|

Phật giáo & y học
DƯƠNG QUỐC AN - CÔNG SĨ
biên dịch
Có một câu chuyện về thái tử Tất Đạt Đa “nửa đêm vượt thành”.
Chuyện kể rằng Tất Đạt Đa ở trong thâm cung với cuộc sống giàu
sang, cảm thấy chán nản bèn ra ngoài thành dạo chơi. Lần thứ
nhất xuất du, Ngài thấy một người già, Tất Đạt Đa rất phiền não,
đánh ngựa về cung. Lần thứ hai Ngài thấy một người bệnh. Lần thứ
ba Ngài thấy một người chết. Lần thứ tư Ngài thấy một vị Tăng
khổ hạnh. Bốn người này đều là thiên thần biến ra để điểm hóa
cho Ngài. Bốn lần ra ngoài này mới đủ để cho Ngài quyết định
xuất gia tìm chân lý tối thượng giải thoát khổ não của sinh lão
bệnh tử.
Một đêm nọ, Ngài gọi người phu ngựa của mình theo, cưỡi trên con
ngựa trắng yêu quý, bỏ hoàng cung mà đi. Nhưng cửa thành đóng
chặt không thể đi, liền đó có bốn đại thiên vương nâng bốn chân
con ngựa lên để Ngài và ngựa vượt khỏi tường thành. Phật giáo
cho nhân sinh là bể khổ, đại thiên thế giơi chỉ là nơi hội tụ
của thống khổ, người sống ở đời, sinh lão bệnh tử là một quá
trình không dứt của thống khổ (mặc dù đây là hiện tượng sinh lý
tự nhiên). Cho nên Phật giáo hướng con người siêu thoát thế tục,
không để đau khổ ràng buộc, lấy tâm an tĩnh cầu cảnh giới tự tại.
Bệnh tật là nỗi “khổ” nhất của con người, nó trực tiếp giày vò
thân tâm con người, nên cứu người trước tiên phải cứu nỗi khổ
của họ, trước tiên phải làm cho con người thoát khỏi nỗi khổ của
bệnh tật, vì vậy Phật giáo có nói “Cứu một mạng người hơn là tạo
bảy cấp phù đồ”. Tín đồ Phật giáo thông qua trị bệnh phổ cập tri
thức y học và truyền bá học thuyết Phật giáo, thâu nạp môn đồ,
đồng thời cũng khiến cho y học Phật giáo qua thực tiễn được phát
triển và nâng cao.
Y phương minh và Trung y
Trong “Ngũ minh” mà giáo đồ Phật giáo học có “Y phương minh” là
tri thức y học. “Y phương minh” có hệ thống lý luận riêng, có
tác dụng chỉ đạo nhất định đối với vấn đề trị bệnh, bảo vệ sức
khỏe.
Từ thời Tam Quốc Ngụy Minh đế, hai vị Hòa thượng Ấn Độ là Nhương
Na Bạt Đà La và Da Xá Quật Đa đã dịch “Ngũ minh luân” trong đó
có “Ngũ phương minh”. Theo ghi chép trong “Khai nguyên lục” thì
từ cuối đời Hán đến Ngụy Tấn Nam Bắc triều, sách Phật dịch có
đến 1.621 bộ, 4.180 quyển, trong đó có nội dung y học khá nhiều.
Theo “Tùy thư - Kinh Tịch Chí” thì đương thời sách y học Phật
giáo dịch từ Ấn Độ có hơn 10 loại, như “Long Thọ Bồ tát dược
phương”, “Tây Vực chư tiên sở thuyết dược phương”, “Bà la môn
chư tiên dược phương”, “Thích Tăng y châm cứu kinh”… Trong đó
“Đại tạng kinh” là tập đại thành của kinh điển Phật giáo. Theo
giới thiệu của Lý Lương Tùng và Quách Hồng Thọ trong “Trung Quốc
truyền thống văn hóa dữ y học” thì trong “Đại tạng kinh” có
khoảng 400 bộ chuyên luận về y lý, có vệ sinh y dược, bệnh về
sinh lý, bệnh tâm lý, ma thuật, tu tâm dưỡng tánh… nội dung vô
cùng phong phú. Không ít sách y, phương thuốc xuất phát từ hai
vị đại sư của Phật giáo Đại thừa là Long Thọ và Kỳ Bà đến nay
vẫn còn lưu truyền và vận dụng rộng rãi.
Riêng về phương diện thuật ngữ y học, trong kinh Phật có hơn
4.600 thuật ngữ, có danh từ về giải phẫu sinh lý, kinh lạc phủ
tạng, có cả y liệu, dược học, tâm lý, tên bệnh, y sự tạp luận…
Tổng hợp tư liệu có liên quan, xin kể ra một số y thư Phật giáo
sau đây: “Phật thuyết Bà la môn tỵ tử kinh”, “Phật thuyết nại nữ
kỳ vức nhân duyên kinh”, “Phật thuyết nại nữ bà kinh”, “Phật
thuyết Phật y kinh”, “Phật thuyết bào thai kinh”, “Phật thuyết
Phật trị thân kinh”, “Phật thuyết hoạt ý kinh”, “Phật thuyết phù
tiểu nhi kinh”, “Thần mật yếu pháp kinh”, “Tọa thiền tam muội
pháp môn kinh”, “Dịch cân kinh”, “Mạn Thù Sư Lợi Bồ tát phù tạng
trung nhất tự phù vương kinh”, “Kim cương Dược xoa sân nộ vương
tức tai đại uy thần nghiệm niệm tụng nghi quỹ”, “Trừ nhất thiết
tật bệnh Đà La Ni kinh”, “Tu tập chỉ quán tọa thiền kinh”, “Đại
trí độ luận”, “Ma Ha chỉ quán”, “Lục diệu pháp yếu”, “Ca Diếp
tiên nhân thuyết y nữ nhân kinh”, “Diên thọ kinh”, “Ngũ môn
thiền kinh yếu dụng pháp”, “Kỳ Bà mạch kinh”, “Long Thọ nhãn
luận”, “Ngũ phương minh”... Những kinh điển này của Phật giáo có
sự ảnh hưởng và hấp thụ hỗ tương với lý luận Trung y. Phật giáo
cho rằng thân thể con người là do “tứ đại” cấu thành. “Địa thủy
hỏa phong âm dương khí hậu dĩ thành nhân thân bát xích chi thể”.
Do đó, căn nguyên của mọi bệnh tật là do “tứ đại” không điều hòa.
“Thứ nhất địa tăng mạnh khiến cho thân thể nặng nhọc, thứ nhì là
thủy chứa nhiều chảy nước mắt nước mũi, thứ ba là hỏa thịnh
khiến cho đầu nóng ran, thứ tư là phong động mạnh khiến cho khí
ngưng khó thở”. Quan điểm này có chỗ tương đồng với quan điểm y
học Trung y với thuyết “Âm dương ngũ hành”, “Âm dương chuyển hóa”
và “Âm dương tiêu trưởng”. Âm dương bình hòa thì người khỏe mạnh,
nếu mất sự bình hòa thì sẽ bị bệnh. Đồng thời trong thân thể,
kim, mộc, thủy, hỏa, thổ có quan hệ chặt chẽ với nhau, tương
sinh tương khắc rất có ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Ở phương diện ký sinh trùng học, y học Phật giáo cũng có phát
hiện độc đáo. Theo “Thiền bệnh pháp yếu kinh” và “Chánh pháp
niệm xứ kinh” thì nhân thể là tổ vi trùng, trùng trong người có
khoảng 80 loại, lại nói cụ thể cả tên từng loại, miêu tả trạng
thái… rất phù hợp với quan điểm của y học hiện đại về ký sinh
trùng. Ký sinh trùng học hiện đại cũng phát hiện trong cơ thể
người có ty trùng, cấu trùng, tiên trùng… Như vậy, có thể thấy
kinh Phật nói không phải là hư huyễn.
Trong “Tu hành đạo địa kinh” lại có nghiên cứu về bào thai người.
“Thai thành 7 ngày, lúc đầu không tăng giảm, 14 ngày như màng
sữa mỏng… 49 ngày như thịt ngưng…” miêu tả rất tỉ mỉ quá trình
tạo thành thai nhi trong bụng mẹ, phù hợp với y học hiện đại.
Đặc biệt là Tiểu thừa Phật giáo lưu hành thời Hán mạt và Tam
Quốc đã trực tiếp hấp thụ lý luận “Nguyên khí thuyết” và “Âm
dương ngũ hành thuyết” để giải thích về nguyên nhân bệnh tật.
Hai thuyết này cho rằng “nguyên khí” phối hợp tốt thì tâm thần
bình hòa, không bị các loại phiền não và dục vọng quấy nhiễu.
Ngược lại, nếu “nguyên khí” phối hợp không tốt thì âm dương ngũ
hành rối loạn, mất đi sự bình hòa, muôn vàn bệnh tật phát sinh.
Học thuyết “Tứ đại” của Phật giáo cũng được Trung y trực tiếp
hấp thụ. Trong “Chư bệnh nguyên lưu luận” của Sào Nguyên Phương
đời Tùy viết rằng: “Phàm bệnh phong có 404 chứng, nói gọn lại
thì không ngoài 5 loại là 6 tạng nhiếp thụ, một là hoàng phong,
hai là thanh phong, ba là xích phong, bốn là bạch phong, năm là
hắc phong… gọi ngũ phong, sinh năm loại trùng có thể hại người”.
Trong “Thiên kim phương” của Tôn Tư Mạo cũng viết: “Phàm tứ khí
hợp đức, tứ thần an hòa, nhất khí không điều hòa thì trăm bệnh
sinh, tử thần thất điều thì 404 bệnh cùng phát”.
“Đại trí độ luận” cho rằng bệnh có “ngoại duyên” và “nội duyên”
là hai nhân tố chính. “Ngoại duyên” cũng là điều kiện ngoại tại
như bị nóng, lạnh, đói, khát, thương tích… “Nội duyên” là điều
kiện nội tại như túng dục, tham sắc, giận dữ, lo sợ, suy nghĩ…
“Ma Ha chỉ quán” cho rằng tham luyến ngũ trần sắc, thanh, hương,
vị, xúc thì sẽ sinh bệnh, mê đắm sắc cảnh sinh bệnh ban, tham
hưởng thanh âm sinh bệnh thận, tham hưởng hương khí sinh bệnh
phổi, tham lam khẩu vị sinh bệnh tim, tham lam xúc giác sinh
bệnh tỳ. Những điều này phù hợp với “Tạng tượng học thuyết” của
Trung y.
Y học Phật giáo cho rằng đối với chứng bệnh không giống nhau thì
có phương pháp chữa trị không giống nhau, “Thân bẩm thọ tứ đại,
tính cách bất đồng do đó trị bệnh cũng không phải chỉ một cách”.
“Ma Ha chỉ quán” cũng nói “trị bệnh phải đối chứng hạ dược mới
mau bớt bệnh”. Người thầy thuốc trước hết phải chẩn đoán chính
xác nguyên nhân phát bệnh, chẩn đoán càng chính xác thì khả năng
trị bệnh càng hiệu quả, khả năng bớt bệnh càng cao, điều này
tương ứng với nguyên tắc biện chứng của Trung y là “đồng bệnh dị
trị”, “dị bệnh đồng trị” (tức cùng bệnh mà trị khác nhau, khác
bệnh mà trị giống nhau). Trong “Trung Quốc y học sử” Trần Bang
Hiền cho rằng: Xét sự biến thiên của y học Đường, Tống, thực
chất là đặt cơ bản trên Phật giáo Ấn Độ.
Phật pháp và phân loại bệnh tật
Phật giáo chia bệnh tật ra 404 loại, 101 loại lại phân ra hai bộ
phận lớn là “Tâm bệnh” và “Thân bệnh”. “Tâm bệnh” là chỉ những
sự phiền não trong nội tâm như tham chấp, lo sợ, ưu sầu, thù hận…
Có thể nói, Phật giáo nghiêng về tâm bệnh - gốc của vô minh
phiền não. Trong “Giáo thừa pháp số” có nói, phiền não của chúng
sinh có thể quy nạp vào 8 vạn bốn ngàn loại, chúng có thể chưng
lọc thành 3 loại phiền não “Tham, sân, si”. Do đó Đức Thích Ca
lấy việc trị tâm bệnh của chúng sinh làm trách nhiệm của mình. (Xem
“Tâm lý bảo kiện thiên”).
“Thân bệnh” là chỉ sự đau nhức thân thể, cơ nhục, gân cốt, thần
kinh, lục phủ, ngũ tạng không điều hòa, gọi là “Tứ đại ngũ tạng
bệnh tướng”. “Ngũ phương minh” của Phật giáo chủ yếu nhằm vào kỹ
thuật trị liệu chữa bệnh. Trong “Hoa Nghiêm kinh, Phổ Hiền hạnh
nguyện phẩm” có nói 10 Đại hạnh nguyện, trong đó “Hằng thuận
chúng sinh nguyện” nói rằng: “Ở các bệnh khổ thì nguyện làm
lương y”. Dược Sư Phật, Dược Vương, Dược Thượng Bồ tát, Long Thọ
Bồ tát đều là giới y dược trị thân bệnh mà đắc danh.
Sự phân loại bệnh tật của Phật giáo phù hợp với mô thức y học
hiện đại. Y học hiện đại cho rằng sức khỏe của con người bao gồm
hai phương diện là thân thể khỏe mạnh và tâm lý khỏe mạnh (tinh
thần). Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa “sức khỏe” không phải
chỉ là cơ thể không bị bệnh tật hay khiếm khuyết mà còn phải có
trạng thái tâm sinh lý hoàn chỉnh và năng lực thích ứng với xã
hội. Phật giáo cho rằng căn (sinh lý), trần (hoàn cảnh xã hội)
và thức (tâm lý) là 3 duyên hòa hợp với nhau hỗ tương ảnh hưởng
và hỗ tương tác dụng. Do đó tâm khởi phiền não ác nghiệp thì
không chỉ là biểu hiện của tâm bệnh mà còn có thể dẫn đến “thân
bệnh”. Trong “Chánh pháp niệm xứ kinh quán thiên phẩm” có nói:
“Tâm thanh tịnh thì huyết thanh tịnh, huyết thanh tịnh thì nhan
sắc (mặt) thanh tịnh”. Có thể nói Phật giáo đã đưa ra sự liên hệ
chặt chẽ giữa tâm lý, hành vi của con người với sinh lý, bệnh
tật cho đến cả cá nhân con người và xã hội, chỉ cho chúng sinh
con đường thoát ly mọi thống khổ của tâm bệnh, thân bệnh, từ đó
mà đạt đến cảnh giới Niết bàn an lạc vĩnh hằng.
Phật pháp đối trị bệnh tật
Lý luận căn bản của Phật giáo về vấn đề cứu khổ chúng sinh đã
đưa ra phương pháp đối trị về tâm bệnh và thân bệnh. Từ góc độ y
học hiện đại mà xét thì các phép tu trì theo Bát chánh đạo, Tam
học, Lục độ… đều là những phương cách hữu hiệu chữa trị thân tâm,
những phép tu trì ấy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giữ
gìn sức khỏe thân tâm, kiện toàn nhân cách.
Phật giáo đưa ra phép trị liệu tương ứng đối với bệnh tâm lý,
như “Giáo thừa pháp số” cho rằng “Có 8 vạn 4 ngàn trần lao thì
có 8 vạn 4 ngàn pháp môn đối trị” (phép chữa trị). “Đại thừa
nghĩa chương” thì đưa ra 6 phương pháp đối trị là Bất tịnh quán,
Từ bi quán, Nhân duyên quán, Sở tức quán, Niệm Phật quán, Không
quán, phương pháp cụ thể tương tự như liệu pháp trị thân tâm
bệnh hiện đại. Phật giáo còn cho rằng sức mạnh của tâm linh có
thể phát sinh hiệu quả trị bệnh, lại vận dụng phép tu định
chuyên chú tâm ở bộ vị cụ thể mà khởi tác dụng trị liệu, điều
này có chỗ rất giống với lý luận khí công. Ngoài ra, các hình
thức khác trong sinh hoạt hàng ngày như lễ bái, tụng niệm, tọa
thiền… cũng đều có tác dụng phòng trị bệnh tật.
a) Lễ bái:
Đây là một trong các phương pháp tu trì của tín đồ Phật giáo.
Lúc cúi đầu lễ bái, co gập thân mình khiến cho toàn thân vận
động, tinh thần tập trung, động tác chậm rãi có thể làm cho khí
huyết lưu thông, tinh thần bình hòa không nóng vội. Lúc lễ bái
tâm ý thành tín rất có tác dụng với việc phòng trị bệnh, gìn giữ
sức khỏe cơ thể.
b) Sám hối:
Bệnh tật trong thân tâm con người thường là do sự bất lương
trong ý thức nội tâm dẫn đến, đặc biệt là khi người ta làm trái
với đạo lý xã hội, hành vi đạo đức sai trái thì gánh nặng tâm lý
càng thêm trầm trọng. Sám hối là tưởng tượng trước mặt là chư
Phật, Bồ tát, thành khẩn hối lỗi khiến cho gánh nặng tinh thần
được vơi đi. Trong “Quán Phổ Hiền hành pháp kinh” nói rằng: “Nếu
muốn sám hối thì ngồi ngay ngắn niệm thực tướng, mọi tội lỗi như
sương móc, tuệ nhật có thể tiêu trừ”. Đây rõ ràng có lợi cho
việc trị liệu bệnh tật thân tâm.
c) Xướng tụng:
Lúc tín đồ Phật giáo tụng kinh thì mọi ý niệm đều bỏ, chân thành
kính ý, phối hợp với âm thanh của nhạc khí như chuông, mõ, trống
theo tiết tấu trầm bổng trong không khí trang nghiêm của Phật
đường có hiệu quả rất tốt cho việc trị liệu bệnh thân tâm, điều
này phù hợp với quan niệm y học hiện đại (như liệu pháp thư giãn,
liệu pháp thôi miên). “Ma Ha chỉ quán” còn đưa ra cách trị bệnh
phải đối chứng hạ dược thì mới mau bớt bệnh, đồng thời phải chẩn
đoán chính xác bệnh tình và nguyên nhân bệnh, am hiểu và phân
biệt các chứng trạng khác nhau của bệnh tật, như thế thì hiệu
quả trị bệnh càng lớn. Khi trị các chứng bệnh trong thân thể,
Phật giáo có nhiều phương pháp đối trị như: dược thạch châm cứu,
thực vật thiên nhiên, vận động dưỡng sinh (như Yoga, Thái cực
quyền, võ thuật), án ma, tu định công, tu quán tưởng… Những
phương pháp và nguyên tắc trị liệu này có rất nhiều điểm tương
đồng với lý luận Trung y. Phật giáo còn rất chú trọng đến việc
chăm sóc bệnh nhân, khôi phục sức khỏe cho bệnh nhân. Trong “Tứ
phần luận” ghi chép: Phật Thích Ca đã từng tự mình rửa ráy, chăm
sóc cho Tỳ kheo mắc bệnh lâu ngày, lại án ma, thuyết pháp khuyên
răn khiến cho người bệnh được an ủi rất lớn, do đó Phật nói:
“Nếu muốn cung dưỡng Ta thì nên cung dưỡng bệnh nhân trước”. Đây
tuy là biểu hiện cụ thể về lòng từ bi của Phật giáo, nhưng khách
quan mà nói thì làm cho tâm lý người bệnh được nhẹ nhàng, tinh
thần được an ủi, có lợi cho việc chữa trị bệnh.
Hoạt động y học của y gia Phật giáo.
Y gia Phật môn dùng y thuật tự chữa trị cho mình, lại dựa vào
hành y để thâu nạp môn đồ, trong đó có nhiều người y thuật cao
minh đã trở thành một lực lượng lớn trong đội ngũ y liệu cổ đại
Trung Quốc. Cao tăng Vu Pháp Khai đời Tây Tấn là một y gia Phật
môn lừng danh của Trung Quốc, ông trước tác “Nghị luận bị dự
phương”. Chi Pháp đời Đông Tấn có viết “Thân tô phương” 5 quyển.
Đời Nam Bắc triều có 7 quyển “Hàn thực giải tạp luận” của Huệ
Nghĩa. Tăng Thâm có “Tăng điều dược phương” 30 quyển…
Đạo Hồng, Mạc Mãn đều có trước thuật. Trong lịch sử y gia Phật
môn cũng có nhiều người cống hiến rất lớn cho sự giao lưu văn
hóa giữa Trung Quốc với nước ngoài. Như cao tăng Giám Chân đời
Đường đã từng lặn lội qua Nhật Bản hành y trị bệnh truyền đạo,
trước tác “Giám Chân thượng nhân mật phương”, tự hiệu đính những
chỗ sai lầm trong thảo dược học Nhật Bản. Các quan viên y dược
chưởng quản Nhật Bản đều theo Giám Chân học y. Giám Chân được y
giới Nhật Bản suy tôn làm Tổ sư. Cho đến thời Giang Hộ
(1603-1867) trên báo thảo dược vẫn còn tạo hình Giám Chân. Đương
nhiên, y gia Phật môn ở nước khác cũng đến Trung Quốc. Sự giao
lưu văn hóa với bên ngoài khiến cho y học Phật giáo cũng phát
triển mạnh, đồng thời cũng thúc đẩy sự phát triển của y học
Trung Quốc.
Nhiều ngôi chùa nhờ chữa bệnh mà vang danh, như Trúc Lâm tự ở
Triết Giang giỏi về trị phụ khoa, được mời vào cung chẩn chữa
bệnh; Pháp Môn tự ở Tây An, Thiểm Tây có một tấm y bia trên đó
khắc 63 phương thuốc chữa bệnh phụ khoa để “người ở xa gần biết
đến, đối chứng mà uống thuốc thì bớt ngay”. Trong động đá Long
Môn ở Lạc Dương tỉnh Hà Nam có “Dược Vương động”, là nơi có
phương dược khắc vào đá sớm nhất, hiện nay đã chỉnh lý được 118
phương dược. Ngoài ra còn có nhiều y tăng được các vị hoàng đế
ban thưởng như tăng nhân Pháp Kiến ở Lô Sơn đời Tống “y thuật
lừng danh thiên hạ”, đã từng được Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn
triệu kiến ban thưởng Tử Vân Bào, gọi là “Quảng Tế đạo sư”. Đời
Nguyên có Hòa thượng Quyền Hành có công chữa bệnh cho hoàng hậu,
được ban “Trung Thuận dược sư”, phong làm Thái Dược sư 5 tỉnh;
Hòa thượng Phổ Ánh vì tinh thông y thuật được Nguyên Võ Đế phong
làm Thái y, ở triều đến 12 năm.
Y học Phật giáo Đôn Hoàng
Những di tích còn lại ở Đôn Hoàng là di sản quý báu không chỉ
đối với lĩnh vực nghiên cứu văn hóa Phật giáo mà còn là nơi tìm
hiểu văn hóa y học Phật giáo, là một bộ phận trọng yếu hợp thành
văn hóa Trung y.
Trung y Học viện Cam Túc bắt đầu từ năm 1983 đã tập trung tư
liệu y dược ở Đôn Hoàng, chỉnh lý 88 quyển với hơn 20 vạn chữ.
Đến năm 1990, Viện lại tập trung nghiên cứu nỗ lưc hơn 3 năm
viết ra “Đôn Hoàng Trung y dược toàn thư” đến 120 vạn chữ, tập
hợp được 1.024 phương dược cổ, phân ra 9 bộ phận để hiệu đính,
tập chú từ y lý, châm cứu, chẩn pháp, bản thảo, y phương, y dược
cổ tàng, đạo y, y học Phật giáo đến y sự tạp luận. Nhìn chung, y
học Phật giáo trong y học Đôn Hoàng bao quát các phương diện y
lý, y thuật, tâm lý, khí công kiện thân, vệ sinh bảo vệ sức khỏe…
Trong 7 hang đá, 570 động rộng gần 6 vạn mét vuông bích họa đã
bao hàm thành tựu của y học Phật giáo. Trong bức họa “Phúc điền
kinh biên” vẽ cảnh “Thí y dược” rất sinh động. Hai gia nhân đang
đỡ một người bệnh nửa nằm nửa ngồi, người chữa bệnh đứng một bên
bắt mạch rất chăm chú, phía sau có một người đang dùng cối giã
thuốc. Hang 148 có bức bích hoa nhổ răng miệng Phật, phía Tây
vách hang 257 có bức “Lộc vương bản sinh cố sự” vẽ cảnh kẻ ngu
si cầu xin Quan Thế Âm cứu chữa. Vách đá phía Tây hang 285 đời
Tây Ngụy vẽ hình 14 vị Bồ tát thiền định và luyện công. Động 260
đời Bắc Ngụy và 98 đời Ngũ Đại có vẽ hình nhiều người đang luyện
khí công, tư thế, động tác, ánh mắt đều rất giống thực, bức vẽ ở
động 159 tái hiện cảnh vệ sinh của các Hòa thượng như tắm, giặt,
gội đầu, đánh răng và đây là bức vẽ sớm nhất mô tả việc làm vệ
sinh trong khoang miệng.
Source:
Giác
Ngộ online
|