|
Phật giáo và khoa học
Thiền sư Jean-Pierre Faure
Hoàng Phong
dịch
(Hình trên:
Thiền sư Taiun Jean-Pierre Faure)
Lời
giới thiệu
:
Sau đây là lược dịch buổi phỏng vấn
một Thiền sư người Pháp là ông Jean-Pierre Faure về chủ đề Phật
giáo và khoa học trên đài truyền hình France 2 của chính phủ
Pháp, thuộc chương trình phát hình hàng tuần về Phật giáo. Vì
chủ đề khá bao quát nên đã được tổ chức làm hai lần vào hai ngày
chủ nhật 10 và 17, tháng tám, 2008. Ông J.P. Faure là một nhà
khoa học nhưng đã bỏ khoa học để chọn lấy Phật giáo, ông là một
vị Thượng tọa, hiện trụ trì một ngôi thiền viện lớn nhất Âu châu,
tọa lạc trong thung lũng sông Loire, nơi tập trung nhiều lâu đài
đẹp nhất nước Pháp.
Phật giáo và khoa
học là một chủ đề đã từng làm say mê người Tây phương, đã có
không biết bao nhiêu sách vở và bài viết đề cập đến chủ đề này,
nhưng chắc chắn trong tương lai sẽ còn tiếp tục làm say mê nhiều
nhà khoa học khác, kể cả các triết gia và các học giả quan tâm
đến sự hiện hữu của con người và sự hiểu biết nói chung.
Những phát biểu
của ông J.P. Faure về Phật giáo và khoa học thấm đượm quan điểm
của Thiền học, thiển nghĩ đó cũng là điều tất nhiên vì ông là
một Thiền sư thuộc tông phái Tào động. Các câu hỏi được cô
Aurélie Godefroy, nữ ký giả và thuyết trình viên của chương
trình Phật giáo trên đài France 2, nêu lên thật súc tích và đi
thẳng vào vấn đề. Ông J.P. Faure đôi khi không trả lời bằng cách
khẳng định, nhưng bằng cách giải thích. Những điểm đương nhiên
thì ông bỏ qua không trình bày và chỉ chú tâm vào các khía cạnh
đặc thù của khoa học và của Phật giáo.
Thông thường
người ta có thói quen xem khoa học tượng trưng cho trí thông
minh vững chắc và siêu việt của con người, là một phương tiện
đem đến tiến bộ và những cải thiện vật chất cho sự sống, là một
dụng cụ để đánh đổ mê tín, dị đoan, tìm hiểu một cách « khách
quan » về thế giới này và toàn thể vũ trụ. Do đó nhiều người vẫn
nhìn khoa học như một điểm chuẩn hay một « cây thước » để đánh
giá và đo lường những hiểu biết « ngoài » khoa học. Vì thế trong
thâm tâm của một số người, khoa học có thể đã chiếm giữ một vị
thế độc tôn, vượt lên trên tất cả, đủ sức để xét đoán mọi thứ
hiểu biết khác. Họ không hiểu rằng khoa học cũng có những sai
lầm, khó khăn và giới hạn của nó.
Lập luận khoa học
hoàn toàn dựa vào nguyên tắc nhị nguyên : chủ thể quan sát và
đối tượng được quan sát, do đó tính cách chủ quan và lệch lạc
không thể nào tránh được. Tiến trình khoa học dựa vào phương
pháp đánh đổ liên tục các quy luật và giả thuyết cũng như cách
quan sát chủ quan, quá trình tiến triển đó mang tính cách dọ dẫm.
Các phát minh khoa học ứng dụng vào việc cải thiện sức khoẻ con
người là một sự thành công không thể chối cải được, nhưng đồng
thời cũng có những phát minh và ứng dụng khác mang đến những
loại khổ đau khác, hoặc lộ liễu hoặc tinh vi và phức tạp hơn,
ngụy trang khéo léo hơn. Ứng dụng khoa học vào kỹ thuật có thể
cải thiện các phương tiện truyền thông đưa con người đến gần với
nhau hơn, những cũng có thể đấy là một phương tiện quản lý vá áp
chế con người một cách toàn diện, kín đáo và đồng loạt hơn. Có
nhiều ứng dụng khoa học giúp cho việc sản suất thực phẩm gia
tăng, nhưng đồng thời cũng làm ô nhiễm và tàn phá môi sinh, và
cũng có những phát minh khác giúp sáng chế và sản xuất những quả
bom hạch nhân.
Điểm nổi bật
trong nội dung buổi phóng vấn là ông J.P. Faure đã tìm cách đặt
khoa học đúng vào vị trí của nó. Thật vậy, người ta thường nhìn
vào các khoa học gia lừng danh khi họ phát biểu và khen ngợi
Phật giáo để ngưỡng mộ họ. Có rất nhiều người trích dẫn và gom
góp các lời phát biểu ấy để in thành sách. Nhưng thật ra Đạo
Pháp không cần đến những lời tán dương ấy, vì Đạo Pháp đã vượt
qua hơn hai nghìn năm trăm năm và không có một dấu hiệu nào cho
thấy sự suy tàn, khoa học tân tiến ngày nay phát triển chưa được
hai thế kỷ, và người ta cũng chưa biết chắc là cái khoa học ấy
sẽ đem đến hạnh phúc nhiều hơn và vững bền hơn cho xã hội con
người, hay chỉ là một phương tiện giúp cho nhân loại tự hủy diệt
và tàn phá cả hành tinh này ?
Ta hãy nhìn vào
bản thân của các nhà khoa học lừng danh để xét đoán họ một cách
thiết tực hơn, đồng thời ta cũng có thể nhìn vào các giả thuyết
mà họ nêu lên để hiểu rằng các giả thuyết ấy ngày càng cho thấy
nhiều sơ hở và đang tiếp tục bị đánh đổ bởi các giả thuyết khác
của những nhà khoa học khác. Trong khi đó, những sự thực do Đạo
Pháp nêu lên vẫn luôn luôn vững chắc và nguyên vẹn, vượt khỏi
không gian và thời gian, vượt lên trên chủ thể tức con người, và
vượt lên trên đối tượng tức thế giới biến động của cả vũ trụ này.
Người Phật tử chân chính không nên đứng ở vị trí khoa học để
đánh giá Phật giáo mà ngược lại phải đứng ở vị trí Phật giáo để
đặt khoa học vào đúng vị trí của nó. Đứng vào vị trí một quả
trứng đặt bên cạnh một khối đá để đánh giá khối đá chẳng những
nguy hiểm mà lại còn vô ích nữa, nguy hiểm vì việc ấy chỉ làm
gia tăng thêm vô minh ẩn nấp trong sự hiểu biết nhị nguyên và
quy ước, vô ích vì khối đá không cần đến những lời tán dương và
cũng chẳng cần đến một sự thử thách nào cả.
Vài nét về tiểu
sử của Thiền sư J.P. Faure sẽ được trình bày ở cuối phần I của
bài dịch.
 
Cô
Aurélie Gaudefroy Thiền sư Jean-Pierre Faure
Aurélie Gaudefroy
:
Người ta thường bảo rằng nếu có một tôn giáo mang nhiều điểm
trùng hợp với khoa học, thì rất có thể đấy là trường hợp của
Phật giáo. Nhưng có đúng như thế hay không ? Thực ra thì từ muôn
thuở, sự hiểu biết và đức tin đã tự vạch ra hai con đường trái
ngược hẳn nhau, và sự tương quan giữa khoa học và tôn giáo vẫn
thường gây ra nhiều trở ngại, kể cả những trường hợp có thể gây
ra dông bão nữa. Người ta tự hỏi Phật giáo có thoát ra khỏi quy
tắc đó hay không. Quả thật đây là một chủ đề mênh mông. Vì thế
chúng tôi quyết định dành ra hai buổi phát hình cho vấn đề này.
Trong buổi phát hình hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau đề cập những
gì liên hệ đến cách thức lập luận của khoa học trên phương diện
tổng quát. Tại sao người ta lại đánh giá Phật giáo là một ngành
khoa học của tâm linh, kể cả việc xem Phật giáo như là một khoa
học của sự Giác ngộ ? Và nhất là trong kích thước và khuôn khổ
của xã hội ngày nay, thì phải căn cứ vào đâu để suy tư về chủ đề
Phật giáo và khoa học ? Chúng tôi mời ông Jean-Pierre Faure đến
đây hôm nay để giải đáp cho chúng ta về những câu hỏi vừa nêu
lên.
Xin chào ông
Jean-Pierre Faure.
Ông là một cựu khoa học gia. Ông từng là một nhà khảo cứu khoa
học và giảng dạy về vật lý học và đồng thời cũng là một người tu
tập về Thiền học thuộc tông phái Tào động. Ông từng là một đệ tử
của Thiền sư Taisen Deshimaru và đã thụ phong tỳ kheo vào năm
1979. Và hai mươi năm sau ông đã thiết lập được một tu viện ở
vùng Dordogne. Ông hy sinh đời mình để đào tạo các đồ đệ đang tu
học tại đây. Tôi cũng xin được nói thêm là ông cũng thường xuyên
thuyết trình và hướng dẫn các khoá tu tập khắp nơi ở Âu châu.
Xin cám ơn ông đã đến với chúng tôi hôm nay. [Ông Jean-Pierre
Faure : xin cám ơn cô đã tiếp đón tôi.]
Để khởi sự cho
buổi phát hình hôm nay về chủ đề khoa học, cũng xin nêu lên là
vị thầy của ông cũng từng là một người say mê các nghành khoa
học nhân văn. Vậy ông có thể cho biết thêm một chút về việc này
hay không ?
J.P. Faure
: Thiền sư Deshimaru rất yêu mến Tây phương và hầu hết những
công trình của Tây phương. Cũng chính vì thế mà ông đã quan tâm
đến tất cả các ngành khoa học, dù là khoa học vật lý hay nhân
văn cũng thế. Trong khi giảng huấn, ông thường xuyên trích dẫn
các hiểu biết khoa học để làm thí dụ.
A.G.
: Những tiến trình trong cuộc đời ông thật hết sức ngoạn mục và
phong phú, bởi vì chính ông đã từng là một nhà khoa học. Vì thế,
ông có thể kể lại những gì đã xảy ra với ông hay chăng ? Từ đâu
lòng quyết tâm mộ đạo đó đã phát sinh trong ông ? Và sau đó ông
đã từ bỏ nghề nghiệp của một khoa học gia và hoàn toàn tập trung
tất cả mọi sinh hoạt vào trọng trách của một nhà sư Phật giáo ?
J.P. Faure
: Giống như tất cả những đứa trẻ khác, khi còn nhỏ tôi thường
thắc mắc : « Vũ trụ này vận hành ra sao ? Nguồn gốc của vũ trụ
là gì ? ». Và nhất định lúc còn bé, tôi chỉ biết nhìn theo hướng
đi của kẻ khác, nhưng đồng thời tôi cũng quan tâm rất nhiều đến
khoa học. Tôi đoán chừng hình như khoa học sẽ có thể đem đến cho
tôi những lời giải đáp thoả đáng. Và càng lớn lên, tôi lại càng
hiểu rằng đối tượng của sự học hỏi không phải là cách nhìn ra
bên ngoài, mà phải nhìn vào bên trong. Và cũng chính từ đó mà
lòng mộ đạo đã nảy sinh trong tôi. Tôi bắt đầu quan tâm đến các
tôn giáo khác, nhưng càng quán xét kỹ lưỡng, tôi lại càng nhận
thấy đầy rẫy những điều tương khắc giữa khoa học và các đức tin
tôn giáo có sẳn trong tôi, riêng chỉ có Phật giáo thì ngược hẳn
lại, đã san bằng những tương khắc đó.
A.G. :
Trong trường hợp nào đã xảy ra biến cố ấy ? Và ông đã từ bỏ nghề
nghiệp khoa học của ông từ lúc nào ?
J.P. Faure :
Thật ra thì tôi đã hoàn toàn trở thành một nhà sư từ lâu, tuy
nhiên tôi vẫn tiếp tục giảng dạy và đảm trách vai trò của một
khảo cứu gia khoa học. Cho đến một lúc tôi chợt nhận ra là việc
giảng dạy Đạo Pháp quan trọng hơn nhiều trong bối cảnh của thế
gian này.
A.G.
: Trong lãnh vực khoa học mà ông đã được đào tạo, thì những điễm
nào đã mang đến cho ông một cách nhìn cá biệt về Phật giáo ?
J.P. Faure
: Tôi cũng không hiểu đấy có phải là một cách nhìn cá biệt hay
không, tuy nhiên cứ tạm cho rằng cách nhìn ấy đã giúp đỡ tôi rất
nhiều trong những bước đầu. Đúng thế, nó đã thật sự giúp đỡ tôi,
bởi vì khi người ta nhìn trở lại khoa học – và trong trương hợp
của tôi là nhìn trở lại khoa vật lý học – thì những khái niệm,
cách biết đọc một luận thuyết, biết sử dụng lý trí như một dụng
cụ, và dù rằng chỉ có Trời mới biết là cái dụng cụ ấy có toàn
năng hay không, nhưng chính nó đã giúp tôi và cho phép tôi bước
vào lãnh vực của khoa học Phật giáo, của Kinh sách và Đạo Pháp,
và chính những dụng cụ ấy trước đây đã từng giúp đỡ tôi trong
việc học hỏi về khoa học. Tuy nhiên về sau này, khi đã vững tin
vào tính cách đích thực và những lợi ích trong sự tu tập, thì
tôi tập trung tất cả sự hăng say của tôi vào việc đó, nhưng các
thói quen từ trước của tôi trong việc mổ xẻ và nhào nặn các khái
niệm khoa học nay lại trở thành những chướng ngại, dù rằng loại
chướng ngại ấy là loại chướng ngại chung cho mọi người : tức
phải từ bỏ cái trò chơi vận hành của lý trí để hội nhập với hiện
thực, để cảm nhận thật sâu xa về hiện thực, và đấy chính là
những gì thật khó khăn.
A.G.
: Vậy thì tinh
thần khoa học của ông đã bị lung lay khi phải đối đầu với sự tìm
hiểu tâm linh vào một lúc nào đó ? Có phải cả hai mặt đã gặp trở
ngại khi phải song hành với nhau ?
J.P. Faure
: Đúng hơn tôi chỉ muốn nói rằng tôi không được hoàn toàn thoả
mãn. Tôi ý thức một cách rõ rệt và tin rằng trong cuộc sống của
tôi – là một nhà khoa học, nhưng đồng thời cũng là một người
cha, một người chồng trong gia đình, lại còn mang những mối dây
liên hệ với những tất cả những người khác nữa – tôi đã nhận thấy
một cách thật minh bạch những liên hệ thiết lập giữa tôi và thế
giới này không nhất thiết chỉ dựa vào sự hiểu biết đơn thuần mà
còn cần đến sự tu tập mà tôi phải thực hiện cho chính bản thân
tôi, và cũng chính vì thế mà dù cho tôi có nhận thấy lợi ích của
vật lý học đi nữa, thì tôi cũng nhìn thấy cả những giới hạn của
nó. Những gì liên quan đến sự thực sâu xa trong kiếp sống của
tôi thì thật là đơn giản, đấy là tấm lòng yêu thương sự sống.
A.G. :
Để quay lại chủ đề của buổi phát hình hôm nay, theo ông thì định
nghĩa của khoa học là gì ?
J.P. Faure :
Tây phương không sáng tạo được một tôn giáo nào cả. Các tôn giáo
đều du nhập từ Á châu, từ các miền Viễn động hoặc Cận đông. Trái
lại khoa học là một sự kiện hiển nhiên thuộc nền văn hoá Tây
phương. Chính người Hy lạp đã tìm cách giải thích về mọi sự vật.
Và có thể nói rằng cho đến thế kỷ thứ XVIII, các cách giải thích
ấy vẫn còn dựa vào xu hướng tín ngưỡng. Nhưng thật ra đối tượng
phải là sự nhận biết hiện thực một cách toàn diện. Kể từ thế kỷ
XVIII trở về sau này, người ta mới bặt đầu biết chú tâm đến các
thể dạng khác nhau của mọi hiện tượng và cách cảm nhận mọi hiện
tượng, để sau đó tìm cách giải thích về sự vận hành của chúng.
A.G.
: Các điều đó liên quan đến những lãnh vực nào ?
J.P. Faure
: Người ta có thể ứng dụng các điều ấy vào bất cứ ngành khoa học
nào, từ những ngành khoa học hoàn toàn trừu tượng, tức những trò
xảo thuật của lý trí, chẳng hạn như toán học, hoặc là các ngành
khoa học về vật chất như vật lý học, hoặc các ngành khoa học của
sự sống như sinh học, hoặc là các ngành khoa học đòi hỏi sự tham
gia tích cực của con người trong những lãnh vực vận hành sâu kín
nhất, và gọi chung là các ngành khoa học nhân văn. Bất cứ một
lãnh vực hiểu biết nào sử dụng cách lập luận của khoa học đều có
thể trở thành một khoa học.
A.G. :
Vậy sự lập
luận khoa học là gì ? Có phải phần căn bản đều giống như nhau ?
J.P. Faure
: Lập luận
khoa học là tìm cách hiểu biết một sự vận hành nào đó, và muốn
thực hiện được điều ấy phải hình dung ra một thí nghiệm. Khi thí
nghiệm được thực thi, thì sau đó nhất định phải mổ xẻ nó, phân
tích và rút tỉa những giá trị trong đó để giúp nhìn thấy và đưa
ra một đường hướng chỉ đạo, tức có nghĩa là phát hiện được một
quy luật. Khi liên kết tất cả các quy luật với nhau sẽ có thể
dựng lên một luận thuyết. Cứ tiếp tục như thế mà người ta đã
thực hiện được hết phát minh này đến phát minh khác. Điều đó
cũng có nghĩa là khi đã phát minh được một điều gì người ta lại
đoán rằng sẽ còn có thể vượt xa hơn nữa để khám phá ra những gì
lý thú hơn. Tuy nhiên, khi mà kỹ thuật và phần dụng cụ chưa sẵn
sàng, thì người ta còn phải chờ đợi. Thí dụ như trong vòng tháng
tám này, sẽ xảy ra những sự va chạm với tốc độ cực và cực nhanh
(1) trong không trung để theo dõi các sự kiện sẽ xảy ra, đấy là
những kết quả thuộc vào cấp bậc thật sâu xa của vật chất, tức
cấp bậc thuộc lãnh vực của những hạt vật chất cơ bản gọi là
quark. Phải chờ đợi đường hầm vòng tròn được hoàn thành và thiết
kế xong. Và khi nào đường hầm đó sẵn sàng và các thí nghiệm được
đem ra thực hiện, thì người ta mới có thể biết được những gì
từng được chờ đợi trước đây sẽ xảy ra đúng với sự tiên đoán hay
không. Và tiếp theo đó, một lãnh vực khác sẽ được mở ra dành cho
những thí nghiệm khác nữa.
A.G.
: Người ta thường đánh giá Phật giáo như một khoa học tâm linh,
kể cả là một khoa học của sự Giác ngộ. Tại sao ?
J.P. Faure
: Bởi vì trên thực tế người ta có thể đứng bên ngoài để nhìn vào
bên trong, có nghĩa là với tư cách của một quan sát viên, sử
dụng cách lập luận khoa học và nhắm vào tâm thức như là một đối
tượng của sự nghiên cứu, nhưng đồng thời cũng đừng quên là tâm
thức cũng hiện hữu trong chính chúng ta, vì thế dùng tâm thức để
nghiên cứu tâm thức, thì việc ấy sẽ trở nên khá phức tạp. Tuy
nhiên khi đã quy định một cách thật chính xác lãnh vực của việc
nghiên cứu, thì người ta có thể nghiên cứu được tâm thức, chẳng
hạn như trên phương diện bệnh lý, hoặc thực hiện các loại nghiên
cứu về tâm lý học hay phân tâm học. Dù sao đi nữa, thực hiện thí
nghiệm không phải để rút tỉa một cái gì cả, nhưng để sống một
cách thật sâu xa kiếp sống của một con người – những kinh nghiệm
ấy đã được chính Đức Phật thực hiện – và từ đó người ta chỉ cần
hội nhập với các kinh nghiệm của Phật. Những kinh nghiệm hay thí
nghiệm do Phật thực hiện không có chủ đích đưa ra một luận
thuyết nào cả. Đó chỉ là những lời khuyên nhủ chúng ta hãy thực
hiện trở lại những kinh nghiệm của chính Ngài, ấy là cách hội
nhập với hiện thực.
A.G.
: Trường hợp Bốn sự thực cao quý (Tứ diệu đế) có sử dụng đến
cách lập luận khoa học hay không ?
J.P. Faure
: Đức Phật thuyết giảng về Bốn sự thực cao quý như là một lời
khuyến khích dành cho những người đương thời và dành cho cả
chúng ta hôm nay, hãy quay nhìn vào kiếp sống của ta một cách
thật tinh tế, sâu xa hơn cách mà người ta thường cảm nhận. Thí
dụ như sự thật thứ nhất, Đức Phật giảng rằng sự sống là khổ đau,
và lần đầu tiên khi nghe nói đến câu nói ấy, tôi rất thắc mắc
không hiểu câu ấy có nghĩa là gì ? Nhưng về sau, khi đã quán xét
kỹ lưỡng, tôi mới nhận thấy quả thực tất cả mọi cảnh huống, dù
cho êm ái cách mấy đi nữa thì sau cùng cũng đưa đến sự chấm dứt.
Và chính vì thế nên luôn luôn có một cái gì không hoàn hảo, ấy
là sự bất toại nguyện. Hoặc có một số cảnh huống nào đó đã xảy
ra ngoài sự mong muốn của tôi. Và rồi tôi nhận thấy những cảnh
huống ấy dù đó là một sự ham muốn hay một sự ghét bỏ, thì cả hai
thể dạng đều mang đến khổ đau. Vậy rõ ràng sự sống là khổ đau,
đúng thật như thế, một sự kiểm chứng cẩn thận sẽ giúp ta nhìn
thấy điều đó.
A.G.
: Theo ông, người ta có thể khẳng định Phật giáo là một khoa học
hay không ?
J.P. Faure
: Là một nhà sư nên đương nhiên tôi phải quan tâm đến những lời
Phật dạy và tôi phải phát biểu phù hợp với Đạo Pháp. Đạo Pháp
của Phật gồm có phần lý thuyết mà người ta có thể gọi là Phật
giáo, ngoài phần lý thuyết lại có phần thực hành, và ý nghĩa
thật sự của thực hành là tu tập và tu tập tức là bước theo bước
chân của Phật.
Tuy nhiên
nếu muốn bước theo bước chân của Phật, thì cũng phải ý thức một
cách minh bạch là Phật đi đâu, và Phật đã bước như thế nào. Vì
thế nên tôi đã học hỏi những lời giáo huấn của Phật và xem đó
như những lời dạy bảo, dù sao đi nữa thì sự tu tập đích thực
cũng vẫn là cách bước theo những lời dạy bảo ấy (2).
A.G.
: Dù sao thì người ta cũng vẫn có cảm giác là Phật giáo và khoa
học đã gặp nhau trên thật nhiều điểm tương đồng, dù các điểm ấy
thuộc vào lãnh vực phương pháp nghiên cứu hay là lãnh vực kết
quả gặt hái được từ các phương pháp ấy. Người ta có thể lấy thí
dụ để so sánh giữa ngành vậy lý lượng tử và Tánh không của Phật
giáo chẳng hạn. Vào thời điểm nào thì hai con đường ấy tách rời
nhau ? Cái gì đã cho thấy sự khác biệt trong một thời điểm nào
đó ?
J.P. Faure
: Khoa học
bao giờ cũng nêu lên tính cách nhị nguyên : sự hiện hữu của một
tác nhân quan sát đứng ra quan sát một cái gì đó. Đối với Phật
giáo, tức dựa theo những lời giảng huấn của Đức Phật, thì chính
chúng ta vừa là người quan sát lại vừa là đối tượng của sự quan
sát, có nghĩa là chúng ta hoàn toàn là một diễn viên. Trong cùng
một lúc người ta không thể nào là kẻ đứng nhìn và người bị nhìn
thấy. Hiện thực gồm có ta trong đó thật sự chỉ là Một. Và nếu ta
cố gắng tách ra ngoài để tự nhìn thấy chính mình, thì ấy chỉ là
một ảo giác (3).
A.G.
: Như vậy trên thực tế, Phật giáo cố gắng nắm bắt hiện thực qua
tổng thể của nó, trong khi khoa học lại nhị nguyên hoá mọi vật
thể ?
J.P. Faure
: Đúng như thế. Lập luận khoa học hoàn toàn mang tính cách nhị
nguyên. Chẳng hạn một mặt là sự kiện được hạnh phúc, mặt khác là
sự kiện tìm kiếm các phương tiện để được hạnh phúc.
A.G.
: Vậy để kết luận người ta có thể nói rằng Phật giáo hoàn toàn
hội nhập với hiện thực, trong khi khoa học chỉ biết tìm cách nắm
bắt một cách ích kỷ (4) mà thôi ?
J.P. Faure
: Hoàn toàn đúng như thế. Trong cách lập luận khoa học, có một
tác nhân đứng ra quan sát và một vật thể được tác nhân ấy quan
sát. Từ nơi khởi điểm đó người ta cố gắng nắm bắt hiện thực.
Luôn luôn trong con người lúc nào cũng hiện hữu loại dục vọng
đó, tức đạt được sự hiểu biết, muốn được hiểu biết, và rồi đến
một lúc nào đó người ta mới chực nhận ra rằng hiện thực không
phải dùng để hiểu biết, mà chỉ để cho ta sống với nó.
Hiểu rằng
cần phải yêu thương là một việc. Nhưng yêu thương lại là một
việc khác. Khuôn mẫu Phật giáo quả thực là một thứ gì hết sức
thực tế.
A.G.
: Thưa ông Jean-Pierre Faure, cám ơn ông thật nhiều. Xin hẹn gặp
lại ông trong buổi phát hình tiếp theo vào tuần tới.
Ghi chú :
1- Ông J.P.
Faure ám chỉ những thí nghiệm đang được chuẩn bị thực hiện tại
Trung tâm Âu châu Nghiên cứu về Hạch nhân (C.E.R.N.) nằm vắt
ngang hai biên giới Thụy sĩ và Pháp. Đây là một trung tâm quốc
tế về khoa học vật lý lớn nhất thế giới, và các cuộc thí nghiệm
đã khởi sự thực hiện vào tháng chín vừa qua. Người ta làm tăng
tốc hai chùm hạt vi thể ngược chiều trong một đường hầm vòng
tròn thiết kế và xây dựng sâu 100m dưới mặt đất và có đường chu
vi là 27km. Các hạt vi thể với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng
va chạm vào nhau tạo ra những phản ứng giống như trong môi
trường xảy ra vài phần triệu giây đồng hồ sau hiện tượng « big
bang ». Các thí nghiệm đó sẽ giúp các nhà vật lý học tìm hiểu sự
hình thành của vật chất và cách vận hành của cả vũ trụ này.
2- Ý của câu
trả lời này là Phật giáo có cả phần lý thuyết lẫn phần thực
hành, có mục đích và phương pháp rõ rệt, tức những đặc tính chủ
yếu của một ngành khoa học.
3- Đây là điểm
khác biệt căn bản giữa Phật giáo và khoa học. Phật giáo vượt lên
trên chủ thể và đối tượng, trong khi khoa học vướng mắc trong
nguyên tắc nhị nguyên : chủ thể quan sát và đối tượng được quan
sát, do đó không tránh được tính cách chủ quan và đối nghịch.
4- « nắm bắt
một cách ích kỷ » có nghĩa là xuyên qua giới hạn nhận biết và
suy luận của một chủ thể, tức mang tính cách chủ quan. Trong
tiếng Pháp chữ ích kỷ là égoiste, trong chữ này có chữ égo tức
là cái tôi hay cái ngã.
Vài nét tiểu sữ
của ông Jean-Pierre Faure :
Ông Jean-Pierre
Faure sinh năm 1945 tại Pháp, tức vào lúc thế chiến thứ hai vừa
chấm dứt. Ngày nhỏ, ông là một cậu bé thích yên lặng và trầm tư,
yêu mến thiên nhiên, hội họa và âm nhạc. Cha của ông là một nhà
trí thức, khoa bảng và chủ trương vô thần, nhưng mẹ ông lại là
một người thật ngoan đạo. Thời kỳ vị thành niên, trước mười sáu
tuổi, ông là một cậu bé rất quan tâm đến tôn giáo, say mê học
hỏi những lời giảng trong Tân Ước, và có ý định sau này sẽ đi tu
để trở thành cố đạo.
Ở trường thì ông
lại thích môn vật lý học vì ông nghĩ rằng đây là môn học có thể
giúp ông tìm hiểu về thế giới này và cội nguồn của mọi sự vật...
Nhưng khi lớn lên, ông không còn nghĩ đến việc xin vào nhà dòng
nữa mà lại lấy vợ và sinh được ba con. Ông đỗ tiến sĩ, ra giảng
dạy và tiếp tục nghiên cứu về vật lý học. Nhưng sau đó vợ ông
lại tự tử một cách thật bất ngờ, ông sống một mình nuôi con. Ông
có tinh thần cấp tiến, ủng hộ phong trào cải cách xã hội gọi là
phong trào tháng năm 68 (tức tháng năm, năm 1968), phong trào
này đánh dấu những xáo trộn và biến đổi lớn trong xã hội cân đại
của nước Pháp. Ông vẫn thường băng khoăng cho rằng lòng từ bi
Thiên chúa giáo mà thiếu phần trí tuệ thì không thể nào giúp đỡ
những người đồng loại một cách hữu hiệu được.
Năm1976, nhờ cơ
duyên xui khiến ông đã gặp được Thiền sư Taisen Deshimaru và ông
xin làm đệ tử. Vị Thiền sư Nhật bản Teisen Deshimaru được người
Âu châu xem như vị Bồ-đề Đạt-ma của Tây phương vì chính ông đã
đem Thiền học vào Âu châu. J.P. Faure được thụ phong tỳ kheo vào
năm 1981. Đến năm 1997, các con ông đã trường thành và tự lập,
ông từ giả hẳn đại học, hoàn toàn tập trung mọi sinh hoạt vào
việc tu tập và giảng dạy Đạo Pháp.
Năm 2003, ông
được Đại sư Donin Minamizawa Roshi, thừa kế dòng Tào động tại
Nhật bản, chính thức đề bạt cho ông làm giảng sư của học phái
này. Hiện nay ông là một trong những người thuộc ban lảnh đạo
của Hội Thiền học Quốc tế (AZI) và ông trụ trì tại ngôi thiền
viện Gendronnière ở vùng sông Loire. Ông để hết tâm trí và thì
giờ chăm lo đào tạo tăng đoàn và giảng dạy thiền học tại Pháp và
nhiều quốc gia khác ở Âu châu.
Pháp danh của ông
là Taiun, có thể tạm dịch là Đại hạnh, nhưng không biết dịch như
thế có thật đúng nghĩa hay chăng, mục đích chỉ để được gọi ông
là Đại hạnh Thiền sư cho vẻ Á châu và thân thiện hơn, tuy rằng
ông rất năng hoạt, lúc nào cũng vui cười và cởi mở, hơi khác với
một số các vị Thiền sư Á châu, kín đáo, từ tốn và trầm tư hơn.
Phật giáo và khoa học
(
Phần II )
A. Godefroy
: Tuần
vừa qua, chúng tôi đã được dịp tìm hiểu khoa học là gì. Tuy
nhiên riêng tôi vẫn muốn trở lại vấn đề các phương pháp đã được
sử dụng trong khoa học. Các phương pháp ấy có mang tính cách đối
nghịch hay không ? Có đúng là người ta bắt buộc phải đặt lý trí
và trực giác song hành với nhau, hay ngược lại cả hai có thể hỗ
trợ cho nhau ?
J.P. Faure
: Vâng, tôi nghĩ rằng người ta không thể nào tách rời thân xác
và tâm thức, lý thuyết và thực hành. Đúng như cô đã nói, người
ta có thể xem Phật giáo là một khoa học, ngành khoa học đó gồm
có kinh sách và các tập luận giải đại diện cho phần lý thuyết để
hướng dẫn chúng ta bước vào phần thực hành. Vì thế cả hai mặt
cùng bổ khuyết cho nhau.
A.G.
: Có những khám
phá khoa học quan trọng được thực hiện nhờ vào trực giác. Vậy
ông có thể kể ra đây hay chăng ?
J.P. Faure
: Vâng, trực giác không phải là gia tài riêng của tôn giáo.
Chẳng hạn Einstein khi phải đối đầu với những cảm nhận mà ông ta
không thể giải thích bằng những hiểu biết trong bối cảnh đương
thời, thì ông ta bắt buộc phài nhảy một bước dài vào chỗ trống
không để chấp nhận năng lượng và vật chất, thời gian và không
gian, đều liên kết với nhau (1).
A.G.
: Mục đích của khoa học và mục đích của Phật giáo là gì ?
J.P. Faure
: Nếu ta nhìn vào lịch sử của nhân loại, ta sẽ thấy rằng
khoa học nhờ vào các khám phá và ứng dụng đã mang đến nhiều lợi
ích trên phương diện sức khoẻ, trên phương diện kỹ thuật. Trong
đời sống thường nhật, người ta đều thừa hưởng được kết quả của
những khám phá kỹ thuật ấy và chỉ có Trời mới biết được những
tiến bộ đó có vĩ đại hay không và đem ra sử dụng có mang đến
những lợi ích thật lớn lao hay không. Nhất định, trên phương
diện sức khoẻ người ta có thể được chạy chữa nhờ vào các khám
phá khoa học. Kể cả trường hợp lâm vào tình cảnh vô cùng tệ hại
thì cũng có thể nhờ khoa học cứu giúp bằng mọi cách trị liệu.
Tuy nhiên còn biết bao nhiêu vấn đề khác liên hệ đến sự hiện hữu,
chẳng hạn như cái chết – cái chết đang xảy ra trong từng giây
phút một và cả cái chết khi bước vào cảnh giới của bát-niết-bàn
– đó là những gì mà khoa học hoàn toàn bó tay, trong cảnh huống
đó ta phải tự đối đầu với chính mình, và cái kinh nghiệm đó là
cái kinh nghiệm của chính Đức Phật đã thực hiện và truyền lại
cho chúng ta, thôi thúc chúng ta đem ra thực hiện trong từng
giây phút một.
A.G.
: Do đó người ta cũng có thể bảo rằng chủ đích của Phật giáo là
cách tập luyên tâm thức để làm nhẹ bớt khổ đau ?
J.P. Faure
: Hoàn toàn đúng như thế. Đức Phật giảng dạy trong mục đích duy
nhất làm cho vơi bới khổ đau.
A.G.
: Theo ông thì vật lý học có thể giúp đạt được hiện thực hay
không ?
J.P. Faure
: Không. Theo tôi vật lý học chỉ có thể đến gần và đến gần hơn,
thế thôi. Nếu nhìn vào các khám phá trong thế kỷ vừa qua, người
ta sẽ nhận thấy ngành cơ học cổ điển lúc đầu chỉ nhắm vào một số
hiện tượng nào đó, về sau mới được cải thiện thêm khi liên hệ
với các hiện tượng chuyển động với những tốc độ cực nhanh, và
sau đó lại bước vào lãnh vực của thế giới hạ nguyên tử
(subatomique), và sau hết lại có các ngành vật lý học khác xuất
hiện, như vật lý tương đối, cơ học lượng tử..., để ứng dụng vào
các lãnh vực khác nữa. Vì vậy, nhất định là người ta có thể đến
gần hơn, đến gần hơn, đến gần hơn nữa, nhưng người ta sẽ không
bao giờ có thể chạm vào hiện thực được, chẳng qua vì bản chất
của vật lý là đứng ra bên ngoài đối tượng mà người ta quan sát.
Và sự kiện đứng ra bên ngoài như thế chính là nguyên nhân đã làm
nhiễu loạn hiện thực.
A.G.
: Vậy theo ông hiện thực là gì ? Có phải đấy là sự thực tuyệt
đối ? Làm thế nào để định nghĩa sự thực ấy ?
J.P. Faure
: Nhiều triết gia, chẳng hạn như Spinoza (2), đã từng đề cập đến
vấn đề bản thể và các biểu hiện phụ thuộc. Bản thể không nắm bắt
được. Trái lại, hình tướng, hiện tượng, thì trên thực tế người
ta có thể chụp hình được, nhìn thấy được. Tuy thế, hình tướng
cũng không phải là khác với bản thể. Và chính trong điểm ấy có
hàm chứa một cái gì đó, nhưng ngành vật lý học đã cướp mất sự
cảm nhận tối hậu của chúng ta mất rồi.
Vì thế,
tôi có ý muốn nêu lên sự khác biệt giữa những chiếc bóng của
hiện thực và chính sự hiện thực tối hậu, khi đã hoàn toàn hội
nhập vào hiện thực thực tối hậu, ta sẽ không còn nhìn thấy chính
ta nữa.
A.G.
: Để chuẩn bị cho buổi phát sóng này, ông có nói với tôi rằng
Đức Phật không hề mô tả sự Giác ngộ của Ngài bằng bất cứ một
ngôn từ nào cả. Tuy nhiên người ta vẫn có thể tự hỏi có phải
chăng kinh nghiệm đó dù sao đi nữa cũng đã giúp cho chúng ta có
thể đến gần tối đa với hiện thực ?
J.P. Faure
: Đấy chính là cái ngón tay tuyệt vời đã trỏ thẳng vào mặt trăng,
nhưng lại không phải là mặt trăng. Và rồi vào cuối cuộc đời của
Ngài, Đức Phật đã nói như sau : « Cứ kể như ta chưa hề nói lên
một lời nào cả ». Điều ấy có nghĩa là nếu thật sự muốn thực hiện
được sự cảm nhận thế nào là không khổ đau, thì hãy lắng chìm
trong hiện thực, hòa mình với hiện thực, hội nhập vào dòng chảy
của sinh và tử, và trong chính những giây phút đó hãy làm những
gì mà Đức Phật đã làm. Tất cả những lời giảng huấn của Đức Phật
lưu lại trong kinh sách đều là những lời khuyên nhủ chúng ta hãy
tự thực hiện cho chính mình cái cảm nhận ấy của Phật.
A.G.
: Ông có thể trình bày thật ngắn gọn ý nghĩa của loại cảm nhận
ấy là thế nào ? Ông đã từng cho tôi biết là có hai loại cảm nhận
?
J.P. Faure
: Vâng. Hiển nhiên là có một thứ cảm nhận mà tôi cho rằng có ích
lợi, những cảm nhận ấy dùng để rút tỉa và đưa ra những giả
thuyết, thí dụ như việc kiểm soát sự phân cắt hạch nhận chẳng
hạn (3). Người ta cũng nhận thấy rõ kỹ thuật đã được cải tiến
như thế nào, tất cả kỹ thuật đều bắt nguồn từ những phát minh cơ
bản. Vì thế có một sự giám sát trên phương diện vật chất, một sự
chủ động nào đó đối với tất cả mọi vật thể. Quả đúng, đấy chính
là thiên tài của con người dùng để kiểm soát mọi sự vật, nhưng
cái thiên tài ấy cũng có thể dùng để sử dụng một cách vô ý thức
cái khí cụ khoa học cực mạnh để đưa con người đi thẳng vào một
bức tường (4).
Đối với
Đức Phật, thì Ngài lại không hề quan tâm đến những lợi ích mà
khoa học có thể mang đến, vì Ngài đã từng nói như sau :
« Các con
còn đang phải đối đầu với cái chết, với bệnh tật, với sự xa lìa
những gì các con yêu quý, với thời gian trôi nhanh, với vô
thường..., nhưng các con lại chẳng có gì cả, một khí cụ nhỏ cũng
không. Các con chỉ cần đắm mình vào trong đó, ngay nơi này và
trong cái hiện tại này, hội nhập với cảnh huống, ngay cả trên
chiếc giường mà con con sẽ nằm xuống để chết ».
A.G.
: Ông có nghĩ rằng các tiêu đề khoa học đều mang tính cách lượng
tính hơn là phẩm tính ? Trong trường hợp của Phật giáo thì thế
nào ?
J.P. Faure
: Vâng. Đối với khoa học trong một cấp bậc nào đó, khi nghiên
cứu thân xác con người chẳng hạn, thì khoa học nghiên cứu quả
tim tách rời khỏi buồng gan – giống như nghiên cứu một người
chết – sau đó mới cố gắng đến gần hơn với sự vận hành của một
người sống, dù cho đấy là một chuyên gia về gan hay về tim thì
họ cũng đều làm như thế.
Nhưng rốt
lại, vấn đề thật sự chính lại là tổng thể. Nhưng tổng thể thì
không dừng lại ở cấp bậc đó. Sự sống này của tôi là sự sống của
vũ trụ, ấy là không khí mà tôi đã thở, nước mà tôi đã uống, thực
phẩm mà tôi đã tiếp nhận được, đó là tất cả những gì được trao
đổi giữa tôi và chúng sinh. Sự sống đó là Một.
Nhưng khoa
học lại có khuynh hướng phân cắt ra từng mảnh nhỏ. Khoa học ý
thức hẳn hoi được việc ấy, tức có nghĩa là khi nghiên cứu về vật
lý, cần phải ý thức là đang nghiên cứu trong lãnh vực nào. Một
thí dụ điển hình là ngày nay, tất cả các nhà vật lý học đều hiểu
rằng khi họ đo đạt, thì chính sự đo đạt đã làm cho hiện thực bị
xáo trộn. Và rồi, bên ngoài những kết quả đo đạt, người ta không
còn biết hiện thực thật sự là gì. Vật lý lượng tử ngày nay được
xem như một khoa học về sự đo đạt, điều đó có nghĩa là cái gì sẽ
xảy ra nếu như tôi không đo gì cả ??? Không làm sao biết được.
A.G.
: Tất cả những phát minh ấy đều kéo theo những vấn đề đạo đức.
Chính đấy là những gì cần phải quan tâm, nếu không thì biết đâu
có thể đưa đến những hiểm nguy trầm trọng. Vậy ông nghĩ thế nào
?
J.P. Faure
: Tôi cũng nghĩ như Rabelais (5) « Khoa học không lương tâm chỉ
là sự phá sản của tâm linh ». Thực ra thì Phật giáo cũng đã nêu
lên cái khuôn phép đó, tức cần phải hội nhập với hiện thực,
nhưng không tìm cách bám víu vào sự thèm khát, cũng không tìm
cách xô bỏ những gì thù ghét. Nếu kịp thời loại bỏ được những
nọc độc ấy trong tâm thức, thì nhất định chúng ta sẽ có quyền sử
dụng tất cả mọi khám phá khoa học, nhưng đừng quên là phải nghĩ
đến nhân loại. Điểm hệ trọng chính là cách khơi động trong ta
tinh thần biết ơn đó đối với nhân loại. Nếu ta không nhìn thấy
sự biết ơn ấy và chỉ biết hành động duy nhất qua sự chi phối của
các thứ nọc độc, thì lúc đó tất cả mọi khám phá khoa học đều có
thể biến thành thảm trạng.
A.G.
: Có phải chúng ta đang trở lại vấn đề liên quan đến động cơ
thúc đẩy ?
J.P. Faure :
Đúng thế, nếu không chúng ta cũng có thể nghĩ rằng không thể nào
gạt sang một bên cái kích thước sâu xa đó, cái kích thước mang
tầm vóc của vũ trụ, có nghĩa là cái kích thước thực sự của mỗi
con người trong chúng ta.
A.G.
: Hãy trở về với cái kích thước của nhân loại, người ta có thể
khẳng định rằng khoa học chỉ đòi hỏi sự đầu tư trên lãnh vực cá
nhân, kém mãnh liệt hơn và kém rõ nét hơn so với Phật giáo ?
Chẳng hạn như trường hợp của một khảo cứu gia ?
J.P. Faure
: Hoàn toàn
không phải là cùng một thứ tiến trình giống như nhau. Một khảo
cứu gia cần phải chính xác và nghiêm túc. Người tu tập là người
phải tự loại bỏ được ba thứ nọc độc cho chính mình, và đấy mới
chính là một thứ gì thật là khó khăn. Bởi vì dù có hiểu biết đi
chăng nữa, nhưng đôi khi sức mạnh của nghiệp, tức là những xung
năng của nghiệp có thể lật đổ tất cả. Vì thế lắm khi phải cần
đến một quyết tâm mãnh liệt, lánh vào một nơi thật yên tĩnh để
nhìn thấy những xúc cảm của chính mình đang trỗi dậy, để ngăn
chận không cho chúng tung hoành. Do đó, một người tu tập trong
mục đích loại bỏ ba thứ nọc độc cần phải dấn thân một cách sâu
xa hơn.
A.G.
: Điều ấy cho thấy cần có một quyết tâm từ thượng nguồn ?
J.P. Faure : Tôi
thì nghĩ rằng đó là quyết tâm của quyết tâm. Khi hiểu được rằng
ba thứ nọc độc đang tung hoành xuyên qua nghiệp của chính mình,
thì người tu tập phải biết ngồi xuống, ngay cả trong lúc đang
sinh hoạt hằng ngày, để quan sát, để canh chừng không để bị lôi
cuốn bởi sự thèm khát hay ghét bỏ.
A.G.
: Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi hiểu thế nào là ba thứ nọc
độc ?
J.P. Faure
: Đó là vô minh, là sự u mê không hiểu rằng trong tận cùng của
mỗi con người trong chúng ta đang hiện hữu một thứ hạnh phúc
thật sâu xa không lệ huộc vào một thứ gì cả, sự hiện hữu ấy thật
tinh khiết. Nếu không nhìn thấy nó, ta sẽ đâm đầu vào mọi vật
thể bên ngoài với tất cả sự thèm khát, đâm đầu vào ảo giác và
nghĩ rằng chúng sẽ đem đến hạnh phúc. Và cuối cùng, càng lúc ta
lại càng phải chạy nhanh hơn, càng đòi hỏi sức cố gắng nhiều hơn,
chẳng qua vì ảo giác không hề mở mắt cho ta để nhìn thấy những
điều ấy. Tiếp theo lại có những cảnh huống mà ta mong muốn gạt
bỏ, nhưng lại không gạt bỏ được, và trong những cảnh huống ấy ta
lại dồn hết sức lực và sự hung hãn của ta vào đó.
Vậy ba thứ
nọc độc là vô minh, dục vọng và sự thù ghét. Loại bỏ những thứ
ấy là một công việc vô cùng sâu xa và tế nhị, tuy nhiên ta vẫn
có thể làm được việc ấy dù cho ta đang nghiên cứu về vật lý học,
hay là đang cắt một củ cà-rốt hoặc đang lái xe.
A.G.
: Tóm lại, người ta có thể bảo rằng có một sự trùng hợp, một sự
cộng hưởng nào đó giữa khoa học và Phật giáo ? Cả hai phía giống
như đã giải đáp lẫn cho nhau ?
J.P. Faure
: Hoàn toàn đúng như thế. Tôi tin chắc rằng, qua từng giây phút
một, và không có một giây phút nào lại không hiển hiện ra trong
tâm thức tôi một lời Phật dạy, và trong giây phút đó tôi lại đem
lời dạy ấy của Phật vùi xuống mãnh đất tu tập của tôi để nó lại
tiếp tục nuôi dưỡng thêm sự tu tập cho tôi.
A.G.
: Ông muốn nói đến lời dạy nào của Phật ?
J.P. Faure
: Tôi cũng chẳng biết nữa, giống như là trở thành một với một
người nào đó và tiếp tục duy trì sự nhất thể ấy, không rơi vào
những đắn đo ích kỷ, tiếp tục tiếp xúc với hiện thực. Theo tôi,
chính thể dạng đó đã giữ một vai trò thật hệ trọng trong sự
tương liên với tất cả những gì đang bao quanh tôi.
A.G.
: Vậy trên thực tế có thể nói rằng bất cứ một phát minh khoa học
nào cũng phải được biểu lộ một cách hài hoà với sự hiểu biết
toàn diện về vũ trụ này ? Có phải đấy là cách quay lại với khái
niệm về sự tương liên ?
J.P. Faure
: Đúng như thế. Và tôi cũng muốn nhấn mạnh là khoa học rất cần
thiết cho tôn giáo. Không thể có một ngành khoa học không hài
hoà với tôn giáo. Nhưng mặt khác tôi cũng nghĩ rằng tôn giáo cần
phải tự đặt lại vị trí cho mình. Một số người cho rằng nhờ trực
giác mà họ tin vào một chuyện gì đó. Nhưng phải hiểu rằng có
những thứ trực giác sai lầm, có những thứ dị đoan cần phải loại
bỏ và tôn giáo cần phải được giũ bụi cho sạch sẻ. Vì thế khoa
học cần phải đi kèm với sự lập luận của tôn giáo, đó là những gì
thật căn bản. Nhưng dù sao thì khoa học cũng không thể đi xa hơn
vai trò ấy. Điều đó có nghĩa là sinh và tử trong từng giây phút
một thì con người làm được, không cần đến bất cứ một thứ gì khác,
họ chỉ cần biểu lộ được bản thể của Phật.
A.G. :
Thưa ông
Jean-Pierre Faure, xin cám ơn ông thật nhiều.
Ghi chú :
1- « nhảy một
bước dài vào chỗ trống không » có ý nói là đưa ra những giả
thuyết bạo dạn không bị gò bó bởi những định kiến hay những hiểu
biết nhị nguyên sẵn có : năng lượng có thể biến thành vật chất
và ngược lại vật chất là một thể dạng của năng lượng, thơi gian
là chiều thứ tư của không gian. Thật ra cho đến nay chưa có một
nhà khoa học nào hay một triết gia nào hiểu được bản chất của
thời gian là gì. Người ta chỉ biết đồng hoá thời gian với một
chuyển động để « đo » hay « ghi nhận » thời gian thế thôi, tất
cả mọi loại đồng hồ mà con người sáng chế đều phải dựa vào một
chuyển động nào đó đề làm đơn vị. Ông Einstein ghép thời gian
vào không gian và cho đó là kích thước thứ tư của không gian.
2- Spinoza là
một triết gia vô thần thuộc thế kỷ XVII.
3- Hiện tượng
phân cắt hạch nhân tạo ra năng lượng cực mạnh, và đã được ứng
dụng để tạo ra điện lực cũng như bom hạch nhân.
4- Chế tạo bom
hạch nhân chẳng hạn.
5- Rabelais là
người Pháp, sinh năm 1493 (hay 1494 ?), là một nhân vật khá phức
tạp, có một cuộc sống thật phong phú, từng là bác sĩ y khoa, văn
sĩ, triết gia..., tu theo dòng Françiscain nhưng lại sống với
một phụ nữ, sinh được hai con. Sau đó đã đổi sang dòng
Bénédictin. Năm 1534 ông được Đức Giáo hoàng Clement VII xá tội.
Tháng giêng năm 1537, ông từ bỏ chức vụ cha xứ, nhưng bước sang
tháng tư năm đó thì ông qua đời. Ông là một người tôn thờ chủ
nghĩa nhân bản và câu phát biểu « Khoa học không lương tâm chỉ
là sự phá sản của tâm linh » là một trong những câu nói nổi
tiếng nhất của ông.
Bures-Sur-Yvette,
20.10.08
Source: thuvienhoasen.org |