Phật giáo  và  khoa học
Thiền sư Jean-Pierre Faure

Hoàng Phong dịch

 

 

(Hình trên: Thiền sư Taiun Jean-Pierre Faure)

Lời giới thiệu Sau đây là lược dịch buổi phỏng vấn một Thiền sư người Pháp là ông Jean-Pierre Faure về chủ đề Phật giáo và khoa học trên đài truyền hình France 2 của chính phủ Pháp, thuộc chương trình phát hình hàng tuần về Phật giáo. Vì chủ đề khá bao quát nên đã được tổ chức làm hai lần vào hai ngày chủ nhật 10 và 17, tháng tám, 2008. Ông J.P. Faure là một nhà khoa học nhưng đã bỏ khoa học để chọn lấy Phật giáo, ông là một vị Thượng tọa, hiện trụ trì một ngôi thiền viện lớn nhất Âu châu, tọa lạc trong thung lũng sông Loire, nơi tập trung nhiều lâu đài đẹp nhất nước Pháp.
 

Phật giáo và khoa học là một chủ đề đã từng làm say mê người Tây phương, đã có không biết bao nhiêu sách vở và bài viết đề cập đến chủ đề này, nhưng chắc chắn trong tương lai sẽ còn tiếp tục làm say mê nhiều nhà khoa học khác, kể cả các triết gia và các học giả quan tâm đến sự hiện hữu của con người và sự hiểu biết nói chung.

Những phát biểu của ông J.P. Faure về Phật giáo và khoa học thấm đượm quan điểm của Thiền học, thiển nghĩ đó cũng là điều tất nhiên vì ông là một Thiền sư thuộc tông phái Tào động. Các câu hỏi được cô Aurélie Godefroy, nữ ký giả và thuyết trình viên của chương trình Phật giáo trên đài France 2, nêu lên thật súc tích và đi thẳng vào vấn đề. Ông J.P. Faure đôi khi không trả lời bằng cách khẳng định, nhưng bằng cách giải thích. Những điểm đương nhiên thì ông bỏ qua không trình bày và chỉ chú tâm vào các khía cạnh đặc thù của khoa học và của Phật giáo. 

Thông thường người ta có thói quen xem khoa học tượng trưng cho trí thông minh vững chắc và siêu việt của con người, là một phương tiện đem đến tiến bộ và những cải thiện vật chất cho sự sống, là một dụng cụ để đánh đổ mê tín, dị đoan, tìm hiểu một cách « khách quan » về thế giới này và toàn thể vũ trụ. Do đó nhiều người vẫn nhìn khoa học như một điểm chuẩn hay một « cây thước » để đánh giá và đo lường những hiểu biết « ngoài » khoa học. Vì thế trong thâm tâm của một số người, khoa học có thể đã chiếm giữ một vị thế độc tôn, vượt lên trên tất cả, đủ sức để xét đoán mọi thứ hiểu biết khác. Họ không hiểu rằng khoa học cũng có những sai lầm, khó khăn và giới hạn của nó. 

Lập luận khoa học hoàn toàn dựa vào nguyên tắc nhị nguyên : chủ thể quan sát và đối tượng được quan sát, do đó tính cách chủ quan và lệch lạc không thể nào tránh được. Tiến trình khoa học dựa vào phương pháp đánh đổ liên tục các quy luật và giả thuyết cũng như cách quan sát chủ quan, quá trình tiến triển đó mang tính cách dọ dẫm. Các phát minh khoa học ứng dụng vào việc cải thiện sức khoẻ con người là một sự thành công không thể chối cải được, nhưng đồng thời cũng có những phát minh và ứng dụng khác mang đến những loại khổ đau khác, hoặc lộ liễu hoặc tinh vi và phức tạp hơn, ngụy trang khéo léo hơn. Ứng dụng khoa học vào kỹ thuật có thể cải thiện các phương tiện truyền thông đưa con người đến gần với nhau hơn, những cũng có thể đấy là một phương tiện quản lý vá áp chế con người một cách toàn diện, kín đáo và đồng loạt hơn. Có nhiều ứng dụng khoa học giúp cho việc sản suất thực phẩm gia tăng, nhưng đồng thời cũng làm ô nhiễm và tàn phá môi sinh, và cũng có những phát minh khác giúp sáng chế và sản xuất những quả bom hạch nhân.

Điểm nổi bật trong nội dung buổi phóng vấn là ông J.P. Faure đã tìm cách đặt khoa học đúng vào vị trí của nó. Thật vậy, người ta thường nhìn vào các khoa học gia lừng danh khi họ phát biểu và khen ngợi Phật giáo để ngưỡng mộ họ. Có rất nhiều người trích dẫn và gom góp các lời phát biểu ấy để in thành sách. Nhưng thật ra Đạo Pháp không cần đến những lời tán dương ấy, vì Đạo Pháp đã vượt qua hơn hai nghìn năm trăm năm và không có một dấu hiệu nào cho thấy sự suy tàn, khoa học tân tiến ngày nay phát triển chưa được hai thế kỷ, và người ta cũng chưa biết chắc là cái khoa học ấy sẽ đem đến hạnh phúc nhiều hơn và vững bền hơn cho xã hội con người, hay chỉ là một phương tiện giúp cho nhân loại tự hủy diệt và tàn phá cả hành tinh này ? 

Ta hãy nhìn vào bản thân của các nhà khoa học lừng danh để xét đoán họ một cách thiết tực hơn, đồng thời ta cũng có thể nhìn vào các giả thuyết mà họ nêu lên để hiểu rằng các giả thuyết ấy ngày càng cho thấy nhiều sơ hở và đang tiếp tục bị đánh đổ bởi các giả thuyết khác của những nhà khoa học khác. Trong khi đó, những sự thực do Đạo Pháp nêu lên vẫn luôn luôn vững chắc và nguyên vẹn, vượt khỏi không gian và thời gian, vượt lên trên chủ thể tức con người, và vượt lên trên đối tượng tức thế giới biến động của cả vũ trụ này. Người Phật tử chân chính không nên đứng ở vị trí khoa học để đánh giá Phật giáo mà ngược lại phải đứng ở vị trí Phật giáo để đặt khoa học vào đúng vị trí của nó. Đứng vào vị trí một quả trứng đặt bên cạnh một khối đá để đánh giá khối đá chẳng những nguy hiểm mà lại còn vô ích nữa, nguy hiểm vì việc ấy chỉ làm gia tăng thêm vô minh ẩn nấp trong sự hiểu biết nhị nguyên và quy ước, vô ích vì khối đá không cần đến những lời tán dương và cũng chẳng cần đến một sự thử thách nào cả.

Vài nét về tiểu sử của Thiền sư J.P. Faure sẽ được trình bày ở cuối phần I của bài dịch. 


  Cô Aurélie Gaudefroy                 Thiền sư Jean-Pierre Faure 

Aurélie Gaudefroy : Người ta thường bảo rằng nếu có một tôn giáo mang nhiều điểm trùng hợp với khoa học, thì rất có thể đấy là trường hợp của Phật giáo. Nhưng có đúng như thế hay không ? Thực ra thì từ muôn thuở, sự hiểu biết và đức tin đã tự vạch ra hai con đường trái ngược hẳn nhau, và sự tương quan giữa khoa học và tôn giáo vẫn thường gây ra nhiều trở ngại, kể cả những trường hợp có thể gây ra dông bão nữa. Người ta tự hỏi Phật giáo có thoát ra khỏi quy tắc đó hay không. Quả thật đây là một chủ đề mênh mông. Vì thế chúng tôi quyết định dành ra hai buổi phát hình cho vấn đề này. Trong buổi phát hình hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau đề cập những gì liên hệ đến cách thức lập luận của khoa học trên phương diện tổng quát. Tại sao người ta lại đánh giá Phật giáo là một ngành khoa học của tâm linh, kể cả việc xem Phật giáo như là một khoa học của sự Giác ngộ ? Và nhất là trong kích thước và khuôn khổ của xã hội ngày nay, thì phải căn cứ vào đâu để suy tư về chủ đề Phật giáo và khoa học ? Chúng tôi mời ông Jean-Pierre Faure đến đây hôm nay để giải đáp cho chúng ta về những câu hỏi vừa nêu lên.

Xin chào ông Jean-Pierre Faure. Ông là một cựu khoa học gia. Ông từng là một nhà khảo cứu khoa học và giảng dạy về vật lý học và đồng thời cũng là một người tu tập về Thiền học thuộc tông phái Tào động. Ông từng là một đệ tử của Thiền sư Taisen Deshimaru và đã thụ phong tỳ kheo vào năm 1979. Và hai mươi năm sau ông đã thiết lập được một tu viện ở vùng Dordogne. Ông hy sinh đời mình để đào tạo các đồ đệ đang tu học tại đây. Tôi cũng xin được nói thêm là ông cũng thường xuyên thuyết trình và hướng dẫn các khoá tu tập khắp nơi ở Âu châu. Xin cám ơn ông đã đến với chúng tôi hôm nay. [Ông Jean-Pierre Faure : xin cám ơn cô đã tiếp đón tôi.]

Để khởi sự cho buổi phát hình hôm nay về chủ đề khoa học, cũng xin nêu lên là vị thầy của ông cũng từng là một người say mê các nghành khoa học nhân văn. Vậy ông có thể cho biết thêm một chút về việc này hay không ?

J.P. Faure : Thiền sư Deshimaru rất yêu mến Tây phương và hầu hết những công trình của Tây phương. Cũng chính vì thế mà ông đã quan tâm đến tất cả các ngành khoa học, dù là khoa học vật lý hay nhân văn cũng thế. Trong khi giảng huấn, ông thường xuyên trích dẫn các hiểu biết khoa học để làm thí dụ.

A.G. : Những tiến trình trong cuộc đời ông thật hết sức ngoạn mục và phong phú, bởi vì chính ông đã từng là một nhà khoa học. Vì thế, ông có thể kể lại những gì đã xảy ra với ông hay chăng ? Từ đâu lòng quyết tâm mộ đạo đó đã phát sinh trong ông ? Và sau đó ông đã từ bỏ nghề nghiệp của một khoa học gia và hoàn toàn tập trung tất cả mọi sinh hoạt vào trọng trách của một nhà sư Phật giáo ?

J.P. Faure : Giống như tất cả những đứa trẻ khác, khi còn nhỏ tôi thường thắc mắc : « Vũ trụ này vận hành ra sao ? Nguồn gốc của vũ trụ là gì ? ». Và nhất định lúc còn bé, tôi chỉ biết nhìn theo hướng đi của kẻ khác, nhưng đồng thời tôi cũng quan tâm rất nhiều đến khoa học. Tôi đoán chừng hình như khoa học sẽ có thể đem đến cho tôi những lời giải đáp thoả đáng. Và càng lớn lên, tôi lại càng hiểu rằng đối tượng của sự học hỏi không phải là cách nhìn ra bên ngoài, mà phải nhìn vào bên trong. Và cũng chính từ đó mà lòng mộ đạo đã nảy sinh trong tôi. Tôi bắt đầu quan tâm đến các tôn giáo khác, nhưng càng quán xét kỹ lưỡng, tôi lại càng nhận thấy đầy rẫy những điều tương khắc giữa khoa học và các đức tin tôn giáo có sẳn trong tôi, riêng chỉ có Phật giáo thì ngược hẳn lại, đã san bằng những tương khắc đó.

A.G. : Trong trường hợp nào đã xảy ra biến cố ấy ? Và ông đã từ bỏ nghề nghiệp khoa học của ông từ lúc nào ?

J.P. Faure : Thật ra thì tôi đã hoàn toàn trở thành một nhà sư từ lâu, tuy nhiên tôi vẫn tiếp tục giảng dạy và đảm trách vai trò của một khảo cứu gia khoa học. Cho đến một lúc tôi chợt nhận ra là việc giảng dạy Đạo Pháp quan trọng hơn nhiều trong bối cảnh của thế gian này.

A.G. : Trong lãnh vực khoa học mà ông đã được đào tạo, thì những điễm nào đã mang đến cho ông một cách nhìn cá biệt về Phật giáo ?

J.P. Faure : Tôi cũng không hiểu đấy có phải là một cách nhìn cá biệt hay không, tuy nhiên cứ tạm cho rằng cách nhìn ấy đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong những bước đầu. Đúng thế, nó đã thật sự giúp đỡ tôi, bởi vì khi người ta nhìn trở lại khoa học – và trong trương hợp của tôi là nhìn trở lại khoa vật lý học – thì những khái niệm, cách biết đọc một luận thuyết, biết sử dụng lý trí như một dụng cụ, và dù rằng chỉ có Trời mới biết là cái dụng cụ ấy có toàn năng hay không, nhưng chính nó đã giúp tôi và cho phép tôi bước vào lãnh vực của khoa học Phật giáo, của Kinh sách và Đạo Pháp, và chính những dụng cụ ấy trước đây đã từng giúp đỡ tôi trong việc học hỏi về khoa học. Tuy nhiên về sau này, khi đã vững tin vào tính cách đích thực và những lợi ích trong sự tu tập, thì tôi tập trung tất cả sự hăng say của tôi vào việc đó, nhưng các thói quen từ trước của tôi trong việc mổ xẻ và nhào nặn các khái niệm khoa học nay lại trở thành những chướng ngại, dù rằng loại chướng ngại ấy là loại chướng ngại chung cho mọi người : tức phải từ bỏ cái trò chơi vận hành của lý trí để hội nhập với hiện thực, để cảm nhận thật sâu xa về hiện thực, và đấy chính là những gì thật khó khăn.

A.G. : Vậy thì tinh thần khoa học của ông đã bị lung lay khi phải đối đầu với sự tìm hiểu tâm linh vào một lúc nào đó ? Có phải cả hai mặt đã gặp trở ngại khi phải song hành với nhau ?

J.P. Faure : Đúng hơn tôi chỉ muốn nói rằng tôi không được hoàn toàn thoả mãn. Tôi ý thức một cách rõ rệt và tin rằng trong cuộc sống của tôi – là một nhà khoa học, nhưng đồng thời cũng là một người cha, một người chồng trong gia đình, lại còn mang những mối dây liên hệ với những tất cả những người khác nữa – tôi đã nhận thấy một cách thật minh bạch những liên hệ thiết lập giữa tôi và thế giới này không nhất thiết chỉ dựa vào sự hiểu biết đơn thuần mà còn cần đến sự tu tập mà tôi phải thực hiện cho chính bản thân tôi, và cũng chính vì thế mà dù cho tôi có nhận thấy lợi ích của vật lý học đi nữa, thì tôi cũng nhìn thấy cả những giới hạn của nó. Những gì liên quan đến sự thực sâu xa trong kiếp sống của tôi thì thật là đơn giản, đấy là tấm lòng yêu thương sự sống.

A.G. : Để quay lại chủ đề của buổi phát hình hôm nay, theo ông thì định nghĩa của khoa học là gì ?

J.P. Faure : Tây phương không sáng tạo được một tôn giáo nào cả. Các tôn giáo đều du nhập từ Á châu, từ các miền Viễn động hoặc Cận đông. Trái lại khoa học là một sự kiện hiển nhiên thuộc nền văn hoá Tây phương. Chính người Hy lạp đã tìm cách giải thích về mọi sự vật. Và có thể nói rằng cho đến thế kỷ thứ XVIII, các cách giải thích ấy vẫn còn dựa vào xu hướng tín ngưỡng. Nhưng thật ra đối tượng phải là sự nhận biết hiện thực một cách toàn diện. Kể từ thế kỷ XVIII trở về sau này, người ta mới bặt đầu biết chú tâm đến các thể dạng khác nhau của mọi hiện tượng và cách cảm nhận mọi hiện tượng, để sau đó tìm cách giải thích về sự vận hành của chúng.

A.G. : Các điều đó liên quan đến những lãnh vực nào ?

J.P. Faure : Người ta có thể ứng dụng các điều ấy vào bất cứ ngành khoa học nào, từ những ngành khoa học hoàn toàn trừu tượng, tức những trò xảo thuật của lý trí, chẳng hạn như toán học, hoặc là các ngành khoa học về vật chất như vật lý học, hoặc các ngành khoa học của sự sống như sinh học, hoặc là các ngành khoa học đòi hỏi sự tham gia tích cực của con người trong những lãnh vực vận hành sâu kín nhất, và gọi chung là các ngành khoa học nhân văn. Bất cứ một lãnh vực hiểu biết nào sử dụng cách lập luận của khoa học đều có thể trở thành một khoa học.

A.G. : Vậy sự lập luận khoa học là gì ? Có phải phần căn bản đều giống như nhau ?

J.P. Faure : Lập luận khoa học là tìm cách hiểu biết một sự vận hành nào đó, và muốn thực hiện được điều ấy phải hình dung ra một thí nghiệm. Khi thí nghiệm được thực thi, thì sau đó nhất định phải mổ xẻ nó, phân tích và rút tỉa những giá trị trong đó để giúp nhìn thấy và đưa ra một đường hướng chỉ đạo, tức có nghĩa là phát hiện được một quy luật. Khi liên kết tất cả các quy luật với nhau sẽ có thể dựng lên một luận thuyết. Cứ tiếp tục như thế mà người ta đã thực hiện được hết phát minh này đến phát minh khác. Điều đó cũng có nghĩa là khi đã phát minh được một điều gì người ta lại đoán rằng sẽ còn có thể vượt xa hơn nữa để khám phá ra những gì lý thú hơn. Tuy nhiên, khi mà kỹ thuật và phần dụng cụ chưa sẵn sàng, thì người ta còn phải chờ đợi. Thí dụ như trong vòng tháng tám này, sẽ xảy ra những sự va chạm với tốc độ cực và cực nhanh (1) trong không trung để theo dõi các sự kiện sẽ xảy ra, đấy là những kết quả thuộc vào cấp bậc thật sâu xa của vật chất, tức cấp bậc thuộc lãnh vực của những hạt vật chất cơ bản gọi là quark. Phải chờ đợi đường hầm vòng tròn được hoàn thành và thiết kế xong. Và khi nào đường hầm đó sẵn sàng và các thí nghiệm được đem ra thực hiện, thì người ta mới có thể biết được những gì từng được chờ đợi trước đây sẽ xảy ra đúng với sự tiên đoán hay không. Và tiếp theo đó, một lãnh vực khác sẽ được mở ra dành cho những thí nghiệm khác nữa.

A.G. : Người ta thường đánh giá Phật giáo như một khoa học tâm linh, kể cả là một khoa học của sự Giác ngộ. Tại sao ?

J.P. Faure : Bởi vì trên thực tế người ta có thể đứng bên ngoài để nhìn vào bên trong, có nghĩa là với tư cách của một quan sát viên, sử dụng cách lập luận khoa học và nhắm vào tâm thức như là một đối tượng của sự nghiên cứu, nhưng đồng thời cũng đừng quên là tâm thức cũng hiện hữu trong chính chúng ta, vì thế dùng tâm thức để nghiên cứu tâm thức, thì việc ấy sẽ trở nên khá phức tạp. Tuy nhiên khi đã quy định một cách thật chính xác lãnh vực của việc nghiên cứu, thì người ta có thể nghiên cứu được tâm thức, chẳng hạn như trên phương diện bệnh lý, hoặc thực hiện các loại nghiên cứu về tâm lý học hay phân tâm học. Dù sao đi nữa, thực hiện thí nghiệm không phải để rút tỉa một cái gì cả, nhưng để sống một cách thật sâu xa kiếp sống của một con người – những kinh nghiệm ấy đã được chính Đức Phật thực hiện – và từ đó người ta chỉ cần hội nhập với các kinh nghiệm của Phật. Những kinh nghiệm hay thí nghiệm do Phật thực hiện không có chủ đích đưa ra một luận thuyết nào cả. Đó chỉ là những lời khuyên nhủ chúng ta hãy thực hiện trở lại những kinh nghiệm của chính Ngài, ấy là cách hội nhập với hiện thực. 

A.G. : Trường hợp Bốn sự thực cao quý (Tứ diệu đế) có sử dụng đến cách lập luận khoa học hay không ?

J.P. Faure : Đức Phật thuyết giảng về Bốn sự thực cao quý như là một lời khuyến khích dành cho những người đương thời và dành cho cả chúng ta hôm nay, hãy quay nhìn vào kiếp sống của ta một cách thật tinh tế, sâu xa hơn cách mà người ta thường cảm nhận. Thí dụ như sự thật thứ nhất, Đức Phật giảng rằng sự sống là khổ đau, và lần đầu tiên khi nghe nói đến câu nói ấy, tôi rất thắc mắc không hiểu câu ấy có nghĩa là gì ? Nhưng về sau, khi đã quán xét kỹ lưỡng, tôi mới nhận thấy quả thực tất cả mọi cảnh huống, dù cho êm ái cách mấy đi nữa thì sau cùng cũng đưa đến sự chấm dứt. Và chính vì thế nên luôn luôn có một cái gì không hoàn hảo, ấy là sự bất toại nguyện. Hoặc có một số cảnh huống nào đó đã xảy ra ngoài sự mong muốn của tôi. Và rồi tôi nhận thấy những cảnh huống ấy dù đó là một sự ham muốn hay một sự ghét bỏ, thì cả hai thể dạng đều mang đến khổ đau. Vậy rõ ràng sự sống là khổ đau, đúng thật như thế, một sự kiểm chứng cẩn thận sẽ giúp ta nhìn thấy điều đó.

A.G. : Theo ông, người ta có thể khẳng định Phật giáo là một khoa học hay không ?

J.P. Faure : Là một nhà sư nên đương nhiên tôi phải quan tâm đến những lời Phật dạy và tôi phải phát biểu phù hợp với Đạo Pháp. Đạo Pháp của Phật gồm có phần lý thuyết mà người ta có thể gọi là Phật giáo, ngoài phần lý thuyết lại có phần thực hành, và ý nghĩa thật sự của thực hành là tu tập và tu tập tức là bước theo bước chân của Phật.
Tuy nhiên nếu muốn bước theo bước chân của Phật, thì cũng phải ý thức một cách minh bạch là Phật đi đâu, và Phật đã bước như thế nào. Vì thế nên tôi đã học hỏi những lời giáo huấn của Phật và xem đó như những lời dạy bảo, dù sao đi nữa thì sự tu tập đích thực cũng vẫn là cách bước theo những lời dạy bảo ấy (2).

A.G. : Dù sao thì người ta cũng vẫn có cảm giác là Phật giáo và khoa học đã gặp nhau trên thật nhiều điểm tương đồng, dù các điểm ấy thuộc vào lãnh vực phương pháp nghiên cứu hay là lãnh vực kết quả gặt hái được từ các phương pháp ấy. Người ta có thể lấy thí dụ để so sánh giữa ngành vậy lý lượng tử và Tánh không của Phật giáo chẳng hạn. Vào thời điểm nào thì hai con đường ấy tách rời nhau ? Cái gì đã cho thấy sự khác biệt trong một thời điểm nào đó ?

J.P. Faure : Khoa học bao giờ cũng nêu lên tính cách nhị nguyên : sự hiện hữu của một tác nhân quan sát đứng ra quan sát một cái gì đó. Đối với Phật giáo, tức dựa theo những lời giảng huấn của Đức Phật, thì chính chúng ta vừa là người quan sát lại vừa là đối tượng của sự quan sát, có nghĩa là chúng ta hoàn toàn là một diễn viên. Trong cùng một lúc người ta không thể nào là kẻ đứng nhìn và người bị nhìn thấy. Hiện thực gồm có ta trong đó thật sự chỉ là Một. Và nếu ta cố gắng tách ra ngoài để tự nhìn thấy chính mình, thì ấy chỉ là một ảo giác (3).

A.G. : Như vậy trên thực tế, Phật giáo cố gắng nắm bắt hiện thực qua tổng thể của nó, trong khi khoa học lại nhị nguyên hoá mọi vật thể ?

J.P. Faure : Đúng như thế. Lập luận khoa học hoàn toàn mang tính cách nhị nguyên. Chẳng hạn một mặt là sự kiện được hạnh phúc, mặt khác là sự kiện tìm kiếm các phương tiện để được hạnh phúc.

A.G. : Vậy để kết luận người ta có thể nói rằng Phật giáo hoàn toàn hội nhập với hiện thực, trong khi khoa học chỉ biết tìm cách nắm bắt một cách ích kỷ (4) mà thôi ?

J.P. Faure : Hoàn toàn đúng như thế. Trong cách lập luận khoa học, có một tác nhân đứng ra quan sát và một vật thể được tác nhân ấy quan sát. Từ nơi khởi điểm đó người ta cố gắng nắm bắt hiện thực. Luôn luôn trong con người lúc nào cũng hiện hữu loại dục vọng đó, tức đạt được sự hiểu biết, muốn được hiểu biết, và rồi đến một lúc nào đó người ta mới chực nhận ra rằng hiện thực không phải dùng để hiểu biết, mà chỉ để cho ta sống với nó.
Hiểu rằng cần phải yêu thương là một việc. Nhưng yêu thương lại là một việc khác. Khuôn mẫu Phật giáo quả thực là một thứ gì hết sức thực tế.

A.G. : Thưa ông Jean-Pierre Faure, cám ơn ông thật nhiều. Xin hẹn gặp lại ông trong buổi phát hình tiếp theo vào tuần tới.

Ghi chú :

1- Ông J.P. Faure ám chỉ những thí nghiệm đang được chuẩn bị thực hiện tại Trung tâm Âu châu Nghiên cứu về Hạch nhân (C.E.R.N.) nằm vắt ngang hai biên giới Thụy sĩ và Pháp. Đây là một trung tâm quốc tế về  khoa học vật lý lớn nhất thế giới, và các cuộc thí nghiệm đã khởi sự thực hiện vào tháng chín vừa qua.  Người ta làm tăng tốc hai chùm hạt vi thể ngược chiều trong một đường hầm vòng tròn thiết kế và xây dựng  sâu 100m dưới mặt đất và có đường chu vi là 27km. Các hạt vi thể với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng va chạm vào nhau tạo ra những phản ứng giống như trong môi trường xảy ra vài phần triệu giây đồng hồ sau hiện tượng « big bang ». Các thí nghiệm đó sẽ giúp các nhà vật lý học tìm hiểu sự hình thành của vật chất và cách vận hành của cả vũ trụ này. 

2- Ý của câu trả lời này là Phật giáo có cả phần lý thuyết lẫn phần thực hành, có mục đích và phương pháp rõ rệt, tức những đặc tính chủ yếu của một ngành khoa học.

3- Đây là điểm khác biệt căn bản giữa Phật giáo và khoa học. Phật giáo vượt lên trên chủ thể và đối tượng, trong khi khoa học vướng mắc trong nguyên tắc nhị nguyên : chủ thể quan sát và đối tượng được quan sát, do đó không tránh được tính cách chủ quan và đối nghịch. 

4- « nắm bắt một cách ích  kỷ »  có nghĩa là xuyên qua giới hạn nhận biết và suy luận của một chủ thể, tức mang tính cách chủ quan. Trong tiếng Pháp chữ ích kỷ là égoiste, trong chữ này có chữ égo tức là cái tôi hay cái ngã. 

Vài nét tiểu sữ của ông Jean-Pierre Faure :

Ông Jean-Pierre Faure sinh năm 1945 tại Pháp, tức vào lúc thế chiến thứ hai vừa chấm dứt. Ngày nhỏ, ông là một cậu bé thích yên lặng và trầm tư, yêu mến thiên nhiên, hội họa và âm nhạc. Cha của ông là một nhà trí thức, khoa bảng và chủ trương vô thần, nhưng mẹ ông lại là một người thật ngoan đạo. Thời kỳ vị thành niên, trước mười sáu tuổi, ông là một cậu bé rất quan tâm đến tôn giáo, say mê học hỏi những lời giảng trong Tân Ước, và có ý định sau này sẽ đi tu để trở thành cố đạo. 

Ở trường thì ông lại thích môn vật lý học vì ông nghĩ rằng đây là môn học có thể giúp ông tìm hiểu về thế giới này và cội nguồn của mọi sự vật... Nhưng khi lớn lên, ông không còn nghĩ đến việc xin vào nhà dòng nữa mà lại lấy vợ và sinh được ba con. Ông đỗ tiến sĩ, ra giảng dạy và tiếp tục nghiên cứu về vật lý học. Nhưng sau đó vợ ông lại tự tử một cách thật bất ngờ, ông sống một mình nuôi con. Ông có tinh thần cấp tiến, ủng hộ phong trào cải cách xã hội gọi là phong trào tháng năm 68 (tức tháng năm, năm 1968), phong trào này đánh dấu những xáo trộn và biến đổi lớn trong xã hội cân đại của nước Pháp. Ông vẫn thường băng khoăng cho rằng lòng từ bi Thiên chúa giáo mà thiếu phần trí tuệ thì không thể nào giúp đỡ những người đồng loại một cách hữu hiệu được. 

Năm1976, nhờ cơ duyên xui khiến ông đã gặp được Thiền sư Taisen Deshimaru và ông xin làm đệ tử. Vị Thiền sư Nhật bản Teisen Deshimaru được người Âu châu xem như vị Bồ-đề Đạt-ma của Tây phương vì chính ông đã đem Thiền học vào Âu châu. J.P. Faure được thụ phong tỳ kheo vào năm 1981. Đến năm 1997, các con ông đã trường thành và tự lập, ông từ giả hẳn đại học, hoàn toàn tập trung mọi sinh hoạt vào việc tu tập và giảng dạy Đạo Pháp.

Năm 2003, ông được Đại sư Donin Minamizawa Roshi, thừa kế dòng Tào động tại Nhật bản, chính thức đề bạt cho ông làm giảng sư của học phái này. Hiện nay ông là một trong những người thuộc ban lảnh đạo của Hội Thiền học Quốc tế (AZI) và ông trụ trì tại ngôi thiền viện Gendronnière ở vùng sông Loire. Ông để hết tâm trí và thì giờ chăm lo đào tạo tăng đoàn và giảng dạy thiền học tại Pháp và nhiều quốc gia khác ở Âu châu.

Pháp danh của ông là Taiun, có thể tạm dịch là Đại hạnh, nhưng không biết dịch như thế có thật đúng nghĩa hay chăng, mục đích chỉ để được gọi ông là Đại hạnh Thiền sư cho vẻ Á châu và thân thiện hơn, tuy rằng ông rất năng hoạt, lúc nào cũng vui cười và cởi mở, hơi khác với một số các vị Thiền sư Á châu, kín đáo, từ tốn và trầm tư hơn. 

Phật giáo  và  khoa học

( Phần II )

 

A. Godefroy : Tuần vừa qua, chúng tôi đã được dịp tìm hiểu khoa học là gì. Tuy nhiên riêng tôi vẫn muốn trở lại vấn đề các phương pháp đã được sử dụng trong khoa học. Các phương pháp ấy có mang tính cách đối nghịch hay không ? Có đúng là người ta bắt buộc phải đặt lý trí và trực giác song hành với nhau, hay ngược lại cả hai có thể hỗ trợ cho nhau ?

J.P. Faure : Vâng, tôi nghĩ rằng người ta không thể nào tách rời thân xác và tâm thức, lý thuyết và thực hành. Đúng như cô đã nói, người ta có thể xem Phật giáo là một khoa học, ngành khoa học đó gồm có kinh sách và các tập luận giải đại diện cho phần lý thuyết để hướng dẫn chúng ta bước vào phần thực hành. Vì thế cả hai mặt cùng bổ khuyết cho nhau.

A.G. : Có những khám phá khoa học quan trọng được thực hiện nhờ vào trực giác. Vậy ông có thể kể ra đây hay chăng ?

 J.P. Faure : Vâng, trực giác không phải là gia tài riêng của tôn giáo. Chẳng hạn Einstein khi phải đối đầu với những cảm nhận mà ông ta không thể giải thích bằng những hiểu biết trong bối cảnh đương thời, thì ông ta bắt buộc phài nhảy một bước dài vào chỗ trống không để chấp nhận năng lượng và vật chất, thời gian và không gian, đều liên kết với nhau (1).

A.G. : Mục đích của khoa học và mục đích của Phật giáo là gì ?

 J.P. Faure : Nếu ta nhìn vào lịch sử của nhân loại, ta sẽ thấy rằng khoa học nhờ vào các khám phá và ứng dụng đã mang đến nhiều lợi ích trên phương diện sức khoẻ, trên phương diện kỹ thuật. Trong đời sống thường nhật, người ta đều thừa hưởng được kết quả của những khám phá kỹ thuật ấy và chỉ có Trời mới biết được những tiến bộ đó có vĩ đại hay không và đem ra sử dụng có mang đến những lợi ích thật lớn lao hay không. Nhất định, trên phương diện sức khoẻ người ta có thể được chạy chữa nhờ vào các khám phá khoa học. Kể cả trường hợp lâm vào tình cảnh vô cùng tệ hại thì cũng có thể nhờ khoa học cứu giúp bằng mọi cách trị liệu. Tuy nhiên còn biết bao nhiêu vấn đề khác liên hệ đến sự hiện hữu, chẳng hạn như cái chết – cái chết đang xảy ra trong từng giây phút một và cả cái chết khi bước vào cảnh giới của bát-niết-bàn – đó là những gì mà khoa học hoàn toàn bó tay, trong cảnh huống đó ta phải tự đối đầu với chính mình, và cái kinh nghiệm đó là cái kinh nghiệm của chính Đức Phật đã thực hiện và truyền lại cho chúng ta, thôi thúc chúng ta đem ra thực hiện trong từng giây phút một.

A.G. : Do đó người ta cũng có thể bảo rằng chủ đích của Phật giáo là cách tập luyên tâm thức để làm nhẹ bớt khổ đau ?

J.P. Faure : Hoàn toàn đúng như thế. Đức Phật giảng dạy trong mục đích duy nhất làm cho vơi bới khổ đau.

A.G. : Theo ông thì vật lý học có thể giúp đạt được hiện thực hay không ?

J.P. Faure : Không. Theo tôi vật lý học chỉ có thể đến gần và đến gần hơn, thế thôi. Nếu nhìn vào các khám phá trong thế kỷ vừa qua, người ta sẽ nhận thấy ngành cơ học cổ điển lúc đầu chỉ nhắm vào một số hiện tượng nào đó, về sau mới được cải thiện thêm khi liên hệ với các hiện tượng chuyển động với những tốc độ cực nhanh, và sau đó lại bước vào lãnh vực của thế giới hạ nguyên tử (subatomique), và sau hết lại có các ngành vật lý học khác xuất hiện, như vật lý tương đối, cơ học lượng tử..., để ứng dụng vào các lãnh vực khác nữa. Vì vậy, nhất định là người ta có thể đến gần hơn, đến gần hơn, đến gần hơn nữa, nhưng người ta sẽ không bao giờ có thể chạm vào hiện thực được, chẳng qua vì bản chất của vật lý là đứng ra bên ngoài đối tượng mà người ta quan sát. Và sự kiện đứng ra bên ngoài như thế chính là nguyên nhân đã làm nhiễu loạn hiện thực.

A.G. : Vậy theo ông hiện thực là gì ? Có phải đấy là sự thực tuyệt đối ? Làm thế nào để định nghĩa sự thực ấy ?

J.P. Faure : Nhiều triết gia, chẳng hạn như Spinoza (2), đã từng đề cập đến vấn đề bản thể và các biểu hiện phụ thuộc. Bản thể không nắm bắt được. Trái lại, hình tướng, hiện tượng, thì trên thực tế người ta có thể chụp hình được, nhìn thấy được. Tuy thế, hình tướng cũng không phải là khác với bản thể. Và chính trong điểm ấy có hàm chứa một cái gì đó, nhưng ngành vật lý học đã cướp mất sự cảm nhận tối hậu của chúng ta mất rồi. 
Vì thế, tôi có ý muốn nêu lên sự khác biệt giữa những chiếc bóng của hiện thực và chính sự hiện thực tối hậu, khi đã hoàn toàn hội nhập vào hiện thực thực tối hậu, ta sẽ không còn nhìn thấy chính ta nữa.

A.G. : Để chuẩn bị cho buổi phát sóng này, ông có nói với tôi rằng Đức Phật không hề mô tả sự Giác ngộ của Ngài bằng bất cứ một ngôn từ nào cả. Tuy nhiên người ta vẫn có thể tự hỏi có phải chăng kinh nghiệm đó dù sao đi nữa cũng đã giúp cho chúng ta có thể đến gần tối đa với hiện thực ?

J.P. Faure : Đấy chính là cái ngón tay tuyệt vời đã trỏ thẳng vào mặt trăng, nhưng lại không phải là mặt trăng. Và rồi vào cuối cuộc đời của Ngài, Đức Phật đã nói như sau : « Cứ kể như ta chưa hề nói lên một lời nào cả ». Điều ấy có nghĩa là nếu thật sự muốn thực hiện được sự cảm nhận thế nào là không khổ đau, thì hãy lắng chìm trong hiện thực, hòa mình với hiện thực, hội nhập vào dòng chảy của sinh và tử, và trong chính những giây phút đó hãy làm những gì mà Đức Phật đã làm. Tất cả những lời giảng huấn của Đức Phật lưu lại trong kinh sách đều là những lời khuyên nhủ chúng ta hãy tự thực hiện cho chính mình cái cảm nhận ấy của Phật.

A.G. : Ông có thể trình bày thật ngắn gọn ý nghĩa của loại cảm nhận ấy là thế nào ? Ông đã từng cho tôi biết là có hai loại cảm nhận ?

J.P. Faure : Vâng. Hiển nhiên là có một thứ cảm nhận mà tôi cho rằng có ích lợi, những cảm nhận ấy dùng để rút tỉa và đưa ra những giả thuyết, thí dụ như việc kiểm soát sự phân cắt hạch nhận chẳng hạn (3). Người ta cũng nhận thấy rõ kỹ thuật đã được cải tiến như thế nào, tất cả kỹ thuật đều bắt nguồn từ những phát minh cơ bản. Vì thế có một sự giám sát trên phương diện vật chất, một sự chủ động nào đó đối với tất cả mọi vật thể. Quả đúng, đấy chính là thiên tài của con người dùng để kiểm soát mọi sự vật, nhưng cái thiên tài ấy cũng có thể dùng để sử dụng một cách vô ý thức cái khí cụ khoa học cực mạnh để đưa con người đi thẳng vào một bức tường (4).
Đối với Đức Phật, thì Ngài lại không hề quan tâm đến những lợi ích mà khoa học có thể mang đến, vì Ngài đã từng nói như sau :
« Các con còn đang phải đối đầu với cái chết, với bệnh tật, với sự xa lìa những gì các con yêu quý, với thời gian trôi nhanh, với vô thường..., nhưng các con lại chẳng có gì cả, một khí cụ nhỏ cũng không. Các con chỉ cần đắm mình vào trong đó, ngay nơi này và trong cái hiện tại này, hội nhập với cảnh huống, ngay cả trên chiếc giường mà con con sẽ nằm xuống để chết ».

A.G. : Ông có nghĩ rằng các tiêu đề khoa học đều mang tính cách lượng tính hơn là phẩm tính ? Trong trường hợp của Phật giáo thì thế nào ?

J.P. Faure : Vâng. Đối với khoa học trong một cấp bậc nào đó, khi nghiên cứu thân xác con người chẳng hạn, thì khoa học nghiên cứu quả tim tách rời khỏi buồng gan – giống như nghiên cứu một người chết – sau đó mới cố gắng  đến gần hơn với sự vận hành của một người sống, dù cho đấy là một chuyên gia về gan hay về tim thì họ cũng đều làm như thế.
Nhưng rốt lại, vấn đề thật sự chính lại là tổng thể. Nhưng tổng thể thì không dừng lại ở cấp bậc đó. Sự sống này của tôi là sự sống của vũ trụ, ấy là không khí mà tôi đã thở, nước mà tôi đã uống, thực phẩm mà tôi đã tiếp nhận được, đó là tất cả những gì được trao đổi giữa tôi và chúng sinh. Sự sống đó là Một.
Nhưng khoa học lại có khuynh hướng phân cắt ra từng mảnh nhỏ. Khoa học ý thức hẳn hoi được việc ấy, tức có nghĩa là khi nghiên cứu về vật lý, cần phải ý thức là đang nghiên cứu trong lãnh vực nào. Một thí dụ điển hình là ngày nay, tất cả các nhà vật lý học đều hiểu rằng khi họ đo đạt, thì chính sự đo đạt đã làm cho hiện thực bị xáo trộn. Và rồi, bên ngoài những kết quả đo đạt, người ta không còn biết hiện thực thật sự là gì. Vật lý lượng tử ngày nay được xem như một khoa học về sự đo đạt, điều đó có nghĩa là cái gì sẽ xảy ra nếu như tôi không đo gì cả ??? Không làm sao biết được.

A.G. : Tất cả những phát minh ấy đều kéo theo những vấn đề đạo đức. Chính đấy là những gì cần phải quan tâm, nếu không thì biết đâu có thể đưa đến những hiểm nguy trầm trọng. Vậy ông nghĩ thế nào ?

J.P. Faure : Tôi cũng nghĩ như Rabelais (5) « Khoa học không lương tâm chỉ là sự phá sản của tâm linh ». Thực ra thì Phật giáo cũng đã nêu lên cái khuôn phép đó, tức cần phải hội nhập với hiện thực, nhưng không tìm cách bám víu vào sự thèm khát, cũng không tìm cách xô bỏ những gì thù ghét. Nếu kịp thời loại bỏ được những nọc độc ấy trong tâm thức, thì nhất định chúng ta sẽ có quyền sử dụng tất cả mọi khám phá khoa học, nhưng đừng quên là phải nghĩ đến nhân loại. Điểm hệ trọng chính là cách khơi động trong ta tinh thần biết ơn đó đối với nhân loại. Nếu ta không nhìn thấy sự biết ơn ấy và chỉ biết hành động duy nhất qua sự chi phối của các thứ nọc độc, thì lúc đó tất cả mọi khám phá khoa học đều có thể biến thành thảm trạng. 

A.G. : Có phải chúng ta đang trở lại vấn đề liên quan đến động cơ thúc đẩy ? 

J.P. Faure : Đúng thế, nếu không chúng ta cũng có thể nghĩ rằng không thể nào gạt sang một bên cái kích thước sâu xa đó, cái kích thước mang tầm vóc của vũ trụ, có nghĩa là cái kích thước thực sự của mỗi con người trong chúng ta.

A.G. : Hãy trở về với cái kích thước của nhân loại, người ta có thể khẳng định rằng khoa học chỉ đòi hỏi sự đầu tư trên lãnh vực cá nhân, kém mãnh liệt hơn và kém rõ nét hơn so với Phật giáo ? Chẳng hạn như trường hợp của một khảo cứu gia ?

J.P. Faure : Hoàn toàn không phải là cùng một thứ tiến trình giống như nhau. Một khảo cứu gia cần phải chính xác và nghiêm túc. Người tu tập là người phải tự loại bỏ được ba thứ nọc độc cho chính mình, và đấy mới chính là một thứ gì thật là khó khăn. Bởi vì dù có hiểu biết đi chăng nữa, nhưng đôi khi sức mạnh của nghiệp, tức là những xung năng của nghiệp có thể lật đổ tất cả. Vì thế lắm khi phải cần đến một quyết tâm mãnh liệt, lánh vào một nơi thật yên tĩnh để nhìn thấy những xúc cảm của chính mình đang trỗi dậy, để ngăn chận không cho chúng tung hoành. Do đó, một người tu tập trong mục đích loại bỏ ba thứ nọc độc cần phải dấn thân một cách sâu xa hơn.

A.G. : Điều ấy cho thấy cần có một quyết tâm từ thượng nguồn ?

J.P. Faure : Tôi thì nghĩ rằng đó là quyết tâm của quyết tâm. Khi hiểu được rằng ba thứ nọc độc đang tung hoành xuyên qua nghiệp của chính mình, thì người tu tập phải biết ngồi xuống, ngay cả trong lúc đang sinh hoạt hằng ngày, để quan sát, để canh chừng không để bị lôi cuốn bởi sự thèm khát hay ghét bỏ.

A.G. : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi hiểu thế nào là ba thứ nọc độc ?

J.P. Faure : Đó là vô minh, là sự u mê không hiểu rằng trong tận cùng của mỗi con người trong chúng ta đang hiện hữu một thứ hạnh phúc thật sâu xa không lệ huộc vào một thứ gì cả, sự hiện hữu ấy thật tinh khiết. Nếu không nhìn thấy nó, ta sẽ đâm đầu vào mọi vật thể bên ngoài với tất cả sự thèm khát, đâm đầu vào ảo giác và nghĩ rằng chúng sẽ đem đến hạnh phúc. Và cuối cùng, càng lúc ta lại càng phải chạy nhanh hơn, càng đòi hỏi sức cố gắng nhiều hơn, chẳng qua vì ảo giác không hề mở mắt cho ta để nhìn thấy những điều ấy. Tiếp theo lại có những cảnh huống mà ta mong muốn gạt bỏ, nhưng lại không gạt bỏ được, và trong những cảnh huống ấy ta lại dồn hết sức lực và sự hung hãn của ta vào đó.
Vậy ba thứ nọc độc là vô minh, dục vọng và sự thù ghét. Loại bỏ những thứ ấy là một công việc vô cùng sâu xa và tế nhị, tuy nhiên ta vẫn có thể làm được việc ấy dù cho ta đang nghiên cứu về vật lý học, hay là đang cắt một củ cà-rốt hoặc đang lái xe.

A.G. : Tóm lại, người ta có thể bảo rằng có một sự trùng hợp, một sự cộng hưởng nào đó giữa khoa học và Phật giáo ? Cả hai phía giống như đã giải đáp lẫn cho nhau ?

J.P. Faure : Hoàn toàn đúng như thế. Tôi tin chắc rằng, qua từng giây phút một, và không có một giây phút nào lại không hiển hiện ra trong tâm thức tôi một lời Phật dạy, và trong giây phút đó tôi lại đem lời dạy ấy của Phật vùi xuống mãnh đất tu tập của tôi để nó lại tiếp tục nuôi dưỡng thêm sự tu tập cho tôi.

A.G. : Ông muốn nói đến lời dạy nào của Phật ?

J.P. Faure : Tôi cũng chẳng biết nữa, giống như là trở thành một với một người nào đó và tiếp tục duy trì sự nhất thể ấy, không rơi vào những đắn đo ích kỷ, tiếp tục tiếp xúc với hiện thực. Theo tôi, chính thể dạng đó đã giữ một vai trò thật hệ trọng trong sự tương liên với tất cả những gì đang bao quanh tôi.

A.G. : Vậy trên thực tế có thể nói rằng bất cứ một phát minh khoa học nào cũng phải được biểu lộ một cách hài hoà với sự hiểu biết toàn diện về vũ trụ này ? Có phải đấy là cách quay lại với khái niệm về sự tương liên ?

J.P. Faure : Đúng như thế. Và tôi cũng muốn nhấn mạnh là khoa học rất cần thiết cho tôn giáo. Không thể có một ngành khoa học không hài hoà với tôn giáo. Nhưng mặt khác tôi cũng nghĩ rằng tôn giáo cần phải tự đặt lại vị trí cho mình. Một số người cho rằng nhờ trực giác mà họ tin vào một chuyện gì đó. Nhưng phải hiểu rằng có những thứ trực giác sai lầm, có những thứ dị đoan cần phải loại bỏ và tôn giáo cần phải được giũ bụi cho sạch sẻ. Vì thế khoa học cần phải đi kèm với sự lập luận của tôn giáo, đó là những gì thật căn bản. Nhưng dù sao thì khoa học cũng không thể đi xa hơn vai trò ấy. Điều đó có nghĩa là sinh và tử trong từng giây phút một thì con người làm được, không cần đến bất cứ một thứ gì khác, họ chỉ cần biểu lộ được bản thể của Phật.

A.G. : Thưa ông Jean-Pierre Faure, xin cám ơn ông thật nhiều.
 

Ghi chú :

1- « nhảy một bước dài vào chỗ trống không » có ý nói là đưa ra những giả thuyết bạo dạn không bị gò bó bởi những định kiến hay những hiểu biết nhị nguyên sẵn có : năng lượng có thể biến thành vật chất và ngược lại vật chất là một thể dạng của năng lượng, thơi gian là chiều thứ tư của không gian. Thật ra cho đến nay chưa có một nhà khoa học nào hay một triết gia nào hiểu được bản chất của thời gian là gì. Người ta chỉ biết đồng hoá thời gian với một chuyển động để « đo » hay « ghi nhận » thời gian thế thôi, tất cả mọi loại đồng hồ mà con người sáng chế đều phải dựa vào một chuyển  động nào đó đề làm đơn vị. Ông Einstein ghép thời gian vào không gian và cho đó là kích thước thứ tư của không gian.

2- Spinoza là một triết gia vô thần thuộc thế kỷ XVII.

3- Hiện tượng phân cắt hạch nhân tạo ra năng lượng cực mạnh, và đã được ứng dụng để tạo ra điện lực cũng như bom hạch nhân.

4- Chế tạo bom hạch nhân chẳng hạn.

5- Rabelais là người Pháp, sinh năm 1493 (hay 1494 ?), là một nhân vật khá phức tạp, có một cuộc sống thật phong phú, từng là bác sĩ y khoa, văn sĩ, triết gia..., tu theo dòng Françiscain nhưng lại sống với một phụ nữ, sinh được hai con. Sau đó đã đổi sang dòng Bénédictin. Năm 1534 ông được Đức Giáo hoàng Clement VII xá tội. Tháng giêng năm 1537, ông từ bỏ chức vụ cha xứ, nhưng bước sang tháng tư năm đó thì ông qua đời. Ông là một người tôn thờ chủ nghĩa nhân bản và câu phát biểu « Khoa học không lương tâm chỉ là sự phá sản  của tâm linh » là một trong những câu nói nổi tiếng nhất của ông. 
 
Bures-Sur-Yvette, 20.10.08

Source: thuvienhoasen.org

 

Bài Tháng Mười Hai. 2009


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com


You are visitor number since January 24, 2005