
nghe các anh chị
nói mình nhìn
sự vật qua các
lăng kính và
cặp kính màu
của mình nên
mọi vật
đều bị “méo
mó” và đổi màu
hết!
B: À phải,
em biết rồi,
ví dụ như
khi nhìn các
em của mình,
mình ghi nhận
em này giỏi
về Phật pháp,
em kia lười học,
em nọ thích
phá các bạn
trong giờ học,
v.v... mà không kèm
theo ý nghĩ “em này
dễ ghét quá,
em kia dễ thương,
phải tìm cách
trị em nọ thẳng
tay mới được”,
v.v...
C: Chính vậy,
hay khi nhìn trời
mưa ta nói
“trời mưa!”
chứ không nói
hay nghĩ “trời
xấu, trời thật
tồi tệ quá,
mất một ngày
đi chơi rồi”,
v.v... hay khi nghe một em
đang to tiếng
với một em
khác, ta ghi nhận
“hai em đang có
chuyện bất
đồng ý kiến”
chứ không nghĩ:
“hai em này thật
là vô kỷ luật,
ồn ào quá,
phải phạt
cho một trận
mới được”
v.v...
A: Đúng! Chúng
ta phải để
cho cái thấy
của mình hoàn
toàn vô tư
trong sáng không có
thành kiến,
không áp đặtv.v...
như vậy thì
sẽ không bị
phiền não kéo
theo sau! Thật vậy,
như các ví
dụ trên, nếu
các em vô tư
tìm hiểu thì
sẽ thấy
được cách giải
quyết tốt
đẹp cho đàn
em của mình,
các em của mình
sẽ vui vẻ, hòa
thuận lại với
nhau; bằng lòng
với cách giải
quyết công bằng,
với lòng bao
dung của anh/chị
Trưỏng của mình,
tăng thêm niềm
tin vào tổ
chức GĐPT cũng
như tăng trưởng
niềm tin Phật,
v.v...
B: Thật rất
khó phải
không anh? Làm thế
nào để trước
mọi thứ công
việc xoay vần
mỗi ngày, trước
những biến cố
của cuộc
đời, chúng
ta có thể
luôn tỉnh thức
để nhìn mọi
sự việc, hiện
tượng như-chúng-đang
là (as-they-are)
được?
A: Đúng thế!
Cho nên mới
nói mình tu
học đề làm
Phật, để có
cái nhìn như
đức Phật, nhìn
đúng “Chân Như”
của mọi sự
vật, hiện tượng
kể cả những
hiện tượng
tâm lý trong mình (có
hằng hà sa số
những niệm
khởi lên rồi
diệt đi ngay
trong tâm mình); nếu
mình làm
được thì anh
chị em mình
là Phật hết
rồi sao??JJ!!
Bài học về
“tri kiến Phật”
này quả thật
là bài học
mình phải tu
tập, thực hành
trong nhiều đời
nhiều kiếp mới
đạt được! Các
em lần lượt
nói lên những
“bài học nhỏ”
thử xem?
C: Sự thị
hiện đản
sanh của đức
Phật trong thân thế
thái tử Tất-đạt-đa
con vua Tịnh Phạn
và hoàng hậu
Ma-da cho ta một tia hy vọng
là chúng ta
cũng sẽ có
thể thành Phật.
B: Dạ, cũng
như Ngài gián
tiếp dạy cho
chúng ta “Ta là
Phật đã thành,
các người là
Phật sẽ thành”
vậy.
A: Đúng rồi,
Ngài cũng
đã dạy “mọi
loài đều bình
đẳng, không có
cao thấp, và đất
Phật ai cũng
có thể đạt
đến được.”
Trong kinh Hoa Nghiêm phẩm
Phổ Hiền, Phật
dạy: “Tất cả
chúng sanh là
gốc rễ, Bồ-tát
là hoa, Phật
là quả; dùng
nước Đại bi
tưới cho đượm
nhuần gốc rễ
chúng sanh thì
có thể làm
trổ hoa Bồ-tát
và kết thành
quả Phật.”
C: Thật là
hay quá, cảm
ơn anh đã giới
thiệu, chúng
em sẽ tìm
đọc Hoa Nghiêm
đã dịch ra
tiếng Việt.
A: Các em còn
bài học nào
về Đản sanh không?
B: Dạ, em còn
ghi nhận một
bài học nữa
là giá trị
vươn lên của
con người. Từ
vũng lầy
sinh tử con người
có thể vươn
lên địa vị
Bồ-tát, Phật
như hoa sen từ
trong bùn lầy
hôi tanh mà không nhiễm
bùn mà còn
vươn lên khỏi
bùn, tỏa hưong
thơm ngát
cho thế gian nữa!
C: Dạ, em còn
một bài học
nữa là ngày
Đản sanh chúng
ta tưởng nhớ đến
đức Phật với
Phật pháp là
những lời dạy
của Ngài
để thực hành
chứ không chỉ để đọc
tụng; em nói
“tưởng nhớ”
chứ không phải
tưởng niệm vì
đức Phật vẫn
còn đó, những
ai thực hành
Phật pháp thì
đều “thấy”
được Ngài, Ngài
vẫn tồn tại
trong tâm họ.
A: Đúng vậy,
đó là những
người luôn ở
gần bên cạnh
Phật, còn
đối với những
người không lo tu học,
không tự biết
đủ (tri túc)
thì Như Lai
đã ở xa lơ
xa lắc mất rồi!
Sự thật, Phật
không có sinh diệt,
ngày Phật
Đản có người
“thấy” được
đức Phật
đang thuyết
pháp, còn có
người lại
không hề cảm
thấy hay nghe thấy
gì cả, nghĩa
là tâm họ đã
ở quá xa Phật
rồi!
B: Em cũng
còn một bài
học nữa: ngày
Phật Đản là
ngày hội của
mọi người và
dù em có cơ
hội mừng lễ
Phật Đản với
các anh chị,
bạn bè,
đàn em, v.v... của
em ở chùa
hay vì hoàn
cảnh mà chỉ
được lễ Phật
một mình
trong nhà cũng
không sao vì Phật
dạy đạo tràng
là ở ngay tâm của
mình.
C: Thưa
anh, em còn một
bài học nữa:
ngày em phát
tâm theo Phật chính
là ngày Phật
Đản của em:
em tưởng nhớ
Phật, noi theo các
hạnh lành của
chư Phật, em
được Phật hướng
dẫn để theo
dấu chân ngài
đi đến bến
bờ an lạc và
hạnh phúc.
A: Như vậy
là các em
đã hấp thụ
được cốt lõi của
những bài học
về Phật
Đản; anh mong rằng
các em sẽ áp
dụng vào cuộc
sống hằng ngày
và tập cho
đàn em của
chúng ta cùng
áp dụng. Chào
các em, chúc
các em một mùa
Phật Đản an
lạc và giải
thoát! Tạm
biệt!
B và C:
Happy Vesak, anh! Tạm biệt!
Tạm biệt!
■
27. Tản
mạn từ
“Bát kỉnh
pháp” đến “nam
nữ bình đẳng”
Kính thưa
quí vị và
các bạn,
Gia đình Phật
tử đã có mặt
trên 60 năm
nên thành viên
GĐPT có đủ hạng
tuổi: nam, phụ,
lão, ấu; có
nhiều anh chị
trên 70, 80 tuổi,
cũng có các
em thiếu nhi từ
7, 8 tuổi đến
12, 13 tuổi, Huynh trưởng
trẻ cũng
ở độ tuổi trên
dưới 20. Các
anh chị đã sinh hoạt,
gần gũi với
quý Thầy, Cô lâu năm
nên học hỏi
được rất nhiều.
Vì vậy, có
nhiều vấn
đề đối với các
anh chị lớn
đã trở nên
quen thuộc và
rất bình thường
nhưng đối với
huynh trưởng trẻ
thì những
chuyện đó quá
lạ, không tin, từ
Phật Pháp
đến chuyện
đời thường.
Những chuyện
như vậy nếu
viết hết, kể
ra hết, e rằng
nó sẽ dày
như một cuốn
tự điển. Vì
vậy hôm nay chỉ
xin đưa ra một
vài chuyện
nhỏ vừa
Đạo, vừa
Đời... có liên
quan đến chủ đề
TSPL.27 này để
các em huynh trưởng
trẻ hiểu
được và quí
Thầy Cô có đọc
cũng không thấy
suy nghĩ của
các em “kỳ lạ”
quá!
Thưa quý vị
và các bạn,
Ở
thời đại này
và nhất là
ở các xã hội
phương Tây ngày
nay mà kể ra
những chuyện
“chồng chúa,
vợ tôi” hay những
chuyện “mẹ
chồng, nàng
dâu”… của Việt
Nam mình thời
Tự Lực văn
đoàn, thì
quả thật là
“thế hệ thứ
3” không thể nào
hiểu và tin
được! Đối với
các em ở độ
tuổi lớp 2,
lớp 3, khi trả
lời câu hỏi
“ai là chủ
trong nhà em?” (Who’s the boss at your
house?) thì câu trả
lời hầu hết
là “mẹ”
(mom)… Về phần
các huynh trưởng
trẻ cũng vậy,
các em đã thấy
từ các trường
đại học, bệnh
viện, hãng xưởng,
quân đội, với
các giáo sư,
bác sĩ, giám
đốc, dân biểu,
các nhà khoa
học, học giả,
nhà văn nhà
thơ tên tuổi,
thậm chí phi
công, phi hành gia…
cũng đều có
mặt của phụ
nữ, mà những
người nữ còn
có thể thuộc
loại xuất sắc
hơn nam giới
nữa cho nên
hoàn toàn
không có sự
phân biệt nam nữ ở
đây. Bởi vậy,
khi một huynh trưởng
trẻ tình cờ
đọc thấy mấy
chữ “bát kỉnh
pháp” và sơ
lược nội
dung của pháp
này thì vô cùng
ngạc nhiên và
so sánh với
thói quen lịch
sự “quý bà
trước hết!”
(lady’s first) em ấy liền
nêu thắc mắc
với một
huynh trưởng “cao niên”…
Thế là các
em khác cũng
có vấn
đề đưa ra thảo
luận. Chúng
tôi xin mời quí
vị theo dõi cuộc
hội thoại bỏ
túi này với
hai huynh trưởng lớn
(A,B) và 3 huynh trưởng
trẻ (C,D,E).
A: Nào E,
hãy nói em đọc
được Bát Kỉnh
Pháp ở đâu và
em hiểu như
thế nào mà
ngạc nhiên
quá vậy?
E: Dạ, em
đọc từ một
bài viết, chỉ
có 1 đoạn
giới thiệu về
Bát Kỉnh Pháp
thôi, mà em nghe lạ
quá không hiểu
nên phải gọi
các anh chị để
hỏi ngay!! Bởi
vì lở như
các em ngành
Thiếu của em
cũng đọc
được rồi hỏi
thì em “bí”
liền!
C: Em cũng
chưa bao giờ
nghe mấy chữ
này!
D: Dạ, em cũng
vậy! Em chỉ
biết “Bát Chánh
Đạo” và “Bát
đại nhân giác”
mà em đã thấy
chữ Hán nhiều
quá rồi!
A: Vậy thì
để anh nói rõ cho các
em hơn một
chút, một chút
thôi, vì anh cũng
không rành gì
nhiều lắm về
pháp này.
Trước hết,
Bát kỉnh pháp
còn có tên
là “Bát kính
giới”, có
nghĩa là 8
phép kính, kính
đây là kính
trọng, có chỗ
nói là “kỉnh”;
vậy kỉnh hay
kính đều giống
nhau. Cũng có
tên khác là
“Bát tôn sư
pháp” (= 8 phép
tôn kính Thầy)
cũng còn gọi
là “Bát bất
khả việt pháp”
(= 8 phép chẳng
nên vượt
qua)…
B: Nhiều tên
như vậy nhưng
nội dung rất
đơn giản. Pháp
này dạy chư
Tỳ-kheo-ni phải
tuân giữ phép
tắc kính trọng
đối với chư
Tỳ-kheo. Em E có
ghi lại 8 pháp
đó không và
em thắc mắc
chỗ nào?
E: Dạ có!
Thứ nhất, dù
Tỳ-kheo-ni già
100 tuổi mà
gặp Tỳ-kheo
mới thọ giới
cũng nên tiếp
rước lễ bái,
mời ngồi chỗ
thanh tịnh…
A: Đúng vậy,
có gì thắc
mắc?
C: Dạ thưa
anh, em mới nghe E
đọc thôi, cũng
đã thắc mắc
rồi! Chúng
ta thường chào
phụ nữ trước,
mở cửa xe
cho họ, thường
nhường đường
cho họ đi trước,
nhường chỗ
cho họ trên
xe bus, v.v... mà đây lại
có pháp tu gì
ngược đời vậy?
Đàn bà dù
lớn tuổi cũng
phải chào kính,
nhường đàn
ông dù nhỏ
tuổi hơn?
B: Phải rồi,
nhưng không phải
đàn bà nhường
đàn ông mà là
Tỳ-kheo-ni phải
như vậy
đối với Tỳ-kheo.
D: Có gì
khác, thưa
chị?
A: Khác là
đức Phật không dạy
người đàn
ông, đàn bà
ngoài đời
tuân theo những điều
này mà đây là
những giới mà
vị Tỳ-kheo-ni
phải giữ!
E: Như vậy
thì em hiểu
rồi, cũng giống
như nếu mình
chưa quy y thì
không cần phải
giữ giới nhưng
một khi đã
quy y rồi và
hứa giữ 5 giới
thì mình
không được uống
rượu, trộm cắp,
v.v… phải
không?
B: Phải rồi!
Qua giới thứ
2 của bát kỉnh
giới là: Tỳ-kheo-ni
không được mắng
nhiếc Tỳ-kheo.
C: Cái này
thì không bao giờ
xảy ra rồi,
làm sao những
người tu hành
lại mắng nhiếc
nhau được?
D: Bạn nói
vậy là không
đúng rồi, mình
lấy ví dụ
cụ thể nha,
ví dụ như
Da-du Đà-la (Yashodhara) là
mẹ của La-hầu-la
(Rahula); nhưng bây giờ
cả 2 người
đều xuất
gia, khi Rahula làm
điều gì
sai trái Tỳ-kheo-ni
Yashodhara cũng không
được la mắng
tỳ-kheo Rahula vì ở
trong Tăng đoàn
của đức Phật,
bà phải tuân
theo Bát kỉnh
giới chứ, có
đúng không?
E: Đúng vậy,
trí tưởng tượng
của bạn thật
là phong phú
quá!
A: Giới thứ
3 của Bát kính
giới là: Tỳ-kheo-ni
không được nói
ra những lỗi
lầm cũng như
những nỗi
oan ức của Tỳ-kheo.
Giới này có
lẽ để đối trị
tính “bép xép”
của phái nữ,
phải không chị
B?
B: Đại khái
là vậy, tôi
cũng không có
ý kiến gì
khác!☺☺!! Giới
thứ 4 của Bát
kính giới là:
Thức-xoa-ma-na đã
học giới rồi
nên theo chúng
Tăng mà thọ
đại giới. Câu này
có 2 chữ Hán
cần phải dịch
nghĩa, đó là
“thức-xoa-ma-na” và
“thọ đại giới”
chắc là các
em đều chưa
biết; anh A giải
thích cho các
em nghe đi!
A: Thức-xoa-ma-na
là người
Sa-di-ni sắp được
thọ giới Cụ
túc (cũng gọi
là giới Tỳ-kheo
hay đại giới.)
Người nữ xuất
gia năm 18 tuổi,
đến năm 20
tuổi được làm
Sa-di-ni trong 2 năm; trong 2 năm
này coi như được
thử thách về
công hạnh tu tập,
sau đó nếu
đủ tiêu chuẩn
mới được thọ
đại giới.
E: Thật là
hay quá, cảm
ơn anh chị
nhiều! khi chưa
nghe giảng, em đọc
giới thứ 4
chẳng hiểu cái
gì cả! Giới
thứ 5 là: Mỗi
nửa tháng 1
lần, Tỳ-kheo-ni
phạm giới phải
đến sám hối
với cả 2 bộ
Tăng (Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo-ni);
cái này em
không hiểu “phạm
giới” có phải
là phạm vào
1 trong 8 giới của
bát kính giới
hay không?
B: Giới
đây là cụ
túc giới, tỳ
kheo giữ 250 giới,
tỳ kheo ni 348 giới.
C: Eo ơi!
Sao mà nhiều
thế! Làm sao
mà nhớ hết
được? đừng nói
chi là giữ nữa!
D: Bởi vậy
chúng ta đâu
có ai đi tu
được chứ!? Và
chính nhờ giữ
giới như vậy,
luôn tỉnh thức
soi rọi lại
mình như vậy
nên phần
đông chư Tăng
Ni mới có một
hình tướng bên
ngoài uy nghi, trang nghiêm...
ai mới thấy
cũng phải phát
tâm kính trọng,
ngưỡng mộ,
phải không thưa
anh /chị?
A: Đúng thế,
vì giới là
món trang sức
đẹp nhất và
cao quí nhất
của ngưòi tu
sĩ mà! Vị
nào giữ giới
nghiêm mật
nhất thì xứng
đáng là “sứ
giả của Như
lai” nhất! Còn
giới thứ 6
thì sao?
E: Giới thứ
6 là mỗi nửa
tháng 1 lần,
chư tỳ kheo
ni phải đến
giáo hội của
Tỳ-kheo thỉnh
một vị đế
thuyết pháp.
C: Như vậy
là bất cứ
1 vị nào bên
tỳ kheo cũng
đều giỏi Phật
Pháp hơn bên
tỳ kheo ni sao? Em thấy
nhiều sư cô
giảng hay lắm
đó! Phật tử
hâm mộ quí Sư
cô vô cùng đó
anh/chị à!
B: Không hẵn
là như vậy;
nhưng khi Tỳ-kheo-ni
mời thỉnh thì
tất nhiên Giáo
hội Tỳ-kheo
sẽ đề cử người
có khả năng
thuyết giảng
Phật Pháp,
đâu cần em
phải lo!☺☺!!
A: Xin trở
lại giới thứ
7 của Bát kính
giới, đó là
: Tỳ kheo ni không nên
an cư (vô Hạ)
ở nơi nào
mà không có
sự hiện diện
của chư Tỳ
kheo .
D: Cái này
thí quá đúng,
GĐPT chúng
ta cũng vậy,
đâu có bao
giờ toàn thể
ngành Nữ đi
trại mà
không có nam đi
theo đâu, cho dù
họ không có
trong Ban Quản Trại
cũng vậy!
E: Giới thứ
8, giới cuối
cùng của Bát
kỉnh giới, là:
Sau thời gian an cư,
chư Tỳ-kheo-ni
nên làm lễ
Tự Tứ chung
với chư Tăng
và hỏi chư
Tăng có điều
gì cần dạy
bảo không .
C: Em xin nêu
ý kiến thắc
mắc của em về
điều này:
Tại sao chư
Tăng không hỏi
chư Ni có điều
gì cần dạy
bảo mà chỉ
có chư Ni làm
vậy? Về trí
tuệ, đức Phật
đã dạy là
“nam nữ bình
đẳng” mà!
A: Câu hỏi
này anh xin chịu
thua, không trả lời
được, để sẽ
đưa lên nhờ
quí Thầy giải
đáp nha! Chị
B có câu trả
lời nào cho
C không?
B: Chị nghĩ
rằng cái
đức khiêm
cung người Nữ
cần hơn người
nam; ở những
người tu hành
lại càng rõ
nét, vì vậy
việc đức Phật
dạy chư Ni hỏi
chư Tăng “có
gì cần dạy
bảo không?” Làm
tăng vẻ hiền
dịu, khiêm tốn,
tuân phục... là
những nét
đẹp thật sự
của tâm hồn
một người nữ,
đây không phải
biểu hiện sự
yếu kém về
trí tuệ mà
trái lại, là
một sức mạnh
tinh thần để
thể hiện
đầy đủ đức
khiêm tốn
chân thành, tự
nhiên của họ.
Ngay những nhà
thơ “phàm trần”
cũng có nói:
“Phải khôn ngoan mới
dư trí dại
khờ” em không nghe sao?
D: Em rất
appreciate (đánh giá
cao) câu trả lời
của chị B và
em nhận thấy
đức Phật thật
tài giỏi, cách
đây hơn 2500
năm mà ngài
đã đặt ra Bát
kính giới này,
rất hợp với
tâm lý, tính tình
của 2 phái
nam, nữ trong Tăng
đoàn của
ngài, và chắc
ngài đã thấy
trước là vào
thế kỷ 21,
những người
nữ cư sĩ
sẽ rất giỏi,
có thể gìữ
những địa vị
trọng yếu
trong xã hội, bấy
giờ nếu
được biết
đến Bát kính
giới thì họ
sẽ biết cách
cư xử với
nam giới một
cách khiêm tốn
dễ thương chứ
không “hách xì
xằng” làm những
con gà mái
“gáy” loạn xạ
làm cho người
ta chán ghét,
phải không anh/chị??!!
A: Đúng vậy,
nhưng em khen “đức
Phật tài giỏi”
là khen phò
mã tốt áo
thôi!☺☺!!!
C: Lần này
em nhớ “khen phò
mã tốt áo”
nghĩa là gì
rồi!
E: Em cũng
vậy, và bây
giờ em rất tự
tin, nếu các
em của em mà
hỏi về vấn
đề “nam nữ bình
đẳng” trong đạo
Phật, lại
đem Bát Kính
giới ra “hù”
em thì em không còn
sợ nữa!
A: Như vậy
là quá tốt
rồi; anh nghĩ
câu chuyện của
chúng tạm chấm
dứt nơi
đây nha! Xin tạm
biệt mọi người!
Hẹn lần sau
gặp!
B, C, D, E: Tạm
biệt! Tạm biệt…!
■
28. Phật
học và khoa học
Kính thưa
quý vị và các
bạn,
Tuổi trẻ
tượng trưng
cho sự mới mẻ,
sự tươi mát,
sự tiến bộ…
Những đặc tính
này giống như
khoa học với
cuộc sống
con người. Khoa học
phát minh ra bánh
xe, cuộc sống
con người được
nhẹ nhàng
nhanh chóng; khoa học
phát minh ra điện,
cuộc sống có
thêm nhiều
tiện nghi; khoa học
phát hiện ra
những hạt vật
chất: Nguyên
tử, phân tử,
proton, neutron, électron, v.v…
Con người có
máy vi tính,
có vệ tinh
nhân tạo… nhưng
cho đến nay khoa học
chưa phát hiện
được Tâm là
gì, mặc dù
điều này
đức Phật nói
riêng và những
thiền sư nói
chung đã biết
cách đây mấy
ngàn năm rồi!
Những nhà
khoa học cho rằng
Tâm là bộ
não. Nói một
cách cụ thể
Tâm là trái
tim do bộ não điều
khiển nhưng
đức Phật nói
Tâm điều khiển
và vận hành
bộ não. Trái
tim cũng như
bộ não, chỉ
là một cơ
quan của thân, không phải
là Tâm. Rồi
Ngài còn nói
“Thân với Tâm là
một”.
Những nhà
khoa học phải
dùng viễn vọng
kính để nhìn
xa, phải dùng
điện thoại
viễn liên
để nghe tiếng
nói từ ngoài
ngàn dặm, và
tất cả những
phương tiện
hiện đại này
chỉ mới có
từ vài trăm
năm nay. Trong khi bằng
năng lực Thiền
định, đức Phật
và những vị
Thiền sư ở
thời đại Ngài
đã làm
được. Quý Ngài
có thiên
nhãn thông (divine eyes) có thể
thấy cùng khắp,
có thiên nhĩ
thông (divine ears) nghe được âm thanh
ngoài ngàn dặm;
quý Ngài còn
có tha tâm thông (đọc
được tâm tư,
tình cảm của
người khác)…
Những điều
này cho đến
nay vẫn còn
là “phép lạ”
đối với cả
những người
bình thường
lẫn những
khoa học gia, vì
bộ não không có
khả năng tạo
ra thần thông. Năng
lực thiền
định cho phép
con người bay được,
lặn được,
đi xuyên qua
tường được…
mà không cần
đến phi cơ,
tàu ngầm, máy
đào đất, v.v…
cho nên nói:
“Bộ óc không phải
là Tâm, càng
không thể điều
khiển Tâm”. Người
ta không thể thấy
Tâm nhưng năng
lực của Tâm
xuyên qua việc
thực tập Thiền
và ứng dụng
Thiền vào
đời sống, vào
việc trị liệu
những “bệnh
thời đại” làm
cho ngày càng
có nhiều người
tìm hiểu,
nghiên cứu
Phật giáo, một
tôn giáo hay một
triết thuyết
rất kỳ diệu
nhưng cũng rất
thực tiễn.
Giống như điện,
không ai thấy nhưng
ứng dụng của
nó thật là
cùng khắp và
đa dạng: Điện
vào thì đèn
sáng lên, vào
bàn ủi hay lò
sưởi thì nóng,
vào tủ lạnh
hay máy lạnh
thì lạnh ngắt,
vào radio thì
cho ra tiếng, vào
Tivi thì tạo
ra cả hình và
tiếng, v.v…
Thật đúng là
“thiên biến
vạn hóa”.
Xin mời quý vị
và các Bạn
theo dõi cuộc hội
thoại bỏ túi
giữa các
huynh trưởng trẻ
A,B,C bàn về
Phật học và
khoa học.
A: Chào các
bạn! Đề tài
của chúng ta
hôm nay là gì đây?
B: Các em của
mình hỏi rằng
tại sao không nói
“khoa học tiến
gần đến
đạo Phật” mà
lại nói “đạo
Phật tiến gần
đến khoa học”?
C: Thật là
nhiều chuyện
quá! Cậu cho
mình biết
đi, hai câu ấy
có gì khác
nhau?
B: Đúng vậy,
mình cũng
đã hỏi em
ấy như thế
và nó trả
lời: đức Phật
biết trước,
nói trước,
khoa học bây giờ
mới khám phá
ra; cũng như
nói “em giống
Ba em” đúng hơn
là nói “Ba
em giống em”.
A: Tụi nhỏ
bây giờ lý sự
thật, thôi đừng
cãi với các
em ấy nữa,
coi như “khoa học
và đạo Phật
tiến gần lại
với nhau” cũng
được, nhưng
chúng ta cần
nói đến những
vấn đề gì
liên quan đến
đạo Phật và
khoa học đây?
C: Dạ, các
em bảo rằng
đức Phật nói
Ngài là vị
lương y chữa
lành tâm bệnh,
nhưng các
anh chị nói
Ngài cũng chữa
lành thân bệnh
nữa.
A: Đúng vậy,
vì Ngài
đã dạy thân
với tâm là một
mà! Em trả lời
sao?
B: Em nói
Ngài có thể
chữa lành cả
tâm bệnh lẫn
thân bệnh và ở
Mỹ tâm bệnh
còn trầm trọng
hơn cả thân
bệnh. Em còn
ví dụ nữa:
Tâm bệnh thì
như là bệnh
trầm cảm
(depression), bệnh bị
áp lực quá
nặng vì công
việc, vì phiền
muộn (stress)…
C: Em còn nói
thêm vài số
liệu ví dụ
như hằng năm,
nước Mỹ đã
phải chữa trị
15 triệu người
bị bệnh trầm
cảm trong đó
có 30.000 người
tự tử, các
bác sĩ đã phải
viết chừng
185 triệu toa thuốc
trong năm 2005 và
hằng năm,
ngân sách y tế đã
phải tiêu 83
tỉ dollars (USD) cho bệnh
này (gồm tiền
chữa trị và
mất năng suất
làm việc, thời
gian nghỉ việc
và tự tử…)
A: Các em
chịu khó sưu
tầm số liệu
thật giỏi
đó! Nhưng các
em phải nói
từ từ cho các
em nhỏ hiểu
ưu điểm
của Phật giáo
trong việc giúp
chữa trị bệnh
là như thế
nào chứ!
B: Dạ phải!
Nhiều bác sĩ
(hay nhân viên chăm
sóc sức khỏe)
khuyên bệnh
nhân của mình
thực hành
Thiền để chữa
trị những chứng
bệnh như:
Đau nhức
thân thể hay tay chân do bệnh
tật gây ra; các
chứng lo âu, trầm
cảm, hay căng
thẳng tinh thần;
cao huyết áp
(high blood pressure - Bộ Y tế
Hoa Kỳ đã đề
nghị thực hành
Thiền là bước
quan trọng trong chương
trình giảm
huyết áp); bệnh
hay quên, v.v...
A: Thiền tập
chú trọng cả
về huấn luyện
tâm và thân; sự
vận động thể
lực giúp làm
gia tăng lượng
oxyt nitric trong máu (NO) vì
chất này có
khả năng phòng
ngừa tự nhiên
cho những bệnh
về tim mạch,
không cần dùng
thuốc.
C: Thưa
anh, Thiền là
pháp môn của
Đại thừa hay
Tiểu thừa?
Phật giáo
Tây Tạng là
Nam tông hay Bắc tông?
B: Bạn quên
rồi sao? Phật
giáo Tiểu thừa
còn gọi là
Nam tông, là Phật
giáo (PG) truyền
xuống các nước
ở phía Nam
(Thái Lan, Miến
Điện, Cambốt,
Lào...) với
các Kinh điển
bằng tiếng
Pali còn PG Đại
Thừa hay còn
gọi là Bắc
tông là Phật
giáo được
truyền qua các
nước ở phía
Bắc như Mông
Cổ, Trung Hoa, Tây Tạng,
Nhật bản,
Korea, Việt Nam…
với các Kinh
điển viết
bằng Sanskrit (Bắc
Phạn) .
A: Đúng vậy,
PG Tây Tạng là
PG Đại thừa.
Thiền thì
không của riêng
tông phái hay tôn giáo
nào cả. Trước
đức Phật
đã có rất
nhiều đạo sĩ
tu Thiền, nhưng
khi PG xuất hiện
thì Thiền PG
khác với thiền
ngoại đạo như
chúng ta đã
có lần bàn
đến. Chẳng hạn
như cách thực
hành thiền của
một ông
Shogun khác với
Thiền tập của
GĐPT chúng
ta vậy… À, các
em có nhớ đức
Đạt-lai Lạt-ma
14 (ĐLLM 14) đã
nói gì với
trên 10 ngàn
nhà thần
kinh học tại
thủ đô Washington DC không?
C: Dạ có.
Ngài nói rằng,
Tâm con người được
huấn luyện có
khả năng rất
lớn lao trong việc
chuyển hóa
những cảm xúc,
tư tưởng, tình
cảm… do vậy,
có thể giúp
ích rất nhiều
cho khoa thần kinh .
B: Ngài còn
nói rằng dựa
trên những bản
báo cáo về
các cuộc
nghiên cứu
thần kinh học
sơ khởi về
cách luyện
Tâm, thì chỉ
cần thực hành
giản dị sự
chú tâm đều
đặn (concentration, meditation) hay chú
ý nuôi dưỡng lòng
từ bi là có
thể đưa đến
những thay đổi
trong não bộ, mà
những thay đổi
này có thể
quan sát được
và đo lường
được nữa (bằng
máy móc).
A: Phải, Ngài
còn cho biết
những khám
phá mới
đây của khoa
thần kinh học
đã chứng
minh tính cách
mềm dẻo của
bộ não; truyền
thống Thiền
quán của Phật
giáo cũng giúp
nới rộng
lãnh vực nghiên
cứu khoa học
này qua những
phương pháp
huấn luyện
Tâm liên hệ đến
sự thay đổi
bộ não. Ví dụ,
thiền quán có
thể làm thay
đổi hoạt
động các khớp
sợi thần
kinh cùng sự
sinh ra các tế
bào thần
kinh mới trong bộ
não.
C: Ngài còn
nói rằng sự
hiểu biết
sâu sắc về
Tâm giúp con người
hiểu biết về
giáo dục và
sức khỏe tâm
thần. Ví dụ,
khi Tâm được nuôi dưỡng
và thường
xuyên tưới tẩm
bằng lòng từ
bi, tận gốc
rễ nhận thức
của người thực
hành sẽ tạo
sự cảm thông
với những người
khác, và điều
này còn
đưa đến những
tác động có
lợi ích lớn
lao trong xã hội, như
ý thức về
tinh thần đồng
đội, tình
đoàn kết,
v.v…
B: Thiền
đã được thực
hành hằng ngàn
năm tại những
nước Á Đông,
tại sao không áp
dụng để chữa
bệnh như người
Tây phương hở
anh?
A: Tại sao
không? Do chúng ta không
để ý nghiên
cứu đó thôi,
những phương
pháp trị liệu
trong Đông Y áp
dụng Thiền có
rất nhiều, nào
là Khí công
tâm pháp, Tai chi, nào
là Thái cực
quyền, Dịch
cân kinh, v.v... nhằm
đào luyện cả
về thể chất
lẫn tinh thần
nữa. Tây Y như
chúng ta đã
nói trên cũng
áp dụng Thiền
trong các chương
trình phát
triển sức khỏe
và ở hải ngoại
cũng có nhiều
vị Thiền sư
Tây phương rất
xuất sắc.
C: Dạ phải,
người ta nói
tập khí công
tâm pháp 5 ngày
mỗi tuần sẽ
giúp những
người đã 75
tuổi và trước
đây chưa thực
hành vận
động ít bị
lãng trí hơn
những người
không luyện tập.
Nhưng khí
công tâm pháp đâu
có phải là
Thiền Phật
giáo hở
anh?
B: Phải rồi,
đây là Thiền
nói chung, đó
là tại mình
hỏi anh về
“thiền chữa
bệnh” không nói
riêng về Thiền
Phật giáo .
C: Vậy xin
anh nói thêm
về chức năng
tâm lý trị liệu
của Phật Pháp
cho em nghe với.
A: Thiền Phật
giáo đã
được thực hiện
hằng ngàn năm
để đem lại sức
khỏe và an lạc
cho thiền sinh, gồm
có hai dạng:
Thiền tĩnh lặng
và thiền hoạt
động; Thiền
tĩnh lặng là
ngồi yên một
chỗ trên bồ
đoàn, lại
có hai loại:
Thiền chỉ và
Thiền quán.
Thiền chỉ đơn
giản nhất là
chú tâm vào
hơi thở vào
hơi thở ra…
còn Thiền quán
thì để tâm buông xả,
rộng mở, tự
nhiên… Thiền
hoạt động như
là thiền hành,
đi bộ mà
chú tâm vào
hơi thở và
bước chân, hay chuyển
động chân tay với
sự phối hợp
nhịp nhàng của
hơi thở như
trong Thái cực
quyền hay Khí
công hay Dịch cân kinh, v.v... và
ở đây đã có
những báo cáo
cụ thể những
trường hợp
Thiền (tập Dịch
cân kinh, tập Thái
cực quyền, tập
khí công… chữa
lành bệnh
ung thư nữa
đó).
B: Ngoài
ra, tụng Kinh, niệm
Phật, trì Chú,
lạy hồng
danh, lạy vạn
Phật, v.v... cũng
đều là một
dạng của Thiền
Phật giáo phải
không anh?
A: Đúng vậy,
đó là thuộc
về Thiền hoạt
động. Hiện
nay ở Tây phương
Thiền cũng
đã được
áp dụng rất
phổ biến
không chỉ trong các
thiền viện mà
cả trong các
bệnh viện nữa.
C: Em nghe nói
có môn tâm lý trị
liệu dùng Phật
pháp (Buddhist Psychotherapy) phải
không anh? Cái này
như thế nào?
Anh có thể
cho chúng em nghe một
ví dụ dễ
hiểu không?
B: Đó là
dùng phương
pháp hướng dẫn
bệnh nhân quán
chiếu về từ
bi và vô ngã để đối
trị với phương
pháp chữa trị
dựa trên mô
hình hữu ngã
(self-psychology) lâu nay đã
đưa đến hay
làm tăng thêm
những xung đột
tâm lý phức tạp,
có phải
không anh?
A: Đúng vậy,
đó là phương
pháp giúp bệnh
nhân phát triển
tâm Từ và hướng
ngoại, quên
mình để nghĩ
đến và giúp
đỡ những người/vật
chung quanh, hay hướng
đến môi trường
chung quanh (cây cỏ, hoa lá…)
và kết quả
là chính lòng
vị tha đã giúp
họ khỏi bệnh.
C: Dạ, em cũng
có nghe là năng
lực “cho” còn
mạnh hơn là
năng lực “nhận”
nhưng em chưa
hiểu hết.
A: Bác sĩ
David Brazier kể chuyện
một bệnh
nhân già yếu,
tiều tụy vì
bệnh trầm cảm
(depression) không chịu
ăn uống, chỉ
uống rượu suốt
ngày, có thể
nói là “vô
phương cứu
chữa”; khi nhìn
thấy con chó
của ông ta tuy bệnh
nhưng mập mạp
vì ăn uống
đầy đủ hơn
chủ, bác sĩ
biết ngay rằng
ông ta đã dành
nhiều tình
thương cho con chó.
Thế là bác
sĩ cùng với
bệnh nhân săn
sóc con chó,
mỗi ngày cùng
với bệnh
nhân đem chó đi
bác sĩ thú
y và giao cho bệnh
nhân trách nhiệm
cho chó ăn và
uống thuốc
đúng giờ… Dần
dần, bệnh
nhân bắt đầu
ăn uống trở
lại, đã biết
tự chăm sóc
cho mình và
khỏi phải
ở lại
điều trị
trong bệnh viện
tâm thần như
trước.
B: Thế mới
biết con người
ai cũng có
khả năng thương
yêu nhưng
không có hoàn
cảnh để phát
huy nên những
hạt giống từ
bi bị ẩn giấu
quá sâu anh hở?
Chữa bệnh có
khi là làm
cho những hạt
giống đó trồi
lên để phát
huy tác dụng
của chúng là
được rồi phải
không?
A: Phải
đó, bác sĩ
còn nói rằng
khi con người cảm
thấy mình thừa
thãi, vô dụng vì
không thể cống
hiến điều
gì cho người
khác nên họ
thường có ý
định tự tử.
C: Thời
đại này có
nhiều bệnh
thật kỳ lạ,
ví dụ như
bệnh “mất chú
ý” ADHD (Attention Deficit Hyperactive Disorders) và
nghe nói thuốc
trị bệnh này
đưa đến việc
làm tăng tỷ
lệ tự tử
nơi trẻ em?
Chuyện này là
như thế nào
hở anh?
A: Trẻ em
xao lãng việc học,
ham chơi quá
mức, quá năng
động đến một
giới hạn nào
đó thì bị
gán cho cái
bệnh đó và
hàng ngày phải
uống thuốc
Ritalin khi đến trường.
Nguyên nhân chính
của bệnh là
do những trò
chơi quá mạnh
trên máy vi
tính (games, những
hình ảnh bạo
động trong các
phim trên TV…
kích thích tính
năng động nơi
các em vốn
đã sẵn có.
Đã có báo
động về việc
tăng tỷ lệ
tự tử nơi
các trẻ em uống
quá nhiều các
loại thuốc
trị bệnh
ADHD. Vì vậy,
có nhiều bất
lợi nếu lạm
dụng thuốc
men, nhất là đối
với những
tâm bệnh.
B: Người ta
nói ngài
ĐLLM 14 là một
bác sĩ giỏi
về phân tâm học
và về bệnh
tâm thần có
phải không anh?
A: Đức
ĐLLM 14 tuy không phải
là một bác
sĩ y khoa nhưng
ngài có tâm
từ rộng lớn,
Ngài có thể
xem người khách
đối diện và
Ngài là một.
Nhiều người
nói gặp
được Ngài là
bao nhiêu phiền
muộn đều rơi
rụng hết.
Đây là nguyên
tắc tối
ưu về chữa
tâm bệnh mà
Tây phương vẫn
mong đạt đến:
Bác sĩ chữa
tâm bệnh (psychotherapist) và
bệnh nhân trở
thành một thực
thể duy nhất.
Như vậy, bác
sĩ có thể
quán chiếu
sâu vào tâm thức,
tiềm thức,
vô thức… của
bệnh nhân để
biết nguyên
nhân sâu xa của căn
bệnh và cách
chữa trị.
C: Như vậy
quý tu sĩ Phật
giáo, quý Thầy
của mình…
cũng có thể
làm được chứ
anh hở?
A: Phải rồi,
quý Thầy của
mình có thể
đóng vai trò tích
cực hơn,
quan trọng hơn
trong việc điều
trị tâm lý hỗn
loạn càng ngày
càng gia tăng.
B: Nhiều người
nói rằng
đối với các
em GĐPT (trách
nhiệm của
anh chị em chúng
ta) cũng như đối
với quần chúng
Phật tử (trách
nhiệm của
quý Thầy) phải
giảng như thế
nào cho Phật
Pháp đi vào
lòng xã hội,
phải dùng những
từ, những ví
dụ cụ thể
gần gũi…
để họ thấy
hấp dẫn, chứ
cứ nói phải
dẹp tham sân si…
mà không chỉ
cách dẹp như
thế nào thì
họ dễ thấy
nản lắm…
C: Dạ,
đúng vậy. Người
ta nói rằng
quý Thầy tu theo đạo
Phật rất giỏi
về tâm lý vì
họ có cả
bộ Tạng luận
Abhidharma cũng như
Duy thức là
những tác phẩm
ưu việt của
Phật giáo
trong sự phân tích
tâm lý con người thật
hoàn chỉnh.
Theo đó, quý Thầy
có thể tìm
được phương
pháp tối
ưu trong việc
chữa trị tâm
bệnh.
A: Và chính
lối sống an
lạc (cư trần
lạc đạo) của
từng Tăng sĩ
hay lối sống
tập thể hòa
hợp của Tăng
đoàn là
tấm gương sáng
cho mọi người,
là một thí
dụ điển hình
về thân giáo
mà khó có
một bác sĩ
tại gia nào
theo kịp. Lần
sau, chúng ta sẽ
bàn về việc
làm cho Phật
pháp trở nên
gần gũi và
hấp dẫn hơn
đối với tuổi
trẻ nha! Hôm nay như
vậy cũng tạm
đủ rồi. Tạm
biệt!
B và
C: Tạm biệt!
Tạm biệt!■
Kính thưa
quí vị và
các bạn
Mãi đến vài
chục năm gần
đây thế giới
mới chú ý
đến người phụ
nữ, nhất là
từ khi họ
tham gia vào các
phi hành đoàn
thám hiểm mặt
Trăng, hay khi họ
là những vị
nguyên thủ
quốc gia, hay họ
là những
khoa học gia, chính
trị gia, những
khuôn mặt nổi
bật, hay có
mặt trong các
hạ viện, thượng
viện của các
quốc gia... Nhưng
riêng Phật
giáo, không có
phân biệt nam nữ
kiểu “trọng
nam khinh nữ” của
đức Khổng Tử
mà trái lại,
vai trò người
phụ nữ đã có
một vị trí
đặc biệt, ví
dụ như trong
kinh Thắng Man, người
phụ nữ đã
được đề cao
về cả tình
yêu (từ bi)
lẫn trí tuệ;
như một người
tiên phong đi
hoằng dương
Chánh pháp và
bảo vệ giáo
lý Đại thừa.
Bối cảnh tình
yêu và niềm
tin của người
phụ nữ chớm
nở là từ
những hạn chế
của tình cảm
thế tục (như
ở Thắng Man phu nhân là
tình yêu giữa
cha mẹ và
con cái) nhưng
đã được hướng
dẫn đến một
tình yêu bao
la hơn, cao thượng
hơn. Đó chính
là tình yêu
tuyệt đối của
chư Phật, chư
Bồ-tát
đối với chúng
sanh, là tình
mẹ dành cho
đứa con duy nhất
của mình.
Trên thực
tế, Phật giáo
cũng đã có
nữ tu sớm nhất,
đó là vào
thời đức Phật
cách đây hơn
hai ngàn năm
trăm năm, với
những vị nữ
đệ tử xuất
sắc của
đức Phật như
thánh nữ
Patacara, Dhammadima, Khema, Vasethi, Uppalavanna…
hoặc những nữ
đại thí chủ
như Visākhā,
Suppiyā…
Tuổi trẻ
Phật giáo hải
ngoại nói
chung, các em đoàn
sinh GĐPT hải
ngoại nói riêng,
không hề biết
chuyện người
phụ nữ bị
ngược đãi,
thậm chí ở
nhiều nước,
họ không có
quyền làm người
nữa! Vì ở Mỹ,
Pháp, Anh, Đức
v.v… người
phụ nữ không
khác gì nam
giới trong tất
cả mọi lãnh
vực, đặc biệt
có nhiều
“single mother” rất xuất
sắc trong việc
đào tạo con
cái của mình.
Vấn
đề một số
người Việt
Nam đem bán
con em của mình
qua các nước
Đông Nam Á, đặc
biệt là qua
Trung Quốc và Đài
Loan, đã gây phẫn
nộ trong dư
luận thế giới,
một số báo
chí và đài
TV đề cập
đến. Do vậy,
các em huynh truởng
trẻ muốn tìm
hiểu vai trò
người phụ nữ
trong Phật giáo
có gì khác
biệt với
đời thường
không, qua buổi hội
thoại bỏ túi
giữa các anh
chị em cùng
Đơn vị.
Xin mời quí
vị và các
bạn theo dõi để
chỉ giáo
cho!
A: Chào các
bạn! Hôm nay chúng
ta có buổi hội
thảo nhỏ phải
không, về vấn
đề gì?
B: Vai trò
người phụ nữ
trong Phật giáo.
C: Phải
đó, đề tài
này đang là
“điểm nóng”
đó các bạn
à!
A: Vai trò
người phụ nữ
rất quan trọng,
không chỉ trong Phật
giáo mà các
tôn giáo khác
cũng vậy, các
bạn không thấy
sao?
B: Sao bạn
nói vậy? Các
tôn giáo khác
đâu có coi
trọng người
phụ nữ, nhất
là về tài
năng và trí
tuệ; người
phụ nữ đâu
được đặt
ngang hàng với
nam giới? Ngoài
ra, có người
còn cho rằng
người phụ nữ
không trong sạch như
người nam, còn
cấm họ vào
các đền thờ
nữa!
A: Đó là
hai vấn đề
khác nhau; tôi nói
đây là chúng
ta thấy trong phần
nhiều các
tôn giáo hình
ảnh Mẹ được
tôn thờ, tôn giáo
nào cũng có
“Mẹ”, Thiên
chúa giáo thì
có Mẹ
Maria, Phật giáo
thì có “Mẹ
hiền Quan Âm,” đạo
của người Chàm
thì có Thánh
nữ Thiên Y
Ana…, đó là
hình ảnh người
phụ nữ chứ
còn gì nữa,
phải không?
C: Phải
đó, tôi đồng
ý! Nhưng Phật
giáo không chỉ
dừng lại
ở việc
đề cao Mẹ, còn
nói về “thánh
thai” hay Như Lai tạng
v.v... nữa.
B: Đúng vậy.
Các bạn có
biết tại sao
có người nói
mẹ là người
dạy cho chúng
ta (đứa con) bài
học đầu tiên
về từ bi, về
“cho” - kiểu như
bố thí
Ba-la-mật vậy
đó, hay không?
A: Tôi hiểu
rồi, hình
ảnh mẹ nuôi
lớn hài nhi
chính là ý
nghĩa rất
sâu sắc của
“cho” và “nhận.”
Thật vậy,
khi baby được sinh ra, mẹ
cho nó hai bầu
sữa ngọt, nó
lấy (take) nhưng
không phải là
“nhận” (receive);
đối với mẹ
thì đó là hành
động từ bi
thật sự, còn
đối với chúng
ta (baby) thì đó là
phản ứng tự
nhiên, nhờ sữa
mẹ để sống còn.
C: Tôi cũng
hiểu rồi! Hành
động ấy
không chỉ ở con người
mà ở cả muôn
loài, như
con khỉ, con vượn
cũng biết
nuôi con của nó
bằng sữa của
mình vậy,
đó chính là
lòng từ bi gần
gũi nhất, nhỏ
nhiệm nhất
thể hiện qua
tình mẫu tử,
có phải như
vậy không?
B: Phải
đó! Người mẹ
“cho” mà không hề
có ý nghĩ được
đền đáp,
đứa con thì
“lấy” vì cần
thiết chứ
không nghĩ đến chiếm
hữu để làm
của hay để làm
giàu làm có
gì cả! Thế
rồi, đứa bé
lớn lên và
tiếp tục lấy,
lấy để bồi
dưỡng cơ thể,
bồi dưỡng
tinh thần và
trí óc, lấy
để sống.
Đó không phải
là tinh thần
bố thí chân
chính mà mình
đã học sao?
A: Đúng vậy,
tình mẹ tuy
rất bình thường,
nhỏ nhoi và
tự nhiên, loài
vật cũng biết
yêu thương và
bảo vệ con mình,
nhưng đồng
thời cũng là
hương vị ngọt
ngào nuôi lớn
thánh thai của
Bồ-tát.
C: Trong ý nghĩa
đó, tình yêu
của mẹ nói
riêng được
đồng hóa với
Như Lai tạng,
cái bào thai
cưu mang để
sinh trưởng những
phẩm tính siêu
việt của Như
Lai, của những
đấng Giác ngộ
và Cứu thế.
B: Những
điều bạn
vừa nói
đó là trong
kinh Thắng Man phải
không? Vai trò của
phụ nữ trong
Phật giáo có
thể minh chứng
rõ nét nhất
trong kinh này.
A: Phải
đó, vì nói
đến phái nữ
là nói
đến sự dịu
dàng, tình yêu,
tình mẫu tử…
không phải chỉ
nói đến thuần
trí tuệ và
theo Phật giáo,
chân lý chỉ có
thể đạt được
bằng tình yêu
có nội dung
trí tuệ chứ
không phải thuần
bằng trí tuệ.
C: Đúng thế!
Và nói về
người nữ cũng
là nói về
đức tin vững chãi của
họ nữa. Chính
đức tin đã hướng
dẫn họ con
đường đi vào
đại dương của
trí tuệ;
đức tin hay sự
tin cậy của
người nữ là
đặt tất cả
sinh mạng mình
vào nơi nương
tựa duy nhất,
đó là Tam bảo,
một khi họ đã
quay về và nương
tựa (quy y)
B: Thật là
hay quá, cảm
ơn các bạn
đã nhắc nhở
về Thắng Man
phu nhân, người phụ
nữ có một
nhân cách đặc
biệt, dám nương
theo uy lực của
đức Phật
để nói lên
tiếng nói của
chân lý, xiển dương
giáo lý Đại
thừa và được
đức Phật
ấn chứng là
“đứa con chân thật
của Như
Lai”, được Ngài
cho rằng tiếng
nói của Thắng
Man phu nhân là tiếng
sư tử hống
v.v... đề cao vai trò
của người phụ
nữ trong Phật
giáo, nhưng
chúng ta cũng
phải trở lại
vấn đề chúng
mình vừa nêu
ra: người phụ
nữ gần gũi
chúng ta nhất,
người mẹ, chính
là người
đầu tiên
đã dạy
đứa con biết
“cho” và “nhận”
theo tinh thần Kim Cang, Bát-nhã
hay nói to tát
hơn là Bố
thí Ba-la-mật.
A: Thật vậy,
nói về kinh
điển Phật
giáo thì đúng
là biển rộng
bao la không ai dám nói
mình đã biết
được hết nhưng
nếu chúng ta
chỉ học giáo
lý mà không áp
dụng vào cuộc
sống thì cũng
không ích lợi
gì. Vì vậy,
bạn B nói
đúng đó, chúng
ta hãy tiếp tục
thảo luận về
những việc
nhỏ nhặt hằng
ngày thông qua quan hệ
mẹ con nha! Nói
cách khác, mình
đã học
được rất nhiều
về Phật pháp
qua vai trò của
người mẹ, của
tình mẫu tử,…
nếu mình biết
quan sát, suy gẫm
và thực hành.
C: Đồng ý!
Xin tiếp tục:
đứa trẻ “lấy”
và bà mẹ
“cho,” sự việc
này mới nhìn
qua thì thấy
giống như
không cùng chiều
nhưng “cho” và
“nhận” thì
luôn đi đôi
vì có khi người
cho chính là
người nhận và
ngược lại,
người nhận lại
chính là người
cho.
B: Phải rồi!
Như trong câu chuyện
“bà già cúng
đèn”, thật
ra là ai cho ai? Bà
lão ăn xin “cho”, nghĩa
là cúng dường
Phật, hay đức
Phật cho? Anh chị
em chúng ta đều
biết rõ trong trường
hợp này
“cho” chính là
“nhận” và ngược
lại, phải
không?
A: Tương tự
như vậy, tôn
giả Mục-kiền-liên
đã dùng thần
thông để khiến
cho một bà
lão “keo kiệt” mở
rộng lòng ra
bố thí cho
Ngài một cái
bánh chiên,
để gây nhân bố
thí, tránh
được cảnh
nghèo hèn do
tâm keo kiệt dẫn
đến trong tương
lai nữa! Chính
là Ngài
đã “cho” bà
lão kia chứ không phải
bà cho Ngài.
C: Câu chuyện
này làm mình
chợt nhớ ra
rằng nói gì
thì nói, người
phụ nữ hình
như “nhỏ mọn”
và bỏn xẻn
hơn đàn ông
nhiều, có đúng
không? Tại sao văn
chương và
tôn giáo lại
ca tụng lòng
từ bi của họ
chứ?
B: Không phải
ca tụng lòng
từ bi của họ
mà nói rằng
tình mẫu tử
có thể so sánh
với lòng từ
bi; bạn có
lý khi nói rằng
phần đông phụ
nữ có tính
nhỏ mọn hơn
đàn ông, ví
dụ như ích kỷ,
cố chấp,
v.v... tuy nhiên đối
với đứa con
của mình thì
họ có thể
hy sinh cả thân mạng
không cần đắn
đo suy nghĩ.
A: Đúng! Và
nghĩ cho cùng,
bất cứ hành
động gì của
chúng ta cũng
không ngoài “nhận”
và “cho”! Vậy,
mình trở lại
ý nghĩa cho và
nhận đây: người
ta “nhận” nhưng
nhận để làm
vui lòng người
khác, trong trường
hợp này
“cho” chính là
“nhận” và
“nhận” chính
là “cho”.
C: Như vậy
“cho” và “nhận”
làm nên một
phần của chu
kỳ cuộc sống;
giống như nước
bốc hơi thành
mây rồi mây làm
mưa rơi xuống
tạo nên những
con sông cho lại nước…
nước lại bốc
hơi…
B: Và kết
quả là số
không? (zéro)
A: Đúng vậy,
nhưng cái chính
yếu là chúng
ta cảm nhận
được rằng
“không” ở đây không phải
là “không có
gì cả” mà
là đã trải
qua một sự
trao đổi không có
đối tượng trao
đổi, không có được
- mất, nhưng
có chiều hướng
đem lại an lạc
cho mọi người.
Được vậy thì
tập thể hay
cộng đồng sẽ
sống trong an vui .
C: Tôi hiểu
rồi, muốn vậy,
chúng ta phải
quan tâm đến những
người chung quanh, phải
ra khỏi tháp
ngà tự ngã,
phải hướng lòng
mình ra ngoài,
mở rộng lòng
ra v.v... để biết
“cho” cũng như
“nhận,” phải
không?
B: Chính thế!
Bản ngã (Ego) chính
là nguyên
nhân sâu xa nhất của
sự bất hạnh
của mỗi người.
“Cho” là làm
cho bản ngã phồng
lên, còn “nhận”
là làm cho bản
ngã xẹp xuống.
Chúng ta phải
quán sát
“cho” và “nhận”
giống như thủy
triều lên và
xuống mỗi ngày.
Chúng ta cũng
nên suy gẫm
và trả lời
câu hỏi “tại
sao thời còn
đức Phật, Ngài
dạy chư Tăng
đi khất thực
mỗi ngày?” và
ý nghĩa của
khất thực
…
A: Phải rồi,
chúng ta phải
thực tập quán
về đề tài
“khất thực”
của chư Tăng
như bạn B
đề nghị.
Đến đây là
tạm đủ về
bài học
“cho” và “nhận”
nghĩa là
quan hệ hằng
ngày giữa chúng
ta với tha nhân-hình
ảnh người mẹ
cho đứa con của
mình bầu sữa
ngọt là hay
nhất và cách
nhìn cho và
nhận, lên và
xuống v.v…
giúp cho sự
thanh lọc tư
tưởng của mình,
cảm nhận
đời sống một
cách mới mẻ
hơn. Bây giờ,
chúng ta hãy nói
thêm về vai
trò của người
phụ nữ trong
Phật giáo, có
nghĩa là tại
sao Phật giáo
không quan niệm người
phụ nữ “làm
ô nhiễm những
chốn linh thiêng”
như ở vài
tôn giáo khác?
C: Học kinh
Thắng Man, chúng
ta thấy rằng
sự ô nhiễm
hay không ô nhiễm nằm
nơi tự tâm,
không phải nơi
hình tướng mà
tự tâm vốn
thanh tịnh, không ô nhiễm.
Vì vậy, sự
ô nhiễm hay không ô nhiễm
này vượt ra
ngoài khả năng
suy luận của
trí tuệ con
người. Chỉ có
thể cảm nghiệm
được bằng tình
yêu chân thật
và tâm lượng
bao dung của bà
mẹ. Vì vậy,
muốn đi con
đường của Thắng
Man phu nhân (Bồ-tát
đạo) phải là
hạng người có
đức tin nhiệt thành
và vững chắc,
muốn có đức
tin như vậy
thì phải có
sự tác
động của một
tình yêu sâu
đậm và càng
lúc càng tỏa
rạng bóng mát.
B: Đúng vậy,
cho nên tình
yêu, tuy xuất
phát từ những
rung động vị
kỷ, tự lợi,
hẹp hòi,…
lúc ban đầu
cũng được
chuyển hóa,
thăng hoa để
trở thành
tâm đại bi rộng
lớn như tấm
lòng bao dung của
mẹ, muốn ôm
đứa con vào
lòng; nói
theo Duy thức là
“do thức biến”:
từ một tâm tư
nhỏ hẹp luôn
đuổi bắt
những hình
ảnh hư ảo của
sinh tử, dần
dần thức tự
biến đổi bản
chất chuyển
thành trí tuệ
không phân biệt.
A: Nói tóm
lại, mặc dù
Bồ-tát
đạo là con
đường khó đi,
nam nhi coi bộ không phải
ai cũng theo được,
nhưng với
đức tin nhiệt
thành và tình
yêu rộng lớn,
người phụ nữ
có thể đi trọn
con đường này
như Thắng
Man phu nhân vậy.
C: Bằng tình
yêu và đức
tin kiên cố,
Thắng Man phu nhân
đã cảm hóa
được chồng là
vua Hữu Xứng
và cũng bằng
tình yêu
ấy mà cảm
hóa đuợc
nhân dân trong phạm vi lãnh thổ
của mình, thậm
chí con nít
mới lên bảy
cũng có thể
thực hành Bồ-tát
đạo.
B: Thế giới
không bao giờ thiếu
vắng tình mẹ
nhưng biết
bao giờ mẹ
Thắng Man mới
xuất hiện
trong sa mạc sinh tử
nóng bỏng của
hành tinh chúng
ta đây?
A: Bạn muốn
nói chúng ta
đang bàn về
một nhân cách
lý tưởng của
người phụ nữ
và “vai trò
người phụ nữ
trong Phật giáo”
là vai trò của
người phụ nữ
“viết hoa” chứ
không phải một
người phụ nữ
bình phàm?
B: Đúng thế!
C: Thì phải
rồi! Thảo luận
bao giờ cũng
trên cơ sở
tuyệt đối,
lý tưởng, chứ
nói chuyện
đời thường
thì… buồn quá,
đâu có gì
để nói phải
không? Tệ trạng
đem bán con
em của mình
như một
đồ vật hay một
con vật mà
không có Thắng
Man phu nhân nào…
ngăn chận nổi,
không phải đáng
buồn sao?
A: Thế thì
chúng ta tạm
ngưng câu chuyện
ngang đây nha! Được
không?
B: Được chứ!
Dù sao mình
cũng đã ôn lại
nhiều điều
hay qua nhân cách Thắng
Man và những
bài học về
“cho” và “nhận”.
Xin cảm ơn và
tạm biệt các
bạn!
A và C: Tạm
biệt! Tạm biệt!■
30. Tết
Trung Thu
Kính thưa quý vị và các bạn,
Tuổi trẻ Việt Nam hiện nay rất
ít biết về văn hóa dân tộc nói chung, về những lễ hội cổ truyền
của người Việt nói riêng. Thật vậy, các em rất rành nguồn gốc
ngày lễ Noel (Christmas) hay ngày lễ Tình nhân (Valentine’s
Day)…, nhưng những ngày lễ Việt Nam như Tết Đoan Ngọ hay Tết
Trung Thu thì rất ít em biết. Rất ít em biết tại sao có lễ hội
Trung Thu, tại sao có bánh Trung Thu, rước đèn Trung Thu v.v...
Gia đình Phật tử (GĐPT) ngoài những ngày đại lễ, ngày Vía… của
Phật giáo, còn tham gia những sinh hoạt cộng đồng nên phải dạy
cho các em biết những lễ hội truyền thống, những ngày tết thiếu
nhi v.v... để các em hiểu được nguồn gốc và ý nghĩa của những
ngày lễ, những cuộc vui ấy.
Riêng về Tết Trung Thu, một cái
Tết của thiếu nhi, còn gọi là ngày trông đợi trăng của các em,
cũng rất đặc biệt với người Phật tử vì trăng và đạo vốn thường
gặp nhau trong thơ Thiền, trong những từ ngữ như “mặt trăng
chân lý” hay “tiêu nguyệt chỉ” (ngón tay chỉ mặt
trăng) nên anh chị em Huynh trưởng GĐPT vẫn tổ chức hằng năm cho
các em đoàn sinh của mình vui Trung Thu trong khuôn viên chùa
hay với các cộng đồng bạn.
Tết Trung Thu tuy bắt nguồn từ
Trung Hoa nhưng khi đến Việt Nam thì ngoài Hằng Nga ra, trăng
Việt Nam còn có thêm Thỏ Ngọc, chú Cuội v.v...
Xin mời quý vị và các bạn theo
dõi cuộc mạn đàm bỏ túi về nguồn gốc và ý nghĩa tết Trung Thu
giữa các Huynh trưởng trẻ GĐPT A, B, C mà chúng ta đã làm quen
trước đây.
A: Chào các bạn, lại sắp đến
Trung Thu rồi!
B: Đáng lẽ đã đến rồi đó chứ,
năm nay trễ vì có tháng bảy nhuận.
C: Phải rồi! Năm nào mình cũng
tổ chức vui Trung thu cho các em mà chưa bao giờ nói về nguồn
gốc, sự tích và ý nghĩa tết Trung Thu cho các em cả, năm nay
chắc chúng ta phải nói đó!
A: Đúng vậy, mặc dù, nếu các em
muốn biết thì chỉ cần vào Net là biết liền, nhưng về phía chúng
ta, muốn nói thì chúng ta phải tập hợp hiểu biết của chúng ta
lại, cử một người đại diện viết xuống rồi mới đem ra đọc hay nói
cho các em nghe được chứ!
B: Vậy thì mình bắt đầu và luân
phiên, chúng ta nối tiếp cho đến khi hết chuyện nói về tết Trung
thu nha! Truyện bắt đầu từ vua Đường Minh Hoàng bên Tàu, vào một
đêm khuya trăng rất sáng của ngày rằm tháng 8 (âm lịch), trăng
thanh gió mát, vua dạo chơi một mình ngoài thành và gặp một ông
Tiên tóc trắng như tuyết; ông vung tay một cái hóa ra một chiếc
cầu vồng một đầu giáp với cung Trăng và đầu kia chấm đất, rồi
mời nhà vua cùng với mình bước lên cầu vồng đi thăm cung Trăng
một chuyến.
C: Thế rồi nhà vua đi lên cung
Quảng dạo chơi, gặp nàng Hằng Nga xinh đẹp như hoa nên khi trở
về vua luyến tiếc cảnh cung Hằng thơ mộng, nhà vua đặt ra tết
Trung thu. Trong nhân gian, vào ngày tết này, người lớn thì uống
rượu, uống trà và ăn bánh để thưởng Trăng, trẻ con thì múa lân
(múa thiên cẩu) từ đó có tết Trung thu và bánh Trung thu.
A: Khi Tết Trung thu đến Việt
Nam thì có thêm nhiều mục nữa: cúng ông bà, phá cỗ, rước đèn,
múa lân. Ban ngày người lớn bày ra nấu nướng làm mâm cơm cúng
ông bà tổ tiên, chiều thì có tục lệ “phá cỗ”; các cô thiếu nữ
khéo tay làm đủ thứ mứt bánh, gọt đu đủ thành hoa thủy tiên, hay
quả này quả nọ, hay nặn bột thành những con vật nhỏ xíu, rồi bỏ
màu xanh đỏ tím vàng trông rất đẹp mắt. Khách được mời đến để
thưởng thức những món ăn ngon và cũng để “chọn” vợ cho con trai
của mình trong các thiếu nữ khéo tay, tài hoa, được coi như đầy
đủ công, dung, ngôn, hạnh… Có khi các chàng trai cũng được mời
đến làm khách nữa.
B: Ban đêm thì thiếu nhi rước
đèn, ca hát vang làm thành phố trở nên vui nhộn. Lồng đèn trung
thu cũng thật là muôn màu muôn vẻ nhưng cái chung vẫn là một
ngọn đèn ở giữa và khung lồng đèn thì đủ hình, đủ cỡ, hình cầu,
hình ông sao, hình bươm bướm, hình cá chép v.v… được phất giấy
gương đủ màu xanh, đỏ, tím, vàng để các em xách đi trong đám
rước cùng với các bạn.
C: Tết Trung Thu đối với làng
quê Việt Nam còn một ý nghĩa khác nữa, đó là ngày Rằm trăng
sáng. Sau vụ mùa gặt hái xong, cha mẹ không còn đầu tắt mặt tối
vì công việc đồng áng nữa. Họ có thì giờ chơi với con cái, cùng
làm lồng đèn, cùng ăn bánh trung thu, cùng thưởng trăng… với
con. Cho nên, ngày Tết Trung Thu không chỉ là tết của thiếu nhi
mà còn là của tất cả gia đình và còn nữa, các bạn có biết bánh
trung thu có những thứ gì không?
A: Biết chứ, bánh trung thu gồm
hai loại: bánh nướng và bánh dẻo. Bánh nướng thì nhân mặn, bánh
dẻo thì nhân chay (bằng đậu xanh không thôi); nhân bánh nướng
thì có đủ thứ hết: nào là hạt dưa, lạp xưởng, vi cá, hạt sen
v.v... nhưng ở giữa có một cái lòng đỏ trứng (thường là trứng
vịt muối) tượng trưng cho mặt trăng tròn của ngày Rằm tháng tám.
Bánh trung thu có hình tròn hay hình vuông tượng trưng cho mặt
trăng và quả đất (ngày xưa người ta cho rằng quả đất của chúng
ta là hình vuông).
B: Ngoài ra, các bạn có biết
chú Cuội là ai không? Chị Hằng là ai không? - Tùy theo bạn ở
miền Bắc, miền Trung hay miền Nam, bạn sẽ nghe sự tích chú Cuội
khác nhau. Chú Cuội ở miền Bắc là một thanh niên rất siêng năng
giỏi dắn nhưng từ khi nghe được tiếng hát và thấy được điệu múa
của tiên nữ thì đâm ra ngơ ngẩn, như người mất hồn, chàng không
còn siêng năng công việc đồng áng nữa, thường “bỏ trâu ăn lúa”
của người ta, về nhà bị cha đánh đập la mắng cũng không để ý, cứ
chú ý lắng nghe “tiếng nhạc thiên thai”; chàng rất cô đơn vì
không ai hiểu được mình, cuối cùng cả người vợ chưa cưới cũng bỏ
Cuội, về sau nghe nói anh ta đã ra đi tìm tiên nữ không trở về
làng nữa.
C: Còn sự tích anh Cuội và chị
Hằng ở miền Nam thì có khác một chút: anh Cuội may mắn kiếm được
một chai nước trường sinh đem chôn dưới một gốc cây trong vườn,
chị vợ anh tên là Hằng tình cờ thấy được, lấy nước rửa mặt, rửa
tay thì thấy da thịt trở nên đẹp quá, chị bèn đổ lên người tắm
luôn, cái cây được tưới tẩm bằng nước đó lớn lên vùn vụt, chị ôm
lấy cây trì xuống nhưng cây đã lao vút lên đến mặt trăng, anh
Cuội về thấy vậy hiểu hết sự tình, nhớ vợ, đêm đêm nhìn lên mặt
trăng để tìm khuây khỏa. Tục truyền về sau, khi anh chết, được
Ngọc Hoàng thượng đế cho tái sinh lên mặt trăng ở với chị Hằng;
đêm rằm tháng tám trăng sáng nhất, người nhân gian sẽ được thấy
chú Cuội ngồi gốc cây đa chờ chị Hằng đến để tâm sự.
A: Còn ở miền Trung thì chú
Cuội mê chị Hằng Nga ở trên cung Trăng cho đến chết vẫn còn “ôm
một mối mơ” nên một nhạc sĩ miền Trung đã sáng tác bài hát:
Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ
Lặng yên ta nói Cuội nghe
“Ở cung Trăng mãi làm chi!”
B: Những bài hát về chú Cuội và
Hằng Nga cũng đã thay đổi rồi các bạn à, các bạn có nghe bài hát
của thế hệ thứ ba về chú Cuội và Hằng Nga không?
“… từ ngày có hỏa tinh bay
bay có ba ngày lên tới mặt
Trăng
Ố tang tình tang, ố tang
tình tình
Cuội đành đem chị Hằng Nga
Tìm xứ xây nhà không biết ở
đâu
Ố tang tình tang ố tang tình
tình… ”
C: Như vậy qua chuyện kể về tết
Trung thu, về cung Trăng, chú Cuội, về chị Hằng, chúng ta thấy
rất rõ ràng tâm hồn của từng hạng người, từ vua Đường Minh Hoàng
của nước Tàu qua chàng thanh niên mơ mộng của Việt Nam (mơ theo
tiên nữ với khúc Nghê Thường) đến anh nông dân hiền lành chất
phác (thương nhớ vợ)… mỗi người có một thế giới riêng, một Hằng
Nga riêng của mình.
A: Các bạn có thấy ngày tết
Trung thu ở Việt Nam mình rất gần với ngày lễ Halloween ở Mỹ
không? Đối tượng chính cũng là trẻ em; cha mẹ Việt Nam làm lồng
đèn cho con đi khắp phố phường, làm bánh trung thu… còn cha mẹ
Mỹ thì hóa trang cho con, đưa các con đến các nhà để xin kẹo…
nói lên tình cha mẹ đối với con cái trong một mùa vui của thiếu
nhi. Còn nữa, chuyện con thỏ ngọc trên cung Trăng các bạn có
biết không?
B: Biết chứ! Đó là vào đêm rằm
Trung thu có một cậu bé thay vì được xách lồng đèn vui chơi với
bạn bè thì cậu phải băng rừng lội suối, vượt sông… tìm thuốc cứu
mẹ đang đau nặng; nhưng đêm rằm có trăng sáng thì nước sông dâng
cao, không thể nào qua được, cậu bé ngồi khóc, con thỏ động lòng
thương chạy lại giúp bạn nhỏ đi hái thuốc… Cảm động vì tấm lòng
hiếu thảo của cậu bé và lòng tốt của thỏ con, Tiên Nga cho cậu
bé thuốc về cứu mẹ và cho thỏ con lên chơi với mình, từ đó thỏ
có tên là Thỏ Ngọc.
C: Chuyện Trung thu như vậy là
tạm đủ, mình chỉ xin thêm là ngày nay, đoàn lân của các đơn vị
GĐPT ở khắp nơi đã lớn mạnh, nhất là ở những thành phố lớn đông
người Việt, Tết nào các chùa cũng có múa lân và bắt đầu Trung
thu là các em tập dượt để Tết Nguyên Đán là đi múa ở các nhà
hàng Trung Hoa hay Việt Nam; đó là cách gây quỹ hữu hiệu nhất
của hầu hết các GĐPT ở đây (hải ngoại).
A: Phải đó, đoàn lân của các
đơn vị cũng là một trong những lực hấp dẫn các em vào Đoàn đối
với ngành Thiếu; buổi nói chuyện hôm nay tạm đủ, chúng ta tạm
chia tay nha!
B và C: Tạm biệt! Tạm biệt!
Mặc dù tôi rất ngưỡng mộ những bậc anh hùng
hào kiệt, nhất là những bậc nữ lưu trong sử sách nước nhà hay
ngoại quốc, tôi say mê đọc về cuộc đời họ, nhưng cuộc sống của
tôi, cha mẹ tôi, bạn bè tôi, v.v… lại rất bình thường, không có
một chút gì xuất sắc. Đại gia đình của tôi hầu hết là nhà giáo,
Ba Mạ tôi, các Dì Cậu tôi, các chị em của tôi cũng vậy, đều là
nhà giáo, cái nghề được cho là đạm bạc nhất, bạc bẽo nhất… Thế
nhưng có lẽ chúng tôi không thấy như vậy nên mới “nối nghiệp”
nhau nhiều đời làm nghề này chăng? !☺☺ !!
Nếu chỉ nói đến nghề thầy giáo thì còn hơi
thiếu một chút đối với tôi, vì ngoài đời thường tôi là “cô
giáo”, còn trong Đạo tôi là chị trưởng, hay một huynh trưởng Gia
đình Phật tử (GĐPT). Nghề Thầy giúp tôi những kinh nghiệm về sư
phạm, về chuyên môn, còn nghề Trưởng giúp tôi những kinh nghiệm
về tình thương, sự chăm sóc của người chị, người mẹ đối với đàn
em, đàn con của mình… Vì thế lúc ban đầu, tôi là một cô giáo trẻ
mới ra trường đã được trang bị thêm tinh thần “hiểu và thương”
của người chị Trưởng GĐPT. Có lẽ vì vậy, tôi yêu nghề từ khi
chưa vào trường Sư Phạm! Còn nhớ ngày đầu tiên sinh viên Sư Phạm
của 7 ban học chung trong giờ Tâm lý sư phạm, giáo sư hỏi:
“trong này có bao nhiêu anh chị thi vào Sư Phạm vì yêu nghề, yêu
trẻ?” Tôi không ngần ngại giơ tay lên. Sau đó tôi thấy hơi “quê”
vì trong hơn 50 sinh viên, chỉ có 4, 5 người giơ tay thôi!! ☺☺
!!
Nói về tình nghĩa Thầy Trò, xưa nay thật là
nhiều người đã nói đến, nhiều bài văn hay nổi tiếng lưu truyền…
cho nên đây không phải là chuyện tôi muốn lặp lại với mớ kinh
nghiệm quá ít ỏi của mình. Ở đây chỉ xin nhắc lại vài kỷ niệm
vui vui của một thời làm học trò, làm cô giáo, làm em đoàn sinh,
làm Chị Trưởng… Mong rằng qua đó, dù không cần nói ra, chúng ta
vẫn hiểu được đâu là nghĩa Thầy Trò, đâu là tình Lam thắm đượm.
Trước hết là một kỷ niệm học trò của thời
thơ ấu. Chúng tôi là học sinh lớp ba trường tiểu học ở Hội An
với thầy Bùi Cam. Hôm ấy, Thầy dạy về hình khối chữ nhật (bây
giờ mới viết lại rõ ràng được như vậy chứ hồi đó không hề biết
mục đích của Thầy). Thầy chỉ vào cái bàn của thầy giáo ngồi,
hỏi: “cái bàn này có mấy mặt?” Chúng tôi nhao nhao: dạ 4 mặt, dạ
5 mặt, dạ 6 mặt… Thầy đi quanh bàn và đếm to: 1, 2, 3, 4, 5, 6!
Tôi cãi ngay: “dạ thưa Thầy chỉ có 4 thôi!” Trên thực tế, bàn
thầy giáo chỉ có 4 mặt là kín, nghĩa là có 4 mặt bằng gỗ: mặt
trên, 2 mặt bên và mặt trước; còn mặt đáy và mặt sau phía thầy
giáo ngồi thì phải để hở (trống). Thế là Thầy bảo “em nào nói 4
mặt, 5 mặt thì đứng ra”. Hầu hết cả lớp đều đứng ra. Thầy bắt
“nhảy thỏ” hết, từ đầu lớp đến cuối lớp; nhảy thỏ là ngồi xổm
xuống đất, chống 2 tay xuống mặt đất rồi nhảy bằng 4 “chân”! Có
khi Thầy dùng roi quất vào mông những bạn nghịch ngợm phá phách
hay không chịu học bài, làm bài, v.v... nữa. Chúng tôi rất sợ
thầy nhưng luôn kính mến và vâng lời thầy. Bây giờ ở Mỹ mà đem
chuyện này kể cho ai nghe thì nhất định họ không tin và “kết
tội” thầy giáo là “child abuse” liền! Còn hồi đó, không những
học sinh mà cả phụ huynh học sinh cũng đều yêu mến kính trọng và
tin tưởng thầy.
Trước khi nói về thời kỳ làm cô giáo, làm
chị Trưởng, xin kể vài kỷ niệm nhỏ của thời kỳ “làm em”, làm học
trò trong GĐPT. Từ hồi còn là một thiếu nữ của GĐPT Gia Thiện,
tôi đã được các chị Trưởng như chị Đào, chị Tịnh Nhơn chăm sóc,
dạy bảo từ những cử chỉ, ý tứ nhỏ nhiệm của người con gái, cho
đến những việc “khéo tay hay làm”, như cắt khăn giấy, rút chỉ
khăn mouchoir, làm bánh, kẹo, dọn bàn tiệc, v.v… những việc đó ở
trường cũng có dạy nhưng phần thực tập là ở những buổi họp Đoàn,
những buổi lễ đặc biệt của GĐPT (như sinh nhật Đoàn, chu niên
Gia đình, sinh nhật các chị và các bạn đoàn sinh…); mỗi kỳ đi
trại thì đến ở lại nhà các Chị để sáng sớm mai cùng khởi hành
một lúc, những ngày chuẩn bị Phật Đản, văn nghệ Vu Lan… cũng đến
nhà các chị thức khuya để kết hoa, tập hát tập múa… tình chị em
được vun bồi từ những sinh hoạt hằng tuần và những sinh hoạt đặc
biệt đó. Sau đó, chúng tôi, thiếu nữ của những đơn vị Hướng
Thiện, Gia Thiện, Hương Đạo, Chơn Tri, v.v... được tập trung về
một đoàn Thiếu Nữ của Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên là đoàn Liên
Hương. Tại đây, ngoài chị Tịnh Nhơn và chị Đào, chúng tôi được
thêm nhiều chị trưởng khác chung sức đào tạo như chị Kim Cúc,
chị Tuy An, chị Quỳnh Hoa, chị Lệ Minh, v.v... Về Phật pháp thì
được sư bà Diệu Không, thầy Đức Tâm, thầy Thiên Ân, sư cô Thể
Quán, sư cô Thể Thanh, sư cô Cát Tường, v.v... trực tiếp giảng
dạy (sau này đều gọi là sư bà Thể Quán, SB Thể Thanh, SB Cát
Tường, v.v...)
GĐPT cứ như vậy tiếp nối. Các Chị lo cho
chúng tôi, còn chúng tôi lo cho đàn em của mình. Việc làm của
người Huynh trưởng GĐPT không có ai trả lương, không có danh
vọng địa vị gì mà đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, và đôi khi
cả tiền bạc nữa! ☺☺ !! Nhưng không có ai than van hay đòi “xuống
đường tranh đấu cho quyền lợi” cả! Cái dây vô hình buộc chặt
người Huynh trưởng vào với GĐPT chính là Tình Lam. Anh Chị Em
(ACE) Áo Lam thương yêu nhau như ruột thịt, có khi còn thân hơn
ACE ruột vì có nhiều chuyện ACE trong nhà mà không hiểu nhau
bằng ACE trong cùng Đơn vị GĐPT.
Về giai đoạn làm học trò trong nhà trường,
tôi cũng có nhiều kỷ niệm đã viết trong “Tự điển Thầy Cô giáo”
rồi, quá dài nên không thể chép vào đây, chỉ xin nhắc lại là có
những người Thầy Cô giáo chúng tôi đã thật sự coi họ như là cha
mẹ, là người kỹ sư tâm hồn của mình, đã vẽ lên tâm hồn trẻ thơ
của mình những nét đẹp khó quên, đã ảnh hưởng sâu đậm lên tâm tư
tình cảm, đã hướng dẫn mình đi trên con đường chân thiện mỹ sau
này. Chính những vị Thầy Cô giáo đã giảng dạy, rèn luyện cho
chúng tôi tình yêu quê hương, yêu những nét đẹp Đông phương,
những truyền thống tốt đẹp của đạo đức, văn hóa dân tộc, v.v...
những điều rất có lợi cho chúng tôi trong việc áp dụng dạy cho
các em nhỏ ở hải ngoại sau này - điều mà trước đây không bao giờ
được nghĩ đến! ☺☺!!
Hành trang vào đời của con là lòng biết ơn
quí Thầy, quí Sư bà, Sư cô dạy Phật pháp trong GĐPT, quí vị giáo
viên, giáo sư đã dạy chúng con từ Tiểu học đến Đại học, quí Anh
Chị Trưởng của chúng con trong GĐPT… dù bây giờ quí vị đang còn
tại thế hay đã rời khỏi thế giới này, con vẫn cảm thấy như quí
vị vẫn hiện diện trong lòng con, sẵn sàng chỉ bảo và hướng dẫn
con luôn đi đúng đường để giữ được cuộc sống tốt đẹp.
Sau cùng là xin kể về các em học sinh của
tôi, các em đoàn sinh và huynh trưởng trẻ trong GĐPT, mà tôi
cũng xem như là những ân nhân nhỏ bé dễ thương trong cuộc đời
của mình. Có một điều trùng hợp rất vui là các em đoàn sinh GĐPT
thường cũng vừa là học sinh của tôi ở trường (ở Đồng Khánh Huế
cũng vậy mà ở Nữ Trung Học Qui Nhơn cũng vậy). Người ta thường
nói “gia bần tri hiếu tử…”; vì vậy, trong cuộc sống bình lặng
nhiều khi tình cảm không được bộc lộ như khi có những biến cố
chợt đến… Ví dụ cụ thể như trước năm 1975 tình thầy trò giữa cô
giáo và nữ sinh Đồng Khánh, Nữ Trung Học Qui Nhơn, v.v... rất
“thơ mộng lãng mạn”, các em viết thư cho cô giáo, bỏ vào trong
cặp cô hoặc có khi nhét vào đó những trái me, trái khế hay những
gói ô mai ngọt ngào… Mạ tôi phải ngạc nhiên thốt lên: “Cô giáo
với học trò mà có gì phải thư từ hằng ngày vậy? Thời nay thật lạ
quá, hồi mạ đi học, sợ Thầy Cô như sợ cọp, có đâu mà tình tứ như
vậy!” ☺☺ !! Có em thì giận cô giáo và bỏ học ngày cô giáo đi lấy
chồng! (làm cô giáo lo muốn chết!). Những niềm vui, nỗi lo trong
sáng ấy sau 75 không còn nữa nhưng tình thầy trò thì không bao
giờ mất, nó chỉ “biến hóa” ra cách khác thôi, cũng như nước và
sóng hay mây và mưa vậy.
Sau biến cố tháng 4 năm 1975, các nhà
trường trong cả nước đều có khuôn mặt mới. Lúc đó, tôi đang dạy
ở trường Trưng Vương (tên mới của trường Nữ Trung Học Qui Nhơn)
và đây không còn là trường của nữ sinh như trước kia nữa mà là
trường hỗn hợp (mixte) có cả nam sinh lẫn nữ sinh. Thầy cô giáo
ngoài việc giảng dạy trên lớp còn phải hướng dẫn học sinh đi lao
động hằng tuần như trồng cây, hay có khi lên các vùng Kinh tế
mới như Tăng Vinh, cách Qui Nhơn hơn 40 km; đi như vậy thì phải
ở lại nhiều ngày. Các con tôi đang còn nhỏ, 4 đứa, đứa lớn nhất
10 tuổi còn đứa nhỏ nhất mới 3 tuổi. Cha thì đi “học tập” mẹ thì
phải đưa học sinh đi lao động nên các em học sinh của tôi và các
em đoàn sinh trong GĐPT tự động thay phiên đến nhà lo cho các
cháu nhỏ. Các em học sinh của buổi giao thời này hình như trưởng
thành hơn các em học sinh ngày xưa, có lẽ vì đã được chính mắt
chứng kiến những đổi thay đột ngột của đất nước, của thời
cuộc... Ở trên đất lao động, học sinh của tôi tự động điều khiển
nhau, phân công nhau làm tất cả mọi việc, để cho cô giáo nghỉ
ngơi; cô giáo chỉ đứng coi các em làm việc (chứ đâu có biết gì
hơn các em mà hướng dẫn!☺☺!!) Đến giờ ăn các em còn múc cơm và
thức ăn để dành riêng cho cô vì sợ “Cô làm sao mà ăn kịp tụi em,
rồi Cô đói sao!” nữa chứ! Tình thầy trò vẫn ấm áp như bao giờ.
Đặc biệt các em nữ sinh đi lao động vẫn đem theo ô mai, me cam
thảo và còn nhớ bới thêm cho cô giáo nữa; lại có em đem đến cho
tôi một hũ muối sả thật lớn và thơm phức, nói rằng “của má em
làm, gởi biếu Cô”. Thế là tôi có quà để cho cả lớp được ăn những
bữa cơm ngon miệng chứ không chỉ là “canh bí muôn năm” như mọi
khi. Đó là về tình cảm, còn về học lực, sau 75 cũng có nhiều em
học sinh xuất sắc mà sau này khi gặp lại, người thầy cô giáo
không khỏi tự hào được thấy các em đều đã thành công trên đường
đời.
Riêng tôi cũng có một kỷ niệm đẹp: Vào
những năm 90-91, tôi ghi tên học mấy lớp Computer ở Đại học Bách
khoa Sàigòn vì lúc tốt nghiệp Đại học Sư phạm ban Lý Hóa (năm
61, Huế) chưa có môn học này. Tình cờ được gặp lại một em học
sinh giỏi của mình, đã học với mình trước đây ở lớp 12 trường
Trưng Vương Qui Nhơn, bây giờ em là giáo sư của trường Bách
khoa, dạy về ngành Điện toán (Computer). Em không những vồn vã
chào hỏi cô giáo ngày xưa mà còn tình nguyện dạy riêng cho cô
những lớp dễ, “để cô khỏi tốn tiền học phí nhiều quá” nữa! Sau
đó, chính thức ghi danh vào các lớp trên, cũng vào đúng lớp em
phụ trách! Giờ đầu tiên vào lớp, khi các sinh viên đứng lên chào
giáo sư, em nói với họ: “từ nay các anh chị khỏi đứng lên chào
tôi, vì có cô giáo cũ của tôi trong lớp này”. Các bạn thấy có
giống câu chuyện ông Carnot, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Pháp, được ca
tụng là người đã nên danh phận nhưng không quên thầy giáo cũ,
mỗi lần về quê thăm nhà đều ghé lại trường làng thăm Thầy giáo
và nói chuyện với học sinh, kể lại công ơn Thầy đã dạy dỗ mình
năm xưa, v.v... Tôi rất tự hào là học sinh Việt Nam cũng có
nhiều em giống như ông Carnot vậy, tài đức vẹn toàn mà luôn
khiêm tốn, giản dị, đầy lòng biết ơn mặc dù giờ đây mình cũng là
một ông Thầy, một bà Cô… lại là thầy giáo, cô giáo dạy đại học
nữa! Thật vậy, ở Pháp, ở Đức, ở Úc, ở Việt Nam những học sinh cũ
của tôi bây giờ rất nhiều em đã có rất nhiều bằng cấp Ph.D về
nhiều bộ môn; đó là ở Đời. Còn nói về Đạo thì có những em học
sinh cũ của tôi đã trở thành những tu sĩ Phật giáo, Thiên Chúa
giáo, Tin lành, những vị Đại đức, Sư cô, Linh mục, Mục sư… mỗi
lần gặp lại, vẫn không có gì khác xưa… tôi cảm thấy thật hạnh
phúc vì cảm nhận được cái gì là tình nghĩa thầy trò Việt Nam!
Bởi vì chỉ ở những con người Việt Nam mới có như vậy. Ở Tây
phương, cụ thể ở Mỹ mà tôi đang sống, người ta rất lịch sự với
nhau nhưng phần đông học sinh sẽ quên ngay thầy cô giáo dạy mình
niên học trước chứ đừng nói gì là 5, 10 năm sau! ☺☺ !! Còn một
cô giáo Việt Nam như tôi, đã xa trường từ gần 30 năm nay thì mãi
đến bây giờ vẫn còn nhận được quà của học trò từ phương xa gởi
tới! Có một món quà đặc biệt có thể làm xúc động mọi người: một
em nữ sinh (ngày xưa 17 nhưng bây giờ đã 50 tuổi rồi đó) đã ngồi
thêu để tặng cho cô giáo năm xưa một bức tượng Quán Thế Âm, mất
cả tháng trời, trong khi bản thân mình thờ đức mẹ Maria! Nếu kể
cho hết những cách bày tỏ tấm lòng của mình đối với Thầy Cô giáo
thì không bút mực nào kể hết được!
Tình nghĩa Thầy Trò đối với người Việt Nam
là một tình cảm rất chân thật, bình thường và tự nhiên, nhưng
trong cái bình thường đó chứa đựng thực tại nhiệm mầu của sự
tươi mát, của tình người, của cái đẹp vừa mong manh vừa vĩnh
cửu, trong từng giây phút, đã và đang hiện diện quanh mình.
Không phải sao? Khi ta nhắc đến Thầy Cô giáo dù là Thầy dạy chữ,
dạy nghề hay dạy Đạo, không phải ta cảm thấy hạnh phúc, và những
kỷ niệm của thời học trò được coi là tuyệt đẹp hay sao?
Xin mời các Bạn đọc bài thơ sau đây của nhà
thơ Quách Thoại, khi ngắm một bông hoa Thược Dược nở bên hàng
giậu, một hiện tượng rất đơn giản và quen mắt nhưng thi sĩ đã
nắm bắt được thực tại nhiệm mầu nên đã viết nên những câu thơ
bất hủ được nhiều người ca tụng:
Đứng yên ngoài hàng
giậu,
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Và thoảng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi dầu
**
Con cũng xin “sụp lạy cúi đầu” với lòng
biết ơn sâu sắc trước,
quý ân sư đã dạy Phật pháp và đạo đức cho
con,
quý Thầy Cô giáo ở trường ngày xưa của con,
quý Anh Chị Trưởng hiện còn trên đời hay đã
khuất của em.
**
Cũng xin “sụp lạy cúi đầu” trước những em học sinh cũ của tôi,
những em đoàn sinh của Chị, những con người biết nhìn dòng lịch
sử trôi qua trước mắt mình, biết ngắm bình minh và hoàng hôn
trên biển, biết nghe tiếng sóng biển hay tiếng suối để trầm tư
về con người và cuộc đời, các
em là những đóa hoa muôn màu muôn vẻ của trí tuệ và kiến thức…
Xin cảm ơn tất cả các em vì các em đã từng là hoa, là nắng, là
ánh sáng tươi vui trong cuộc đời tôi.
Kính thưa quí vị và các bạn,
Tuổi trẻ nói chung và tuổi trẻ
Phật giáo nói riêng hôm nay quả thật tiến bộ rất nhiều so với
cha anh của họ - lứa tuổi của những huynh truởng hiện là huynh
trưởng cao niên trong GĐPT - về kiến thức được truyền đạt ở
trường, chưa kể những kiến thức mà các em có thể đọc được trên
Net. Thật vậy, tuổi trẻ của những huynh trưởng lớn tuổi này là ở
vào những thập niên 60, lúc đó, nước Mỹ vẫn còn nạn kỳ thị chủng
tộc, các trường Đại học ở Việt Nam thì chưa có chương trình dạy
về vi tính (computer), và một học sinh thời ấy tốt nghiệp các
trường Trung học ban Sinh vật cũng chưa được học về di truyền...
Còn bây giờ, học sinh trung học đều đã biết về DNA, về implant,
về cloning, về virus, về bệnh aids, v.v... đủ thứ hết!☺☺!! Còn
đối với huynh trưởng trẻ thì những từ khóa (key words) như gene,
DNA algorithm, fuzzy clustering, evolutionary programming, image
processing, v.v... không xa lạ với sinh viên Đại học khoa học
lắm.
Cũng may, tuổi trẻ Phật giáo
ngày xưa hay bây giờ cũng vậy, đều được học Phật pháp và vì vậy,
những điều khám phá, phát hiện, v.v… của khoa học gần đây nhất
cũng không làm chúng ta, huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT, giật
mình. Ví dụ như đối với tin tức, có một công ty cho biết đã
thành công trong việc tạo ra phôi người nhân bản (human cloning)
có thể tiến đến việc tạo ra các tế bào gốc của con người. Cách
đây khá lâu, cũng đã có hiện tượng “em bé ống nghiệm” (l’enfant
éprouvette hay baby-tube) không cần thông qua sự thụ tinh thông
thường, không cần người mẹ phải mang nặng đẻ đau, em bé chỉ cần
được nuôi trong ống nghiệm... mặc dù không dễ dàng thành công và
không biết đã có em bé nào sống được không? Tuy nhiên, chuyện
con cừu Dolly cũng là một tin “động trời” mặc dù người ta phải
thí nghiệm đến mấy trăm lần mới “sáng tạo” ra được một con cừu
Dolly, con vật được cho là hoàn toàn “nhân tạo”. Cho nên, còn
lâu mới có thể dùng human cloning để tạo ra một con người theo
lối sinh sản “vô tính” như vậy.
Tại sao người Phật tử không
phản ứng như một số tín đồ các tôn giáo khác trước tin tức này?
- Xin thưa, vì các tín đồ của một vài tôn giáo cho rằng con
người do God tạo ra, chỉ có God mới có quyền sáng tạo nên thân
thể và linh hồn con người, vì vậy sự kiện này làm họ bị “shock”
vì cảm thấy hình như God của họ bị xúc phạm. Còn người Phật tử
thì được học từ Phật Pháp rằng: Một sinh mạng được hình thành
bởi hai yếu tố danh (nāma) và sắc (rūpa) và hai thành phần này ở
trong trạng thái luôn luôn biến đổi như một dòng suối, chảy mãi
không dừng nghỉ. Đây là bài học về 12 nhân duyên của chương
trình Phật pháp bậc Chánh thiện của ngành Thiếu GĐPTVN ở trong
nước cũng như ở hải ngoại. Ngoài ra, các em cũng được biết “tứ
sanh” là bốn cách sinh sản của bốn loài động vật khác nhau của
tất cả chúng sanh trong tam giới: Loài sinh con thông qua bào
thai (thai sinh như con người và những động vật có vú), loài
sinh trứng (noãn sinh như gà, chim, v.v...), loài tự sinh ra do
những điều kiện đặc biệt của môi trường (thấp sinh, như amib, vi
trùng, v.v...) và hóa sinh - loài không dựa vào một điểm tựa vật
chất (physical support). Chúng sanh của loài này tự nhiên mà hóa
ra do sức mạnh của nghiệp lực, sinh lên cõi Trời hay sinh vào
Địa ngục.Loài này khoa học chưa nói đến vì mắt thường không thấy
được. Như vậy, em bé được “cấy” trong ống nghiệm hay em bé do
một cái gene của con người tự biến hóa, phân chia, không cần đến
sự thụ tinh thông thường cũng đâu có gì ghê gớm lắm? Cũng là
thay đổi nhân, duyên... mà tạo thành một sinh vật, rồi đặt tên
cho nó là “sinh sản vô tính” hay “vô sinh” cũng vậy thôi! Vấn đề
là việc làm đó có đúng không, có đáng khuyến khích không? Có
xứng đáng để tốn bao nhiêu công sức, bao nhiêu tiền bạc vào đó
không? Xin mời quí vị và các bạn theo dõi cuộc hội thoại bỏ túi
của các huynh trưởng trẻ A, B, C nói về human cloning, một vấn
đề đang được bàn tán gần đây vì đã gây phản ứng từ các giới, các
tôn giáo, v.v... và khắp nơi trên thế giới đều lên tiếng. Từ đó
họ lạm bàn về “tứ sanh” luôn.
A: Chào các bạn! Hôm nay chúng
ta nói về vấn đề gì nhỉ?
B: Bạn quên rồi sao? Trước hết
là human cloning đó! Thật ra tại sao nhiều người lên tiếng phản
đối vậy hả? Mình thấy cũng tốt thôi mà!
C: Tốt hay xấu là còn tùy mục
đích nữa kìa!
A: Đúng vậy, nếu dùng phương
pháp cloning để có được một “kho” chứa những bộ phận trong cơ
thể con người như tim, gan, óc, v.v… để sẵn, lỡ khi có người nào
bị tai nạn hay bệnh tật tàn phá mất cơ quan nào, bộ phận nào thì
có ngay để thay thế, implant vào... cứu mạng cho người ấy kịp
thời, thì đó là việc tốt.
B: Mình không hiểu tại sao lại
gọi human cloning là sinh sản vô tính?
C: Tại vì bây giờ ngành Sinh
vật đã thành công trong khả năng “sáng tạo” ra con người bằng
cách sử dụng gene của người, cho nó tự phân chia không cần đến
sự thụ tinh thông thường.
A: Trong 4 loại sinh sản (tứ
sinh), các bạn nghĩ human cloning thuộc về loại nào?
B: Mình nghĩ vẫn thuộc thai
sinh vì tuy không cần bụng mẹ nhưng “sinh vật” đó cũng là do con
người sinh ra (cái gene chính là yếu tố sinh sản) với những điều
kiện khác nhau mà thôi.
C: Còn nữa, chúng mình đều đã
được học, muốn cho một sinh mạng được hình thành thì phải có
tinh cha, huyết mẹ và cái nghiệp (thức); gene được coi như gồm
cả cha mẹ rồi, còn làm sao có một nghiệp thức gá vào ngay lúc
thí nghiệm?
A: Chính vì vậy nên có phải thí
nghiệm nào cũng thành công cả đâu? Nghe nói thí nghiệm về con
cừu Dolly phải làm hơn 300 lần mới được; nói cách khác sự gặp gỡ
giữa nghiệp thức thích hợp và phôi người chỉ có xác suất 1/300,
rất là mong manh đó!
B: Đúng vậy, mình chỉ thắc mắc
một điều là tại sao thiên hạ lại có ý tạo thêm ra con người nữa
làm gì? Tốn công tốn của mà đâu có ích lợi gì? Không phải quả
đất hiện nay đã bị nạn nhân mãn hăm dọa sao? Thiên tai hạn hán
không ngừng gây nên đói kém, sợ không nuôi nổi nhân số hiện có,
nói gì đến gầy thêm con người bằng sinh sản vô tính nữa!☺☺!!
C: Mình nghĩ không phải họ muốn
đơn thuần tạo thêm ra con người chung chung, mà là họ muốn
“copy” thêm những thiên tài như Einstein, Mozart, Edison, v.v…
để cho thiên hạ được nhờ.
A: Nhưng chắc gì những bản copy
đã giống hoàn toàn những bản chánh? Chỉ mới đang trong thời kỳ
thử nghiệm thôi mà!
B: Đúng vậy, cho nên tưởng là
sẽ có được những Einstein hay Mozart mà sự thật không phải, như
thế là “tiền mất tật mang” hao tổn không biết bao nhiêu là công
sức. Ở đây, mình càng thấy lý nhân duyên sinh mà chúng mình đã
được học thật là “phê” phải không?
C: “Phê” là gì hở?
B: “Phê” là rất có hiệu quả
trong việc giải thích bất cứ việc gì trên đời này! Này nha, ví
dụ như trong chuyện đưa gene người vào trong một cái trứng để
thay thế sự thụ tinh thông thường thì “nhân” là cái gì?
C: Nhân là cái gene và cái
trứng chứ gì, không phải sao?
A: Không phải, nhân là cái
“thức” (nghiệp thức), còn các thứ khác kể cả các điều kiện về
nhiệt độ, áp suất, về kỹ thuật và khả năng các nhà khoa học của
phòng thí nghiệm, v.v... đều là duyên, nhưng nếu thiếu duyên thì
thí nghiệm cũng không thể thành tựu được.
B: Phải rồi, gene người được
cấy vào trứng chỉ là một chỗ dựa vật chất (physical support) hay
nói theo ngũ uẩn thì đó chỉ là phần “sắc” còn phần tâm nữa (thọ,
tưởng, hành, thức).
C: Mình hiểu rồi. Nghiệp lực
của thức tái sinh sẽ lựa chọn “chánh báo” và “y báo” của nó nên
nếu “chịu” thì nó mới gá vào cái điểm tựa vật chất đó, nếu không
thì thôi.
A: Nói chính xác hơn là có
“đồng thanh” thì mới “tương ứng”, có “đồng khí” mới “tương cầu”,
nên mặc dù nghiệp thức tràn đầy trong thế giới Ta-bà này nhưng
không phải bạ đâu cũng có thể gá vào, và chúng ta dùng chữ “lựa
chọn” là vậy.
B: Chính vì vậy mà đức Phật dạy
nơi nào có điều kiện sống là có sinh vật, và sinh vật thì có
thiên hình vạn trạng, từ những con vật khổng lồ lớn hơn con
người gấp nhiều lần đến những sinh vật bé nhỏ li ti đến nỗi mắt
người không thấy được đã đành, mà đến cả kính hiển vi loại
thường cũng không trông thấy được!
C: Cho đến những tế bào, những
vi trùng, vi khuẩn, amib, virus v.v... cũng có sự sống của nó,
và tùy theo cấp độ, mang theo những nghiệp thức tương ứng. Nhưng
dù lớn hay nhỏ cũng được sinh ra trong bốn cách gọi là “tứ sanh”
có phải không?
A: Phải rồi! Ba loài trước (thai
sinh, noãn sinh và thấp sinh) đều có dựa vào sắc, còn loài hóa
sinh không dựa vào sắc, nghĩa là không có sắc thân (body) nên
mắt thường không thể thấy được.
C: Điều này đối với mình thật
là mới lạ đó nha! Lâu nay mình cứ tưởng rằng hóa sinh là những
loài như bướm (tằm → bướm → nhộng...) hay như muỗi, mòng (lúc
đầu là trứng ở dưới nước, sinh ra cung quăng và sau đó hóa thành
muỗi bay lên không khí, v.v...). Các bạn có thể cho ví dụ về một
loài thuộc dạng hóa sinh không?
B: Đã nói loài hóa sinh không
dựa vào sắc (cơ thể vật chất), nghĩa là không có “thân” làm sao
chúng mình thấy được mà cho bạn ví dụ? Loài này thuộc thế giới
Vô sắc, và chúng ta có thể đưa một ví dụ trong sách, như ma quỷ
chẳng hạn, là thuộc loại này.
A: Đúng vậy; nói ma thì chắc
bạn C nghĩ đến ghost, ma của Halloween, ma cà rồng, ma da, ma
Hời, v.v... phải không? Và quỷ thì bạn nghĩ đến quỷ Dracula?
C: Ủa, chứ không phải vậy sao?
B: Phải chứ, nhưng đó chỉ là
những ma ở ngoài, ma ở ngoài có thể là người, là quỷ thần, thiên
ma, v.v... nhưng ngoài ra, còn có ma trong Tâm chúng ta nữa chứ!
A: Phải rồi, cũng như vi trùng,
có những thứ vi trùng từ ngoài xâm nhập cơ thể chúng ta qua tai,
mắt, miệng, mũi, v.v… mà cũng có loại vi trùng ở ngay trong cơ
thể chúng ta vậy.
C: Vậy là mình hiểu rồi, ma ở
trong ta là những tư tưởng sai lầm, phải không? Đó là ngũ ấm ma?
B: Đúng vậy, ma là tất cả những
cái gì quấy phá mình, ngăn cản sự tu học của mình, làm tổn hại
sự an lạc của mình, v.v... Ma ở ngoài còn dễ nhận ra chứ ma
trong Tâm mình rất khó nhận ra.
C: Nhưng chúng mình hãy trở lại
định nghĩa “hóa sinh” đi chứ. Hồi nãy các bạn nói rằng ma quỷ
thuộc loài hóa sinh? Tại sao nói vậy?
A: Chứ không phải sao? Ma bên
ngoài, bạn không nghe người ta thường nói “ma hiện ra” hay sao?
Ma ở ngoài thì do nghiệp cảm, có người thấy được có người không
thấy, còn ma trong tâm mình thì như ma tham, ma sân, ma si chẳng
hạn (nói về 3 thứ ma quen thuộc này) không phải chúng là không
hình, không tướng sao? Nó xuất hiện bất ngờ trong tâm ta, quậy
phá ta nhiều hay ít, thô hay tế, hại chúng ta mất sự an lạc, sự
khôn ngoan, trầm tĩnh cho đến hại chúng ta đến thân bại danh
liệt... Khi ma tham, ma sân, ma si “có mặt” thì chúng ta như trở
thành một người khác, cũng giống như vi trùng, vi khuẩn xâm nhập
quấy phá cơ thể chúng ta vậy, nếu chúng ta “trị” được chúng thì
mới ra khỏi (tâm) bệnh được.
C: Như vậy cái “mụt nhọt mặt
người” bất trị làm cho quốc sư Ngộ Đạt đau đớn, là “oan gia” của
Ngài từ nhiều kiếp trước, hiện ra để báo oán có phải là một ví
dụ của loài hóa sanh không?
B: Không phải, vì cái mụt nhọt
đó tuy cũng là do nghiệp thức của “kẻ oan gia” nhưng có mượn da
thịt của ngài Ngộ Đạt để làm “thân” mà hiện ra, có nghĩa là
thuộc về Sắc giới, không phải Vô sắc.
A: Về tâm cảnh hiện tiền của
chúng ta, kinh Lăng Nghiêm dạy có năm nhóm: Sắc, thọ, tưởng,
hành, thức (chúng ta gọi là năm uẩn hay năm ấm). Đó là năm đám
mây mù thói quen phân biệt che lấp tâm tính chúng ta, vì vậy mà
được gọi là ngũ ấm ma. Kinh còn nói rõ các ma thuộc về ấm nào (sắc
ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm hay thức ấm)
C: Cảm ơn các bạn, mình đã hiểu
rồi. Còn một vấn đề này nữa: các em của mình hỏi rằng những con
robot có tình cảm, biết biểu lộ sự vui, buồn, sợ hãi, ngạc nhiên,
v.v... (Kismet: the emotional robot) có thể gọi là “người” hay
“sinh vật” được không?
B: Mình nghĩ là không, vì đó
không khác gì những đồ chơi, do con người tạo ra, có những nút
bấm, có cho dòng điện vào v.v... nó mới hoạt động được như vậy,
nó không phải do nghiệp lực hướng dẫn.
A: Mình cũng nghĩ như vậy, trái
lại những sinh vật bé li ti mắt thường không thấy được nhưng
chúng cũng có đời sống, có sinh diệt, nghĩa là có một “nghiệp
thức” thì mới có thể gọi là sinh vật được.
C: Làm sao biết được trong con
amib có một nghiệp thức?
B: Tại vì dù nó là thấp sinh
hay noãn sinh, phải có một nghiệp thức, tức là một năng lực sống
mang tính chất cá thể nhập vào thì mới có sự sống, mới thành một
sinh vật, một con amib được. Ví dụ, nhìn qua kính hiển vi chúng
ta có thể thấy được nó đang chuyển động...
C: Buổi nói chuyện hôm nay thật
là vui và ích lợi đối với mình; mình đã có thể trả lời với các
em về “human cloning” có phải là một trong “tứ sinh” hay không,
và ma quỷ thuộc về hóa sanh... nữa!
A: Nhưng chúng mình không dám
quyết đoán ngũ ấm ma cũng là một loài hóa sanh như thiên ma, ma
gia, v.v... đâu đó nha, chỉ là suy diễn thôi, còn phải hỏi lại
quý Thầy nữa đó! Chúng ta chỉ là áp dụng sự hiểu biết về ngũ ấm
ma vào sự tu tập “xoay cái nhìn vào bên trong” để thấy ma (nội
ma) trong tâm mình mà tinh tấn diệt trừ trước khi tìm cách diệt
trừ “ngoại chướng”.
B: Đúng vậy, chúng ta nói
chuyện với nhau thì được còn đem giảng cho các em thì phải biết
chắc chắn mới nói đó!☺☺!!
A: Phải rồi, những gì thuộc về
Sắc giới và Vô sắc giới chúng ta chỉ là nói theo kinh sách thôi,
làm sao chúng ta có thể gọi là “thấy” hay “biết” được.
C: Mình hiểu rồi. Tạm biệt các
bạn, hẹn lần sau nha!
A và B: Tạm biệt, tạm biệt!
Kính thưa quý vị và các Bạn,
Như chúng ta đã biết, nói đến tuổi trẻ là nói đến niềm tin và hy
vọng. Tuổi trẻ của thời đại nào, quốc gia nào thì đó cũng là
niềm tin và hy vọng của thời đại đó, quốc gia đó. Thế nhưng
“người trẻ” thì không hoàn toàn giống nhau, do quan điểm và cái
nhìn về cuộc đời của họ. Chúng tôi muốn nói đến những chàng trai
anh hùng của một thời đại oai hùng nào đó là niềm tự hào của một
dân tộc, một đất nước nào đó ở một giai đoạn lịch sử nào đó, về
một lãnh vực nào đó, trong lịch sử nhân loại. Ví dụ như một Trần
Quốc Toản, một Jeanne D’Arc, một Thành Cát Tư Hãn, v.v…
hay những dũng sĩ của Mông Cổ, những thần đồng về Văn học, Toán
học lừng danh thế giới, v.v... Bây giờ họ cũng chỉ là một “vết
nhạn lưng trời” không để lại một ấn tượng gì đối với những người
không biết đến sách vở…
Còn chàng thanh niên Tất-đạt-đa của chúng ta? - Đó là một mẫu
người lý tưởng không chỉ trong thời đại của Chàng, nơi xứ sở của
Chàng… mà còn vượt
không gian và thời gian; ra ngoài ranh giới quốc gia, nói cho
chính xác là “vượt ra ngoài cả tam giới”. Con người này đã bỏ
lại “hạnh phúc thế gian thường tình” của mình với cung vàng điện
ngọc, quyền quý cao sang, vợ đẹp con ngoan…
để dấn thân vào một cuộc đời vô định, để đi tìm hạnh phúc cho
muôn loài chúng sanh. Ngài đã thấy được và sống được với chân lý
“hạnh phúc của chính mình là hạnh phúc của muôn loài”. Cái chân
lý mà mấy ngàn năm sau có người nhận ra được đã thốt lên rằng:
“Một con bướm vỗ cánh ở phương Đông thì ở
phương trời Tây cũng có ảnh hưởng”, nghĩa là con người và
vạn vật đều liên hệ mật thiết với nhau…
Thế hệ trẻ trên thế giới noi theo gương Ngài không phải là ít,
đó là chư Tăng Ni của các nước Phật giáo, đó là những người
không xuất gia nhưng tin Phật và mong một ngày nào đó cũng tự
chiến thắng được mình như đức Phật, để cõi Ta-bà này trở thành
Tịnh độ, không còn đau khổ, phiền não nữa; thành phần này bao
gồm anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT. Chúng tôi xin
kính mời quí vị và các bạn theo dõi cuộc hội thoại giữa những
huynh trưởng GĐPT về vấn đề này như họ đã từng chia sẻ với đàn
em của họ:
Trang nghiêm Tịnh độ
Nơi cõi Ta-bà
Đất Tâm thanh tịnh
Hiển lộ ngàn hoa.
Hay:
Đây là Tịnh độ
Tịnh độ là đây
…
Tâm không ràng buộc
Tiêu dao tháng ngày.
A: Chào các bạn! Hôm nay chúng mình nói về
đề tài gì nhỉ?
B: Chúng mình muốn nói về Tịnh độ vì trước
nay chúng ta thường nói về Thiền mà ít nói về Tịnh độ, trong khi
đoàn sinh lại hỏi nhiều về cõi nước của đức Phật A-di-đà, về cõi
Cực Lạc, về đường đi từ đây đến Tây Phương dài bao nhiêu… đó bạn
à!
C: Đúng vậy, các em thắc mắc tại sao chúng
ta nói “Trang nghiêm Tịnh độ nơi cõi Ta-bà”, nhưng có người nói
tu Tịnh độ là ích kỷ, chỉ biết lo cho mình về cõi Phật A-di-đà
còn ai trầm luân thì kệ họ!!!
A: Rồi bạn nói sao? Không lẽ bạn cũng nghĩ
như vậy?
C: Đâu có, mình nói Tịnh độ và Thiền là
những pháp môn tu còn có lo cho chúng sanh hay không là do hạnh
nguyện của người tu, có phải vậy không?
B: Phải đó, người thực hành Bồ-tát đạo thì
luôn đi trên con đường “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”
dù họ tu Thiền, tu Mật hay tu Tịnh cũng vậy; khi còn chúng sanh
chưa thành Phật thì Bồ-tát đâu có an vui một mình ở cõi Cực Lạc
được!!☺ ☺!!
A: Đành rằng là vậy nhưng các bạn phải giới
hạn câu chuyện của chúng mình trong phạm vi nào chứ, nếu nói về
Bồ-tát đạo thì đến khuya cũng không rồi đó nha!
C: Phải, phải! Đề tài của chúng ta hôm nay
đúng ra là tìm hiểu quá trình Tín-Nguyện-Hạnh, để từ đó tìm ra
một hướng đi cho tuổi trẻ Phật giáo nói chung, cho anh chị em
GĐPT chúng ta nói riêng.
B: Bởi vậy, tuy nói là “tuổi trẻ” nhưng
không phải chỉ hạn hẹp trong lứa tuổi đôi mươi thôi đâu nha, mà
phải nới rộng ra đến những anh chị huynh trưởng cao niên của
mình, có khi trên 60, 70 tuổi nữa đó.
A: Đúng vậy, “trẻ” ở đây không phải vì tuổi
đời còn nhỏ, mà chúng ta dùng chữ “trẻ” để chỉ hoài bão rộng
lớn, vĩ đại; tâm hồn cởi mở, trong sáng, vô tư; niềm tin vững
chắc và hành động có khoa học, có trí tuệ, với một quyết tâm
không gì lay chuyển nổi nên không biết mệt mỏi trên con đường
tìm cầu giải thoát, hoàn thành tự giác và giác tha.
C: Chính thế, đối với một cuộc hành trình
trong luân hồi sinh tử, đối với thời gian vô tận và không gian
vô biên, thì 100 năm còn được coi như “một thoáng chiêm bao” nói
gì đến 60 hay 70 tuổi!
B: Trở lại với quy trình Tín-Nguyện-Hạnh
nha! Tín là tin, niềm tin, lòng tin, đức tin… muốn dùng từ gì
cũng được; chỉ cần chúng ta nhớ rằng Tín là điều kiện tiên quyết
để đến với Đạo.
A: Chúng ta còn phải nói rõ là tin ai? Tin
cái gì? Tại sao có đức tin và làm sao để phát triển lòng tin,
v.v...
C: Tin là điểm khởi đầu của bước đường vào
Đạo; vì thế trước hết phải khởi lòng tin thanh tịnh, tin vào Tam
bảo, vào Phật tánh.
B: Trong Phật Thuyết
đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm bình đẳng giác kinh,
đức Phật dạy rằng, lòng tin không chỉ do mình có mà đó còn là do
tha lực, do mình trồng căn lành, có duyên với Phật pháp, v.v..
nên ngày nay mới phát khởi lòng tin dễ dàng.
A: Đúng vậy, nhưng có lòng Tin mà phải biết
phát triển lòng Tin đó bằng ba hạnh nền tảng; đó là thân hạnh,
tâm hạnh và tánh hạnh.
C: Cái này thật là mới đối với mình đó nha,
các bạn có thể nói rõ hơn tu như thế nào về ba hạnh nền tảng này
không?
B: Đây là ba hạnh nền tảng trong giai vị
Thập tín được dạy trong kinh Hoa nghiêm:
Về thân hạnh thì tu cúng dường, thân cận các vị thiện tri thức,
v.v… Về tâm hạnh thì huấn luyện tâm nhu hòa, nhẫn nhục, kham
nhẫn… Về tánh hạnh thì thực hành từ bi, tha thứ, bao dung, tận
tâm tận lực phục vụ tha nhân.
C: Các bạn biết nhiều ghê! Xin lỗi làm mất
thì giờ nha, Bạn dùng chữ giai vị? Vậy có mấy giai vị trong quá
trình tiến hóa tâm linh theo Hoa nghiêm?
A: Từ địa vị phàm phu đến khi tâm Bồ-đề
khai mở hoàn toàn, hành giả phải trải qua 5 giai vị trung gian;
đó là thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa.
C: Mình xin lỗi, nhưng quả thật mình muốn
biết sơ ý nghĩa của 5 giai vị này trước khi đi vào hành trình
Tín - Nguyện - Hạnh.
A: Thập tín là giai đoạn đầu tiên khi hành
giả quyết tâm lập chí đi trên con đưòng Bồ-tát đạo, hướng về
giác ngộ, cứu độ chúng sanh. Thập trụ là giai đoạn rèn luyện
công phu thiền định chuyển hóa phiền não (phát triển trực tâm).
Thập hạnh là giai đoạn phát triển lòng từ bi, kết duyên với
chúng sanh, giáo hóa chúng sanh. Thập hồi hướng là giai đoạn
phát triển cả 3 tâm (trực tâm, thâm tâm và đại bi tâm). Thập địa
là địa vị cao nhất, lúc đó, tâm Bồ-đề phát triển đến vô hạn và
vọng tâm không còn, hoàn toàn ở trong cảnh giới Phật.
B: Chúng ta trở lại với Tín-Nguyện-Hạnh
nha: Tín-Nguyện-Hạnh là ba đức của người tu theo Tịnh độ, nghĩa
là muốn đạt cứu cánh vãng sanh Cực Lạc, hành giả phải có đủ ba
đức đó.
C: Mình biết rồi, Tín ở đây là sự tin tưởng
nơi sức tiếp dẫn của đức Phật A-di-đà, tin vào những Kinh dạy về
pháp môn Tịnh độ. Hạnh là niệm Phật, là làm tất cả các thiện
pháp, tinh cần hành trì như vậy trong đời sống hằng ngày không
xao lãng. Và Nguyện là lòng mong cầu mãnh liệt được vãng sanh,
từ khi khởi nguyện cho đến khi trút hơi thở cuối cùng lúc nào
cũng mong mỏi việc ấy.
A: Thế nhưng chúng mình đã dạy các em
(trong bài đức Phật A-di-đà và cõi Cực Lạc Tây phương) có khác
một chút phải không?
B: Phải đó, vì chúng ta phải “thời đại hóa”
những bài học Phật pháp mà với trí óc con người các em có thể
hiểu và nắm bắt được.
C: Ví dụ như chúng ta dạy cho các em những
đặc tính chính của Tịnh độ (Pure Land) mà giáo lý đã dạy; đó là,
thứ nhất, Tịnh độ hay Cực Lạc được hình thành do lòng Từ Bi,
công phu tu tập và 48 lời nguyện của đức Phật A-di-đà trong đó
có một nguyện là đón tiếp và hướng dẫn những ai chuyên tâm niệm
danh hiệu Ngài và cầu vãng sanh về Cực Lạc hay Tịnh độ.
A: Thứ hai, phương pháp niệm Phật là một
phương pháp dễ tu, hành giả có thể đạt cả hai mục đích: tái sinh
về Tây phương và cũng là một bước vững chắc đi về Giác ngộ
(rebirth in the Western Pure Land as a stepping-stone toward
Buddhahood), vì ở đó hành giả có một môi trường tu học rất lý
tưởng với sự hiện diện của đức Phật A-di-đà, họ có thể đạt đến
sự giác ngộ hoàn toàn (there, in more favorables surroundings,
in the presence of Amitabha, they will eventually attain
complete enlightenment).
B: Thứ ba, phương pháp này rất “dân chủ”
(democratic) vì không phân biệt nam hay nữ, cao hay thấp, xấu
hay tốt, v.v… tu theo kiểu gì cũng được, nếu có lòng Tin và niệm
đến danh hiệu Ngài (đức Phật A-di-đà) một cách thành tâm thành ý
thì nhất định sẽ được Ngài đón về Cực Lạc quốc.
C: Nhưng quá trình Tín - Nguyện - Hạnh đâu
phải riêng cho Tịnh độ, có phải không?
A: Đúng vậy! Dù là tu theo pháp môn gì cũng
theo hành trình đó. Lòng tin thể hiện bằng qui y Tam bảo nghĩa
là phát tâm Bồ-đề. Khi phát lời nguyện “đệ
tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo” chính là khi
hạt giống Bồ-đề được gieo xuống, tâm ta rộng mở để khi làm bất
cứ việc thiện lớn hay nhỏ cũng vì lợi ích chúng sanh, không nghĩ
cho riêng mình.
B: Với tâm lượng rộng lớn như vậy, thì dù
hành giả là một chú Sa-di 8 tuổi hay một cụ già 80 tuổi cũng đều
đã là một vị Bồ-tát và con đường đang đi là Bồ-tát đạo.
C: Bồ-tát có phải là nhân cách lý tưởng của
tuổi trẻ Phật giáo hay không?
A: Phải, còn Bồ-tát nguyện là nguyện rộng
lớn nhất, nguyện độ chúng sanh nghĩa là mưu cầu hạnh phúc cho
tất cả chúng sanh chứ không phải cho riêng mình, Bồ-tát hạnh là
hành động cao cả nhất vì mục tiêu và sứ mệnh của hành động này
vượt lên trên tự ngã nhỏ bé, là nguồn năng lực khơi dậy và thúc
đẩy chúng sanh lên đường đi về hòn đảo an toàn của hạnh phúc
chân thật.
B: Bồ-tát đạo là con đường của những người
biết tu tập để mở rộng tâm thức để trực nhận được rằng những cái
mà trước đây ta tưởng là “ta” hay “của ta” (ví dụ như lối sống,
tri thức, tình cảm, khả năng, kinh nghiệm, tập khí, v.v…) Điều
này không phải dễ làm, vì phải biết “bung” từ cái “tôi” ra thành
cái “chúng ta”, từ cá nhân ra “tập thể”, từ mình ra “mọi người”,
v.v...
C: Vậy con đường chúng ta đi có phải là
Bồ-tát đạo không?
A: Cũng phải mà cũng có thể không phải.
C: Tại sao?
B: Tại vì tùy theo cách suy nghĩ, cách
nhìn, cách làm, v.v… của bạn mà công việc của bạn, con đường bạn
đi có phải là Bồ-tát đạo hay không?
A: Đúng thế! Làm việc GĐPT không có lương,
tốn thì giờ, tiền bạc, làm gì cũng lo cho các em trước rồi mới
đến bản thân. Mùa đông cũng như mùa hè, không có kỳ nghỉ, thậm
chí ngày lễ còn tham gia hội họp, trại mạc, v.v... không có thì
giờ cho gia đình nhỏ của mình… nếu mình cho đó là khổ, mình than
van hay kể công khó nhọc của mình, v.v... thì mình không còn là
Bồ-tát nữa và con đường mình đi cũng không phải là Bồ-tát đạo.
C: Còn nếu mình âm thầm làm phận sự của
mình, lo cho đàn em, cho Đơn vị, cho Đoàn của mình không thấy
mệt mỏi, chán nản; trái lại còn thấy vui, coi chông gai là bạn
hữu, coi khó khăn là thuốc bổ, v.v... thì mình là Bồ-tát rồi
phải không các bạn?
B: Hay quá! Vậy là bạn đã thông rồi đó!
A: Tóm lại chúng ta đã nói qua về hành
trình Bồ-tát đạo đơn giản nhất với Tín - Nguyện - Hạnh; nếu
chúng ta quyết tâm, vững chí muốn đi trên con đường đó thì có
thể chuyển hóa phiền não thành an lạc, trần gian thành Tịnh độ…
C: Tôi cũng hiểu rồi! Nếu Đơn vị chúng ta
không có đố kỵ gây gổ mà chỉ có đoàn kết thương yêu thì ngay đây
cũng thật đẹp, đâu có thua gì cõi Cực Lạc với tiếng chim nói
Pháp, với cảnh đẹp sáng chói như có lưu ly, pha lê, xa cừ, mã
não phải không? Vì khi lòng ta thanh thản, vui vẻ thì cảnh nào
mà không đẹp? Như đức Phật nói “Khi tâm ta thanh tịnh, ta thấy
thế giới thanh tịnh” vậy đó!
B: Đúng!! Vậy là chúng ta đã giải quyết
được những thắc mắc còn tồn tại trong lòng về Tịnh độ, về Cực
Lạc, về Bồ-tát đạo… rồi.
A: Nhưng Bồ-tát kiểu chúng ta (huynh trưởng
GĐPT) là “Bồ-tát con” hay tiểu Bồ-tát chứ không phải Bồ-tát thật
đâu nha! Đừng có tưởng bở!☺ ☺!!
C: Đúng vậy! Hiểu rồi! Cảm ơn! Chúng ta tạm
ngưng ở đây nha! Xin hẹn gặp lại các bạn kỳ sau! Tạm biệt!
A và B: Tạm Biệt, tạm biệt!
■
Tâm Minh
Kính thưa quí vị và các bạn,
Thành đạo và Đản sanh là hai sự kiện mang nhiều ý nghĩa trong
lịch sử đức Phật Thích-ca mà người huynh trưởng GĐPT phải dạy
cho các em của mình trong chương trình Phật pháp của ngành Thiếu
và ngành Oanh.
Tài liệu để giảng bài thì không
thiếu nhưng nói làm sao cho các em hiểu anh chị trưởng muốn
truyền đạt cái gì, áp dụng như thế nào vào đời sống hằng ngày,
v.v... mới là quan trọng. Ngoài ra, người anh trưởng, người chị
trưởng đó phải có “ngôn ngữ” hợp thời đại, giản dị và dễ hiểu
chừng nào thì quí chừng đó chứ không phải đem tài liệu “nguyên
xi” ra trao cho các em! Phật pháp không bao giờ cũ nhưng phương
pháp giảng dạy, truyền đạt, mỗi người một kiểu, miễn sao nội
dung truyền đạt phải giống nhau, không mâu thuẫn với nhau là
được rồi. Mặc dù mỗi Miền, thậm chí mỗi Đơn vị có những huynh
trưởng ý kiến khác nhau, nhìn những sự kiện Đản sanh, Thành đạo,
Nhập diệt… khác nhau, nhưng khi dạy về nội dung, về ý nghĩa, về
những bài học áp dụng cho đoàn viên GĐPT thì nếu không phải
giống nhau hoàn toàn cũng phải giống nhau ở những điểm chính và
nhất là không có điểm nào mâu thuẫn nhau.
Chính vì điều này, huynh trưởng
thường trao đổi, chia sẻ với nhau về quan điểm, về phương pháp
truyền đạt… về suy nghĩ của các em đối với ngày Đản sanh, ngày
Thành đạo, ngày đức Phật nhập Niết-bàn… Nói cách khác, các anh
chị phải nắm được cách nhìn, lối suy nghĩ… của các em, phải biết
Thành đạo trong mắt các em là như thế nào và phải nói làm sao để
liên hệ những sự kiện ấy vào cuộc sống trước mặt, v.v…
Xin mời quý vị cùng theo dõi
cuộc hội thoại giữa các huynh trưởng trẻ quen thuộc A, B, C, D,
E (những Huynh trưởng đang cầm Đoàn và dạy Phật pháp cho đoàn
sinh) trong đề tài Thành đạo.
A: Xin chào mọi người, lại sắp
đến Thành đạo rồi, sắp phải tổ chức thi vựợt bậc cho các em rồi!
B: Đúng vậy! Và phải nói chuyện
với các em về ngày Thành đạo đây.
C: À, thì ra bạn đang lo về câu
chuyện dưới cờ cho tuần này đó hả?
D: Các anh / chị thì sướng rồi
vì các em ngành Thanh và ngành Thiếu dù sao cũng đã hiểu được
phần nào từ “Thành đạo”, chứ các em Oanh vũ của em không biết Ất
Giáp gì hết mới khổ chứ!
E: Các em không hiểu rành rẽ
tiếng Việt thôi chứ cũng hiểu chút chút chứ bộ, và chúng ta đừng
giảng về Thành đạo mà nên kể chuyện cho các em nghe trước, những
chuyện giống như “chuyện đời xưa” vậy.
A: Phải đó, bạn E hãy kể cho
chúng mình nghe là bạn đã “dẫn” các em vào “truyện Thành đạo”
như thế nào?
B: Và bạn không biến đức Phật
Thích-ca thành nhân vật thần thoại đấy chứ?
E: Dạ, không! Em kể chuyện thái
tử Tất-đạt-đa (Siddhatta) năm lên 9 tuổi đi dự lễ Cày Ruộng đầu
năm cùng với vua cha và hoàng hậu và cũng là Dì của thái tử. Đối
với trẻ con, những lễ nghi này thật chán, nhưng thái tử không
chạy đi nô đùa như những trẻ khác mà một mình đến dưới một cây
hồng táo (a rose-apple tree) ở một nơi rất yên tĩnh. Ở đó, thái
tử đã ngồi thiền định. Khi những người lớn đi tìm và khám phá ra
thái tử, họ đều kinh ngạc nhìn đứa trẻ 9 tuổi đang ngồi kiết già
và đắm chìm trong sự trầm tư, không để ý đến những gì đang xảy
ra quanh mình… Đó quả thật là hình ảnh của một cậu bé trẻ tuổi
nhưng già dặn về trí tuệ khiến cho mọi người phải kính nể.
D: Tại sao bạn lại kể chuyện
này cho các em?
C: Vì câu chuyện này là một
biến cố rất đặc biệt xảy ra trong tuổi thơ của thái tử và chính
kinh nghiệm này về sau trên con đuờng tìm Đạo, được coi như là
cái chìa khóa cho sự kiện Thành đạo của đức Phật (a very
remarkable incident took place in his childhood. It was an
unprecedented spiritual experience, which, later, during his
search after truth, served as a key to his enlightenment).
E: Dạ, đúng vậy, hơn nữa em
muốn cho các em biết meditation là gì. Đối với con nít 8, 9
tuổi, các em vẫn có thể ngồi thiền, suy nghiệm về những điều mắt
thấy tai nghe đã kích thích trí óc các em hay những điều lạ mắt
lạ tai v.v... như thái tử Siddhatta hồi còn bé vậy. Từ đó, em
nói luôn tại sao GĐPT tập cho các em ngồi thiền trước hay sau
buổi lễ Phật, tại sao tập ăn cơm chánh niệm, v.v...
B: Phải rồi, trong phim
“The Little Buddha” cũng có nhắc đến
việc này. Các bạn có cho các em xem phim này không?
D: Dạ có, các em rất thích xem
phim này vì phim nói tiếng Anh nên các em hiểu rất nhanh, dễ thu
hút các em học Phật pháp.
A: Rồi từ việc này, kể cho các
em nghe về 49 ngày trước khi Thành đạo, đức Phật đã ngồi thiền
định như thế nào hả?
E: Dạ, em còn kể sự việc Ngài
tu khổ hạnh rồi bị ngất xỉu, gặp nàng Tu-xà-đa (Sujata) dâng bát
sữa… nữa chứ!
C: Và bạn lại cho các em coi
phim “The Little Buddha” với cái
cảnh thái tử Tất-đạt-đa lúc bấy giờ là một vị Sa-môn chiến đấu
với ma vương và sau đó chiến thắng ma vương nữa phải không?
D: Dạ, chỉ nhờ xem phim như vậy
các em mới hiểu được “ma” là cái gì để phân biệt với “ghost” vì
trong TV cũng có chiếu phim ma. Nếu không thì rất khó giảng cho
các em hiểu ma chính trong tâm mình là như thế nào!! Phim
“The Little Buddha” cũng có nói 10
đạo quân của ma vương và các em còn hiểu được nghĩa chữ
enlightenment với trí óc non nớt của mình nữa! Đó là “Ignorance
was dispelled, and wisdom arose, darkness vanished, and light
arose”; từ đó các em nhớ được đức Phật Thành đạo vào buổi sáng
sớm, khi sao mai vừa mọc, khi bóng đêm bị xua tan bởi ánh sáng
ban ngày, hay nói theo danh từ Phật pháp của người lớn thì khi
bóng tối của vô minh bị tan biến đi vì ánh sáng của trí tuệ đã
đến.
B: Các bạn có dạy cho các em
biết tên của những “con ma” trong đạo quân của ma vương không?
E: Dạ, không dạy cũng không
được! Các em đã nghe trong phim rồi là hỏi lại và có mấy em còn
nhớ được nữa! Nhưng có vài chữ mình phải giảng nghĩa, cho ví dụ
các em mới hiểu được mặc dù đã gọi tên 10 đạo quân của ma vương
bằng English rồi đó anh!
D: Đúng vậy, chúng em nhắc lại
cho các em nghe nguyên văn lời đức Phật nói với ma vương về 10
đạo quân của nó: Sense-desire are your first army. The second
called aversion of the holy life. The third is hunger and
thirst. The fourth is called craving. The fifth is sloth and
torpor. The sixth is called fear. The seventh is doubt and the
eighth is detraction and obstinacy. The ninth is gain, praise,
and honor, and that ill-gotten fame. The tenth is the extolling
of oneself and contempt for others.
A: Phải rồi, đối với các em
Oanh Vũ, và ngay cả Thiếu nam Thiếu nữ, chúng ta nói “craving”
các em hiểu ngay, còn nói “ái dục” thì các em chẳng hiểu gì cả!!
☺ ☺!! Với ngành Thiếu, bạn C có cho các em coi phim để giảng về
Thành đạo không? Thành đạo trong mắt các em là như thế nào?
C: Các em ngành Thiếu xem phim
đó cũng hiểu nhiều hơn nhưng lại chú ý và bị thu hút bởi câu
chuyện tái sinh (reincarnation) nhiều hơn. Còn học lịch sử đức
Phật Thích-ca thì các em thích đoạn thái tử thi bắn cung, đua
ngựa… và chiếm được người đẹp Yashodara (Da-du-đà-la); và các
em Thiếu nữ thì thích cuộc thi hoa hậu ở đoạn thái tử Siddhatta
gặp Công chúa Yashodara!
B: Các em cũng thích hát những
bài “Đêm Thành Đạo” hay
“Xuất Gia” và hỏi ý nghĩa của những
câu như: “Ngài hãy chọn đường đi…”
hay “thôi em ơi ta thề lìa ngôi báu tìm
chân lý” và “nguyện từ nay dấn thân
trong cát bụi tìm đạo thiêng”…, nhưng khi dịch ra English
thì các em hiểu liền, anh à!
A: Tóm lại, muốn dạy Phật pháp
cho các em nói chung, dạy về ngày Thành đạo nói riêng, chúng ta
phải biết trong mắt các em và trong óc các em của chúng ta thấy
gì, nghĩ gì, nghĩ như thế nào… để tìm cách dẫn vào bài dạy cho
hấp dẫn, để các em tiếp thu dễ dàng. Nếu cộng thêm được “học mà
chơi, chơi mà học” nữa thì càng quí! Còn về phần chúng ta, bạn E
thử nói cho anh chị em biết bạn nhìn ngày Thành đạo như thế nào?
E: Em thì thấy ý nghĩa lớn nhất
của sự kiện Thành đạo là ở trong câu mô tả đức Phật mà em được
học từ các anh chị hồi còn ở bậc Sơ thiện; đó là: “He was not
born a Buddha, but became a Buddha by his own efforts. Before
his own enlightenment he was called Bodhisatta which means one
who is aspiring to attain Buddhahood.” (Ngài sinh ra không phải
là một đức Phật nhưng bằng những nỗ lực của tự thân Ngài đã trở
thành một vị Phật. Trước khi Thành đạo, Ngài được gọi là Bồ-tát,
có nghĩa là người muốn đạt đến quả vị Phật). Như vậy anh chị em
chúng ta đều có thể thành Phật trong một tương lai gần hay xa
tùy những nỗ lực của tự thân nhiều hay ít.
D: Còn em thì em nhớ đã được
học rằng Thành đạo là sự chấm dứt tham ái và chấp thủ, là sự
giải thoát khỏi ngục tù phiền não khổ đau. Chính tự ngã và sự
tham muốn, bám víu mãnh liệt nơi Tâm ta là ngục tù giam giữ
chúng ta. Vì vậy, em cố gắng bớt tham, bớt giận, bớt thị phi… và
thêm tình thương, thêm hòa thuận, tin yêu, vui vẻ; bớt bám víu,
bớt “nhận” và thêm “cho”… nghĩa là tập buông bỏ, từ nghĩa đen
đến nghĩa bóng của chữ buông bỏ này.
C: Mình xin thêm ý của mình:
mỗi mùa Thành đạo về, lo cho các em thi vượt bậc, mình tự hỏi
mình có tiến bộ gì không? Có được vượt bậc nào trong việc tu học
và thực hành Phật pháp không? Vì vậy, mỗi ngày mình đều soi rọi
lại mình để tinh tấn mãi, đừng đi thụt lùi so với chính mình hôm
qua, và với bạn bè và các em của mình nữa!
B: Mình cũng vậy, cố gắng làm
sao để hôm nay khá hơn hôm qua, ngày mai khá hơn hôm nay và hy
vọng đến một ngày nào đó có thể trở nên toàn thiện.
A: Các bạn đã nói lên thật
nhiều ý nghĩa và chia sẻ những ý nghĩ phong phú của các bạn về
ngày Thành đạo làm cho buổi nói chuyện hôm nay thật bổ ích và
đầy hứng thú. Xin cảm ơn tất cả và tạm biệt các bạn nha!
D và E: Chúng em kính chúc quí
anh chị một mùa Thành đạo an lạc và giải thoát!
B và C: Cảm ơn, tạm biệt! Hẹn
gặp lại!
35. Tản
mạn về
thời gian
Lời thưa
Kính thưa BBT. Pháp Luân
Lâu nay Tâm Minh hay viết “Phật Pháp Với
Tuổi Trẻ” là đem những vấn đề cần quan tâm hay thắc mắc của
Huynh Trưởng GĐPT gởi đến quí vị độc giả PL, để được chỉ giáo.
Xin cảm ơn quí vị, đặc biệt là quý Thầy đã tận tình chỉ bảo. Xin
mượn trang này để chân thành tri ân quí vị .
Hôm nay trong số Xuân này, xin cho con
được nghỉ chuyện học Phật Pháp một kỳ để nói chuyện phiếm, mặc
dù nói gì rồi cũng không qua Phật Pháp.
Kính mến chúc quí vị một Năm Mới Đinh
Hợi đầy đủ sức khỏe và an lạc để hoàn thành sứ mệnh cao cả
“hoằng dương Chánh Pháp”
Trân trọng,
Tâm Minh
Cứ mỗi độ Xuân về, gần như mọi người đều
giật mình thấy rằng thời gian qua nhanh quá, mới gởi thiệp chúc
Xuân cho nhau đó, bây giờ lại nữa rồi!!☺☺!! Phải nói là thời
gian “phi” như ngựa hay “bay” như máy may phản lực chứ không
phải chỉ là “đi” cho nên thi nhân xưa nay vẫn dùng những thành
ngữ “bóng câu qua cửa sổ” hay “nhanh tựa tên bắn”… Điều này
chứng tỏ mọi người ai cũng có hạnh phúc (không phải sao?) vì chỉ
khi vui mới thấy thời gian qua nhanh mà thôi (những ngày vui qua
mau!) nên thi sĩ Pháp Lamartine cũng than thở:
Ôi! thời gian xin dừng cánh lại
Giờ ngọc vàng xin hãy khoan bay!
(O temps! suspends ton vol
Et vous, heures propices, suspendez votre
cours!)
Thi nhân Việt Nam còn thêm hương, thêm màu
cho thời gian nữa:
Màu thời gian không xanh,
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh.
Tuy nhiên trên thực tế, thời gian không chỉ
đơn thuần là “nhanh” hay “chậm” hay nói đúng hơn thời gian vật
lý qua cái đồng hồ là khách quan nhưng thời gian tâm lý thì tùy
thuộc từng tâm trạng, có khi ta thấy thời gian lướt đi quá nhanh
mà còn có khi đi chậm ơi là chậm. Thi sĩ Nguyễn Du mô tả tâm
trạng phiền muộn vì nhớ nhung:
Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê!
Câu này không phải đã gợi cho chúng ta nhớ
đến câu “nhất nhật bất kiến như tam thu hề”
(một ngày không gặp dài như ba năm) hay sao ?
Một em bé ở trong sân trường vắng vẻ, đang
đợi mẹ đến đón thì “15 giây đồng hồ” cũng làm cho em bồn chồn,
nôn nóng, muốn khóc…:
Mười lăm giây đồng hồ,
Mình nhớ Má thấy mồ
Buồn như con cá rô nó nằm trong tô!
Thật vậy, thời gian vô thường, thời gian
tuy không có thực tính nhưng thời gian đã vô tình tác động lên
cuộc sống của chúng ta rất nhiều và tính tương đối của thời gian
làm cho mỗi người, mỗi tâm trạng, mỗi cảnh giới có thời gian
riêng… Đó là lý do cho ta hiểu tại sao hai chàng Lưu Nguyễn lạc
vào cõi Tiên Thiên Thai có 3 năm mà khi trở lại trần gian thì ở
đây đã trải qua mấy thế hệ rồi, hai “chàng trai” mới rời trần
thế ba năm, nay trở lại đã trở thành hai ông Bành Tổ rồi ! ☺ ☺
!! Tương tự như vậy, “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (một
ngày trong cảnh tù đày dài bằng ngàn năm được tự do ở ngoài) và
cũng chính vì vậy chúng ta rất dễ hiểu tại sao nói chịu quả báo
ở địa ngục đến mấy ngàn vạn năm… đó là vì người thọ khổ, người
bị hành hạ tra tấn tù đày thì thời gian đâu có tính bằng đồng
hồ, lịch… như chúng ta được!
Ở trường khi dạy về thời gian, thầy/cô giáo
thường vẽ một đường thẳng, lấy một điểm làm hiện tại (HT), phía
trước là quá khứ (QK) và phía sau là tương lai (TL); HT được xác
định bởi một điểm, còn QK và TL chỉ được biếu thị bằng nửa đường
thẳng vô định! Mặc dù chúng ta thấy được rõ ràng nửa đường thẳng
QK chấm dứt ở HT và nửa đường thẳng tương lai bắt đầu từ HT có
nghĩa HT chính là giao điểm của cả 3 thời quá khứ, hiện tại và
vị lai nhưng chưa bao giờ thầy cô giáo lưu ý chúng ta về sự quan
trọng của hiện tại hay khuyên chúng ta giữ chánh niệm, tỉnh
giác, đừng bám víu quá khứ, đừng mơ tưởng tương lai… như đức
Phật đã dạy:
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã qua rồi
Tương lai thì chưa đến
Chỉ có pháp Hiện tại
Tuệ quán chính là đây!
Đây là bài kệ quen thuộc trong kinh
Nhất dạ Hiền giả, chỉ có mấy câu
nhưng chứa đựng nhiều đề tài thiền quán. Có một điều lý thú là
chúng ta gần như đã bắt gặp những ý này được khai triển trong
bài viết thật hay của Jules Beaulac “Hãy hái thời gian” sau đây
(xin tạm dịch như sau):
Em không thể làm chậm bước thời gian lại
Nó đi qua
Nó chảy qua các kẽ ngón tay em
Như nước của phông ten
Nó trượt trong bàn tay em
Như cát của biển cả
Em không thể chụp bắt Quá khứ
Nó không còn nữa
Nó đã đi qua rồi
Cũng giống như hoàng hôn của ngày hôm qua
Nó đã biến mất
Như một kỷ niệm vụt mất đi.
Em không thể cầm tù Tương lai
Nó còn chưa đến
Nó sẽ đến vào thời điểm đã định
Giống như bình minh của ngày mai
Nó sẽ nối gót theo em
Cũng giống như sóng tấp
vào bờ
Nhưng em luôn luôn có thể hái
Hiện tại
Như một món quà tốt đẹp của Trời
Món quà này giống như một cái cây:
đâm rễ rất sâu
trong quá khứ của em
tràn đầy những kỷ niệm và kinh nghiệm
như sự khôn ngoan đuợc huân tập từ nhiều
đời
và nó phóng những cành dài của nó
đến tận Tương lai của em
tràn đầy hứa hẹn và hy vọng
giống như một công trình gói gọn
Hiện tại đã hoàn thành
Quá khứ em không còn nữa
Và tương lai em chưa đến
Hãy nắm lấy thời gian em đã được tặng
mỗi giây phút đi qua
hãy trân quí hái lấy nó
như nước của con suối
luôn luôn mời gọi em
Đừng lãng phí thời gian của em
Đó là tặng phẩm của Trời
Đừng vượt qua thời gian
Cũng đừng chạy theo thời gian
Hãy nắm bắt thực tại trước mặt em
Đừng nói rằng: tôi không có thời gian
Nên nói: tôi có tất cả thời gian của tôi
Đừng hà tiện thì giờ của em
Hãy dành cho người khác một ít thời gian ấy
Như Trời đã dành tặng cho em
Đừng mãi lo vội vã
Hãy nắm lấy thời gian của em
Và hãy để cho thời gian
có thời gian
giải quyết thời gian của nó
Vậy là, em sẽ dành được thời gian
Và em sẽ khám phá ra rằng
Thời gian thật tốt đẹp
Và tràn đầy Phật tánh trong đó.
Chúc em một ngày an lành!
36. Thái tử
Tất-đạt-đa
xuất gia
Kính thưa quí vị và các Bạn,
Trước
Thái tử Tất-đạt-đa, đã có nhiều vị xuất gia; sau đó và về lâu xa
sau này cho đến hôm nay vẫn còn rất nhiều người cũng xuất gia,
nhưng tại sao sự xuất gia của Ngài lại gợi lên trong lòng chúng
ta và trong lòng nhân loại nói chung nhiều xúc động đến thế? Xin
thưa, vì Ngài ra đi với thân thế của một vị thái tử sắp nối ngôi
vua, Ngài ra đi ở tuổi đời thơ mộng nhất, ngọt ngào nhất với vợ
đẹp con xinh... mà mọi người trên thế gian này không ai có thể
từ bỏ! Lần đầu tiên được làm cha, dù là một người đàn ông dân dã
cũng tự hào, mãn nguyện nhưng với Ngài là một “ràng buộc”
(Rāhula) mà Ngài phải cắn răng khước từ để dấn thân vào một nơi
vô định, tìm phương thuốc cứu khổ cho đời. Cái cao cả là ở chỗ
đó, sự hy sinh độc đáo là ở chỗ đó, lòng từ bi của Ngài bao la
cũng được bộc lộ ở đó… không ai đọc qua lịch sử đức Phật mà
không xúc động mãnh liệt khi hình dung Tất-đạt-đa tuổi trẻ dùng
dằng trước lúc ra đi!
Ấn tượng sâu đậm về đêm xuất
gia của Thái tử Tất-đạt-đa (Prince Siddhatta) đối với anh chị em
huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT là bài hát được lấy ý từ đoạn văn
trong Ánh Đạo Vàng “…đêm đến đã lâu rồi, đã lâu rồi, Ngài hãy
chọn đường đi, đường từ bi…” là những lời thúc giục thái tử lên
đường, xuất gia, tìm con đường giải thoát cho tất cả chúng sanh
“…ba lần Ngài ra đi, ba lần Ngài trở lại…” vì vợ trẻ con thơ níu
kéo Ngài, vì tình gia đình, tình cốt nhục cầm chân Ngài ở lại…
nhưng cuối cùng Ngài đã chiến thắng được “cái tôi” và “cái của
tôi” để dâng hiến cuộc đời mình cho cái “của chúng sanh” và “vì
chúng sanh”.
Thật vậy, cùng thời với Ngài,
và có khi trước ngài nữa, đã có rất nhiều thiền sư đạo cao đức
trọng, đạt đến những tầng thiền tối cao, nhập diệt thọ tưởng
định, v.v... nhưng họ không thành Phật vì chưa đạt đến vô ngã.
Đức Phật của chúng ta ngay từ hồi còn là một cậu bé, đã khác
người vì lòng vị tha, tình thương đối với một con ngỗng trời,
cậu bé thái tử ấy đã biết thiền định từ năm mới lên 7, 8 tuổi.
Cậu bé thái tử ấy đã trầm tư hàng giờ vì nhìn thấy cảnh đời đau
khổ, loài người cũng như loài vật, vì tranh ăn, giành mồi mà
tiêu diệt lẫn nhau: con giun bị con chim mổ, con chim bị người
thợ săn bắn chết…
Ngày nay, dạy Phật pháp cho các
em, người huynh trưởng GĐPT phải dựa vào những sự kiện (facts)
mà không phải là quan niệm, cái nhìn (opinion) của người Phật tử
đối với đấng Thế Tôn của mình. Các anh chị phải trình bày đức
Phật Thích-ca như là một nhân vật lịch sử chứ không phải là một
nhân vật thần thoại, cho nên những bài học về Đêm xuất gia với
tiếng kêu gọi của gió, những tiếng mà Thái tử “nghe” trong hư
không, trong tâm tư, tình cảm và tưởng tượng của Ngài, do tình
yêu thương nhân loại mãnh liệt của Ngài... chỉ là để tham khảo
thêm mà thôi! Tất nhiên là đối với các em lớn hơn ví dụ như ở
bậc Trung thiện, đã biết về Tâm lý học thì các em sẽ hiểu nhiều
hơn và việc giảng dạy dễ dàng hơn.
Ngoài ra, những sự kiện lịch sử
như Thái tử Tất-đạt-đa đã có một đời sống vương giả, với các
cung điện mùa Hè, mùa Đông… không hề biết đến thế giới bên
ngoài. Để rồi một ngày kia tình cờ tiếp xúc được với những nỗi
khổ triền miên của sinh, già, bệnh, chết, Ngài xúc động mãnh
liệt, và đây chính là động cơ để Ngài từ bỏ tất cả, ra đi tìm
chân lý vì Ngài có một trái tim rộng lớn, yêu thương mọi người,
mọi loài như yêu bản thân mình… Những chi tiết đó các em không
hề thắc mắc, lại thắc mắc những điều “mới lạ” đối với tâm trí
các em… mỗi em mỗi kiểu; vì vậy anh chị huynh trưởng phải cập
nhật hiểu biết cũng như cách truyền đạt của mình để các em nắm
được ý chính của những bài học Phật pháp.
Xin mời quí vị và các bạn theo
dõi cuộc hội thoại bỏ túi giữa các huynh trưởng A, B, C bàn về
việc dạy bài “Lịch sử đức Phật Thích-ca từ sơ sanh đến xuất
gia”, trong đó có đoạn Thái tử Tất-đạt-đa rời khỏi hoàng
thành Ca-tỳ-la-vệ để ra đi tìm Đạo cứu chúng sanh.
A: Xin chào các bạn, hôm nay
chúng ta thảo luận về đề tài gì vậy hả?
B: Là bài “Lịch sử đức Phật
Thích-ca từ sơ sanh đến xuất gia” của bậc Cánh mềm (ngành
Oanh Vũ) và của bậc Hướng thiện (ngành Thiếu).
C: Theo các Bạn, có sự khác
biệt gì trong cách truyền đạt của chúng ta cho các em ở hai bậc
học ấy?
A: Tất nhiên là có rồi; ngay
trong tài liệu giáo khoa cũng cho ta thấy điều đó, có phải
không?
B: Đúng vậy, đối với bậc Cánh
mềm (8-9 tuổi) chúng ta chỉ kể chuyện như là sự tích đúng hơn là
lịch sử.
C: Mình biết rồi, còn đối với
các em bậc Hướng thiện (13-14 tuổi) thì bài học đã gồm 3 phần:
“em nghe”, “em suy nghiệm” và “em tu tập” đó có phải không?
A: Phải rồi, phần “em nghe” là
phần thuần túy chuyện kể về thân thế đức Phật, Ngài sinh ra ở
đâu, con cái nhà ai, lớn lên như thế nào, được giáo dục ra làm
sao, tại sao Thái tử xuất gia…?
B: “Em suy nghiệm” là sau khi
nghe anh chị trưởng kể câu chuyện về Thái tử Tất-đạt-đa từ sơ
sinh đến xuất gia - rời cung điện giữa đêm khuya - các em có suy
nghĩ như thế nào về chuyện kể.
C: Chỗ này rất nhiều em có ý
kiến, có suy nghĩ… không giống nhau đâu nha! Có khi còn trái
ngược nữa.
A: Đúng vậy, nhất là câu chuyện
tranh chấp con ngỗng trời giữa Thái tử và Đề-bà-đạt-đa.
B: Có điều lạ là các em của
mình không có em nào đứng về phía Đề-bà-đạt-đa hết hở các bạn?
C: Vì các em luôn đứng về phe
người tốt, nhân chi sơ tánh bổn thiện mà!
A: Mình thì gặp các em thích
nghe về buổi lễ hạ điền mà Thái tử lúc đó chỉ bằng tuổi các em
Oanh Vũ đã biết ngồi thiền, lại ngồi say mê nữa!
B: Mình cũng còn say mê đoạn đó
nữa huống gì các em! Thật là một sự kiện lạ lùng đối với một cậu
bé 7,8 tuổi. Từ hiện tượng này chúng ta có thể đã thấy được
trong tương lai, Ngài sẽ xuất gia để tìm chân lý mà sự trầm tư
(meditation) đã gợi ra cho Ngài, phải không?
C: Phải rồi! Kinh Trung A-hàm
nói sự kiện ấy chính là cái chìa khóa mở đường cho Ngài tiến đến
giác ngộ sau này. À, nhưng mà các bạn này, lễ hạ điền là lễ gì
vậy? Nước ta có lễ này không?
A: Đó là một buổi lễ do đức vua
Tịnh Phạn (King Suddhodana) tổ chức: đây là cơ hội để cho tất cả
mọi người không phân biệt giai cấp, đều ăn mặc đẹp đẽ, vui chơi
thỏa thích một bữa trước khi bắt tay vào công việc đồng áng (lễ
hạ điền = Ploughing Festival). Trong không khí vui nhộn ấy mà
một đứa trẻ như Thái tử lại không thấy hứng thú trong cuộc lễ,
lại tìm đến một nơi vắng vẻ, dưới bóng một cây hồng táo (rose
apple) ngồi tréo hai chân lại (kiết già), trầm ngâm lặng lẽ, một
mình chăm chú theo dõi hơi thở vào ra, tâm an trụ định vững
chắc… Ngài đã đắc Sơ thiền ngay từ tuổi ấu thơ.
B: Khi tìm thấy Thái tử ngồi
tĩnh lặng hành Thiền, đức Vua phải kinh ngạc thán phục. Vua đến
trước mặt Thái tử xá chào và nói với con trai của mình: “con
yêu quí, đây là lần thứ hai phụ vương đảnh lễ con”.
C: Các em của mình nói bây giờ
các em Oanh Vũ cũng ngồi thiền 5 phút trước khi lễ Phật.
A: Chúng ta phải nhắc các em
một điều là Thái tử lúc ấy ngồi thiền mấy tiếng đồng hồ lận!☺☺!!
Còn các em ngồi bình thường cũng không giữ yên lặng được đến 5
phút, đừng nói là ngồi thiền!☺☺!!
B: Các em của mình thì đọc ở
đâu không biết nói rằng: Thái tử Tất-đạt-đa kết hôn năm 16 tuổi
và xuất gia năm 29 tuổi, nghĩa là sau 13 năm sống cuộc đời vương
giả, có vợ con, không hay biết gì đến nỗi thống khổ của bệnh
tật, già yếu và chết chóc cả… còn theo các anh chị dạy em thì
Thái tử kết hôn năm 17 tuổi, xuất gia năm 19 tuổi, nghĩa là chỉ
2 năm sau khi kết hôn.
C: Nếu bạn chịu khó xem kỹ một
chút thì điều này là ở trong Đức Phật và Phật Pháp (The Buddha
and His Teachings) của ngài Narada Maha Thera chứ đâu có “bí
mật” như bạn nói “đọc ở đâu không biết”!☺☺!! Cái chính là mình
nên giải thích cho các em như thế nào để các em khỏi thắc mắc
với những cái “râu ria” đó.
A: Phải rồi, ở cái tuổi của
ngành Thiếu, các em ưa lý luận, ưa “chính xác”, nói “một là một,
hai là hai” nên khó có thể chấp nhận du di, vì thế chúng ta phải
cho các em thấy rằng các em còn rất nhiều điều chưa biết; ví dụ
như đức Phật sinh ra ở Ấn Độ, có một nền văn minh khác với Tây
phương đã đành, còn khác với Trung Hoa nữa; mà Việt Nam chúng ta
thì chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa, lại còn chịu ảnh hưởng
của Pháp nên lịch thì vừa dùng theo âm lịch vừa theo tây lịch.
Thế cho nên chỉ nói về lịch
thôi cũng đã phải đối chiếu búa xua mới suy ra được ngày tháng
năm sinh… của một người ở Ấn Độ là ngày nào trong Âm lịch hay
Dương lịch; đừng nói là các chi tiết khác! Chúng ta còn có thể
lấy ví dụ cho các em thấy: ngay ở Mỹ, những ngày lễ đôi khi
người ta không tính được đúng ngày nào của Tây lịch mà chỉ ghi
là “ngày thứ năm của tuấn thứ 3 của tháng 11” chẳng hạn.
B: Đúng vậy! Chúng ta có thể
cho các em biết rõ ràng Lịch Ấn Độ cũng chia làm 12 tháng trong
năm với 3 mùa rõ rệt: mùa nắng, mùa mưa và mùa lạnh; các tháng
có tên gọi riêng và cũng dạy cho các em tên của các tháng của âm
lịch nữa đó nha!
C: Ủa, chứ không phải cũng gọi
như dương lịch, tháng 1, tháng 2… sao?
A: Tất nhiên là không! Bạn thật
vô ý quá!
B: Rất nhiều người không nhớ
hay không biết chứ không chỉ một mình bạn đâu! Ví dụ tháng
January thì âm lịch không gọi là tháng Một mà gọi là tháng
Giêng, tháng Mười một của âm lịch là tháng November của dương
lịch, còn tháng December của dương lịch thì âm lịch gọi là tháng
Chạp đó! Những tháng khác (tháng 2, tháng 3, tháng 4… tháng 10)
thì không có tên riêng, trái lại ở Ấn Độ, tháng nào cũng có tên
riêng cả.
C: Các bạn thật biết nhiều hơn
mình quá, cho mình biết tên các tháng của Ấn Độ đi, để mình nói
cho các em biết.
A: Mùa Nắng ở Ấn gồm 4 tháng:
Tháng 1 có tên là Citta (nhằm tháng ba ÂL); tháng 2 có tên
Vesākha (nhằm tháng tư ÂL); tháng 3 có tên Jetiha (nhằm tháng
năm ÂL); tháng 4 có tên Asalha (nhằm tháng sáu ÂL); Mùa Mưa gồm
4 tháng: tháng 5 có tên là Savana (nhằm tháng bảy ÂL); tháng 6
tên là Pothapada (nhằm tháng tám ÂL); tháng 7 tên là Assayuja
(nhằm tháng chín ÂL); tháng 8 tên là Katika (nhằm tháng mười
ÂL); Mùa Lạnh gồm 4 tháng: tháng 9 có tên là Meggasira (nhằm
tháng một ÂL); tháng 10 tên là Phussa (nhằm tháng chạp ÂL);
tháng 11 tên là Magha (nhằm tháng giêng ÂL); tháng 12 tên là
Phaggunra (nhằm tháng hai ÂL).
B: Vì vậy, chúng ta biết đức
Phật sinh nhằm ngày trăng tròn của tháng Vesakha nên “dịch” ra
ÂL là ngày rằm tháng tư, cũng như ngày đức Phật xuất gia, nhằm
tháng Phaggunra (vào một đêm đầy sao, không phải ngày trăng
tròn) nên “dịch” ra là mồng 8 tháng 2 ÂL, tương tự như vậy ngày
Thành Đạo vào tháng Phussa và cũng không phải là ngày trăng
tròn, nhằm ngày mồng 8 tháng chạp ÂL và ngày đức Thế Tôn nhập
diệt là ngày trăng tròn tháng Phaggunra, nhằm ngày rằm tháng hai
ÂL.
C: Hèn gì Phật tử hành hương Ấn
Độ đông đúc nhất là vào mùa lạnh; vì nghe nói khí hậu ở đó rất
khắc nghiệt, mùa nắng thì nhiệt độ trong bóng râm của Ấn Độ
thường nóng khoảng 40 độ C và chỉ mát lạnh ở 4 tháng cuối mà
thôi!
A: Thật ra, từ lâu, Viện Hóa
Đạo đã có phổ biến bản niên đại về lịch sử đức Phật Thích-ca để
các tài liệu tu học được thống nhất nhưng anh chị em chúng ta có
người không để ý và những người san định tài liệu thì không đưa
vào nên có hơi khập khiễng.
B: Đúng vậy, vấn đề là phải
thống nhất để các em khỏi thắc mắc thôi, chứ trong thời gian vô
cùng và không gian vô tận, 100 năm cũng chỉ là khoảnh khắc, nói
gì đến 10 năm hay 20 năm phải không các bạn?
C: Đúng vậy, chúng ta theo tư
liệu của Viện Hóa Đạo đã phổ biến nha! Các bạn cho biết để mình
ghi lại.
A: Theo đó thì đức Phật sinh
năm 624 trước Tây lịch, kết hôn năm 17 tuổi (607), xuất gia năm
19 tuổi (605), 5 năm hỏi đạo (605- 600); 6 năm khổ hạnh
(600-594), thành đạo lúc 30 tuổi (594); 50 năm hóa đạo (594-
544), từ 30 tuổi đến 80 tuổi, năm 544, Ngài nhập diệt (Phật lịch
tính từ đây).
B: Trở lại với bài học của
chúng ta đi nha! Về sự kiện xuất gia chúng ta cần nhấn mạnh cho
các em Hướng Thiện những điểm nào, tất nhiên là hết sức đơn giản
cho hợp với trí nhớ và hiểu biết của các em.
C: Chúng ta giải thích và phân
tích cho các em biết tại sao thấy 4 cảnh tượng khổ ở 4 cửa
thành, Thái tử Tất-đạt-đa không chịu nổi và quyết chí xuất gia.
A: Đúng vậy, vì đối với các em
nhỏ bây giờ biết nhiều quá nên trở thành không biết gì cả!☺☺!!
Thật vậy, các em xem TV, cảnh chết chóc xảy ra quá thường, đến
nỗi các em nổi giận lên là xách súng bắn bạn, bắn thầy, các bạn
không thấy sao? Không chỉ ở Mỹ mà ở Việt Nam cũng có nữa đó nha!
B: Còn nữa, thấy cảnh người bị
thắt cổ chết thì tự mình cũng làm theo để coi thử cảm giác chết
vì bị thắt cổ như thế nào! Thật không coi mạng sống của mình và
của người ra cái gì cả!
C: Các bạn bi quan quá, các em
của chúng ta đâu có vậy, đó chỉ là thiểu số và ít nhiều bị bệnh
tâm thần đó, trí óc nó có vấn đề hay di truyền từ ông bà cha mẹ
gì đó, mới có những hành động khiếp đảm như vậy! Bởi vậy mới nói
phải qua lịch sử đức Phật từ sơ sanh đến xuất gia để giáo dục
các em biết yêu quí sự sống, biết thương yêu và nghĩ đến người
khác… như cậu bé Tất-đạt-đa vậy.
A: Phải rồi, chúng ta phân tích
cho các em thấy tại sao Thái tử lại xúc động mãnh liệt như vậy
(nếu các em hay chúng ta cùng chứng kiến với Thái tử, chúng ta
có suy nghĩ, có đau khổ, v.v... như Thái tử không? Bằng cớ là
Xa-nặc bên cạnh Thái tử đó).
B: Và chúng ta cũng phân tích
cho các em biết ý nghĩa thật cao quí, sự từ bỏ vĩ đại của đức
Phật; đây không phải là sự từ chối cuộc đời của một ông cụ già
đã chán chường cuộc sống khổ hãi, cũng không phải từ bỏ cuộc đời
của một người nghèo đói bần cùng đến phải tuyệt vọng… mà đây là
sự từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp, con ngoan, quyền uy tột bực, sự
khước từ của một vị thái tử trẻ măng đối với vương vị, hào quang
và hạnh phúc... của riêng mình để dấn thân tìm chân lý, cứu độ
nhân sinh… Còn bây giờ chúng ta đã có phương thuốc cứu khổ rồi
nhưng có chịu tinh tấn tu học hay không?!☺☺!!
C: Đúng vậy, bây giờ nếu bảo
các em cho bạn mượn cái computer của mình hay cái máy chơi game…
coi thử các em có cho không đừng nói đến những chuyện to lớn
hơn!
A: Như vậy là chúng ta đồng ý
với nhau về những điều cần truyền đạt đến các em trong bài Phật
pháp này rồi; mình cứ phải giải đáp những câu hỏi râu ria của
các em nhưng đừng để các em quên ý chính (main idea) của bài
Phật pháp và nhất là cho các em thấy học Phật pháp không chưa
đủ, phải thực hành nữa, như vậy là được rồi! Tinh thần này áp
dụng cho tất cả những bài Phật pháp
B: Có phải bạn muốn nhắc đến
phần “em tu tập” của tài liệu giáo khoa không? Theo tài liệu bậc
Hướng Thiện chúng ta có:
Không ăn chơi quá độ (Stop
spending lavishly).
Không chạy theo tham dục (Stop
having overwhelming desires).
Không ngủ quá mức (Stop
sleeping long hours).
Không ganh ghét, thù hận (No
envy, no hate, no hatred).
Sẵn sàng đòi lại lẽ phải cho
mọi người (Stand up for the rights of everyone).
Luôn nghĩ đến đau khổ của người
khác (Have sympathy for others’ suffering).
Thương người như thể thương
thân (Love others as yourself ).
Sẵn sàng giúp đỡ mọi người (Be
ready to help those in need).
Tinh tấn trong công việc và tu
học (Persevere in school as well as in practice Buddha’s
Teachings).
Tôn trọng sự Thật (Respect the
Truth).
C: Thật ra đây cũng không ngoài
các Giới quy y của anh chị em chúng ta và Luật đoàn.
A: Đúng, nhưng chúng ta cũng
phải luôn nhắc nhở các em và tự nhắc nhở mình; đó chính là học
và hành Phật pháp chứ gì nữa.
B: Phải! Phải! Vậy thì buổi hội
thoại của chúng ta hôm nay đến đây có thể kết thúc được rồi; xin
tạm biệt nha!
C và A: Tạm biệt! Tạm biệt!
Kính thưa quý vị và
các bạn!
Tại sao phải thu gọn “giáo dục” lại thành
giáo dục trong GĐPT? Xin thưa, bởi vì giáo dục nói chung quá
rộng lớn và khi nhấn mạnh giáo dục trong GĐPT chúng tôi muốn nói
đến giáo dục Phật giáo mà anh chị em huynh trưởng đã được trao
truyền và áp dụng không chỉ trong việc giáo dục đàn em mà còn áp
dụng cho chính bản thân nữa. Người làm công tác giáo dục trong
GĐPT không phải chỉ cần biết trao truyền kiến thức, cũng không
phải chỉ là nhà truyền giáo đơn thuần, mà còn phải biết dùng
những phương tiện để thu hút các em, lôi cuốn các em đến học
Phật và thấm nhuần Phật pháp một cách tự nhiên. Tất nhiên là
không phải đến với GĐPT để tẩy não các em hay để nhồi nhét Phật
pháp cho các em, v.v… Giáo dục Phật giáo khác với giáo dục
Khổng-Mạnh hay giáo dục của Jean Jacques Rousseau. Trong chương
trình tu học của các em từ ngành Thiếu đến Huynh trưởng thì môn
học Phật pháp là quan trọng nhất, nhưng vì các em không phải là
người xuất gia hay chuẩn bị để xuất gia nên chương trình tu học
cần phải có đủ thứ hết: ngoài Phật pháp còn có Hoạt động thanh
niên (HĐTN), Văn nghệ, Trại + Sinh hoạt Trại, ở hải ngoại còn có
thêm môn Việt ngữ. Trong HĐTN có gút, truyền tin (Morse,
Sémaphore, dấu đi đường…), cứu thương, đo đạc, thiên văn, v.v...
Trong văn nghệ có báo chí, sân khấu, trình diễn, cách sử dụng
những nhạc cụ thông thường, v.v…
Người Huynh trưởng GĐPT là những nhà giáo
dục, có người không được đào tạo từ một trường Sư phạm nào cả,
có người không có nhiều bằng cấp hay học vấn uyên thâm như những
học giả, triết gia… Nhưng với tấm lòng thương yêu trẻ, vì Tam
bảo và tổ chức GĐPT nên những anh chị ấy đã thành công trong
việc giáo dục các em sống đúng theo chân tinh thần Phật giáo.
Với tinh thần trách nhiệm, vì tình thương cho các em, các anh
chị Huynh trưởng đã không ngừng thao thức, trăn trở… tìm những
phương pháp thích hợp để hướng dẫn cho các em. Không phải đợi
đến thế kỷ thứ 21 mới có một nền giáo dục mang tính chất nhân
bản dân tộc và khai phóng, mà cách đây gần 3000 năm đức Thế Tôn
đã chủ trương một nền giáo dục mang các đặc tính mà hiện nay các
nhà trường tiên tiến trên thế giới đang áp dụng: tinh thần thực
tiễn, tinh thần hướng dẫn, khích lệ, tinh thần tự tín tự chủ,
tinh thần độc lập, tinh thần tùy duyên bất biến, v.v…
Trước khi mời quý vị và các bạn theo dõi
buổi hội thoại giữa các huynh trưởng về phương pháp giáo dục
trong GĐPT, xin kể quý vị nghe một câu chuyện để chúng ta thấy
rằng dạy Trẻ có nhiều điều thú vị bất ngờ, và bài học mà người
lớn muốn cho các em tiếp thu không phải khi nào cũng giống như
điều mà người lớn đã dự tính đâu!
Có một nhà quý tộc
giàu nọ, một hôm đưa cậu con trai về đồng quê để thăm nhà một
nông dân rất nghèo, để dạy cho con biết “người nghèo sống như
thế nào”. Cậu bé rất vui khi được hít thở không khí trong lành
của đồng ruộng và rong chơi suốt ngày. Khi trở về người cha hỏi:
con có thích cuộc đi chơi này không? Dạ thích lắm!
Vậy con đã thấy người
nghèo sống như thế nào chưa? Con đã học được những gì nào?
Dạ con học được nhiều
lắm! Thí dụ như nhà họ có bốn con chó, nhà mình chỉ có một con;
nhà mình chỉ có một cái hồ bơi nhỏ ở trong vườn nhà thôi, còn họ
có cả con kênh dài vô tận! Lồng đèn của mình chỉ thắp sáng trong
vườn, còn họ thì có muôn ngàn vì sao trên trời soi sáng; nhà
mình nhìn ra chỉ có cái patio nhỏ xíu, còn họ có thể nhìn xa ra
tận chân trời. Nhà mình có người làm phục vụ, còn họ thì phục vụ
người khác, mình phải mua thức ăn còn họ tự trồng để ăn; nhà
mình có tường rào bao bọc che chở, còn họ có bạn bè, bà con láng
giềng che chở.
Người cha không nói
được lời nào, cuối cùng cậu con thêm vào một câu: cảm ơn ba đã
chỉ cho con biết, chúng ta thật là nghèo nàn biết bao!
Có phải là thú vị bất ngờ không, thưa quý
vị và các bạn??! ☺ ☺!!
Bây giờ, xin kính mời quý vị và các bạn
theo dõi cuộc hội thoại về Giáo dục trong GĐPT sau đây với những
huynh trưởng trẻ quen thuộc A,B,C:
A: Đề tài của chúng ta hôm nay là vấn đề
giáo dục trong GĐPT phải không?
B: Phải, phải, nhưng đi sâu vào phương pháp
hướng dẫn các em, và còn định hướng cho các em của chúng ta nữa.
C: Không phải chỉ cho đoàn sinh mà còn cho
huynh trưởng nữa đó!
A: Chà! Sao nhiều vậy? Mình cứ thảo luận
đến đâu hay đến đó nha! Trước hết bạn nào mở đầu bằng tinh thần
giáo dục của GĐPT là gì đi nha!
B: Dạ được, tinh thần giáo dục của GĐPT đã
được nêu lên làm châm ngôn của GĐPT, đó là: Bi, Trí, Dũng. Giáo
dục trước hết phải thương yêu đối tượng mình giáo dục, phải
không các bạn? Người Thầy, người Huynh trưởng, phải mở rộng lòng
mình ra để bao dung cho người học trò, người đệ tử của mình
(bi). Nhưng lòng bao dung không phải là nuông chiều quá mức để
học trò sinh hư mà phải có kỷ luật, nề nếp, vì vậy cần phải có
hiểu biết (trí tuệ) mới có thể thương yêu đúng cách được. Sự
hiểu biết và thương yêu này không chỉ duy trì trong vài giờ vài
ngày vài tháng mà có khi đến vài năm cho nên cần phải có một
tình thương vững bền, một sự tinh cần cao độ, một sự hy sinh
không tính toán, một sự hỷ xả vô điều kiện (dũng) mới được.
C: Đúng vậy, cho nên ai đã “mang lấy
nghiệp” huynh trưởng vào thân thì cũng đừng “trách trời gần trời
xa” nha! ☺ ☺!!
A: Phải rồi, vì làm huynh trưởng GĐPT không
có lãnh lương, không có benefits, không có vacation, mà còn tốn
tiền xăng (đưa đón các em đi sinh hoạt, mua pizza cho các em ăn
nếu tụi nhỏ đói bụng, v.v…) vậy mà số lượng huynh trưởng GĐPT ở
trong nước hay hải ngoại cũng đều đông đảo cả! Nhưng bây giờ
chúng ta bàn đến sự áp dụng tinh thần này vào các bộ môn sinh
hoạt của GĐPT nha! Mục đích chính của chúng ta là phổ biến Phật
pháp, vậy tại sao lại có bộ môn Văn nghệ trong GĐPT?
B: Văn nghệ GĐPT cũng chuyên chở Phật pháp,
đạo đức, tinh thần dân tộc, khai phóng, v.v...
C: Khoan đã, các bạn hãy cho tôi biết thế
nào là tinh thần dân tộc? Và khai phóng là gì?
A: Nói cho rõ một chút thì tinh thần giáo
dục mới của thế giới ngày nay đòi hỏi một nền giáo dục toàn diện
là phải đào tạo được một con người toàn diện với 3 tính chất:
nhân bản, dân tộc và khai phóng.
B: Tính chất nhân bản (humanity) nghĩa là
con người đó phải biết mình là ai (ví dụ người Phật tử thì biết
mình là một hợp thể ngũ uẩn, là kết hợp của 12 nhân duyên,
v.v... chẳng hạn); tính dân tộc (nationality) nghĩa là giáo dục
cho mình biết nguồn gốc của mình, ông bà tổ tiên của mình là ai,
đất nước của mình nằm ở đâu, lịch sử dân tộc mình như thế nào,
v.v... nếu không biết thì mình được gọi là người mất gốc; tính
khai phóng (liberty, liberal education, free) nghĩa là dạy cho
mình biết mở mang tâm thức và trí tuệ, biết tiếp thu những tinh
hoa của thế giới, những thành quả của khoa học hiện đại, phải
biết mở lòng ra đón những ngọn gió mới làm cuộc đời tươi mát
hơn… không phải chỉ khư khư ôm lấy quá khứ của mình, của dân tộc
mình, dòng họ mình… rồi trở nên lạc hậu lúc nào không hay. Nói
cách khác, gắn bó với quê hương dân tộc không có nghĩa là tự
trói chặt mình vào những truyền thống, không mở rộng tầm nhìn ra
thế giới đổi mới để học tập và tiến bộ.
C: Như vậy thì mình hiểu rồi, văn nghệ GĐPT
nói riêng và các bộ môn khác nói chung quả thật đạt được các yêu
cầu ấy. Này nha: mình dạy cho các em những điệu vũ dân tộc, có
khi các em múa những điệu vũ Tây phương đã được cải biến cho hợp
với giai điệu, phong cách của người Việt Nam, v.v... đã áp dụng
computer vào chương trình học trên Net, họp viễn liên trên điện
thoại để khỏi phải đi lại mất nhiều thì giờ, tiền bạc… Ở cái xứ
sở rộng thênh thang này, tài liệu tu học từ ngành Thiếu đến
Huynh trưởng, từ sinh hoạt ở Đơn vị đến sinh hoạt các Trại huấn
luyện, v.v... đã được thâu vào những băng video, CD, DVD, v.v...
để phổ biến rộng rãi. Ngoài ra mình còn dạy tiếng Việt cho các
em Oanh vũ, dạy lịch sử và địa lý cho các em ngành Thiếu và
Huynh trưởng nữa.
A: Về các bài hát sinh hoạt, các trò chơi
nhỏ và HĐTN cũng vậy, không phải bất cứ bài hát hay trò chơi nào
cũng dùng cho GĐPT được. Vì vậy đã có nhiều Huynh trưởng sưu tập
những bài hát, những trò chơi nhỏ đã được Phật hóa… để dạy cho
các em. Còn môn HĐTN, ví dụ với những Trò chơi lớn, cũng đã kết
hợp đầy đủ những phương pháp rèn luyện tính tình, sự tháo vát,
thông minh, khéo léo (skills), tác phong và đạo đức của các em
rồi.
B: Ngoài ra, dù với bất cứ môn học nào, đặc
biệt là Phật pháp, phương pháp quen thuộc nhất của giáo dục GĐPT
là văn, tư, tu. Văn là nghe, là huân tập vào tâm trí mình những
lời kinh, tiếng kệ, lời đức Phật và chư Tổ dạy, lời giảng của
quý Thầy, quý anh chị Trưởng, v.v... Tư là suy nghĩ, trầm tư về
những điều đã nghe, có gì không hiểu thì phải hỏi (hỏi tận gốc
để không còn thắc mắc mới thôi). Tu là thực hành. Sau khi nghe
rồi, hỏi kỹ lại những chỗ còn thắc mắc, suy gẫm, thảo luận với
bạn bè xong thì phải thực hành.
C: Phải rồi, nếu học Phật pháp mà không
thực hành thì chúng ta chỉ là “những cái đãy đựng sách” đó!
Ngoài ra, người Huynh trưởng phải là tấm gương cho đàn em soi
nữa, nghĩa là vấn đề thân giáo không thể bỏ qua trong giáo dục
GĐPT có phải không?
A: Đúng vậy, cái khó của người Huynh trưởng
GĐPT là phải “nói sao làm vậy, làm sao nói vậy” không thôi các
em hỏi làm sao trả lời? Nếu chúng ta dạy các em ở lớp, ở trường,
sắp nhỏ còn sợ chúng ta vì còn có thể bị cho zero, bị phạt,
v.v... còn ở GĐPT mình còn khuyến khích cho các em hỏi, các em
thắc mắc nữa! Còn nhớ có em hỏi một anh Huynh trưởng “sao anh
dạy tụi em đừng sát sanh mà anh đi câu cá?”, anh ấy phải xin lỗi
và từ đó về sau không bao giờ đi câu cá nữa. Tóm lại, một người
Huynh trưởng GĐPT không chỉ giáo dục các em trong khi cầm còi,
đứng trên bảng, trong chánh điện, trên đất trại, v.v... mà còn
phải “dạy” các em ở mọi lúc, mọi nơi. Nói cách khác, các em của
chúng ta có mặt ở khắp nơi, nếu chúng ta thiếu tỉnh thức, thiếu
tu tập, thì một ngày nào đó, ở một nơi nào đó rất bất ngờ chúng
ta sẽ lúng túng không biết trả lời các em làm sao nếu chúng ta
“nói một đường, làm một ngả”.
B: Đúng vậy. Và người Thầy, người Huynh
trưởng không phải chuyện gì cũng bày vẽ được cho học trò của
mình đâu; phải để cho người học trò của mình, đệ tử của mình,
đàn em của mình tự làm chủ những vấn đề riêng của nó, mình đâu
có phải là nó để thay thế nó mà giải quyết được.
C: Phải rồi, bây giờ các bạn nói cho mình
nghe những phương pháp hướng dẫn các em như thế nào cho khế hợp
với tinh thần Phật giáo trong thời đại mới đây?
A: Mình nghĩ Phật pháp không bao giờ cũ.
Những gì gọi là “nhân bản”, “dân tộc” và “khai phóng”, đức Phật
đã nói cách đây hơn 2500 năm rồi! Không có gì cần phải thay đổi
cả. Chỉ có phương pháp truyền đạt, ngôn ngữ dùng để truyền đạt
có thay đổi mà thôi. Mình xin lấy ví dụ: nếu bây giờ dạy Phật
pháp cho các em mà dùng lại bài của chúng mình học cách đây 50
năm trong đó toàn chữ Hán Việt, thì đó gọi là cũ; nếu còn dùng
lối đọc trong các sách viết từ những năm 60 ra… đó cũng là cũ.
Đổi mới là gì? Ví dụ học Lịch sử đức Phật Thích-ca hay Sự tích
đức Phật Di Lặc, mình cho các em coi phim Little Buddha (phim
nói tiếng Anh) hay Sự tích Phật Di Lặc (phim nói tiếng Trung
Quốc, được chuyển ngữ thành tiếng Việt) rồi bảo các em kể lại
truyện phim, cho các em đặt câu hỏi và chúng ta cũng đặt câu hỏi
cho các em, v.v… đó là một ví dụ về đổi mới.
B: Đúng vậy, đối với các em lớn hơn một
chút thì dùng phương pháp hội thoại trong lớp giữa các em với
nhau; ví dụ anh/chị trưởng đưa ra một câu hỏi hay một vấn đề,
các em trả lời, thảo luận, biện giải, v.v... những vấn đề này là
từ những bài Phật pháp trong chương trình chứ không phải ở
ngoài; nghĩa là mình phải hoàn thành chương trình để các em thi
Vượt Bậc nhưng không khí học tập khác xưa, không phải anh/chị
giảng các em ngồi nghe mà các em đều tham gia thảo luận về bài
học của mình. Với cách này nội dung truyền đạt vẫn được bảo đảm.
C: Mình có thể chiếu phim cho các em coi về
các cảnh chùa ở Việt Nam hay đưa các em đi thăm các chùa nơi
thành phố mình ở. Có thể mời quý thầy, quý sư cô đến giảng cho
các em một thời pháp, v.v... Quý thầy/ sư cô trẻ dùng tiếng Anh
để giảng cho các em, các em rất thích vì sẽ hiểu nhiều hơn nếu
chỉ đọc sách Phật pháp mà không có song ngữ hay có song ngữ
nhưng văn viết (written language) không phải văn nói (spoken
language) làm các em thấy khó hiểu.
A: Hay lắm, tùy theo sáng kiến, các bạn có
thể làm cho những bài học của chúng ta trở nên sống động hơn. Ví
dụ, mình nhớ hồi đơn vị mình mời nhân viên cấp cứu về hỏa hoạn
(firefighter) và toán tìm kiếm và tiếp cứu nạn nhân (search and
rescue team) đến dạy cho các em mình cách ứng xử với những tai
họa khẩn cấp (emergencies & natural disasters) như hỏa hoạn, tai
nạn xe, tornado, lụt, v.v... họ bày cách dập tắt lửa, cách đem
người từ trong nhà bị cháy ra hay cách tránh gió xoáy (tornado,
vòi rồng), cách gọi cảnh sát giao thông, v.v...các em rất thích
vì họ có những kiến thức chuyên môn rất hấp dẫn. Đó là những bài
học rất sống động về cấp cứu, cứu thương, thoát hiểm, v.v...
B: Nhiều người nói chương trình HĐTN của
GĐPT quá cũ, ví dụ bây giờ đâu có ai dùng đến Morse, Sémaphore,
v.v… nữa, các bạn nghĩ sao?
C: Mình thấy những kiến thức đó cũng có
giúp ích cho các em nhiều chứ, chỉ là mình diễn tả không được
thông suốt thôi! Bạn A góp ý đi!
A: Đúng vậy, vấn đề không phải là vì bây
giờ không ai dùng nên học về truyền tin (Morse, semaphore, mật
thư, dấu đi dường…) là vô ích đâu! Những bài học ấy giúp các em
phát triển trí thông minh, nhanh mắt, lẹ tay, thính tai, óc sáng
kiến, khả năng nhạy bén về nhận xét chung quanh mình. Cách viết
và giải các mật thư làm phát triển khả năng “trinh thám” và sự
khéo léo sắp xếp thành những mật thư mới lạ… rất có ích cho các
em sau này gặp những tình huống tương tự. Vấn đề là những cái gì
mình thấy thiết thực thì thay đổi một chút để dạy cho các em. Ví
dụ ngày xưa ở quê nhà mình dạy các em thay bánh xe đạp, vá xe
đạp, bây giờ đổi lại dạy “thay bánh xe hơi” mà thôi! Ngày xưa
học vá áo, may áo, bây giờ đổi lại là “thực hiện trang Web” cho
đơn vị, cho miền, v.v… Nói tóm lại, tâm huyết của người Huynh
trưởng muốn tìm ra cách hay nhất để truyền đạt cho các em mình
là điều quan trọng nhất.
B: Như vậy hôm nay chúng ta đã nắm được
hướng giáo dục chung và giáo dục của GĐPT trong hướng giáo dục
chung ấy, các bạn thấy giáo dục GĐPT có trở ngại gì cho hướng
giáo dục con người toàn diện không?
C: Mình thấy hình như ngay trong hướng giáo
dục con người toàn diện của thế giới mới này hơi chỏi nhau đó!
Ví dụ như tính dân tộc có làm trở ngại tính khai phóng hay
không? Vì một mặt thì dạy phải giữ gia phong nề nếp, một mặt dạy
“bung ra” để tiếp thu cái mới, không phải là chỏi nhau sao?
A: Chính vì vậy mà sự tồn tại của hai mặt
này mới quân bình lẫn nhau: nếu thiên về dân tộc tính quá thì đó
là cố chấp, dính mắc với cái cổ truyền, không chịu tiếp cận với
thế giới mới, dễ trở nên lạc hậu; còn nếu phóng khoáng tự do quá
thì chỉ biết chạy theo cái mới, đánh mất gốc rễ của mình. Cả hai
đều là cực đoan. Nhưng cách đây hơn 2500 năm đức Thế Tôn đã cho
chúng ta cái cẩm nang để đối trị sự “chỏi nhau” này rồi!
B: Là tinh thần “tùy duyên bất biến” phải
không?
A: Đúng vậy!
C: Vậy là giáo dục GĐPT cũng cùng chung
hướng với nền giáo dục mới mang tính chất nhân bản dân tộc và
khai phóng, phải không các bạn? Hôm nay mình được biết thêm
nhiều từ mới. Buổi hội thoại thật vui và bổ ích ghê! Cảm ơn các
bạn nhiều! Chào tạm biệt!
A và B: Tạm biệt! Tạm biệt!■
Kính thưa quí vị và các bạn,
Cách đây 50 năm,
tu Thiền đối với người Phật tử nói chung và Huynh trưởng Gia
Đình Phật Tử (GĐPT) nói riêng không quen thuộc như bây giờ. Quý
Thầy, quý Sư cô, nghĩa là các vị Cố vấn Giáo hạnh của GĐPT chưa
đem Thiền phổ biến rộng rãi cho hàng Phật tử trẻ tuổi, hẳn là có
lý do riêng, ở đây xin miễn bàn. Còn nhớ hồi đó, có vài người
muốn giới thiệu Thiền với các Huynh trưởng bạn mình, đã nói
rằng: chúng ta tu như vầy là tu theo Tịnh Độ, chỉ đi chùa, niệm
Phật, tụng kinh, tụng chú, v.v... được coi như “đi bộ” đến giải
thoát sinh tử luân hồi, còn tu Thiền coi như được đi bằng máy
bay phản lực, với tốc độ rất nhanh, như vậy mới có thể gọi là
“tốc vãng Tịnh Độ” được chứ! Ngày ấy, những anh chị huynh trưởng
cao niên bây giờ mới chưa đầy 20 tuổi còn với những huynh trưởng
ở độ tuổi 65 thì lúc đó mới ở lứa tuổi ngành Thiếu 15, 16 thôi!
Thế cho nên đã có những “lời qua tiếng lại” rất ngây thơ như “Đi
máy bay phản lực nếu bị tai nạn là chết tan xác, còn đi bộ có bị
tai nạn cũng chỉ trợt tay trợt chân thôi!” ☺ ☺!!
Về sau này, đặc biệt là sau 75, chư Tăng Ni
dạy Thiền cho đệ tử tại gia của mình rất nhiều. Có lẽ vì sau
nhiều biến cố kiểu “một đêm mất sạch” hay “đổi đời đột ngột”
nhiều người trở thành điên loạn, bệnh tâm thần gia tăng thấy rõ
nên quí vị mới lấy “bí kíp” ra truyền dạy để độ đời chăng? Cho
nên nhiều chùa, thiền viện dạy Thiền rộng rãi cho Phật tử; từ đó
chương trình Lễ Phật của GĐPT có thêm 10 phút ngồi Thiền hoặc
trước hoặc sau buổi lễ Phật; tiếp theo là trong những năm 80,
những bài thi kệ của thầy Nhất Hạnh từ làng Hồng ở Pháp được phổ
biến về Việt Nam – những bài thi kệ này lấy ý từ
“Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu” là cuốn
sách vỡ lòng của các vị Sa-di, Sa-di-ni (những chú Tiểu) khi mới
bước chân vào Chùa (cửa Thiền). Như vậy, nếp sống Thiền Môn hay
Sống Thiền là nếp sống của chư Tăng Ni, những tu sĩ Phật giáo,
những người theo chân đức Phật, sống theo hạnh nguyện của chư
Phật vậy.
Có người cho rằng Thiền là đặc điểm của
Phật giáo Trung Hoa, có người lại cho rằng Thiền là của Nhật
Bản, v.v... nhưng nếu chúng ta trưởng thành trong giáo lý, trong
Phật pháp, nghĩa là nếu chúng ta có học Kinh thì chúng ta sẽ
thấy rằng Thiền định hay Định là một trong 3 môn học của Phật
giáo: Giới, Định, Tuệ. Đã là Phật pháp thì Phật pháp Trung Hoa,
Nhật Bản hay Việt Nam cũng là Phật pháp, chỉ thay đổi do du nhập
vào những xứ sở khác nhau mà thôi! Cũng giống như cam trồng ở
Việt Nam và cam ở Mỹ, trong sách vở vẫn gọi là “cam”, ăn vào ai
cũng biết đó là cam dù nó là cam Việt Nam, cam Mỹ hay cam Pháp,
cam Trung Hoa…
Có một cuốn sách nhỏ kể chuyện rằng dân
Nhật bản phần đông sống Thiền, nghĩa là Thiền đã xâm nhập vào
cuộc sống của họ khiến cho họ sống bình tĩnh, không sợ hãi,
không hấp tấp… cho dù động đất sắp xảy ra họ cũng không chen
nhau chạy trốn, v.v... Có người lại bảo rằng người Nhật rất nhạy
cảm, tự tử một cách dễ dàng, động một chút là mổ bụng… vậy thì
làm sao nói họ sống Thiền được! Thật đúng là
“chín người mười ý”. Nếu chúng ta cứ
chạy theo ý kiến của mọi người thì sẽ bị lạc lối ngay! Xin mời
quý vị và các bạn theo dõi cuộc hội thoại của những người huynh
trưởng trẻ quen thuộc A, B, C của GĐPT, trình bày ý kiến của họ
về Thiền, cách áp dụng Thiền vào đời sống đoàn sinh và huynh
trưởng GĐPT và lợi ích thực sự của những phương pháp Thiền mà họ
đã thực hành.
A: Chào các bạn! Đề tài hôm nay là gì nhĩ?
B: Là về “Sống Thiền” đó!
C: Thiền có phải là pháp tu đặc biệt của
Phật giáo không? Vì mình có nghe nói rất nhiều phương pháp Thiền
lắm, không chỉ một cách mà anh chị em mình áp dụng thôi đâu!
A: Thiền không phải chỉ Phật giáo mới có
đâu, các tôn giáo khác cũng có. Ngoài ra, chúng ta cũng đã biết
là trước đức Phật đã có nhiều vị có khả năng thiền định thâm sâu
lắm mà; nhưng mục đích có thể không giống nhau…
B: Thật vậy, ngay chúng ta đây, tùy theo
trình độ các em chúng ta giới thiệu Thiền với các em cũng khác
nữa mà! Cho nên với Oanh Vũ khác, ngành Thiếu khác, và Huynh
trưởng lại khác nữa!
C: Tại sao vậy? Đã là Thiền thì phải giống
nhau chứ, tại sao lại khác được?
A: Tại bạn B nói không rõ: Khác là khác ở
cách truyền đạt, cách thực hành, thời gian thực tập, v.v... Ví
dụ nói với các em Oanh Vũ đâu có nói như với Huynh trưởng được.
B: Đúng vậy, đối với các em Oanh Vũ thì dạy
Thiền cho các em với mục đích luyện cho các em có thể tập trung
chú ý, giữ yên lặng, tập các em ngồi yên, đừng nói chuyện… có
lợi ích trước mắt là những giờ học sau các em bớt hiếu động, bớt
ồn ào, bớt “quậy” là quý rồi!
C: Cho nên chúng ta tập cho các em ăn cơm
trong yên lặng, ăn cơm trong chánh niệm, đi thiền hành, v.v...
đó phải không?
A: Phải đó! Ban đầu là vậy, ngành Thiếu
chúng ta có thể chỉ cho các em phương pháp chú ý đếm hơi thở,
hít vào biết mình đang hít vào, thở ra biết mình đang thở ra, và
cứ mỗi lần thì đếm thầm là 1, 2, 3… cho đến 10 không xao lãng,
không lộn xộn; nếu đếm nhầm thì phải bắt đầu đếm lại; mục đích
cũng là luyện sự định tâm.
B: Còn đối với Huynh trưởng thì chúng ta
được đòi hỏi cao hơn nghĩa là sau khi điều hòa được thân và hơi
thở rồi thì phải tiến đến việc “nhìn sâu” vào một vấn đề gì làm
mình trăn trở, tìm cách giải quyết, hoặc là nhìn sâu vào tâm
mình… gọi là “quán”.
C: Chúng ta hãy kể cho nhau nghe về kinh
nghiệm này đi nha! Ví dụ chúng ta hãy kể là chúng ta đã áp dụng
như thế nào và đã được lợi ích gì, v.v... có được không?
A: Được chứ! Ví dụ như mình; các bạn biết
không? Vấn đề mình “quán” là tại sao khi hành Thiền mình phải ý
thức rõ điều gì mình đang làm? Không được nghĩ ngợi lung tung? Ý
thức là gì? Vô thức là gì?… mình thấy được ý thức là chánh niệm
còn thất niệm cũng tương đương với vô thức.
B: Bạn hãy cho ví dụ rõ hơn đi, mình chưa
nắm bắt được ý của bạn !
C: Mình cũng vậy, bạn định nghĩa vô thức là
gì? Ví dụ?
A: Mình không dám nói định nghĩa vì mình
không có khả năng đi sâu vào triết học, mình chỉ lấy một ví dụ
nhỏ: Khi mình tỉnh táo, biết mình đang làm gì, nói gì, mình sáng
suốt, v.v... đó là mình có ý thức, có phải không? Còn khi mình
buồn ngủ, mình có thể nói mớ, mình không biết mình đang làm gì,
đang nói cái gì, mình mất sự sáng suốt; khi ngủ cũng vậy, mặc dù
ý thức vẫn hoạt động nhưng mình nghĩ nó giảm đi rất nhiều so với
lúc mình tỉnh táo; vì vậy, Thiền là tỉnh táo, tập trung sự chú ý
vào việc làm gì đó (đếm hơi thở, quán một vấn đề gì, ăn cơm,
uống nước…) ngay lúc bây giờ và ở đây.
B: Hiểu rồi, mình đồng ý với bạn!
C: Mình cũng hiểu rồi, xin mời tiếp tục!
A: Mình đã thực tập như vậy đó, nghĩa là
không suy nghĩ lung tung, có ý thức trong mọi lúc, ở mọi nơi,
chú tâm vào việc mình làm, lúc rảnh mà không có việc gì làm (ví
dụ đứng chờ ở bưu điện, ở nhà bank, ở quầy trả tiền…) mình niệm
Phật và chú tâm nghe được tiếng niệm Phật trong lòng mình. Như
vậy, Thiền không chỉ lúc vào thiền đường, hay lúc ngồi thiền
theo giờ giấc đã định… Mình được nhiều lợi lạc không ngờ: đọc
kinh sách mình hiểu nhiều hơn, nói cho ai vấn đề gì người ta
hiểu mình dễ hơn trước, và điều lợi lạc nhất là mình cảm thấy an
lạc hơn, kiên nhẫn hơn, vô tư, không dễ dàng bị vướng vào những
thị phi quanh mình như trước.
B: Thật là hay quá, mình sẽ học tập áp dụng
phương pháp của bạn. Về phần mình, mình áp dụng phương pháp dùng
những bài kệ để luyện Tâm, như chúng mình đã dạy cho các em.
C: Là những bài kệ lấy ý từ
Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu đó hả?
A: Nghĩa là bạn dùng phương pháp đó để khi
“căn” đối diện vói “cảnh” thì tâm không chướng ngại hay vướng
mắc phải không?
B: Đúng vậy, hơn thế nữa, đây còn là một
phuơng pháp giáo dục cái nhìn của mình cũng như điều chỉnh những
phản ứng của mình trước những cảnh “mắt
thấy tai nghe thân tiếp xúc”.
C: Tại sao phải điều chỉnh những phản ứng
của mình trước mỗi hoàn cảnh?
A: Tại vì có những phản ứng tiêu cực làm
cho tâm mình trì trệ thụ động phải không? Bạn hãy nói rõ hơn đi
nha!
B: Các bạn thấy không? Thật ra, bản thân
mỗi sự vật, hiện tượng… chỉ là một dữ kiện
(data) bình thường nhưng vì mỗi người chúng ta đều có muôn ngàn
hồi ức (memories) và
cảm xúc mạnh (strong affected, very
much impressed) về một vật gì đó, một cảnh nào đó cho nên mỗi
vật, mỗi cảnh đều có thể gợi lên trong chúng ta những tâm trạng
rất khác nhau. Đôi khi đối với người này thì vật ấy cảnh ấy
không là gì cả nhưng với người kia lại gây ra những cảm xúc đặc
biệt hay những “cú sốc” lớn không ngờ được!
C: Mình hiểu rồi, ví dụ nhìn một cuốn Kinh,
có người nghĩ đến Phật, Chúa, chùa, nhà thờ… và cảm thấy an lạc,
hạnh phúc còn có người lại nghĩ đến mê tín dị đoan, đạo đức giả,
và cảm thấy buồn chán, mệt mỏi…
A: Đúng vậy, mắt nhìn thì tâm liền
phản xạ (reflect, react…)
B: Và sự phản xạ là do liên kết với những
dữ kiện sẵn có trong ký ức, có những phản xạ tự nhiên như nhìn
thấy con rắn thì lùi lại, nhưng có những phản xạ làm cho thần
kinh mình căng thẳng, đây chính là đầu mối của stress. Vì vậy,
khi đọc câu “đối cảnh vô tâm tức thị Thiền”.
Mình hiểu được Thiền giúp mình bình tĩnh, không bị căng thẳng
nghĩa là có năng lực chữa lành được căn bệnh thời đại là
“stress”. Ví dụ như vừa mở mắt thức dậy, nghe tiếng chim hót
mình cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng, cảm thấy yêu đời, yêu người và
tự hứa với mình “đem mắt thương nhìn cuộc
đời”.
Thức dậy miệng mỉm
cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Nguyện sống cho trọn
vẹn
Mắt thương nhìn cuộc
đời.
C: Mình nhớ rồi, đó là phương pháp xảo
nguyện chúng ta đã từng nhắc đến?
A: Đúng vậy, đó là cách tập cho các chú
Sa-di “sống thiền” nghĩa là khi gặp cảnh thì không phản ứng theo
thói quen, nghĩa là không “móc nối” với ký ức nữa mà móc nối với
chân lý giải thoát.
B: Phải rồi, ví dụ khi nghe ca nhạc, có bài
kệ:
Ca nhạc tụ họp
Nguyện rằng chúng sanh
Vui với chân lý
Biết nhạc là giả.
Khi đã ‘biết nhạc là giả” nghĩa là có tỉnh
thức không thể sa đà say sưa đưa đến buông thả quên hết mọi sự….
C: Hay khi vừa đặt chân xuống đất thì đọc:
Bỏ chân xuống đất
Nguyện rằng chúng sanh
Tâm đắc giải thoát
An trụ bất động.
A: Rồi khi bạn ngồi vào máy vi tính, bạn
đọc bài kệ :
Thắp lên máy vi tính
Ý tiếp xúc với Tàng
Tập khí nguyện chuyển
hóa
Nuôi lớn Hiểu và
Thương.
B: Đúng vậy, cho nên tùy theo công việc
hằng ngày của mình, mình có thể nghĩ ra những bài kệ tương tự để
tập cho tâm mình sống thiền, đó là cách mình chọn, còn bạn C thì
sao?
C: Mình thì mình thấy sống đời sống của một
huynh trưởng GĐPT là ‘sống thiền” rồi! Các bạn thấy có đúng
không? Này nha! Mình đi sinh hoạt GĐPT không lãnh lương, không
có lợi về tiền bạc mà có khi “hao tốn” như đổ xăng chạy xe đi
đưa rước các em, mua hamburger cho các em ăn khi nó kêu đói
bụng, thì giờ thì khỏi nói rồi, ngày Chủ Nhật coi như “đi
toong”, weekend hay ngày lễ, người ta vui chơi với vợ con/ chồng
con/ cháu chắt, v.v... mình thì thường đi trại, đi họp, đi đại
hội, v.v... như vậy có phải là mình đã tu hạnh bố thí không?
Mình cũng như đoàn sinh, luôn giữ luật của huynh trưởng một cách
nghiêm túc, như vậy không chỉ là học Giới, tu Giới mà còn trì
Giới nữa, phải chưa?
A: Mình hiểu ý bạn rồi, người Huynh trưởng
phải luôn tinh tấn, để làm gương cho các em. Trời nắng trời mưa,
mùa đông mùa hè... không cần biết; hễ sáng Chủ Nhật là phải đi
sinh hoạt, trước đó phải chuẩn bị cho phần việc của mình… Đến
Đoàn “chăn dắt” một đàn em lớn có nhỏ có ngoan có nghịch có, cá
biệt cũng có nhưng không bao giờ được nổi nóng với các em (người
huynh trưởng mình có tu mà !! ☺ ☺!! ai lại đi mắng mỏ các em,
đánh đập các em hay nói cộc cằn với các em? Có phải không?) Với
các anh chị huynh trưởng cũng vậy, 9 người 10 ý nhưng mình cũng
không to tiếng với nhau, giận dữ, v.v... như ở ngoài đời thường;
ấy không phải là chúng ta đang tu hạnh Nhẫn Nhục sao? Đúng vậy,
ngày xưa người ta nói: “Thứ nhất là tu tại
gia, thứ nhì tại chợ, thứ ba tại chùa”. Ở nhà khó tu nhất
là vì toàn là người thân nên không sợ họ giận, có gì cứ “xổ” ra
hết! Rất khó tu hạnh nhẫn nhục; bây giờ ở GĐPT phải tôn trọng
năm điều luật nên rất khó!
B: Còn trí tuệ và Thiền định nữa: người
Huynh trưởng GĐPT phải có trí tuệ mới tu 3 hạnh trên được, và
mới hoàn thành nhiệm vụ làm Huynh trưởng của mình được: phải đầu
tư trí tuệ mới có thể nghĩ ra một trò chơi hấp dẫn, một bài
giảng lôi cuốn, một vở kịch, một điệu múa, v.v... cho một đêm
văn nghệ, sân chơi, v.v… Sự đầu tư trí tuệ, hoặc trí tuệ cá nhân
hoặc trí tuệ tập thể đều cần sự tập trung, óc sáng kiến, trí
thông minh, v.v... Đó chính là tu tập về Trí tuệ và Thiền định
của người Huynh trưởng GĐPT, chưa kể những lúc cùng các em thực
tập ăn cơm chánh niệm, thiền hành, thiền trà, thiền tọa, v.v...
nữa.
C: Như vậy các bạn đồng ý với mình rồi chứ?
Chúng ta đã tu nhưng không thấy mình có tu, đã làm nhưng không
thấy mình có làm, đã cho mà không thấy có người cho và người
nhận vì GĐPT dạy chúng ta làm như vậy, dạy chúng ta ý nghĩa
“cho” và “nhận”, v.v... rồi nên chúng ta không chấp chặt, không
dính mắc.
A: Đồng ý, thật sự chúng ta thực hiện đúng
đắn những lời phát nguyện của mình từ lúc quy y, đeo hoa Sen,
phát nguyện làm huynh trưởng, phát nguyện trong các kỳ trại huấn
luyện, trong các lễ thọ Cấp, v.v... vì
“GĐPT cũng là một pháp môn tu” mà! Anh Nguyễn Khắc Từ đã
nói như vậy đó!
B: Vậy là hôm nay chúng ta đã trao đổi kinh
nghiệm về sống thiền của một huynh trưởng GĐPT là như thế nào
rồi đó nha! Xin tạm biệt và xin hẹn đến lần sau nha!
A và C: Tạm biệt! Tạm biệt!■
40. Học
kinh Duy-ma-cật
Chương trình tu học của Huynh trưởng Gia đình Phật tử (GĐPT) gồm
có bốn bậc: Kiên, Trì, Định, Lực và 4 trại huấn luyện từ thấp
đến cao là: Lộc Uyển, A Dục, Huyền Trang, Vạn Hạnh.
Chương trình học kinh cũng thay đổi theo
trình độ tu học và ở trại cao nhất, Vạn Hạnh, anh chị em Huynh
trưởng phải học 10 bộ kinh, trong đó có hai bộ kinh mà chúng tôi
cho là biểu tượng của “một cuộc cách mạng tư tưởng” của thế kỷ
20, đó là kinh Duy-ma-cật và kinh Thắng Man.
Tại sao vậy? – Xin thưa, bởi vì hai bộ kinh
này tuy hiện diện đã lâu trong kho tàng kinh điển Phật giáo
nhưng mãi đến thế kỷ này mới thực sự được xiển dương sâu đậm
trong nhân gian, phải chăng vì mãi đến thế kỷ này mới có sự “đổi
đời” của người phụ nữ trong xã hội? Người phụ nữ mới đã đảm
nhiệm những chức vụ quan trọng trong chính quyền, đã làm chính
trị, đã đi lính, tham gia quốc hội, làm phi hành gia, v.v...
thậm chí làm nữ hoàng nữa!
Sở dĩ chúng tôi gọi là “cuộc cách mạng” bởi
vì cho đến ngày nay, ở những xã hội chậm tiến, người phụ nữ luôn
chỉ là cái bóng của nam giới, trong gia đình thì “nhất nam
viết hữu, thập nữ viết vô”, khi đã lập gia đình thì
“phu xướng phụ tùy” hay
“xuất giá tòng phu” hay
“phu tử tòng tử”, v.v... Thế nhưng
trong kinh Thắng Man, người đã dõng dạc tuyên bố những
giáo lý Đại thừa, được đức Phật ấn chứng và khen ngợi lại là một
phụ nữ! Đúng như đức Thế Tôn dạy: Phật pháp không phân biệt nam
nữ, về trí tuệ giải thoát thì nam nữ giống nhau, đều có khả năng
giác ngộ như nhau!
Lại nữa, xưa nay tuy nói rằng “bốn chúng
đồng tu” nhưng chư Tăng thường ở vai trò của người hướng dẫn,
chỉ dạy cho cư sĩ về Phật pháp. Thế nhưng trong kinh Duy-ma-cật,
Trưởng giả Duy-ma-cật đã khiến cho 10 vị đại đệ tử Phật phải tâm
phục khẩu phục, đã thuyết giảng về cốt tủy của giáo lý Đại thừa,
được chính đức Phật khen ngợi và khuyến khích chư vị đệ tử Phật
nương theo gương Ngài mà tu tập.
Tuy nhiên đó là nhân vật ở thời đức Phật
còn tại thế, là một nhân vật lịch sử hay huyền thoại thì chưa
bàn đến, và là một người “có một không hai” chứ không phải ai
trong chúng ta cũng có thể lầm tưởng rằng mình là một Duy-ma-cật
đâu! J
J!!
Nếu hình ảnh “người quân tử” là mẫu mực lý
tưởng của Nho giáo thì cư sĩ Duy-ma-cật, đại diện cho người
Bồ-tát tại gia, là nhân cách lý tưởng của Bồ-tát đạo Đại thừa
Phật giáo vậy. Phẩm chất đạo đức của người cư sĩ Duy-ma-cật đã
vượt lên trên con người, đã nhập vào hàng Thánh nhưng ngài không
tìm Niết-bàn tịch tĩnh cho riêng mình. Ngài bệnh vì chúng sanh
bệnh, ngài không lìa thế gian mà còn qua lại trong sáu nẻo luân
hồi vì chúng sanh còn trôi lăn trong đó. Ngài quyết tâm
“tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh”,
qua lại giữa niết-bàn và sinh tử để giáo dục, chuyển hóa chúng
sanh. Cánh cửa để Bồ-tát có thể qua lại giữa hai cảnh giới tưởng
chừng như đối lập này chính là nguyên lý bất nhị hay thực tại
bất nhị và “giấy thông hành” (passport) là nhập bất nhị
pháp môn (vào pháp môn không hai).
Đã vào pháp môn không hai, Bồ-tát thấy được
thực tướng các pháp mà không kẹt hai bên, không dính mắc vì
những ý niệm dơ-sạch, uế-tịnh, đúng-sai, ngã-ngã sở, sinh-diệt,
thọ-không thọ, v.v... Bồ-tát an nhiên tự tại, ung dung đi vào
cuộc đời ô trược đầy thị phi điên đảo mà tâm không bị nhiễm ô,
như đóa sen vươn lên từ bùn nhơ mà không nhiễm mùi bùn… Đó là
con đường hành đạo của Bồ-tát hay thực hành Bồ-tát đạo.
Bồ-tát hành đạo mà không thấy mình hành
đạo, bố thí mà không thấy có người bố thí, có người nhận của bố
thí và có vật bố thí… Bồ-tát làm rất nhiều việc lợi ích cho đời,
cho người, nhưng với tâm rỗng rang, không phân biệt, không nhớ
nghĩ, tính toán, cũng không tự hào hay than van… Bồ-tát cứu
người, cứu đời với tâm vô tư giống như đang đi rong chơi trong
ba cõi sáu đường… Hành động thực tiễn của Bồ-tát Duy-ma-cật vì
vậy được gọi là “bất tư nghì giải thoát” vì Tịnh độ của Bồ-tát
là thế giới tồn tại của chúng sanh. Đó là bài học mở đầu về Thể
và Dụng của kinh Duy-ma-cật mà chúng tôi học được. Thể là cơ sở
tư tưởng còn Dụng là mục tiêu, là sự chuyển biến lý thuyết thành
hành động cụ thể.
Trong cuộc đời này có thể không có một
Trưởng giả Duy-ma-cật vừa tinh thông giáo lý Đại thừa, vừa làm
được những Phật sự cứu giúp chúng sanh nhưng cũng đã có những
Bồ-tát chuyên làm những việc đơn giản như cho những người đói
khát lạnh lẽo cơm ăn, nước uống, mền đắp, cho người bệnh hoạn
thuốc men,… như Mẹ Thérésa, hay cứu những người lênh đênh trên
biển cả, ngoài ra còn có quý Sư cô, quý Soeurs, quý Thầy, các
thân hào nhân sĩ, các sinh viên, các huynh trưởng trẻ đã làm
nhiều việc phước thiện, có người thường đi vào những bệnh viện,
những nhà dưỡng lão, săn sóc bệnh nhân, người già, vào nhà tù
thăm viếng, ủy lạo những tù nhân cô quả, cô đơn… họ tuy chưa
nhập “pháp môn không hai” nhưng đã làm được phần nào công hạnh
của Bồ-tát, đem vui và cứu khổ cho đời.
Bài học
kế tiếp cũng rất thú vị, đó là bài học về Phật Hương Tích và cõi
nước của Ngài – Chúng Hương, ở đây chúng ta “gặp” được những
điều “khó tin” nhưng lại dạy cho ta những bài học thực tế vô
cùng quí giá:
“…Duy-ma-cật dùng thần thông lực chỉ cho
hội chúng thấy cõi nước của Phật Hương Tích, tên là Chúng Hương;
ở đó hương thơm tạo ra mọi thứ như lầu các, đất đai, vườn tược,
hoa viên, v.v... khiến chúng tỏa ra mùi hương thơm ngát. Còn
thực phẩm thì có mùi thơm lan tỏa đến vô lượng thế giới khắp
mười phuơng… Khi ấy Duy-ma-cật vẫn không rời chỗ ngồi ở ngay
trước đại chúng, dùng thần lực tạo ra một vị hóa Bồ-tát có thân
tướng sáng ngời oai nghiêm thù thắng bao trùm cả chúng hội rồi
nói với vị ấy rằng: Ông hãy đến cõi Phật Chúng Hương có Phật
Hương Tích, vừa mới ngồi lại để thọ thực cùng với các vị Bồ-tát,
mang lời của tôi mà thưa rằng ‘Duy-ma-cật cúi đầu đảnh lễ dưới
chân Thế Tôn, vô vàn tôn kính, và thăm hỏi sức khỏe Thế Tôn, ít
bệnh ít não, khí lực an ổn chăng? Nguyện xin chút thức ăn dư của
Thế Tôn mang về thế giới Ta-bà để làm Phật sự”. Chư Bồ-tát ở
cõi đó thấy vị hóa Bồ-tát này rất ngạc nhiên và hỏi tại sao có
người thân hình nhỏ bé mà tài giỏi như vậy… thì đức Phật Hương
Tích mới nhân tiện giới thiệu đức Phật Thích-ca Mâu-ni, cõi
Ta-bà và Bồ-tát Duy-ma-cật đã an trụ trong pháp môn bất khả tư
nghì, đang nói pháp cho chư vị Bồ-tát nghe; chính ông ấy đã tạo
ra vị sứ giả đến tán dương và xin cơm đem về làm Phật sự. Ông ấy
cũng thường làm như vậy đến 10 phương quốc độ để làm những Phật
sự lợi ích cho chúng sanh; nói rồi Như Lai lấy cái bát chứa đầy
cơm thơm đưa cho vị hóa Bồ-tát; các Bồ-tát đều đòi đi theo về
cõi Ta-bà để đảnh lễ đức Thích-ca và thăm Duy-ma-cật thần thông
cái thế cũng như chư vị Bồ-tát.
Trước khi đi, đức Phật Hương Tích có dặn
hãy thu lại mùi hương và thu nhỏ thân hình lại (vì chúng sanh
cõi Ta-bà thân hình nhỏ bé và không có mùi hương, để họ không
sinh mê hoặc hay tham đắm). Đồng thời Duy-ma-cật cũng giảng cho
đại chúng ở đây biết trong vũ trụ bao la, không phải chỉ có con
người là sinh vật thông minh đâu, còn nhiều thế giới khác nữa mà
mắt và trí năng con người không thấy được v.v... cả hai bên đều
dạy người của mình phải bao dung, quảng đại như hư không; cả hai
bên đều “làm công tác tư tưởng” để chuẩn bị cho cuộc gặp mặt:
đây là bài học về từ bi, lịch sự và văn minh cho những người có
nền văn hóa, truyền thống khác nhau: chúng ta hãy tưởng tượng
nếu bây giờ có một nhóm người từ hành tinh khác đến quả đất
chúng ta; chuyện gì sẽ xảy ra? – Nhất định là có xô xát, đổ máu,
chết chóc… bởi vì ai cũng nghĩ “phía bên kia” có ý xấu với mình,
ai cũng lo đem súng ống và gươm giáo ra nói chuyện! Còn ở đây,
tất cả đều vui vẻ êm đẹp, lại tặng cho nhau một bữa cơm tuyệt
vời với mùi hương thơm đến vô tận! Còn những chuyện “khó tin”
trong đoạn kinh này thật ra rất “dễ hiểu”: đối với trí tuệ của
chư Phật, chư Bồ-tát, sự hiểu biết của chúng ta không khác gì
một người sống trong một rừng rậm ở Nam Phi cả đời chưa đi đâu
cả; từ khi ra đời đến nay, chưa hề biết đến TV, radio, quạt
điện, phone, v.v... là gì cả thì làm sao giảng cho anh ta hiểu
tại sao cái radio “nói và hát” được, tại sao hai người cách nhau
nửa trái đất mà có thể nói chuyện với nhau, tại sao rất nhiều
người có đến hàng trăm, hàng ngàn có thể “chun vô” trong cái TV
chỉ lớn bằng cái hộp? v.v… Chúng ta cũng như vậy thôi, làm sao
ngài Duy-ma-cật giảng cho ta hiểu về thần lực của ngài, về sự
tồn tại của thế giới khác Chúng Hương được?
Xin trở lại với bài học “bát cơm Thạch
Sanh” với mùi hương kỳ diệu:
“… Bấy giờ hóa Bồ-tát trao cho
Duy-ma-cật bát cơm thơm mà mùi hương tỏa khắp thành Tỳ-da-ly…
những ai ngửi được mùi hương ấy đều thấy thân ý thơ thới, đồng
ca ngợi sự hiếm có này… Lúc ấy, Duy-ma-cật mới nói với ngài
Xá-lợi-phất và các vị Thanh văn: ‘Xin mời các vị dùng món cơm có
hương vị cam lộ. Cơm này được xông ướp bằng hương đại bi của Như
Lai; đừng ăn cơm bằng ý hữu hạn, vì như vậy sẽ khó có thể tiêu
hóa được”. Có một vị Thanh văn nghĩ rằng: bát cơm này
ít mà đại chúng thì đông, làm sao đủ đây? Vị hóa Bồ-tát liền
nói: ‘Đừng lấy trí nhỏ và đức nhỏ mà đo lường phước huệ vô
lượng của Như Lai. Nước của bốn đại dương có thể cạn chứ cơm này
vô tận… Bấy giờ bát cơm khiến cho cả đại chúng đều no đủ mà vẫn
không vơi; những ai đã dùng cơm này rồi đều cảm thấy an lạc như
chư Bồ-tát ở quốc độ Nhất thiết lạc trang nghiêm và từ lỗ chân
lông của họ tỏa ra mùi thơm vi diệu như mùi hương của các loài
cây trên cõi Chúng Hương”. Rồi hai bên trao đổi với
nhau về phương pháp giảng dạy của hai cõi. Ở cõi Chúng Hương,
Như Lai không dùng ngôn từ để thuyết pháp mà chỉ dùng hương thơm
khiến cho thính chúng thâm nhập, có thể tự điều phục và chế ngự
tâm, hành theo Luật. Đối với phương pháp thuyết giảng của chúng
ta, đây không phải là một bài pháp sống động bất khả tư nghì
sao? Thế nhưng phương pháp này vẫn được chư Bồ-tát ở cõi Chúng
Hương tán thán là “…Pháp chưa từng nghe, đức Thế tôn Thích-ca
Mâu-ni đã ẩn di vô lượng khả năng tự tại, hóa độ chúng sanh bằng
pháp mà người nghèo ưa thích. Các Bồ-tát ở đây cũng nhẫn nại
những khó nhọc, bằng vô lượng đại bi mà sinh nơi cõi Phật này”.
Các ngài đều chỉ nhìn thấy những ưu việt
của đối phương, những cái đáng cho mình khâm phục ngưỡng mộ và
khen ngợi, thế cho nên sau khi Duy-ma-cật và Văn-thù-sư-lợi
thuyết về mười thiện pháp, về tám pháp tu của Bồ-tát để ở trong
thế giới ô trược này tu hành mà không bị tổn hại và tái sinh
Tịnh độ… thì hàng trăm ngàn chư Thiên đã phát tâm cầu giác ngộ
tối thượng và mười ngàn vị Bồ-tát đắc vô sanh pháp nhẫn.
Đây mới chỉ là hai bài học đầu tiên mà kinh
Duy-ma-cật đã đưa vào lòng chúng ta một luồng không khí thanh
tịnh, giải thoát không khác nào chính chúng ta đã được hưởng mùi
vị cam lộ của bát cơm kia! Mong sao mùi hương này còn tồn tại
trong lòng chúng ta để nuôi dưỡng những phẩm chất cao thượng,
loại bỏ tâm phân biệt tầm thường và nhỏ nhoi trong chúng ta. Hèn
gì tôn giả Duy-ma-cật đã dùng bát cơm này để làm Phật sự (“khen
phò mã tốt áo” !J
J!!).
Để kết thúc bài viết này, xin chép tặng anh
chị em lời khấn nguyện (của một vị sư trẻ) có thể nói là bao gồm
được tâm nguyện của anh chị em chúng ta:
Bạch Thế
Tôn! Đây lời
khấn nguyện
Xin đập tan
đê tiện
trong con
Khi vui chẳng
muốn vui hơn
Khi buồn
đủ sức
để buồn qua
đi.
Ghi chú:
Những lời
kinh trích dẫn
được chép từ
kinh Duy Ma Cật sở
thuyết bản
Việt dịch của
Thượng tọa
Tuệ Sỹ, cũng
là nguồn cảm
hứng của anh
chị em chúng
tôi – nếu
đọc bản chữ
Hán dù đã
phiên âm thì
bản thân chúng
tôi không thể nào
hiểu được cái
gì cả!
J
J!! Ngôn ngữ
và văn tự
quả thật rất
quan trọng trong thế
giới của chúng
ta; xin kính gởi
đến Sư phụ
lòng biết
ơn của chúng
con.
Thưa quí vị và các bạn,
Mỗi mùa
Vu lan về, trong lòng
người con Phật
lại rộn lên
bao suy nghĩ về
Mẹ, về ngày
Hiếu của
Oanh Vũ, về
ngày Ngoan, với
bông hồng đỏ,
bông hồng trắng
cài áo, về
địa ngục, tái
sinh, về Mục
Liên Thanh Đề,
v.v... Người Huynh trưởng
(và đoàn
sinh) GĐPT cũng
vậy, nhưng bên
cạnh đó, các
em còn biết
có mùa An cư,
có ngày Tự
tứ, vì trong
chương trình
Phật pháp của
các em (bậc
Trung thiện) có
bài An cư Kiết
hạ. Huynh trửởng
phải tìm hiểu
để khi giảng
bài cho các
em, nếu các
em có thắc mắc
kiểu nào cũng
phải trả lời
kiểu ấy!
☺☺!!
Đó
là lý do tại
sao hôm nay có buổi
hội thoại bỏ
túi giữa các
Huynh trưởng trẻ
quen thuộc A, B, C của
chúng ta về đề
tài này. Xin
kính mời quí
vị và các
bạn theo dõi để
góp ý và chỉ
dạy.
A: Hôm nay chúng
ta nói về Vu
lan Báo hiếu
phải không?
B: Không phải,
về An cư Kiết
hạ đó!
C: Vu lan Báo
hiếu, chúng
ta đã tìm hiểu
khá nhiều,
An cư Kiết hạ
vẫn còn nhiều
điều “xa lạ”
với mình lắm
đó!
A: Ủa, thật
hả? Các bạn
có điều gì
thắc mắc,
hãy cho mình biết
đi!
B: Trước hết,
tại sao có nơi
thì kiết Hạ,
có nơi lại
kiết Đông?
C: Cái này
thì mình biết!
Vì mùa Hạ
(có nơi là
mùa Đông) là
mùa hay có mưa
gió, giông bão, cũng
là mùa côn
trùng sâu bọ...
sinh sản, nên
để tránh dẫm
đạp tàn hại
chúng, đức
Phật chế ra
mùa An cư là
mùa chư Tăng
an trú một nơi
để chuyên
tâm cho vấn đề
tu tập. Điều
mình thắc mắc
là An cư Kiết
hạ là tự
lợi hay lợi
tha? (đối với
chư Tăng Ni)
A: Vừa tự
lợi, vừa lợi
tha. Này nha! Chư
Tăng Ni ở
trong chùa để
làm gì trong
ba tháng Hạ?
Là tu tập,
chuyên tu học
để bồi dưỡng
kiến thức về
nội điển,
vừa tu tập
để trau giồi
đức hạnh và
trí tuệ, như
vậy vừa tự
lợi mà vừa
lợi tha, vì
nếu chư Tăng
cứ bố thí
Pháp hoài mà
không vun bồi thì
có ngày bị
hao hụt, cũng
như một người
giàu chỉ bố
thí hoài mà
không kiếm tiền
thêm thì một
ngày nào
đó sẽ không
còn tiền
để bố thí
nữa, có phải
không bạn?
B: Đúng vậy,
vì thế, An cư
Kiết hạ cũng
là một pháp
tu của chư Tăng
Ni. Từ Phật
đản (rằm tháng
tư) cho đến
Vu lan (rằm tháng
bảy), chư Tăng
Ni tập trung tại
một trường Hạ
hay ở tại chùa,
cùng nhau tu học
để tinh tấn
đạo nghiệp
chứ không đi
hoằng pháp
khắp nơi như
các tháng khác.
C: Mình hiểu
rồi! Tóm lại,
mục đích của
An cư Kiết hạ
là thực hành
từ bi (không dẫm
đạp côn trùng
trong mùa sinh sản
của chúng),
trí tuệ
(chuyên tu để
trau giồi đức
hạnh và trí
tuệ) và đại
hùng, đại lực
của Pháp thể
Tăng-già.
A: Bạn nói
rất chính xác!
B: Cái này
mình hơi bối
rối đó nha!
Bạn có thể
nói rõ hơn về
đại hùng đại
lực của Pháp
thể Tăng già
hay không?
C: Bạn
không nhớ rằng
tôn giả Mục-kiền-liên
là vị đệ tử
thần thông bậc
nhất của
đức Phật, với
tâm thành thiết
tha, ý chí sắt
đá, quyết
tâm vào địa
ngục để cứu
mẹ, nhưng chỉ
cá nhân của
Tôn giả thì
không đủ, mà
phải cần
đến đức hạnh
thanh tịnh của
tập thể chư
Tăng nhân ngày
Tự tứ chú
nguyện thì mới
viên thành
việc cứu
độ. Chỉ dạy
điều
đó cho tôn giả
Mục-kiền-liên,
không phải đức
Phật muốn nói
lên cái năng
lực vĩ đại của
Pháp thể Tăng-già
sao?
A: Ở đây chúng
ta thấy rõ từ
hình ảnh báo
hiếu cứu mẹ
của tôn giả
Mục-kiền-liên
nhờ nguyện lực
đại bi của
chư Tăng cho
đến “ngày xá
tội vong nhân” trong truyền
thống Vu lan rằm
tháng bảy
trong nhân gian, ý thức tự
lợi và lợi
tha của Phật
giáo đã
ăn sâu vào
tâm hồn Việt
Nam cho nên lời
Phật dạy “tất
cả chúng
sanh đều là
cha mẹ bảy
đời của chúng
ta” không xa lạ với
con người Việt
Nam.
B: Cảm
ơn các bạn,
mình hiểu rõ
rồi! Bây giờ
nói đến hạ
lạp nha!
C: Hạ lạp
là gì vậy?
A: Hạ lạp
là tuổi
Đạo của chư
Tăng. Người
xuất gia theo đạo
Phật lấy An
cư Kiết hạ
làm tuổi. Một
người chưa
bao giờ kiết
hạ coi như
chưa có tuổi
nào! Ngày rằm
tháng bảy là
ngày thọ tuế
của chư Tăng,
nghĩa là quí
Ngài được tính
thêm một tuổi
Đạo; khi bạn
nghe nói một
vị thầy có
20 tuổi Đạo
(hay Hạ lạp)
có nghĩa vị
ấy đã tham dự
An cư Kiết hạ
được 20 lần.
B: Thì ra có
những vị
không dự An cư
Kiết hạ cũng
được sao?
C: Nếu họ
bận công tác
Phật sự gì
đó thì làm
sao an cư được?
A: Phải rồi,
chính vì vậy
có người
đi tu 20 năm
nhưng đâu phải
có đủ 20 hạ
lạp đâu! Các
bạn có biết
không? Chư Tăng
cho dù đã 60 tuổi
cũng vẫn phải
an cư kiết hạ
đó nha!
B: Mình còn
biết hai câu thơ
thật hay nói
lên lợi
ích của An cư
Kiết hạ đối
với chư Tăng,
đó là tăng
trưởng phước
đức, trí tuệ:
“Bao nhiêu
công đức vô biên,
Đều
do hạ lạp cần
chuyên tháng
ngày”
C: Mùa An cư
Kiết hạ còn
là cơ hội
cho người Phật
tử chúng ta
cúng dường,
hộ trì chúng
Tăng tịnh tu
trong suốt 3 tháng
tại một trú
xứ.
A: Mùa An cư
Kiết hạ cũng
nói lên tinh
thần hòa hợp
Tăng nhờ sự
tự giác cao
độ; chư Tăng
có dịp ngồi
lại, kiểm thúc
tự tâm trong mỗi
hành động cụ
thể.
B: Ngày nay
có liên lạc
trên toàn thế
giới, có phải
mùa An cư Kiết
hạ thống nhất
cho Tăng chúng
Phật giáo trên
khắp thế giới
hay không?
A: Ở các
vùng Bắc Âu,
chư Tăng an
cư vào mùa
Đông (kiết
Đông) là mùa
cực kỳ lạnh
và đầy mưa
tuyết, không thể đi
ra ngoài để
hoằng pháp
được.
B: Như vậy,
Phật giáo
Đông phương
và Tây phương
mặc dù có
đôi chút khác
biệt về phương
tiện và thời
gian an cư nhưng
truyền thống
An cư Kiết hạ
(hay kiết đông)
và ý nghĩa vẫn
không nằm ngoài
giới luật của
đức Phật
đã chế định,
cũng dựa trên
nền tảng tam
vô lậu học,
để thúc liễm
nội tâm, vun bồi
đạo đức của
người xuất
gia.
C: Bây giờ
mình mới “thấm”
tại sao nói
ngày Tự tứ
là ngày Hoan
hỷ của chư
Phật và ngày
Tăng thêm một
tuổi lớn
trong Đạo. À, mà
ngày Tự tứ
thật ra có ý
nghĩa gì lạ
không?
A: Tự tứ
có nghĩa là
“tùy ý”; quý vị
Tỳ-kheo, mỗi
tháng hai lần,
trong ngày Bố-tát,
thường là ba
mươi và rằm,
nhóm họp chư
Tăng đông
đủ, tự mình
nói ra những
lỗi lầm
đã phạm và
xin sám hối.
B: Riêng ngày
rằm tháng bảy
thì ngày Tự
tứ quan trọng
hơn, vì đây
là lần tự
kiểm điểm,
sau ba tháng An cư;
ngày Tự tứ
nói lên
sự bảo tồn
giới luật của
đức Phật
đã chế định.
C: Như vậy
mình nghĩ
hôm nay học về
An cư Kiết hạ
thật đầy
đủ và lợi
lạc, trước
đây cứ nghĩ
việc của quý
thầy mình
không được biết
nhiều!
A: Tốt rồi,
bây giờ có
thể chia tay hẹn
lần sau nha! Tạm
biệt!
B và C: Tạm
biệt! Tạm biệt!■
42. Nhận
thức và tinh
thần tu đạo
của thanh thiếu
niên Phật giáo
Kính thưa quí vị và các bạn,
Mặc dù Phật giáo hiện nay đã đóng vai trò tích cực trong xã hội,
đã được đông đảo trí thức và quần chúng Tây phương lưu ý, nhưng
việc thực hành, tu tập theo Phật pháp vẫn rất còn hạn chế. Tuổi
trẻ Phật giáo Việt Nam trong nước cũng như ở hải ngoại, đại diện
là thanh thiếu niên Phật tử, hầu hết nằm trong tổ chức Gia Đình
Phật Tử (GĐPT) vì đó là con em của những gia đình đã đến với đạo
Phật, sống Đạo và hy vọng con em của mình cũng theo con đường tu
học Phật pháp như mình.
Trong GĐPT, bộ môn Phật pháp là chính nhưng
luôn luôn được hỗ trợ bởi các môn học về hoạt động thanh niên,
gồm có nhiều bộ môn như truyền tin, phương hướng, cứu thương, đo
đạc, trại, v.v... là những bộ môn các em rất thích, để việc học
trong GĐPT mang tính chất “Học mà chơi,
chơi mà học”.
Song song với GĐPT còn có nhiều đoàn thể
thanh thiếu niên không phải tu Phật mà tu Đạo (nghĩa là tín
ngưỡng của họ không phải là Phật giáo mà có thể là Thiên Chúa
giáo, Cao Đài, v.v...). Mặc dù tín ngưỡng khác nhau nhưng mục
đích chính của các đoàn thể thanh thiếu niên ở hải ngoại đều
giống nhau, đó là phát triển tình thương, tình bạn, tình huynh
đệ và phát triển trí tuệ. Mặc dù tiếng mẹ đẻ khác nhau nhưng các
hội đoàn thanh thiếu niên đều có chung một ngôn ngữ, đó là ngôn
ngữ của hòa bình và đoàn kết. Hội Hướng đạo thế giới vừa tổ chức
trại Họp Bạn tại Anh kỷ niệm 100 năm ngày thành lập, còn GĐPT VN
tại Hoa Kỳ cũng mới tổ chức trại họp bạn Trần Nhân Tông cách đây
mấy năm kỷ niệm 60 năm trưởng thành của GĐPT Tổ chức Hướng đạo
cũng như GĐPT không phải đưa ra một chủ nghĩa mới lạ gì cũng
không cần phải thuyết phục, rủ rê ai cả nhưng đã tồn tại và phát
triển trên toàn thế giới, ngày nay đã có hàng triệu đoàn viên;
điều đó nói lên phần nào tinh thần tu thân hay học Đạo của giới
trẻ hôm nay được lưu truyền từ xưa không mất!
Tuy nhiên, ở khắp nơi, từ quốc nội đến hải
ngoại, chúng ta cứ nghe “kêu cứu” về tình trạng thiếu niên phạm
pháp, về xì ke, ma túy, về rất nhiều tệ nạn mà thanh thiếu niên
là nạn nhân. Ví dụ như bị bán ra nước ngoài như một món hàng,
không khác gì thời Trung Cổ!! Thật vậy, xã hội càng phát triển
thì những chuyện lạ càng nhiều, chuyện hay có lẽ ít hơn chuyện
dỡ nên các nhà giáo dục càng ngày càng đau đầu nhức óc! Trong
khi đó, GĐPT cũng nỗ lực giáo dục đàn em của mình
“sống đúng theo chân tinh thần Phật giáo”
trước sự lôi cuốn của nền văn minh vật chất. Người huynh trưởng
GĐPT luôn thao thức, trăn trở tìm phương cách giúp đàn em của
mình củng cố niềm tin, giữ vững chí hướng của người con Phật
cũng như thực tập nếp sống tỉnh thức trước sự xô bồ của xã hội
kể cả Đông phương và Tây phương.
Chúng tôi xin mời quý vị và các bạn theo
dõi buổi hội thoại bỏ túi giữa các huynh trưởng trẻ quen thuộc
A,B,C... như một báo cáo về nhận thức và tinh thần tu đạo của
tuổi trẻ Phật giáo VN ngày nay.
A: Chào các bạn, hôm nay chúng ta lại nói
về giáo dục GĐPT nữa hay sao?
B: Không hẳn như vậy. Hôm nay chúng ta nói
về nhận thức và tinh thần tu đạo của thanh thiếu niên Phật giáo
trong và ngoài nước đó.
C: Mình chỉ biết về GĐPT chứ những đoàn thể
khác tu đạo như thế nào làm sao biết?
A: Thì mình căn cứ vào sách báo, vào những
bài viết… trong cách giáo dục của họ để suy ra chứ sao!
B: Đúng vậy, ví dụ chúng ta đâu có sinh
hoạt với các đơn vị GĐPT trong nước nhưng qua diễn đàn Gia Đình
Áo Lam chúng ta cũng thường được tin tức về trại huấn luyện (Vạn
Hạnh 6), về ngày Hạnh của ngành Nữ, hội Thi Vẽ Tranh của Oanh
Vũ, v.v... đó! Ngoài ra, chúng ta có thể được mời đi tham dự
những ngày Trại hay ngày hội của các hội đoàn bạn… nên anh chị
em của chúng ta cũng biết chứ!
J
J!!
C: OK, ví dụ như hội hướng đạo mới tổ chức
kỷ niệm 100 năm phải không? Mục đích và châm ngôn của họ là gì
các bạn có biết không?
A: Theo mình biết thì mục đích của họ là
phục vụ mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới
tính, v.v... và châm ngôn của họ là “sẵn sàng”, nghĩa là lúc nào
cũng sẵn sàng giúp đỡ tha nhân.
B: Phong trào Hướng đạo thế giới do ông
Robert Stephenson Baden Powell (Ông là Chief Scout of the World,
sinh ngày 22/02/1857 và mất ngày 8/01/1941), thường được gọi
thân mật là PB (PiBi). Hội Hướng đạo huấn luyện cho đoàn sinh
của mình những khả năng để cứu người, giúp đời, tương tự ngũ
minh pháp của Phật giáo vậy (trong qui mô nhỏ hơn), cho nên có
thể nói những Hướng đạo sinh gương mẫu cũng là những người đang
hành Bồ-tát đạo.
C: Chỉ khác một điều duy nhất với GĐPT
mình, đó là họ không giữ giới “không sát sanh”. Họ tập cho đoàn
sinh săn bắn, đặt bẫy, v.v... để bắt thú rừng tìm lương thực cho
mình nữa!
A: Đúng vậy! Cho nên mình là Phật tử, không
thể tham gia Hướng đạo được là vì điểm này, mặc dù ngày xưa đã
có Hướng đạo Phật tử nữa đó! Ngoài tổ chức GĐPT và Hướng đạo ra
còn có rất nhiều hội đoàn thanh niên khác, họ cũng tham gia
những công tác từ thiện, xoa dịu vết thương chiến tranh, an ủi
tù nhân, săn sóc người bệnh
người già trong những nursing homes, v.v...
B: Và cũng có nhiều nhóm tu tập Thiền đó
nha! Có nhiều cấp bậc, có nhóm đã học trong sáu tháng, một năm,
hay nhiều năm…, hằng năm cũng đi “retreat”. Các nhóm này ở nhiều
thành phần tôn giáo khác nhau (Phật giáo, Thiên chúa giáo,
v.v...), cũng có nhiều nhóm cư sĩ do quý thầy hướng dẫn tu học
hằng tháng.
C: Các bạn có nghe đến trung tâm thiền tập
Insight Mediattion Society ở Barre, Massachusetts không? Ở đó có
nhiều người trẻ lắm!
A: Có phải ở đó có bà giáo thọ Sharon
Salzberg (SS) vừa phỏng vấn nhà tâm lý học nổi tiếng Daniel
Goleman (DG) về môn khoa học mới là Xã Hội Thần Kinh Học (Social
Neuroscience) và mối tương quan của nó với những giáo lý và thực
hành trong đạo Phật hay không?
B: Thật là hay quá, các bạn nói cho mình
nghe thử giáo sư DG đã nói cái gì mới về Tâm lý học và nội dung
của Xã hội Thần kinh học là gì vậy?
C: Ông DG là tác giả của nhiều sách về Tâm
lý học. Cuốn sách “Emotional Intelligence” của ông là cuốn sách
bán chạy nhất (NY Times best seller) trong vòng hơn một năm
rưỡi. Và cuốn sách mới nhất của ông là Trí
tuệ Xã Hội học (Social Intelligence) cũng có trên NY
Times Best seller list, ông ta có đề cập đến những khám phá mới
về phần óc của Xã hội (social brain) cho biết chúng ta có thể
mang lại hạnh phúc cho những người tiếp xúc với chúng ta chỉ
bằng sự có mặt an tĩnh của mình.
A: Đúng vậy, theo những khám phá mới của
khoa học, bản chất của con người là hiểu biết và thương yêu.
Không cần một cố gắng nào hết, chúng ta vẫn có thể cảm nhận được
những niềm vui và nỗi khổ của người khác. Và khi trong ta có một
năng lượng an lạc, ta có thể giúp họ làm vơi nỗi khổ đau.
B: Còn trung tâm Thiền Insight Meditation Society có mục đích
gì?
C: Là một trung tâm dạy thiền, thực hành
thiền, dùng thiền để chữa trị những bệnh về tâm lý, về thần
kinh, v.v... Sự trao đổi giữa giáo sư DG và bà giáo thọ SS của
trung tâm tiết lộ cho chúng ta nhiều điều lý thú về công tác trị
liệu tâm lý này lắm.
A: Đúng vậy! Ví dụ như giáo sư DG cho biết
Phần óc Xã hội luôn khiến cho những cảm xúc có tính cách lây
lan, nghĩa là sự đồng cảm của ta khiến cho ta trở nên dễ bị tổn
thương trước những đau khổ quanh mình. Một ví dụ rất điển hình
là những bác sĩ, y tá, các tác viên xã hội… những người làm công
tác chữa trị cho các bệnh nhân, hằng ngày phải đối diện với
những khổ đau của con người… nếu họ thiếu một năng lượng tích
cực bên trong thì họ sẽ hoàn toàn bị bệnh nhân áp đảo.
B: Nghĩa là sao?
C: Nghĩa là các bác sĩ ấy không những đã
không chữa lành được các bệnh nhân mà còn bị tràn ngập bởi những
đau khổ do “lây” từ các bệnh nhân ấy!J
J!!
A: Vì vậy, chúng ta phải biết cảm thấu
(empathize), chia sẻ, biết mở rộng lòng ra trước những nỗi khổ
đau của người khác nhưng đồng thời vẫn giữ được cho mình sự an
lạc nội tâm và sự tỉnh giác.
B: Vậy mình hiểu rồi, và từ đó ta sẽ có một
giải đáp thích hợp giúp đỡ các bệnh nhân bằng tình thương và
chính ngay ở điểm này mà sự tu tập Phật pháp sẽ giúp ích cho ta
rất lớn, có phải không?
C: Phải rồi! Vì những người có tu tập bao
giờ cũng có sự an tĩnh và sáng suốt, và nhờ sự tĩnh lặng này mà
những hành động đầy tình thương được trở nên chính xác hơn.
A: Và điều lý thú hơn là về câu hỏi được
đặt ra: sau cuộc tiếp xúc (giữa người bệnh và bác sĩ), ai là
người đã truyền trao cảm xúc của mình sang người kia? - Là người
đau khổ đã làm tràn ngập cảm giác khổ đau cho kẻ muốn giúp mình
hay là người muốn giúp đã san sẻ sự tĩnh lặng và tình thương
trong họ đến cho người kia và chính ngay sau đó họ càng thấy
hạnh phúc hơn?
B: Đúng rồi, chúng mình cũng đã học sự cảm
thấu (cảm thông, chia sẻ) và tâm từ là hai giai đoạn của lòng vị
tha; sự cảm thấu là muốn nói “tôi cảm nhận được nỗi khổ của bạn”
và tâm từ là muốn nói “tôi muốn giúp bạn bớt khổ”.
C: Ông DG nói rằng theo sách vở, lòng vị
tha là một tiến trình gồm có ba giai đoạn: 1. Ghi nhận có ai đó
cần giúp đỡ; 2. Cảm nhận được sự khó khăn của người ấy; 3. Hành
động để giúp đỡ họ.
A: Cũng đúng thôi, vì nếu không có ý thức,
không có sự quan tâm thì không thể nào có sự cảm thấu, chứ đừng
nói là có được tâm Từ; vì vậy bước đầu tiên để phát triển tâm từ
là một sự quan tâm, một ý thức về những khó khăn, những nỗi khổ
của người khác.
B: Như câu chuyện những em bé ở Houston
trong đêm Noel đem bánh mì và áo lạnh, mền..., đến cho những
người homeless nằm dưới gầm cầu, các bạn nghĩ sao?
C: Đó cũng là một trường hợp quan tâm mặc
dù những người homeless đó chưa phải là “không nơi nương tựa”,
vì thật ra họ có thể vào những nhà ở tập thể chứ không cần ra
nằm dưới gầm cầu!J
J!!
A: Trở lại với vấn đề của chúng ta: như
vậy, tinh thần tu Đạo của thanh thiếu niên nói chung là gì?
B: Mình thấy đó là sự chia sẻ, sự cảm thấu
với nỗi đau của người khác, là tinh thần đối nghịch lại với thái
độ “sống chết mặc bay” của những người ích kỷ chỉ biết nghĩ đến
cá nhân mình hay gia đình mình…
C: Mình cũng thấy vậy, nói đi nói lại, tinh
thần tu đạo của mọi người, mọi lứa tuổi - nhưng chú trọng vào
thanh thiếu niên là bởi vì đó là tương lai của nhân loại - là
tình thương vị tha trong chánh niệm, nghĩa là một thái độ vừa
tập trung, vừa cởi mở. Chánh niệm đem lại năng lượng cần thiết
để thực hiện lòng vị tha.
A: Đúng vậy, ngoài ra, giáo sư DG và bà SS
còn đề cập đến sự buông xả, chính sự buông xả cho phép chúng ta
ghi nhận được nỗi khổ đau của người khác mà vẫn có đủ tĩnh lặng
để làm những gì mình cần làm và đây cũng là điều chúng ta cần
thực tập thường xuyên, nhất là để hướng dẫn người khác tu tập.
Ngoài ra, một cái nắm tay của một người thân hay sự có mặt của
một người có năng lượng của sự an lạc có thể tạo nên một ảnh
hưởng rất sâu sắc và rộng lớn về tâm sinh vật lý trên người kia.
B: Như vậy mình thấy, tinh thần tu Đạo của
những nhóm phổ biến ở đây cũng không ngoài Tứ Vô Lượng Tâm mà
chúng mình đã được học, đó là Từ, Bi, Hỷ, Xả phải không các bạn?
C: Thì đúng vậy rồi, nhưng danh từ có hơi
khác thôi, như đức Phật đã nói, dù chư Phật có ra đời hay không
thì Phật pháp vẫn có đó và có tác dụng chữa lành tâm bệnh cho
chúng sanh. Chỉ là càng ngày khoa học mới phát hiện ra và dùng
những danh từ của thời đại mà thôi!
A: Mình lại nghĩ rằng đề tài của chúng ta
hôm nay là còn phải nói đến nhận thức và tinh thần tu đạo của
thanh thiếu niên trong nước cũng như hải ngoại như thế nào, cao
hay thấp, mạnh hay yếu, v.v...
B: Cái đó làm sao mình nắm được? Mình thấy
các bạn biết đến những sinh hoạt của các nhóm tu Đạo, những
trung tâm thiền, những lý thuyết mới phát hiện của Khoa học liên
quan đến phương pháp trị liệu, có khả năng giải thoát con người
khỏi khổ đau, v.v... cũng là phản ảnh sự nhận thức và tinh thần
“cứu nhân độ thế” (Tu Đạo?) rồi! Mình sẽ có cơ sở để nói lại với
đàn em của mình về những pháp tu thực tiễn đó.
C: Đúng vậy, khoa học xưa nay chỉ biết chữa
thân bệnh, bây giờ đã có những phương pháp mới trị liệu những
bệnh về tâm, vậy là hay quá rồi; tuy nhiên sự áp dụng đang còn
hạn chế, chỉ có những bác sĩ, y tá, tác viên xã hội… mới áp dụng
cho những bệnh nhân của họ; ước mong sao tất cả mọi người đều
được giáo dục để có thể chữa trị cho những ai ở chung quanh mình
đang cần sự giúp đỡ.
A: Như vậy là lý tưởng quá rồi! Phật pháp
là thuốc để chữa lành tâm bệnh, cho nên gần hơn hết là mỗi người
chúng ta đều áp dụng Phật pháp để chữa trị cho mình; đó là tu
đạo chứ gì nữa?
B: Phải đó! Vấn đề là trong xã hội quá phát
triển như hiện nay, con người - đặc biệt là thanh thiếu niên -
bị cuốn hút vào đời sống vật chất, sống lăn xả vào đó, như những
con thiêu thân, lãng quên mục đích và chí hướng của người thanh
niên thời đại nói chung và người Phật tử nói riêng nên chúng ta
mới phải tự nhắc đi nhắc lại hoài!J
J!!
C: Mình nghĩ rằng buổi nói chuyện hôm nay
đã gói ghém được những điều đó, nghĩa là chúng ta đã nhận thức
được rằng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong một thế kỷ
nay rất lớn lao nhưng không đem lại hòa bình cho nhân loại, mà
chỉ phục vụ cho chiến tranh, cũng không khác gì những chủ nghĩa
và học thuyết phi nhân đã hủy hoại thế giới này!
A: Phải! Phải! Cho nên phương pháp tu đạo
cũ nhất và cũng mới nhất, đó là HIỂU và THƯƠNG phải không các
bạn? Đó không chỉ là nhận thức của chúng ta mà của tất cả những
ai có quan tâm đến người khác, luôn thực tập tỉnh thức để có đủ
năng lượng an lạc, để chia sẻ và chuyển trao với tha nhân khi
cần.
B: Buổi nói chuyện như vậy là tạm đủ rồi hở
các bạn? Mình học tập được nhiều điều quá! Cảm ơn các bạn nhiều;
hẹn gặp lại; tạm biệt!
A và C: Tạm biệt! Tạm biệt!
43. Đạo
Phật trong thời
đại chúng ta
Kính thưa quí vị và các bạn,
Không chỉ đến hôm nay mà từ ngàn xưa, cách đây gần 3000 năm, ở
xứ Ấn Độ xa xôi kia với nền văn minh cổ xưa và sự kỳ thị giai
cấp độc đáo (có tới 4 giai cấp trong xã hội), đạo Phật đã đóng
vai trò đặc biệt rồi. Điểm nổi bật của Phật giáo là không có
tính mặc khải, không dạy tín đồ “cứ tin rồi sẽ hiểu”, không tôn
sùng Giáo chủ, không nói giáo lý Phật dạy là “số một”, là độc
nhất vô nhị, v.v... mà dạy người Phật tử hãy thực hành và thấy
có ích lợi thực tế mới theo.
Đức Phật từ
chối trả lời những câu hỏi xa vời hay thần bí như con người từ
đâu đến, niết-bàn là gì, sau khi chết đi về đâu, có Thượng đế
hay không có Thượng đế, v.v... Ngài chỉ trả lời những câu hỏi đi
vào thực tế như bí quyết của hạnh phúc và an lạc, là những vấn
đề phải giải quyết ngay trong hiện tại chứ không phải sau khi
chết! Vì vậy, đạo Phật, ở thời đại nào cũng vậy, trong xã hội
nào cũng vậy, có tác dụng tốt hay không là do con người có chịu
áp dụng hay không. Giáo lý của đức Phật không chỉ dạy cho Tăng
Ni mà cho cả Phật tử tại gia, từ hàng vua chúa đến dân chúng, từ
bổn phận làm vua, làm cha mẹ… cho đến bổn phận làm dân, làm con,
v.v... nữa. Ngài còn nói rằng dù chư Phật có ra đời hay không,
Phật pháp vẫn có đó, vẫn tồn tại.
Người
Huynh trưởng GĐPT áp dụng Phật pháp vào cuộc sống của mình và
hướng dẫn đàn em áp dụng Phật pháp để có cuộc sống tốt đẹp. Họ
không chỉ nói lý thuyết mà thực tập ngay trong cuộc sống. Họ làm
như thế nào thì trao đổi với nhau để rút ra kinh nghiệm thực
hành và truyền đạt lại cho đàn em. Xin mời quí vị và các bạn
theo dõi cuộc hội thoại bỏ túi giữa các huynh trưởng trẻ GĐPT
quen thuộc của chúng ta A, B, C.
A: Chào các bạn! Hôm nay chúng ta nói về
đạo Phật trong thời đại mới của chúng ta phải không?
B: Phải rồi! Nhưng tại sao bạn lại gọi là
thời đại “mới”?
C: Nghĩa là thời đại của thế kỷ 21 phải
không?
A: Đúng thế, ý mình muốn nói là ngày nay
đạo Phật đã được biết đến rất nhiều, đã có vai trò rất quan
trọng, đã đóng góp rất nhiều trong việc giải quyết những vấn đề
xã hội như “đấu tranh” giai cấp, chủng tộc, giới tính, v.v...
Chẳng hạn, đem lại hòa bình cho nhân tâm và thế giới.
B: Mình đồng ý trên nguyên tắc với bạn
nhưng trên thực tế, những vấn đề lớn như bạn nói vẫn còn, chưa
thấy được giải quyết, cũng như chiến tranh và khủng bố vẫn đang
xảy ra nhiều nơi.
C: Phải! Phải! Nhưng đó là tại vì người ta
không áp dụng Phật pháp vào cuộc sống, cũng giống như mùa cảm
cúm (Flu) đang tới mà mình không chịu chích ngừa cảm cúm thì
mình sẽ bị cúm, đâu có nói rằng thuốc không hiệu nghiệm được!
A: Đúng vậy! Mình nói chung chung là vậy vì
“tâm bình thế giới bình” mà! Nhưng ở đây mình biết rằng anh chị
em mình chỉ bàn đến việc chúng ta đã áp dụng Phật pháp như thế
nào, dạy cho các em những gì và hữu hiệu ra sao theo những kết
quả mà chúng ta thấy được.
B:
Nghĩa là chúng ta chỉ nói đến vai trò của Phật giáo qua đời sống
của người Phật tử tại gia trong gia đình, ngoài xã hội, trong
cộng đồng… phải không?
C: Như
vậy cũng đã khá to tát rồi! Chúng ta hãy bắt đầu nha! Ví dụ như
mình, mình thấy Phật pháp đã dạy cho mình sống đúng, đức Phật đã
thiết lập một xã hội bình đẳng ngay tại Ấn Độ qua lời dạy của
Ngài: “Không có giai cấp trong dòng máu
cùng đỏ và trong giọt nước mắt cùng mặn”. Đó là nội dung
mẩu chuyện Đạo “đức Phật độ cho người gánh phân” mà chúng ta đã
dạy cho các em. Từ đó mình noi theo và phát triển lên, thiết lập
tâm bình đẳng. Mình thực tập bằng cách không áp đặt tư tưởng yêu
- ghét lên người khác, mình cố gắng thực hành từ bi, trước hết
là tha thứ bao dung…
A: Phải, mình cũng vậy, dạy cho các em bài
Ngũ uẩn, mình cũng có được cái nhìn
rộng rãi về con người, ai cũng giống nhau trong cảm giác ham vui
sợ khổ, tham sống sợ chết, v.v… cho nên mình cũng rèn luyện lòng
từ bi, sự trầm tĩnh, tập xóa bỏ thiên vị. Muốn như vậy, mình đã
xét lại những định nghĩa về bạn và thù, yêu và ghét, v.v... Mình
nhận thấy lâu nay mình đã dùng chữ sai lầm khi nhận xét về con
người và hành động của họ. Ví dụ mình ghét anh X vì anh ta ích
kỷ, bỏn xẻn; mình thích anh Y vì anh ta dễ thương, ưa giúp đỡ
mọi người, v.v... Đúng ra phải nói rằng mình ghét hành động ích
kỷ của anh X và thích cái tính tốt ưa giúp đỡ mọi người của anh
Y, có phải không?
B: Phải rồi, vì thế nếu một ngày nào đó, ví
dụ trong anh X và anh Y có sự chuyển hóa, anh X mất đi tính ích
kỷ nhỏ nhen, còn anh Y trở nên bỏn xẻn, v.v... thế thì mình lại
thương anh X ghét anh Y sao? Không, chúng ta chỉ ghét những tính
xấu, yêu những đức tính tốt chứ không phải yêu ghét những con
người! Chúng ta phải học theo đức Phật yêu thương tất cả mọi
người, mọi loài mới được đó.
C: Đúng vậy, mình cũng thấy cần phải điều
chỉnh lại những suy nghĩ của mình về bạn-thù, yêu-hận vì bạn bè
quanh mình đó, mới năm trước thành hôn, nói yêu nhau thắm thiết,
năm sau ly dị, lại nói hận nhau suốt đời! Cái gì lạ vậy? ☺☺!! Áp
dụng Phật pháp như thế nào đây?!
A: Bạn không thấy rõ nguyên nhân sao? Mình
thì thấy rất rõ. Đó là bởi vì “khi yêu trái
ấu cũng tròn” nên mình không thấy ở người kia những tính
xấu, những khuyết điểm; người kia cũng vậy, thấy ở mình toàn
những ưu điểm tuyệt vời, dù thật ra đó chỉ là những ưu điểm chút
chút!! Thế nhưng sau hôn nhân, sống với nhau 24/24, những khuyết
điểm dần dần hiện ra hết còn ưu điểm thì biến mất vì
“khi ghét bồ hòn cũng méo” thế là
lục đục, lời qua tiếng lại, v.v… rồi vì thiếu lòng vị tha, bao
dung mà lại dư ích kỷ, cố chấp nên dễ dàng chia tay, ly dị!
B: Nếu hai người đó có học và hành Phật
pháp, họ sẽ trầm tĩnh xét đoán người bạn gái (hay trai) trước
khi kết hôn, xem thử tính nết có khác biệt quá hay không… và sau
khi kết hôn, biết tha thứ cho những khuyết điểm, tìm thấy những
cái tốt của nhau sống hòa thuận tin yêu lẫn nhau, v.v… thì có
thể sẽ tránh được đổ vỡ.
C: Mình còn nghĩ rằng hình như đó không
phải tình yêu, nghĩa là không phải tình yêu dành cho người kia
mà chỉ là ham muốn, là tự yêu mình!
A: Có lý lắm, bởi vì nếu thật sự yêu người
kia thì vì hạnh phúc của họ, đâu có làm cho họ đau khổ, đâu có
ghen tuông, gây gổ, to tiếng …, để cuối cùng đến ly dị, có phải
không?!
B: Một cách chung, mình thấy mỗi người chỉ
cần sống đúng Năm giới là xã hội đẹp đẽ, thanh bình nhất rồi!
C: Phải đó, (1) Không sát sanh (2) Không
trộm cắp (3) Không tà dâm (4) Không nói dối (5) Không uống rượu.
Chỉ cần mọi người đều giữ giới thứ hai thôi, chứ đừng nói là cả
năm giới, thì xã hội đã quá đẹp rồi: ban ngày không có cướp, ban
đêm không có trộm và “đời thanh bình cửa
thường bỏ ngỏ” là được rồi!!
A: Đó là chưa nói “trộm cắp” còn có nhiều ý
nghĩa, giữ được giới này thì giới thứ ba cũng nhất định không
phạm rồi.
B: Thế mới nói không cần xa vời, chỉ nói sơ
như vậy đủ thấy Phật giáo đóng góp sâu rộng vào nếp sống văn hóa
của xã hội như thế nào, không phải chỉ xã hội đương đại mà cả từ
trước đây rất lâu nữa.
C: Biết vậy rồi nhưng trước kia người ta
chỉ biết Phật giáo trong việc chữa trị tâm bệnh, ngày nay người
ta còn biết đến giá trị của Phật giáo trong việc trị liệu thân
bệnh nữa!
A: Đúng rồi đó! Ngày nay trên thế giới có
rất nhiều trung tâm trị liệu các bệnh tâm thần, cả các bệnh về
ung thư nữa, bằng phương pháp thiền định Phật giáo.
B: Phải phải! Mới đây Y khoa nói riêng,
khoa học nói chung, đã phát hiện những sóng của não bộ của những
vị thiền sư đang thiền định và họ còn đo được những sóng đó, từ
đó tìm ra phương pháp để “chữa” lành những bệnh tâm thần, khảo
sát được sự biến chuyển trong óc của bệnh nhân…
C: Đừng tưởng rằng chúng ta hoàn toàn khỏe
mạnh, không bị tâm thần đâu nha! Những khi chúng ta giận dữ thì
chúng ta không khác gì đang điên loạn đó! Vì cái giận có một
năng lượng rất lớn nhưng là năng lượng phá hoại như năng lượng
của một quả bom, làm nổ tung môi trường chung quanh gây ô nhiễm
nặng nề và làm nổ luôn chính con người đang giận dữ.
A: Không sai! Vì vậy khi chúng ta dạy các
em bài “Tam độc Tham, Sân, Si”,
chúng ta có nhắc và giảng cho các em câu nói của đức Phật là
“Một niệm sân khởi lên sẽ đốt cháy cả rừng
công đức” và riêng mình còn dặn các em của mình rằng tham
là một bệnh rất nguy hiểm và rất hay lây nữa! ☺☺!!
B: Phải rồi, bệnh này giống như là bệnh
kinh niên của mọi người, ai cũng mắc phải và chỉ lo bệnh càng
ngày càng nặng hơn trước những cám dỗ của đời sống vật chất;
chúng ta phải chú ý để chữa trị. Phần mình, mình đã và đang chữa
trị bằng phương pháp “trở về với hơi thở” đó. Các bạn thì sao?
C: Mình cũng vậy thôi, vì hơi thở và trái
tim là gắn liền với cuộc sống, một hơi thở ra không vào hay một
hơi thở vào không ra là sự sống không còn nữa. Vì biết sự sống
gắn liền với hơi thở, mình thực tập theo
kinh
Quán niệm hơi thở.
A: Mình cũng giống các bạn. Mình thực tập
theo dõi hơi thở ra, vào và quán sát những cảm thọ đang xảy ra
cho đến khi an tịnh những cảm thọ trong mình (vui, buồn, không
vui không buồn…). Cái này gọi là thâu nhiếp tâm ý hay quán niệm:
Tôi đang thở vào và
làm an tịnh những cảm thọ trong tôi.
Tôi đang thở ra và làm
an tịnh những cảm thọ trong tôi, v.v...
Khi những cảm thọ thực sự được an tịnh thì
tâm trở nên mát dịu, đó là tâm đã được an định.
B: Đúng vậy! Tâm an định là gì? Đó là khi
chúng ta đã thấy được tính vô thường của vạn pháp cũng như thấy
được tính không sinh không diệt của chúng; khi đó chúng ta sẽ
không còn ham muốn mà khi không còn ham muốn thì đâu có thể nổi
sân hay si mê trước những cám dỗ của những sắc màu, bóng dáng…
mong manh của cuộc đời.
C: Tâm an định cũng là khi chúng ta làm chủ
được những tình cảm vui buồn, giận, yêu ghét… tâm không tán
loạn, không bị dính mắc ràng buộc với những tư tưởng chật hẹp
của đời thường.
A: Phải rồi, lúc đó chúng ta có thể hiểu
được rõ ràng ý nghĩa những câu như:
Tất cả các pháp hữu vi
Như mộng huyễn, như
bọt nước.
hay :
Thân như bóng chớp, có
rồi không
…
Thịnh suy như hạt
sương rơi đầu cành.
hay:
Không một Pháp nào
sanh
Không một Pháp nào
diệt,
Nếu thấy được như nó
đang là (as it is).
Tức là thường thấy chư
Phật.
B: Đúng vậy, rồi tiến thêm một bước, chúng
ta có cái nhìn vô tư khách quan để thấy tự tánh các pháp hiển lộ
và qua đó chúng ta thấy được sự liên hệ mật thiết giữa chúng ta
và vũ trụ, vạn vật, sự tương tức tương nhập, v.v... chúng ta
thấy rất rõ khổ đau là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc
sống con người. Vì vậy con người phải học yêu thương để đem vui,
cứu khổ cho đồng loại, không chỉ yêu thương loài người mà còn
yêu thương thiên nhiên, bảo vệ súc vật, cây cối, v.v... nữa.
C: Phải đó, lúc xưa mình rất sợ sấm chớp,
mưa gió, lụt lội, v.v… nhưng từ khi tập quán chiếu, nhìn sâu vào
những cái mình sợ, mình không còn chấp nhất nữa. Ví dụ, mình
thích nước trong, nước mát… thì mình cũng không thể ghét nước
mưa, nước lũ lụt…; mình thích gió mát trăng thanh thì mình cũng
không có lý do gì để ghét bão tố, chỉ là một trạng thái khác của
gió; cũng vậy, mình thích sự nhiệt tình, hăng hái thì mình cũng
phải chấp nhận sự nóng nảy, hung hăng vì đó chẳng qua là hai
hình thức của cùng một yếu tố lửa!
A: Như vậy, chúng ta đã nói lên những ích
lợi của Phật pháp mà chúng ta đã và đang áp dụng vào cuộc sống
của bản thân, gia đình, đoàn thể… nói chung là xã hội chúng ta
đang sống.
B: Phải! Một người thay đổi sẽ có ảnh hưởng
đến cả tập thể, một tập thể thay đổi sẽ ảnh hưởng đến xã hội vì
trong xã hội đương đại của chúng ta không còn
“bế môn tỏa cảng” như ngày xưa.
Người ta nói rằng: “Một con bướm vỗ cánh ở
bên này bờ Đại Tây dương cũng ảnh hưởng đến bên bờ kia của Thái
bình dương” để nói lên sự tương tức tương nhập của mọi
người mọi loài trên quả đất này, không ai có thể sống riêng rẽ.
C: Đó cũng không ngoài giáo lý Duyên sinh,
Duyên khởi của đạo Phật, có phải không?
A: Như vậy là tạm đủ cho buổi mạn đàm của
chúng ta hôm nay rồi các bạn hở? Xin tạm biệt và hẹn lần sau
nha!
B và C: Tạm biệt! Tạm biệt!■
44. Giáo dục
thanh thiếu
niên Phật tử
trong xu hướng
toàn cầu hóa
ấn
đề giáo dục
thanh thiếu niên
Phật tử, tức
tuổi trẻ Phật
giáo Việt
Nam (PGVN) ở hải
ngoại, cũng
giống như vấn
đề giáo dục
tuổi trẻ Phật
giáo ở trong
nước trong xu hướng
“toàn cầu hóa”
thật ra không phải
là vấn
đề mới
được đặt ra,
mà là một
vấn đề thời
sự cách
đây hơn 30 năm
khi Gia đình Phật
tử Việt Nam
(GĐPT) có mặt
tại Hoa kỳ và
tại các nước
Tây phương như
Canada, Pháp, Đức,
Thụy Sĩ, Úc-đại-lợi,
v.v... mặc dù
tuổi trẻ
PGVN trong nước có
hơi khác với
tuổi trẻ
PGVN ở hải
ngoại một chút.
Những người
huynh trưởng trẻ
của GĐPT
ở hải ngoại,
vào độ tuổi
40 hôm nay chính là
những người
đã xa quê hương
từ khi 9, 10 tuổi
hay lớn hơn
một chút. Bản
thân các huynh trưởng
ấy có người
còn chưa
được học về
lịch sử nước
Việt Nam từ
thời Hồng Bàng,
chưa biết
được rõ ràng
về các vị
vua thời Đinh,
Lê, Lý, Trần,
các vua nhà
Nguyễn, về
anh hùng Nguyễn
Huệ, về lịch
sử nước nhà
giai đoạn
54-75, cả về
những giai đoạn
lịch sử sáng
ngời của dân
tộc khi Phật
giáo là quốc
giáo, v.v... nói
gì đến giáo
dục văn học
sử Việt Nam
hay giáo dục
Phật giáo! Vì
vậy, chương
trình tu học
của GĐPT từ
đó đến nay ngoài những
môn học như
Phật pháp,
hoạt động
thanh niên, văn
nghệ - giống
hệt những
môn học truyền
thống của GĐPT
từ khi còn
ở trong nước
- còn có thêm
môn tiếng Việt
(Việt ngữ)
bao gồm lịch
sử, địa lý,
văn học sử,
v.v... để các
em biết được
cội nguồn của
ông bà tổ tiên
mình, cảnh
đẹp của
giang sơn gấm
vóc, v.v... và
những nét
đẹp truyền
thống của
dân tộc mình.
Tuổi trẻ
Việt Nam nói
chung thích học
hỏi cái mới,
dễ hội nhập
với cái mới,
nhưng cũng dễ
hư hỏng vì
chạy theo những
cái mới sai
trái, quá khích,
phóng đãng,
v.v... Vì vậy,
tuổi trẻ Việt
Nam ở hải
ngoại có nhiều
em rất xuất
sắc, rất giỏi,
rất thành
công, nổi tiếng,
giữ những chức
vụ quan trọng
trong chính phủ,
đã trở thành
những nhà văn,
nhà khoa học,
nhà chính trị,
v.v… làm rạng
rỡ gia đình,
dân tộc mình;
nhưng hư hỏng,
tham gia băng đảng,
làm những việc
phi pháp làm
hại thanh danh người
Việt trên
đất người cũng
không phải là
không có! Song song với
hải ngoại,
trong nước cũng
vậy, có những
người trẻ rất
giỏi, rất
anh hùng nhưng
cũng có những
người rất hư
hỏng. Sự thật
có phải vì
người Việt
ở hải ngoại
“choáng ngợp”
trước tiện
nghi vật chất
hay người trẻ
trong nước choáng
ngợp trước sự
xa hoa, văn minh khi Việt
Nam vừa mở cửa
theo “xu hướng toàn
cầu hóa” mà
quên đi những
truyền thống
tốt đẹp của
dân tộc nói
chung, của tinh thần
giáo dục Phật
giáo nói riêng
hay không? Xin thưa, không hẳn
là như thế!
Nói
đến những giá
trị truyền
thống của văn
hóa Phật giáo
tức là nói
đến những giá
trị truyền
thống của văn
hóa Việt
Nam, vì Phật
giáo khi được
du nhập vào
một đất nước
nào thì tự
nhiên hội nhập
ngay vào nền
văn hóa và
truyền thống
của nước
ấy. Ví dụ,
thử so sánh
Phật giáo
Trung Hoa, Phật giáo
Nhật Bản, Phật
giáo Việt
Nam, chúng ta thấy
rất rõ những
điểm tương
đồng và dị
biệt. Vì Phật
giáo ở mỗi
nước mang một
sắc thái riêng,
nhưng lại có
chung một lý tưởng
giác ngộ và
giải thoát,
nên qua đó,
người ta có
thể phân biệt
ngay, đó là
Phật giáo chứ
không phải Cao Đài
hay Thiên Chúa
giáo… Tương
tự như vậy,
GĐPT tại Hoa
Kỳ cũng mang
nét đặc thù
riêng, khác
với GĐPT
ở Pháp,
ở Úc, và cũng
khác với GĐPT
ở trong nước,
mặc dù huy
hiệu hoa sen trắng
và trang phục
giống nhau! Và
tất nhiên,
không ai có thể
nhầm lẫn rằng
đây là những
tổ chức khác
nhau được. Sự
tương quan giữa
những giá trị
của văn hóa
Phật giáo với
các giá trị
truyền thống
văn hóa của
dân tộc cũng
như thế.
Những phẩm
hạnh cao đẹp
của một mẫu
người lý tưởng
như lòng từ
bi, đức nhẫn
nhục, tâm hiếu
hạnh, tinh thần
hy sinh và phụng
sự tha nhân, v.v…
mà kinh điển
Phật giáo thường
giảng dạy
luôn được đề
cao trong nền luân lý Việt
Nam thông qua những bài
ca dao. Những câu tục
ngữ phổ biến
rộng rãi trong dân gian; không hiếm
gì những lời
ca dao, tục ngữ
chứa đựng nội
dung luân lý hay Phật pháp
về tinh thần
hiếu đạo như:
Tu đâu
cho bằng tu nhà,
Thờ cha
kính mẹ ấy là
chân tu.
hay:
Thứ nhất
là tu tại
gia
Thứ hai
tu chợ, thứ
ba tu chùa
Về đức nhu
hòa:
Một sự
nhịn bằng chín
sự lành
Về lòng
vị tha:
Dẫu xây
chín bậc phù-đồ
Sao bằng
làm phước cứu
cho một người.
v.v...
Đó
là vì đạo Phật
đã đi sâu vào
lòng dân chúng
Việt Nam đến
nỗi có nhiều
phong tục, tập
quán không còn
phân biệt được
đâu là Phật
pháp hay là
nền luân lý Á Đông,
thậm chí, có
nhiều người
còn nhầm lẫn
Nho giáo với
Phật giáo và
Phật giáo với
Lão giáo nữa.
Vậy, chúng
ta hãy đi sâu vào
xem xét một
cách cụ thể,
khi thanh thiếu niên
Việt Nam tiếp
xúc với nền
văn minh văn
hóa Âu Tây, họ đã
tiêm nhiễm
những điều
xấu tốt gì
và đã đánh mất
đi những
truyền thống
tốt đẹp nào.
Về hình
thức, thời
trang (model) được xâm nhập
trước nhất và
mạnh mẽ nhất.
Sau khi Việt Nam “mở
cửa”, nhiều
thanh niên nam nữ
Việt nam đã
“học đòi” cách
ăn mặc hở
hang, lố lăng
của những
“hippies” nước ngoài,
thậm chí đi
vào những nơi
tôn nghiêm như
chùa, đền thờ…
mà cũng có
thể mặc những
“mini jupe” báo hại
quý Thầy, quý Sư
cô phải “cho mượn”
áo tràng
để vào chánh
điện lạy
Phật! Điều
rất đáng ngạc
nhiên là
ngay sau năm 1975, tà
áo dài được
coi như là
“tiểu tư sản”,
nữ giáo viên
miền Nam đi
dạy vẫn còn
mặc áo dài
là bị phê
bình nặng nề.
Nhưng sau năm
94, 95 thì sao? Tất
cả nữ giáo
viên và nữ
sinh của các
trường đã
được mặc
áo dài lại.
Như vậy
đủ thấy những
truyền thống
tốt đẹp tuy
có thể bị
bài bác, xuyên
tạc bởi những
phần tử cực
đoan ở một
giai đoạn nào
đó, nhưng rồi
sẽ được phục
hồi và tồn
tại với thời
gian, ngược lại
những gì kịch
cỡm, nhố nhăng,
trước sau gì
cũng bị đào
thải!
Về tinh thần,
những cái “mới”
cũng có khác
trong nếp sống,
trong các mối
quan hệ giữa
cha mẹ con cái,
thầy trò, vợ
chồng… Chúng
ta có thể nhận
ra từ kinh nghiệm
thực tế của
bản thân và
của các em
đoàn sinh
thanh, thiếu, oanh vũ
của chúng ta
trong các mối
quan hệ bình
thường đó.
Quan hệ giữa
cha mẹ và
con cái thì
theo phong tục tập
quán Việt
Nam nói chung, trong giáo
dục Phật giáo
nói riêng,
con cái có
hiếu với cha
mẹ, kính trọng
cha mẹ, vâng lời
cha mẹ hơn là
theo văn hóa
phương Tây. Con cái
người Việt
Nam sống với
cha mẹ ít nhất
là đến khi có
gia đình riêng
mới độc lập,
tách ra khỏi
đại gia đình.
Còn ở các
nước phương
Tây, con cái trên
18 tuổi không phân biệt
nam nữ, thường
“thoát ly gia đình”
sống độc lập
với cha mẹ.
Điều này
có cái hay cũng
có cái không
hay. Nếu con cái
cứ sống bám
vào cha mẹ
thì cũng mất
đi ý chí tự
lập. Tuy nhiên
phải công nhận
trong gia đình Việt
Nam theo truyền thống
Á Đông, nếp
sống chung theo chế
độ đại gia đình thì
anh chị em gắn
bó nhau hơn.
Còn
đối với cha
mẹ già yếu,
nếu theo truyền
thống PGVN thì
con cái vẫn
phụng dưỡng
cha mẹ, nhưng
những gia đình
theo văn minh Âu Mỹ
thì gởi cha
mẹ vào nhà
dưỡng lão, để
có tự do cho
tiểu gia đình
của mình, thỉnh
thoảng mới vào
thăm viếng,
mặc dù cách
này tốn kém
hơn rất nhiều
nhưng họ vẫn
chọn.
Nói gần
hơn, các em
ở độ tuổi
oanh vũ của
chúng ta, rất
giống với người
bản xứ,
đối với cha
mẹ thì xem
như bạn bè,
có em không biết
đi thưa về
trình hay chào
hỏi bạn bè
của ba má. Tất
nhiên ở GĐPT,
chúng ta có
dạy các em rất
kỹ về những
điều này;
chúng ta dạy
cho các em hiếu
thảo với cha
mẹ, chọn ngày
truyền thống
của oanh vũ
GĐPT là Ngày
Hiếu, tức là
ngày Lễ Vu
Lan. Ngay từ tuổi
ấu thơ, chúng
ta đã dạy các
em thực hành
hạnh hiếu và
phát huy tình
gia đình, tình
thương yêu
ông bà, cha mẹ
và anh chị
em. Hằng năm,
chúng ta đã
tổ chức Ngày
Mẹ với lễ
bông hồng cài
áo rất trọng
thể, mời phụ
huynh các em đến
và các em
trao tận tay ba mẹ
mình những món
quà tự tay mình
làm với những
lời nói lên
lòng biết
ơn của cha mẹ…
Những điều
này làm cho
các bậc cha
mẹ rất cảm
động, đặc biệt
là những phụ
huynh người Mỹ
(có những em
oanh vũ có
cha hay mẹ là
ngưòi Mỹ hay
Pháp) đánh
giá rất cao
ngày lễ này…
Họ bảo rằng,
chưa từng thấy
như vậy
trong các đoàn
thể thanh niên
khác.
Ngoài ra,
trong các gia đình
theo truyền thống
Việt Nam, sự
giao thiệp của
con cái cũng
được cha mẹ
quan tâm hơn nên
tuy không đến nỗi
còn có quan
niệm “nam nữ
thọ thọ bất
thân”, nhưng sự
giao du giữa bạn
trai bạn gái
đều phải có
sự kiểm soát
và hạn chế
của cha mẹ,
không để các
em quá tự do
phóng túng
như ở những
gia đình giáo
dục con cái
theo “kiểu Mỹ”
để rồi các
em không may bị vướng
vào những
quan hệ xấu
hay gia nhập các
băng đảng mà
không biết. Hiện
tượng này
không chỉ ở hải
ngoại mà cả
ở trong nước cũng
có. Chúng ta
dùng chữ
“theo kiểu Mỹ”
cho dễ hiểu,
chứ sự thật,
nhiều gia đình
người Mỹ rất
bảo thủ, rất
“xưa” vẫn rất
quan tâm theo dõi sự quan hệ
bạn bè của
con cái họ
không khác gì
người Việt
Nam chúng ta, để
tránh những
phiền phức lớn
do hậu quả
việc quan hệ
nam nữ không chân chính.
Về mối
quan hệ thầy
trò ở Mỹ và
Việt Nam, nhất
là Việt Nam
trước 1975, thì
thật là hoàn
toàn khác biệt.
Ở hải ngoại,
với những
đất nước có
nền tự do
dân chủ lâu đời,
nền giáo dục
của họ không
khắt khe như
quan điểm
“quân sư phụ”
của nước ta
ngày xưa ;
quan hệ thầy
trò không khác
quan hệ bạn
bè là mấy!
và người học
trò ở đây gần
như không có
dịp nào
để bày tỏ
lòng biết
ơn của mình
đến thầy cô
giáo. Có người
học xong là
quên tên thầy
cô ngay! Ở Việt
Nam, sau 1975 hằng năm
có “Ngày thầy
cô giáo” là
ngày 20/11; vài
người cho rằng
một năm mà
chỉ có một
ngày để quan
tâm đến thầy
cô giáo, đi
mua hoa, mua quà tặng
thầy cô, những
ngày khác
không bao giờ nhớ
để làm tốt
quan hệ thầy
trò, e là quá
ít chăng? Xin thưa
“có còn hơn
không”! Trước năm
1975 tuy không có “Ngày
thầy cô giáo”
nhưng tình cảm
thầy trò rất
đậm đà. Thầy
không tố cáo
trò, trò
không tố cáo
thầy mà thầy
luôn coi học trò
là “đàn em
thân yêu” còn
trò coi thầy
như cha mẹ,
như huynh trưởng.
Không chỉ học
sinh mà phụ
huynh học sinh cũng
quí thầy cô
giáo của con
mình nữa.
Sau năm 1975, ngay trên
đất nước Việt
Nam cũng có
chuyện học
trò đánh thầy
hay cầm dao rượt
thầy chạy…
Các bạn biết
không? Phải chăng
đó là ảnh hưởng
của nhiều nền
văn minh Âu Mỹ đang
du nhập vào
Việt Nam? Xin thưa,
không phải như
vậy. Những
trường hợp này
ở đâu cũng có
thể xảy ra,
đặc biệt là
do cái tâm quá
hung hăng, quá
nóng nảy,
đầy sân hận…
chứ không hẳn
là do một nền
giáo dục sai
lầm. Ở Mỹ
cách đây
không lâu, đã có
lần một em bé
học sinh đem
súng đến trường
bắn thầy cô
giáo và các
bạn, chết hết
hơn cả chục
người.
Ngoài ra,
ở Âu Tây người
ta coi trọng đứa
trẻ hơn
ở Việt Nam mình
nhiều. Những
gì một
đứa trẻ, một
học sinh nói,
trước hết
được coi là
sự thật cho
nên có nhiều
thầy cô giáo
cũng như cha
mẹ bị học
trò hay con cái
tố cáo là
“quấy nhiễu”
(harash) nó, họ
có thể bị
đưa ra tòa xét
xử, thậm chí
có thể bị
ở tù nếu
sau khi điều
tra đó là sự
thật! Người
ta dạy cho đứa
trẻ biết rất
nhiều cách
để thông tin với
bên ngoài, học
thuộc nhiều
số phone để
khi hữu sự
phải dùng
đến. Cách giáo
dục này cũng
có cái hay là
đứa trẻ ở đây khôn lanh hơn
trẻ em ở Việt
Nam nhưng có
cái dở là
nếu cha mẹ
hay thầy cô giáo
làm “mất lòng”
nó, nó sẽ
đưa họ ra “pháp
luật” mà
không hiểu hết
những hậu quả
tai hại do nó
gây ra cho những người
thân của mình.
Như vậy,
bất cứ một
nền giáo dục
nào, cho dù được
gọi là nền
giáo dục toàn
diện, cũng vẫn
có hai tác dụng
tích cực và
tiêu cực,
đó là vì
còn tùy theo
tính tình,
hoàn cảnh…
của đối tượng
được giáo dục
nữa.
Lứa tuổi
ngành thanh là
lứa tuổi
đang đứng trước
ngưỡng cửa
hôn nhân nên chúng
ta đã tổ chức
những buổi hội
thảo về “hạnh
phúc gia đình”
hay về “hôn nhân dị
giáo” v.v... cho các
em ngành thanh và
các huynh trưởng
trẻ tham dự.
Đó là những
vấn đề mà
những bậc
cha mẹ, những
người huynh trưởng
cần phải bồi
dưỡng cho các
em của mình
vì gia đình
chính là nền
tảng của xã
hội, của cộng
đồng, của tổ
chức. Chúng
ta phải thấy
rằng ở những
đất nước tự
do, con người được
tự do luyến
ái, nam nữ bình
đẳng, người
ta có quyền
kết hôn, ly hôn, v.v... bất
cứ lúc nào,
ở đâu tùy thích.
Có những cặp
thanh niên vừa
kết hôn tháng
trước tháng
sau ly hôn cũng chẳng
sao, luật pháp
vẫn tôn trọng
ý kiến của họ
miễn là có
sự đồng ý của
đôi bên.
Điều này
có thể là
hay chứ không phải
dở, vì cuộc
sống đôi lứa
có hạnh phúc
mới duy trì
hôn nhân nếu không thì
chỉ là “địa
ngục” thôi. Có
phải không các
bạn?
Tuy nhiên cũng
còn tùy theo
quan niệm của
mỗi người,
điều quan trọng
là chúng ta
phải dạy các
em rằng nên
thận trọng tối
đa trước khi
quyết định kết
hôn, rằng trong truyền
thống Á Đông
và theo tinh thần
Phật giáo,
hôn nhân không phải trò
đùa, không phải là
chuyện riêng
của hai người,
mà là chuyện
chung của hai họ,
không phải tự
ý hai người muốn
kết là kết,
muốn ly là
ly! Bởi vậy,
hôn nhân của một
cặp thanh niên
nam nữ Việt
Nam không chỉ đơn thuần
đưa nhau đến
tòa án ký tên
là xong, mà
còn phải cáo
tổ tiên, phải
trình diện
hai bên cha mẹ,
họ hàng bà
con và bạn bè…
nữa!
Riêng với
người huynh trưởng
GĐPT chúng
ta lại càng
phải thận trọng
hơn vì nhất
cử nhất
động của chúng
ta đều được
đàn em âm thầm
chú ý quan sát,
thậm chí còn
để noi gương
hay ngưỡng mộ,
hay thất vọng…
nữa. Cho nên,
chúng ta càng
không thể tùy
tiện hay xem đó
là vấn
đề riêng tư
của chúng
ta, không liên quan gì
đến ai được!
Đó là chưa
nói con cái
của hai người
có thể sẽ
trở thành những
chim non, những oanh vũ
của GĐPT sau
này!
Về hôn nhân
dị giáo thì
đây là những
“trường thiên
tiểu thuyết”.
Trong GĐPT đã
có nhiều trường
hợp như vậy,
kết quả hay
có, dở cũng
có. Chúng ta
đã tham dự
bao nhiêu cuộc
hội thảo về
vấn đề này
rồi mà đến
nay vẫn chưa
có “đáp số”
thỏa đáng!!!
Đây quả là
vấn đề của
duyên nợ, của
nghiệp báo lành
hay dữ của
nhiều đời
nhiều kiếp
chứ đâu phải
hoàn toàn do
chúng ta chủ động
đâu! Phải chăng
vì thế mà
người ta thường
nói: “Con là
nợ, vợ là
oan gia, chồng là
nghiệp báo”!
Cho nên, dù
sống trên một
xứ sở theo
“chủ nghĩa cá
nhân”, chúng ta vẫn
phải giáo dục
con em chúng ta và
tự nhắc nhở
mình, phải
giữ gìn truyền
thống tốt
đẹp về quan
hệ vợ chồng,
đó là thủy
chung, nhẫn nhục,
hiểu biết và
thương yêu.
Về những
mối quan hệ
bạn bè, bà
con và quan hệ
giữa chủ
nhân và công nhân, v.v…
chúng ta có
thể bàn
chung vào một
mục nhưng
không phải là
không quan trọng vì
nó cũng
ảnh hưởng lên
đời sống hằng
ngày của chúng
ta không ít. Thời
đại “mở cửa”
không chỉ đất nước
mở cửa, con
người cũng
“cởi mở” hơn
xưa, nhất là
những người
luôn muốn “chạy
theo cái mới”.
Về bạn
bè, Ca dao, Tục
ngữ ta có
câu “thói thường
gần mực thì
đen, anh em bạn hữu
phải nên chọn
người” nên
phải dạy các
em chọn bạn
tốt đừng chọn
những người
bạn có vẻ
“sành đời” hơn
mình, “văn
minh” hơn mình…
vì chính họ
có thể đưa mình
vào con đường
xấu như uống
rượu, cờ bạc,
ma túy v.v... Thật
ra ban đầu đâu
có ai biết
người bạn
thân của mình
là “xấu”
đâu! Đó là
chưa nói nếu
ai cũng đòi
chọn bạn tốt
hết thì những
người xấu bị
xa lánh, không có
bạn bè hay
sao? Đức Phật
cũng dạy phải
quan tâm bạn bè,
phải để ý
đến ưu
điểm của
họ vì không
có ai hoàn
toàn xấu.
Tuy nhiên, chúng
ta phải tự lượng
sức mình, nếu
chúng ta có
khả năng
chuyển hóa
được người bạn
của mình thì
tốt, nếu thấy
không những không chuyển
hóa được mà
còn bị bạn
lôi kéo vào
những tật xấu
thì phải tránh
xa!
Đối
với các em
Oanh vũ thì
nhẹ nhàng hơn
vì thế giới
các em là thế
giới tuổi thơ,
hầu hết các
em đều trong sáng
nhưng với các
em ngành Thiếu
thì rất nghiêm
trọng. Tuổi
teenagers rất là
kinh khủng (terrible teenagers)
đối với các
bậc phụ
huynh. Có nhiều
em rất ngoan ở
lớp 7 lớp 8
nhưng lên lớp
9 tự nhiên
thay đổi, quay một
góc 180 độ,
không còn thích
thú với nhà
trường, với
sách vở nữa
mà học
đòi những thói
hư tật xấu,
giao du với bạn
bè “bụi
đời”, đi sớm
về khuya…
cha mẹ không kiểm
soát nổi! Phần
đông đó là
trường hợp
con nhà giàu,
còn con nhà
nghèo, phải
vừa học vừa
đi làm kiếm
tiền ăn học
làm sao có
thì giờ mà
đi hoang. Ở Việt
Nam cũng vậy
mà ở hải ngoại
cũng vậy, hiện
tượng “chạy
theo cái mới”
sống buông thả,
bỏ học, bỏ
nhà đi rong, dính
vào xì ke,
ma túy hay băng
đảng… hầu
hết đều rơi
vào con nhà
giàu hay con nhà
không giàu nhưng
được cha mẹ
quá nuông chiều,
muốn gì được
nấy mới sinh
ra cái họa này.
Vì vậy, việc
quan trọng của
người Huynh trưởng
chúng ta là
quan tâm đến các
em nhiều và
khi thấy có
hiện tượng
“bạn xấu” nên
thông báo cho phụ
huynh biết bởi
vì chúng ta
chỉ gặp các
em trong ngày Chủ
nhật, làm
sao theo dõi, kiểm soát
các em như
gia đình các
em được. Nói
cho chính xác,
việc chọn bạn
bừa bãi không phải
do thời thế
hay xã hội tạo
ra mà do chính
bản thân mỗi
người, hoàn
cảnh xã hội
chỉ là những
tác động phụ
mà thôi. Đối
với lứa tuổi
thanh, thiếu, cuộc
sống có nhiều
lúc quá căng
thẳng (stress) làm
cho các em phải
mượn rượu giải
sầu, và chính
trong những môi trường
này (quán rượu,
vũ trường, sòng
bài…) các
em đã gặp phải
những người
bạn xấu thuộc
“xã hội đen”
(chữ này chỉ
có nghĩa là
những thành
phần không được
lương thiện
lắm) đã gây
ra rất nhiều
phiền não, phức
tạp trong cuộc
sống.
Nói tóm
lại, trước
những trào lưu
“mới” nhưng
không lành mạnh,
đầy cạm bẫy
đối với lứa
tuổi thanh, thiếu
niên, chúng
ta phải nỗ lực
vận dụng từ
bi và trí tuệ
hay tình thương
và sự tỉnh
thức để giáo
dục, chăm sóc
đàn em của
chúng ta trong nước
cũng như ở hải
ngoại, để có
thể đề phòng,
ngăn chận những
làn sóng có
tính cách phá
hoại, kéo
trôi những phẩm
chất tốt
đẹp và nhận
chìm tương
lai những con người
trẻ mà thiếu
kinh nghiệm, thiếu
sự quan tâm của
người lớn.
Tuy nhiên, giáo
dục Phật giáo
nói chung, giáo
dục GĐPT nói
riêng quá hạn
hẹp về thời
gian và phương
tiện cho nên
vấn đề tự
thân vẫn là
chính yếu.
Đó là lý do
chúng ta tích
cực trong trách
nhiệm của mình
nhưng thành
công hay không vẫn còn
là dấu chấm
hỏi.■
ấy hôm nay trời Houston thật đẹp,
được mấy đài phát thanh khen là Houston có “nắng vàng rực rỡ”;
lòng người có thể vì vậy mà trở nên vui vẻ cởi mở hơn hay không?
Vừa đi dạo về, cả nhà đi vắng hết,
tôi đang nghĩ đến một buổi sáng hoàn toàn độc lập tự do thì
chuông cửa vang lên, nhìn ra thấy có ba người Việt nam, một
người phụ nữ trung niên, một thanh niên và một thiếu nữ trẻ đẹp;
không hiểu sao, tôi tự nhiên mở cửa mời họ vào nhà, như đã quen
biết nhau từ trước! (Ở đây, người ta có thói quen không bao giờ
mở cửa cho người lạ nhất là khi mình ở nhà có một mình. Đã nhiều
lần có những “phái đoàn” người Mỹ, người Mễ, người Philippines,
v.v... đến đây, nhưng tôi không bao giờ mời vào nhà khi biết mục
đích của họ là truyền giáo, thì chỉ cần nhỏ nhẹ “I’m Buddhist”
là họ đưa tặng mình vài cuốn sách nhỏ gọi là để cho mình “làm
quen” với tôn giáo của họ rồi chào từ giã thôi) Lần này tôi chưa
biết họ là ai, đến nhà có việc gì, tưởng là nhân viên của Cộng
đồng đến nhắc đi bỏ phiếu (vote), v.v… Cho đến khi họ nhập đề,
“Hôm nay là mùa Thanksgiving, chúng tôi ở hội Thánh Tin Lành,
v.v…” thì tôi mới “euréka” ra cũng là mục đích truyền giáo.
Nhưng đã lỡ rồi, tôi vẫn mời khách ngồi nói chuyện và uống nước
trà.
Sau khi cô ta tự giới thiệu tên mình
là L, người phụ nữ là H và anh thanh niên là N - con trai của
chị H và tôi cũng tự giới thiệu tên mình là TN, cô L mở đầu câu
chuyện “thuyết giảng” trước.
L: Chắc cô TN cũng có nghe về Chúa
Trời rồi chứ? Hôm nay là mùa Lễ Tạ Ơn, chúng ta tạ ơn nước Mỹ đã
cho chúng ta tạm dung, và người Mỹ thì tạ ơn Chúa... con muốn
đến để giúp cô rước Chúa vào lòng.
TN: Mình chưa hiểu quý vị đây muốn
nói gì? Chúa là Chúa Jesus Christ có phải không? Mình nghĩ hầu
như ai cũng biết ngài chứ, qua sách vở và Thánh kinh, v.v...
H: Ồ chị TN cũng có biết Thánh kinh
hả? Thế thì hay quá rồi, hôm nay chúng tôi có ý định đến thăm
chị và gia đình cũng như giới thiệu Chúa đến với chị và gia đình
chị.
TN: Mình cũng như mọi người đều biết,
ngay các em nhỏ đi học Mẫu giáo cũng đã biết đến God rồi, nhưng
đức tin của mình lại không đặt vào God mà đặt vào đức Phật vì
tôn giáo của mình không phải là Thiên Chúa giáo, Tin Lành hay
Hồi giáo mà là Phật giáo.
L: Lúc trước con cũng như cô TN, cũng
đi Chùa, niệm Phật, nhưng con không thấy được cái gì hay cả,
không thấy được hạnh phúc như khi biết được Chúa, được rước Chúa
vào lòng nên hôm nay con muốn chia sẻ với cô niềm hạnh phúc đó.
TN: Đó là tại vì em không tìm hiểu
sâu, nên không biết niệm Phật để làm gì, đi Chùa để làm gì, ý
nghĩa quy y là gì, ý nghĩa sám hối là gì, v.v... còn mình cũng
có Phật ở trong lòng nên mình thấy an lạc, hạnh phúc lắm.
L: Đó, cô nói sám hối, con cũng biết
nhưng sám hối đâu có hết tội, đâu có ai giúp cho mình sạch tội?
Còn Chúa chịu chết trên cây thánh giá để chịu tội thay cho con
người, cô có biết điều đó không?
TN: Có, cô có nghe nói điều đó nhưng
cô nghĩ tội ai làm phải tự mình gánh lấy, đâu có ai rửa cho ai
được? Những tòa án thế gian mà còn phải giữ quy luật công bằng
đó, làm sao tòa án của Chúa lại bất công như vậy?
H: Không phải là bất công mà là Chúa
tha tội, Chúa nhân từ lắm, bác ái lắm, Chúa tha tội cho chị và
rước chị vào cõi vĩnh hằng. Sau khi chết con người có hai con
đường để đi một là thiên đường, hai là địa ngục; nếu chị theo
Chúa, chị sẽ được rước lên Thiên Đường, ngược lại chị phải rơi
vào hỏa ngục. Chị có tin con người khi chết là hết hay không?
TN: Dạ không, trong tín ngưỡng của
mình, dòng sống của con người không phải bắt đầu từ khi lọt lòng
mẹ và kết thúc khi trút hơi thở cuối cùng mà còn tái sinh luân
hồi trong nhiều đời nhiều kiếp trước và sau nữa. Sự tái sinh này
không do Trời, Chúa hay Phật định đoạt mà do chính những hành vi
thiện hay bất thiện của mình.
L: Như vậy, làm sao cô bảo đảm là cô
không làm ác? Làm sao cô biết chắc cô luôn làm thiện?
TN: Đâu có, cô chỉ nói là làm ác thì
sẽ tái sinh vào đường ác, chịu đau khổ; còn làm thiện sẽ sinh
vào những cõi thiện lành, an vui, v.v… Cô theo Phật là nghe theo
lời Phật dạy, để làm lành tránh dữ chứ không phải để được Phật
bao che cho những việc ác của mình; nếu cô làm ác, cô vẫn phải
đọa địa ngục cho dù cô là Phật tử.
L: Nếu cô muốn mình luôn luôn làm
điều lành thì trước hết cô phải rước Chúa vào lòng, Chúa mới bảo
vệ cô, giúp đỡ cô nghĩa là phù hộ cho cô làm lành tránh dữ chứ
một mình mình thì không ai làm nổi đâu!
TN: Trong truyền thống tín ngưỡng của
cô (là Phật giáo) cũng có cầu nguyện, xin được phò hộ, xin được
tiếp sức, để mình siêng năng làm lành tránh ác, giữ lòng lương
thiện, nghĩa là cầu những vị Bồ-tát như đức Quán Thế Âm chẳng
hạn, cũng như em cầu Chúa của em vậy đó. Trong suy nghĩ của cô,
và như em nói là God chịu bị đóng đinh để chuộc tội cho con
người thì God cũng là một vị Bồ-tát. Cô cũng được biết qua những
truyện kể về những vị Bồ-tát cho con mắt của họ hay cho cả mạng
sống của họ nữa.
H: Bên Phật giáo có cõi vĩnh hằng
không?
TN: Phật giáo thấy rằng không có cái
gì gọi là “vĩnh hằng” cả - nếu dịch chữ vĩnh hằng là “permanent”
hay “eternal” vì mọi sự vật hiện tượng trên đời này đều vô
thường (impermanent) có đó rồi mất đó, ngay quả đất chúng ta ở
cũng đang biến đổi từng giây từng phút và tâm tư tình cảm của
chúng ta cũng vậy, đâu có cái gì là “vĩnh hằng”. Tuy nhiên, Phật
giáo cũng có nói đến cõi Cực Lạc.
H: Cõi Cực Lạc có phải là Thiên đàng
của Phật giáo không?
TN: Dạ, không phải; cõi Cực Lạc dành
cho những người niệm Phật rất chuyên chú nghĩa là vừa chuyên
cần, miệt mài niệm Phật, vừa chú ý không xao lãng, không để cho
một ý nghĩ nào chen vào ngoài việc niệm Phật; nếu được như vậy,
sau khi chết sẽ được sinh về cõi Cực Lạc.
H: Cảm ơn chị TN đã cho nghe những
điều này và đã mở cửa cho chúng tôi vào, cho uống nước trà, v.v…
L: Như vậy là cô TN chưa sẵn sàng để
rước Chúa vào lòng; con tưởng nếu Cô đã sẵn sàng thì bắt đầu hôm
nay tất cả chúng con cầu nguyện cho cô; nếu cô có gì thắc mắc cô
cứ hỏi, và con có thể đem sách đến cho cô đọc và nghiên cứu nữa.
TN: Mỗi ngày cô đều lễ Phật mỗi buổi
sáng và cuối buổi lễ Phật đều cầu an lành cho mọi người và mọi
loài nữa (theo truyền thống Phật giáo, không phân biệt tôn giáo,
chủng tộc). Cảm ơn L, nhưng những cái đó để dành cho những người
chưa có đức tin tôn giáo nào hết. Còn cô, cô đã có đức tin và cô
không thay đổi đức tin của mình; tuy nhiên, cô không phê phán
tôn giáo nào cả, mỗi người đều có tự do tín ngưỡng mà!
L: Nhưng nếu họ tin sai thì cô nghĩ
mình có phải sửa đổi lại cho họ không?
TN: Cô không nghĩ như vậy. Cô chỉ
biết phần mình là tin thì phải hiểu, còn đối với
người khác, mình không dám nói với họ là họ tin sai đâu. Thậm
chí chúng ta đều nghe những người khủng bố thuộc đạo Hồi bảo
rằng God của họ phù hộ cho họ giết những người theo Ky tô giáo
nữa. Cô cũng không lên tiếng chê bai phê phán hay khuyên họ theo
đạo Phật chẳng hạn vì cô biết rất khó để thuyết phục một người
bỏ Đạo của mình theo đạo mới. Cô lại không có khả năng và điều
kiện để làm điều đó nên đành giữ im lặng thôi!
H: Chị TN này, chị có thể cho biết
tại sao Phật giáo tin rằng con người ta bị điều khiển bởi cái
nghiệp? Cái nghiệp này do ai đặt ra?
TN: Dạ, điều này mình đã có nói hồi
nãy rồi. Nghiệp là những hành vi của mình, những lời nói và ý
nghĩ; nếu mình nói năng và hành động do chủ ý tốt thì đó là mình
đã tạo ra những nghiệp thiện, nếu nói năng hành động có ý hại
người thì đó là ác nghiệp, sẽ dẫn mình đến những cõi ác… Đó là
mình chỉ nói sơ, chứ giáo lý về nghiệp thì không thể nói hết
được vì sách vở viết về nghiệp rất nhiều.
L: Con cũng hiểu như vậy, nhưng nếu
mình không có Chúa trong lòng thì mình sẽ không làm nổi đâu.
TN: Cô nghĩ rằng nếu câu nói đó của
em mà đổi lại một chút thì logic hơn: khi em suy nghĩ, nói năng
và hành động tốt đẹp thì đó là em đã có Chúa ở trong lòng (cô
thì có Phật ở trong lòng) còn nếu chúng ta luôn làm ác để hại
người thì ta chỉ có Satan hay Ma vương trong lòng chứ không có
Chúa và không thể rước Chúa vào lòng được.
L: Dạ không phải đâu cô, Chúa rất
nhân từ thương chúng ta như người mẹ thương đứa con một của
mình, không phân biệt người tốt hay người xấu, người lành hay
người dữ, Chúa đều đón nhận, ôm vào lòng hết.
H: Cho nên Chúa đã sai đứa con trai
duy nhất của mình đến thế gian để chịu chết thay cho con người
đó!
TN: Mình thấy câu chuyện đã trở lại
như ban đầu, nghĩa là không có kết thúc nên có lẽ mình không nên
giữ các vị ở đây lâu, để các vị còn đi đến nhiều nhà khác.
Nhận được tín hiệu “tiễn khách” của
tôi nên ba người khách mới quen đứng lên cáo từ ra về, chúc
Happy Thanksgiving và hẹn gặp lại (chắc là Christmas họ sẽ trở
lại chăng?). Đóng cửa xong, tôi chợt nhớ lại là chàng thanh niên
từ đầu đến cuối không hề nói một tiếng nào. Cũng thật là hay!
Chỉ gật đầu chào hai lần, khi bước vào nhà và khi ra khỏi nhà,
nên không biết anh ta nói tiếng gì. Chắc khi về nhà anh ta sẽ
nói với mẹ “đàn bà thật lắm lời, nghe ba người thay phiên nhau
nói, con buồn ngủ quá chừng!”
Nhân ngày vía đức Phật A-di-đà tháng
11 AL sắp đến, TM xin kể lại câu chuyện rất bình thường nhưng
vẫn có cái cho mình suy gẫm. Công tác hoằng pháp của người Phật
tử e không mạnh và sâu rộng bằng của người theo Tin Lành hay
Thiên Chúa giáo vì họ chịu khó đi đến từng nhà để giảng đạo (Tây
phương cũng vậy mà Á Đông cũng vậy). Ở những nước kém mở mang và
nghèo đói, những người truyền giáo này còn cho tiền bạc, lúa
gạo, nghĩa là cứu đói cứu nghèo kèm theo việc rao giảng đạo.
Riêng TM đây là lần đầu tiên thật sự “đón tiếp” họ, mặc dù trong
bà con, bạn bè, học trò cũ, v.v… có rất nhiều người làm công tác
này, nhưng chưa bao giờ những người quen ấy tìm cách rủ mình
“rước Chúa vào lòng” cả.
Tháng 11 dương lịch là mùa
Thanksgiving ở Mỹ, Canada… đối với người Phật tử không chỉ có
một ngày lễ tạ ơn hay một mùa lễ tạ ơn trong một năm mà ngày nào
chúng ta cũng phải nhớ ơn và tạ ơn cả, đó là Tứ Ân mà chúng ta
đã học và đã dạy các em của mình: ân Cha Mẹ, ân Thầy bạn, ân Xã
hội và ân Tam bảo và ân muôn loài chúng sanh. Thế giới chúng ta
đang sống là một thế giới tương sinh, tương tức, tương quan,
tương duyên, nghĩa là trùng trùng duyên khởi, không ai có thể
sống độc lập; và khi đã có tương quan thì không khỏi có “ân oán”
qua lại. Nếu tâm ta rộng lớn, biết xả bỏ oán hận và tràn đầy
lòng biết ơn thì ba độc tham sân si cũng khó đột nhập; cho nên
thực tập lòng biết ơn cũng là một pháp môn tu. Hằng ngày, chúng
ta có không biết bao nhiêu dịp để tỏ lòng biết ơn: đi đứng, nằm
ngồi, ăn cơm, uống nước, đi làm, đi dạo chơi, đi shopping, đi
ngủ, thức dậy, v.v… nếu nhìn sâu vào ta đều thấy tràn ngập ơn
của mọi người mà ta đang thừa hưởng; cho nên nói rằng Thanks
giving Day không chỉ một ngày, một mùa mà là everyday đối với
người con Phật, gần hơn, với người Huynh trưởng GĐPT là vì vậy,
đức Phật dạy “tất cả chúng sanh đều là cha mẹ trong bảy đời của
chúng ta” - thật là chí lý! Vì lòng biết ơn luôn kèm theo những
tư tưởng tích cực, những niềm vui trong sáng với trí tuệ và đức
tin vững chắc vào cái đẹp, cái lành.
・
T穃 Minh
46. Những
bài học thành đạo
Nói
đến ngày Thành đạo của đức Thế Tôn, chúng ta thường chú ý đến sự
hoàn thành công phu tu tập của Ngài, công phu chuyển đổi vọng
tâm để Niết-bàn hiển lộ. Thành đạo là một trong những sự kiện
quan trọng trong cuộc đời của đấng Giác Ngộ dạy cho chúng ta
những bài học vô cùng quí giá. Là huynh trưởng GĐPT, ngoài việc
tu tập cho bản thân, chúng ta còn có bổn phận trao truyền cho
đàn em gia tài Phật pháp và hiểu biết về đạo Phật…
nên những bài học lại càng có giá trị hơn. Đạo Phật dạy chúng ta
giáo lý giải thoát và cách thực hành giáo lý ấy ngay trong đời
sống hằng ngày. Vấn đề của anh chị em chúng ta là biết thời đại
hóa giáo lý ấy để có thể trang bị cho đàn em của mình những kiến
thức cơ bản về vai trò của tuổi trẻ trước nhu cầu bức thiết của
xã hội, đó là đối trị và hóa giải những bất trắc, những trở
ngại, những ma chướng (tham, sân, si) từ trong tâm mình và trong
tâm người khác để đem đến an lạc thật sự cho mọi người trong xã
hội. Đó chính là chúng ta đã “góp phần xây dựng xã hội theo tinh
thần Phật giáo” thông qua con đường giáo dục thanh thiếu đồng
niên Phật tử vậy.
Cụ thể như là những bài học về Thành đạo;
có vài người sẽ bảo rằng, “những bài học này các em đã học từ
Oanh Vũ đến ngành Thiếu ở các bậc Cánh Mềm, Chân Cứng rồi Hướng
Thiện, Sơ Thiện… đâu có phải bây giờ mới áp dụng!” Xin thưa, cái
mới không phải ở nơi bài học mà ở nơi sự áp dụng bài học vào
cuộc sống, nơi cách mình hướng dẫn các em thực hành. Ngoài ra,
khi các em đọc thêm ở đâu đó một sự kiện gì liên quan đến đức
Thế Tôn, các em đều có thể đem hỏi chúng ta. Ví dụ điển hình như
vừa rồi, có các em được đi với gia đình qua Ấn Độ đã đến chỗ cây
Bồ-đề, nơi đức Phật ngồi tham thiền suốt 49 ngày và thành đạo
dưới gốc cây cũng như tháp kỷ niệm nơi đức Thế Tôn đứng nhìn cây
Bồ-đề ấy ở tuần lễ thứ hai sau khi thành đạo. Tương tự như vậy,
một em khác lại hỏi rằng: đức Phật bị ma vương cám dỗ trước khi
thành đạo hay sau khi thành đạo? Chúng ta biết ngay rằng em ấy
đã đọc về những việc làm của đức Thế Tôn sau khi thành đạo, ấy
là vào tuần thứ 5, ba người con gái của Ma Vương là Taṇhā,
Aratī, và Rāga đã đến cám dỗ Ngài nhưng tất cả đều thất bại.
Thật ra, sau khi thành đạo, trên con đường hoằng hóa Phật pháp,
đức Phật đã gặp nhiều “đại nạn” do quần chúng quậy phá, mưu sát
cũng có, cám dỗ cũng có, vu oan giá họa rồi bêu xấu cũng có,
nhưng đức Phật luôn giữ nguyên tắc “ai cho mình cái gì mà mình
không nhận thì người ta sẽ đem về!”, không minh oan, không trả
lời, không thù oán hay tìm cách “trả đũa” như thế gian thường
tình.
Xin trở lại với những bài học Thành đạo;
trước nay bài trong chương trình ngành Thiếu chỉ kể về đêm Thành
đạo, còn sau khi thành đạo đức Phật đã làm gì, chúng ta chỉ cho
các em đọc thêm trong “The Buddha and His Teachings” của Narada
Māha Thera, Phạm Kim Khánh dịch ra tiếng Việt “Đức Phật và
Phật Pháp.” Có nhiều em “confused” (nhầm lẫn) về khoảng thời
gian 49 ngày của đức Phật dưới cội Bồ-đề. Thực ra trước khi
thành đạo, đức Phật đã ngồi thiền suốt bốn mươi chín ngày đêm và
đêm cuối cùng Ngài đã “thành đạo”. Sau khi thành đạo, Ngài còn
lưu lại nơi đó trong bảy tuần (49 ngày). Huynh trưởng thì nhận
thấy rằng không chỉ với sự kiện xuất gia hay thành đạo mới có
những bài học cho chúng ta mà bất cứ công việc gì dù rất bình
thường trong sinh hoạt của Ngài cũng đáng cho chúng ta suy gẫm,
học tập. Xin mời quý vị và các bạn tham dự buổi hội thoại bỏ túi
giữa các huynh trưởng GĐPT quen thuộc của chúng ta A, B, C về
vấn đề này.
A: Chào các bạn, sắp tới lễ Thành đạo rồi
đó. Các bạn có tập được cho các em vở kịch nào mới không?
B: Cũng có, nhưng Oanh Vũ của mình nhỏ quá,
các em lớn đã lên Đoàn hết rồi nên hơi khó, các em nói tiếng
Việt chưa rành lắm!
C: Thôi, khoan hãy nói chuyện kịch cái đã,
mình đang muốn đem thắc mắc của một em nghành Thiếu của mình kể
cho các bạn nghe đây. Em ấy nói rằng khi học về Thành đạo, các
anh chị dạy 10 đạo quân của ma vương mà đức Phật chiến thắng
cuối cùng là Tham ái, Ngã mạn, v.v... nhưng em ấy đọc thấy sau
khi thành đạo, đức Phật vẫn còn bị ba người con gái đến quậy phá
nữa.
A: Vậy bạn đã trả lời như thế nào?
B: Chắc bạn đã nói về ba người con gái này
của ma vương chứ?
C: Không, mình chỉ nói cho các em biết sau
khi thành đạo, đức Phật trên đường hành hóa, đã gặp rất nhiều
trở ngại, bên trong cũng như bên ngoài, bên trong thì
Đề-bà-đạt-đa quậy phá, ngoài thì những người xấu muốn hại
Ngài...
A: Sao bạn không nói về bảy tuần lễ sau
ngày thành đạo, đức Phật giữ yên lặng để suy gẫm về đạo nhiệm
mầu Ngài vừa chứng được, và lưu lại bên cây Bồ-đề?
B: Hay là chúng ta thay phiên nhau lần lượt
ôn lại 7 tuần đó đi hở? Và nêu lên bài học cho chúng ta? Mình
xin bắt đầu bằng tuần thứ nhất: Ngài ngồi bất động dưới tàng cây
Bồ-đề để chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát (Vimutti Sukha).
Trong đêm cuối của tuần này, Ngài xuất thiền và suy nghiệm về
“12 nhân duyên” theo chiều xuôi, rồi theo chiều ngược.
C: Theo chiều xuôi, nghĩa là “tùy thuộc nơi
nhân mà quả phát sinh”: tùy thuộc nơi vô minh mà hành phát sinh,
tùy thuộc nơi hành mà thức phát sinh… Còn theo chiều ngược là
“với sự chấm dứt của nhân thì quả chấm dứt”: với sự chấm dứt của
vô minh, hành chấm dứt, với sự chấm dứt của hành thì thức chấm
dứt, v.v... có phải không?
A: Phải rồi! Bước qua tuần thứ 2, Ngài vẫn
giữ yên lặng. Nhưng trong sự yên lặng ấy, Ngài đã tỏ lòng tri ân
với cây Bồ-đề. Ngài đứng xa ra để chăm chú nhìn cây Bồ-đề trong
suốt một tuần không chớp mắt! Về sau, vua A-dục (Asoka) có dựng
lên một bảo tháp để kỷ niệm nơi ấy gọi là Animisalocana Cetiya
(Animes Lochan) đến nay vẫn còn. Hồi đi dự lễ hội hành hương
GĐPT trên thế giới (năm 2004), các đại biểu đều thấy tháp này.
Hiện trong tháp có chứa ba tạng kinh Hoa Nghiêm bằng chữ Tây
Tạng nên các vị sư Tây Tạng khi đến chiêm bái Bồ-đề đạo tràng
thường hướng về tháp này tụng kinh, đảnh lễ.
B: Đến tuần thứ 3, đức Phật vẫn lưu
lại bên gốc cây Bồ-đề nên chư Thiên nghi ngờ không biết Ngài đã
đắc quả Phật chưa. Đọc được tư tưởng ấy, Ngài dùng thần thông
tạo ra một “đường kinh hành quí báu” (ratana camkamana) và đi
thiền hành lên xuống suốt một tuần. Trong tuần lễ thứ tư, Ngài
suy tưởng về giáo lý cao siêu của Tạng Luận (Abhidhamma). Khi
Ngài suy tưởng về lý nhân quả tương quan bộ khái luận thứ 7 của
tạng Luận, Tâm và Thân, Ngài trở nên hoàn toàn tinh khiết, phát
ra một vầng hào quang 6 màu: xanh, vàng, đỏ, trắng, cam và màu
tổng hợp. Vì lẽ đó, nơi này được gọi là “bảo cung”
(ratanaghara), tức căn phòng quý báu.
C: Đến tuần lễ thứ 5, đức Phật ngồi dưới
cội cây trứ danh Ajapāla để chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát.
Vào cuối tuần, sau khi xuất định, có một người Bà-la-môn ngã mạn
(huhunka jātika) đến chào hỏi Ngài rồi nói: Này tôn giả Gotama,
đứng về phương diện nào và trong những điều kiện nào người ta
trở thành bậc Thánh? Để trả lời, đức Phật đọc lên bài kệ:
Người đã
tránh xa mọi điều tội lỗi
Không còn
ngã mạn,
đã thanh
lọc mọi ô nhiễm
thu thúc
lục căn
thông suốt
các pháp học
chân chính
sống đời phạm hạnh thiêng liêng
Người ấy
được coi là bậc Thánh (Brahmana)
Đối với
người ấy không còn sự bồng bột
Dù ở nơi
nào trên thế gian.
A: Ngoài ra, trong Túc Sanh truyện còn nói
chính trong tuần lễ thứ 5 này, ba người con gái của Ma vương là
Taṇhā, Aratī và Rāga đến quyến rũ đức Phật nhưng đã thất bại!
B: Tuần lễ thứ 6, đức Phật từ cây Ajapāla
chuyển qua cây Mucalinda và ở tại đây trong một tuần để chứng
nghiệm hạnh phúc giải thoát. Bỗng có một trận mưa to, gió lớn
kéo đến, trời đất tối đen, gió lạnh thổi suốt trong nhiều ngày…
nhưng đã có Mãng xà vương Mucalinda từ trong hang chui ra dùng
thân mình quấn quanh đức Phật 7 vòng, đầu và miệng rắn che trên
đầu Ngài, vì vậy, thân Phật không bị ướt. Sau 7 ngày trời quang
mây tạnh, Mucalinda tháo mình ra, bỏ lốt rắn hiện thành một
chàng thanh niên chắp tay đứng trước Phật; đức Phật đọc bài kệ
như sau:
Đối với
hạng người tri túc,
đối với
người đã nghe và đã thấy chân lý,
thì sống ẩn
dật là hạnh phúc.
Trên thế
gian này,
người có
tâm lành, có thiện chí,
người biết
tự kiềm chế, thu thúc lục căn
đối với tất
cả chúng sanh
là hạnh
phúc.
Không luyến
ái, vượt lên khỏi dục vọng
là hạnh
phúc.
Phá tan
được thành kiến, “ngã chấp”
Quả thật là
hạnh phúc tối thuợng.
Hiện nay chỗ này là một hồ nước lớn nằm về
phía Nam của đại tháp, có hình tượng đức Phật Thích-ca ngồi giữa
hồ. Hồ này có tên là hồ Rồng mù (Muchalinda) để kỷ niệm
đức Phật được thần Rắn che mưa.
C: Vào tuần lễ thứ 7, đức Phật bước sang
cội cây Rājāyatana và ở đó chứng nghiệm quả phúc giải thoát. Sau
khi xuất định, Ngài được Tứ Thiên Vương dâng bát cúng dường và
Ngài cũng đã nhận tặng phẩm sữa và đề hồ của hai vị thương gia
tên là Tapassu và Bhallikā; đây là hai vị đệ tử tại gia đầu tiên
của đức Phật trong thế giới loài người.
A: Những Phật ngôn đầu tiên của đức thế Tôn
đến với thế gian là hai bài kệ sau đây (trong kinh Pháp Cú
có ghi lại, đó là hai bài Kệ 153 và 154):
Lang thang
qua bao nhiêu kiếp luân hồi,
Ta cố tìm
nhưng rồi chưa gặp
Kẻ xây dựng
lên ngôi nhà này.
Cứ mãi tái
sanh, khổ sở thay!
Ô kìa anh
thợ làm nhà!
Nay ta bắt
gặp, khó mà xây thêm.
Cây đòn tay
bên thềm gảy đổ
Rui mè kèo
cột bỏ ngổn ngang.
Ta nay
chứng đắc Niết-bàn,
Ái tham,
dục vọng, hoàn toàn tiêu tan[1]
B: Thật là quá hay! Các bạn thấy đức Phật
dùng ngôn ngữ biểu tượng có “tuyệt cú mèo” không? Căn nhà = cái
thân ngũ uẩn này của chúng ta; anh thợ làm nhà là ai? Xin thưa
đó là ái dục (Taṇhā), chính ái dục là nguyên nhân tiềm ẩn trong
tất cả chúng ta và kéo chúng ta trở đi trở lại trong vòng sinh
tử luân hồi; chỉ khi nào “Ái tham dục vọng tiêu tan” thì chúng
ta mới thấy Đạo được.
C: Còn rui mè, kèo cột là cái gì?
A: Bạn thật là ngây thơ quá, đó là cái sườn
của căn nhà ngũ uẩn, là những phiền não ô nhiễm như tham (lobha)
sân (dosa) si (moha), hoài nghi (vicikiccha), ngã mạn (mana), tà
kiến (ditthi), phóng dật (uddhacca), v.v... đó chứ gì nữa!
B: Còn “cây đòn dông” chịu đựng cái sườn
nhà cho cái nhà khỏi sập là vô minh, vì vậy muốn phá sập căn nhà
như đức Phật đã làm, phải diệt hết các vật liệu để anh thợ làm
nhà không còn cách nào mà làm nhà được nữa!
C: Hiểu rồi! Nghĩa là sườn và đòn dông là
vô minh và phiền não, đâu có đáng cho ta ham muốn, có cái gì đâu
mà bám víu, nên giật sập là phải rồi! ☺☺!!
A: Như vậy, chúng ta thấy việc ôn lại “thời
khóa biểu” của đức Thế Tôn trong những tuần lễ sau ngày Thành
đạo đã cho chúng ta một “lô” những bài học thật hay, thâm thúy…
đáng cho chúng ta suy gẫm phải không các bạn? Vậy chúng ta tạm
chấm dứt buổi nói chuyện ngang đây nha! Happy New Year! Chào tạm
biệt!
B và C: Tạm biệt, Happy New Year!
47. Nụ
cười đầu năm
Thưa quí Anh Chị,
Đối với người Phật tử chúng ta, ngày mồng
một Tết là ngày vía đức Phật Di Lặc, nên chúng ta thường nói với
nhau “Mùa Xuân Di Lặc”. Nói đến đức Phật Di Lặc, chúng ta hình
dung ra ngay nụ cười hoan hỷ, an lạc của Ngài dù cho lục tặc
quậy phá (còn chúng ta chỉ cần “nhất tặc” chọc tức một câu thôi
cũng đủ nổi tam bành lục tặc lên rồi!! ☺☺!! làm sao mà cười được
đây?)
Nụ cười vì vậy tưởng là dễ nhưng quả thật rất khó, vì nụ cười
không phải nở ra từ môi, miệng của chúng ta mà thật sự phải được
nở ra từ Tâm của chúng ta. Thật vậy, trong nhân gian, người ta
cũng ca tụng nụ cười, không chỉ người Á Đông mà Tây phương cũng
thích được tặng một nụ cười, cho nên Phật Pháp rất gần với Tuổi
trẻ. Với nụ cười và tất cả những ai thích đem vui đến cho người
khác, thích tặng người khác một nụ cười xuất phát từ trái tim
mình, họ đều là con cháu của đức Phật Di Lặc, không phân biệt họ
thuộc truyền thống tôn giáo nào, phải không thưa quí anh chị?
Ngày đầu năm không phân biệt là Tết Dương lịch hay Tết Âm lịch,
chúng ta hãy trao tặng cho nhau, cho anh chị em chúng ta, cha mẹ
chúng ta, cho người láng giềng, cho người bạn đồng nghiệp, cho
các em nhỏ, v.v... một nụ cười (vì “Một nụ cười bằng 10 thang
thuốc bổ!”).
Thật vậy, nếu có nụ cười sẽ không có chiến tranh - vì hòa bình
luôn luôn bắt đầu bằng một nụ cười! Giống y như hai em bé đang
giận nhau, nếu một trong hai em mỉm cười trước, thế là hòa bình,
thân ái được lập lại ngay! Vì một nụ cười luôn kéo theo một nụ
cười khác! Người lớn cũng không khác mấy! - Bởi vì nụ cười mang
lại hòa bình, hạnh phúc, tình thương, sự thông cảm. Và hòa bình,
tình thương, thông cảm không thể đến từ một phía, không thể là
một chiều mà luôn luôn là hai chiều.
Còn nữa, nhờ có nụ cười dẫn đầu, người ta có thể dang rộng tay
ra, có thể dành ra một ít thời gian của mình, chia xẻ với tha
nhân một ít tiền bạc của mình,… Một nụ cười có thể xoa dịu nỗi
đau, và đem lại cho chúng ta niềm hy vọng; nó làm xúc động trái
tim của kẻ khác và có thể đong đầy trái tim đó bằng bác ái, bằng
từ bi… Khi tình thương đã xâm chiếm trái tim mình thì không còn
chỗ cho hận thù, giận dữ, tham lam, ganh ghét, đố kỵ… nữa. Nói
rộng ra, chỉ có tình thương mới có thể làm cho chúng ta chiến
thắng trong một cuộc chiến tranh vì chỉ có tình thương mới có
cái khả năng kỳ diệu biến thù thành bạn, biến sự xâm lăng thành
sự bảo vệ, đó là lý do đức Phật nói: “Hận
thù không dập tắt được hận thù mà chỉ có tình thương mới dập tắt
được hận thù”.
Vì vậy, món quà quý nhất mà bạn có thể tặng cho một người khác
là một nụ cười! Nó không cần phải tốn tiền để mua, nên nó không
làm “người cho” nghèo đi, nhưng có thể làm “người nhận” giàu
thêm lên và nó đi vào lòng người như một dòng nước mát thấm tận
tâm can con người; đó chính là vị ngọt cam lồ mà chúng ta thường
nghe: đức Quán Thế Âm dùng nhành dương liễu nhúng vào nước cam
lồ rảy lên những tâm hồn đau khổ, phiền muộn, ăn năn, tuyệt
vọng… của chúng sanh làm cho tất cả đau khổ phiền não “bay” đi
hết, tâm chúng sanh cảm thấy thanh thản nhẹ nhàng…
Thực tập “rải tâm Từ” của chúng ta cũng gần giống như vậy! Chúng
ta hãy nhắm mắt lại, nghĩ về một người bạn nào đó đang bệnh nặng
hay đang sầu não, phiền muộn… hãy mỉm cười với họ, chia sẻ “qua
không gian” niềm đau, nỗi phiền muộn của họ… Khi đã có thói quen
thực hành nghĩ đến người khác rồi, chúng ta có thể “rải tâm Từ”
hay tặng một nụ cười đến những người không thân lắm, rồi từ từ
đến những người không ưa thích chúng ta, không thuận với chúng
ta, v.v...
Xin gởi đến quí anh chị và các bạn, các em nụ cười đầu năm 2008,
nụ cười của đức Phật Di Lặc trong ngày mồng một Tết Mậu Tý, cầu
mong tất cả chúng ta và mọi người trên trái đất này đều nhận
được nụ cười của hòa bình, tình thương và hy vọng để xoa dịu nỗi
đau vì chiến tranh, hận thù trong cõi Ta-bà này.
Mừng Xuân Mậu Tý!
Happy New Year 2008!
48. Việc
“hướng nghiệp”
cho tuổi trẻ
Phật giáo
Kính thưa quý vị và các bạn,
Có nhiều từ nghe rất bình dân, phổ biến,
thường ở trên cửa miệng của mọi người nhưng ý nghĩa, tác dụng,
cách biểu hiện, v.v... của chúng thật rất khác xa nhau đối với
mỗi người trong chúng ta. Xin lấy một ví dụ nhỏ: Chữ “thành
công”. Thành công là gì? - Là có một cuộc sống hạnh phúc. Thế
nào là hạnh phúc? - Là có một cuộc sống giàu sang, danh vọng, vợ
đẹp con ngoan. Có chắc không? - Là có sự nghiệp vững vàng, học
hành giỏi giang, v.v... Phải vậy không? - Là giàu có, muốn gì
được nấy, tận hưởng đầy đủ mọi thú dục lạc trên đời. Chưa chắc!
☺☺!!
Nhiều bậc làm cha mẹ muốn hướng dẫn con cái
đi theo con đường của mình và bị thất vọng vì đứa con không có
hứng thú trong ngành nghề đó; nhiều người khác muốn con trở
thành bác sĩ kỹ sư, hay cầu kỳ hơn, con đã có bằng kỹ sư rồi,
không chịu, bảo phải vào trường Y khoa học lại để ra trường với
văn bằng bác sĩ, v.v... Thật là chuyện khó tin nhưng vẫn có thật
100%. Do vậy, việc “hướng nghiệp” cho tuổi trẻ nói chung, cho
con em chúng ta nói riêng, cho các em đoàn sinh GĐPT… không phải
là chuyện dễ. Nhiều phụ huynh đoàn sinh (trong GĐPT) bảo rằng
mình không biết gì cả, xin nhờ các anh chị huynh trưởng chỉ vẽ
cho các em! Sự tin tưởng này vừa là niềm tự hào, vừa là nỗi lo
của hàng huynh trưởng ngành Thanh, ngành Thiếu.
Xin mời quý vị và các bạn theo dõi cuộc hội
thoại của các huynh trưởng trẻ GĐPT quen thuộc A, B, C bàn về
vấn đề này - một trong những vấn đề lớn làm họ ưu tư, thao
thức... cũng là vấn đề muôn thuở trong việc giáo dục Thanh Thiếu
Niên sống đúng theo tinh thần Phật giáo.
A: Chào các bạn, hôm nay các bạn định nói
về việc hướng dẫn các em tự chọn cho mình hướng đi trong tương
lai phải không?
B: Không dám bàn to tát như vậy đâu bạn!
Chỉ là giúp các em giải đáp những thắc mắc trước “ngưỡng cửa
cuộc đời”!
C: Coi như chúng ta là những người đi
trước, chỉ cho các em những kinh nghiệm bản thân của chúng ta về
chọn ngành học, chọn trường, v.v... mà thôi!
A: Mình thì nghĩ rằng căn bản là mình phải
xác định những thứ hạnh phúc, thành công… theo định nghĩa riêng
của từng người, rồi sau đó mới hướng dẫn họ được chứ!
B: Đúng vậy! Mình là huynh trưởng GĐPT,
mình theo đạo Phật, mình học Phật pháp và hướng dẫn các em học
Phật, cho nên quan điểm về thành công, hạnh phúc, v.v... ít
nhiều cũng thấm nhuần nhân sinh quan và vũ trụ quan Phật giáo
chứ hả?
C: Tất nhiên rồi, nhưng các bạn hãy nói
“thấp thấp” một chút có được không? Cái gì mà nhân sinh quan, vũ
trụ quan Phật giáo ở đây?
A: Nói dễ hiểu hơn thì thành công theo các
bạn là gì và mình muốn hướng các em mình theo hướng ấy phải
không?
B: Phải rồi! Mục đích của mình là làm sao
để các em sống hạnh phúc theo tinh thần Phật giáo chứ không phải
sống đắm chìm trong ngũ dục.
C: Mình thường nghe nói ngũ dục nhưng không
rõ lắm, ngũ dục là gì?
A: Ngũ dục là năm thú vui của thế gian,
nghĩa là thích sắc đẹp (sắc dục), thích nghe đàn ca múa hát,
nghe khen, nghe tâng bốc, nghe nịnh hót (thanh dục) thích ngửi
các mùi thơm, nước hoa, v.v... (hương dục) thích ăn ngon (vị
dục), thân thể thích được tiếp xúc với lụa là gấm vóc, với những
cảm xúc êm ái, mịn màng, v.v… (xúc dục)
B: Năm thứ dục lạc đó có thể làm lòng mình
bị say đắm; ai vượt qua được ngũ dục là cũng giỏi lắm rồi đó
nha! Ví dụ mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với âm thanh,
v.v... mà đức Phật có dạy “mắt là biển lớn, ngươi phải vượt
qua”, nghĩa là mắt thấy sắc đẹp mình thích nhưng mình phải cảnh
tỉnh tâm mình, phải canh chừng nó để nó đừng phạm lỗi vì tham
đắm quá mức.
C: Mình chưa hiểu đó nha! Có phải bạn muốn
nói vì ham mê tửu sắc nên có thể phạm lỗi hay không?
A: Bạn nói “tửu” là có rượu nữa; đây chỉ là
sắc, sắc là đối tượng của mắt, mắt nhìn thấy đẹp nhưng đừng khởi
tâm chiếm đoạt chẳng hạn, là được rồi! ☺☺!!
B: Cũng vậy, tai nghe âm thanh nhưng đừng
nghe khen thì mừng, đến nỗi quên cảnh giác, bị lợi dụng làm
chuyện xấu chẳng hạn; nghe chê thì hờn giận, trả thù, v.v... Tất
cả những cái đó nếu bạn vượt qua được thì coi như bạn đã vượt
qua hai cái biển lớn (mắt và tai) rồi.
C: Mình hiểu rồi! Vậy theo các bạn một cuộc
đời như thế nào mới được gọi là “thành công”?
A: Thành công mà phụ thuộc vào ngũ dục thì
mình không cho là thành công; theo mình một cuộc đời gọi là
thành công phải có ba yếu tố: an lạc cho mình, an lạc cho người
chung quanh và không ngừng làm các việc phước thiện.
B: Mình cũng đồng ý với bạn, nếu mình có sự
nghiệp, công danh, tiền bạc nhưng làm khổ cha mẹ, vợ, chồng, con
cái, anh chị em, bạn bè, chòm xóm, v.v... hay không tốt với
những người ấy thì phần nào đã thất bại.
C: Mình nghĩ gần hơn các bạn, mình nghĩ
rằng một cuộc đời thành công là một cuộc đời có an lạc, về bản
thân thì có tu học, với tha nhân thì biết giúp đỡ mọi người bằng
các phương pháp bố thí (tài thí, pháp thí và vô úy thí).
A: Nói như vậy cũng đúng thôi. Tóm lại,
chúng ta đã đồng ý thế nào là “hạnh phúc” và thế nào là “thành
công” rồi chứ gì! Vậy chúng ta hướng các em về mục đích đó.
B: Đúng vậy, nhưng đó là ý kiến của chúng
ta, còn các em có đồng ý hay không, lại là chuyện khác!
C: Phải! Phải! Mình nói đây là nói đến cái
chung, còn những em cá biệt thì không thể nói được; ngay cả cha
mẹ các em cũng không biết ý thích của các em là cái gì nữa
mà!☺☺!!
A: Ngoài ra, tương lai đâu có ai đoán trước
được? Các bạn có nhận thấy không? Có nhiều em rất thông minh,
học rất giỏi, nhưng ra đời lại không thành công, có khi gặp phải
người chồng, người vợ “oan gia” sao đó, làm cho đời các em trở
nên thê thảm không ai có thể nghĩ ra được các em lại xui đến
vậy!
B: Bởi vậy, trong phạm vi nhỏ hẹp của chúng
ta, những người huynh trưởng GĐPT, có bổn phận đưa đạo vào đời
sống bình thường làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, gần nhất là áp
dụng vào bản thân mình, gia đình mình và các em đoàn sinh của
mình.
C: Thật ra chúng mình chỉ gần các em mỗi
tuần có một ngày thôi, còn 6 ngày kia là gia đình, học đường, xã
hội... nghĩa là còn nhiều vai trò ảnh hưởng của thầy cô giáo,
bạn bè, hàng xóm láng giềng nữa!
A: Chứ sao! Đó là chưa nói đến những vị
minh triết của thời đại, hiện tại như đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14
của Tậy Tạng, thầy Nhất Hạnh của Việt Nam, và nhiều thiền sư
khác, quá khứ như thánh Gandhi, thiền sư Bankei… mà tư tưởng và
hành động thực tiễn cũng như những lời dạy của họ đã ảnh hưởng
tốt rất nhiều đến lương tâm con người và thời đại.
B: Chuyện hướng dẫn các em về nghề nghiệp
là chuyện nhỏ, và không phải là chuyên môn của chúng ta, đó là
việc của những nhà tư vấn (counselor) ở các trường Đại học mà
các em sẽ ghi tên vào, chuyện của chúng ta là làm sao gieo hạt
giống Bồ-đề vào tâm các em để sau này hạt giống đó sẽ điều khiển
các em sống theo tinh thần Phật giáo mà chúng ta có bổn phận duy
trì dài lâu để đem lại hạnh phúc cho bản thân và người chung
quanh.
C: Bạn nói thật là siêu quá! Làm sao mình
gieo hạt giống Bồ-đề vào tâm các em được?
A: Bạn B nói không sai. Đó là lời dạy của
quý Thầy cố vấn giáo hạnh của chúng ta trao truyền cho chúng ta
đấy chứ, bạn quên rồi sao? Quý Thầy nói kinh Hoa Nghiêm dạy
rằng: Bất cứ Phật sự nào mà không phát xuất từ tâm Bồ-đề thì đó
chỉ là ma sự!
B: Phải rồi! Ví dụ như chúng ta đi cứu trợ
- đó là một việc Phật sự chứ gì? Nhưng nếu chúng ta mỗi người
một ý, không ai tôn trọng ý kiến của ai, rồi sinh ra cãi vả,
tranh luận, lời qua tiếng lại, v.v... Đó không phải là ma sự hay
sao?
C: À, mình hiểu rồi! Nhưng mình lại quên
mất định nghĩa tâm Bồ-đề, các bạn nhắc lại cho mình đi!
A: Tâm Bồ-đề là tâm “thượng cầu hạ hóa” có
nghĩa là trên thì cầu Phật đạo, dưới thì giáo hóa chúng sanh.
B: Nói ngắn gọn và với vai trò huynh trưởng
GĐPT của chúng mình, là trên thì học Phật pháp, dưới thì dạy
Phật pháp cho các em; dạy các em làm tất cả những việc thiện,
tránh tất cả các việc ác, luôn giúp đỡ mọi người, thương yêu mọi
loài.
C: Chỉ vậy thôi hả?
A: Chỉ vậy nhưng bạn làm cả đời không hết
việc và chưa chắc hết kiếp này đã xong việc đó nha! ☺☺!!
B: Thật đó! Bạn thử nghĩ xem mỗi ngày bạn
làm được bao nhiêu việc thiện, giúp đỡ được mấy người? Đó là
chưa nói “thương yêu mọi loài”, kéo theo rất nhiều việc khác mà
có thể chúng ta làm không nổi!
C: Đúng vậy, châm ngôn “sáng cho người một
niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” mình thấy đã khó khăn rồi!
A: Thấy chưa? Vì vậy, có lần một em Oanh Vũ
hỏi: điều luật của em là “thương người và loài vật” mà nhà em ăn
cá hoài, có sao không anh? Mình thật khó trả lời!
B: Đúng vậy, có nhiều người vào chợ còn mua
“cá sống đang bơi lội trong hồ” về ăn nữa.
C: Các bạn lại nói lạc đề rồi. Mình xin trở
lại nha! Như vậy, việc đem đạo Phật nhập thế chúng mình đã làm
từ lâu rồi phải không?
A: Phải! Phải! GĐPT nói riêng và Phật giáo
nói chung đã đem đạo Phật vào đời bằng những việc làm từ thiện,
những bệnh viện, y viện, dưỡng đường, Tuệ Tĩnh đường, ở trong
nước, mục đích cứu tế đồng bào bệnh tật già yếu không nơi nương
tựa… đã lâu rồi; ở hải ngọai nói chung, Hoa Kỳ nói riêng, có
nhiều bệnh viện chữa bệnh bằng Thiền Phật giáo nữa.
B: Ngoài ra, có nhiều huynh trưởng đã đi
theo chư vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức... vào những nhà tù
để thăm viếng, an ủi, nói Pháp cho những tù nhân chung thân hay
sắp bị tử hình, nghe nói có nhiều tù nhân tỏ ra xúc động mạnh,
và còn muốn gặp lại quý Thầy lần nữa.
C: Nhưng cách làm này còn tùy thuộc vào mỗi
quốc gia nữa phải không các bạn?
A: Phải rồi!
A: Buổi nói chuyện hôm nay tạm đủ, các bạn
thấy chúng ta chấm dứt được chưa?
C: Được rồi, xin cảm ơn và tạm biệt các
bạn. Hẹn lần sau nha!
A và B: Tạm biệt! Tạm biệt!■
Thưa Thầy kính
mến của con,
Hôm nay là một ngày thứ bảy, nhưng buổi
sáng thức dậy con không được cái niềm vui nghĩ rằng chiều nay có
lớp học của Thầy dạy chúng con (hàng cư sĩ) được học ké với quý
Thầy trong lớp Duy Thức. Lần này Thầy nhập thất quá lâu, chúng
con chưa bao giờ bị nghỉ hơn 4 tháng trời! Vì vậy hôm nay con
xin viết thư này gởi qua Pháp Luân để đến tay Thầy.
Thầy thường dạy rằng: tu chi thì tu, pháp
môn nào cũng được nhưng mục đích phải đem lại hạnh phúc cho con
người chứ không làm hại người; nếu anh/chị học thiên kinh vạn
quyển mà nói rằng chưa hề áp dụng được gì cho bản thân mình và
cũng chưa làm gì ích lợi cho ai cả thì như vậy là “trớt quớt”
rồi!
Thầy lại dạy: Hạnh phúc tùy theo cách nhìn,
quan niệm của từng người, đối với một người bị ghẻ ngứa hoành
hành thì với họ, được ngồi hơ trên một ngọn lửa là hạnh phúc
nhất, nếu mình lôi anh ta ra khỏi ngọn lửa thì đó là điều bất
hạnh của anh ta. Đối với một người nông dân thì thế giới của họ
là ruộng, là vườn, là trời mưa trời nắng; đối với người thương
gia thì thế giới của họ là giá cả thị trường, là cổ phiếu,
v.v... Như vậy, làm sao để đem lại hạnh phúc cho mọi người, có
phải trước hết phải giáo dục cho họ hạnh phúc là gì hay không?
Đây là câu hỏi con đã đặt ra cho con rất nhiều lần nhưng không
tự giải đáp được, con cũng chưa bao giờ dám hỏi Thầy hay các bạn
cả!
Ngày xưa con đi dạy, sau năm 75, có nhiều
em học sinh rất thông minh nhưng rất nhác học. Nó nói với con
rằng: Tại sao phải học? Con hỏi lại: Tại sao không học? Nó nói:
Anh của em học rất giỏi làm luật sư nhưng bây giờ phải đi xe thồ
để kiếm sống! Vậy thì em có giỏi đến đâu cũng vậy thôi, học làm
gì, chơi cho sướng! (Đáng lẽ con phải lý luận thêm với nó “thế
nào là sướng” nghĩa là hạnh phúc, nhưng con không có thì giờ!).
Hôm qua có một người bạn gởi qua email cho
con một message và bảo con suy nghĩ rồi trả lời cho biết con
nghĩ như thế nào và nếu thích thì chuyển đến cho các bạn khác.
Người bạn này của con có tôn giáo khác con nhưng chúng con rất
thân nhau từ trước đến nay; con muốn chia sẻ với Thầy và sau đó
là các bạn con nên con gởi đến Thầy message này và những câu trả
lời của con: Con xin dùng chữ thường để ghi những ý nghĩ của con
và chữ nghiêng để ghi cái message của người bạn.
Hạnh Phúc
Hạnh phúc phụ thuộc
vào cách nhìn nhận của chúng ta.
- Tất nhiên rồi, rất đồng ý!
Nếu thu gọn nhân loại
trên toàn thế giới xuống một cái làng nhỏ, ta sẽ có một cái làng
như sau:
57 người châu Á
21 người châu Âu
14 người châu Mỹ
8 người châu Phi.
- Ý bạn là lấy tỷ lệ người trên toàn thế
giới? Rồi sao nữa?
sẽ có 52 phụ nữ
48 đàn ông
70 người da màu
30 người da trắng
80 người có giới tính
bình thường
11 người lưỡng tính
6 người sẽ có sở hữu
59% tổng tài sản của làng và cả 6 người đều là người của Hiệp
Chủng Quốc (USA)
80 người sẽ không có
nhà ở tử tế
70 người mù chữ
50 người sẽ không được
ăn no
1 người sẽ chết
2 người được sinh ra
1 người sẽ có máy tính
1 (và chỉ có 1 người
thôi) có trình độ đại học.
- Chưa hiểu bạn muốn kết luận cái gì nên
chưa có ý kiến!
Nếu nhìn thế giới ở
góc độ như thế này sẽ thấy rằng chúng ta, những con người, cần
sự đồng cảm, đoàn kết, sự nhẫn nại và trí thức đến mức nào! Bạn
hãy nghĩ về điều đó!
- Dù đứng ở góc độ nào tôi cũng cảm thấy
con người nói riêng và mọi loài nói chung phải thương yêu và
giúp đỡ lẫn nhau; đó là lòng từ bi mà tôn giáo của tôi đã dạy
chúng tôi từ lúc còn tấm bé (em thương người và loài vật).
- Bạn nói “trí thức” là gì? Có phải là
“knowledge” không? Tôi thì nói là trí tuệ (wisdom) rất cần cho
con người, hơn là “kiến thức” (knowledge).
- Bất cứ trong một cộng đồng nào, con người
hay loài vật, cũng cần có sự đồng cảm, đoàn kết và nhẫn nại cả.
Nếu sáng nay bạn thức
dậy khỏe mạnh
Vậy là bạn hạnh phúc
hơn một triệu người rồi đấy! Những người không sống được đến
tuần sau.
- Nếu trong những người không sống được đến
tuần sau đó có cha/ mẹ, hay vợ/chồng, con cái/bạn bè… chúng ta,
thử hỏi chúng ta có còn cảm thấy hạnh phúc không?
Nếu bạn chưa bao giờ
trải qua chiến tranh,
hay sự cô đơn trong
phòng giam của nhà tù,
nếu bạn chưa phải hấp
hối vì đói khát,
bạn hạnh phúc hơn, may
mắn hơn 500 triệu người trên thế giới này.
- Cũng vậy, nếu nghĩ đến những người đang
phải trải qua chiến tranh, đang cô đơn trong nhà tù, đang phải
hấp hối vì đói khát, con số lên tới 500 triệu người thì chúng ta
làm sao còn cảm thấy hạnh phúc được? đó là chưa nói nếu
người thân, đồng bào, bà con… của chúng ta nằm trong số đó, liệu
chúng ta có còn cảm nhận được hạnh phúc không?
Nếu bạn đến nhà thờ,
không sợ hãi về một ngày tận thế, hay cái chết, bạn hạnh phúc
hơn 3 tỷ người trên thế giới.
- Tôi không hiểu ý của bạn lắm! Tôi không
đến nhà thờ nhưng tôi cũng không sợ hãi về một ngày tận thế hay
về cái chết… tại sao kết luận là hạnh phúc hơn 3 tỷ người trên
thế giới?
- Nếu bạn cho rằng phải có điều kiện “đến
nhà thờ” mới có hạnh phúc thì tôi không đồng ý!
Nếu trong tủ lạnh nhà
bạn có thức ăn, bạn được ăn mặc tử tế. Bạn có một mái nhà và một
cái gường êm ấm, bạn giàu có hơn 75% nhân loại.
- Nhưng giàu có với hạnh phúc là hai chuyện
khác nhau, có phải không?
Nếu bạn có tài sản
trong ngân hàng, tiền trong ví, và một ít tiền lẻ trong túi, bạn
thuộc vào 8% no đủ của toàn thế giới.
- Nhưng no đủ cũng đâu phải đồng nghĩa với
hạnh phúc?
Nếu bạn đọc được những
dòng chữ này, bạn sẽ trở nên hạnh phúc gấp hai lần vì:
Ai đó nghĩ đến bạn,
Bạn không nằm trong
hai tỷ người mù chữ
Bạn có máy tính.
- Nhưng đâu có chắc là tôi có hạnh phúc,
nói chi là hai lần?! J
J !! Tôi thật tình
không hiểu kết luận này của bạn!
- Theo bạn, hạnh phúc là điều người ta cảm
nhận đựợc hay là điều mà bạn định nghĩa, rồi áp đặt lên?
Có ai đó đã nói rằng:
Hãy hát như chẳng có
ai nghe
Hãy nhảy múa như chẳng
có ai nhìn
Hãy làm việc như thể
bạn không cần tiền
Hãy yêu như chưa từng
có ai làm bạn đau đớn
Và hãy sống như thể
trái đất này là thiên đường của bạn!
- Có phải ai đó muốn nói rằng:
Thích hát thì cứ hát, không vì một người
nào mà hát
Thích nhảy múa thì cứ nhảy múa, không cần
có ai coi mới nhảy múa
Hãy làm việc thiện nguyện, (không vì tiền
lương mà làm)
Hãy yêu người hết mình đừng sợ bị phản bội
Hãy sống như thể thế giới này là cõi Thần
Tiên
- Những điều này không thể sai khiến được
(dùng chữ “hãy” là impérative) trừ khi là người đó ý thức được
cái ý nghĩa “đi” mà không cần nghĩ chuyện “đến”; làm tất cả mọi
việc nhưng không thấy mình có làm việc gì, yêu thương mọi người,
mọi loài với tình yêu vô điều kiện (unconditional love).
- Ý của tôi là trừ khi bạn thấm nhuần ý
nghĩa về “tánh Không” (không mong cầu bất cứ gì, không thấy mình
được hay mất cái gì, không sợ hãi điều gì và nhìn mọi sự mọi vật
trên thế gian này với cặp mắt vô tư, với tâm không phân biệt) mà
tôi xin giới thiệu với bạn, đó là tinh thần kinh
Kim Cang trong tôn giáo của tôi:
Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn, như bọt nước
Như sương, như điện chớp
Nên quán chiếu như vậy.
- Vì bạn rất giỏi chữ Hán nên tôi có thể
ghi 4 câu này bằng chữ Hán:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điển
Ưng tác như thị quán.
Bạn hãy nhận từ tôi
một lời chúc chân tình nhất từ sâu thẳm trái tim.
- Xin cảm ơn và xin bạn cũng nhận từ tôi
một lời chúc chân tình như vậy!
Và hãy gởi thông điệp
này đến những người bạn của mình.
Nếu bạn không làm như
vậy, cũng sẽ chẳng có điều gì không may xảy đến với bạn cả!
- Tôi biết rồi và tôi đã làm theo ý bạn
Nếu bạn gởi, sẽ có một ai đó mỉm cười! ☹☹!!
Và đó là điều quan
trọng nhất!
- Đúng vậy, xin tặng bạn một nụ cười trước!
J
J!!
****
Kính thưa Thầy, câu chuyện chỉ có vậy thôi,
con không dám dông dài hơn nữa, xin tạm dừng đây để kính chúc
Thầy pháp thể khinh an, thân tâm thường lạc; phần con rất mong
ngày Thầy ra thất mau tới để chúng con lại và được nghe tiếng
Thầy, dù chỉ là “across the air.”
Kính mến Thầy,
Tâm Minh
Học lịch
sử đức Phật
Thích-ca từ
Sơ sanh đến
Xuất gia có
nhiều đoạn
làm cho chúng
ta xúc động
mạnh, ngay từ
hồi còn
ấu thơ đến
khi đã trưởng
thành. Thật
vậy, đoạn
kể thái tử
Tất-đạt-đa
không chạy đi
xem lễ hạ điền
như các vương
tôn công tử khác
trong hoàng cung mà
tìm đến một
gốc cây hồng
táo ngồi tĩnh
tọa, không phải
ngồi trong vài
ba phút mà
ngồi hằng giờ,
không phải ngồi
vọc cát vọc
đất chơi mà
ngồi tham thiền
hẳn hoi... Ôi, con người
có nhân cách
đặc biệt
đã “phát tiết”
ngay khi còn rất
bé .
Theo tục
truyền, khi đức
Phật đản
sinh, có hai vòi
nước nóng và
lạnh phun ra để
tắm Phật. “Tắm
Phật” đối với
chúng ta còn
có ý nghĩa
sâu xa hơn một
chút: đó là
khi múc nước
tắm Phật, mỗi
người chúng
ta đều phải
nghĩ đến sự
thanh lọc tâm ý để
tâm ý không bị ô nhiễm
bởi ba độc
tham, sân, si. Mỗi khi tắm,
chúng ta tự
nghĩ: thân mình
dơ thì lấy
nước để tắm
rửa còn Tâm
dơ thì làm
sao, lấy cái
gì để rửa? Vì
vậy bài học
của “Tắm Phật”
là dạy chúng
ta phải thường
xuyên “tắm gội”
tâm mình trong đời
sống hằng ngày,
chứ không phải
đợi đến ngày
Phật đản mới
nghĩ đến! Không những
chỉ trong lúc
tắm Phật hay
tắm gội thân
mình mà ngay
cả trong những
lúc rửa chén
bát hằng ngày
nữa, chúng
ta cũng phải
quán sát về
sự tồn tại
của thân tâm ô nhiễm
và nỗ lực
chuyển hóa
đoạn trừ!
Có bài
kệ nói là
rửa chén bát
với tâm chánh
niệm, thanh lọc
tâm ý thì việc
rửa chén bát
đó cũng linh
thiêng không kém
gì tắm tượng
Phật sơ
sinh:
Washing the dishes
Is like bathing a baby Buddha
The profane is the sacred
Everyday mind is Buddha’s mind
Thật vậy,
nếu tâm ta luôn sống
trong từng sát-na
thiện, những
việc làm của
thân, miệng, ý đều
nhằm huấn
luyện tâm, cải
tạo tâm... thì
tất cả đều là
Phật pháp. Cái
tâm bình thường
ấy chính là
tâm Đạo, là
tâm Phật; còn
trái lại,
cho dù chúng
ta có đọc “thiên
kinh vạn quyển”
nhưng miệng
luôn nói chuyện
thị phi, ý luôn nghĩ
cách làm hại
người khác nếu
họ làm trái
ý mình, v.v... thì
thật uổng
công. Vì vậy,
nếu chúng ta
nghĩ rằng mình
đi chùa 5 năm,
10 năm, 30 năm,
40 năm... rồi,
nhưng nếu chúng
ta không đi ra khỏi
những tham lam (không phải
chỉ tham tiền
mới gọi là
tham đâu nha!J
J!!)
thành kiến,
cố chấp,
ganh tị, tranh chấp,
hẹp hòi,
ích kỷ, phe
nhóm, cục bộ…
phiền não vẫn
còn y nguyên
và như thế
thì việc
đi chùa của
chúng ta cũng
coi như “dỏm”
đó nha!
J
J!!
Trở lại
câu chuyện khi thái
tử Tất-đạt-đa
ra đời, có
hai vị Long vương
đến phun hai dòng
nước để tắm
cho Ngài; một
vị phun ra dòng
nước nóng, một
vị phun ra dòng
nước lạnh với
ý nghĩa Thái
tử là con người
đặc biệt, có
thể chịu
đựng nổi sức
mạnh của hai
dòng nước,
kham nhẫn nổi
sức nóng lạnh,
tượng trưng
cho những áp
lực nặng nề
thường xuyên
tác động lên
con người đó
là khổ-vui,
được-mất, thịnh-suy,
khen-chê, thường
được gọi là
“bát phong” của
cuộc đời.
Nghĩa
đen của việc
tắm “hai dòng
nước” rất dễ
dàng thoải mái
nhưng nghĩa
bóng, nghĩa
biểu tượng
thì thật là
khó làm, khó
chịu đựng,
khó kham nhẫn.
Thật vậy, những
người chịu
khổ trước
được vui sướng,
sau thường hay quên
những ngày
khổ cực,
khinh chê những
người bần cùng.
Còn những người
sướng trước
khổ sau thì
than thân trách phận,
oán trời trách
đất, làm nhiều
chuyện khùng
điên hại
mình hại người,
làm như trên
đời này mình
khổ là một
chuyện hết sức
vô lý, người ta khổ
thì… OK!
J
J!!
Người “được”
thì hoan hô, hả
hê, khoái chí,
người “mất”
thì tuyệt vọng,
có thể đi
đến tự tử,
điên loạn,
v.v... Đức Phật
của chúng ta
ở cái tuổi
đắc chí nhất
của cuộc
đời, có đầy
đủ tuổi trẻ,
danh vọng, quyền
lực của một
vì vua, vừa
đẹp, vừa hùng
dũng, chiến
thắng tất cả
các vì vua
khác, có vợ
đẹp, con ngoan... Ngài không có
một giây phút
nào không trăn
trở cho số
phận con người
trước vô thường
của cuộc sống.
Ngài không thao thức
vì ngai vàng,
vì giấc mộng
đế vương,
nghĩ cách
chinh phục đất
nước này, vương
quốc nọ như
những vị đại
đế trong cuộc
đời, nét mặt
Ngài luôn u buồn
vì nghe được
một tiếng gọi
của lương
tâm, cầu mong Ngài
tìm đường cứu
khổ cho nhân loại,
vì Ngài
đã “thấy” rất
rõ tuổi trẻ
rồi sẽ úa tàn,
sức khỏe rồi
sẽ mất, nhường
cho tuổi già
và bệnh hoạn,
và rồi cái
chết sẽ đến
lặng lẽ bất
ngờ… ai cũng
không qua khỏi quá
trình ấy dù
là người mạnh
nhất trần
gian; cho nên cái
đau của Ngài
là cái
đau của nhân
loại, của
muôn loài chúng
sanh. Ngài đã
gánh lên vai
mình những
hoài bão lớn
lao cao cả cho nên
hai dòng nước
nóng lạnh của
cuộc đời,
đối với Ngài
đâu phải có
áp lực lớn
như đối với
một con người
bình phàm.
Vì vậy,
Đạo của Ngài
trao truyền cho chúng
ta hôm nay là Đạo vô ngã. Ngài
tuyên bố Phật
pháp không phải
là của cá
nhân ai, chư Phật
dù có ra
đời hay không thì
Phật pháp vẫn
hiện hữu, Ngài
không dành độc
quyền về Phật
pháp, mặc dù
kinh điển Phật
giáo dạy về
Vô thường, Vô ngã, Nhân duyên,
Duyên khởi,
Nhân quả, Nghiệp
báo, v.v... nhưng
Ngài vẫn
luôn xác nhận
rằng đó là
những định
luật Ngài
đã phát hiện
ra, chứng minh và
dạy cho đệ tử
của Ngài, tất
cả chúng
sanh đều có
quyền áp dụng
những định
luật đó vào
cuộc sống của
mình để có
an lạc, hạnh
phúc.
Chúng ta, nếu
xưng là Phật
tử, là con của
đức Thế Tôn,
chúng ta cũng
phải thấm
nhuần tinh thần
ấy; vì mục
đích của Phật
pháp, luôn làm
điều lợi
ích cho chúng
sanh, Phật pháp
để chữa lành
bệnh cho tha nhân,
đem hạnh phúc
đến cho chúng
sanh chứ không gây nên
đau khổ cho
muôn loài.
Đức
Phật của chúng
ta, ngay khi Ngài còn
tại thế cũng
đã bị những
người xấu dùng
đủ thủ đoạn
để ám hại,
đủ mọi hình
thức nói xấu,
bôi nhọ vu khống,
v.v... nhưng Ngài
luôn im lặng, không có
chuyện “ăn
miếng trả miếng”
như phàm
phu; đôi khi đối
diện với những
người xấu
ác, Ngài vẫn
ôn tồn bảo rằng
“những lời mắng
nhiếc của
ông xem như quà
ông đem đến
cho mà ta không nhận,
ông hãy đem về đi!”
chỉ có thế
thôi!
Đức
Phật, không phải
của ai cả,
cho nên khi nói
“đức Phật của
chúng ta” người
viết đã kèm
theo một lời
xin lỗi trong tâm mình,
đức Phật là
người tỉnh
thức, đạo của
Ngài là đạo
tỉnh thức,
người tự nhận
mình Phật tử
là người cố
gắng tu học
theo Đạo tỉnh
thức, sống
chánh niệm
trong mọi lúc,
ở mọi nơi.
Nếu được như
vậy, chúng
ta sẽ không bao giờ
nghĩ sai, nói
sai, làm sai, nghĩa
là nói, làm
những điều
bất thiện hại
người hại vật
chỉ vì lợi
ích bất chánh
của cá nhân
mình. Duy trì
chánh niệm
trong cuộc sống,
chúng ta sẽ đi
trong lòng cuộc
đời với những
áp lực của
hai dòng nước
nóng lạnh khắt
khe của cuộc
đời với tâm
bình khí hòa,
không loạn động,
không nao núng, vì
đã có Phật
pháp làm kim
chỉ nam, thuyền
đời coi như đã
được định hướng.
Nhân mùa Phật
đản, chúng
ta hãy thành tâm chúc
nhau luôn tinh tấn tu học
và tu tập
để xứng
đáng là người
con Phật - Phật
tử.■
Kính thưa quí vị và các bạn,
Lại một mùa Sen nở, mùa bồ đề thay lá, mùa
Đản Sanh lại về, lòng người con Phật lại rộn lên niềm hân hoan
mà ngày Khánh Đản đem lại cho thế gian vì chư Phật nói chung, và
đức Phật Thích-ca nói riêng, xuất hiện ở thế gian chỉ để dạy cho
chúng sanh con đường thoát khổ. Vì vậy, chính trong cuộc đời
này, nơi biển khổ trầm luân này mà thấy được nguyên nhân của khổ
và con đường diệt khổ để tu tập thì mới mong tự mình giải thoát
khỏi đau khổ phiền não, và giúp người bớt khổ chứ không thể đi
tìm hạnh phúc an lạc ở đâu xa. Nếu chúng ta quay lưng lại với
cuộc đời, thờ ơ với những nỗi khổ đau quanh mình, chỉ lo tìm cầu
những phép Tiên, phép Thần… mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình thì
đó chỉ là “đi tìm sừng thỏ” mà thôi, như lời dạy của Lục Tổ Huệ
Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn:
Phật Pháp tại thế gian
bất ly thế gian giác
Ly thế mích Bồ đề
Du như cầu thố giác
(thố giác= sừng của con thỏ = điều này
không thể có)
Vì vậy, người Phật tử, đặc biệt là người
Huynh trưởng GĐPT chúng ta mới tự đặt cho mình một “công tác từ
thiện” tối thiểu trong ngày :
Sáng cho người một niềm vui
Chiều giúp người bớt khổ
Chúng ta không có khả năng “ban vui” cứu
khổ” to lớn nhưng chúng ta có thể vổ về, dỗ ngọt một em bé, săn
sóc một cụ già trong nursing home, v.v... Trong tinh thần đó,
chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn câu chuyện rát cảm động sau
đây (mà tác giả bào rằng câu chuyện sẽ làm thay đổi tâm hồn của
chúng ta).
CON BÚP BÊ VÀ ĐÓA HOA HỒNG
Tôi đi vào một cửa hàng Target và nhìn thấy
người Cashier đưa tiền lại cho một em bé trai chừng 5, 6 tuổi.
Người Cashier nói : xin lỗi, nhưng em không
đủ tiền để mua con búp bê này đâu.
Cậu bé quay qua bà già phía sau cậu: Bà ơi,
bà có chắc là cháu không đủ tiền để mua con búp bê này không?
Bà già đáp: cháu biết là cháu không đủ tiền
để mua con búp bê này mà!
Rồi bà ta bảo em bé đợi ở dó chừng 5 phút
trong khi bà ta rảo quanh cửa hàng. Bà ta đã nhanh chóng rời cửa
hàng.
Cậu bé vẫn đứng ở đó tay cầm con búp bê.
Cuối cùng, tôi bước đến bên cậu bé và hỏi
em muốn tặng con bíp bê này cho ai.
Đây là con búp bê mà em gái của cháu thích
nhất và ao ước có được vào dịp Christmas. Em ấy chắc chắn là
Santa Claus sẽ đem đến cho em.
Tôi trả lời cậu bé rằng có thể như vậy, thế
nào rồi Santa Claus cũng đem đến, đừng có lo
Nhưng em bé buồn rầu trả lời tôi: Không
đâu, Santa Claus không thể đem đến nơi em hiện đang ở. Cháu phải
đưa cho Mẹ cháu để Mẹ đưa cho em khi Mẹ đi đến đó.
Mắt cậu bé buồn làm sao khi em nói đến câu
này.
“Em gái của cháu đã đến với God rồi. Bố nói
rằng Mẹ cũng sẽ gặp God ngay thôi cho nên cháu nghĩ rằng Mẹ có
thể cầm theo con búp bê này để cho em cháu”.
Tim tôi như ngừng đập!
Cậu bé nhìn lên tôi và nói: “Cháu đã dặn Bố
nói với Mẹ khoan đi đã, chờ cháu về hãy đi”.
Rồi cậu bé cho tôi xem một tấm hình của em
cười rất dễ thương và nói với tôi: cháu muốn Mẹ đưa tấm hình của
cháu cho em để nó đùng quên cháu.
“Cháu yêu Mẹ lắm và ước mong Mẹ đừng bỏ
cháu nhưng Bố bảo rằng Mẹ cũng sẽ phải đi theo em của cháu”.
Rồi cậu bé lại rất lặng lẽ, ngắm nhìn con
búp bê với cặp mắt u buồn.
Tôi nhanh chóng lấy ví tiền và nói với cậu
bé: hãy xem, không chừng chúng ta có đủ tiền mua con búp bê đấy.
“OK!” cậu bé nói, “cháu hy vọng là đủ mà!”
Tôi bỏ thêm tiền vào chỗ tiền của cậu bé
không cho nó thấy và bắt đầu đếm. Thật đã đủ mua con bíp bê mà
còn dư một chút nữa đó.
Cậu bé nói: Cảm ơn God đã cho con đủ tiền.
Rồi nó nhìn tôi và nói: “Hôm qua trước khi
đi ngủ cháu đã xin God cho cháu đủ tiền mua con búp bê để Mẹ có
thể đem cho em. God đã nghe lời xin của cháu!
“Cháu cũng muốn có đủ tiền để mua một bông
hồng trắng cho Mẹ cháu nhưng cháu không dám xin God nhiều quá.
Nhưng God đã cho cháu đủ tiến mua cả búp bê và hoa hồng trắng;
Mẹ cháu thích hoa hồng trắng.
…
Rồi tôi nhớ lại cách đây 2 ngày một tờ báo
địa phương có đăng tin một người say rượu lái một chiếc xe truck
đã đụng vào một chiếc xe trên đó có 2 mẹ con. Em bé gái chết
ngay, còn người mẹ bị hôn mê và gia đình quyết định rút ống oxy
khi biết người mẹ không thể tỉnh lại được nữa.
Đó là gia đình của cậu bé này chăng?
Hai ngày sau khi gặp cậu bé, tờ báo đưa tin
người mẹ đã qua đời. Tôi mua một bó hoa hồng trắng đem đến nhà
quàng: người phụ nữ nằm đó, trong quan tài, cầm trong tay một
đóa hồng trắng và tấm hình của cậu bé, con búp bê được đặt lên
ngực bà.
Tôi ra về, mắt mờ lệ, có cảm giác rằng cuộc
đời tôi từ đây hoàn toàn thay đổi. Tình thương của cậu bé đối
với mẹ và em gái thật vĩ đai, không thể tưởng tượng nổi, thế mà
chỉ trong một tíc tắc, người tài xế say rượu đã cướp mất của em
tất cả!
Câu chuyện thật thương tâm phải không các
Bạn? Cuộc đời còn nhiều đau khổ hơn thế nữa; chúng ta có thể làm
gì để xoa dịu nhũng nỗi đau trần thế thì vẫn tiếp tục làm đi
nha!
Kính thưa quí vị và
các bạn,
Chúng ta đã từng nghe nói “Đạo Phật là Đạo
Hòa Bình” nhưng muốn có hòa bình thì không thể chỉ có một người
hay một phía mà được, vì “một con én không thể làm nên mùa
xuân”. Thật vậy, ngay trong đời sống hằng ngày, lấy một ví dụ
rất nhỏ như khi chúng ta quan sát hai người nói chuyện với nhau
chẳng hạn, nếu người nói có thái độ hòa nhã, chân thành, tình
cảm thì người nghe sẽ thấy thích và cuộc đối thoại trở nên vui
vẻ nhẹ nhàng; ngược lại, nếu người nói có thái độ cộc cằn, lạnh
lùng hay thô lỗ,… tức khắc người nghe sẽ phản ứng lại bằng cách
muốn chấm dứt câu chuyện càng sớm càng tốt!
J
J !! Hòa bình hay
chiến tranh chính là không khí của cuộc đối thoại, nhỏ như giữa
hai người, lớn hơn như giữa hai phe nhóm, lớn nữa như giữa hai
quốc gia…
Như vậy, chúng ta đã hiểu tại sao người ta
nói rằng “đạo Phật là đạo hòa bình” chưa? - Xin thưa, đó là vì
đạo Phật dạy người Phật tử Từ bi (và Trí tuệ) - Thế nhưng đâu
phải người Phật tử nào cũng có từ bi và trí tuệ? Đúng vậy! Ví dụ
như Đề-bà-đạt-đa vừa là đệ tử Phật, vừa là em họ của Ngài nhưng
đã ba lần bảy lượt mưu hại đức Thế Tôn. Vì vậy, chúng ta phải
nói rằng: Phật giáo đã đóng góp rất nhiều cho hòa bình thế giới
vì nền giáo dục Phật giáo được đặt trên căn bản Từ bi - tình
thương vô điều kiện.
Vấn đề này cũng là vấn đề mà những người
huynh trưởng GĐPT thường suy ngẫm để giáo dục đàn em của mình
trở nên người Phật tử chân chính, trước hết và trên hết là giáo
dục các em huân tập lòng từ bi bằng những việc thiện hằng ngày
“sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ.” Để đi
vào chi tiết sự hướng dẫn các em làm thế nào để hiểu biết nhu
cầu của tất cả mọi người, mọi loài là tình thương, cách phát
khởi và phát triển tình thương (lòng từ bi), v.v... Xin mời quí
vị và các bạn theo dõi cuộc hội thoại bỏ túi sau đây giữa các
huynh trưởng trẻ quen thuộc của chúng ta A,B,C.
A: Hôm nay chúng ta nói về nền hòa bình thế
giới? Đề tài gì mà to tát quá vậy hở các bạn?
B: Đâu có! Chúng ta chỉ nói về sự đóng góp
của Phật giáo vào nền hòa bình của nhân loại mà thôi!
C: Mình nghĩ rằng đề tài sẽ được hạn chế để
thiết thực hơn, đó là nói chúng ta đã dạy và còn phải dạy các em
của chúng ta những gì (về Phật pháp và các sinh hoạt thường
ngày) để đem đạo Phật vào Đời, đem tình thương để xoa dịu những
nỗi đau của những người quanh mình.
A: Đúng vậy, những buổi nói chuyện của anh
chị em chúng ta bao giờ cũng “tản mạn” đủ thứ khó mà tập trung
vào một vấn đề lớn! Ở đây, mình xin bắt đầu bằng “mục đích cuộc
sống” đơn giản mà chúng mình đã dạy các em nha! Đó là “Tất cả
mọi người, ai cũng muốn hạnh phúc và sợ đau khổ”.
B: Chúng mình còn dạy cho các em rằng: khi
chúng ta quan tâm đến hạnh phúc của người khác thì bản thân mình
càng cảm thấy hạnh phúc nhiều hơn.
C: Phải rồi, ví dụ, mỗi tháng chúng ta tổ
chức sinh nhật chung cho các em, tập cho các em biết vui chung,
tặng quà, viết lời chúc mừng… và các em cũng công nhận rằng sinh
nhật ở Đoàn còn vui hơn sinh nhật ở nhà nữa (có nhiều em không
được tổ chức sinh nhật ở nhà càng cảm thấy vui hơn vì được anh
chị trưởng và các bạn nhớ đến sinh nhật của mình).
A: Chúng ta còn cho các em tập ghi sổ Việc
Thiện “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” -
khi làm được những việc như thế đối với cha mẹ, anh chị em, bạn
bè, thầy cô giáo, người nghèo đói, người đau khổ đang khóc
v.v... các em sẽ ghi vào Sổ Việc Thiện hay Sổ Hạnh cùng với cảm
tưởng của mình - Có em nói rằng mình (người cho) cũng hạnh phúc,
có khi hạnh phúc hơn “người nhận” (người được mình “cho”) nữa.
B: Chúng ta cũng tập cho các em “bỏ ống”,
nghĩa là phát cho các em những “con heo” để các em bỏ tiền vào
đó, tiền ăn quà, tiền đi shopping, mà các em tiết kiệm được để
đến mùa Vu lan, Phật đản, Tết, hè, v.v… có thể gởi về cho các
bạn ở Việt Nam bị khuyết tật hay bệnh hoạn, những bạn nhà nghèo
không có tiền mua sách vở học, hay không có tiền may đồng phục
GĐPT để đi sinh hoạt, v.v... Khi có bão lụt, tai nạn,… chúng ta
còn cho các em xuống đường lạc quyên, các em sẽ thấy mọi người
đều nhiệt tình hưởng ứng việc làm ý nghĩa của mình.
C: Các em sẽ thấy được một mình mình không
làm được gì nhưng cả đơn vị, một số đông… có thể để dành được
những số tiền lớn, có khả năng cứu đói hay cứu trợ bão lụt. Các
em sẽ hiểu được sức mạnh của tình thương, của sự chia sẻ, một
nhu cầu của tất cả mọi người cũng như mọi loài.
A: Đúng vậy, nhu cầu về tình thương đã có
sẵn trong huyết quản của mỗi chúng ta; ngay cả loài vật cũng bị
tình thương chi phối và cuốn hút một cách tự nhiên.
B: Chúng ta cũng kể cho các em nghe những
chuyện cổ tích, những mẫu chuyện đạo, chuyện tiền thân, ví dụ
như Lòng Hiếu của chim Oanh vũ, Tình mẫu tử của loài vật, Con Sư
tử trọng pháp, Con Voi hiếu nghĩa, chuyện Thạch Sanh, Cô bé Lọ
Lem, Tấm Cám, v.v... để các em thấy tình thương chiếm vị trí
quan trọng nhất dù đối với loài người hay loài vật, và không có
tặng phẩm vật chất nào trên thế gian sánh được với tình thương.
Cảm nhận được yêu thương là món quà quí giá nhất trên đời.
C: Thật vậy, từ lúc sơ sinh cho đến 3,4
tuổi, em bé rất cần đến những cử chỉ yêu thương, chăm sóc, sự
vuốt ve âu yếm của bà mẹ thì trí não mới phát triển tốt được;
nếu thiếu đi những điều này, não bộ của em bé có thể bị tổn
thương hoặc không hoàn hảo được.
A: Còn nữa, nếu trong lúc cho con bú mà bà
mẹ nổi giận hay buồn phiền chẳng hạn thì dòng sữa mẹ đối với em
bé cũng không còn ngon ngọt tươi mát nữa.
B: Phải rồi, đừng nói là trẻ em, ngay cả
người lớn cũng vậy! Nếu một bệnh nhân được một bác sĩ có tấm
lòng nhân hậu, tận tụy chăm sóc và hết lòng mong cho bệnh nhân
chóng bình phục thì bệnh nhân ấy sẽ an tâm, phấn khởi và sẽ được
bình phục sớm hơn dự tính. Đó là phương pháp chữa trị có hiệu
quả nhất, cho dù kỹ thuật không được cao. Ngược lại, nếu vị bác
sĩ thiếu nhiệt tình, nóng nảy, không quan tâm đến bệnh nhân thì
người bệnh sẽ lo lắng, buồn rầu, tủi thân… nên cho dù với kỹ
thuật cao, bệnh nhân này cũng khó bình phục sớm.
C: Cho nên chúng ta còn dạy các em làm thế
nào để phát triển lòng từ bi nữa, nói đúng hơn là phát triển tâm
Từ (tình thương vô điều kiện - unconditional Love).
A: Đúng vậy, đạo Phật nói chung, GĐPT nói
riêng, dạy về tình thương có khác ngoài đời một chút; đó là “vô
điều kiện”, vì sao? - Xin thưa là vì hầu hết tình thương/tình
yêu trên thế gian này đều là thứ tình “có điều kiện” cả! Ngay cả
tình yêu nước, yêu quê hương, v.v... cũng vậy! Tôi yêu nước tôi,
yêu dân tộc tôi, yêu quê hương tôi, v.v... cái gì cũng phải có
“của tôi” mới yêu, còn của người khác, nước khác thì phải coi
lại đã!! Có khi không yêu còn “thù” nữa!
J
J !!
B: Đúng đó! Cả tình mẫu tử, tình phụ tử…
cũng có khi có điều kiện luôn! Các bạn có tin không? Thật vậy,
thường chúng ta nghĩ rằng cha mẹ thương con bằng tình thương vô
điều kiện nhưng không phải luôn luôn vậy đâu! Ngày xưa thì:
“…phụ xử tử vong,
tử bất vong bất hiếu”
(Cha bảo con chết mà con không chết là con
bất hiếu).
Như vậy thì người cha này có yêu con vô
điều kiện không? - Nếu yêu con thì sao lại bảo con mình đi chết
được? Lại còn kèm theo “không chết là bất hiếu” nữa! Ngày nay
thì cha mẹ có thể từ con vì nó không nghe theo mình, không đi
theo con đường của mình hay vì nó làm mất danh dự mình, v.v...
C: Vì vậy, điều mình muốn huân tập vào
trong lòng các em của mình là chia sẻ nỗi buồn, “khóc với người
đang khóc” không phân biệt người đang khóc đó là dễ thương hay
không dễ thương.
A: Muốn phát triển tâm Từ chúng ta cần có
thời gian và chịu kiên nhẫn; chúng ta phải tập “quán chiếu” sự
bình đẳng giữa mọi người: ai cũng muốn được hạnh phúc và sợ đau
khổ, ai cũng muốn được thuận lợi, dễ dàng và sợ khó khăn trở
ngại... từ đó tâm vị tha của ta càng ngày càng lớn, ta thấy gần
gũi với mọi người hơn.
B: Đúng vậy, đối nghịch với tâm Từ là tâm
giận dữ, ích kỷ, thù hận. Chúng ta cần phải dẹp bỏ ích kỷ, thù
hận, ganh ghét mới có thể thực tập được thương yêu, vì thương
yêu là bao dung, tha thứ, hoan hỷ...
C: Tâm từ không chỉ dừng lại nơi con người
mà phải rải đến tận loài vật, cỏ cây hoa lá. Thật vậy, bảo vệ
môi trường cũng là một cách thực tập tâm Từ; không làm ô nhiễm
môi trường, không đốn cây, phá rừng bừa bãi… đều là những hình
thức rải tâm Từ đến cây cỏ, thiên nhiên; ở thời đại chúng ta đã
có những tiếng kêu cứu bảo vệ môi trường, bảo vệ “Mẹ Đất”.
A: Nếu các em của chúng ta được nhắc nhở từ
nhỏ thì sẽ huân tập được tình yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây hoa
lá, từ đó yêu loài vật, yêu con người rất dễ dàng. Những ai được
yêu thương sẽ dễ dàng yêu thương người khác. Chúng ta, những
người anh, người chị yêu thương, săn sóc đàn em của mình, không
cần ai trả lương… đó là bài học sống động để cho các em, đến
phiên mình, sẽ tự động yêu thương, chăm sóc cho các em nhỏ hơn;
đó chính là ý nghĩa chân thật của hai chữ “Gia Đình” trong GĐPT.
B: Phải rồi! Bằng cách phát triển tâm vị
tha như vậy, chúng ta sẽ phát triển tinh thần trách nhiệm đối
với người khác, với mong ước giúp họ vượt qua khó khăn, phiền
não, lo âu… không phân biệt thân sơ, tốt xấu; đó chính là tình
thương vô điều kiện của đạo Phật.
C: Như vậy, trong cuộc sống, chúng ta cần
có nhiều bạn và không nên có “kẻ thù” - tôi định nghĩa “kẻ thù”
là những ai gây khó khăn, trở ngại cho chúng ta về cả tinh thần
lẫn vật chất.
A: Tôi thì lại thấy ngược lại, bạn có nghe
nói “Ơn kẻ dữ chứ không ơn người hiền” hay không? Vì chính gặp
khó khăn mình mới phát khởi lý trí và lòng kiên nhẫn để đối phó
và chế ngự khó khăn.
B: Mình cũng đồng ý với bạn A vì Luận
bảo vương tam muội cũng dạy rằng “Ở đời đừng cầu không
khó khăn vì không khó khăn thì kiêu sa nổi dậy” và “sự
nghiệp đừng mong không bị chông gai vì không chông gai thì chí
nguyện không kiên cường”. Như vậy, khó khăn và chướng ngại -
những kẻ thù - giúp ta thêm khiêm tốn và kiên cường.
C: Mình xin nhắc lại, kẻ thù không phải là
con người mà là cái tính xấu mà người ấy có; ví dụ anh Thanh có
tính ích kỷ, ngã mạn thì mình ghét là ghét cái tính ngã mạn, ích
kỷ đó chứ không phải ghét anh ấy, nói cách khác một khi anh ấy
thay đổi tính nết thì anh ấy có thể là bạn thân của mình.
A: Như vậy bạn cũng ích kỷ rồi đấy nha! Bạn
phải rải tâm Từ của bạn đến anh ấy để một ngày nào đó tình
thương của bạn có thể chuyển hóa anh ấy chứ, đâu phải đợi anh ấy
chuyển hóa rồi bạn mới chơi thân?
B: Đúng vậy, hồi nãy mình có nói đó, phát
triển tâm Từ là đồng thời phát triển tinh thần trách nhiệm đối
với tha nhân, giúp đỡ họ vượt qua khó khăn (kể cả những tính
xấu: ích kỷ, ngã mạn, cố chấp, v.v...)
C: Mình hiểu rồi! Cảm ơn các bạn đã soi
sáng! Như vậy, đối với người Phật tử, tất cả mọi người đều là
bạn, không có kẻ thù. Nói cách khác, lòng từ bi của Phật giáo
rất cần cho cuộc sống con người, và do đó rất cần cho hòa bình
của thế giới.
A: Đúng vậy, chúng ta đã nói về những đóng
góp của nền giáo dục Phật giáo cho hòa bình nhân loại vì Phật
pháp là liều thuốc chữa trị “tâm bệnh” và khi tâm bình thì thế
giới bình mà, có phải không?
B: Phải rồi, nói tóm lại, người Phật tử tại
gia như chúng ta, giữ gìn Năm giới để hoàn thành nhân cách tốt
đẹp tức là đã góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh. Nếu tất cả
mọi người trên thế giới đều giữ Năm giới thì sẽ không còn trộm
cắp, giết người, v.v... cũng không còn nước nào muốn xâm chiếm
nước nào nữa, có phải không?
C: Cái này thì chưa chắc! Nói vậy mà không
phải vậy đó nha!
A: Đúng thế! Phật giáo đóng góp cho hòa
bình thế giới, có thể nói đây là Đạo của hòa bình, vì đạo này
dạy người ta về Từ bi và Trí tuệ - hai yếu tố không thể nào gây
ra chiến tranh, hiềm khích - nhưng con người có áp dụng Phật
pháp vào cuộc sống hay không, đó mới là điều quan trọng.
B: Đúng, đúng, “với một chữ NẾU, người ta
có thể để thành phố Paris vào trong một cái chai” rồi (Avec un
SI on peut mettre Paris dans une bouteille).
C: Nói tóm lại, lòng từ bi làm cho chúng ta
thấy mọi người đều là anh em và quả đất này là ngôi nhà chung
của chúng ta.
A: Đúng vậy! Chúng ta có bổn phận phải bảo
vệ ngôi nhà này bằng cách thực hành lòng từ bi để chuyển hóa vị
kỷ thành vị tha, để trên hành tinh này không còn cảnh dối gạt
nhau, lạm dụng lẫn nhau và mưu hại lẫn nhau.
B: Và chúng ta có được tấm lòng rộng mở để
hiểu biết và yêu thương tất cả; được như vậy thì quả đất này sẽ
là cực lạc quốc hay thiên đường hay gì đó, tùy ý bạn, nghĩa là
một nơi lý tưởng, có hạnh phúc tuyệt đối… không cần đi đâu tìm
nữa.
C: Tôi nghĩ rằng không cần phải là Phật tử
hay không, nếu bạn thực hành tâm Từ, tâm Bi thì bạn đã có chiếc
chìa khóa, đã bước vào một thế giới hạnh phúc, hòa bình, an
lành.
A: Đúng vậy, đức Đạt-lai Lạt-ma, người được
mệnh danh là “vị sứ giả của hòa bình” đã nói rằng: chúng ta
không cần phải theo một tôn giáo nào, cũng không cần phải chạy
theo một ý thức hệ nào; điều cần thiết là tất cả chúng ta phải
tự phát triển nhân cách tốt đẹp của bản thân.
B: Mặc dù đề tài của chúng ta là Hòa bình
và Phật giáo nhưng chúng ta đã bàn rộng ra rất nhiều phải không
các bạn?
C: Tuy bàn rộng nhưng vẫn không lạc đề,
chúng ta đã nói lên được những suy tư của chúng ta làm sao để
dạy cho đàn em của chúng ta và bản thân chúng ta thực tập tâm Từ
Bi để đem lại hòa bình, an lạc cho tâm mình và cho tất cả mọi
người chung quanh mình.
A: Mình nghĩ buổi nói chuyện hôm nay đã tạm
đủ, và rất lợi lạc; chúng mình dừng ở đây được chưa?
B và C: Được ! Được, tạm biệt!■
Kính thưa quí vị và
các bạn,
Đoàn sinh trong Gia đình Phật tử (GĐPT)
ngay từ bậc nhỏ nhất của ngành Thiếu - bậc Hướng Thiện - đã được
học Tam quy và Ngũ giới (ba phép quy y và năm giới) nhưng về sau
cho dù lên đến các trại Lộc Uyển, A Dục, Huyền Trang, Vạn Hạnh,
vẫn còn học về Giới, ý nghĩa của Giới, sự thọ trì Giới, ích lợi
của Giới đối với người Phật tử nói riêng, và con người nói
chung.
Thật vậy, trong những buổi mạn đàm giữa
huynh trưởng với nhau, chúng tôi thường nói rằng, nếu tất cả
chúng sanh đều biết giữ gìn năm giới thì nhất định thế giới sẽ
hòa bình, chúng sanh sẽ an lạc, điều này là một khẳng định,
không thể khác được!JJ!!
Trong chương trình tu học, chúng tôi chỉ có
Năm giới, Tám giới (Bát quan trai giới), Mười giới (Thập thiện)
hay Bồ-tát giới,... là những giới cho cư sĩ tại gia chứ không
được biết đến Giới của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, v.v… Thế nhưng chừng
đó cũng đủ thấy “khó nuốt”, anh chị em chúng tôi “chạy theo”
cũng thấy thấm mệt rồi; đó là chưa nói thỉnh thoảng các em đoàn
sinh đi tham dự một ngày thọ bát quan trai hay một buổi tu học,
trong đó quý Thầy giảng về Giới chẳng hạn, thế là một lô thắc
mắc được các em đưa ra hỏi Anh/Chị trưởng của mình; đó là tại vì
trong khuôn khổ một bài học về Năm giới, chúng tôi chỉ đưa một
vài định nghĩa của Giới, cũng như ích lợi của Giới… chứ làm sao
có thể trình bày đầy đủ bằng những lời giảng của quí Thầy; và đó
cũng là lý do khiến anh chị em huynh trưởng thường xuyên chia
sẻ, trao đổi những kiến thức Phật pháp với nhau để có thể trả
lời, giải quyết những câu hỏi bất ngờ của các em mình.
Hôm nay xin mời quí vị và các Bạn theo dõi
cuộc nói chuyện giữa ba huynh trưởng trẻ quen thuộc A,B,C về
Giới và cụ thể là bài Năm giới.
A: Chào các bạn, đố các bạn biết bài học
Phật pháp nào mà từ khi còn ở ngành Thiếu cho đến khi làm Trưởng
lớn vẫn còn phải học?
B: Bát chánh Đạo?
C: Quy y Tam bảo?
A: Không phải, đó là bài Năm giới; sau này
đến đỉnh cao là “Giới Định Tuệ” vẫn còn Giới.
B: Đúng vậy, vì Giới là nền tảng cho Định
và Tuệ, là cơ sở để phát triển nhân tính, Thánh tính và Phật
tánh.
C: Nói vậy, các bậc Thánh cũng phải giữ
giới như người phàm chúng ta sao?
A: Đúng vậy, bạn không nhớ có ông thánh nào
đó đã dùng phương pháp bỏ đậu đen và đậu trắng vào hai cái chai
để tự kiểm điểm những hành vi của mình hay sao?
B: Phải rồi! Còn có một vị khác thì mỗi lần
làm điều xấu lại đóng một cái đinh vào cây cột, khi làm được một
việc tốt lại nhổ đinh ra; khi đã gần như hoàn thiện rồi, cột chỉ
còn những lỗ đinh ông ta nhìn mà buồn vì những lỗ đinh ấy mãi
mãi không thể xóa đi được!
C: Thật đúng là bậc Thánh, mình mà làm lỗi,
e rằng giấu đi không cho ai biết nữa là khác, phải không các
bạn?
A: Bởi vậy, mình đâu có tưởng mình là thánh
bao giờ. Mà này, mình hãy trở lại Giới đi, các bạn thử định
nghĩa Giới là gì? Mà không phải chỉ định nghĩa như mình dạy các
em đâu nha! Phải mở rộng ra nữa.
B: Đồng ý! Giới có rất nhiều nghĩa, mình
xin nói ba nghĩa đầu tiên: 1. Giới có nghĩa là ngăn chận
(giới như bờ đê ngăn nước lũ làm hại mùa màng; những hành vi bất
thiện cũng làm hại nhân phẩm như vậy) hay không nên vượt qua.
2. Giới có nghĩa là tránh xa, tránh xa hai cực đoan (ép
xác và buông lung). 3. Giới có nghĩa là Thận trọng, vì
giới có khả năng phòng hộ các hành vi bất thiện một cách chính
chắn và cẩn thận; khiến cho tâm không bị nhiễm ô. Người trí thận
trọng soi rọi từng lỗi nhỏ, tháo gỡ những gút mắc của mình; sự
trói buộc bằng những sợi dây càng nhỏ thì tháo càng khó!
C: Thứ 4. Giới có nghĩa là hộ trì vì
nó hộ trì cho các căn (mắt, tai mũi lưỡi, thân, ý) không bị các
trần lôi kéo xa rời chánh niệm để buông lung chạy theo các dục.
Thứ 5. Giới có nghĩa là thâu nhiếp, vì nhờ có giới, các
căn luôn an trú trong định và tuệ. Thứ 6. Giới còn có nghĩa là
gạn lọc, vì nó làm cho cái thấy, cái nghe, cách tư duy,
cách tiếp xúc,… thuần túy chỉ là cái thấy, cái nghe, … không bị
ô nhiễm bởi yêu ghét, lấy bỏ, thành kiến, tham đắm, ngã mạn.
A: Thứ 7. Giới có nghĩa là giải thoát,
vì giới có năng lực khiến tâm xa lìa chấp ngã nên được giải
thoát. Thật vậy, khi thọ giới không sát hại chẳng hạn, chúng ta
đã có lập lời nguyện: “con nguyện từ nay cho đến trọn đời, không
giết hại mà còn đem sự sống đến cho mọi loài” đây chính là
“thương người như thể thương thân”, quí trọng mạng sống của mọi
loài y như mạng sống của mình. Thứ 8. Giới có nghĩa là chế
ngự. Sự chế ngự của giới có năm trường hợp: a. Do tùy
thuận giới bổn mà chế ngự được các hành vi bất thiện; b. Do
chánh niệm mà chế ngự được các tạp niệm; c. Do chánh kiến mà chế
ngự được chấp thủ và khát ái; d. Do kham nhẫn mà chế ngự được sự
đói khát, đam mê và bệnh hoạn; e. Do tinh tấn mà chế ngự được
những hành vi bất thiện chưa phát sinh, nuôi dưỡng những điều
thiện đã phát sinh và làm phát khởi những điều thiện chưa phát
sinh.
B: Thứ 9. Giới có nghĩa là kết hợp,
vì giới kết hợp với những thiện nghiệp của thân, miệng, ý. Thứ
10. Giới có nghĩa là đình chỉ, vì giới có khả năng đình
chỉ những hành vi bất thiện của thân, miệng và Ý. Thứ 11. Giới
có nghĩa là điểm hội tụ, vì giới chính là điểm xuất phát
cũng là điểm đồng qui của các thiện pháp. Thứ 12. Giới có nghĩa
là Tươi mát, vì như chúng ta đã biết, thế giới này là
“nhà lửa” vì chúng sanh bị đốt cháy bởi tham vọng, tham sân,…
Giới phòng hộ ba nghiệp, khiến Tâm thanh thản nhẹ nhàng, nên
Giới còn được gọi là “ao thanh lương” gội sạch phiền não cho
chúng sanh.
C: Thứ 13. Giới có nghĩa là thiện nghiệp
vì giới hướng dẫn những hành vi của thân, miệng, ý đi về nẻo
thiện. Thứ 14. Giới có nghĩa là luật nghi, vì giới bao
trùm tất cả, người giữ giới nghiêm mật có đầy đủ oai nghi chánh
hạnh, được mọi người yêu mến kính trọng,…
A: Mặc dù Giới có rất nhiều ý nghĩa (chúng
ta còn có thể kể thêm nữa) nhưng tựu trung có hai ý nghĩa chính,
đó là đình chỉ những hành vi bất thiện và thực hành những điều
thiện lành.
B: Thực chất của Giới là lòng từ bi, nghĩa
là xuất phát từ sự hiểu biết “ta và tha nhân là một”. Tất cả mọi
chúng sanh đều tham sống sợ chết, tham vui sợ khổ, v.v... nên sự
giữ giới của chúng ta nói ngắn gọn là để “đem vui, cứu khổ” mọi
loài chúng sanh; vì vậy nếu không hiểu thực chất ấy mà cố chấp
để làm sai tinh thần từ bi của đạo Phật thì sự giữ giới ấy trở
thành sai lầm!
C: Tại sao lại như vậy? Bạn hãy nói rõ hơn
đi, làm ơn!
A: Đúng vậy, bạn B muốn nói trường hợp
“Giới cấm thủ”, đó là sự chấp chặt vào hình thức của giới mà
bỏ quên thực chất của nó là lòng thương người, thương loài vật,
v.v… Xin lấy một ví dụ rất đơn giản: có một giới của người xuất
gia là “nam nữ thọ thọ bất thân” (nghĩa là nếu khác giới tính
thì không đụng chạm vào thân thể của người kia) nhưng nếu gặp
trường hợp người khác phái sắp chết đuối, còn ta biết bơi, nhưng
vì sợ phạm giới mà làm ngơ bỏ đi không cứu người gặp nạn, đó
chính là ta đã áp dụng mù quáng chứ không phải là giữ Giới !JJ!!
B: Còn nữa, có nhiều người chấp thủ những
điều răn vô lý, ví dụ sống theo nếp sống của con chó, con trâu,
v.v... (gọi là theo hạnh chó, hạnh trâu) ngủ dưới đất, ăn phân,
không tắm rửa,… cho rằng như vậy là phương pháp giải thoát thân
tâm... đó là những hình thức của Giới cấm thủ.
C: Thật là hay và lạ đối với mình, cảm ơn
hai bạn nhiều; mình còn một thắc mắc nữa về Giới thứ 5 (Giới
không uống rượu), mình nghĩ cái quan trọng là không say rượu chứ
đâu phải là không uống?
A: Thật ra suy nghĩ của bạn là chính xác
nhưng làm sao biết uống có say hay không? Tùy theo “tửu lượng”
của bạn, bạn uống một chai, tôi uống hai chai, còn bạn B uống
một ly đã say rồi! Cho nên thực hành giới không uống rượu thì
tốt hơn hết là chúng ta đừng uống mới bảo đảm không say rượu!
Tuy nhiên, chúng ta còn say nhiều thứ nữa: say tiền, say tình,
say cờ bạc,... và cả trẻ em cũng say... games, say internet nữa
đó!J
J!!
B: Đúng vậy, cái gì mà làm cho chúng ta “mê
man tàn tật” không biết trời đất trăng sao gì cả, cứ đắm đuối
vào trong đó mà bỏ bê công việc, bổn phận,… cái đó đều là “rượu”
cả!
C: À, mình hiểu rồi! Thì ra giới thứ năm
tuy thấy có vẻ “tầm thường” nhưng là giới chủ chốt trong Năm
giới đó nha! Bởi vì chỉ cần mất chánh niệm vì rượu thì bốn giới
trên đều lần lượt phạm hết!
A: Câu chuyện về giới thật là bất tận, hôm
nay mình nói đến định nghĩa giới không thôi đã hết giờ! Chưa nói
đến năng lực của giới, giới của người tại gia, người xuất gia,
thế nào là Giới đàn, Giới tướng, Bồ-tát giới là những giới gì,
v.v...
B: Mình thấy chỉ cần khai triển Năm giới
của đoàn viên GĐPT cũng đã dài dòng và đầy đủ lắm rồi!
C: Mình thấy buổi mạn đàm hôm nay đem lại
cho mình rất nhiều lợi ích, nhiều danh từ, thuật ngữ Phật giáo
mà trước đây tự học mình không được hiểu tường tận như thế. Cảm
ơn các bạn rất nhiều!
A: Trước khi chia tay, mình xin kể các bạn
nghe câu chuyện này, sau khi nghe xong, các bạn nhớ cho mình
“feedback” về cảm tưởng và suy nghĩ của các bạn nha!
Có hai thầy trò kia đi chơi ở ven rừng, gặp
một đôi dép cũ bên đường, có lẽ là của một người nông dân đang
làm rẫy trên kia. Người học trò nói với Thầy: chúng ta thử giấu
đôi dép và núp lại đây coi thử anh nông dân kia khổ sở như thế
nào? Người Thầy ngăn lại: không nên làm như thế mà nên bỏ vào
trong mỗi chiếc dép một đồng tiền vàng rồi núp lại xem người
nông dân sẽ bối rối như thế nào. Người nông phu trên rẫy về, xỏ
chân vào dép thấy cộm một vật gì, ông ta đổ trong đôi dép ra
thấy hai đồng tiền vàng, ông nhìn quanh quất không biết của ai
đi ngang qua đánh rơi chăng... khi không thấy ai cả, tứ bề im
vắng, ông quỳ xuống cảm tạ ông Trời đã thương đến tình cảnh khốn
cùng của ông mà cho ông một số tiền to lớn như thế để cứu cả gia
đình ông, đã mấy hôm nay không có gạo nấu… cùng với những giọt
nước mắt biết ơn chân thành.
Câu chuyện chấm dứt ngang đây, xin chào các
Bạn và xin hẹn lần sau - các bạn sẽ cho biết trong câu chuyện
này ai là người CHO và ai là người NHẬN? Ai có giữ Giới, ai quên
giữ Giới, v.v...!! Tạm biệt!
B và C: Câu chuyện hay quá, cảm ơn bạn, tạm
biệt! Tạm biệt!■
54. Những
trẻ em đặc biệt
Thưa quí vị và các
bạn,
Nếu nói rằng chỉ ở phương Tây trẻ em mới
được quan tâm, tôn trọng, v.v… thì e rằng không đúng lắm, vì
người Á Đông chúng ta từ xưa đã cho trẻ em tham dự vào ngày Tết
của người lớn: Tết Trung Thu.
Thật vậy, chỉ có những nước Đông Nam Á mới
có ngày Tết Trung Thu của trẻ em, nên tết này còn được gọi là
Tết Thiếu Nhi. Vì vậy, cứ sau mùa Vu Lan là đến Tết Trung thu.
Dưới ánh trăng rằm, các em được rước đèn, vui chơi; riêng các em
Oanh Vũ - thiếu nhi của GĐPT, ngày Vu Lan lại là ngày Hiếu của
các em nên các em có đến hai ngày vui lớn nối tiếp nhau trong
tháng 7 và tháng 8 âm lịch.
Trẻ con dù trong các gia đình giàu hay
nghèo, hầu hết đều được thương yêu chiều chuộng theo cách riêng
của mình nhưng về tính tình thì đúng là thiên hình vạn trạng.
Chúng ta đã nghe nói nhiều đến phương pháp giáo dục thiếu nhi ở
các nước tiên tiến trên thế giới, hay những khiếm khuyết ở các
nước chậm tiến, v.v… nên hôm nay các huynh trưởng trẻ quen thuộc
của chúng ta muốn đề cập đến những trẻ em đặc biệt – xin thưa
đặc biệt chứ không phải là cá biệt, vì cá biệt để chỉ những trẻ
em khó dạy, trái tính trái nết… ở đây chỉ bàn về những trẻ em có
những tánh nết – đúng hơn là những đức tính đặc biệt và cuộc đời
của các em về sau cũng chứng tỏ là khác đời. Tuy nhiên cũng
không dám bàn đến những trường hợp một học sinh Einstein 9 tuổi
mới biết đọc chữ quốc ngữ mà sau này lại là cha đẻ của bom
nguyên tử hay của một em bé Trần Quốc Toản mà lòng yêu nước ngút
trời, đã bóp nát trái cam mà không hay, khi tuổi còn thơ chưa
được phép bàn quốc sự, chỉ được đứng nghe ở ngoài, hay em bé
huyền thoại Phù Đổng Thiên vương, v.v… mà chỉ xin đề cập đến
những em bé trong lịch sử Phật giáo có
Xin mời quý vị và các bạn theo dõi cuộc đối
thoại của các huynh trưởng A, B, C.
A: Chào các bạn, hôm nay chúng mình nói về
những thần đồng Phật giáo hả?
B: Nói đúng hơn là mình chỉ giới hạn trong
hàng đại đệ tử Phật, chứ nói Phật giáo thì làm sao nói cho hết!
C: Phải, phải, mình cũng chỉ biết rõ những
vị có trong chương trình học thôi chứ đâu có biết hết mà nói cho
nhiều! ☺ ☺!!
A: Mình xin bắt đầu với ngài Xá-lợi-phất
(Sariputta) nha! Ngài Xá-lợi-phất là trưởng tử của đức Phật. Tôn
giả có danh hiệu “Trí tuệ bậc nhất” trong 10 vị đại đệ tử Phật.
Thuở nhỏ, mới 8 tuổi, cậu bé Xá-lợi-phất đã có thể giải suốt mọi
thư tịch. Trong một buổi so tài lý luận, cậu tự tỏ ra là một
luận sư với những lời lẽ đối đáp khúc chiết, chững chạc, lý luận
chặt chẽ làm những người lớn kinh ngạc, không ai thắng được, nên
được mọi người khen ngợi, quốc vương cũng đẹp lòng, đem cả một
thôn trang tặng cho Xá-lợi-phất và thân phụ Xá-lợi-phất vừa tự
hào vừa tự nhủ “thông minh tài trí của ta đâu đã bằng thằng con
này”.
B: Đúng vậy, cậu bé Xá-lợi-phất đã nổi
tiếng thông minh trong cả nước Ma-kiệt-đà (Magadha), thuộc Đông
Bắc Ấn Độ.
C: Chúng ta chỉ nói về thời thơ ấu của ngài
Xá-lợi-phất thôi nha, nếu kể chuyện về Ngài, e rằng đến tối cũng
chưa xong.
A: OK! Như vậy đề nghị bạn B nói về thời
thơ ấu của tôn giả Tu-bồ-đề đi nha!
B: Cảm ơn bạn, vì bạn biết mình thích Tôn
giả này! Tu-bồ-đề (Subhūti) có danh hiệu “Giải không đệ nhất”.
Tôn giả Tu-bồ-đề sinh ra trong một gia đình giàu có, hồi còn là
một thiếu niên, chưa quy y Phật, Tu-bồ-đề đã có tính thương
người khác thường. Cậu bé nhà giàu sau một buổi đi chơi trở về
nhà trên mình chỉ còn cái quần cụt! Bao nhiêu áo quần sang trọng
lúc ra đi đã được cậu bé cởi ra cho người nghèo hết, tiền bạc
đem đi theo cũng vậy, có mấy đồng đều cho hết mấy đồng; cha mẹ
có phàn nàn thì cậu bé trả lời: Không hiểu vì sao con thấy mọi
người trên thế gian này đều rất liên quan đến con, thân mọi
người cũng như thân con, người ta lạnh con cũng lạnh, nguời ta
đói con cũng đói; có mấy cái áo quần, mấy đồng tiền cho họ khỏi
đói lạnh, đâu có sao!
C: Riết rồi cha mẹ nhốt cậu bé ở nhà không
cho đi ra đường nữa vì “thằng bé phá của quá, không chịu nổi”,
nhưng cậu bé không buồn khổ gì cả, bị nhốt ở nhà thì xem kinh
đọc sách nên hiểu biết của cậu bé về thiên văn địa lý, triết
học, khoa học, v.v… rất phong phú và sâu rộng, cậu bé thường tự
hào biết rõ về vũ trụ.
A: Hồi cậu bé vừa chào đời, của cải trong
nhà tự nhiên biến mất, cả nhà lo sợ, mời thầy tiên tri đến giải
đoán, nhà tiên tri nói rằng đó là điềm lành, đứa bé sau này sẽ
không vướng bận gì của cải, danh vọng, địa vị, v.v… nó sẽ là
người “Giải không đệ nhất thiên hạ”.
B: Tu-bồ-đề lớn lên với niềm kiêu hãnh về
sự hiểu biết sâu rộng của mình trong dòng dõi quý tộc Bà-la-môn.
Vì vậy, đáng lẽ Ngài không phải là đệ tử Phật nhưng vì có nhân
duyên nhiều đời nhiều kiếp với đức Phật nên Tôn giả trở thành
một trong 10 vị đại đệ tử của Thế Tôn.
C: Xin tạm chấm dứt chuyện cậu bé Tu-bồ-đề
để chuyển qua cậu bé Ca-chiên-diên nha! Ca-chiên-diên là cháu
gọi A-tư-đà (người đoán vận mệnh của thái tử Tất-đạt-đa) bằng
cậu ruột. Tôn giả Ca-chiên-diên là đại đệ tử của đức Phật với
danh hiệu “Luận nghị đệ nhất”. Thân phụ của tôn giả
Ca-chiên-diên là quốc sư đương thời. Ngay từ hồi nhỏ,
Ca-chiên-diên chỉ tự học ở nhà mà đã hơn xa ông anh của mình đi
du học khắp nơi làm ông anh mất mặt. Ông anh vì thế đề nghị cha
mẹ đuổi người em đi; thế là cậu bé Ca-chiên-diên được gởi đến ở
với cậu A-tư-đà, vì nếu cậu bé ở nhà thì người anh không thể
“lên” được!
A: Bây giờ mình xin bảo đảm với các bạn,
chính cậu bé Ca-diếp mới là đặc biệt hơn tất cả các em bé trên
đời này vì trẻ con ở nước nào cũng cần tình thương, sự âu yếm
của cha mẹ nhưng cậu bé Ca-diếp thì không; ngay từ tấm bé đã
không thích ngũ dục của thế gian, thích ở một mình chỗ yên tịnh,
đi xa cũng không nhớ đến cha mẹ, gia đình!
B: Phải rồi, ngay khi vừa chào đời cậu bé
Ca-diếp đã “chọn” sanh ra dưới bóng một cây đại thọ như thái tử
Tất-đạt-đa chứ đâu có sinh trong nhà như những đứa bé khác! Khi
mới tám tuổi, cậu đã được dạy các giới điều của Bà-la-môn, bốn
bộ Phệ-đà, ngũ minh, tế lễ, thi họa, toán số, thiên văn, sấm ký,
âm nhạc… không thiếu thứ nào và sức thông minh của cậu bé
Ca-diếp đủ sức thấu suốt tất cả các môn học!
C: Hèn gì sau này cũng vậy, tôn giả Ca-diếp
được danh hiệu “Đầu-đà đệ nhất” trong 10 vị đệ tử lớn của đức
Phật. Tôn giả chỉ muốn ở những nơi hoang vu vắng vẻ như trong
rừng, ngoài nghĩa địa, v.v… chứ không thích ở chỗ đông người.
A: Xin đi qua cậu bé A-na-luật mà sau này
là vị đệ tử “Thiên nhãn đệ nhất” của đức Phật.
B: Tôn giả A-na-luật là dòng dõi vua chúa,
đại tướng Ma-ha Nam chính là anh ruột của tôn giả A-na-luật. Cậu
bé A-na-luật là một đứa trẻ rất thông minh, hoạt bát, có năng
khiếu đặc biệt về âm nhạc và kỹ thuật. Cậu bé rất dễ thương, ca
hát và làm điệu bộ khôi hài làm cho ai cũng yêu mến. Cậu bé
không những có gốc vua chúa mà còn có gốc phi phàm nữa; không
hiểu do phước báo gì, cậu bé được bánh trong những chiếc hộp đã
hết bánh! (cậu bé đánh bài ăn bánh mà cứ bị thua hoài, đến nỗi
thua hết bánh trong nhà nhưng cậu bé cứ đòi mẹ cho bánh, thế là
bà mẹ đem hộp bánh trống không ra cho cậu coi, nhưng lạ thay,
khi đến tay cậu bé thì bánh lại đầy!) Từ đó bà mẹ không dám xem
thường cậu con “phi thường” này.
C: Sau này lớn lên còn nhiều chuyện phi
thường do ý chí sắt đá của tôn giả A-na-luật nữa nhưng mình phải
tạm dừng để nói về cậu bé La-hầu-la, là con trai của thái tử
Tất-đạt-đa và công chúa Da-du-đà-la.
A: Đúng vậy, La-hầu-la không được nhắc đến
thời kỳ ở với mẹ tại cung đình, chỉ được nhắc đến khi cậu bé
La-hầu-la trở thành chú Sa-di đầu tiên trong Tăng đoàn của đức
Phật. Sau này tôn giả La-hầu-la cũng là một trong mười vị đại đệ
tử Phật, với danh hiệu “Mật hạnh đệ nhất”.
B: Lúc La-hầu-la xuất gia, Tăng đoàn chưa
có qui luật cho Sa-di nên cậu bé 10 tuổi La-hầu-la cũng gặp
nhiều gian truân lắm. Lúc đầu, La-hầu-la quen thói trẻ con hay
nói dối phỉnh người, bị đức Phật quở trách nặng nề nên đã tỉnh
ngộ và sau đó không những trở nên khiêm tốn mà còn chịu nhiều
thiệt thòi mà một đứa trẻ khó lòng chịu nổi nhưng La-hầu-la đã
can đảm vượt qua.
C: Thật tội nghiệp cho một đứa bé chỉ mới
10 tuổi, con vua cháu chúa mà bị lâm vào cảnh “không nơi nương
tựa” làm cho đức Phật cũng phải cảm thương.
A: Đúng vậy, đức nhẫn nhục của cậu bé
La-hầu-la thật là đáng nể; đề nghị bạn B hãy kể chi tiết một
chút nha!
B: Trước khi nói về đức nhẫn nhục của
La-hầu-la, mình xin kể chuyện cậu bé La-hầu-la mắc nạn trong nhà
vệ sinh đã nha! Mỗi ngày La-hầu-la phải quét dọn sạch sẽ một khu
vườn rộng, rồi đi nghe Phật giảng, xong mới được trở về phòng
nghỉ ngơi. Hôm ấy, phòng của La-hầu-la bị thầy quản lý để cho
một vị Tỳ-kheo khách ở, y bát, tọa cụ của La-hầu-la đều bị bỏ ra
ngoài. Theo qui định, mỗi người ở mỗi phòng, nay phòng của mình
bị chiếm rồi, biết làm sao? Hơn nữa La-hầu-la còn là Sa-di,
Sa-di thì phải nhường Tỳ-kheo! Vì vậy La-hầu-la đành đứng ở
ngoài… lúc đó mây đen kéo đến và mưa ầm ầm nên La-hầu-la phải
chạy vào ẩn thân trong nhà vệ sinh tuy hôi hám nhưng khỏi bị
ướt. La-hầu-la ngồi trong đó nỗ lực nhớ đến lời Phật dạy, dù
trong hoàn cảnh nào cũng không khởi tâm oán giận, trách móc,
v.v… mưa càng to nước chảy càng nhiều, có con rắn ở trong hang
bên ngoài bị ngập nước, bò vào nhà vệ sinh, rắn độc rất nguy
hiểm nhưng La-hầu-la không biết, sinh mạng chú Sa-di thật như
chỉ mành treo chuông! Đức Phật bỗng nhớ đến La-hầu-la, dùng
thiên nhãn thấy được sự nguy hiểm gần kề bèn đi ra nhà vệ sinh
lên tiếng kêu “ai ở trong đó?” Dạ, con, La-hầu-la. Con hãy ra
đi! La-hầu-la nghe tiếng Phật, mừng quá, vội chạy ra quỳ dưới
chân Phật nước mắt chan hòa! Phật hỏi cớ sự mới biết và kêu
La-hầu-la hãy vào ở trong phòng mình đêm nay. Vì nhân duyên đó,
Phật qui định cho các Sa-di có thể ngủ chung phòng với Tỳ-kheo 2
đêm.
C: Còn câu chuyện về đức nhẫn nhục của cậu
bé La-hầu-la nữa!
A: Một hôm, La-hầu-la theo tôn giả
Xá-lợi-phất đi khất thực ở thành Vương-xá; trên đường đi gặp một
tên lưu manh, hắn lấy cát ném vào bát của ngài Xá-lợi-phất và
lấy gậy đánh lên đầu La-hầu-la đến nỗi chảy máu, máu nhỏ giọt
xuống y! Hắn lại còn chửi mắng hai thầy trò Tôn giả; La-hầu-la
giận căm gan tím ruột nhưng Xá-lợi-phất an ủi: La-hầu-la, nếu là
đệ tử Phật, cần phải nhẫn nhục, trong tâm không chứa sân hận,
phải đem từ bi thương xót chúng sanh! Này La-hầu-la, nên điều
phục tâm giận dữ, nắm chắc tâm nhẫn nhục. Trên thế gian không ai
có thể sánh bằng người có sức nhẫn mạnh mẽ. Sa-di La-hầu-la nghe
tôn giả Xá-lợi-phất khai thị, lẳng lặng đến bên ao nước soi mặt
rửa vết thương trên đầu rồi an nhiên tiếp tục đi khất thực với
thầy. Trên đường về, Sa-di La-hầu-la mới nói với tôn giả
Xá-lợi-phất: con người tại sao lại ác độc như thế, Phật dạy
chúng ta nhẫn nhục nhưng những hạng người ác độc ấy có hiểu
không? Người ta có tôn trọng chúng ta không hay lại khinh thường
chúng ta mà tôn trọng những kẻ ác ấy? Lúc đầu, con tưởng mình
không chịu nổi!
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong rất hoan hỷ
là La-hầu-la nghịch phá hôm xưa hôm nay đã tiến bộ rõ rệt, bèn
đem chuyện này kể với đức Phật, đức Phật cũng thật hoan hỷ, dạy
La-hầu-la thêm: người không biết nhẫn sẽ không tiếp thu được
Phật pháp; những ai giận đời, oán người là trái với Pháp, xa chư
Tăng... hạnh nhẫn nhục mới là hạnh an ổn, mới có thể tiêu trừ
tai nạn.
B: Từ đó La-hầu-la ít nói, im lặng tu hành,
không xuất hiện giữa đám đông, không tỏ ra nổi bật… đúng là con
người mật hạnh đệ nhất.
C: Như vậy là chúng ta đã kể được nhiều
chuyện về những gương “thiếu nhi anh hùng” rồi đó hở các bạn?
Nhưng là anh hùng về tâm, không phải như những superman đấm đá,
bắn súng… búa xua.
A: Phải rồi, đến đây xem như tạm đủ, chúng
mình chia tay nha! Hẹn gặp lại lần sau! Tạm biệt!
B và C: Tạm biệt! Tạm biệt!■
Kính thưa quí vị và
các bạn
Trong những bài Phật pháp, Anh Chị Em huynh
trưởng và đoàn sinh GĐPTVN được học rằng Bồ-tát là “Bồ-đề
Tát-đỏa”, có nghĩa là loài hữu tình đã giác ngộ và giác ngộ cho
loài hữu tình khác, hay: Bồ-tát là những người có tâm “thượng
cầu hạ hóa”, trên thì cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh,
v.v... mấy chữ “giác ngộ”, “hóa độ”…, quả thật là rất thâm sâu
đối với chúng tôi.
Bên cạnh đó, lại nghe nói “Gia đình Phật
tử là một pháp môn tu” hay “người huynh trưởng GĐPT cũng
theo hạnh nguyện Bồ-tát” cũng đi theo con đường Bồ-tát; có
người chấp nhận dễ dàng, có người còn chưa thoải mái, cho rằng
nói như vậy là hơi đề cao người huynh trưởng GĐPT. Mặt khác, có
những anh chị huynh trưởng lớn đã thọ giới Bồ-tát… làm các em
huynh trưởng trẻ cũng hơi thắc mắc; do đó, vấn đề này cũng đang
là vấn đề “thời sự” mà các em muốn tìm hiểu. Xin mời quí vị theo
dõi cuộc hội luận bỏ túi giữa các huynh trưởng quen thuộc A, B,
C.
A: Đề tài của chúng ta hôm nay là nói về
các vị Bồ-tát phải không?
B: Có vô số Bồ-tát mà chúng ta được nghe
danh hiệu, có ba vị Bồ-tát và hai vị Phật mà anh chị em chúng ta
tu học theo hạnh nguyện của các ngài: Bồ-tát Di Lặc (hạnh Hỷ
xả), Bồ-tát Quán Thế Âm (hạnh Từ bi), Bồ-tát Văn-thù Sư-lợi
(hạnh Trí tuệ), đức Phật Thích-ca (hạnh Tinh tấn) và đức Phật
A-di-đà (hạnh Thanh tịnh).
C: Cái đó mình thấy dễ hiểu rồi vì cứ được
học đi học lại, nhưng mình còn nghe “Bồ-tát tại gia”, nghĩa là
họ không xuất gia gì cả mà vẫn được gọi là Bồ-tát và có nhiều vị
thọ Bồ-tát giới nữa, nghĩa là sao hở các bạn?
A: Thật ra, anh chị em huynh trưởng chúng
ta cũng được coi là đang tu Bồ-tát hạnh và hành Bồ-tát đạo rồi
đó, bạn biết không?
B: Đúng vậy, khi chúng ta phát nguyện làm
huynh trưởng, dù dưới hình thức nào, đọc những lời nguyện có thể
sai khác nhau nhưng nội dung vẫn là một, đó là nguyện hoằng
dương Phật pháp, làm lợi ích chúng sanh.
C: Nhưng chúng mình đã làm lợi ích gì cho
chúng sanh đâu? Ăn rồi lo ba cái đám con nít cũng chưa xong,
mình thấy mình vô dụng quá! Nghe ai nói mình đang đi trên con
đường Bồ-tát, mình thật xấu hổ vô cùng!
A: Ai bảo bạn so sánh với đức Quán Thế Âm
làm chi? Bồ-tát cũng có nhiều mức độ chứ! Chúng mình chăm sóc
một đàn em chẳng hạn, hằng tuần bạn phải đón các em đi sinh
hoạt, đưa các em về nhà, đến Đoàn chúng ta dạy các em học Phật
pháp, hoạt động thanh niên, cho các em vui chơi, giải trí lành
mạnh và phát triển trí óc... coi như chăm sóc đời sống trí tuệ
và sức khỏe cho các em, thay cha mẹ các em một ngày Chủ nhật, có
nhiều khi đưa các em về, các em đói bụng ta phải lo cho các em
ăn, v.v... như vậy là ta đã làm lợi ích cho chúng sanh rồi! Các
em của chúng ta cũng là chúng sanh chứ bộ!!
J
J!!
B: Phải! Phải! Chúng ta đã đưa các em đến
gần với Phật pháp; chúng ta thường dạy cho các em và cũng như tự
nhắc nhở chúng ta “Sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp
người bớt khổ”, như vậy là chúng ta không chỉ biết lo cho
bản thân mình mà còn nghĩ đến người khác, đó là tâm địa Bồ-tát
chứ còn gì nữa?
C: Mình đồng ý với các bạn rồi, nhưng mình
nghe nói muốn tu Bồ-tát đạo thì phải phát tâm Bồ-đề, mình không
nhớ mình đã phát tâm vào lúc nào, còn các bạn có nhớ không?
A: Thì hồi nãy bạn B đã nói rồi đó, chúng
ta không những chỉ phát tâm, phát nguyện một lần mà đã nhiều lần
rồi. Này nha, vào GĐPT đeo hoa sen là đã phát nguyện làm một
đoàn sinh GĐPT “trở thành Phật tử chân chánh sống đúng theo tinh
thần Phật giáo” như vậy không phải là phát tâm cầu đạo Vô Thượng
rồi sao? Rồi mục đích GĐPT là đào tạo những con người tốt có đạo
đức, và góp phần xây dựng xã hội… như vậy là mục đích hướng đến
mọi người, hướng đến cộng đồng, hướng đến tha nhân; đó chính là
tâm Bồ-tát, không phải sao?
B: Rồi đến làm huynh trưởng chúng ta đi bao
nhiêu trại huấn luyện thì mỗi lần kết thúc trại chúng ta đều
phát nguyện, nghĩa là phát tâm rộng lớn (phát Bồ-đề tâm) và lập
nguyện kiên cố không thối chuyển trong nghề huynh trưởng của
mình, cái nghề suốt đời lo cho thế hệ đàn em.
C: A, mình nhớ ra rồi! Chúng ta có học
Khuyến phát Bồ-đề tâm văn của ngài Thật Hiền phải không? Rồi
mình còn tóm tắt là phải phát tâm chân, chính, đại, viên chứ
đừng phát tâm kiểu ngụy, tà, tiểu, thiên đó mà!
A: Đúng vậy, tâm Bồ-đề được biểu hiện qua
ba tâm thái chủ yếu, đó là: Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm.
Trực tâm là tâm ngay thẳng chánh trực không quanh co, đó chính
là tâm thánh thiện của mình. Tu Trực tâm là phát triển con mắt,
cách nhìn và tấm lòng ngay thẳng không thành kiến cố chấp hay
thiên vị.
B: Còn Thâm tâm là khuynh hướng hành thiện,
nuôi lớn và tích tập căn lành phát triển cho đến chỗ toàn thiện
và Đại bi tâm là tình thương vô hạn, là tính vị tha, bình đẳng
với mọi người, là lòng lân mẫn, đức hy sinh, có thể quên mình để
đem lại hạnh phúc cho người.
C: Phải rồi, con đường phát triển tâm Bồ-đề
gọi là con đường Bồ-tát đi hay Bồ-tát đạo.
A: Người mới phát tâm thì gọi là Bồ-tát sơ
phát tâm; người đã phát triển tâm Bồ-đề đến chỗ viên mãn thì gọi
là Phật.
B: Theo kinh Hoa nghiêm, người đi
trên con đường Bồ-tát phải trải qua những giai đoạn tiến hóa về
tâm linh: từ phàm phu lên Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập
hồi hướng và Thập địa.
C: Điều này thì các bạn phải nhắc lại cho
mình rõ ràng và chi tiết hơn, chứ mình không học kinh Hoa
nghiêm và cũng không tụng kinh Hoa nghiêm bao giờ cả!
A: Giai đoạn phàm phu là giai đoạn chưa
phát tâm tu hành; giai đoạn này chắc là anh em mình đã qua, vì
chúng mình đã phát tâm tu hành rồi mà! Tiếp đến là giai đoạn
Thập tín, là hướng cuộc đời mình về Đạo pháp; chúng ta chắc đang
ở trong giai đoạn này. Thập trụ là giai đoạn rèn luyện công phu
thiền định, chuyển hóa phiền não. Trọng tâm tu hành trong giai
đoạn này là phát triển Trực tâm
B: Thập hạnh là giai đoạn mà người tu khai
triển lòng đại bi, kết duyên với chúng sanh, giáo dục chúng sanh
và hóa độ chúng sanh; Thập hồi hướng là giai đoạn phát triển đều
khắp ba tâm: Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm và Thập địa là
giai đoạn cuối cùng trước khi Bồ-đề tâm viên mãn, ấy là dứt trừ
vọng tâm, không còn phiền não…
C: Nghe các bạn trình bày mình nghĩ rằng
quá trình tu tập không phải rạch ròi từng giai đoạn, phải từ 1
đến 2, từ 2 đến 3… mà nội dung tu tập hòa quyện lẫn nhau, ví dụ
khi chúng ta hướng đời mình vào Đạo thì mình cũng đồng thời phát
Bồ-đề tâm và phát triển các Tâm: Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi
tâm chứ hả?
A: Nói một cách tổng quát thì như vậy nhưng
phương pháp tu hành theo Hoa nghiêm thì Thập tín là giai
đoạn đầu tiên vào Đạo; trong giai đoạn này trọng tâm tu tập là
về Thân hạnh, gồm có hai công hạnh chính: Cúng dường chư Phật và
thân cận thiện hữu.
B: Phải rồi, xong đến Tâm hạnh; Tâm hạnh
chú trọng việc chuyển hóa tâm tư tình cảm, cũng có hai công hạnh
chính, đó là nhu hòa và nhẫn nhục. Cuối
cùng của Tu thập tín là Tánh hạnh, hai pháp tu chủ yếu của giai
đoạn này là Thâm tâm bình đẳng và Từ bi thâm hậu.
C: Cảm ơn các bạn rất nhiều, mình tóm tắt
lại nha: Thân hạnh là tu cúng dường chư Phật để có lòng Tin, gần
gũi thân cận thiện tri thức để học hỏi chánh kiến chánh hạnh.
Tâm hạnh là huấn luyện Tâm nhu hòa, lời ái ngữ, hành động nhẹ
nhàng, tập nhẫn nhục chịu đựng nghịch cảnh, để phát triển trí
tuệ và Tánh hạnh là huân tập tâm khiêm hạ, bình đẳng vị tha đối
với mọi người, biết tha thứ khoan dung và tận tụy với tha nhân.
A: Như vậy là bạn nắm vững vấn đề rồi, bây
giờ chúng mình phải “giải quyết” chuyện “Bồ-tát tại
gia” cho bạn nữa, bạn B có ý kiến gì không?
B: Bồ-tát tại gia theo mình nghĩ là người
tu tại gia đã thọ Bồ-tát giới. Nếu là vậy thì người ấy đã thọ 5
giới rồi (giống như chúng mình lúc qui y), đã thọ 10 giới rồi
(Thập thiện) và sau đó mới thọ giới Bồ-tát tại gia. Mình nói
theo sách vở thôi chứ mình chưa thọ Bồ-tát giới nên không chính
xác đó nha, bạn C phải tra cứu lại !
J
J!!
C: Như vậy người tu tại gia có phải là
Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di không?
A: Phải! Bốn chúng đệ tử đồng tu của đức
Phật là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni (xuất gia) và Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di
(tại gia). Bồ-tát giới dành cho hàng Xuất gia gồm 58 điều giới
với 10 điều trọng và 48 điều khinh. Còn Bồ-tát giới dành cho
người tại gia thì gồm 34 điều giới, trong đó 6 điều trọng và 28
điều khinh.
B: Như vậy, sáu giới trọng Bồ-tát giới của
người Phật tử tại gia phải giữ gồm 4 giới như của chúng ta cộng
thêm 2 giới nữa (hơi khác một chút): 1. sát, 2. đạo, 3. dâm, 4.
vọng, 5. không nói xấu bốn chúng, 6. không bán rượu.
C: Như vậy, người Bồ-tát tại gia được uống
rượu sao?
A: Cái này chắc phải hỏi lại các anh chị đã
thọ giới Bồ-tát tại gia mới biết được.
B: Mình nghĩ rằng giới thứ 6 của Bồ-tát tại
gia phải ghi lại rằng “không mua/bán/uống rượu” mới được. Bạn C
còn điều gì thắc mắc nữa không?
C: Bây giờ mình hết thắc mắc rồi và nghĩ
rằng ACE chúng mình đeo hoa Sen với Năm cánh trên là Năm hạnh,
ba cánh dưới tượng trưng cho ba ngôi Tam bảo, có nghĩa là ACE
mình đã tu tập Thân hạnh, Tâm hạnh và Tánh hạnh rồi. Ngoài ra
đối với các em mình (không muốn cũng không được) luôn kiên nhẫn
trong việc giáo dục các em từ dạy tiếng Việt đến dạy Phật pháp,
chịu đựng các em khó tính khó nết, mà vẫn dịu dàng không la mắng
to tiếng hay đánh đập các em, như vậy chúng mình cũng xứng đáng
được gọi là đang tu hạnh Bồ-tát và đang đi trên con đường của
Bồ-tát.
A: Như vậy là bạn đã “ngộ” rồi đó!
B: Đúng vậy! Chúc mừng bạn đã ngộ đuợc một
điều rất lý thú.
C: Cũng nhờ các bạn nhắc nhở; buổi nói
chuyện này đối với mình thật lợi lạc, cảm ơn các bạn vô cùng!
Xin tạm biệt, hẹn gặp lại lần sau!
A & B: Tạm biệt! Tạm biệt!■
56. Âm Nhạc
Phật Giáo
trong GĐPT
Kính thưa quí vị và các bạn,
Chương trình tu
học của đoàn sinh Gia Đình Phật Tử (GĐPT) gồm có Phật pháp, Hoạt
động thanh niên, Văn nghệ, và Hoạt động Xã hội. (Riêng ở Hải
ngoại còn có thêm bộ môn Việt Ngữ).
Vì vậy, văn nghệ nói chung, âm nhạc nói
riêng, là một trong các bộ môn tu học của đoàn sinh GĐPT. Vì mục
đích của GĐPT là truyền bá đạo Phật đến thiếu nhi nên phải cho
các em “học mà chơi, chơi mà học” chứ không thể chỉ đến Đoàn để
học Phật pháp không thôi. Vì vậy, Văn nghệ cũng như Hoạt động
thanh niên là những môn học để “hấp dẫn” các em đến với tổ chức.
Văn nghệ GĐPT gồm có báo chí, ca, múa, nhạc, kịch, hội họa, điêu
khắc… dùng để chuyển tải văn hóa Phật giáo cũng như văn hóa dân
tộc đến với đoàn viên GĐPT. Chính vì vậy, âm nhạc nói riêng hay
văn nghệ nói chung của GĐPT có màu sắc đặc biệt, không giống của
những đoàn thể thanh niên khác trong xã hội. Một ví dụ nhỏ, một
vở kịch, cho dù là hài kịch cũng phải có nội dung luân lý đạo
đức hay Phật pháp chứ không được dùng những từ ngữ bất lịch sự,
suồng sã,… như ở ngoài đời. Âm nhạc GĐPT cũng vậy, gồm những
sáng tác của những huynh trưởng đang sinh hoạt hay đã nghỉ sinh
hoạt, những nhạc sĩ gốc Phật tử, hay có cảm tình với GĐPT,
v.v... những bài ca ấy đều có nội dung ca ngợi đạo Phật, tình
Lam, sự tu tập, cúng dường chư Phật, chư Bồ-tát, v.v... với nét
nhạc vui tươi, trong sáng chứ không ca ngợi những tình cảm lãng
mạn, yếu đuối với những làn điệu sướt mướt như ngoài đời nên âm
nhạc đó có thể được gọi là âm nhạc Phật giáo.
Để đi sâu vào chi tiết, ví dụ quá trình
phát triển âm nhạc Phật giáo ở trong nước và hải ngoại cũng như
để biết thêm về những huynh trưởng nhạc sĩ hay những nhạc sĩ ái
hữu của GĐPT ở khắp nơi, chúng tôi xin mời quý vị và các bạn
cùng theo dõi cuộc hội thoại bỏ túi giữa những huynh trưởng A,
B, C quen thuộc của chúng ta trong đề tài này.
A: Hôm nay, chúng ta nói về Âm nhạc Phật
giáo hả??? Sao mà rộng lớn vậy?
B: Đâu có, chúng ta chỉ nói đến âm nhạc
trong GĐPT mà thôi, nhưng nhạc sinh hoạt của chúng ta thường có
nội dung Phật pháp, tu học, v.v... nên gọi là âm nhạc Phật giáo
cũng đúng thôi!
C: Đúng vậy, ngay cả nhạc trình diễn, nghĩa
là có thể hát đơn ca trong các buổi trình diễn văn nghệ sân khấu
hay văn nghệ lửa trại cũng có nội dung Phật pháp hay luân lý với
lời ca và nhạc điệu trong sáng, thanh thoát, nhẹ nhàng... nên
cũng xứng đáng được gọi là âm nhạc Phật giáo chứ bộ!
A: Đồng ý, nhưng có điều hơi buồn là ngày
xưa, văn nghệ GĐPT nói chung, nhạc PG của GĐPT nói riêng, rất có
giá nha, hơn xa bây giờ! Nghe nói ở Huế, những đêm văn nghệ sân
khấu do GĐPT tổ chức mỗi dịp Phật đản hay Vía xuất gia chẳng
hạn, xuất sắc lắm nha, vé bán không đủ nữa đó!
B: Đúng vậy, các anh chị lớn kể lại, hồi đó
GĐPT tổ chức những đêm văn nghệ sân khấu với những bài ca, vở ca
kịch, hoạt cảnh, v.v... đều là của những tác giả huynh trưởng
GĐPT hết!
C: Đến nay cũng còn lưu truyền, như vở kịch
Mùa Gặt Ác, Suối Từ, Thoát Ngục Vàng của huynh trưởng Nguyên
Hùng. Những nhạc sĩ huynh trưởng như Nguyên Phương Hoàng Trọng
Cang, Lê Cao Phan, Đỗ Kim Bảng, Phạm Mạnh Cương, Anh Lạc Nguyễn
Đình Luyện, Lê Mộng Nguyên, Lê Mộng Bảo, Dương Xuân Dưỡng, Dương
Xuân Nhơn, Ngô Mạnh Thu, v.v…
A: và sau này cũng có nhiều huynh trưởng
nhạc sĩ như Như Vinh Nguyễn Văn Xứng, Nguyên Định Bửu Ấn, Đức
Quảng Nguyễn Hoàng Phụng và những HTr. nhạc sĩ bên Âu Châu, Úc
Châu nữa… Ngoài ra, còn có các vị Tăng Ni trẻ trong nước cũng
như HN nữa.
B: Đúng vậy, về âm nhạc, GĐPT chúng ta có
thật nhiều nhân tài, đó là chưa kể những bài Thiền ca từ các đạo
tràng tu học khắp nơi từ trong nước ra tới hải ngoại với các
nhạc sĩ vô danh (nghĩa là các bài ca mà chúng ta thường hát
không thấy ghi tên tác giả !!J
J !! )
C: Còn ca sĩ gốc Phật tử và GĐPT cũng nhiều
nha! Ví dụ như Hà Thanh, Thanh Thúy, Thanh Mai, Bảo Yến, Quang
Lê, Ngọc Hạ, Trang Mỹ Dung, Mộng Lan, Trọng Nghĩa, v.v...
A: Cũng phải nhắc lại là huynh trưởng GĐPT
ngày xưa rất nhiều vị vừa là Hướng đạo sinh (boy Scout) nữa như
anh Phan Cảnh Tuân (hiện nay là thầy Phổ Hòa), anh Lê Cảnh Đạm,
anh Lê Bá Ngữ, v.v... nên GĐPT cũng dùng chung những bài hát của
Hướng Đạo, miễn là có nội dung thích hợp với GĐPT.
B: Phải đó, vì Hướng Đạo không cứ phải là
Phật tử, họ không cần ăn chay, không cấm sát sanh như Anh Chị Em
mình nên họ dạy cho đoàn sinh đi câu cá, bắt chim, đi săn bắn,
làm bẫy, v.v... là những điều mình không dạy cho các em mình.
C: Ồ vậy hả? Nhưng đâu có bài hát nào nói
chuyện đi săn đâu!!
A: Có chứ, không phải dạy đi săn nhưng ví
dụ như bài “Con Cò” có lời ca bắt đầu như vầy: “Ta ra thăm đồng
đêm tối không trăng sao…” gặp được một chú cò, anh ta nói “Cò ơi
mi chớ hòng tha!”, rồi sẵn dây anh ta bắt chú cò, đem trói lại
rồi hẹn sẽ về nướng chú cò lên để “chén” _ cái này Anh Chị Em
mình đâu có được! (điều luật của Oanh Vũ: “em thương người và
loài vật”, thì phải bảo vệ loài vật chứ, sao thấy con cò đi ăn
đêm lại bắt về làm thịt ăn!!)
B: Vì vậy, âm nhạc GĐPT có thể nói là âm
nhạc Phật giáo (PG) vì nó phản ảnh tinh thần từ bi của PG, trong
cái vui cũng phải có chừng mực, không sa đà để rồi phạm giới đã
phát nguyện.
C: Đúng rồi, kỳ đi trại ở một khu đất trại
có cái hồ lớn mà chủ nhân cho câu cá thoải mái, thế nhưng huynh
trưởng và đoàn sinh chúng mình không ai nghĩ đến chuyện câu cá
cả khiến chủ nhân ngạc nhiên và có phần nể nữa!
A: Âm nhạc GĐPT, theo các bạn có mấy loại?
B: Mình thấy có các loại sau đây: 1. Nhạc
sinh hoạt; 2. Nhạc Đạo; 3. Nhạc Lễ; 4. Thiền Ca.
C: Mình cũng đồng ý cách phân chia của bạn
B; ví dụ loại 1: Nhạc sinh hoạt như những bài Gia Đình Thân Ái,
Vui Dựng Gia Đình, Kết Đoàn, Em Đến Chùa, v.v... loại này nhiều
vô số; 2. Nhạc Đạo như “Đêm Thành Đạo”, Trái Tim Bồ-tát, Từ Đàm
quê hương tôi, v.v... 3. Nhạc lễ như những bài chỉ hát trong khi
làm lễ Chào cờ Sen Trắng, hay chào cờ Phật giáo hay lễ Phật, ví
dụ: “Trầm Hương Đốt”, “Phật Giáo Việt Nam”, Đóa Sen Trắng, v.v...
4. Thiền Ca như “Đây là Tịnh độ”, “Sáng nay đi thiền hành”, “Mặt
trời hồng tỉnh thức” v.v...
A: Các bạn dài dòng quá!
J
J !! Đáng lẽ các bạn
chỉ trả lời mình: hãy xem cuốn sách Nhạc “ánh Đạo Vàng” của anh
Đức Quảng đã xuất bản cách đây mấy năm, với hơn 500 bài hát ảnh
sưu tầm cả Nhạc và Lời thì biết ngay! Tuy nhiên, mình muốn hỏi
các bạn một điều nữa: những bài nhạc xưa có còn thích hợp với
tuổi trẻ hôm nay không?
B: Về tinh thần, nội dung thì mình thấy
không có gì cũ cả, nhưng với các em của chúng mình ở hải ngoại,
tiếng Việt không rành nên những bài dài quá các em không thuộc
được, trở ngại cho sinh hoạt chung.
C: Đúng vậy, cho nên phải soạn lại những
bài hát sinh hoạt sao cho ngắn, ít từ khó và dễ nhớ, dễ thuộc
như bài “Yêu Mến Mẹ Cha” chẳng hạn, với Oanh Vũ thì những bài
hát kèm theo điệu bộ càng tốt.
A: Phải đó, cố huynh trưởng nhạc sĩ Bửu Ấn
đã có nhận xét: “Cuộc sống của tuổi trẻ hôm
nay so với 40 năm trước đã có quá nhiều xáo trộn và đổi thay, cả
về vật chất lẫn tinh thần, chúng ta phải làm cách nào để phát
huy hiệu quả tốt nhất cho bộ môn văn nghệ theo đúng đường hướng
GĐPT, Phật giáo và Dân tộc vì văn nghệ (âm nhạc nói riêng) đóng
vai trò hấp dẫn trong vui chơi giải trí mà cũng là một phương
tiện huân tập sâu sắc, nhẹ nhàng và vững chắc, dễ thấm sâu tinh
thần Phật giáo, dân tộc, tuổi trẻ khi vào đời…”
B: Đúng rồi, nhưng đó là việc đại sự, ngoài
buổi hội luận của ACE mình, xin nói thêm: âm nhạc GĐPT còn có
một đặc điểm nữa là không phân biệt nhạc trong nước hay nhạc ở
hải ngoại, tất cả đều có Đạo vị, GĐPT và màu Lam; và được nhanh
chóng phổ biến trên Net nên Anh Chị Em trong nước và ngoài nước
(cả Âu Châu, Úc Châu, Hoa Kỳ và Canada) đều biết.
C: Để kết thúc, mình xin đề nghị mỗi người
chúng ta hát một bài mà chúng ta thích nhất và theo thứ tự,
người bắt đầu hát một bài ca sinh hoạt, người tiếp theo hát một
bài nhạc Đạo còn người thứ ba phải hát hai bài, một bài nhạc Lễ
và một bài Thiền ca.
A: Được thôi nhưng chúng mình “hát” mà ghi
lên giấy thì chỉ có lời thôi chứ đâu có nhạc!
B: Nhạc thì xem trong cuốn sách nhạc của
anh Đức Quảng đó.
C: Phải rồi! Mình xin bắt đầu trước bằng
một bài ca sinh hoạt mà mình thích: Anh em
ta về cùng nhau ta sum họp này: 1, 2, 3, 4, 5.
Anh em ta về cùng nhau
ta sum họp này: 5, 4, 3, 2, 1.
1 đều chân bước nhé, 2
quay nhìn nhau đi, 3 cầm tay chắc nhé, không muốn ai chia lìa, 4
nhớ rằng chúng ta bốn bể anh em một nhà, 5 nhớ mãi tình này
trong câu ca!
A: Mình xin hát bài nhạc Đạo:
Con về nương tựa Phật,
người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời! Nammo Buddhaya.
Con về nương tựa Pháp,
con đường của tình thương và sự hiểu biết! Nammo Dharmaya.
Con về nương tựa Tăng,
đoàn thể của những ai nguyện sống cuộc đời tỉnh thứ! Nammo
Sanghaya.
B: Đến phiên mình, xin hát một bài thiền ca
mình thích vì bài bạn A vừa hát gọi là nhạc Lễ cũng được mà nhạc
Đạo cũng được:
Đây là Tịnh độ, Tịnh
Độ là đây!
Thở vào Chánh niệm, An
trú hôm nay
Phật là lá chín, Pháp
là mây bay,
Tăng thân khắp chốn,
Quê hương nơi này.
Thở vào hoa nở, Thở ra
trúc lay
Tâm không ràng buộc,
Tiêu dao tháng ngày.
A: Như vậy là đầy đủ cho buổi hội luận hôm
nay rồi nha! Xin tạm biệt!
B và C: Tạm
biệt! Tạm
biệt!■
57. Tịnh
độ là đây
Kính thưa quí vị và các bạn,
Cách
đây trên 10 thế kỷ, Lục Tổ Huệ Năng đã giải thích cho đồ chúng
của Ngài về cõi Tịnh độ ở Tây phương vì có người thắc mắc rằng:
“Chúng con nghe nói dù Tăng hay tục, nếu
thường niệm A-di-đà Phật và nguyện vãng sanh Tây phương thì khi
lâm chung sẽ được vãng sanh, điều này có thực hay không? Xin Đại
sư giải mối nghi cho chúng con”.
Lục Tổ đáp: đức Thế Tôn lúc ở
nước Xá-vệ, đã thuyết giảng về Tây phương Cực Lạc để giáo hóa
chúng sanh. Kinh văn đã nói rõ ràng, “từ quốc độ này hướng về
phương Tây qua 10 vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực
Lạc”. Các ông có biết rằng trừ được
10 điều ác tức là đã đi được 10 vạn ức cõi Phật, diệt được 8
điều tà là đã vượt qua được 8 muôn ức cõi Phật, v.v... hay không?
nhưng nếu tu hành với chân tâm thì sẽ đến Tây phương trong chớp
mắt! Còn trái lại, nếu các ông không đoạn cái Tâm làm 10 điều ác,
thì Phật nào đến đón ông đây!! Cho nên đức Phật mới nói, “Tâm
tịnh là Phật độ tịnh”.
Như vậy, từ ngàn xưa, đã có
Thiền trong Tịnh độ và Tịnh độ không khác Thiền, chỉ có Tâm
chúng ta là phân biệt búa xua, chia chẻ đủ điều rồi khi thì khen
Thiền chê Tịnh, khi lại khen Tịnh chê Thiền… loay hoay chọn pháp
môn hoài mà cuối cùng không tu theo pháp môn nào cả!! Chỉ hăng
say cãi nhau về các pháp môn thôi!☺☺!!
Cụ thể, một vài Anh Chị Em
chúng ta chưa hề đọc qua kinh A-di-đà;
kinh Pháp Hoa thì có đọc được vài
phẩm và có khi không biết kinh Hoa Nghiêm
nói cái gì trong đó; vì vậy các huynh trưởng trẻ hôm nay
muốn tìm hiểu về kinh A-di-đà, một
bộ Kinh mà hầu hết các Chùa đều sử dụng trong buổi công phu
chiều.
Xin mời quí vị và các bạn theo
dõi với tấm lòng bao dung và chỉ bảo cho những chỗ còn sai sót
trong cuộc hội thoại bỏ túi này.
Xin chân thành tri ân.
A: Hôm nay chúng ta tìm hiểu
kinh A-di-đà phải không các bạn?
B: Phải đó! Mà các bạn có để ý
không? Chương trình tu học Phật pháp của huynh trưởng qua các
bậc Kiên, Trì, Định, Lực, đâu có kinh A-di-đà?
C: Ừ, thật lạ quá, hay là chúng
ta đọc sót chăng?
A: Không đâu, vì từ bậc Trì trở
lên mới có các bộ Kinh; này mình đọc tên các kinh nha: Đại
phương tiện Phật báo ân, Thiện Sinh, An ban Thủ Ý, Di Giáo, Bát
Đại Nhân Giác, Hiền Nhân, Pháp Bảo Đàn, Thắng Man, Duy-ma-cật,
Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Kim Cang, Hoa Nghiêm, v.v...
B: Có lẽ vì Kinh này đặc biệt,
toàn là do đức Phật thuyết từ đầu tới cuối, tôn giả Xá-lợi-phất
và đại chúng lắng nghe chứ không hề nêu câu hỏi để đức Phật giải
đáp thắc mắc như các Kinh khác.
C: Cũng có thể vì chùa nào cũng
tụng kinh A-di-đà trong buổi công
phu chiều nên ACE chúng ta ai cũng được nghe, vì vậy không đưa
vào chương trình tu học huynh trưởng.
A: Đó là lý do hôm nay chúng ta
tìm hiểu về kinh A-di-đà đây nè!
B: Chúng ta cũng đi theo trình
tự như một buổi học kinh nha; nghĩa là chúng mình phân công
trình bày, giới thiệu từng đoạn kinh cùng với những thắc mắc
cũng như những bài học tâm đắc của mình…
C: Đồng ý, bây giờ bạn A bắt
đầu đi nha, vì mình chỉ biết sơ sơ không thể bắt đầu giới thiệu
bao quát được.
A: Kinh A-di-đà
mà chúng ta đang có trong tay là cuốn Kinh phổ biến nhất trong
các Chùa, đó là bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập (Kumarajiva),
mở đầu là Kỳ-viên đại hội, giới thiệu đức Phật và thính chúng
của Ngài gồm 1250 vị đều là các bậc A-la-hán nổi tiếng. Ngoài ra
còn có các vị Bồ-tát, và cả các vị Vua Trời, v.v... đều đến tham
dự nghe Kinh.
B: Một điều đáng chú ý là niềm
tin vào đức Phật A-di-đà cũng tồn tại trong Mật giáo nữa (có bài
chú tên là A-di-đà Như Lai Căn bản Đà-la-ni).
C: Chỉ phần giới thiệu này
không thôi, chúng ta đã có biết bao nhiêu bài học rồi, ví dụ về
ngài Xá-lợi-phất, ngài Mục-kiền-liên, ngài Ca-diếp…
A: Đúng vậy, nhưng chúng ta đâu
có dừng lại như vậy, chúng ta phải giới thiệu tiếp về các phần
của Kinh chứ! Phần thứ hai là phần Y báo - Chánh báo; đức Phật
mô tả cõi nước Cực Lạc của đức Phật A-di-đà, được trang nghiêm
bằng những hồ sen hoa nở đủ màu, rất đẹp; ở đó không có khổ mà
chỉ có an lạc và hạnh phúc.
B: Phần thứ ba là Y báo trang
nghiêm; phần này mô tả cảnh vật ở cõi Cực Lạc vô cùng thù thắng:
Ở cõi Phật đó thường nghe tấu nhạc Trời, và ngày đêm 6 lần có
mưa hoa mà hoa tên là Mạn-đà-la. Phần thứ tư là Chánh báo Vô
lượng Thù thắng, đức Phật cho biết chúng sanh trong cõi nước đó
mỗi buổi sáng sớm đều đi hái những bông hoa tươi đẹp cúng dường
vô số Phật ở các thế giới khác, rồi buổi trưa đến giờ ăn thì trở
về quốc độ của mình dùng cơm và đi kinh hành.
C: Trong phần trang nghiêm cõi
Phật còn có các giống chim quý như Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vũ…
ngày đêm 6 thời tập họp nhau lại cùng cất tiếng hót; trong âm
thanh đó, người ta nghe được những bài Pháp về Năm Căn, Năm Lực,
Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh Đạo, v.v... Chúng sanh ở trong quốc độ
ấy khi nghe tiếng chim hót liền phát khởi tâm niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng…
A: Điều vi diệu là những loại
chim này không phải là súc sanh do nghiệp báo sinh ra vì ở cõi
Cực Lạc không có ba đường ác (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh) mà
chính là do đức A-di-đà biến hóa để diễn nói Pháp Âm.
B: Thiên nhiên (Y báo) ở cõi
nước đó gồm những hàng cây báu, những lưới có mắc chuông báu,
lay động trước gió phát ra những âm thanh vi diệu, tuyệt vời
không khác gì nhạc Trời do thiên thần hòa tấu.
C: Chúng sanh ở cõi Cực Lạc khi
nghe được những âm thanh vi diệu ấy liền khởi tâm niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng.
A: Trong phần Chánh báo vô
lượng thù thắng, đức Phật còn dạy rằng số lượng tuổi thọ của đức
Như Lai ở cõi nước Cực Lạc cũng như chúng sanh trong cõi nước ấy
không thể tính đếm được, vì vậy mà danh hiệu của đức Như Lai ấy
là Vô Lượng Thọ.
B: Phần thứ 5 của Kinh là Nhơn
Hạnh Vãng Sanh, nghĩa là do nguyên nhân gì mà được vãng sanh về
Cực Lạc; đức Phật dạy: Những chúng sanh đã sanh về cõi nước đó
đều là những bậc thanh tịnh Bồ-tát không còn thối chuyển, và số
lượng những vị ấy rất đông, không thể đếm được, chỉ có thể nói
là vô lượng vô biên mà thôi!
C: Đức Phật cũng dạy: nếu có
chúng sanh nào nghe nói đến đức Phật A-di-đà mà phát khởi lòng
tin, niệm danh hiệu Ngài từ 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, v.v… với
nhất tâm bất loạn và khi lâm chung, tâm người ấy không điên đảo
thì cũng được vãng sanh về cõi Cực Lạc, có đức Phật A-di-đà đến
đón.
A: Phần thứ sáu của Kinh là sáu
phương chư Phật đều khuyến tu. Đức Phật cho biết trong khi đức
Phật đang tán thán công đức các việc “không thể nghĩ bàn” như
thế thì chư Phật ở sáu phương khác (Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên,
Dưới) cũng làm như vậy. Nên đức Phật khuyên chúng ta nên tin
tưởng vào lời Phật dạy, đừng nên nghi ngờ.
B: Kinh này còn được gọi là
“Kinh được tất cả chư Phật hộ niệm” vì bất cứ chúng sanh nào
nghe tên Kinh này và danh hiệu của các Như Lai ấy thì sẽ được
tất cả chư Phật hộ niệm và đạt được quả vị bất thối chuyển nơi
tuệ giác vô thượng.
C: Mình thấy danh hiệu của chư
Phật trong Kinh thật là hay và nhiều, hình như đều có ý nghĩa
biểu tượng hết; ví dụ ở thế giới phương Tây thì có các đức Phật
Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Tướng, Vô Lượng Tràng… phương Trên thì có
các đức Phật Hương Thượng, Hương Quang, Phạm Âm, Tú Vương, Như
Tu Di Sơn… Nếu chúng ta biết rõ hơn về công hạnh của các đức
Phật đó thì hay quá hở các bạn?
A: Nếu vậy thì bạn phải ở lại
ít nhất là một kiếp nữa để nghiên cứu đầy đủ về vấn đề bạn muốn
biết! Bây giờ mình tiếp tục phần cuối của Kinh là “Thuyết kinh
rất khó.” Đức Phật nói: việc mà ta đã làm ở cõi Ta-bà này cũng
là một việc khó làm, đó là khi ta đắc quả Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, vì tất cả chúng sanh mà thuyết Pháp khó tin này
trong đời ác ngũ trược này (kiếp trược, kiến trược, mạng trược,
chúng sanh trược, phiền não trược).
B: Như vậy là chúng mình cũng
nắm được đại ý kinh A-di-đà và nội
dung qua bảy phần vừa trình bày rồi; từ đây ai hỏi mình có thể
nói lại được chứ không để bị bối rối vì chỉ nghe được những câu
đức Phật gọi “này Xá-lợi-phất”, “lại nữa Xá-lợi-phất”, v.v... đó
nha!
C: Nhưng các Bạn hãy kết luận
giùm mình đi: Tịnh độ là đây hay ở phương Tây? Mình rất phân vân
vì trong Pháp Bảo Đàn thì chúng ta có thể đến Tây phương Cực Lạc
trong chớp mắt còn ở đây thì phải là Bồ-tát bất thối chuyển, tâm
hoàn toàn thanh tịnh, không chút nhiễm ô.
A: Thì bạn cứ xem như vấn đề gì
cũng có hai mặt: Lý và Sự; khi chưa đủ trình độ để hiểu rốt ráo
nghĩa Kinh, chúng ta hãy hiểu phần Lý. Trong cuộc sống đời
thường này, thỉnh thoảng bạn cũng có những lúc thấy lòng mình
thanh thản, nhẹ nhàng, nhất là những lúc một mình mình được đối
diện với thiên nhiên: trời, biển, núi, cỏ cây, v.v... Bỏ tất cả
những lo âu lại phía sau, mình ngắm trăng, sao, mặt trời, núi
đồi, nghe chim hót… mình cảm thấy như tan vào không gian rộng
lớn, mình với vũ trụ là MỘT và cái cảm giác ấy chính thực “Đây
chính là Tịnh độ” - tất nhiên giây phút ấy rất nhanh chóng qua
đi để trả lại mình với đời thường, tâm lại bị phiền não làm ô
nhiễm… khó thấy Tịnh độ, Tây phương, Cực Lạc được.
B: Ngoài ra, có đôi khi trong
cuộc sống, mình đã làm được những “việc thiện to lớn” như thay
đổi được cái nhìn của một người nào đó, họ trở nên cởi mở hơn,
và từ đó hạnh phúc hơn… họ đến cảm ơn mình. Trong giây phút đó,
mình cảm thấy mình còn hạnh phúc hơn họ nữa, mình mới là người
phải cảm ơn. Ngay lúc ấy chính là mình đang sống ở cõi Tây
phương Cực Lạc vì Cực Lạc là cực kỳ an lạc, hạnh phúc, phải
không các bạn?
C: Mình hiểu rồi, và mình cũng
hiểu rằng muốn đến cõi Tây phương Cực Lạc trong nháy mắt thì
phải niệm Phật nhất tâm chứ không phải dễ đâu!☺☺!!
A: Như vậy cũng tạm đủ cho buổi
hội thoại hôm nay rồi nha! Hẹn gặp lại các bạn! Tạm biệt!
B và C: Tạm biệt! Tạm biệt!■
58. Những
bài học Thành đạo
Kính thưa quí vị và
các bạn,
Đáng lẽ nhan đề của bài viết này là:
“Nhân Mùa Thành Đạo của đức Bổn sư Thích-ca
Mâu-ni, thử tìm hiểu về những bài học lớn mà Ngài đã đem lại cho
nhân loại.” Nhưng nếu viết đầy đủ thì quá dài nên xin
phép được ngắn gọn.
Mặc dù là Giáo chủ của một tôn giáo, đức
Thế Tôn luôn tự cho mình là một con người bình thường qua lời
tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, các người
là Phật sẽ thành”. Ngài không những không hiện
thần thông để chinh phục đại chúng, mà còn quở những vị đệ tử
dùng phương tiện thần thông để giáo hóa chúng sanh, vì thần
thông làm trở ngại trí tuệ. Ngài luôn dạy chúng ta hãy tin vào
trí tuệ của mình, Ngài nói “Hãy tự mình
thắp đuốc lên mà đi!”
Để điểm qua những bài học lớn mà đức Thế
Tôn đã cống hiến cho cuộc đời, chúng tôi xin mời quý vị và các
bạn theo dõi cuộc hội luận bỏ túi của những huynh trưởng trẻ
quen thuộc A, B, C… những người đã tìm hiểu và suy gẫm về vấn đề
này.
A: Chào các bạn, hôm nay chúng ta tìm hiểu
về vấn đề gì?
B: Về những bài học lớn mà đức Phật đã đem
lại cho thế gian này như tinh thần giáo dục của Ngài, lòng từ bi
rộng lớn của Ngài, v.v...
C: Đức Phật bảo rằng dù chư Phật có ra đời
hay không, Chân lý vẫn có và vẫn tồn tại; đức Phật cũng không
giành “bản quyền” hay quyền sáng chế những định luật Nhân quả,
Luân hồi, Nghiệp báo, Ngũ uẩn, 12 Nhân duyên, v.v...
A: Đúng vậy, mặc dù những định luật đó đã
có sẵn nhưng chính đức Phật đã phát hiện ra – và dạy cho đệ tử
của Ngài áp dụng vào cuộc sống để có an lạc và làm cho những
người chung quanh an lạc.
B: Và mình nghĩ rằng bài học đầu tiên mà
đức Phật để lại cho chúng ta (chúng ta cũng đại diện cho nhân
loại rồi phải không các bạn?!JJ!!)
là “Tất cả chúng sanh đều bình đẳng trong
giọt máu cùng đỏ và giọt nước mắt cùng mặn”.
C: Phải rồi! Mình cảm động nhất là câu
chuyện Thái tử Tất-đạt-đa cứu sống con ngỗng trời bị
Đề-bà-đạt-đa bắn bị thương – một em bé chưa được 10 tuổi mà đã
có lòng từ bi đáng nể như vậy, thật đúng là Bậc xuất thế! Mạng
sống của một con chim bé nhỏ cũng được Ngài quan tâm trong khi
những trẻ em bằng tuổi Ngài có thói quen bắn chim nướng ăn hay
phá tổ chim lấy trứng, v.v...
A: Mình thì cảm động nhất là câu chuyện
Ngài hóa độ cho người gánh phân Sunita và cho gia nhập Tăng đoàn
– đó là một cuộc cách mạng đối với xã hội Ấn Độ đương thời, một
xã hội có bốn giai cấp! Cuộc cách mạng đó còn “nổ” lớn hơn cuộc
cách mạng 1789 của Pháp vì các giai cấp trên phản ứng rất mạnh,
trong đó có vua chúa, giai cấp Bà-la-môn, v.v... là những giai
cấp xưa nay được toàn dân kính trọng. Nhưng cách mạng mà không
tốn một giọt máu nào vì đức Thế Tôn đã khéo léo chứng minh với
những người phản ứng rằng trí tuệ giải thoát không phụ thuộc vào
các giai cấp của xã hội đặt ra!
B: Vậy các bạn thấy không? Đức Phật của
chúng ta còn tài ba hơn Mục sư Martin Luther King, người đấu
tranh giải phóng dân da đen ở Mỹ cách đây mới 40 năm trên một
đất nước dân chủ, còn Ngài thì đã làm cách đây hơn 2500 năm
trong xã hội đại phong kiến!
C: Bạn đã “khen phò mã tốt áo” rồi! Thật
ra, Ngài không “đấu tranh” gì cả nhưng những việc làm của Ngài
có tác dụng “phá chấp”. Đa số người ta chấp vào giàu nghèo sang
hèn nên mới phân chia xã hội như vậy, còn dưới mắt Bậc giác ngộ
thì mọi người đều bình đẳng. Ngài đã thuyết phục được bằng cả lý
thuyết và thực tế cho mọi người thấy rằng, con người sang hay
hèn, cao thuợng hay hạ tiện là do những hành động của mình chứ
không phải do bẩm sinh.
A: Nếu có dịp mình phải kể cho mọi người
nghe những vị Tỳ-kheo xuất thân “hạ tiện” rất xuất sắc trong tu
tập thiền định cũng như lòng từ bi và trí tuệ của các tôn giả.
B: Đồng ý! nhưng bây giờ chưa được; chúng
ta phải nói tiếp về đề tài hôm nay. Mình cũng rất tâm đắc câu
chuyện nàng Ma-đăng-già mê hoặc tôn giả A-nan; A-nan sắp bị hại
thì được đức Phật cứu và sau đó Phật đã độ được cả nàng Ma-đăng-già
cũng xuất gia.
C: Mà Ma-đăng-già còn chứng quả A-la-hán
trước tôn giả A-nan nữa kia! À nói đến đây mới nhớ, đức Phật còn
là người “giải phóng phụ nữ” đồng ý cho phụ nữ gia nhập vào Tăng
đoàn cách đây hơn 2500 năm – trong khi mãi đến thế kỷ 21 rồi,
vẫn còn có tôn giáo không có nữ tu vì quan niệm lỗi thời “trọng
nam khinh nữ”!J
J!!
A: Tuy nhiên trong vấn đề này hình như tôn
giả A-nan mới là người có công lớn đó các bạn ạ!
B: Đúng vậy! Nhưng trên hết, đức Phật là
người quyết định có cho phép người nữ xuất gia hay không! Có một
điều thú vị nữa là các bạn có biết không? Theo lời của ngài
Narada Mahathera – tác giả cuốn “Đức Phật và Phật Pháp” (The
Buddha and His Teachings) – thì có một vị học giả tên là Lord
Zetland đã nói rằng người ta rất ngạc nhiên nhận thấy hình thức
Hội chúng và Tăng đoàn thời đức Phật cách đây hơn 2500 năm không
khác gì những mô hình căn bản tại các Thượng viện, Hạ viện ở các
quốc gia theo chế độ cộng hòa trong thời đại này.
C: Phải rồi, rất nhiều học giả nổi tiếng
như tiến sĩ Dhammananda (tác giả cuốn sách “What Is This
Religion?” hay triết gia Radha cho rằng giáo lý của đức Phật mặc
dù đã được giảng dạy cách đây hơn 25 thế kỷ, vẫn áp dụng được
một cách hết sức hữu hiệu và hài hòa trong thế kỷ mới.
A: Bởi vì những giáo lý của Ngài được rút
ra từ những suy tư của vị Đạo sư mà mục đích tối thượng là tìm
cách cứu khổ cho chúng sanh, với tâm vô ngã, với trí
bát-nhã cho nên đều đặt căn bản trên con người và vì con người.
Ngài tuyên bố mình là một con người bình thường và Đạo chính là
tâm bình thường (“Bình thường Tâm thị Đạo”). Cũng vậy, con người
tự làm chủ hạnh phúc hay đau khổ của chính mình chứ không có một
đấng thần linh nào ban phúc hay giáng họa cả.
B: Cho nên nhà văn Bertrand Russel đã ca
ngợi đạo Phật và tôn xưng đức Phật là “nhà
vô thần cao cả nhất của nhân loại trong tất cả các thời đại”
(the greatest atheist of all times)
C: Đúng quá, giáo lý cốt lõi của Phật giáo
là diệt trừ phiền não (để có an lạc) và sống với Tâm Phật bất
sinh, bất diệt có sẵn trong mỗi con người; nói theo danh từ Phật
giáo là “hàng phục vọng tâm và an trụ chơn tâm”.
A: Đức Phật, Ngài không chỉ là một triết
gia siêu đẳng, một nhà vô thần vĩ đại mà còn là một nhà khoa học
nữa. Không cần đến các học giả nổi tiếng, ngay chúng ta cũng có
thể chứng minh được, phải không các bạn?
B: Đúng vậy, ví dụ trong nước có hàng ngàn
hàng vạn vi trùng – ngày xưa đâu có kính hiển vi, nhưng đức Phật
đã biết điều này, điều mà khoa học hiện đại chỉ mới biết cách
đây vài trăm năm. Hay những sự hiểu biết về lý Duyên khởi, về sự
Tương tức, Tương nhập, v.v... là những nguyên lý mà vật lý học
hiện đại mới khám phá ra vào khoảng cuối thế kỷ thứ 20.
C: Còn nữa, đố các bạn đức Phật có dạy về
Thiên đàng và Địa ngục không?
A: Có chứ, nhưng đức Phật dùng danh từ Cực
Lạc, Tịnh độ, v.v...
B: Có phải bạn muốn nói rằng Thiên đàng và
Địa ngục ở ngay trong lòng mọi người, bởi vì khi lòng ta thanh
tịnh thì cõi Thiên đàng sẽ hiện ra còn khi ta ác độc hại người
thì đó chính là địa ngục, nơi lãnh quả của những việc ác hiểm,
v.v... có phải không?
C: Các bạn nói quá đúng rồi nhưng mình đâu
có nói sâu xa như các bạn; mình chỉ muốn kể câu chuyện ở bên
Nhật, giữa một vị tướng quân (võ sĩ đạo) và một thiền sư. Tướng
quân đến hỏi thiền sư là “Có Thiên đàng,
Địa ngục hay không? Phải đào sâu bao nhiêu trong lòng đất mới
thấy Địa ngục hay bay lên mấy từng Trời mới thấy Thiên đàng?”
Vị thiền sư đáp: ngu dốt như ông mà cũng hỏi thiên đàng và địa
ngục sao? Võ sĩ đạo tuốt kiếm ra xông vào thiền sư định đâm vào
bụng ông này để trừng phạt tội dám xúc phạm danh dự của võ sĩ
đạo. Thiền sư điềm nhiên nói: “Cửa Địa ngục
đã mở, thưa tướng quân!” Ông võ sĩ đạo chợt tỉnh ngộ, hổ
thẹn tra kiếm vào vỏ, mỉm cười, cúi đầu xin lỗi thiền sư, vị
thiền sư lại điềm nhiên nói: “Bây giờ ngài
đã đến cửa Thiên đàng”.
A: Câu chuyện này còn cho chúng ta thấy sự
khác nhau giữa Đạo học và Phật học; một bên còn chấp ngã, chấp
tướng một bên phá chấp triệt để.
B: Đúng rồi! Vị tướng quân coi sinh mạng
con người nhỏ hơn danh dự võ sĩ đạo còn vị thiền sư bất chấp tất
cả, không sợ hãi, không mong cầu, nói lên cái nhìn như thật của
mình về Địa ngục và Thiên đàng – nó chỉ là một, do Tâm biến hiện
mà ra thôi!
C: Như vậy, đức Phật còn để lại cho chúng
ta những vị thiền sư lỗi lạc như Bồ-đề Đạt-ma, Lục Tổ Huệ Năng,
Mã Tổ, Cảnh Sơn, Trần Nhân Tông, Bankei, Hư Vân, v.v... và nhiều
vị thiền sư như vị thiền sư trong câu chuyện trên đây… nhiều
không thể kể hết được!
A: Nói dễ hiểu hơn, đạo Phật đã đào tạo ra
những con người tin vào khả năng giác ngộ của mình, và có khả
năng làm hiển lộ Phật tánh nơi chính mình.
B: Không cần đi tìm cầu ở đâu xa vì đức
Phật đã dạy “mê và ngộ chỉ là sự chuyển hóa
của tâm thức chứ không phải là được (“đắc”) cái gì mới lạ ở
ngoài Tâm và Thân này cả”.
C: Mình hiểu rồi, nhưng từ mê đến ngộ gần
trong gang tấc mà cũng xa ngoài vạn dặm như từ Ta-bà qua Cực Lạc
vậy, các bạn hở?
A: Phải đó, cho nên nói Tâm chúng ta khi Ma
khi Phật, là ý này đây! Nếu chúng ta sống được với tâm Phật bất
sinh như thiền sư Bankei dạy, trong mọi lúc thì hay biết bao!
B: Cho nên phải tu tập, phải canh giữ Tâm
mình như người chăn trâu chăn giữ con trâu của mình, đừng cho nó
chạy rông, dẫm đạp lên lúa mạ của người khác, phải áp dụng câu
mà mình dạy cho các em:
Khi sáu căn tiếp xúc
sáu trần
Đem ý thức tinh chuyên
phòng hộ.
C: Mình có đọc được ở đâu đó một bài thơ
khuyên sống với tâm Phật bất sinh, bất diệt như sau, tặng các
bạn đây nha:
Đêm đêm ôm Phật ngủ
Ngày ngày cùng Phật đi
Ngồi đứng hằng theo
nhau
Nói nín cùng chung ở
Mảy may chẳng tạm rời
Như hình cùng với bóng
Muốn biết nơi Phật đi
Chỉ chỗ nói năng ấy.
A: Thật là hay quá, cảm ơn Bạn nhiều! Bài
này nói y chang thiền sư Bankei đã nói! Các bạn hãy nghe nha:
“...Một người sống với tâm Phật bất sinh
một cách rốt ráo thì khi vị ấy đi ngủ cũng đi ngủ với tâm Phật,
khi thức dậy là dậy với tâm Phật,… khi nói là nói với tâm Phật,
khi im lặng là im lặng với tâm Phật, khi ăn cơm là ăn cơm với
tâm Phật, khi uống trà là uống trà với tâm Phật… Vào mọi lúc, vị
ấy an trú liên tục trong tâm Phật, vị ấy hành xử ung dung, tùy
theo hoàn cảnh, cứ để mọi sự trôi theo cách tự nhiên của chúng,
cốt là không làm việc ác, chỉ làm việc lành... nhưng không tự
hào về những việc lành của mình, không bám víu vào đó mà ghét
những người xấu vì như vậy là đi ngược tâm Phật. Tâm Phật không
thiện, không ác, mà vượt lên trên cả thiện ác.”
B: Như vậy hôm nay chúng ta đã cảm niệm về
ngày Thành Đạo của đức Bổn sư một cách có ích lợi, phải không
các Bạn? Chúng ta tạm biệt được rồi chứ? Xin hẹn lần sau!
A và C: Tạm biệt! Tạm biệt! Hẹn gặp lại!■
Kính thưa quí
vị và các bạn,
Nhân mùa Xuân Kỷ
Sửu sắp về, chúng ta sẽ cùng nhau nói chuyện
“Con Trâu trong Phật pháp.”
Trước hết, xin
giới thiệu đến quí vị và các bạn những câu hỏi đáp của các bậc
đại sư, câu nào cũng dính dáng tới “con trâu” được trích từ
“Truyền Đăng Lục”:
Phước Châu Đại An
hỏi:
- Tôi khao khát
hiểu pháp Phật, đó như cái gì?
Bách Trượng đáp:
- Hệt như cỡi trâu tìm trâu
**
Hỏi: Hiểu rồi thì như thế nào?
Đáp: như người cỡi trâu về nhà
**
Hỏi: Rồi làm sao giữ cho trước sau khế hợp?
Đáp: Như người chăn trâu cầm roi giữ trâu
mình đừng phạm đến lúa mạ của người.
*
Kính thưa quí vị và
các bạn,
Đạo Phật dạy người Phật tử cách điều phục
Tâm của mình cho nên Tâm được ví với con Trâu hoang và sự điều
Tâm tức là làm thế nào để “cột trâu”. Người nông phu muốn trị
con trâu, phải dùng roi vọt, cũng như muốn điều phục Tâm mình,
người Phật tử chúng ta phải quy y, giữ giới, phát tâm Bồ-đề, v.v...
Chương trình tu học Phật pháp của hàng huynh trưởng GĐPT có hai
tài liệu liên hệ sự huấn luyện Tâm với phép Chăn Trâu, đó là
kinh Di giáo và Thập mục ngưu đồ
(10 bức Tranh Chăn Trâu). Trước khi mời quí vị và các bạn theo
dõi cuộc nói chuyện của các huynh trưởng quen thuộc A, B và C về
đề tài Phật pháp này, xin kính chúc quí vị và các bạn cùng gia
đình hưởng một mùa Xuân Di Lặc hoan hỷ.
A: Chào các bạn! Đề tài sinh hoạt của chúng
ta hôm nay là gì?
B: Là kinh Di giáo
và Thập mục ngưu đồ, tức 10 bức
tranh chăn Trâu.
C: Mình nghĩ rằng đó là cách huấn luyện Tâm
của mình để cho nó đừng quen cái thói “tâm viên ý mã”.
A: Hiểu rồi, như vậy mình bắt đầu nha! Các
bạn có biết đức Phật dạy cái này cho ai không?
B: Thì trước hết là dạy cho các tỳ-kheo đệ
tử của Ngài, sau là dạy cho hàng Phật tử chúng mình chứ ai nữa!
C: Mình biết bạn A muốn nói là Phật dạy
pháp chăn trâu trong kinh nào phải không? Kinh
Phóng ngưu hay
Mục ngưu đó!
A: Phải rồi, chúng ta đi vào chi tiết nha:
trong kinh Phóng ngưu, đức Phật dạy
về nghệ thuật chăn trâu, hay điều phục Tâm. Ngài cho biết người
khất sĩ giỏi là người phải biết và phải làm những điều một người
mục đồng hay một em bé chăn trâu phải làm, các bạn có nhớ là mấy
điều không?
B: Hình như là 10 hay 11 điều gì đó, thì
chúng ta cứ kể ra là xong ngay, mình kể trước và chúng ta luân
phiên kể nha! Nếu người mục đồng nhận ra được trâu của mình thì
người tu hành cũng phải biết nhận ra những yếu tố tạo nên sắc
thân của mình.
C: Nếu người mục đồng nhận diện được con
Trâu của mình trong đàn trâu thì người xuất gia cũng phải nhận
diện được những hành động nào của thân, miệng, ý là thiện, nên
làm và những hành động nào là bất thiện, không nên làm.
A: Nếu người mục đồng biết tắm rửa cho Trâu
thì người xuất gia cũng phải biết gột rửa khỏi thân tâm mình
những tham dục, sân hận, và si mê.
B: Nếu người mục đồng biết chăm sóc các vết
thương của Trâu thì người xuất gia cũng phải biết hộ trì sáu căn
của mình là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khi tiếp xúc với sáu
trần, để sáu trần không thể lung lạc được.
C: Nếu người mục đồng biết cách un khói lên
để Trâu khỏi bị muỗi đốt thì người xuất gia cũng phải biết đem
giáo lý giải thoát dạy cho những người chung quanh mình để họ
tránh được những khổ đau phiền muộn.
A: Nếu người mục đồng biết tìm đường đi an
toàn cho Trâu thì người xuất gia cũng phải biết tránh những con
đường dẫn tới danh lợi, sắc dục, quán rượu, hý trường…
B: Nếu người mục đồng biết thương yêu Trâu
thì nguời xuất gia cũng phải biết quí trọng những niềm an lạc do
thiền định đem tới.
C: Nếu người mục đồng biết tìm bến tốt cho
Trâu qua sông thì người xuất gia cũng phải biết nương vào bốn
chân lý cao thượng để đến bến bờ giải thoát.
A: Nếu người mục đồng biết tìm chỗ có cỏ
non và nước uống cho Trâu thì người xuất gia cũng phải biết Tứ
niệm xứ là mảnh đất tốt nhất để đi đến giải thoát.
B: Nếu người mục đồng biết bảo trì những
vùng thả Trâu không làm tổn hại môi trường nuôi Trâu thì người
xuất gia cũng phải cẩn trọng trong việc giao tiếp với quần chúng
và thu nhận cúng dường.
C: Nếu người mục đồng biết dùng những con
Trâu lớn làm gương cho những con Trâu con thì người xuất gia
cũng phải biết nương vào đức hạnh và kinh nghiệm của những bậc
Thầy đi trước.
A: Nếu người mục đồng không biết cách trị
những vết thương bị nhiễm trùng của Trâu thì Trâu có thể lên cơn
sốt rồi lăn ra chết. Cũng vậy, sự tu học của người xuất gia nếu
không đi theo Chánh đạo thì cũng sẽ bị các độc tố tham, sân, si
phá hoại toàn bộ sự nghiệp tu hành của mình.
B: Như vậy là ACE mình đã kể ra được 12
điều mà người xuất gia có thể bắt chước người mục đồng nhưng
không phải để chăn trâu ngoài đồng cỏ mà chính là chăn con Trâu
(Tâm) trong lòng mình.
C: Vậy còn “phép chăn Trâu” được vẽ thành
10 bức họa gọi là “Thập mục ngưu đồ” (TMNĐ) là như thế nào hở
các bạn?
A: Cũng vậy, ở đây con Trâu chính là cái
Tâm hoang sơ và “chăn Trâu” tức là phương pháp “hàng phục vọng
Tâm và an trụ chơn Tâm” như câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề trong kinh
Kim-cang thôi. TMNĐ là bộ tranh vẽ lại quá trình tu tập công phu
của người học Đạo từ khi chiến thắng bản năng mình, rồi thanh
lọc Tâm để cuối cùng đến được sự tự tại vô ngại.
B: Để mình nói rõ hơn một chút nha: Thật ra
có nhiều bộ Tranh lắm, của nhiều tác giả, nhưng có thể xếp vào
hai loại: Tranh theo khuynh hướng Đại thừa và tranh theo khuynh
hướng Thiền tông.
C: Vậy bạn A nói cho mình nghe về tranh
TMNĐ theo khuynh hướng Đại thừa còn bạn B sẽ nói về tranh TMNĐ
theo khuynh hướng Thiền tông nha! Mình thật lờ mờ về 10 bức
tranh TMNĐ này.
A: Tranh loại nào cũng có 10 bức họa, mỗi
bức có một bài tụng bằng thơ bốn câu và một bài chú giải bằng
văn xuôi. Tranh Đại thừa thì vẽ con Trâu Đen, lần lượt qua các
bức họa, Trâu đen trở thành trắng dần dần, trắng từ đầu dần đến
mình rồi cuối cùng trắng đến chót đuôi. Đó là tượng trưng cho
phép tu Tiệm, nghĩa là nhờ công phu tu tập lâu ngày đi lần tiến
lên từng bậc thang giác ngộ.
B: Tranh Thiền tông thì có loại vẽ Trâu
trắng, có loại vẽ Trâu đen; nhưng dù trắng hay đen, con Trâu
trong tranh Thiền vẫn giữ một màu đó xuyên qua những giai đoạn
biến chuyển; đó là pháp tu Đốn. Đốn giáo dạy rằng thành Phật là
thành ở nội Tâm, thành ngay tức khắc chứ không thành Phật từ từ,
đó là hai quan điểm khác nhau của hai bộ Tranh TMNĐ Đại thừa và
Thiền tông.
C: Bạn A có thể cho xem bảng đối chiếu hai
loại Tranh
Đại thừa và
Thiền tông?
A: Mình ghi ra đây cho bạn coi nha:
Tranh Đại Thừa
Tranh Thiền Tông
1. Chưa Chăn
1. Tìm Trâu
2. Mới Chăn
2. Thấy dấu
3. Chịu phé
3. Thấy Trâu
4. Quay đầu 4. Được
Trâu
5. Vâng chịu
5. Chăn Trâu
6. Không ngại
6. Cỡi Trâu về nhà
7. Tha hồ
7. Quên Trâu còn người
8. Cùng quên
8. Người Trâu đều quên
9. Soi riêng
9. Trở về nguồn cội
10. Dứt cả hai
10. Thỏng tay vào chợ.
B: Đối với tranh Đại thừa, bốn bức đầu là
giai đoạn của Giới, tiếp theo là Định; Tâm định là hết ngã chấp
nhưng còn Pháp chấp. Ngang đây là phần tu chứng của hàng Tiểu
thừa (chư vị Thanh văn và Duyên giác) được diễn đạt bằng hai bức
tranh 6 và 7; tiếp theo là cảnh giới của Bồ-tát (hai bức tranh
8 và 9). Cuối cùng là vào cảnh giới Phật, viên dung vô ngại
không còn gì để nói, được diễn đạt bằng một vòng tròn (số 10).
C: Nhưng bên phía tranh Thiền tông thì bức
tranh “Cùng quên” cũng được vẽ bằng một vòng tròn mà chưa kết
thúc, đó chưa phải là cảnh giới Như Lai sao?
A: Bạn quên rằng mục tiêu của Thiền không
phải là vào Niết-bàn mà là “thỏng tay vào chợ”, nghĩa là phải
đạt đến cảnh giới “hoa sen trong bùn” hay “gần bùn mà chẳng hôi
tanh mùi bùn” giống như ngài Duy-ma-cật vậy đó.
B: Đúng vậy, nhờ đó chúng ta thấy rằng
chúng sanh lang thang như chú mục đồng đi tìm Trâu mà không thấy
dấu vết; còn Bồ-tát cũng lang thang trong chốn bụi đời nhưng an
nhiên tự tại và không bị nhiễm ô, như mục đồng đã xong việc,
thỏng tay vào chợ rong chơi.
C: Vậy còn kinh Di
giáo cũng có nói về Chăn Trâu phải không?
A: Kinh Di giáo
thì có một đoạn đức Phật dạy các vị tỳ-kheo như thế này: “Các
ông phải canh giữ Tâm của mình y như chăn Trâu, luôn cầm roi
canh chừng, không để cho nó có cơ hội buông lung phạm vào lúa mạ
của người ta.” Ngoài ra trong kinh đức Phật còn dạy rất
nhiều phương pháp thanh lọc, huấn luyện Tâm, v.v... khác nữa.
B: Vậy là chúng ta cũng đã nói được nhiều
về con Trâu đối với việc tu tập rồi phải không?
C: Phải rồi, rất cảm ơn các Bạn nhân dịp
Xuân về mà cho mình biết về Thập mục ngưu
đồ, lâu nay nghe hoài mà chưa được thấy, bữa nay vừa được
thấy vừa được nghe.
A: Nhưng sự hiểu biết của chúng mình còn
non yếu lắm, chúng ta cần phải học thêm nhiều nữa mới hiểu được
10 bức Tranh Chăn Trâu một cách sâu sắc.
B: Đồng ý, vì công việc hằng ngày của chúng
ta không phải là đang chăn trâu hay sao?
C: Đúng vậy, Phật pháp thật rất quí vì đem
áp dụng vào cuộc sống hằng ngày, chúng ta thấy có rất mhiều lợi
ích cho mình và cho mọi người chung quanh
A: Như vậy là tốt rồi, nhập gia tùy tục!
Sắp đến New Year, mình làm như mọi người, chúc các bạn và gia
đình Happy New Year 2009 nha! Tạm biệt!
B và C: Happy New Year! Tạm biệt! Tạm biệt!■
60. 12 lời
khẩn nguyện
dâng lên đức
Quán Thế Âm
Kính thưa quí vị và
các bạn,
Nói về đức Bồ-tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara
Bodhisattva) thì có thể nói là đã có hằng bao nhiêu tủ sách rồi.
Trên thế giới, từ Đông sang Tây, từ Ấn Độ đến Tây Tạng, từ Trung
Hoa qua Nhật Bản, v.v... rất nhiều kinh sách nói về Mẹ hiền Quán
Âm. Về hình tượng của Ngài, cũng vô số; có chỗ Ngài đứng một
mình trong phong ba bão táp giữa biển lớn, có khi với bình nước
cam lồ và nhành dương liễu, có khi có thêm cậu bé sau lưng, có
khi cỡi con cá thật to, v.v... Chúng tôi không có tham vọng
trình bày những hình tượng đã thấy cùng ý nghĩa vì không am hiểu
hết những sự tích, những câu chuyện dân gian hay những chuyện
tiền thân, những mẫu chuyện đạo, v.v... Chúng tôi chỉ xin nói
một chút về việc giáo dục môn Phật pháp trong GĐPT nói chung, về
lịch sử đức Quán Thế Âm Bồ-tát với 12 lời nguyện nói riêng.
Kính thưa quí vị,
Phật pháp không bao giờ cũ; vì chân lý
không thể thay đổi theo thời gian hay không gian nhưng những bài
học về Phật pháp (nói riêng), hay về đạo đức (nói chung); những
lời dạy của đức Phật, của các bậc Thánh, những nhà hiền triết… (Khổng
Tử, Lão Tử, Socrate, Platon, v.v...) phải được “update” (cập
nhật) trong khi truyền đạt để thanh thiếu niên có thể hiểu và
chấp nhận được. Xin nêu lên một ví dụ vui: Một mùa Vu Lan nọ, có
một huynh trưởng kể chuyện trong “Nhị Thập Tứ Hiếu” (24 người
con hiếu thảo nổi tiếng) cho các em nghe. Khi nghe kể chuyện
người con cởi hết áo quần xuống giường nằm để cho muỗi bu lại
cắn mình, cho cha mẹ yên giấc ngủ, các em đều nhao nhao cười nói
“stupid” (ngu ngốc)!!JJ!!
chứ không cảm động như cách đây mấy chục năm chúng ta đọc những
câu chuyện này. Vì sao? Xin thưa, vì bây giờ người ta dùng thuốc
xịt muỗi, hương đốt lên để đuổi muỗi, v.v... đâu có ai hành động
như chàng thanh niên ngày xưa kia!? Hay là quan niệm “Cha bảo
con đi chết mà con không chịu là con bất hiếu” thì tuổi trẻ hôm
nay không thể nào chấp nhận, v.v... Vì vậy, chúng ta cần lưu ý
một chút về điểm khác biệt tâm lý này. Đó chính là ý nghĩa của
“update” phương pháp truyền đạt.
Xin cống hiến quí vị một ví dụ nhỏ cụ thể
trong việc “update” sự truyền đạt Phật pháp cho tuổi trẻ, đặc
biệt là tuổi trẻ Phật giáo VN tại Hoa Kỳ nói riêng, hay tại hải
ngoại nói chung qua cuộc đối thoại của các Huynh trưởng A, B, C
quen thuộc.
A: Chào các bạn, hình như sắp đến Lễ hội
Quán Âm rồi phải không?
B: Phải rồi, hôm nay sắp hết tháng Giêng Âm
lịch, mà qua tháng 2 thì ngày 19 là ngày Vía đức Quán Thế Âm
rồi!
C: Nói đến đức Quán Thế Âm mới nhớ ra, 12
lời nguyện của đức Quán Thế Âm có mấy chữ khó hiểu quá hở các
bạn?
A: Đối với các em thì đúng rồi chứ, đối với
bạn thì làm sao mà gọi là khó được?
B: Bạn C nói đúng đó, mình cũng thấy nhiều
chữ Hán khó hiểu.
C: Ví dụ như “già tỏa”, “sái tâm”, “diệt
tam đồ”, v.v...
A: Như vậy các bạn đâu cần dạy các em đọc
12 lời nguyện ấy bằng chữ Hán làm gì?
B: Phải rồi, mình chỉ giảng đại ý cho các
em hiểu thôi và cho các em học 12 lời khẩn nguyện của Phật tử
dâng lên đức Quán Thế Âm.
C: Mình cũng vậy, mình thấy cần dần dần đưa
tiếng Việt thay thế những tiếng Hán Việt chứ các em thế hệ sau
mình chắc chắn là không hiểu và không thể sử dụng được những từ
Hán Việt ấy!
A: Đúng vậy! Các bạn có đầy đủ 12 lời
nguyện bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh (song ngữ) thường dùng
trong các khóa tu học đó phải không?
B: Chắc là đúng rồi, chúng ta hãy lần lượt
nhắc lại thử coi! Mình nhận được từ chùa Viên Thông của Sư cô
Thanh Lương.
C: Tài liệu song ngữ này chắc là xuất phát
từ Sư ông Nhất Hạnh hay thầy Nguyên Hạnh, thầy Tịnh Từ, Sư cô
Thanh Lương, v.v... cũng giống nhau, quí vị này đều là đệ tử lớn
của Làng Hồng.
A: Mình nghĩ xuất phát từ đâu không quan
trọng, quí hồ là mục đích và nội dung những lời khẩn nguyện đúng
Phật pháp là tốt rồi, phải không các bạn?
C: Phải! Phải! Và quan trọng là thực hành
những lời phát nguyện đó!
A: Nhất định rồi, bất cứ bài Phật pháp nào
chúng ta cũng dạy các em tinh thần ấy: Học và hành phải đi đôi!
Tự phát nguyện lại cần phải nỗ lực thực hành hơn nữa!
B: Riêng những lời phát nguyện này còn có
tính cách lời hứa, nên mình còn dạy các em chúng ta có thể chỉ
“phát” một vài lời nguyện - Những lời nguyện nào mà ta nhắm có
thể thực hiện được - chứ không cần phải phát hết 12 lời khẩn
nguyện này.
C: Mình cũng dạy các em mỗi lần thực tập,
lạy nhiều hay ít là do sự phát nguyện của mình; phát xong một
lời khẩn nguyện thì lạy xuống một lạy.
A: Mình bắt đầu trước nha! Lời nguyện thứ
1: Con xin mở rộng lòng
thương và tìm cách bảo vệ sự sống, niềm tin của mọi người, mọi
loài. (I pray and vow to open my heart and
find ways to protect life anh faith for everyone and every
living beings).
B: Thứ 2: Con xin mở
rộng tầm hiểu biết, để có thể thấu rõ gốc rễ khổ đau của kẻ khác
mà tìm cách chuyển hóa, nâng đỡ và hộ trì.
(I pray and vow to extend my understanding, so as to be
conscious of the roots of sufferings of others, in order to find
ways to transform, support and assist them).
C: Thứ 3: Con xin
nguyện từ bỏ những tập khí tham ái, hờn giận, trách móc, để con
có thể vui sống với mọi người trong gia đình và chung quanh con.
(I pray and vow to restrain from greed, anger, and blame,
so as to live happily with everyone in the family and those
around me).
A: Thứ 4: Con xin
nguyện cho tự thân, gia đình, thân bằng quyến thuộc con và mọi
người, mọi loài được sống trong an toàn, hòa thuận và thảnh thơi.
(I pray for myself, my family, my relatives and friends,
and all beings so that they will live in peace, harmony and
comfort).
B: Thứ 5: Con xin
nguyện ngồi vững chãi để lắng nghe người khác nói năng, tâm sự.
Dù cho những lời nói ấy có xúc phạm đến cá tánh của con, con
nguyện không đối đáp bằng những lời thiếu từ hòa, khiếm nhã.
(I pray and vow to be impartial and composed, in order
to mindfully listen to expressions and feelings of others. Even
if those words may harm my nature, I vow not to reply with words
that lack harmony and humility).
C: Thứ 6: Con xin
nguyện thường xuyên trở về với hơi thở, tập dừng lại sự suy nghĩ,
nói năng, để lắng nghe tiếng chuông tỉnh thức và mọi âm thanh.
Con biết rằng mỗi âm thanh đều có mang thông điệp của sự yêu
thương và năng lượng tuệ giác mầu nhiệm. (I pray to be
mindful of my breathing, silence my thoughts and speech, so as
to hear the awakening bell and each sound-wave. I know that each
sound-wave carries the message of love and the wondrous energy
of wisdom).
A: Thứ 7: Con xin
nguyện cho người đau chóng lành bệnh, người già được săn sóc,
người mệnh chung có đủ duyên lành sanh về cảnh giới an vui,
trong sáng của đức Phật A-di-đà. (I pray for speedy
recovery of the sick, the caring for the old, and for the
deceased to have the good affinity to be reborn in the land of
bliss - the realm of Amitabha Buddha).
B: Thứ 8: Con xin
nguyện cho kẻ nghèo đói được no cơm ấm áo, kẻ tội lỗi sớm biết
ăn năn, kẻ tù đày mau thoát ngục tối, kẻ tàn tật được thân tướng
tốt đẹp, kẻ nghiện ngập được tỉnh cơn mê, kẻ sát nhân tự buông
khí giới. (I pray for the poor and hungry
to have food and clothing, the sinful to be remorseful, the
emprisoned to soon be free, the crippled to have restored
features, the addicted to be rehabilitated, and the murderers to
surrender their weapons).
C: Thứ 9: Con xin
nguyện cho mọi người và mọi loài sớm nhận ra tự tánh thương yêu,
bình đẳng của nhau. Đừng ai xem nhẹ tánh mạng của ai, đừng ai vì
oán thù, ganh tị, ích kỷ mà gây khổ đau cho nhau. (I pray
that all beings may soon recognize the innate nature of love and
equality embedded within them. No one should undermine the life
of others, and no one should cause harm to others, because of
hartred, jealousy, and selfishness).
A: Thứ 10: Con xin
nguyện cho hành tinh xanh này, muôn đời là trái đất xinh tốt.
Phương nào cũng sản sinh nhiều dòng sông tươi mát, nhiều loại
dược thảo ngũ cốc, hoa trái thơm ngon để dâng hiến cho con người
và muôn loài no đủ. (I pray that this blue
planet, forever and ever, be a healthy and glorified world.
Fresh streams will flow all directions; fine herbals, good
grains, and high-quality fruits will be plentiful to nuture
mankind and all other beings).
B: Thứ 11: Con xin
nguyện cho mọi người và mọi loài sớm thành tựu được giới đức
thanh tịnh, định lực vững chãi, trí tuệ sáng suốt.
(I pray for everyone and every beings to soon achieve
serenity, strength of determination, and wisdom).
C: Thứ 12: Con xin
ngưyện cho mọi người và mọi loài sớm có đầy diệu lực, ngàn tay
ngàn mắt và tự tại vào ra ba cõi để cứu độ chúng sanh trong mười
phương thế giới. (I pray for everyone and
every being to soon have subtle energy, thousand arms, thousand
eyes, and to be at ease to move about in the three realms, so as
to deliver all beings from suffering in the ten directions of
the universe).
A: Như vậy là anh chị em mình không hẹn mà
gặp, đều đã tự biết làm
sao để “update” cách truyền đạt, làm sao cho các em dễ hiểu, dễ
thấm Phật pháp, như vậy các em mới có thể áp dụng được vào đời
sống hằng ngày.
B: Đúng vậy, và chính các em là những người
hoằng dương chánh pháp thật sự, các em chính là “ngàn mắt ngàn
tay” của ACE huynh trưởng chúng ta, phải không các bạn?
C: Phải, mình hiểu rồi! Những người các em
trao truyền trước hết là phụ huynh các em, những người trong gia
đình các em; chính có bác phụ huynh đã nói với mình là nghe con
học Phật pháp, kể chuyện về Luật GĐPT, v.v... mới biết điều này
điều nọ, chứ trước đây đâu biết!
A: Đúng rồi! Trở về với 12 lời khẩn nguyện,
các bạn có nhận thấy rằng có những chỗ, đọc lời tiếng Anh mình
thấy dễ hiểu hơn phần tiếng Việt không?
B: Chính thế! Ví dụ như tiếng Việt câu nào
cũng “con xin nguyện”, chữ nguyện làm mình lúng túng và “bối
rối” (confused) như đã từng bối rối khi đọc 4 lời nguyện rộng
lớn (chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ
nguyện đoạn, v.v...) nhưng qua tiếng Anh, chúng ta thấy rõ có
hai ý “pray” và “vow”, tức là “cầu nguyện” và “thề nguyện”. Cái
gì mình làm được mới dám thề nguyện, có nghĩa là “xin hứa” còn
cái gì ngoài tầm tay mình, chỉ có thể cầu nguyện một tha lực nào
đó.
C: Mình hoàn toàn đồng ý với bạn B; không
phải vì mình quên tiếng Việt nhưng rõ ràng tiếng Việt có vài
trường hợp đối với mình tối nghĩa hơn tiếng Anh. Còn nữa, lúc
đọc lời nguyện cho “… kẻ tù đày mau thoát
ngục tối...” mình nghĩ bụng: làm sao đây? Làm sao các nhà
tù trên thế giới có thể dẹp bỏ được? Thế nhưng mới đây Tổng
thống Obama đã ra lệnh đóng cửa nhà tù nào đó, thật như là một
“phép lạ” cho lời cầu nguyện thứ 8 này! Chỉ có ổng mới cho phép
họ thoát ngục bằng một đạo luật chứ chúng ta làm sao được??
J
J!!
A: Bạn C nói rất đúng, khi mới đọc câu
“con xin nguyện ngồi vững chãi…” (lời
phát nguyện thứ 5) các em cười vì không hiểu, nhưng khi đọc bên
phía tiếng Anh, các em hiểu ngay là “ngồi vững chãi” có nghĩa là
“vô tư, công bằng và bình tĩnh” (impartial and composed).
B: Đúng vậy, các em mình cũng phản ứng như
thế và mình nhân tiện nói về cái hay của ngôn ngữ, đó là ngôn
ngữ biểu tượng (symbolic language) dùng hình ảnh để nói lên một
tư tưởng, quan điểm hay chủ trương một cách ngắn gọn, súc tích
và đầy thi vị, v.v... chứ không phải chỉ hiểu theo nghĩa đen; ví
dụ trong kinh Pháp hoa có rất nhiều
biểu tượng (chàng cùng tử, viên ngọc trong chéo áo, v.v...) và
nhiều Kinh khác cũng thế.
C: Mình nghĩ cái đó có hơi cao đối với các
em, nhưng cụ thể như mấy chữ “chuyển hóa, nâng đỡ, hộ trì...” và
“tập khí”… các em có thể lúng túng, không hiểu là gì, nhưng khi
đọc qua tiếng Anh (to tranform, support and assist - và “to
restrain from…”) thì không còn gì thắc mắc nữa.
A: Các bạn nói thật là đúng, tóm lại, dùng
song ngữ là một trong những cách tối ưu để truyền đạt cho các
em, không chỉ Phật pháp mà cả các môn học khác trong GĐPT nữa.
B: Mình nghĩ rằng chừng 5,10 năm nữa, huynh
trưởng GĐPT/VN tại hải ngoại sẽ phải giảng dạy cho đoàn sinh của
mình bằng tiếng bản xứ nơi mình cư ngụ (Anh, Pháp, Đức, v.v…)
C: Phải rồi, thì con cái chúng ta bây giờ
sau khi đến tuổi đi học không phải đã nói tiếng Anh dễ dàng và
thoải mái hơn nói tiếng Việt rồi sao? Mà các em đang là Oanh Vũ
đó chứ ai?J
J!!
A: Không sao cả, nói tiếng gì cũng được,
các bạn không nhớ là khi đức Phật còn tại thế (và ngay bây giờ),
đức Phật đã thuyết Kinh cho mọi loài, nhơn và phi nhơn nữa hay
sao? Bây giờ chúng ta lại ngồi đây bàn về tiếng Anh hay tiếng
Việt?
B: Cảm ơn bạn đã nhắc nhở; phải rồi, chúng
ta cứ làm việc của chúng ta, song song với việc dạy Phật pháp,
chúng ta vẫn dạy tiếng Việt, vẫn gìn giữ và trao lại cho các em
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc những nét đẹp Đông
phương, v.v...
C: Đúng vậy, chúng ta sống tốt, làm việc
tốt, phục vụ tận tâm việc giáo dục đàn em, v.v... là đúng rồi!
Việc đào tạo huynh trưởng, hướng đi của GĐPT tại hải ngoại, v.v…
đã có Ban hướng dẫn GĐPT thế giới đảm trách.
A: Phải rồi, mà các bạn có nhận thấy các em
của chúng ta ở lứa tuổi Oanh Vũ (6,7 tuổi) tuy không nói rành
tiếng Việt nhưng cũng ham coi phim Hàn quốc, Trung Quốc, Hồng
Kông... những phim nói tiếng Việt, cùng với bà nội, bà ngoại,
v.v... của mình mà vẫn hiểu như thường, còn có thể kể lại vài
đoạn nữa! Cho nên đừng lo gì về vấn đề ngôn ngữ hết!
B: Không ngờ hôm nay chúng ta đã có một
buổi hội luận thật hứng thú!
C: Đúng thế, cảm ơn các bạn thật nhiều! Xin
tạm biệt!
A và B: Tạm biệt! Tạm biệt!
Bài học “Bốn Nhiếp Pháp” hay “Bốn nhiếp sự”
thì anh chị em chúng ta đã được học đi học lại trong chương
trình Phật pháp của ngành Thiếu và cả của Huynh trưởng. Làm
việc thiện thì cũng đã được thực hành từ khi còn là một oanh vũ,
từ trong nước ra đến hải ngoại cũng cùng một mục đích nhỏ nhoi
“sáng cho người một niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” bởi vì
bố thí là công tác hàng đầu của bốn nhiếp sự (bố thí, ái ngữ,
lợi hành, đồng sự).
Từ những việc thiện chút chút của từng cá
nhân, một em Oanh vũ, một đoàn sinh ngành Thiếu, một anh/chị
Huynh truởng cho đến những đóng góp tập thể của GĐPT nói riêng,
cộng đồng người Việt hải ngoại nói chung vào những khi có tai
trời ách nước hay lòng người điền đảo như lũ lụt ở quê nhà, bão
Katrina, Rita ở Texas... hỏa hoạn, vụ khủng bố 9/11 ở New York,
v.v... cộng đồng người Việt bao giờ cũng được coi là nhiệt tình
và rộng rãi nhất thế giới; nói một cách chung, làm từ thiện là
công việc rất quen thuộc của người Việt chúng ta, bất kỳ theo
truyền thống tôn giáo nào.
Trở lại với những công việc từ thiện của
Phật giáo nói chung, GĐPT nói riêng, chúng ta thấy rằng người
Phật tử đi làm việc thiện chỉ có mục đích “ngắn” là cứu đói, cứu
lạnh, nghĩa là đem cơm áo, gạo tiền đến những nơi cần cứu trợ,
những người cô quả cô đơn cần giúp đỡ. Có một vài người bạn Tin
Lành và Thiên Chúa giáo nói rằng người Phật tử đi cứu trợ về rồi
thì người được giúp đỡ quên họ ngay, đừng nói là tên Chùa, hay
tên tổ chức đã đến cứu trợ; lý do là vì Phật tử đi cứu trợ chỉ
giới thiệu mình thuộc chùa nào, tổ chức nào chứ không nói như
các bạn Tin Lành hay Thiên Chúa giáo nói: đây là Chúa cho; hãy
nhớ đến Chúa, hãy rước Chúa vào lòng để được luôn cứu giúp, và
lên Thiên Đàng, v.v...
Anh chị em huynh trưởng chúng ta cũng đã
hơn một lần thảo luận về bố thí, về tài thí, pháp thí và vô úy
thí, v.v... về cách làm việc thiện, về quỹ “Tự Nguyện Hướng Về
Quê Hương” (TNHVQH) do Ban Hướng Dẫn Hải Ngoại phát động và duy
trì hơn 10 năm nay. Chúng ta khoan nói về quỹ TNHVQH đã, vì đó
là hỗ trợ nội bộ GĐPT trong nước mà thôi, mà chỉ bàn đến những ý
kiến liên quan đến công tác cứu trợ ở trong cũng như ngoài nước;
sự hữu hiệu đến mức nào cũng đang là vấn đề “nóng” mà người Phật
tử nói chung, huynh trưởng GĐPT nói riêng hằng trăn trở. Xin mời
quí vị và các bạn theo dõi cuộc hội thoại bỏ túi giữa các huynh
trưởng quen thuộc A, B, C.
A: Hôm nay chúng ta bàn đến chuyện cứu trợ
hở?
B: Phải, nội dung đề tài của chúng ta là: ý
nghĩa chính của bố thí là gì? Có phải chỉ là tài thí hay không?
Và bố thí như thế nào mới là hữu hiệu nhất?
C: Thật vậy, lâu nay phần lớn công tác từ
thiện của anh chị em chúng ta từ trong nước hay ở hải ngoại thì
chủ yếu cũng là tài thí.
A: Mình có chỗ chưa hiểu ý các bạn; mình
nghĩ rằng thực hành bố thí không chỉ là đi quyên góp, rồi đem
cho/tặng tiền bạc, gạo, thuốc men, mùng mền, v.v... mà thôi, mà
khi gia đình một Phật tử nào có người thân qua đời, quý Thầy/
quý Sư Cô đến cầu siêu, thuyết giảng cho người sống và cho cả
hương linh nghe thì đây vừa là bố thí Pháp, vừa bố thí vô úy nữa
đó các bạn à!
B: Mình đồng ý với bạn, nhưng đó là làm
công tác từ thiện với những nguời Phật tử, họ đã có lòng tin vào
Tam bảo, còn đối với những người chưa biết đến đạo Phật, chúng
ta bố thí Pháp bằng cách nào? Làm sao để hoằng dương Chánh pháp?
Làm sao để giới thiệu Phật pháp đến với họ?
C: Phải, phải, các bạn có nghe không? Ở
Việt Nam, có những vùng mà dân chúng trước đây theo đạo Phật,
nói đúng hơn là họ thường nói, “theo đạo Ông Bà”; trong nhà có
bàn thờ ông bà tổ tiên và vài nhà cũng có tượng Bồ-tát Quán Thế
Âm, nhưng khi nghèo đói quá, thiếu ăn trầm trọng, có những đoàn
truyền giáo Tin Lành đến cho gạo, cho tiền, cho kinh Thánh,
v.v... thì nhà họ đổi thành tín đồ của đạo Tin Lành.
A: Mình cũng có biết chứ, nhưng đó là giai
đoạn thôi, nếu họ là Phật tử thì tới một lúc nào đó, khi đời
sống hết khó khăn họ cũng đi chùa trở lại; mình có quen biết vài
gia đình như vậy, ở VN họ đã theo như vậy, nhưng khi gia đình họ
được đi Mỹ theo diện HO chẳng hạn, họ qua đây đâu còn theo đạo
Tin lành nữa. Mình vẫn gặp họ ở các chùa.
B: Nói cho đúng, Phật tử Việt Nam thật tình
là chưa được học Phật pháp nên niềm tin chưa vững chãi; nhiều
phụ huynh đoàn sinh của mình bảo rằng con cái của họ đi GĐPT
biết đức Phật và Phật pháp nhiều hơn cha mẹ! Mình nghĩ họ nói
rất thật đó.
C: Thật vậy, ngày xưa người ta đi chùa chỉ
biết lễ Phật, xin xăm... rồi về chứ đâu giống như bây giờ sau
các buổi lễ Phật, quý thầy còn giảng ý nghĩa của lễ Phật, của
quy y, v.v...
A: Các bạn có biết tại sao có sự thay đổi
sâu rộng trong nếp sống của Phật tử cũng như của chư Tăng/Ni như
vậy không?
B: Mình nghĩ là tại vì sau 1975 người dân
quá khổ, họ mới tìm đến Phật, Thánh, v.v... mới đi chùa nhiều.
Trước 1975 ngày Chủ nhật chỉ có tín đồ Tin Lành, Thiên Chúa giáo
mới phải đi nhà thờ (nghĩa là bắt buộc), còn Phật tử thì chỉ có
Huynh trưởng và Đoàn sinh GĐPT mới đi sinh hoạt ngày Chủ nhật,
còn Phật tử không có đoàn thể thì không bắt buộc phải đến Chùa
ngày Chủ nhật, chỉ có những lễ lớn họ mới đi Chùa.
C: Mình cũng nghĩ rằng sau 1975 tuy tôn
giáo bị cấm đoán nhưng Phật tử lại tìm đến Chùa nhiều hơn, yêu
cầu chư Tăng Ni giảng Phật pháp cho họ nhiều hơn… nhờ vậy “phong
trào đi chùa” lại nở rộ ra không cản nổi!
A: Không những thế, Phật tử tham gia làm
công tác từ thiện cùng với chư Tăng/Ni, nhưng Phật giáo làm từ
thiện không kèm theo công tác truyền giáo như các tôn giáo khác.
B: Vì vậy người ta mới nói Phật giáo yếu
hơn Tin Lành, các bạn nghĩ có đúng không?
C: Mình nghĩ rằng vì chủ trương khác nhau
chứ không phải là vấn đề yếu hay mạnh.
A: Mình cũng nghĩ như bạn C, Phật giáo chủ
trương từ bi nghĩa là đem vui cứu khổ theo ý nghĩa “Khóc với
người đang khóc, an ủi họ, chia sẻ với họ và nếu họ đói thì cho
họ thức ăn, lạnh thì cho áo, cho mền, v.v...” mà không đưa ra
điều kiện là phải trả ơn bằng cách theo Phật.
B: Cho nên nhiều người cho rằng Phật giáo
tiêu cực trong vấn đề dành tín đồ.
C: Đã gọi là tín đồ thì phải do đức tin đem
lại, chứ “giành” làm sao được!
A: Thật ra, giành cũng được chứ! Ví dụ như
ngày xưa, nước Việt Nam chưa có đạo Thiên Chúa; khi các thương
gia người Pháp đến VN thì các Linh mục đi theo sau các thương
gia để truyền đạo. Và để được dân chúng theo, họ làm những điều
lợi ích cho dân chúng như thành lập nông trại, đồn điền, v.v...
để dân chúng có công ăn việc làm, cuộc sống ổn định, từ đó họ
mới giảng đạo, mới lôi cuốn vào đạo được.
B: Đức Phật cũng nói vậy mà, hãy lo cho
chúng sanh hết đói, khỏi thân bệnh thì họ mới nghe Phật pháp
được; và đức Phật mới nói muốn hành Bồ-tát đạo, người Phật tử
phải trang bị cho mình ngũ minh pháp; các bạn còn nhớ không?
C: Nhớ chứ! Ngũ minh pháp là 5 khả năng để
hành đạo và truyền bá đạo: Nội minh (Kinh điển, giáo lý), Thanh
minh (ngôn ngữ, ngoại ngữ, chữ viết...) Nhân minh (luận lý học,
đạo đức học), Y phương minh (Y học) và Công xảo minh (Khoa học
kỹ thuật).
A: Đúng vậy, những người có kiến thức sâu
rộng như vậy, lại thành thạo các kỹ năng về khoa học kỹ thuật
thì đi đến đâu cũng có khả năng làm ra của cải vật chất, cứu độ
chúng sanh, rồi sau đó làm cho họ tâm phục khẩu phục, nghe theo
mình, v.v... do đó muốn truyền bá cái gì mà không được, thậm chí
muốn trở thành người lãnh đạo họ cũng được nữa là!
B: Do đó, nhiều người cho rằng nếu mình
muốn làm công tác từ thiện, mình phải làm có cơ sở như vậy.
C: Tất nhiên về lý thuyết thì đúng nhưng
thực tế làm sao được?? Phật giáo ở đâu cũng nghèo hết! Ở trong
nước cũng nghèo, ở hải ngoại cũng nghèo, làm sao có đủ tài lực
vật lực bố thí lâu dài và qui mô như bạn nói được?
A: Ngoài ra, người Phật tử còn tin ở duyên
nữa; có duyên với Phật pháp hay không cũng là vấn đề quyết định
có theo Phật hay không.
B: Đúng vậy, và đức Phật cũng nói rằng
không cần phải là Phật tử, quy y Phật mà chỉ cần thực hành Phật
pháp, nghĩa là những lời Phật dạy, những chân lý mà chư Phật,
chư Bồ-tát đã chứng ngộ, giúp cho chúng sanh sống an lạc.
C: Mình cũng đồng ý với các bạn, làm việc
thiện có rất nhiều hình thức và phương tiện, nằm trong 3 nội
dung tài thí, pháp thí và vô úy thí là được rồi.
A: Ở Mỹ, có nhiều ACE Huynh trưởng đã tháp
tùng theo phái đoàn của quý thầy, đi vào các trại giam để thăm
và an ủi các tù nhân, và cũng có vài trường hợp rất cảm động là
có tù nhân xin được quy y với quý Thầy nữa; như vậy công tác từ
thiện này vừa có ý nghĩa pháp thí, vừa có ý nghĩa vô úy thí phải
không các bạn?
B: Mình xin thêm là làm từ thiện với tâm vô
tư, không vụ lợi, không vì danh tiếng của riêng mình hay đoàn
thể mình như anh chị em mình làm lâu nay, âm thầm mà hữu hiệu là
được rồi! Dù chỉ là cứu đói, cứu trợ thiên tai… chứ chưa đạt đến
phạm vi truyền đạo như các tôn giáo khác.
C: Nói rất đúng! Buổi nói chuyện hôm nay
cũng tạm đủ phải không các bạn, mình cảm thấy rất có ích, xin
chào tạm biệt và hẹn lần sau nha!
A và B: tạm biệt! tạm biệt! ■

TOC \o "1-1" \h \z \u
Lời giới
thiệu.
PAGEREF _Toc227469323 \h 2
04. Ăn chay và ăn mặn.
PAGEREF _Toc227469324 \h 3
05. Vu lan & địa
ngục
trong tâm thức
mỗi
người
PAGEREF _Toc227469325 \h 10
06. Tuổi thơ và người
lớn.
PAGEREF _Toc227469326 \h 13
07. Tụng kinh – Trì
chú – Niệm Phật
PAGEREF _Toc227469327 \h 17
08.
PAGEREF _Toc227469328 \h 26
09. Bạn có biết
PAGEREF _Toc227469329 \h 27
10.
PAGEREF _Toc227469330 \h 37
11.
PAGEREF _Toc227469331 \h 38
12. Đức Quán
Âm với Ngày Hạnh
của ngành Nữ
GĐPTVN..
PAGEREF _Toc227469332 \h 39
13. Bước đầu
làm quen với
Thiền.
PAGEREF _Toc227469333 \h 45
14. Thiền bây
giờ và
ở đây.
PAGEREF _Toc227469334 \h 53
15. Thiền
ở đây và bây
giờ (tt).
PAGEREF _Toc227469335 \h 58
16. Tám cái biết
PAGEREF _Toc227469336 \h 68
17. Vu lan trong lòng tôi
PAGEREF _Toc227469337 \h 75
18. Đạo Phật
với giáo dục
tuổi trẻ.
PAGEREF _Toc227469338 \h 79
19. Bổn phận
người Phật
tử tại
gia.
PAGEREF _Toc227469339 \h 86
20. Phật giáo phương
Tây.
PAGEREF _Toc227469340 \h 94
21. Ta-bà và Cực
Lạc.
PAGEREF _Toc227469341 \h 100
22. Tứ động
tâm..
PAGEREF _Toc227469342 \h 109
23. Xảo nguyện.
PAGEREF _Toc227469343 \h 118
24. Hạnh nguyện Quán
Thế Âm..
PAGEREF _Toc227469344 \h 127
25. Lá thư tu
học ké.
PAGEREF _Toc227469345 \h 137
26. Kính mừng
Phật đản.
PAGEREF _Toc227469346 \h 142
27. Tản mạn
từ “Bát kỉnh
pháp” đến “nam
nữ bình đẳng”.
PAGEREF _Toc227469347 \h 151
28. Phật học và khoa
học.
PAGEREF _Toc227469348 \h 159
29. Vai trò người
phụ nữ
trong Phật
giáo.
PAGEREF _Toc227469349 \h 171
30. Tết Trung Thu.
PAGEREF _Toc227469350 \h 182
31. Tĩnh nghĩa thầy
trò.
PAGEREF _Toc227469351 \h 188
32. Human Cloning - Thai sinh hay Thấp
sinh?.
PAGEREF _Toc227469352 \h 196
33. Nhân gian tịnh độ.
PAGEREF _Toc227469353 \h 204
34. Thành đạo
trong mắt em..
PAGEREF _Toc227469354 \h 212
35. Tản mạn
về thời
gian.
PAGEREF _Toc227469355 \h 218
36. Thái tử Tất-đạt-đa
xuất gia.
PAGEREF _Toc227469356 \h 223
37. Giáo dục trong gia
đình Phật tử..
PAGEREF _Toc227469357 \h 232
38.
PAGEREF _Toc227469358 \h 241
39. Sống thiền.
PAGEREF _Toc227469359 \h 242
40. Học kinh
Duy-ma-cật.
PAGEREF _Toc227469360 \h 250
41. An cư
kiết hạ.
PAGEREF _Toc227469361 \h 257
42. Nhận thức
và tinh thần
tu đạo của
thanh thiếu
niên Phật giáo.
PAGEREF _Toc227469362 \h 263
43. Đạo Phật
trong thời đại
chúng ta.
PAGEREF _Toc227469363 \h 271
44. Giáo dục
thanh thiếu
niên Phật tử
trong xu hướng
toàn cầu hóa.
PAGEREF _Toc227469364 \h 278
45. Cõi vĩnh hằng.
PAGEREF _Toc227469365 \h 292
46. Những
bài học thành đạo.
PAGEREF _Toc227469366 \h 299
47. Nụ cười đầu năm..
PAGEREF _Toc227469367 \h 306
48. Việc “hướng
nghiệp” cho tuổi
trẻ Phật
giáo.
PAGEREF _Toc227469368 \h 309
49. Thư về
Thầy.
PAGEREF _Toc227469369 \h 315
50. Hai dòng nước.
PAGEREF _Toc227469370 \h 321
51. Con búp bê và đóa hoa hồng.
PAGEREF _Toc227469371 \h 327
52. Hòa bình và Phật
pháp.
PAGEREF _Toc227469372 \h 331
53. Năm giới
PAGEREF _Toc227469373 \h 339
54. Những
trẻ em đặc biệt
PAGEREF _Toc227469374 \h 345
55. Con đường
Bồ-tát
PAGEREF _Toc227469375 \h 352
56. Âm Nhạc Phật
Giáo trong GĐPT.
PAGEREF _Toc227469376 \h 358
57. Tịnh độ
là đây.
PAGEREF _Toc227469377 \h 364
58. Những bài học
Thành đạo.
PAGEREF _Toc227469378 \h 370
59. Con trâu trong Phật
pháp.
PAGEREF _Toc227469379 \h 377
60. 12 lời khẩn
nguyện dâng
lên đức Quán
Thế Âm..
PAGEREF _Toc227469380 \h 383
61. Đi làm từ
thiện.
PAGEREF _Toc227469381 \h 391
[1]. Thiện
Nhật dịch,
“Tìm hiểu
và học
tập Kinh Pháp
Cú”.
|