PHẬT GIÁO TRỢ GIÚP CHO
Y KHOA
Hoàng Phong
dịch
Các
nhà tâm thần học và các bác sĩ ngày càng phải cầu cứu đến kỹ
thuật thiền định nòng cốt trong việc tu tập Phật giáo để
giúp các bệnh nhân vượt qua tình trạng lo âu, chịu đựng đau
đớn dễ dàng hơn và ngăn ngừa bệnh tái phát.
(Ảnh AFP)
«
Đau đớn tràn ngập khắp nơi, và đau đớn là một điều không
ai mong muốn » Đấy là một câu tóm lược vô cùng ngắn
gọn kết quả của một sự kết hợp giữa các ngành khoa học nhận
thức và Phật giáo. Dầu ở bất cứ nơi nào, từ Boston, Toronto,
Genève, Maastricht hay Chateauroux, người ta đã mang các
phương pháp thiền định ra để ứng dụng vào việc điều trị
trong ngành phân tâm học, và đồng thời cũng giúp cho các bác
sĩ chăm sóc các người bệnh nặng đang bị đau đớn hành hạ quá
sức từ thể xác đến tinh thần. Sự kết hợp được đem ra thực
hiện thành công tại nhiều quốc gia và được công nhận như một
phương pháp trị liệu chính thức. Trong khi đó thì nước Pháp
vẫn còn bị bỏ lại phía sau. Có phải nước Pháp, quê hương của
Descartes (1) vẫn còn cố cưỡng lại cao trào tâm linh mang
nguồn gốc Á châu ?
Không hoàn toàn đúng như thế, vì ông
Christophe André một bác sĩ tâm thần học của bệnh viện
Saint-Anne (2) Paris là người đã từng sử dụng thiền định để
giúp các bệnh nhân rối loạn thần kinh ngăn ngừa bệnh tái
phát. Ông giải thích như sau : «
Đó là cách tập cho bệnh nhân giữ tâm
thức an trú tại vị trí này và ngay trong thời điểm này. Lúc
đầu thì quả thật là khó, bởi vì ý nghĩ con người thường ngã
ra phía trước để rơi vào những viễn tượng tương lai, hoặc
bám vào sự suy xét để đánh giá bên ngoài hoặc quay nhìn vào
trong để quán tưởng nội tâm. Thật ra thì phải tập thế nào để
đừng bị lôi cuốn vào vòng lẩn quẩn của tư duy. Tuy khá rắc
rối nhưng đây lại là một kỹ thuật thật hữu hiệu, không những
giúp loại bỏ được các ý nghĩ tiêu cực mà lại còn giúp nhìn
thấy chúng để ngăn chận chúng
». Ông Claude Pernet là một bác sĩ tâm thần ở Chateauroux
(3) đã tu tập thiền học để tự tìm lấy kinh nghiệm riêng cho
mình trước khi mang ra áp dụng cho bệnh nhân : «
Tôi không muốn trình bày nhiều về
khía cạnh Phật giáo trong thiền định. Lý do chính là vì các
bệnh nhân của tôi chỉ đòi hỏi một điều duy nhất là giúp cho
họ một phương pháp tập luyện để chế ngự các tư duy tiêu cực
mà thôi ».
Dầu
sao đi nữa, đấy cũng không phải một phương pháp có thể học
hỏi ở nhà trường, và cũng không phải là những chuyện tùy
hứng do vài người hướng dẫn dư luận nêu lên. Những người
tiên phong khởi xướng phương pháp trị liệu bằng thiền định
đã bắt đầu từ gần ba mươi năm nay ở Hoa kỳ. Tuy nhiên ngày
nay, nhờ vào các tiến bộ của nhiếp ảnh tân tiến trong y khoa
thì người ta mới chứng minh được một cách rõ ràng là thiền
định có thể thay đổi được sự vận hành của não bộ. Còn hơn
thế nữa là khi quan sát tỉ mỉ não bộ của các nhà sư Tây tạng,
các khoa học gia nhận thấy họ có một khả năng thật đặc biệt.
Khu não bộ liên quan đến các xúc cảm, chẳng hạn như lòng từ
bi hoạt động hết sức mạnh, hơn hẳn những người bình thường.
Chính nhờ sự vận động tích cực của bác sĩ tâm thần Richard
Davidson mà viện đại học Madison của tiểu bang Wisconsin đã
thực hiện được rất nhiều kết quả khoa học về vấn đề này.
Ông
Matthieu Ricard trong một quyển sách xuất bản gần đây, ngày
6 tháng 9 năm 2009 (với tựa đề « Nghệ thuật Thiền định
») cho biết là « các công
cuộc nghiên cứu khoa học ngày càng gia tăng đã chứng minh
cho thấy việc thiền định thực hiện trong một thời gian ngắn
cũng có thể làm giảm xuống một cách đáng kể triệu chứng của
các bệnh xáo trộn tâm thần gọi là « strét » (hậu quả tai hại
của bệnh này đối với sức khoẻ đã được chứng minh rõ rệt), và
các bệnh lo âu, các bệnh thần kinh căng thẳng dễ nổi giận (chứng
bệnh này dễ đưa đến cái chết sau khi mổ tim) và sau hết còn
để ngăn ngừa các chứng bệnh suy nhược thần kinh tái phát đối
với những người đã từng bị bệnh trầm trọng ít nhất hai lần.
Chỉ cần thiền định mỗi ngày ba mươi phút trong tám tuần lễ
liền là có thể làm gia tăng thêm một cách đáng kể sức đề
kháng của cơ thể [...] và đồng thời làm giảm áp huyết cho
những bệnh nhân có áp huyết cao và làm mau khỏi chứng bệnh
vẩy nến (psoriasis) (4). Các công cuộc nghiên cứu về các thể
dạng tâm thần ảnh hưởng đến sức khoẻ trước đây vẫn thường
được xem là chuyện hoang tưởng, nhưng nay thì ngày càng được
xem như có tầm quan trọng hàng đầu trong lãnh vực nghiên cứu
khoa học »). Các kết
quả do thiền định mang lại đã được đăng tải trên các tạp chí
khoa học quan trọng có tầm cỡ quốc tế, chẳng hạn như các tờ
Journal of the National Cancer Institute và Journal of
Behavioral Medicine.
Tất cả các nhà tiên phong trong ngành
này đều là người Mỹ, trong số đó có ông Jon Kabat-Zinn là
người đáng nể nhất nhờ vào các công trình nghiên cứu và khả
năng phi thường của ông. Ông là giáo sư danh dự về y khoa
của đại học Massachusetts và đã tu tập thiền học từ khi còn
là sinh viên của Viện Đại học Công nghệ MIT dưới sự hướng
dẫn của giáo sư đoạt giải Nobel là ông Salvador Luria. Như
trường hợp của ông Matthieu Ricard, Jon Kabat-Zinn cũng là
một chuyên gia về sinh học tế bào, và hiện nay đang tiếp tục
nghiên cứu về sự vận hành của tâm thức. Năm 1979, sau mười
ba năm tu tập thiền định, ông quyết định đưa thiền học Phật
giáo vào việc trị liệu giúp làm giảm đau đớn cho những người
bệnh nặng. Dần dần sau đó ông đã phát minh ra một phương
pháp gọi là MBSR (Mindfulness-Based Stress Reduction – Giảm
rối loạn thần kinh bằng cách luyện tập Tỉnh thức), một
phương pháp luyện tập thiền định tỉnh thức kéo dài trong tám
tuần. Dự án của ông được bệnh viện tán thành ngay và sau này
ông đã thuật chuyện lại như sau : «
Chính là số bằng cấp của tôi đã dự
phần để thuyết phục những người mà tôi tiếp xúc. Ban đầu tôi
chỉ được cấp một chỗ làm việc nhỏ xíu và chính tôi phải lo
cả công việc thư ký. Các khu bệnh lý khác gởi đến cho tôi đủ
mọi bệnh nhân, những người bị bệnh ung thư, các bệnh về tim
mạch hoặc bị đau đớn quá mức sau khi mổ. Tôi thiết kế một
chương trình trị liệu kéo dài tám tuần và đã đạt thành công
thật bất ngờ. Vì thế tôi lại phải gánh thêm một trọng trách
nữa là phải đào tạo thêm các huấn luyện viên. Phần lớn các
huấn luyện viên này không phải là bác sĩ. Sự lựa chọn căn cứ
vào điều kiện tiên quyết là họ phải thật sự chịu khó tu tập
theo phương pháp thiền định của Phật giáo và điều kiện kế
tiếp là khả năng truyền đạt những phẩm tính thiết yếu cho
những người chưa hề biết đến Phật giáo là gì, nhưng đang
phải chịu thật nhiều đau đớn
». Cho đến nay đã có 18 000 người được trị liệu theo phương
pháp tám tuần trong gần 200 bệnh viện. Phương pháp thiền
định của Phật giáo đã giúp giảm 50% các trường hợp tái phát
của bệnh rối loạn thần kinh đối với những người đã từng lâm
bệnh này ít nhất hai lần trong tình trạng nguy kịch.
Tại đại học Genève, vị bác sĩ tâm thần
Lucio Bizzini phụ trách về bệnh rối loạn thần kinh đã sử
dụng phương pháp MBSR và một vài kỹ thuật khác như là MBCT
(Mindfulness Based Cognitive Thérapy – Khoa nhận thức trị
liệu bằng tu tập Tỉnh thức) do Bác sĩ Zindel Segal của bệnh
viện Toronto đưa ra. Bác sĩ Lucio Bizzini giải thích rằng :
« Phương pháp này đặc
biệt áp dụng cho các người bị bệnh thần kinh thuộc loại « tự
dày vò mình ». Đây là
phương pháp rất gay go, đòi hỏi ngay lúc khởi đầu phải thiền
định một giờ mỗi ngày, vì thế cần phải có một sự cố gắng cá
nhân quan trọng. Tuy nhiên sự cố gắng ấy cũng xứng đáng vì
kết quả cho thấy là người bệnh đạt được một thể dạng giống
như đứng ra « phía sau của thác nước ». Đây là
cách mượn lối diễn đạt của Bác sĩ Jon Kabat-Zinn, « đứng
ra phía sau thác nước » có nghĩa là đứng vào một vị
trí mà người bệnh có thể quan sát được tư duy của chính mình
mà không bị chúng tràn ngập. Chỉ có một điểm yếu mà mọi
người đều nhận thấy, nhất là Bác sĩ Jon Kabat-Zinn, là chỉ
có những bệnh nhân tích cực tham gia vào việc thiền định
MBSR thì mới đạt được kết quả tốt và bệnh không bị tái phát.
Tuy
nhiên tất cả các bác sĩ tự thiền định hằng ngày với một niềm
tin vững chắc không nhất thiết là những tín đồ Phật giáo.
Thật ra thì điều đó cũng không quan hệ gì cả. Bác sĩ tâm
thần có tiếng của Pháp là Chrstophe André đã từng phát biểu
như sau : « Đức Đạt-Lai Lạt-Ma, một nhà lãnh đạo tôn giáo
khá cởi mở đã từng khẳng định rằng nếu khoa học chứng minh
được là một khía cạnh nào đó của Phật giáo tỏ ra đáng nghi
ngờ, thì phải chấp nhận điều đó ». Là một người vô cùng say
mê khoa học, Ngài đã từng nói : « Khoa học và các lời
giáo huấn của Đức Phật đều cùng nói với chúng ta bằng một
ngôn ngữ duy nhất để xác định bản chất nhất thể của mọi hiện
tượng ».
Bên
dưới bài viết, tác giả Sophie Coignard còn đưa ra một vài
thư tịch bằng Pháp ngữ cho độc giả nào muốn tìm hiểu thêm và
đồng thời cũng liệt kê vài cách thiền định như : chú tâm vào
giác cảm, quan sát thân xác, dùng du-già để hòa mình với
hiện tại, chú tâm vào hơi thở, vừa thiền hành vừa theo dõi
tư duy và xúc cảm đang hiển hiện, ghi sổ các biến cố tạo ra
thích thú hay bất an, tập không để xúc cảm và định kiến ảnh
hưởng vào sự giao tiếp với người khác, tập tự thiền định lấy
một mình.
Ngoài ra bên cạnh bài viết còn có thêm
một phần đóng khung như sau :
Các khoa học
gia và phương pháp Thiền định
Muốn tìm được một chỗ tham dự thật khó,
vì được tham dự có nghĩa là được vinh dự ngồi chung với các
nhà khoa học lừng danh trong những buổi hội thảo tổ chức ở
Dharamsala, một thị trấn nhỏ thuộc vùng bắc Ấn, nơi cư trú
của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma và cũng là nơi đặt trụ sở tạm của
chính phủ lưu vong Tây tạng. Nhà tâm thần học Christophe
André, tác giả của nhiều quyển sách nổi tiếng về các chủ đề
như sự quý chuộng cái tôi và hạnh phúc, đã may mắn tìm ra
cách chen được vào nơi hội họp này, tổ chức vào tháng tư năm
2007. Chủ đề cuộc hội thảo là « Vũ trụ trong một hạt
nguyên tử : sự kết hợp giữa khoa học và tâm linh ».
Trong phòng họp, các khảo cứu gia hàng đầu trên thế giới
chẳng hạn như nhà vật lý thiên văn Wolf Singer, giám đốc
viện Max Plank ở Franfort, đang ngồi cạnh các nhà mạnh
thường quân đã góp tiền tài trợ tổ chức hội thảo. Trong số
các mạnh thường quân có tài tử Richard Gere. Hai mươi khối
óc từ khắp nơi trên thế giới đã đến đây tham dự vì họ muốn
trao đổi với nhau và cũng vì họ đã bị thu hút bởi sự cởi mở
của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma về khoa học, một điều mà ai cũng biết.
Mỗi sáng Ngài đều tham dự vào các cuộc trao đổi để phát biểu
và đặt nhiều câu hỏi. Ông Christophe André đã kể chuyện lại
như sau : « Không vướng
mắc vào một nghi thức màu mè nào cả, Đức Đạt-Lai Lạt-Ma lẹp
xẹp bước vào phòng họp, vái chào mọi người, nói vài câu khôi
hài. Nhưng thật ra thì Ngài đang ấp ủ một hoài bão thật minh
bạch : làm sao có thể gia tăng sự hiểu biết và mở rộng thêm
tâm trí cho các nhà sư để giúp cho Phật giáo thêm rạng ngời
».
Các buổi hội thảo trên đây đã được
Viện Tâm linh và Sự sống (Mind and Life Institute) phụ
trách. Viện Tâm linh và Sự sống được Đức Đạt-Lai Lạt-Ma và
nhiều khảo cứu gia khoa học đứng ra thành lập đã được hai
mươi năm nay trong mục đích đưa khoa học Tây phương tiếp cận
với những thành quả của Phật giáo. Trong số những người khởi
xướng có ông
Matthieu Ricard, từng là khảo cứu gia về sinh học
của viện Pasteur trước khi khám phá ra khoa thiền định của
Tây tạng và sau đó thì ông đã trở thành một nhà sư. Một số
các khoa học gia khác trong tổ chức Tâm Linh và Sự sống, tuy
không đi xa được như ông Matthieu Ricard, nhưng đều đã tu
tập thiền định từ lâu. Ông
Matthieu Ricard kể chuyện lại như sau : «
Trong văn phòng giám đốc, tôi đã
được gặp nhiều người chẳng hạn như Daniel Goleman, người đã
từng bỏ ra nhiều tháng ẩn cư, ông Richard Davidson thuộc đại
học Michigan thì ngồi thiền đều đặn vào lúc hừng đông, và
ông Jon Kabat-Zinn người đã phát minh ra các ứng dụng của kỹ
thuật thiền định. Tôi cũng đã gặp lại tại nơi này một đồng
nghiệp trước đây ở viện Pasteur là ông Ben Sapiro, cả hai
chúng tôi đã từng viết chung một bài khảo cứu khoa học dựa
vào các kết quả thực hiện được trong phòng thí nghiệm của
giáo sư François Jacob, vị đồng nghiệp này về sau đã trở
thành phó giám đốc của viện bào chế Merck và hiện nay thì đã
về hưu ». Ông
Matthieu Ricard kể tiếp bằng một vẻ khôi hài rằng đã
có hàng ngàn nhà sinh học quan tâm đến sự biến cải tâm linh,
và thật ra thì họ cũng không quan tâm nhiều hơn bao nhiêu so
với các đồng nghiệp khác của họ. Ông nói thêm : «
Tuy nhiên, những gì mà công cuộc
vận động do Viện Tâm linh và Sự sống chủ trương và đã góp
phần tạo ra một sự thu hút mạnh, chính là phẩm chất và sự
nghiêm chỉnh mang lại từ sự tiếp cận giữa khoa học và thiền
định. Thật quả là một sự kết hợp chưa từng có trong lịch sử...
»
Nguyên tác:
http://www.lepoint.fr/
Ghi
chú:
1-
Descartes (1596-1650) : là một triết gia, toán học gia, vật
lý học gia, được xem như một trong những người đã thiết lập
ra nền triết học hiện đại của Tây phương.
2-
Saint-Anne : là bệnh viện tâm thần lớn nhất và danh tiếng
nhất của thành phố Paris, từng quy tụ các bác sĩ tâm thần
nổi tiếng. Bệnh viện được thành lập từ năm 1651 nhưng sau đó
thì trở nên hoang phế, một bệnh viện cạnh đó là Bicêtre đưa
các các bệnh nhân tâm thần đến đây làm vườn và trồng trọt.
Đến năm 1788 thì được trùng tu trở lại. Năm 1863 Nã-phá-luân
đệ tam ra nghị định biến Saint-Anne thành một bệnh viên
chuyên về bệnh tâm thần.
3-
Chateauroux : là một thành phố thuộc miền trung nước Pháp.
4-
Bệnh vẩy nến : là một thứ bệnh ngoài da. Da nổi lên những
mảng đỏ và tróc ra thành những vẩy màu trắng.
Bures-Sur-Yvette,
15.12.09
Source:
thuvienhoasen.org