Phật
- Nhà Nhân Bản Vĩ Đại
Trong
Số Các Vị Thầy Của Các Tôn Giáo
Cập nhật: 15-05-2006 bởi
Bài viết của W.J.M Lokubandara,
TW News Feature, tháng 5, năm 2006
Nguyễn Chính dịch
Tân Delhi, Ấn độ - năm 2006 đánh dấu sinh
nhật lần thứ 2550 của Phật-Jayanti hay Phật
Gotama đản sanh. Trong lịch sử của các tôn giáo
thế giới, Phật Gotama, một bậc thầy tôn
giáo, chưa từng bao giờ nhận rằng ḿnh là
hiện thân, hay là sứ giả, hay là hậu duệ
của một đấng thiêng liêng nào cả.
Phật luôn nhấn mạnh rằng ḿnh là một con người
đă nhận biết được bản chất
của cuộc đời bằng chính sự hiểu
biết và đức hạnh của ḿnh đồng
thời chấm dứt được khổ đau, là
một hiện tượng rất phổ thông của con
người.
Chính v́ lư do này Ngài đă được coi như là
một “uttara manussa” hay là một vĩ nhân.Thật là môt
sự hân hạnh và sung sướng cho tôi khi có
được cơ hội quí báu để
được viết về Phật Gotama.
Ngày nay chúng ta sống trong một thế giới mà con
người phải đối diện với sự
thử thách để khám phá lấy con đường ḿnh
đi để sinh tồn, không những cho nhân loại
của ḿnh mà c̣n cho tất cả vạn loài chúng sinh khác, và
cho cả cái vũ trụ mà chúng ta đang cùng chia với
muôn loài.
Tưởng nhớ tới một vị thầy tôn giáo
vĩ đại như Phật, trong phạm vi ư nghĩa
này, chỉ trở thành có ư nghĩa nếu chúng ta rút tỉa
được những hiểu biết sâu sắc,
những bài học và những cảm hứng cho công
việc cốt yếu này. V́ thế, tôi xin được
dài ḍng một chút về lư do tại sao cuộc đời
và lời chỉ dạy của Phật lại có thể
giúp cho chúng ta khám phá ra cái khả năng của chính chúng ta
để t́m ra một giải pháp lâu dài cho những
vấn đề nan giải mà chúng ta đang phải
đối phó.
Chúng ta biết rằng Phật Gotama đản sanh vào
thế kỷ thứ 6 trước tây lịch tại
Madhaya-pradesha vùng Bharata nơi mà không khí sinh hoạt tôn giáo
rất là phức tạp và sinh hoạt xă hội th́ lại
rất căng thẳng.
Phật Gotama, một đương kim thái tử,
đă thấy rằng cuộc đời con người có
rất nhiều phiền năo, khổ đau và ngài
ước muốn t́m cho được một giải
pháp lâu dài. Bằng những kinh nghiệm của ḿnh là
một thái tử, với tất cả những xa hoa, ngài
biết rằng sự thỏa măn các giác quan đă không
thể là một đáp số. Ngược lại với
những lối tu theo phương pháp khổ hạnh
tự đày ải thân xác ḿnh, ngài biết rằng cũng
không thể nào là một giải pháp ổn thỏa
được. Cuối cùng, ngài t́m ra được
một giải pháp, sự chấm dứt những KHỔ
ĐAU bằng cách thực tập phương thức mà
ngày nay được gọi là Majjhima Patipada hay là Trung
Đạo.
Với nhận thức rơ ràng này, nên ngài được
biết đến như là một vị Phật hay nói
khác hơn là một người đă giác ngộ, đă
thấy rơ được Tứ diệu đế, Bốn
sự cao quư nhất, gồm có Khổ đau, Nguyên Nhân
của khổ đau, sự Chấm Dứt hết khổ
đau, và và Con Đường đưa đến sự
chấm dứt của Khổ Đau. Sau khi đă nhận
thức được rơ ràng các sự thật cao quư trên,
Phật muốn truyền đạt nhận thức này
đến mọi người. Phật ước mong
tất cả mọi người đều nhận
thức được điều này. Tất cả
những người có trí nào cũng đều có thể
thấu hiểu được thông điệp này của
Phật để đi theo con đường của
người. Phải khó khăn lắm Phật mới
thuyết phục được người nghe rằng
họ cũng có thể tự ḿnh thực hành lấy
được thộng điệp này. Một bên là
đức tin tôn giáo chủ trương rằng nhờ
bởi ơn gia hộ của một đấng thiêng liêng
cho nên sự cứu thoát ra khỏi biển khổ mới
có thể thành tựu được. C̣n một bên kia, th́
cho rằng là những kẽ nào chối bỏ sự
hiệu quả của luân lư,của các hành động
tốt và các hành động xấu, là những kẻ
phủ nhận khả năng của con người có
thể đạt được bất cứ một
địa vị tâm linh nào nhưng lại tin vào một
h́nh thức nào đó của chủ thuyết “quyết
định” (determinism), và lại có những người
c̣n nghi ngờ cả về bất cứ sự hiểu
biết về luân lư nào và nghi ngờ luôn cả những
quan điểm nào khác có hại cho sự giải phóng con
người. Phật đă phải đi rao truyền thông điệp
của ḿnh trong một hoàn cảnh tâm lư và tư
tưởng như thế.
Chủ trương chính yếu của Phật Gotama là
chứng tỏ rằng người chỉ là một
kẻ dẫn đường có thể đưa những
người theo Phật đạt tới “mục đích”
tối hậu. Phật phải tranh đấu để
giải phóng con người thoát ra khỏi sự ràng
buộc, nô lệ của những tư tưởng
của chính ḿnh. Trong tập Kinh nổi tiếng Kilima (trong
bộ Kinh Anguttara-nikaya thuộc Nghị luận tạng)
Đức Phật trong khi diễn thuyết trước
một nhóm người được gọi là Kalamas
đă nói rằng họ không nên chấp nhân sự quyết
đoán của bất cứ ai v́ mười lư do sau
đây: ta không nên chấp nhận bất cứ lời nói
nào v́ cho đó là một sự thật hiển nhiên, v́ cho
đó là một đức tin truyền thống, v́ cho
đó là một tin đồn, v́ cho đó là lời trong kinh
điển, v́ cho đó là hợp với lư lẽ, v́ cho
đó là đúng phương pháp, bằng cách suy gẫm
về cấu trúc của lời nói, v́ cho đó là hợp
với quan điểm của ḿnh, v́ cho đó là thuận
với ư ḿnh hoặc là người nói ra lời đó là
thầy của ḿnh.
Sau khi khuyên nhủ như trên Phật nói thêm, ta chỉ
nên phủ định bất cứ những điều
quyết đoán nào về điều tốt hoặc
xấu và đáng yêu, hoặc đáng ghét khi chúng ta tự
ḿnh thấy được rằng một lời quyết
đoán nào đó dục chúng ta hành xử một cách không
tốt, mất chánh niệm “Akusala”, chẳng hạn như
là thèm khát, căm thù và ảo vọng; và chúng ta chỉ
chấp nhận khi nào điều đó mang đến cho
chúng ta sự vắng bặt của ba nguồn gốc
của sự thiếu chánh niệm.
Trong câu nói này, Phật đă để cho những con
người khôn ngoan có được tự do chọn
lựa lấy quyết định của ḿnh dựa vào
những bằng chứng cụ thể. Chúng ta phải
nhớ rằng Phật bác bỏ những điều
người vừa nêu trên. Cái mà Phật muốn nhấn
mạnh là các điều này có thể đúng hoặc sai .
Bởi v́ không có ǵ bảo đảm là chúng luôn luôn đúng
theo tinh thần đạo lư cho nên Phật mới nhắc
nhở là ta phải tự ḿnh thực chứng điều
đó để ngỏ hầu đi đến quyết
định.
Trong giáo lư của Phật Gotama, con người đă
được dành cho một địa vị rất cao
quư nhờ vào khả năng của ḿnh.Tất nhiên, chúng ta
phảI hiểu quan điểm này một cách đứng
đắn. Giao phó một địa vị rất cao quư
cho con người không có nghĩa là con người là
tối cao, là quan trọng hơn cả, là con người
có quyền tự do lạm dụng đến các loài sinh
vật khác hầu thỏa măn những dục vọng,
được điều khiển bỡi ḷng tham không
đáy của ḿnh. Đạo Phật thành thực công
nhận rằng con người được trao
truyền cho một khả năng trí thức rộng
lớn. Nhưng điều này không có nghĩa là con
người có thể dùng quyền lực của ḿnh
để gây tai họa cho đồng loại hoặc cho
các các loài khác. Con người có thể là sinh vật cao
cấp nhưng không thể là sinh vật tối
thượng.
Bất cứ người nào mà không có sự phát
triễn tâm linh đều th́ không thể được
coi là cao quư. Chỉ có con người chân chính mới
được coi là cao quư. Trong cơi nhân sinh thí tất cả
mọi loài đều b́nh đẳng. Tuy nhiên, nhờ vào
khả năng của ḿnh nên con người đă được
đặt để cho một địa vị thuận
lợi hơn những loài sinh vật khác.
Theo lời dạy của Phật, th́ ngôi vị cao quư
này của con người mang hai ư nghĩa. Một là
để nhấn mạnh đến cái khả năng
tiềm tàng của con người có thể đạt
đến sự giải thoát tuyệt đối ra
khỏi những khổ đau của kiếp nhân sinh.
Với lư trí và ư chí th́ bất cứ ai cũng có thể
đạt được điều mà Phật đă
tự ḿnh chứng đắc. Trong khả năng này,
đạo Phật không phân biệt giữa người nam
hay người nữ hay giữa những người
ở các thứ bậc khác nhau trong xă hội.
Trong Tăng thân của đạo Phật có đến
bốn nhóm, là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu bà tắc,
Ưu bà di (nam tu sĩ, nữ tu sĩ, nữ đạo
hữu, nam đạo hữu). Là những người
đang đi theo con đường của đạo pháp,
những tu sĩ được coi như là có một
vị trí thuận lợi hơn là các đạo hữu
nếu dựa trên mục đích tối thượng. Tuy
nhiên thật ra không có một sự khác biệt nào giữa
các nhóm trên, nếu có ai đó thật ḷng muốn
đạt đến mục tiêu tối thượng.
Vai tṛ của Phật trong hội Sasana (tổ chức
tôn giáo của người) không phải là một vị
cứu tinh mà chỉ là của một người
hướng dẫn. Trong một công thức mà những
người theo đạo Phật thường dùng
hằng ngày để tôn vinh Phật th́ người
được mô tả là kẻ dẫn đường
đưa lối cho các vị Trời và người (Satth
devamanussariam). Điều này đă thực sự chứng
tỏ truyền thống của đạo Phật đă
định vị vai tṛ của Phật như thế nào.
Trong kinh Dhammapada, Phật đă nói những lời như sau;
Tumhehi kiccam tappam - Akkhataro Tathagata. Quí vị phải tự
ḿnh phấn đấu; Phật chỉ có mặt để
chỉ đường lối cho quư vị mà thôi. Nói
một cách khác là Phật chỉ tŕnh bày nẻo đạo;
nhưng đi theo con đường đạo hạnh là
trách nhiệm của đạo hữu. V́ thế cho nên
Phật hoặc bất cứ ai đều không có thể
tu dùm cho người khác. Vậy th́ thông điệp này có ư
trao truyềncho chúng ta, những con người sống
trong đầu thế kỷ thứ 21 điều ǵ? Thông
điệp của Phật rốt cục lại là
nhằm tạo nên một xă hội mà trong đó con
người đối xử với nhau bằng những
ư lành được hướng dẫn bởi ư thức
độ lượng, khoan dung, thân thiện và cảm
thông.
Trong từ ngữ của đạo Phật th́ ta
phảI sống cuộc đời vắng bặt obha, dosa
or moha. Hướng đi đạo lư mà Phật đă
truyền dạy được mở rộng ra cho
bất cứ ai và cho tất cả mọi người
bất kể phái tính hay địa vị xă hội hay
chủng tộc. Điều này có nghĩa là lời chỉ
dạy của Phật là một h́nh thức của sự
phổ độ và Phật là một vị Phổ
Hiền.
Lời chỉ dạy của Phật là để cho con
người tu theo bằng trí tuệ của chính ḿnh và
mục tiêu cuối cùng mà Phật chủ trương
sẽ được đạt đến bởi bất
cứ người nào có chí và có trí. Điều này cho
thấy là lời chỉ dạy của Phật là một
h́nh thức của ḷng nhân bản và Phật là một nhà
nhân bản, một nhà nhân bản thượng thặng, v́
Phật đă đạt được sự tinh khiết
hoàn toàn bằng cách chặt đứt những yếu
tố nhơ bẩn trong tâm tư.
Con đường mà Phật đă vạch ra là một
con đường đạo đức sau rốt sẽ
đưa con người đến việc gội
rửa nội tâm của ḿnh và do đó đạt
được sự thanh tịnh và ḥa hợp trong tâm
hồn, và điều này rốt cục lại sẽ là
nền tảng cho ḥa b́nh của thế giới nói chung.
Có lần Phật nói rằng phiền năo, nguồn
gốc của phiền năo, sự chấm dứt của
phiền năo, và con đường đưa đến
sự chấm dứt khổ đau nằm ngay trong sâu
thẳm của chính con người. Điều này không ǵ
khác hơn là nhắc nhỡ chúng ta về cái khả năng
tiềm tàng của chính ḿnh. Đây có lẽ là nguồn
cảm hứng sâu xa nhất mà chúng ta có thể rút ra
được từ những lời chỉ dạy cao
siêu của Phật.
Xin nguyện cho
ba viên ngọc quư (Tam Bảo) hỗ trợ cho tất
cả chúng ta.
[Nguồn gốc bản tin: Daily Mirror]
Nguyễn Chính dịch
W.J.M Lokubandara