Phật gia ngữ

 Minh-Đức.

 

Cái khó khăn rất lớn cho người tìm hiểu giáo lý là "Phật gia ngữ". Từ ngữ của nhà phật thì phải có tu thì mới cảm nhận được cáí nghĩa của nó. Bởi vì cái nghĩa thì phải có định nghĩa của từ điển để hiểu chử nghĩa cho đúng nghĩa, nhưng nghĩa lại nằm ở thực tế của cuộc sống chứ không phải là cái xác mía không còn cái vị ngọt của nó. Từ ngử rất khô khan và rỗng tuếch. Học từ ngữ thì rất nhức đầu và còn khó hơn học sinh ngữ. Hiểu được nghĩa theo đúng như từ điển đã là khó khăn và nhọc mệt rồi. Hiểu thêm được luận lý của kinh lại còn khó hơn. Rồi cái mà kinh nói, lại phải được chỉ cho đúng với cái có thực trong đời sống , thì lại thêm một bước để hiểu cho đúng với chơn nghĩa của từ ngữ.

Thí dụ như chử "chúng sanh", là một chử của con nhà Phật. Chúng ta phải dựa vào từ điển để hiểu chử chúng sanh là gì ! Rồi ngay nơi từ "chúng sanh" cũng đẻ ra một ngôn luận để xác định cho cái nghiã của nó. Rồi cái nghĩa thực của nó thì lại chỉ cho cái thực tại là chúng sanh. Chúng sanh của từ ngữ và chúng sanh trong thực tại thì lại mới lạ chứ không phải là từ ngữ khô chết ,khô khan không có thực thể. Chử "từ-bi" và từ bi có mặt trong cuộc sống lại cũng mới lạ và sinh động không giống nhau. Đây là điều dễ hiểu vì từ "cái bàn" và sự hiện hửu của cái bàn là khác nhau. Chúng ta hiểu "cơm" là từ ngữ với cơm đang dọn trên bàn là khác nhau, một cái là danh-từ để gọi tên, còn một cái là thực thể đang hiện hửu. Cái đang hiện hửu thì mầu nhiệm, còn cái danh từ thỉ chỉ là danh từ. Chúng ta cứ gọi tên của thuốc và thức ăn mà không có thuốc và thức ăn thì chỉ là cái thế giới ảo của vô sắc giới. Đó là điều hiển nhiên mà ai cũng biết không cần phải dẫn chứng rườm rà. Bởi vì người đói cần cơm, người bệnh cần thuốc, chứ không phải cái danh từ cơm và thuốc có thể thay thế cho hiện thực được

Do đó trong kinh có câu chuyện của một vị thần Dựoc Xoa bảo vệ chánh pháp thưa với Phật rằng : " Tôi là Thần Dươc Xoa chuyên bảo vệ ngừoi tu theo Phật, tôi hiểu tất cả các sinh ngữ của chúng sanh từ cỏi trời cho đến địa ngục. Không có ngôn ngữ nào của cỏi nào trên vũ trụ này mà tôi không biết. NHưng với pháp âm của Phật tôi nghe rất rõ ràng, hiểu rất rỏ từ ngữ mà vẫn không hiểu được chơn nghĩa của lời Phật nói."

        Điều vị thần này nói chúng ta có thể hiểu được là rất đúng ! Tại sao đúng ? Bởi vì suy vào hoàn cảnh của chính bản thân của mình thì chúng ta thấy rằng, lời Phật được viết trong kinh chúng ta đọc bằng chuyển ngử của tiếng nước mình, dĩ nhiên chử nào mình cũng đọc được, nhưng cái nghĩa của nó thì càng đọc thì càng thấy mới lạ và khám phá ra rằng mình vẫn chưa hiểu hết được nghĩa. Thậm chí có khi còn không hiểu gì cả giống như vị thần dược xoa vừa nói. Nguyễn-Du tiên sinh nói rằng ông đã tụng kinh Kim cang đến ngàn lần mà vẫn chưa hiểu hết được nghĩa kinh. Bởi vì người học Phật Pháp thì càng học thì càng thấy mới lạ không hề nhàm chán và có thể dừng lại được , nên người học Phật là người bất thoái chuyển, không thể thục lùi bỏ xụi thành người hủ bại không còn tiến hóa, chỉ biết nhai lại cái bả mía của chính mình đã ăn. Một người nghệ sỹ chân chính cũng không bao giờ dừng lại nơi các tác phẩm của mình mà không thể sáng tác cái gì mới hơn cái xác chết của các tác phẩm đã đi qua. Cái gì dừng lại thì cái đó đã lão suy và sẽ chết theo đúng quy luật vô thường. Một cái như vậy thì không phải là Phật pháp mà là thế gian pháp. Phật pháp thì từ thế gian pháp mà giác ngộ nhưng không phá hoại thế gian pháp. Bởi vì thế gian pháp là qui luật nhân quả duyên sanh. Giác ngộ lý duyên sanh là giác ngộ Phật pháp. Không vuợt qua nhân quả mà giác ngộ vô thường là thường , nên giải thoát mà không phá hoại thế gian tướng. Nhục thân vẫn thuận theo quy luật sanh trụ dị diệt mà ngộ được vô sanh pháp nhẫn, nên phật pháp là pháp bất thoái chuyễn, vô ngại với sanh tử mà tùy thuận chúng sanh, thành tựu các đại nguyện mà người còn mê tâm không thể suy lường.

           Đức Phật khi còn là thái tử có xin vua cha cho xuất-gia, nhưng không được chấp nhận. Vua cha bảo rằng con muốn gì thì cha cũng cho, chỉ xin con đừng đi tu. Thái tử thưa rằng : Con muốn xin được : con và tất cả chúng sanh đều không già , không bệnh và không chết ! Vua cha than rằng : Thân ta cũng không tránh được già bệnh chết thì làm sao cho con và chúng sanh được.!!!....Vậy là thái tử phải bỏ trốn cha để xuất gia !...Rồi sao khi Thành Phật thì Ngài cũng già, khi đang ngồi thuyết pháp thì ngài cũng bị đau lưng cần phải nằm nghĩ nên gọi đệ tử đến thay Ngài nói pháp, và cuối cùng thì Ngài cũng nằm giửa hai cây Ta La mà chết giửa rừng. Nhưng không ai lại gọi là Phật chết mà gọi là Nhập Niết Bàn, bởi vì Phật thì không còn tái sanh vì không còn nghiệp. Giống như củi hết lửa tắt, củi không còn, mà lửa cũng không còn, nên gọi là nhập dịêt.  Ngừơi làm nhà không còn cất nhà nửa thì sẽ không có nhà nữa. Nhà được ví như Nghiệp của chúng sanh, Phật vào Niết Bàn thì không còn tạo nghiệp nửa , nên chẳng còn là người tạo nghiệp như chúng sanh mà đã an nghĩ, như Ông già về hưu không còn gây nghiệp như trẻ con là chúng sanh nửa. Vì vậy có vị thiền sư nói rằng : Phật như bà già còn chúng sanh như con gái còn nhỏ dại. Đó chẳng qua là ẫn ngữ ngụ ngôn cho cái thực tại không thể suy lường mà nói vậy thôi...

Trở lại vấn đề nhận thức chử nghĩa của nhà Phật, có người còn nói rằng kinh nhà Phật là kinh vô tự, nghĩa là không có chử. Thật ra đây là cách nói để cho người ta đừng chấp ngón tay chỉ mặt trăng là mặt trăng. Đừng chấp danh từ cái bánh là cái bánh. Đừng cho hình vẻ là hình thật. Bởi vậy mới nói là kinh không có chử. Đó là nói để mà ngụ ngôn chứ kinh không có chử thì không phải là kinh, nó là tờ giấy mà gọi là kinh thì vọng ngử nói dối. Mượn chử nghĩa đễ diễn bày ý pháp nên mới gọi là học giáo lý. Có những vị sanh ra đời không gặp sách vở nhà Phật, cũng không gặp thiện tri thức, vì vậy vị này không phải là Thanh văn đệ tử của Phật. Nhưng nhìn thấy các pháp biến hành như hoa rơi, lá rụng theo quy luật duyên sanh nên ngộ pháp duyên sanh mà giải thoát. Tâm vị này gọi là Duyên Giác Bích Chi Phật, hay còn gọi là Phật Độc Giác. Các vị này cũng giống như các vị A-la-hán là Thanh văn đệ tử của Phật không khác, vì chân lý không hề là cái độc quyền của riêng của một ai, dù là của Đức Thế Tôn là cha lành của tất cả chúng sanh. Nếu là người con Phật thì luôn là người học trò tỉnh thức, trên cầu Phật đạo dưới thì luôn có lòng từ bi với các loài chúng sanh. Trục loại tùy hình mà tùy thuận chúng sanh không bao giờ cầu giải thoát cho riêng mình mà bỏ quên mọi loài, bởi vì tất cả đều là bồ đề quyên thuộc. Trục loại tùy hình là tùy theo căn tánh của chúng sanh mà tùy thuận giáo hóa, như Ngài Bồ tát Quán thế Âm phải tùy theo chúng sanh mà hiện thân. Đối với loài quỹ đói thì phải hịên thân ông Tiêu le lưởi thật dài trông rất dử tợn để giáó hóa. Tượng Đức Quán Thế Âm có nhiều đầu nhiều mặt đủ loại hỷ, nộ, ái, ố....v.v... là tùy theo chúng sanh mà tùy thuận giáo hóa. Có loại chúng sanh phải bố thí cho vài roi thì phải cho vài roi, chứ không phải lúc nào cũng cho những ngọt ngào ve vuốt cái bản ngã hư hèn. Ngọt mật chết ruồi là trò của kẻ ác chứ không phải là ái ngữ của bồ tát. Tượng Phật Quán thê Âm bên Tây Tạng trông rất dử tợn, kẻ còn bản ngã hư hèn mà trông thấy pho tượng thì rất sợ hải, cũng như người chưa giác ngộ mà thấy cái chết thì rất sợ hải, nhưng người đã có học Phật và giác ngộ Phật pháp thì không hề sợ hải. Bởi vì hiểu rằng thân này với chơn tâm giác tánh của mình thì chỉ như cái bọt nước trên sóng nước của đại dưong....Tùy nghiệp mà sẽ sanh thân, tùy nguyện mà có thân, nếu đã tròn duyên dứt nghiệp thì hưu trí nghĩ ngơi niết bàn vậy thôi.

Tóm lại, Phật gia ngữ là từ ngữ của Phật giáo, mang tính chất giáo dục của đức Phật với chúng sanh, nếu học với tinh thần thực tâp để tu học thì muôn phần mới hiểu được một phần, còn tự cho là có cái tôi tài giỏi khôn ngoan thu lượm kiến thức từ kinh sách để làm kiến thức cho mình thì rơi vào tà kiến, nếu giỏi lắm thì cũng mắc cái nạn thế trí biện thông, là một cái nạn đánh mất phật pháp rất nguy hiểm. Một người chưa chứng A-la-hán thì vẫn còn vọng tưởng, nếu tin vọng tưởng của mình là chơn tâm thì rơi vào ngoại đạo đọa lạc. Lấy cái của kinh điển làm tài sản của mình thì cũng giống như người đếm bạc mướn cho Ngân hàng, cầm tiền để đếm mà không thể xài được, vì không phải của mình, nếu xài bậy thì phải đọa lạc như người ăn cắp bị ở tù , chứ không phải vượt qua nhân quả mà có đạo bồ đề , không cần tu chứng gì cũng được như Phật.  Của nhà Phật không thể ăn cắp mà được đâu. Nếu không phải của mình tu học hoặc đã được tiêu hóa Pháp thực thì không thể là Phập pháp. Phật gia ngữ chỉ là phương tiện như ngón tay chỉ mặt trăng chứ không phải là trăng.

 

Bài Tháng Mười Một. 2010


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com


You are visitor number since January 24, 2005