Phật giáo truyền đến nước ta từ
rất sớm. Giáo pháp của Phật được lưu giữ qua các bộ
kinh và đã theo chân các nhà nhà sư đi đến khắp nơi.
Tư tưởng Phật giáo đã ảnh hưởng lớn đến văn hóa dân
tộc. Các trí thức nước ta đã từng vận dụng tư tưởng
Phật làm chỗ dựa để hướng đến độc lập văn hóa với
Phương Bắc. Từ xưa, nhiều nhà văn nhà thơ nước ta đã
ít nhiều chịu ảnh hưởng kinh Phật với những mức độ
khác nhau. Trong số đó phải kể đến Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491-1581), Ngô Thì Nhậm (1746-1803)… Sự tác động
của tư tưởng Phật ở hai tác giả này như mạch ngầm
trong cuộc đời của họ.
1. Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491-1581)
Nếu Nguyễn Trãi có nhiều lần
đọc “Pháp Bảo đàn kinh” (tác giả từng viết “Môn
Thiền nhất phái Tào Khê thủy”, “Vô thụ phi đài ngữ
nhược tâm” – “Du Nam Hoa tự”); Nguyễn Du sau này đã
viết “Ngã độc Kim Cương thiên biến kinh” (Tụng đọc
“Kinh Kim Cương” hơn nghìn vạn lần) (“Lương Chiêu
Minh thái tử phân kinh thạch đài”) thì Nguyễn Bỉnh
Khiêm có bài “Độc Phật kinh hữu cảm”. Ông đã chịu
ảnh hưởng Phật giáo khá nhiều trong cuộc đời và sáng
tác.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có
cái nhìn thời thế rất sâu sắc, độc đáo. Ông học được
những kiến thức Nho học từ Lương Đắc Bằng (thuộc
phái Tượng số học của Tống Nho). Học trò suy tôn ông
là Tuyết Giang Phu Tử– một bậc chân nho.
Tuy nhiên ta vẫn gặp thái độ
như không mấy lạc quan trong cuộc đời. Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã viết những câu tương tự Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi:
“Nho quan tự tín đa thân ngộ” (Tự biết “cái mũ nhà
nho” đã làm cho tấm thân mắc nhiều lầm lỡ – “Ngụ
hứng, 3”, ”Bạch Vân am thi tập”). Nguyễn Bỉnh Khiêm
ra làm quan với nhà Mạc nhưng ông cũng thấy được sự
đổ nát từ bên trong. Ông đã dâng sớ chống tham nhũng.
Về trí sĩ ông lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ như là một
tín đồ nhà Phật. (Cha ông là Văn Định cũng đã từng
lấy đạo hiệu là Cù Xuyên).
Về quê ông tích cực xây chùa,
mở trường học. Thường ngày ông cùng với vài nhà sư,
một số bạn bè dạo chơi các danh thắng trong đó có
núi Yên Tử – trung tâm thiền học Việt Nam. Khi
Nguyễn Bỉnh Khiêm chơi chùa Phổ Minh (ngôi chùa được
xây dựng từ thời nhà Trần), ông đã sánh Pháp giới
của nhà Phật với quan niệm Trời của Nho gia: “Pháp
giới ưng đồng thiên quảng đại” (Pháp giới sánh ngang
tầm rộng lớn của trời) “Du Phổ Minh tự”). Điều này
chứng tỏ ông đã nhận thức được tư tưởng “Nhất thế
chư pháp vô phi Phật pháp” ở “Kinh Kim Cang” [7,
56]. Đến tiết Trung nguyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm hy
vọng ở lòng yêu thương rộng lớn:“Từ bi ta muốn nhờ
công sức, Cứu được bao người chịu khổ oan” (“Trung
nguyên tiết xá tội” – Đinh Gia Khánh dịch). Nhà thơ
rất cảm hứng khi đọc kinh Phật (“Độc Phật kinh hữu
cảm”). Ông tâm đắc triết lý sắc không: “Xuân hoa
phong nguyệt không mà sắc” (“Tân quán ngụ hứng,
12”). Đây là tư tưởng “Sắc tức thị không, không tức
thị sắc” nổi bật của “Kinh Bát nhã”
Tư tưởng Thiền có lẽ đã gây
chấn động trong nhận thức của tác giả: “Vị Phật na
tri vô hữu tướng, Đáo thiền phương ngộ bổn lai ky
(cơ)” (Chưa Phật nào hay vô hữu tướng, Đạt thiền mới
biết bổn lai cơ – “Tân quán ngụ hứng, 18”). Tư tưởng
này được tìm thấy ở “Kinh Kim Cang”. Khi Phật nói
với Tu – bồ - đề:
“Phàm cái gì có hình tướng đều
là hư vọng. Nếu các ông thấy các pháp (tướng) đều hư
vọng, không thật (phi tướng) tức là thấy được Như
Lai (thật tướng các pháp)” [7, 41]. Tư tưởng này
cũng được tiếp nối ở “Pháp Bảo Đàn kinh”. Tác giả
nói “Bổn lai cơ” trong trường hợp này không ngoài
mệnh đề “Bổn lai vô nhất vật” (“Pháp Bảo Đàn kinh”).
Khái niệm “cơ” ở cuối câu có thể có nguồn gốc xuất
pháp từ Tượng Số học – vốn là sở trường của Nguyễn
Bỉnh Khiêm.
Chính tư tưởng Thiền và kinh
Phật đã làm phong phú và nâng cao bản lĩnh Nho học
cùng bản sắc trí tuệ trong thơ và đời Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
2. Ngô Thì Nhậm (1746-1803)
Đến thế kỷ XVIII, Nho giáo –
đặc biệt là Tống Nho –được các Việt Nho sử dụng
trong thế chủ động, trong không khí tình hình học
thuật và nghiênn cứu ở giới nho sĩ đã phát triển rất
cao. Ngơ Thì Nhậm đã có những đóng góp lớn lao cho
nhà Tây Sơn trong đại phá quân Thanh, trong các văn
kiện quan trọng của Quang Trung từ cầu hiền, đòi
đất, cầu hôn… Ông xứng đáng là một nhà Nho hành đạo
tài ba, nhà nho đi sứ thành công nhưng cũng đóng góp
không nhỏ vào học thuật Phật giáo thế kỷ XVIII. Dấu
vết các kinh Phật được ông nhắc đến rất nhiều trong
sáng tác của ông, đặc biệt là ở “Trúc Lâm tông chỉ
nguyên thanh” (còn gọi là “Trúc Lâm đại chân viên
giác thanh”). Có thể nói ông là một trong những tác
giả thời Trung đại am tường nhiều kinh Phật.
Trước hết Ngô thì Nhậm là nhà
Nho có chí lớn. Bị Chúa Trịnh Tông ruồng bỏ, ông
theo Tây Sơn và thể hiện trọn vẹn phong cách một nhà
nho hành đạo. Trong cuộc đời và thơ văn Ngô Thì Nhậm
còn có một chất liệu khc: chất liệu Thiền. Thiền học
từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII đ được nhiều bậc vua
chúa ngưỡng mộ, trợ giúp. Đồng thời nhiều thiền sư
Trung Quốc đ cĩ mặt ở Đàng Trong. Vua Lê Huyền Tông,
Trịnh Tráng xem Hòa thượng Chuyết Công (1590-1644)
(Phái Lâm Tế) là Thầy. Năm 1678 vua Lê Hy Tông sám
hốí với thiền sư Tông Diễn (1640- 1711) (phái Lâm
Tế). 1696 Nguyễn Phúc Chu nhận thiền sư Thạch Liêm
(phái Tào Động) làm sư phụ.
Đặc biệt thời này có sự đóng
góp của thiền sư Chân Nguyên (1646-1726) (phái Trúc
Lâm) và thiền sư Hương Hải (1627-1715) (phái Trúc
Lâm). Thiền sư Hương Hải dịch và chú giải khoảng 30
tác phẩm kinh và ngữ lục. Thiền sư Chân Nguyên và
các đệ tử khắc in và trùng san các tác phẩm như:
“Thiền uyển tập anh”, “Kế đăng lục”, “Thánh đăng
lục”, “Thượng sĩ ngữ lục”,… Lúc này Phái Liễu Quán
đã được thành lập. Các trí thức như Lê Quí Đôn đã
chú giải kinh “Kim cương”, sách “Kiến văn tiểu lục”
(Lê Quí Đôn) ca ngợi thiền sư Hương Hải. Phạm Quí
Thích nhận xét: “từ khi có đạo Phật, chưa bao giờ
thịnh như ngày nay” (“Lập Trai văn tập”).
Ngô Thời Nhậm sống trong không
khí các tác phẩm của Thiền Trúc Lâm được sưu tập khá
đầy đủ, thiền phái Trúc Lâm đã được phục hưng. Những
kinh điển Đại thừa được du nhập khá nhiều bên cạnh
sự sút giảm niềm tin vào Lý học ở giới trí thức.
Trong gia đình họ Ngô, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Ức rất mộ
Phật. Ngô Thì Nhậm viết “Trúc Lâm tông chỉ nguyên
thanh” với mục đích vừa tiếp nối Thiền phái Trúc Lâm
vừa vừa tạo ra một tác phẩm lấy cảm hứng từ kinh
“Viên giác”. Ngay tựa đề “Trúc Lâm đại chân viên
giác thanh” phần nào đã nói lên điều đó. Ở tác phẩm
này, tác giả có kế thừa, trích dẫn hàng loạt các tác
phẩm kinh điển như: “Hoa nghiêm”, “Kim cương”, “Lăng
nghiêm”… Một số trường hợp tác giả sử dụng đến kinh
điển Phật giáo như:
- “Kinh Lăng – già nói rằng:
“Trụ là chủ không trụ là khách” [14, 106]
- “Kinh Duy –ma – cật nói cái
gì cũng đúng” [14, 124].
- “Cương yếu đạo lý là ở trong
kinh Lăng – già” [14, 127].
- “Kinh Hoa Nghiêm nói: thấy
hết ba nghìn thế giới , thấy hết tất cả chúng sinh,
tuy chưa có thiên nhãn , mà sức mục nhãn đã được như
thế [14, 151].
- “Kinh Kim cương nói rằng:
Chẳng phải là pháp, chẳng phải là “chẳng phải pháp””
[ 14, 160]…
Qua những ví dụ này cho thấy
Ngô Thì Nhậm đã huy động nhiều kinh Phật để đối
chiếu và cho thấy những ưu thế của triết lý Phật
giáo so với Lý học của Nho giáo. Đây là những sáng
tạo lý thú của tác giả đồng thời thể hiện chiều sâu
mang tính triết luận của tác phẩm.
Trong tác phẩm đó ông đặc biệt
ca ngợi ngợi ca Thiền phái Trúc Lâm. Trong tác phẩm
(“Tam Tổ hành trạng” [14, 183-223], ông cũng đứng từ
đỉnh cao Thiền học để đánh giá Lý học. Điều đáng lưu
ý ở ông xuất phát từ Thiền Trúc Lâm – một dòng Thiền
Việt Nam để so sánh và thẩm định Lý học của Trung
Quốc.
Từ nhữngcố gắng biểu dương
thanh phong Thền Trúc Lâm, ông lập Trúc Lâm thiền
viện ở phường Bích Câu. Có khi ông được ví với Trúc
lâm đệ tứ tổ. Trong thơ ông có bài tiếp nối motip
hoa mộc cận (hoa râm bụt) từ Nguyễn Trăi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm trước đó: “Xuân hoa ta tận đan thành
Phật, Sắc tướng di lai bản tự thiền” (Hoa xuân tàn
hết, riêng được thành Phật, Sắc tướng khác tục, vốn
tự cửa thiền dời tới – “Cung cận hoa” – “Hoa râm bụt
trong cung vua”).
Trong thơ ông có những phút
giây siêu thoát: “Tiêu dao nhàn tại hồng mông thế,
Cương tỏa hồi đầu liễu bất quan” (Người như rong
ruỗi đời mông muội, Danh lợi ḷòng xưa giũ sạch rồi
– “Tức cảnh, 3” – Đỗ Ngọc Toại dịch).
Tuy cĩ đơi lc lưu lạc và rời
khỏi chính trường nhưng thực tế cuộc sống của ông là:
“Thiền viện dục tiền, thiền vị ổn, Khấu quan tiêm
thủ năo đa phương” (Muốn khép pḥng tu, tu chẳng
trót, Tay măng gõ cửa dễ làm ngơ – “Họa “Trùng dương
tiểu chước” chi tác” – Đỗ Ngọc Toại dịch)
Tuy mến mộ đạo thiền nhưng nh́n
chung Ngô Thì Nhậm ṽn là một nhà nho. Một nhà nho
hành đạo, sáng tác nhiều tác phẩm thơ nho giá trị dù
ông vẫn đánh giá cao tư tưởng Thiền hơn Nho.
Qua khảo sát hai nhà thơ ta có
dịp tìm hiểu vài nét tư tưởng cùa những nhà văn nhà
thơ trong cùng một truyền thống liên tục của tư
tưởng Phật giáo. Tư tưởng đó không ồn ào sôi nổi
trong cuộc đời và trong sáng tác của các tác giả này
nhưng thầm lặng và không kém phần mảnh liệt. Nó trở
thành mạch ngầm, thành truyền thống xuyên đi suốt
lịch sử dân tộc triều Lê- Nguyện, đó cũng là thời
gian Phật giáo không còn là quốc giáo. Tìm hiểu
những tác giả khác ta cũng sẽ tìm được không ít
trường hợp tương tự như Nguyển Bỉnh Khiêm, Ngô Thì
Nhậm.
Tài liệu tham khảo:
1. Thích Thiên Ân (1966), Giá
trị triết học tôn giáo trong Truyện Kiều, Nxb Đông
Phương, SG.
2. Thạch Trung Giả - “Từ tâm sự
qua mọi giai đoạn của cuộc đời đến Thiền trong thơ
của Nguyễn Trãi” – Hải Triều âm, số 9-10, tháng
4/1975
3. Nguyễn Thạch Giang (2005),
Đoạn trường tân thanh dưới cái nhìn của Nho gia –
Thiền gia, Nxb Văn hóa Sài Gòn. Tp. HCM.
4. Nhất Hạnh, Kim Cang – gươm
báu chặt đứt phiền não, Nxb Lá Bối.
5. Nguyễn Phạm Hùng (1998), Thơ
Thiền Việt Nam những vấn đề về lịch sử và tư tưởng
nghệ thuật, Nxb Đại học Quốc gia, HN.
6. Nguyễn Khuê (1997), Tâm sự
Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch vân quốc ngữ thi tập, Nxb
Tp. HCM.
7. Kim Cang và Tâm kinh dịch
nghĩa và lược giải (1967) (Thích Thiện Hoa dịch),
Hương Đạo xb, SG.
8. Kinh Pháp Bảo Đàn (1997) (Thích
Duy Lực dịch), Thành hội Phật giáo Tp. HCM.
9. Kinh Viên Giác (1990) (Thích
Thiện Hoa dịch) (Phật học phổ thông khóa VIII),
Thành hội PG-Tp. HCM.
10. Nguyễn Trãi toàn tập
(1976), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
11. Nhiều tác giả (2000), Đến
với thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
12. Trần Ngọc Ninh (2009),
Nguyễn Trãi Huyễn – Thực và Sắc – Không, Tc Hồn Việt,
số 25.
13. Nguyễn Hữu Sơn (2005), Văn
học trung đại Việt Nam quan niệm con người và tiến
trình phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
14. Thơ văn Ngô Thì Nhậm (tập
1) (1978), Nxb KHXH, HN.
15. Thơ Ngô Thì Nhậm (1986),
Nxb Văn học. HN.
16. Thích Thanh Từ (1999), Kinh
Pháp Bảo Đàn giảng giải, Thiền viện Thường Chiếu.
17.
http://vi.wikipedia.org/wiki
18. Tạp chí Khoa học, Trường
Đại học Sư Phạm tp. HCM, số 17(51)/ 7-2009