PHẬT NÓI
KINH TỘI PHÚC BÁO ỨNG (1)
- Ngài Câu-Na-Bạt-Đa-La
dịch chữ Phạm ra chữ Hán.
- Thích-Tâm-Châu dịch
chữ Hán ra chữ Việt.
Source: Chùa Di Đà
Chính tôi được nghe: (2) một thời kia đức Phật
ở trong tinh-xá họ Thích, nước
Ca-Duy-La-Vệ (Kapilavastu), cùng với một nghìn
hai trăm năm mươi vị Tỳ-Khưu. (3)
Với bản-nguyện cúng trai
của các đàn-việt (4) trong tháng chín, nhất thời
trọn đủ, đức Phật từ trong
Thiền-thất bước ra, đi đến rặng
cây của ông Kỳ-đà trong khu vườn
của ông Cấp-Cô-Độc (5) nước Xá-Vệ (Sràvasti).
Khi Ngài tới giữa ranh-giới hai
nước, chỗ ấy có một cây rất
lớn, tên là Ni-Câu-Loại (Nyagrodha) (6). Cây ấy cao một trăm hai
mươi dậm (7). Khoảng
vuông, tròn của cành, lá cây ấy
che rợp chừng sáu mươi dậm. Quả
trên cây ấy chừng vài vạn hộc
và, những quả này ăn vào mùi
thơm, ngọt như mật. Nhất là những
quả chín rụng xuống, nhân dân nhặt
ăn, mọi bịnh đều khỏi và con mắt
tinh sáng.
Bấy giờ, đức Phật ngồi
nghỉ dưới gốc cây, các vị
Tỳ-Khưu đi hái quả ăn, Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Ta xem trời, đất,
muôn vật đều có túc-duyên
cả!". Ông A-Nan nghe đức Phật nói
thế, ông liền tới trước, làm lễ
Phật, quỳ xuống và bạch Phật rằng:
"Lạy Đức Thế-Tôn, Ngài vừa
nói về hai chữ "túc-duyên", vậy
những gì là túc-duyên? Nay đệ-tử
chúng con muốn được nghe về những
túc-duyên ấy, kính mong đức
Thế-Tôn diễn nói đầy đủ cho
chúng con được biết và để khai
hóa cho những người chưa được nghe
bao giờ".
Đức Phật bảo ông A-Nan:
"Quý hóa thay! Quý hóa thay! Các
ông muốn nghe những túc-duyên ấy,
các ông hãy nhất tâm, lắng nghe cho
kỹ!".
Đức Phật bảo ông A-Nan:
"Người ta làm phúc cũng ví như
cây này. Cây này bản nhiên giống
của nó chỉ có một hạt, dần
dần lớn lên, hái quả vô hạn.
Hiện nay những người hào-quý như
Quốc-vương, Trưởng-giả, là từ
trong chỗ chăm lễ Phật, thừa-sự
Tam-Bảo (8) trước đây
mà được. Hiện nay những người
đại-phú, của cải vô hạn, là
từ trong chỗ chăm làm hạnh bố-thí
trước đây mà được. Hiện nay
những người trường thọ, không có
tật bệnh, thân thể cường tráng,
là từ trong chỗ chăm làm hạnh
trì-giới trước đây mà
được. Hiện nay những người đoan
chính, nhan sắc tốt đẹp, dáng-dấp
sáng-sủa đệ nhất, thân thể
mềm-mại, hơi miệng thơm sạch, người
ta trông thấy tư-dung, không ai là không
hoan-hỷ, trông không chán mắt, là
từ trong chỗ chăm làm hạnh nhẫn-nhục
trước đây mà được. Hiện nay
những người tu tập, không hay trễ
biếng, ham làm phúc-đức, là từ
trong chỗ chăm làm hạnh tinh-tiến
trước đây mà được. Hiện nay
những người an-nhàn, thư-thái, lời
nói, việc làm xét thực, là từ
trong chỗ chăm làm hạnh thiền-định
trước đây mà được. Hiện nay
những người tài năng minh-mẫn, hiểu
thấu pháp sâu xa, tán-thán nghĩa
nhiệm-mầu, khai-ngộ người tối tăm;
người ta nghe thấy lời nói của họ,
không ai là không thăm hỏi, tín-thụ,
tuyên-truyền và tin dùng như
trân-bảo, là từ trong chỗ chăm tu hạnh
trí-tuệ mà được. Hiện nay những
người giọng tiếng trong trẻo, là từ
trong chỗ ca-vịnh công-đức Tam-Bảo
trước đây mà được. Hiện nay
những người trong sạch không có tật
bệnh, là từ trong chỗ từ-tâm
trước đây mà được..."
Khi ấy, ông A-Nan bạch Phật
rằng: "Lạy đức Thế-Tôn, thế
nào gọi là từ-tâm?"
Đức Phật bảo ông A-Nan:
"Một là có tâm hiền lành
đối với chúng-sinh như mẹ yêu con. Hai
là, có tâm thương xót thế gian,
muốn cho họ có ý-niệm về đạo
giải-thoát. Ba là, tâm thường
hoan-hỷ. Bốn là, tâm thường
thường hộ-niệm hết thảy, để cho
hết thảy không bị vi-phạm. Thế là
từ-tâm."
Đức Phật bảo ông A-Nan:
"Những người được thân hình
to lớn, là trước đây có lòng
cung kính người. Những người bị
thân hình nhỏ bé, là trước
đây hay khinh-mạn người. Những
người bị thân hình xấu xa là
trước đây hay giận tức với
người. Những người sinh ra không biết
gì, là trước đây không có
học-vấn. Những người ngu-đặc, là
trước đây không hay dạy bảo
người. Những người câm-ngọng, là
trước đây hay báng-hủy người. Những
người mù-lòa, là trước
đây không hay nghe theo kinh-pháp. Những
người làm tôi tớ, là trước
đây còn mang nợ chưa trả. Những
người ty-tiện là trước đây
không lễ kính Tam-Bảo. Những người
đen xấu, là trước đây làm che
ánh-sáng của Phật. Những người sinh
trong cõi nước khỏa-thân, là
trước đây hay mặc áo mỏng,
xốc-xếch, đường-đột vào trong
chùa, tháp, tinh-xá. Những người sinh
trong nước có phong-tục bó chân như móng
ngựa, là trước đây hay đi giầy,
guốc vào trước Phật. Những người
sinh trong nước có phong-tục xuyên ngực, là
trước đây tuy bố-thí làm phúc
nhưng còn có tâm hối-tiếc. Những
sinh vật sinh trong loài chương, loài
hươu, loài nghê, loài hoẵng... là
trước đây hay sợ hãi người.
Những sinh-vật sinh-đọa trong loài rồng,
là trước đây hay đùa cợt
người. Những người thân thể mọc
những ung-thư ác-độc, điều trị
khó khỏi, là trước đây hay
đánh đập chúng sinh. Những người
mà người ta trông thấy hoan-hỷ, là
đời trước trông thấy người ta
có lòng hoan-hỷ. Những người mà
người ta trông thấy không hoan-hỷ, là
đời trước trông thấy người ta
không có lòng hoan-hỷ. Những người
bị Huyện-quan gông xiềng thân thể, giam
giữ trong lao-ngục, là đời trước
làm người hay nhốt, trói chúng-sinh, khiến
chúng-sinh không được theo ý tự-do
của mình. Những người bị sứt
môi, là đời trước hay câu cá,
làm cá sứt môi. Và, những
người nghe thấy những lời nói tốt
lành, tâm không muốn nghe, lại trong lời
nói đó, phải nói ra trái, làm
loạn tâm những người ham nghe và
tín-thụ kinh-pháp, người ấy sau phải
đọa-sinh vào trong loài chó vểnh
tai".
Đức Phật bảo ông A-Nan:
"Trên đời này có những
người ngu-si, nghe những lời thuyết-pháp,
tâm không chịu ghi nhận, sau sẽ phải
đọa-sinh vào trong loài lừa, ngựa tai
dài. Những người sẻn-so, tham ăn một
mình, sau phải đọa sinh vào trong loài
quỷ đói và nếu sau sinh làm
người, bị nghèo cùng đói thiếu,
áo không che kín mình, ăn không
đủ cung miệng. Những người, mình
tự ăn thức ngon, cho người thức ăn
dở, sau sẽ đọa-sinh vào trong loài
lợn, chó, bọ-hung. Những ai hay cướp
đoạt súc-vật người, sau sẽ phải
đọa-sinh vào trong loài dê, bị lột
sống da dẻ, đền trả nợ trước.
Những ai hay sát sinh, sau sẽ đọa-sinh làm
con trùng phù-du trên mặt nước,
sáng sinh chiều chết. Những ai hay ăn trộm
tài-vật của người, sau phải
đọa-sinh vào trong hàng tôi tớ,
trâu, ngựa, đền trả nợ trước.
Những người hay gian-dâm vợ, hay con gái người,
khi chết vào địa-ngục, con trai phải
ôm cột đồng, con gái phải nằm
giường sắt, đến khi ở trong
địa-ngục ra, thường sinh vào nơi
hạ-tiện và phải đọa-sinh vào trong
loài gà, vịt. Những người hay nói
dối, tuyên-truyền những việc không hay
của người, khi chết vào trong
địa-ngục, phải bị nước đồng
nóng rót vào miệng, kéo căng
lưỡi ra, bắt trâu cầy lên trên, đến
khi ra, phải đọa-sinh vào trong loài chim
cú, vọ, người ta nghe thấy tiếng kêu,
không ai là không kinh sợ và đều
nói là biến-quái, nguyền-rủa cho chết.
Những người hay uống rượu say, phạm
vào ba mươi sáu lỗi (9), chết đi
phải đọa vào ngục Phí-Thỉ
(nước phân sôi), khi ra, sinh đọa vào
trong loài đười-ươi; sau trở lại
làm người, ngu-si, sống đời sống
không biết chi cả, vợ chồng không
hòa thuận nhau, hay cãi-cọ nhau, hay đánh
đuổi nhau (ly-dị) và sau khi chết đi
lại đọa-sinh vào trong loài chim cưu, chim
cáp. Những người hay tham-lam sức lực
của người khác, sau phải đọa-sinh
vào trong loài voi."
Đức Phật bảo ông A-Nan:
"Những người đứng đầu Châu,
Quận, thụ tước-lộc quan-trường,
hoặc bắt những người vô tội,
hoặc lấn-lút của nhân-dân, biên
tên lùng bắt, trăng-trói, dùng doi
gậy đánh đập, cưỡng-bức
người dân đem đi, và tố cáo
những chuyện không đâu, rồi đem
gông-xiềng, giam giữ, khiến người dân
không được khoan-khoái, thảnh-thơi,
những viên-chức đó sau phải đọa
vào địa-ngục, thân bị đau khổ
vài nghìn ức năm, hết tội
được ra, lại phải đọa vào trong
loài thủy-ngưu (trâu nước), xuyên
thủng lỗ mũi, kéo thuyền, kéo xe,
doi-gậy đánh-đập, đền trả
tội trước".
Đức Phật bảo ông A-Nan:
"Những người không được trong
sạch, là từ trong kiếp lợn mà tới.
Những người sẻn-so, tham-lam không được
trong sạch, ngay thẳng, là từ trong kiếp
chó mà tới. Những người
cương-cường, tự-dụng tàn-bạo,
là từ trong kiếp dê mà tới. Những
người có những hơi hôi-tanh, là
từ trong kiếp cá, kiếp ba-ba mà tới.
Những người hung-ác, mang tâm
độc-địa khó hiểu, là từ trong
kiếp trăn, kiếp rắn mà tới. Những
người ưa ăn thức ngon, hay sát hại
chúng-sinh, không có từ-tâm, là từ
trong kiếp chó sói, hùm beo, con chồn, chim
ưng mà tới. Những người bị chết
non, bào-thai bị thương-trụy, đời
sống không được bao nhiêu, mệnh đà
mất sớm, phải sa-đọa vào ba
đường (10) vài nghìn muôn kiếp,
đức Phật dạy rằng: những hạng
người ấy đời trước làm
người hay đi săn bắn, đốt cháy
núi rừng, tìm tổ, đập trứng,
chăng lưới bắt cá, sát hại hết
thảy chúng-sinh.
"Ôi! Ham muốn da thịt
chúng-sinh, để mình ăn uống, mà
thường phải chịu báo đoản-mệnh,
đời này đời khác, kiếp này,
kiếp khác chịu báo không có kỳ
hẹn thoát khỏi, vậy nên phải cẩn
thận, nên phải cẩn thận! Thực đau
xót không thể nói sao xiết
được!"
Đức Phật lại bảo ông
A-Nan: "Phàm làm công-đức gì,
đều ứng vào nơi mình. Thắp
hương, họp phúc, tụng kinh, hành
đạo không nên mướn người;
chú-nguyện hư-dối, như mướn
người ăn hộ, mình có no đâu
mà không khỏi đói? Thắp hương
mới mẻ, trong sạch, tưởng như
tâm-hương, thu-nghiếp hết thảy
tưởng vào nơi nhất tâm, không
còn tạp-tưởng, cùng thắp đèn
sáng mãi không lúc nào tắt, sẽ
chứng được ba đạt-trí (11), không trở ngại gì. Thắp
hương, cúng trai, đọc kinh, cúng dàng
đồ vật là pháp thường làm,
lại bố-thí nữa, sẽ được
phúc, chư Thiên tiếp đãi, muôn
ác đều lui, mọi ma trừ sạch, không
dám đương đầu. Những người
biếng-nhác, trong khi được sự yên ổn
hòa đôi không có tâm tinh-tiến,
một mai đau yếu, hay có điều gì
không thuận-lợi, tốt lành, khi ấy
mới muốn thắp hương cầu khẩn và
cho đó là làm phúc, như thế
thời chư Thiên chưa giáng, mọi ma
đã tới tranh nhau xúc-nhiễu, làm
mọi sự biến đổi, quái gở. Bởi
những lẽ ấy, mọi người thường
nên tinh-tiến! Tội, phúc theo mình, như
bóng theo hình. Gieo trồng cội phúc, cũng
như cây Ni-Câu-Loại này, vốn chỉ
một hạt mà hái quả vô hạn.
Bố-thí một phần, được gấp
muôn phần. Đấy là lời Ta nói
thực, không chút dối-trá!"
Bấy giờ, đức Phật nói
bài tụng rằng:
Hiền-giả hay bố-thí,
Thiên-thần tự
giúp-đỡ;
Cho một được gấp muôn,
Yên vui và sống lâu
Ngày nay bố-thí nhiều,
Phúc ấy không thể
lường;
Đều sẽ thành
Phật-đạo,
Độ thoát khắp mười
phương.
Nhân-duyên hội-hợp chỉ
nên thân:
Năm giới (12), mười thiện
(13), trừ bỏ giận.
Không mong người hứa, tự
làm thân,
Vinh-lạc thế-gian, như mây
nổi.
Vòng-quanh năm đường như
bánh xe,
Kể gì thọ-mệnh, tiếc
vàng bạc.
Trời đất còn hoại, lọ
thân mình,
Vâng giữ giới kinh, là rất
quý.
Đừng tham tài sắc..., nhục,
lầm người
Chúng-sinh ba cõi (14) như đàn dê;
Đi, lại năm đường
thân tan-tác,
Mệnh nhanh, nước chảy có
thường đâu.
Làm ác rất chóng, chịu
tội lâu,
Đọa vào địa-ngục
vạc dầu nóng.
Ngăn lòng, bền ý, xa
tai-vạ,
... Phạm tội vào trong, khổ
khó chịu!
Đức Phật bảo ông A-Nan:
"Người đời không có
trí-tuệ, nên phải sinh-tử luân-hồi.
Vì nhục-nhãn (mắt thịt) nên không
biết tội, phúc. Nay Ta dùng
đạo-nhãn (mắt đạo) trông thấy
sự báo-ứng của tội và phúc
từ vô số kiếp cho tới thân này, rõ
như xem hạt ngọc lưu-ly trong bàn tay, sáng-suốt
tất cả trong, ngoài, không còn chút
ý-tưởng ngờ-vực nào nữa!"
Đến đây, ông A-Nan liền
chỉnh y-phục, tới trước đức Phật,
làm lễ Phật mà bạch Phật rằng:
"Lạy đức Thế-Tôn, đức
Thế-Tôn đã diễn nói cho chúng con
nghe kinh này, nhưng kinh này nên gọi là kinh
gì?".
Đức Phật bảo ông A-Nan:
"Kinh này gọi là kinh Luân-Chuyển Ngũ
Đạo và cũng gọi là kinh
Tội-Phúc Báo-Ứng. Nếu có
thiện-nam, thiện-nữ nào đọc tụng,
tuyên-truyền kinh này được
công-đức vô-lượng, sau này sẽ
được trông thấy, được
lễ-bái, phụng-sự, cúng-dàng hàng
nghìn đức Phật trong đời
Hiền-kiếp (15) không bị sa vào tám
nạn (16), ba đường và sẽ chứng
được Giới, Định, Tuệ".
Đức Phật nói kinh này
rồi, năm trăm vị Tỳ-Khưu,
lậu-nghiệp (phiền-não) sạch hết, tâm
ý mở tỏ; bảy trăm vị Tỳ-Khưu-Ni,
được đạo Tu-Đà-Hàm (17);
tám trăm vị La-Hán (18), chứng
được đạo Bồ-Tát (19); chư
Thiên, Long-thần, cùng một vạn hai nghìn
người Thanh-tín-sĩ (thiện-nam), sáu
nghìn người Thanh tín-nữ (thiện-nữ)
tụ-tập dưới gốc cây khi ấy,
đều được bước vào
dấu-tích của Đạo và các vị Tỳ-Khưu,
Tỳ-Khưu-Ni, Ưu-bà-Tắc (20), Ưu-bà-Di
(21) đều chứng
được đạo-quả A-Na-Hàm. (22)
Thiên, Long, Quỷ-Thần, thế-gian
nhân-dân nghe đức Phật thuyết pháp
mầu-nhiệm này, ai ai cũng đều nói
rằng: "Quý-hóa lắm!". Và, tức
thời khởi thân làm lễ Phật, nhiễu Phật
ba vòng, vui mừng lui ra.
Chú-thích:
(1) Phật (Buddha) là danh
từ chung, chỉ cho những ai có khả năng
giác-ngộ hoàn-toàn về ba
phương-diện: tự-giác, giác-tha và giác-hạnh
viên-mãn. Vị giác-ngộ hiện-tại
là đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni (Sàkya
Muni). Tục-danh là Sĩ-Đạt-Ta (Siddharthà).
Ngài là con vua Tịnh-Phạn (Suddodana) con
Hoàng-Hậu Ma-Gia (Maya), nước Ca-Duy-La-Vệ
(Kapilavastu) thuộc Trung-Ấn-Độ. Ngài sinh
sáng sớm ngày rằm tháng tư
âm-lịch, cách đây (1957) 2581 năm
Ngài đi xuất-gia năm 29 tuổi; 35 tuổi
thành đạo; thuyết pháp 45 năm,
đến năm 80 tuổi Ngài nhập
Niết-bàn tại rừng Sa-La song-thụ. Trong kinh
có hai chữ "Phật nói", là chỉ
vào đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni nói ra.
Như kinh này là do chính đức Phật
Thích-Ca Mưu-Ni, hợp cơ-duyên mà nói
ra. Kinh này là một cuốn kinh số 747 trong
Đại-Tạng-kinh. Kinh này gọi đủ
là: Kinh Luân-Chuyển Ngũ Đạo, Tội
Phúc Báo Ứng. Nay rút đề ngắn
lại là "Tội phúc báo-ứng".
Kinh này đức Phật nói rõ
nguyên-nhân làm tội, làm phúc
(làm ác, làm thiện) của chúng-sinh
và chúng-sinh sẽ phải chịu hay
được hưởng quả báo xấu,
tốt, thích ứng với nguyên-nhân ấy
mà đi, lại, lên, xuống loanh quanh (luân-chuyển)
trong năm đường (ngũ đạo):
Địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh,
người và trời.
(2) Chính tôi
được nghe: Sau khi đức Phật nhập
Niết-bàn ít lâu, các vị Đại
Đức Tăng nhóm họp, tụng lại lời
Phật dạy. Ngài A-Nan được
đề-cử tụng Kinh-tạng, nên đầu mỗi
kinh đều có ghi câu "Chính tôi
được nghe", là lời tự-xưng
của Ngài A-Nan, để chứng-tín.
(3) Tỳ-Khưu (Bhiksu):
Tàu dịch là "Khất-sĩ". Nghĩa
là người tu-hành, trên cầu đạo
của chư Phật để tu-tỉnh, dưới
đi xin ăn nơi quần-chúng để tiện
hóa-độ. Tỳ-Khưu có hai phái.
Phái nam gọi là Tỳ-Khưu giữ 250
giới. Phái nữ gọi là Tỳ-Khưu-Ni
(Bhiksuni), giữ 350 giới và 8 điều
cung-kính chư Tăng.
(4) Đàn-việt
(Dànapati): Tức là thí-chủ. Người
thí-chủ có tâm chân-thực và
bình-đẳng bố-thí, nhờ
công-đức ấy sẽ vượt qua được
bể khổ bần cùng.
(5) Cây của ông
Kỳ-Đà và vườn của ông
Cấp-Cô-Độc: Ông Cấp-Cô-Độc
(Anàtapindika) chính tên là Tu-Đạt-Đa
(Sudatta), người nước Xá-Vệ (Sràvasti),
vì ông hay cứu giúp những người
cô-độc, nên người đương
thời tặng cho ông cái tên hiệu ấy.
Khi ông gặp Phật và nghe pháp ở
nước Ma-Yết-Đà, ông liền thỉnh
Phật về nước nhà thuyết pháp,
độ sinh. Để có nơi đức Phật
và chúng Tăng cư-trụ, ông phải mua
đất của Thái-Tử Kỳ-Đà (Jeta)
với một giá rất đắt là phải
lát vàng kín mặt đất. Ông
Cấp-Cô-Độc phát tâm làm y theo
lời của ông Kỳ-Đà nói, chở
vàng lát kín đất và sau đó
cất tinh-xá cúng-dàng. Còn các cây
do ông Kỳ-Đà phát tâm cúng.
Vì vậy, khi đức Phật tới nơi này,
Ngài bảo ông A-Nan: "Đất vườn
này do ông Cấp-Cô-Độc mua cúng,
rừng cây này do ông Kỳ-Đà
cúng. Hai người đồng tâm
hưng-sùng công-đức, từ nay về sau
nên gọi chốn này là cây của
ông Kỳ-Đà và vườn của ông
Cấp-Cô-Độc.
(6) Ni-Câu-Loại
(Nyagrodha): Tàu dịch là Vô-tiết.
(7) Dậm: Mỗi dậm
dài 576 thước Tây.
(8) Tam-Bảo: Ba ngôi
báu: Phật, Pháp, Tăng.
(9) Uống rượu
phạm 36 lỗi: Kinh Thiện Ác Sở Khởi
nói: Người uống rượu say, phạm
vào 36 lỗi: 1) Của cải tan mất. 2) Hiện nhiều
tật-bệnh. 3) Hay sinh đấu tranh. 4) Tăng thêm
sự sát-hại. 5) Tăng thêm sự giận
bực. 6) Nhiều sự không được vừa
ý. 7) Trí-tuệ kém dần. 8)
Phúc-đức không thêm được. 9)
Phúc-đức dần bớt đi. 10) Hay
tiết-lộ sự bí-mật. 11) Sự-nghiệp
không thành. 12) Tăng thêm lo buồn. 13) Mọi
căn (giác quan) tối tăm. 14) Hủy-nhục
cả cha mẹ. 15) Không kính bậc Sa-Môn. 16)
Không tin đạo Bà-La-Môn. 17) Không
kính Phật. 18) Không kính Phật-pháp và
Tăng. 19) Hay thân với bạn ác. 20) Hay xa
bạn lành. 21) Bỏ cả ăn uống. 22) Thân
hình không kín-đáo. 23) Dâm dục
kích-thích nhiều. 24) Nhiều người
không ưa. 25) Nói cười lảm-nhảm. 26)
Cha mẹ không vui. 27) Họ-hàng ghét bỏ.
28) Cố giữ những pháp phi-pháp. 29) Lảng
xa chính-pháp. 30) Không kính bậc
hiền-thiện. 31) Vi-phạm lỗi-lầm. 32) Lảng
xa đạo Niết-bàn. 33) Càng thêm
điên cuồng. 34) Thân tâm tán loạn.
35) Buông-lung làm ác. 36) Thân tan mệnh
mất, sa-đọa vào
đại-địa-ngục, chịu khổ sở
vô cùng.
(10) Ba đạt-trí: 1)
Thiên-nhãn. 2) Túc-mệnh. 3) Lậu-tận.
Ở ngôi Phật thời gọi là
"Đạt". Ở ngôi La-Hán thời
gọi là "Minh".
(11) Năm giới: 1) Không
sát sinh. 2) Không trộm cắp. 3) Không
tà-dâm. 4) Không nói dối. 5) Không
uống rượu.
(12) Mười điều
thiện: Không sát sinh. Không trộm cắp.
Không tà-dâm. Không nói dối. Không
nói lưỡi đôi chiều. Không nói
ác-khẩu. Không nói thêu-dệt. Không
tham muốn. Không giận-bực. Không si-mê.
(13) Ba cõi: Cõi
Dục, cõi Sắc và cõi Vô-sắc.
(14) Hiền-kiếp:
(Bhadrakalpa): Phật-học chia thời gian của kiếp
Trụ làm 3: quá khứ, hiện tại và
vị-lai. Kiếp Trụ của quá khứ gọi
là Trang-Nghiêm-kiếp. Kiếp Trụ của
vị lai gọi là Tinh-Tú-kiếp. Và,
kiếp Trụ của hiện tại gọi là
Hiền-kiếp. Được gọi là
Hiền-kiếp vì trong kiếp này có một
nghìn đức Phật xuất thế độ sinh.
(15) Tám-nạn:
Đây là nói tám chỗ chướng
ngại cho sự thấy Phật, nghe pháp: 1) Nơi
địa-ngục. 2) Nơi ngã-quỷ. 3) Nơi súc-sinh.
4) Nơi châu Uất-Đan-Việt thuộc
phương Bắc núi Tu-Di (cũng gọi là
Bắc-Câu-Lư-Châu) có nhiều sự vui
vẻ. 5) Nơi cõi trời Trường-thọ
(tức là cõi Sắc, cõi Vô-Sắc)
hưởng nhiều sự sống lâu, an-ổn. 6)
Những người mù, lòa, câm, ngọng. 7)
Những người biện-thông về trí-tuệ
thế-gian. 8) Những người sinh trước hay sinh
sau thời Phật ra đời.
(16) Tu-Đà-Hoàn
(Srotàpanna-phala): Quả thứ nhất trong bốn
quả của bậc Thanh-Văn. Tàu dịch là:
Nhập lưu, Nghịch lưu, Dự lưu. Đều
có nghĩa là vị tu-hành đã đi
ngược dòng sinh tử, phàm phu, mà
đã được dự vào dòng
Thánh-đạo.
(17) La-Hán (Arahat): Quả
vị thứ tư trong bốn quả của bậc
Thanh-Văn. A-La-Hán Tàu dịch là Bất-sinh
(cũng có chỗ gọi là Vô-sinh). Nghĩa
là quả-báo trong một đời diệt
tận, được vào Niết-bàn mãi
mãi, không phải tái sinh trong ba cõi.
(18) Bồ-Tát (Bodhisattva):
Gọi đủ là
Bồ-đề-tát-đỏa. Tàu dịch
là Giác-hữu-tình. Nghĩa là những
vị phát đại tâm, vì chúng-sinh
cầu đạo vô-thượng và luôn
luôn giác-ngộ chúng-sinh thành
vô-thượng-đạo.
(19) Ưu-Bà-Tắc
(Upàsaka): Có chỗ phiên âm là
Ô-Ba-Sách-Ca. Tàu dịch là
Thanh-tín-sĩ hay là Cận-sự-nam, nhưng
đều có nghĩa là người đàn
ông đã quy y Tam-Bảo thụ-trì năm
giới, luôn luôn thân cận và phụng
sự Tam-Bảo.
(20) Ưu-Bà-Di
(Upàsikà): Có chỗ phiên-âm là
Ô-Ba-Tư-Ca, Tàu dịch là
Thanh-tín-nữ, Cận-sự-nữ, nhưng
đều có nghĩa là người đàn
bà đã quy-y Tam-bảo, thụ-trì năm
giới, luôn luôn thân cận và phụng-sự
Tam-Bảo.
(21) A-Na-Hàm: (Angàmi)
Quả vị thứ ba trong bốn quả của bậc
Thanh-Văn. A-Na-Hàm tàu dịch là Bất-Lai
hay Bất-Hoàn. Nghĩa là vị tu-hành
đã diệt hết hoặc-nghiệp cõi
Dục, không phải trở lại lần nữa. Sau
chỉ phải sinh lên cõi Sắc, cõi
Vô-Sắc mà thôi.