
PHẬT-HỌC NGỤ-NGÔN
(1)
Việt dịch: Thích-Tâm-Châu
Source: Chùa Di Đà
Chính tôi (A-Nan) được nghe:
một thời kia đức Phật ở trong
vườn trúc Thước-Phong (Venuvana kàrndaka nivàpa), thành
Vương-Xá (Ràjagrha) cùng với các vị Đại
Tỳ-Khưu (Maha Bhiksu), Đại-Bồ-Tát (Maha
Bodhisattva) và Thiên, Long, Dạ-soa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la,
Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già (2) chừng ba vạn sáu ngh́n
người.
Khi ấy, trong pháp-hội có
năm trăm người Dị-học Phạm-chí (3),
từ nơi ṭa ngồi của họ đứng dậy
bạch Phật rằng: "Thưa Thế-Tôn! Chúng tôi nghe
nói đạo Phật rộng, sâu không đạo nào có
thể sánh kịp, nên chúng tôi lại đây muốn hỏi
Ngài mấy điều, mong Ngài vui ḷng nói cho!"
Đức Phật nói: "Hay lắm, các ông cứ việc
hỏi!"
- HỎI: Thiên-hạ
"có" hay "không"?
- ĐÁP: Cũng có và
cũng không.
- HỎI:
"Hiện có" sao bảo là "không", "hiện
không" sao bảo là "có"?
- ĐÁP:
"Sinh" cho là "có", "chết" cho là
"không", nên nói là "hoặc có, hoặc không".
- HỎI:
Người ta do đâu sống được?
- ĐÁP:
Người ta do ngũ-cốc mà sống.
- HỎI:
Ngũ-cốc do đâu mà sinh?
- ĐÁP:
Ngũ-cốc do nơi tứ-đại: đất,
nước, gió, lửa, sinh.
- HỎI:
Tứ-đại do đâu sinh?
- ĐÁP:
Tứ-đại do "không" sinh.
- HỎI:
"Không" do đâu sinh?
- ĐÁP:
"Không" do chỗ "vô sở-hữu" (không có
chỗ có) sinh.
- HỎI: "Vô
sở-hữu" do đâu sinh?
- ĐÁP: Do
"tự-nhiên" sinh.
- HỎI:
"Tự-nhiên" do đâu sinh?
- ĐÁP: Do
"Niết-bàn" (Nirvàna) sinh.
- HỎI:
"Niết-bàn" do đâu sinh?
Đức Phật nói: "Sao các
ông hỏi sâu-xa thế! Các ông không biết: Niết-bàn là
pháp bất-sinh, bất-diệt sao?
- HỎI: Đức
Phật được Niết-bàn chưa?
- ĐÁP: Tôi chưa
được Niết-bàn.
- Hỏi: Ngài chưa
được Niết-bàn sao Ngài biết được
sự "thường, lạc" của Niết-bàn?
Đức Phật nói: "Nay tôi
hỏi lại các ông: chúng-sinh trong thiên-hạ khổ hay vui?"
- ĐÁP: Chúng-sinh
khổ lắm.
Đức Phật hỏi:
Thế nào là khổ?
- ĐÁP: Chúng tôi
thấy chúng-sinh khi chết đau-khổ khó nhẫn nên
chúng tôi biết chết là khổ.
Đức Phật nói: Nay các ông
chưa chết, cũng biết chết là khổ, thời
tôi thấy chư Phật mười phương bất
sinh, bất diệt, nên tôi biết Niết-bàn
thường, lạc.
Năm trăm người
Phạm-chí tâm-ư mở tỏ, cầu thụ ngũ-giới
(4), chứng ngộ quả Tu-đà-hoàn (5) rồi ngồi
lại chỗ cũ.
Đức Phật nói: Các ông nghe
cho kỹ, nay tôi sẽ v́ các ông nói rộng về những
thí-dụ sau đây:
1.- NGƯỜI NGU ĂN
MUỐI
Xưa có người ngu
đến nhà người khác chơi được
chủ-nhân tiếp-đăi vui-vẻ và làm cơm cho ăn.
Trong khi ăn, thức ăn hơi lạt, người ngu
có vẻ không vừa ḷng, chê là kém ư-vị. Chủ nhân nghe
hiểu, sai người lấy thêm muối đem lên.
Đem lên, người ngu cho thêm muối vào món ăn. Ăn
ngon, người ngu liền nghĩ: "Có lẽ vị
ngon này là do muối. Cho ít c̣n ngon thế, huống là cho
nhiều!" Người ngu không hiểu biết ǵ,
nghĩ thế liền ăn muối không, miệng
giộp, thành bệnh.
Ngoại-đạo nghe nói
tiết-chế sự ăn uống đắc-đạo,
liền đoạn-thực trong bảy ngày hoặc
mười lăm ngày, chỉ làm đói khổ cho thân, không
lợi-ích ǵ cho đạo. Cũng như người ngu
ăn muối không, không khác.
2.- ĐỂ DÀNH SỮA
Xưa có người ngu muốn
dành sữa đăi khách. Người ấy nghĩ: "Ngày
ngày vắt sữa để dành trong hộp, sữa
mỗi ngày mỗi nhiều không có chỗ để,
lại chua ra, không bằng ta cứ để ngay trong
bụng nó, khi mời khách, ta sẽ vắt ra, tốt
hơn!"
Nghĩ rồi, người
ấy liền dắt những con ḅ cái buộc một
nơi. Độ sau một tháng mời khách đến,
ngưới ấy dắt ḅ về vắt sữa, vú ḅ
khô-quắt, không có một giọt sữa, tân-khách kẻ
giận, người cười khôn tả.
Người ngu muốn tu
bố-thí, lại nói: "Đợi khi rất giầu ta
sẽ bố-thí không vội!" Khi chưa kịp gom góp
đủ tiền của đă bị quan tham, nước
lụt, lửa cháy, trộm giặc
cướp-đoạt hoặc bị chết trước
khi định bố-thí. Như thế khác ǵ người
ngu dành sữa!
3.- ĐỂ ĐÁNH VỠ
ĐẦU
Xưa có người ngu
đầu không có tóc. Một hôm có người lấy cành
lê đánh lên đầu hai, ba lần vỡ cả
đầu, đau quá mà người kia cứ im-lặng
chịu-đựng, không tránh.
Người hàng xóm thấy thế,
hỏi: "Sao ông không tránh, để người ta
đánh vỡ đầu như vậy?" Người
kia đáp: "Người ấy ngu-si, kiêu-mạn, cậy
khỏe, thấy đầu tôi không có tóc, cho là đá, nên
lấy cành lê đánh vỡ đầu tôi như
thế!"
Người hàng xóm bảo:
"Ông là người ngu-si, lại bảo người
ấy ngu-si. Nếu ông không ngu-si sao để người
ta đánh vỡ đầu không tránh?"
Người tu đạo
giải-thoát, không tu Tín, Giới, Văn, Tuệ
đầy-đủ, chỉ sửa-sang uy-nghi, cầu mong
lợi-dưỡng. Như người ngu kia để người
ta đánh vỡ đầu, không tránh, c̣n bảo
người ta ngu-si!
4.- ĐÁNH LỪA LÀ CHẾT
Xưa có người ngu lấy
được người vợ đẹp, rất yêu,
nhưng người vợ vẫn không để ḷng tin-yêu
ḿnh. Sau một thời-gian lấy nhau, người vợ
tư-t́nh với người khác.
Ḷng riêng-tây quá mạnh,
người vợ ấy muốn bỏ chồng, đi
theo tiếng gọi của t́nh-lang, mới ngấm-ngầm
bảo một bà lăo: "Bà, sau khi tôi đi, bà kiếm giúp
tôi một xác chết của người đàn-bà khác,
để trên giường và bảo chồng tôi là tôi
đă chết rồi!" Bà lăo ưng-thuận. Ŕnh khi
người chồng đi vắng bà đem xác chết
để trên giường. Người chồng về, bà
bảo: "Vợ anh chết rồi!" Người
chồng đến coi, tin là vợ ḿnh đă chết,
thương-xót, khóc-lóc áo-năo, sắm-sửa dầu, củi
hỏa-táng, nhặt xương đựng vào trong túi, ngày
đêm đeo luôn bên ḿnh.
Thời-gian sau, mầu t́nh
phai-lạt, người vợ ấy lại quay về nhà
cũ, bảo chồng: "Thưa anh, em là vợ anh
trước đây!" Người chồng đáp:
"Thưa bà, vợ tôi chết đă lâu rồi, bà là
người lạ, bà nhận bỡn là vợ tôi, chứ
có phải đâu?" Người vợ ấy nói
đến hai, ba lần người chồng vẫn không
tin.
Ngoại-đạo nghe
tà-thuyết, tâm say-mê cho là chân-thực, quyết không
thay-đổi. Mặc dầu khi được nghe
chính-giáo họ vẫn không tin-tưởng, thụ-tŕ...,
như người chồng kia không khác.
5.- KHÁT THẤY NƯỚC
SÔNG
Xưa có người ngu, một
hôm bị khát nước quá - khát đến nỗi hoa
cả mắt, thấy ánh nắng cũng cho là nước
- muốn có nước uống, mới chạy đến
bờ sông Tân-đầu (Sindhu). Đến đây,
người ấy đứng ngắm sông, không uống.
Người bên sông thấy thế hỏi: "Ông bị
khát, nay đến chỗ có nước sao ông không
uống?" Người ngu đáp: "Ông có thể
uống hết được, tôi sẽ uống!
Nước sông nhiều quá, uống không hết nên tôi không
uống!" Mọi người đều cười.
Ngoại-đạo quá thiên về
lư, cho ḿnh không giữ đầy-đủ được
giới của Phật không dám thụ, thành ra sau này không
được đạo-phẩm ǵ và phải
lưu-chuyển trong sinh-tử. Đây và người ngu kia
không khác!
6.- CON CHẾT KHÔNG CHÔN
Xưa có người ngu
dưỡng-dục được bảy người con.
Một hôm có một đứa chết. Thấy con
chết, người kia muốn để yên trong nhà,
bỏ đi nơi khác.
Người hàng xóm thấy
thế bảo: "Sinh, tử đôi đường, ông
nên thu xếp chôn tại nơi xa, sao ông lại định
để yên trong nhà và muốn bỏ đi nơi khác
vậy?" Người ngu nghe nói liền nghĩ:
"Không để được ở nhà phải đem
chôn, thời giết thêm đứa nữa, gánh hai
đầu cho cân!" Nghĩ rồi, người ngu
giết ngay đứa nữa, để hai đầu,
gánh đến cánh đồng xa chôn. Đương-thời
ai ai cũng chê cười, ghê sợ.
Người tu đạo
giải-thoát, phạm một giới, ngại
hối-cải, im-lặng, che-giấu, tự nói là trong
sạch. Có người biết bảo: "Người tu
đạo giải-thoát giữ giới cấm như
giữ ngọc minh-châu, không để rơi, sứt. Nay
phạm những giới đă thụ, sao ông không
sám-hối đi?" Người kia đáp: "Nếu
phải sám-hối, để phạm nữa, hăy
xuất-tội luôn thể!"
Như người ngu kia, đây
cũng thế!
7.- NHẬN NGƯỜI LÀM ANH
Xưa có một người
h́nh-dáng đẹp-đẽ, thông-minh, nhiều của,
nhân-dân đều khen ngợi.
Có người ngu thấy
người ấy thế, nhận là anh tôi - v́
người ấy có của, muốn dùng ǵ th́ dùng - Sau v́
sự vay-mượn phải trả, lại bảo không
phải là anh. Người hàng xóm bảo: "Ông là
người ngu, khi cần dùng của th́ gọi
người ta là anh, đến khi mang nợ lại
bảo không phải là anh?" Người ngu đáp:
"Muốn được tiền của người nên
tôi nhận là anh, chứ có phải là anh đâu! Phải mang
nợ c̣n gọi là anh làm chi!" Mọi người
đều cười.
Ngoại-đạo nghe lời hay
của Phật, ăn cắp làm của ḿnh, khi
người ở gần bảo họ tu-hành, họ không
làm, nói: "Tôi v́ lợi-dưỡng, lấy lời
của Phật hóa-đạo chúng-sinh, chứ thực không
có chi cả, thời tu-hành làm sao?"
Như người ngu kia, đây
cũng vậy.
8.- TRỘM ÁO NHÀ VUA
Xưa có người mọi
lấy trộm các đồ-vật trong kho nhà vua rồi
chạy trốn. Nhà vua sai người đi khắp nơi
t́m, bắt đem về. Vua hỏi: "Áo kia của
ngươi do đâu có?" - Người mọi đáp:
"Áo này là bảo-vật của ông cha tôi để
lại!" - Vậy ngươi mặc xem? - nhà vua
bảo. Người mọi mặc:
Mượn làm ví-dụ:
"Vua" ví như "bảo-tạng như-pháp"
(chân-lư) của Phật; “người mọi ngu-si" ví
như ngoại-đạo nghe trộm chính-pháp của
Phật lồng vào trong pháp của ḿnh, cho là ḿnh có. Song, v́
không hiểu-biết, xếp-đặt Phật-pháp
lộn-lạo trên, dưới, không biết
pháp-tướng (sự-tướng trong Phật-pháp,
tướng-trạng của sự-vật) ra sao. Như
người mọi được áo quư của nhà vua, không
biết lần-lượt, mặc lộn-bậy
đầu-đuôi cũng thế!
9.- KHEN ĐỨC-HẠNH CHA
Xưa có người ở trong
đám đông khen đức-hạnh cha ḿnh: "Cha tôi
nhân-từ không làm hại ai, không ăn trộm của ai;
hay nói thực và hay làm việc bố-thí!"
Có người ngu nghe lời
ấy rồi, bảo: "Đức-hạnh cha tôi c̣n
hơn cha ông nhiều!" Mọi người đều
hỏi: "Cha ông có đức-hạnh ǵ xin ông cho chúng tôi
biết?" Người ngu đáp: "Cha tôi từ nhỏ
đến giờ đoạn-tuyệt dâm-dục, không chút
nhiễm-ô!" Mọi người cười nói: "Cha
ông đoạn dâm-dục sao sinh được ông?"
Người vô-trí ở
đời, muốn khen đức người, không
biết đức thực của người, trái lại
thành ra chê-bai. Người ngu, ư muốn khen cha ḿnh lại
thành lầm-lỗi. Đây cũng như thế!
10.- CẤT LẦU BA TẦNG
Xưa có người giầu
ngu-si không biết chi cả. Một hôm đến chơi
nhà giàu khác, người ấy thấy nhà họ có nhà
lầu ba tầng, cao-rộng, đẹp-đẽ...
muốn có một cái như vậy. Người ấy
nghĩ: "Tiền của ta không kém chi họ, sao từ
trước tới nay ta không cất một cái nhà như
thế!"
Về nhà, người ấy
gọi thợ mộc, hỏi: "Ông có biết cái nhà
lầu của nhà kia không?" - Thợ mộc đáp:
"Nhà đó tôi làm!" - Người ấy bảo:
"Nay ông làm giúp tôi cái nhà lầu như thế!" -
Thợ mộc nhận lời, đi san đất, đào
móng để làm. Người ngu thấy thế
thắc-mắc hỏi: "Ông làm thế nào?" - Thợ
mộc đáp: "Làm lầu ba tầng!" - Người
ngu nói: "Tôi không thích làm hai tầng dưới, ông hăy làm
cho tôi tầng trên nhất đă!" - Thợ mộc
đáp: "Không làm thế được: không làm tầng
dưới cùng sao làm được tầng thứ hai,
không làm tầng thứ hai sao làm được tầng
thứ ba!" - Người ngu cố nói: "Tôi không dùng
hai tầng dưới, ông cố làm cho tôi tầng trên
nhất!" Đương thời, ai cũng cười
là quái-gỡ: “Không làm tầng dưới, sao làm
được tầng trên!"
Như các đệ-tử
xuất-gia, tại-gia của Phật lười-biếng
không tu-kính Tam-bảo: Phật, Pháp, Tăng lại muốn
cầu đạo-quả, nói: “Tôi chỉ cầu quả
A-la-hán, chứ không cầu ba quả: A-na-hàm,
Tư-đà-hàm, Tu-đà-hoàn.” Những đệ-tử này
cũng bị chê cười như người ngu không khác.
11.- GIẾT CON TỎ
ĐỨC
Xưa có người Bà-la-môn (6)
đối với kỹ-nghệ, nghệ-thuật xem
tinh-tượng... cậy ḿnh là thông-suốt hết
thảy.
Muốn tỏ đức ḿnh,
người ấy đi sang nước khác, ôm con khóc. Có
người hỏi: "Tại sao ông khóc?" -
Người ấy đáp: "Bảy ngày nữa đứa
nhỏ này sẽ chết. Tôi thương nó chết non nên
tôi khóc!" - Những người ở đấy nói:
"Mệnh người khó biết, tính-toán hay lầm,
nhỡ bảy ngày nó không chết th́ sao, vạ ǵ ông
phải khóc trước vậy?" Người ấy
đáp: "Mặt trời, mặt trăng có thể
tối, tinh-tú có thể sa nhưng, sự ghi nhận
của tôi quyết không sai được!"
V́ danh-lợi, hết bảy ngày
người ấy tự giết con ḿnh để
chứng-nghiệm cho lời nói của ḿnh. Và, sau đó
những người địa-phương nghe biết
con người ấy đă chết, ai cũng khen ngợi:
"Thực bậc trí-giả, nói đúng không sai!"
Từ đó họ sinh tâm tín-phục và quy-kính.
Các đệ-tử Phật v́
lợi-dưỡng tự cho ḿnh là đắc đạo,
đem những pháp làm ngu-mê nhân-loại, giết chết
hạt giống lành của chúng-sinh, trá hiện đức
từ-bi..., để mai sau này phải chịu khổ vô
cùng. Như người Bà-la-môn muốn chứng-nghiệm
lời nói của ḿnh, giết con để mê-hoặc
người đời, không khác.
12.- NẤU NƯỚC
THẠCH-MẬT
Xưa có người nấu
thạch-mật, một hôm có người nhà giầu
tới nhà, người ấy nghĩ: "Ta đem
nước thạch-mật này mời ông ấy uống!"
Nghĩ rồi, người ấy lấy ít nước cho
vào nồi để trên bếp lửa, lấy quạt
quạt mong chóng nguội, đăi khách. Người hàng xóm
thấy thế bảo: "Dưới ông không đập
lửa, lại quạt liền như thế, làm sao
nguội được?" Mọi người
đều cười.
Ngoại-đạo không dập
được lửa phiền-năo, đi làm ít hạnh
khổ-hạnh như nằm trên gai góc... mong
được đạo tịch-tĩnh, thanh-lương
thời hoàn-toàn không được, chỉ để
người trí-giả chê cười. Và, trong
hiện-tại chịu khổ, tai-ương c̣n truyền
cả đến kiếp sau. Đây cùng người
nấu nước thạch-mật không khác.
13.- BẢO NGƯỜI HAY
GIẬN
Xưa có người cùng ngồi
với nhiều người trong một nhà, khen một
người ngoại-đạo có đức-hạnh
tốt nhưng, c̣n bị hai lỗi: một là hay giận,
hai là làm việc hấp-tấp.
Trong khi ấy người kia
đi qua ngoài cửa nghe thấy tức-giận vào ngay trong
nhà, núm lấy người kia, đánh một thôi. Những
người đứng bên hỏi: "Cớ sao ông
lại đánh người ta?" Người ấy
đáp: "Tôi có khi nào hay giận và làm việc hấp-tấp
đâu, thế mà ông này dám bảo tôi là hay giận và làm
việc hấp-tấp!" Những người
đứng bên bảo: "Chà, cái dáng hay giận và hấp-tấp
của ông hiện rơ-ràng như thế mà ông c̣n kiêng-kỵ!
Người nói lỗi ác cho, lại sinh ra oán-trách như
thế, quyết bị mọi người chê là
ngu-hoặc!"
Bọn uống rượu
say-sưa làm nhiều sự càn-rỡ, thấy người
chê-trách sinh tâm oán-ghét, dẫn chứng sự mê-khổ,
tự làm rơ-ràng thêm. Như người ngu kiêng nghe lỗi
ḿnh, thấy người nói tới là muốn đánh!
14.- GIẾT CHỦ TẾ
TRỜI
Xưa có bọn lái buôn muốn
đi bể, cần t́m một người
đạo-sư dẫn đường mới đi
được. T́m được, cùng nhau ra đi. Đi
qua một khoảng đồng rộng có một ngôi
miếu thờ trời. Muốn qua ngôi miếu này
được yên-ổn phải giết một
người để tế.
Gặp việc khó
giải-quyết, họ suy-tính: "Tất cả chúng ta là
bạn thân, nỡ nào giết đi để tế
trời, nay chỉ có ông đạo-sư này là người
xa-lạ, chúng ta giết đi vậy!" Suy-tính rồi,
họ liền giết đi để tế. Tế xong,
cả bọn đều lạc đường không
biết đi, về đâu, sau bị khốn cùng và
chết hết.
Người đời muốn
vào bể “Phật-Pháp” nhặt những của quư, cần
tu hạnh lành làm đạo-sư. Nay phá-hủy hạnh
lành, đường dài sinh-tử quyết không ra khỏi
được, phải trải qua các ngả ác, chịu
đau-khổ măi-măi. Như bọn lái-buôn, sắp đi
bể lại giết người dắt-dẫn,
lầm-lạc bến-bờ, đến nỗi chết cả
vậy!
15.- PHƯƠNG THUỐC CHÓNG
LỚN
Xưa có ông vua sinh được
một con gái, liền gọi thầy thuốc vào bảo:
"Tôi vừa sinh được một con gái, thầy làm
cho tôi phương thuốc, cho nó uống chóng lớn!"
Thầy thuốc đáp: "Tôi sẽ cho một
phương thuốc tốt, Công-chúa uống vào lớn
ngay. Nhưng, hiện đây không có phương thuốc
ấy, tôi phải đi kiếm xa; dù chậm
được thuốc xin vua đừng mong. Và, từ nay
xin vua đừng thường thăm nom Công-chúa,
đợi khi tôi đem thuốc về cho Công-chúa uống,
rồi tôi thân đem Công-chúa đến
yết-kiến!" Nhà vua ưng-thuận.
Sau đó ông thầy thuốc
đi sang nước khác ngay. T́m thuốc ṛng-ră mười
hai năm. Được thuốc đem về cho Công-chúa
uống. Uống rồi, ông thầy thuốc đem Công-chúa
lên hầu vua. Nhà vua trông thấy vui mừng tự nghĩ:
"Thầy thuốc giỏi thật, cho con gái ḿnh uống
thuốc chóng lớn quá!" Nghĩ rồi, nhà vua sai
cận-thần đem châu-báu biếu ông thầy thuốc.
Đương thời ai cũng cười nhà vua là vô-trí,
không biết tính năm, tháng ra sao, thấy khôn lớn cho là
do thuốc.
Người đời cũng
thế, tới bậc thiện-tri-thức (bạn tốt)
thưa rằng: "Nay tôi muốn cầu đạo, xin
Ngài truyền dạy sao cho tôi trở thành bậc
thiện-tri-thức ngay được!"
16. NƯỚC MÍA TƯỚI
MÍA
Xưa có hai người trồng mía thề nguyền
với nhau: “Ai trồng tốt được
thưởng, ai trồng xấu phải phạt”.
Một trong hai người
nghĩ rằng: “Mía ngọt, nếu ép nước nó
tưới cho cây nó tất phải ngọt, tốt
lắm, ta quyết thắng người kia!” Nghĩ rồi,
người ấy ép nước mía tưới cho mía mong
vị nó sẽ đậm, tốt hơn, không ngờ
mậm mía hư, những cây đă trồng đều
hỏng cả.
Người đời muốn
cầu phúc lành, cậy ḿnh giầu-sang, chuyên nhờ
quyền-thế, bách-hiếp dân thường, bóc-lột
của-cải đem làm việc phúc, mong cầu được
quả tốt. Nhưng, họ không biết rằng sau này
không những họ không được ǵ lại c̣n bị
nhiều tai-hoạn. Như người ngu ép mía
tưới mía, hai đàng đều mất!
17. MANG NỢ NỬA TIỀN
Xưa có người lái buôn
nợ một người khác nửa tiền. Lâu không
trả được, một hôm người ấy đi
trả, đi qua một con sông lớn, phải trả hai
tiền đ̣. Đến nơi, người kia đi
vắng không gặp, trở về lại phải trả
hai tiền đó nữa. Thế là, nợ nửa tiền,
mất bốn tiền, lại thêm đi đường
vất-vả. Nợ ít, mất nhiều, ai nghe biết
chuyện này cũng bật cười.
Người đời cầu
chút danh-lợi, hủy bỏ đại-hạnh; tạm
dung-thân ḿnh, không đoái đến lễ-nghĩa, hiện
bị tiếng xấu, sau phải khổ-báo cũng như
vậy!
18. LÊN LẦU MÀI DAO
Xưa có người nghèo-cùng,
khốn-khổ, làm việc trong nhà vua lâu năm, thân-thể
gầy-yếu, xấu-xa. Nhà vua trông thấy
thương-hại mới cho một con lạc-đà
chết.
Được con lạc-đà,
người ấy đem lột da nhưng, dao cùn lột
không nổi, phải đi t́m đá mài. T́m được
ḥn đá mài trên lầu, người ấy đem dao mài
sắc, xuống lột. Lột cùn lại lên mài. Cứ
thế, đi đi, lại lại mệt quá, người
ấy mới nghĩ một kế là đem treo con
lạc-đà lên lầu, gần chỗ mài dao cho tiện.
Mọi người trông thấy ai cũng buồn
cười.
Người ngu phá-hủy
giới-cấm, kiếm nhiều của-cải để
làm phúc-thiện mong sinh lên trời. Cũng như
người treo lạc-đà lên lầu, công mài dao nhiều
mà kết-quả chẳng được bao nhiêu.
19. ĐI THUYỀN MẤT CHÉN
Xưa có người đi
thuyền qua bể đánh rơi cái chén bạc xuống
nước. Người ấy nghĩ: “Nay ta vạch
nước làm ghi, trở lại ta sẽ ṃ lấy!”
Qua hai tháng sau, đến
nước khác người ấy trông thấy con sông có
nước liền xuống ṃ chén cũ. Người
địa-phương trông thấy hỏi: “Ông ṃ ǵ
thế?” – Người ấy đáp: “Trước tôi
đánh rơi cái chén bạc, nay tôi ṃ lấy về!” –
Hỏi: “Ông đánh rơi chỗ nào?” – Đáp: “Khi tôi vào
bể tôi đánh rơi ở bể!” – Ông đánh rơi bao
lâu rồi!” – Đáp: “Hai tháng rồi!” – Hỏi: “Mất hai
tháng tại bể sao nay ông mới ṃ mà lại ṃ tại
đây?” – Đáp: “Khi tôi đánh rơi, tôi có vạch
nước làm ghi: nước chỗ tôi vạch
trước cùng với nước chỗ này như nhau nên
tôi ṃ tại đây!”. Những người
địa-phương nói: “Nước tuy không khác
nhưng, trước ông đánh rơi ở chỗ khác, nay
ông t́m ở đây sao được!” Mọi người
đều cười.
Người ngoại-đạo
không tu chính-hạnh, trong những việc thiện
tương-tự, chấp càn là phải, làm cho thân
khốn-khổ vất-vả để cầu giải-thoát.
Như người ngu mất chén một nơi t́m một
nẻo!
20. NÓI VUA BẠO NGƯỢC
Xưa có người nói nhà vua
rất bạo-ngược làm việc cai-trị,
chính-trị nhiều điều vô-lư. Nhà vua nghe thấy
giận quá, không xét ai là thủ-phạm, tin kẻ nịnh-thần,
bắt ngay một hiền-thần lóc một trăm
lạng thịt nơi xương sống.
Sau có người chứng-minh là
hiền-thần đó không nói lời ấy, tâm vua
hối-hận đem một ngh́n lạng thịt
đến vá vào chỗ cũ. Nửa đêm
hiền-thần kia rên-rỉ, khổ-năo nhà vua nghe tiếng
hỏi: “Sao mà khổ-năo, lấy thịt trăm lạng,
đền thành ngh́n lạng c̣n không đủ ư?”
Những người cận-vệ đáp: “Tâu
Đại-vương, như chặt đầu con đi,
tuy có đền lại ngh́n đầu cũng không khỏi
sự chết của người con. Nay hiền-thần
này tuy được thịt gấp lên mười
lần, cũng không khỏi được sự
đau-khổ?”
Người ngu ở đời
không sợ ǵ đời sau, tham-khát sự vui
hiện-tại, làm khổ-sở chúng-sinh, bới-móc
trăm họ, kiếm nhiều của-cải để
làm phúc, mong diệt tội, được phúc. Như ông
vua kia lóc lấy thịt người, đem thịt khác vá
vào mong không đau-đớn thực khó có vậy!
21. ĐÀN-BÀ MUỐN CON
Xưa người đàn-bà có
một con muốn được thêm con nữa mới
hỏi người đàn-bà khác: “Thưa bà, bây giờ ai có
thể làm cho tôi được thêm con nữa bà nhỉ?”
Trong chỗ ấy có bà lăo bảo: “Tôi có thể bảo cô
cách cầu thêm con được, bằng cách là phải
tế trời!” Người đàn-bà kia hỏi: “Thưa
bà, tế trời cần dùng những vật ǵ?” – Bà lăo
bảo: “Cô hăy giết đứa con hiện có của cô
đi để lấy máu tế trời thời sẽ
được nhiều con!” Người đàn-bà kia nghe
lời, đang toan giết con lấy máu tế trời, bên
cạnh nhà có bậc trí-thức thấy thế gọi
mắng: “Đồ ngu không có trí-tuệ ǵ cả,
đời nào con chưa đẻ thêm đă giết
đứa con hiện có đi bao giờ không?”
Người ngu ở đời
cũng thế, mong sinh lên trời; chưa được
sinh đâu, đă tự gieo ḿnh vào hố lửa hại
thân! (7)
22. KIẾM HƯƠNG
TRẦM-THỦY
Xưa người con ông
Trưởng-giả vào bể kiếm hương
trầm-thủy. Hơn năm, được một
đem về, đem ra chợ bán. Cho là của quư lắm,
không ai mua.
Qua nhiều ngày không bán
được, tâm sinh buồn chán. Người ấy trông
thấy người bán than bên cạnh bán nhanh-chóng,
người ấy nghĩ: “ Hay là ta đem đốt ra
than bán chóng?” Nghĩ rồi người ấy liền đem
đốt thành than, đem ra chợ bán, giá-trị không
bằng nửa xe than.
Người ngu ở đời
cũng thế, dùng nhiều phương-tiện cầu
mong quả-vị Phật nhưng, sau cho là khó
được, sinh tâm thoái-chuyển, nghĩ: “Không bằng
phát-tâm cầu quả-vị Thanh-Văn (8), chóng dứt sinh-tử
làm bậc A-la-hán c̣n hơn!”
23. GẤM BỌC ÁO CŨ
Xưa có người ăn
trộm vào một nhà giầu lấy được ít
gấm đẹp đem về bọc những áo
cũ-rách cùng các tài-vật khác. Những người trí-giả
trông thấy ai cũng cười.
Người ngu ở đời
đă có tín-tâm vào trong Phật-pháp, tu-hành pháp lành cùng
nhiều công-đức khác, song, v́ tham lợi, phá-giới
cùng tất cả công-đức khác, bị đời
cười-chê cũng thế!
24. TRỒNG HẠT VỪNG
LUỘC
Xưa có người ngu ăn
vừng (mè) sống không ngon, mới đem luộc chín
ăn thấy ngon, nghĩ: “Vừng này ta luộc đi
trồng có lẽ sau được hạt ngon lắm!”
Nghĩ rồi, đem luộc trồng măi vừng không
mọc.
Người đời thấy
bậc Bồ-tát tu những nhân khổ-hạnh cho là không
vui, liền nghĩ: “Không bằng làm vị A-la-hán chóng
dứt sinh-tử, công-hành lại dễ-dàng!” V́ vậy, sau
muốn cầu phật-quả không được. Như
hạt vừng luộc chín không mọc lên được,
người ngu kia cũng thế!
25. NƯỚC VÀ LỬA
Xưa có người chuyên về
việc bếp lửa và lấy nước lạnh.
Một hôm họ ủ lửa (rấm bếp) bằng cách
họ lấy chậu rửa đựng đầy
nước để lên trên, cho nấm lửa
được đợm. Không ngờ, sau khi dùng
đến lửa th́ lửa tắt, dùng nước
lạnh th́ nước lạnh thành nóng. Thế là, lửa
và nước lạnh hai đàng đều hỏng!
Người đời đă
được vào trong Phật-pháp, cầu đạo
giải-thoát, lại nhớ đến việc gia-đ́nh,
họ-hàng cùng những sự dục-lạc ở
đời, do đó, mất cả lửa công-đức và
nước giới-pháp, cũng như người ngu kia
vậy!
26. BẮT CHƯỚC
CHỢP MẮT
Xưa có người muốn làm
sao được vừa ư nhà vua, mới hỏi một
người khác, người ấy bảo: “Nếu
muốn được vừa ư nhà vua, ông phải
bắt-chước đúng h́nh-tướng nhà vua mới
được!”
Tin thực, ít bữa sau
người kia đến chỗ vua ở, trông thấy vua
đương chợp mắt. Nhà vua hỏi: “Mắt
người đau hay bị gió, bụi mà chợp vậy?”
Người kia đáp: “Tôi không đau mắt cũng không
bị gió, bụi chi cả, tôi muốn được
vừa ư vua, tôi thấy vua chợp mắt tôi bắt-chước
chợp theo! Nhà vua nghe giận quá sai người đánh,
đuổi ra khỏi nước.
Người đời muốn
gần Phật, cầu những pháp lành để tự
tăng-trưởng. Được gần rồi, không
biết đức Phật v́ chúng-sinh mà hiện ra những
pháp rất thấp, người kia nghe thấy pháp ấy
có chữ nào, câu nào không đẹp sinh ḷng chê-bai rồi
bắt-chước làm theo chỗ không phải ấy. Do
đó, đối với Phật-pháp mất
thiện-lợi phải sa vào đường ác. Như
người ngu kia bắt-chước nhà vua cũng
thế!
27. CHỮA LỐT ROI ĐÁNH
Xưa có người bị nhà vua
lấy roi đánh. Bị đánh, người ấy
lấy cứt ngựa đắp vào chỗ lốt roi, mong
cho chóng khỏi.
Có người ngu trông thấy, vui
mừng nói: “Ta thích được phương-pháp chữa
lốt roi đánh này!” Về nhà, người ngu bảo con:
“Con cầm roi đánh vào lưng cha nhé! Cha đă học
được phương-pháp chữa hay lắm, nay cha
muốn thí-nghiệm xem sao!” Con nghe lời cha, lấy roi
đánh cha, lấy cứt ngựa đắp vào, cho là
phương-pháp khéo léo.
Người đời nghe nói
về việc tu “bất-tịnh-quán (quán thân không sạch),
là bỏ được thân ngũ-uẩn (9) này, liền
nói: “Giờ ta muốn quán nữ-sắc và ngũ dục
(10) xem sao!” Ngờ đâu, tâm chưa vững, chưa quán
được “bất-tịnh” đă bị nữ-sắc
mê-hoặc, bị lăn-lộn trong sinh-tử.
Người ngu ở đời cũng thế!
28. THAY MŨI VỢ
Xưa có người lấy
được cô vợ đẹp nhưng, bị mũi
xấu. Một hôm đi ra ngoài người ấy trông
thấy một phụ-nữ diện-mạo đoan-chính,
mũi đẹp, người ấy nghĩ: “Ta t́m cách
cắt mũi cô kia đem về thay vào mũi vợ ḿnh,
chắc đẹp!” Nghĩ rồi người ấy t́m
phương cắt được mũi cô kia đem
về.
Về nhà, người ấy
vội-vàng gọi vợ: “Em ra đây, anh cho mũi
đẹp!” Vợ ra, người ấy cắt ngay mũi
vợ bỏ ra, lắp mũi cô kia vào. Nhưng, nó không
liền, vợ bị mất mũi, lại bị
đau-đớn quá!
Người ngu ở đời
nghe thấy những vị Sa-Môn (11), Bà-la-môn kỳ-cựu
có danh-đức lớn, được nhiều
người cung-kính, nhiều lợi-dưỡng,
người ngu nghĩ: “Ta cùng những vị kia như nhau
khác ǵ, mà các vị ấy lại được hơn ta!”
Nghĩ rồi, giả-xưng là có đức, đă
mất thiện-lợi lại hại đức-hạnh.
Như người cắt mũi cô gái khác lại làm
thương-tổn ngay vợ ḿnh!
29. NGƯỜI NGHÈO
ĐỐT ÁO
Xưa có người nghèo,
thiếu-thốn, vất-vả, may được một
cái áo mỏng, xấu mặc. Có người trông thấy
bảo: “Ông là ḍng họ sang-trọng sao lại mặc cái
áo mỏng, xấu này! Nay tôi khuyên ông, nếu ông muốn
được áo rất đẹp, ông hăy làm theo tôi, Tôi
không nói dối ông đâu!” Người nghèo vui-vẻ, vâng
lời. Trước mặt người kia đốt
một đống lửa rồi bảo người nghèo
rằng: “Nay ông cổi áo mỏng, xấu ấy bỏ vào
lửa cho nó cháy; trong chỗ cháy này ông sẽ
được áo đẹp!” Người nghèo cổi
bỏ áo ngay vào lửa. Sau khi áo cháy rồi, bới t́m áo
đẹp không thấy chi cả.
Người đời từ
thuở quá-khứ tu các pháp lành mới được thân
này, nên cần phải giữ-ǵn tiến-tu
đức-nghiệp. Nhưng, bị ngoại đạo
tà-ác, yêu-nữ lừa dối: “Ông nay tin lời tôi tu
mọi khổ-hạnh như gieo ḿnh nơi ghềnh núi,
lửa cháy ... bỏ được thân này sẽ sinh lên cơi
Phạm-Thiên, hưởng khoái-lạc đời
đời. Những người nghe, tin liền bỏ
thân-mệnh, sau khi chết đi phải sa vào
địa-ngục, chịu mọi sự đau khổ.
Mất thân người không được ích ǵ, như
người nghèo kia cũng thế!
30. NGƯỜI CHĂN DÊ
Xưa có người khéo chăn
dê, mỗi ngày một sinh-sản ra nhiều.
Một hôm có người khéo nói
dối, dùng phương-tiện đến kết làm
bạn thân với người ấy: “Nay tôi cùng anh rất
thân, chúng ta coi nhau hai thân như một. Anh ạ, tôi
biết nhà ông kia có cô gái trẻ, đẹp lắm, tôi
quyết-định sẽ hỏi cô ta về làm vợ anh đấy!”
Người chăn dê nghe sướng quá đem cho
người kia rất nhiều dê và của-cải.
Ít lâu người kia lại
tới nói: “Anh ạ, vợ anh đă đẻ
được một con rồi đấy!” Người
chăn dê chưa biết mặt vợ ḿnh ra sao nhưng,
nghe nói đẻ con rồi mừng quá lại đem cho
người kia các vật khác.
Sau người kia lại bảo:
“Anh ạ, con anh chết rồi!” Người chăn dê nghe
thấy thế khóc lóc, nghẹn-ngào măi không thôi.
Người đời tu hạnh
đa-văn (nghe, học nhiều) nhưng, v́ danh-lợi,
không chịu giáo-hóa diễn-thuyết cho người. Do
đó, bị ngay thân này lừa-dối, hướng về
sự vui sướng ở đời ... làm mất pháp
lành; sau mất thân mệnh cùng của-cải sinh ra
lo-buồn, khổ-năo, khóc-lóc thương-tiếc ... như
người chăn dê kia vậy!.
31. THUÊ MƯỚN THỢ NGƠA
Xưa có ông thầy Bà-la-môn
muốn mở đại-hội mới bảo các
đệ-tử: “Thầy cần ít đồ sành
để cung-dụng trong đại-hội, các con ra
chợ thuê- mướn cho thầy một người
thợ ngơa đi!”
Các đệ-tử vâng lời
đến nhà thợ ngơa thấy một người
dắt con lừa chở các đồ sành ra chợ bán,
không hiểu sao, trong giây lát con lừa làm vỡ hết
cả. Người ấy về nhà khóc-lóc, áo-năo. Những
đệ-tử kia thấy thế mới hỏi: “Sao ông
buồn rầu áo-năo vậy?” Người kia đáp: “Tôi
cần-khổ bao năm mới làm được ít
đồ đem ra chợ bán, trong giây lát con lừa
tệ-ác này nó làm vỡ hết của tôi, nên tôi buồn!”
Những đệ-tử kia nghe, mừng bảo: “Con
lừa này tốt, ông làm đồ bao năm mà chỉ trong
giây lát nó làm vỡ hết được. Nay chúng tôi
muốn mua con lừa này của ông, ông bán cho chúng tôi nhé!”
Người thợ ngơa thích quá, bán ngay con lừa cho
những người ấy.
Cưỡi lừa về nhà,
thầy hỏi: “Sao các con không mướn thợ ngơa
về, lại đem lừa về làm ǵ?” Các
đệ-tử đáp: “Thưa thầy, con lừa này
giỏi hơn thợ ngơa ạ! Thợ ngơa bao năm mới
làm nên ít đồ sành, thế mà chỉ trong giây lát con
lừa này nó đánh vỡ hết được!” Ông
thầy nói: “Các con ngu quá, không hiểu biết chi cả, con
lừa này tức thời có thể làm vỡ nhiều
được nhưng, dù trăm năm nó cũng không làm
được cái ǵ!”
Người đời, trăm
năm hưởng-thụ sự cúng-dàng của
người không đền trả được ǵ, không
làm được sự lợi-ích nào, thường làm
những việc tổn-hại là người bội-ân
vậy!
32. KHÁCH BUÔN TRỘM VÀNG
Xưa hai người khách buôn cùng
đi buôn với nhau một nơi. Một người bán
vàng và một người bán vải tốt. Có người
đến mua vàng, lấy ít vàng đốt thử,
người bán vải liền ăn trộm ngay chỗ
vàng thử kia, lấy vải gói lại. V́ vàng vừa
đốt c̣n nóng, cháy hết cả vải. Sự-t́nh
bại-lộ, hai đàng đều mất cả.
Ngoại-đạo ăn trộm
chính-pháp của Phật, chép vào trong pháp của ḿnh nói
dối là ḿnh có, chứ không phải là pháp của Phật.
Do đó, sách của ngoại-đạo bị
thiêu-diệt, không lưu-hành ở đời
được. Như người trộm vàng, sự-t́nh
đều hiện cũng thế!
33. CHẶT CÂY HÁI QUẢ
Xưa ông vua nọ có một cây
cao lớn, nhiều quả ngon. Một hôm có người
lại chỗ nhà vua, nhà vua bảo: “Trên cây này có nhiều
quả ngon lắm, người muốn ăn, trèo lên hái mà
ăn!” Người ấy đáp: “Tâu
Đại-vương, cây này cao lớn quá, tôi muốn
ăn nhưng không sao hái được!” Nhà vua bảo: “Tùy
đấy, làm sao hái được quả ăn th́ làm!”
Người ấy liền chặt ngay cây, hy-vọng
được quả ngon. Nhưng, quả ngon không
được, lại mệt thêm và sau cùng muốn dựng
cây lên cho sống, thời cây đă chết khô.
Người đời cũng
thế, nơi Phật có cây tŕ giới hay sinh ra những
quả thù-thắng Tâm-ư vui mừng, muốn được
ăn quả ấy phải tŕ-giới và tu mọi
công-đức. Nhưng, không biết phương-tiện
lại hủy-giới cấm, như người ngu kia chặt
cây rồi muốn sống lại sao được!
34. DÂNG NƯỚC NGỌT
Xưa có một làng cách kinh-thành
năm do-tuần (12). Trong làng có giếng nước
ngọt, nhà vua bắt những người trong làng mới
bảo mọi người rằng: “Xin tất cả
mọi người đừng đi, để tôi vào tâu
vua xin đổi năm do-tuần làm ba do-tuần, cho
mọi người được đi, lại gần,
không mệt!” Nói rồi người kia vào tâu vua. Nhà vua
liền đổi làm ba do-tuần. Mọi người vui
mừng. Có người bảo: “Con đường này
vẫn năm do-tuần có thay-đổi ǵ đâu!” Tuy
họ nghe nhưng họ vẫn không tin, họ chỉ tin
lời vua, quyết không bao giờ thay-đổi.
Người đời tu-hành
chính-pháp, qua khỏi năm đường: Thiên, Nhân,
địa-ngục, ngă-quỷ, súc-sinh, hướng về
Niết-bàn, tâm sinh mỏi-mệt, chán-ngán muốn bỏ,
đi vào đường sinh-tử, không thể tiến
lại được. Đức Phật có nhiều
phương-tiện: trong pháp Nhất-thừa
(Phật-thừa), phân-biệt ra Tam-thừa (Tiểu, Trung,
Đại-thừa). Người Tiểu-thừa nghe
được, vui mừng cho là dễ làm; tu thiện,
tiến đức, cầu qua sinh-tử. Sau nghe
người nói không có Tam-thừa chỉ có Nhất-thừa
nhưng, họ tin lời Phật quyết không chịu
bỏ. Như người làng kia cũng thế!
35. GƯƠNG TRONG
RƯƠNG BÁU
Xưa có người nghèo mang
nợ nhiều quá, không trả được, sợ
trốn vào trong cánh đồng rộng. Đến đây,
người ấy thấy một cái rương
đựng đầy châu-báu, có tấm gương
để trên những châu-báu ấy, đậy nắp.
Trông thấy mừng quá, người ấy mở nắp
ra coi, thấy bóng trong
gương sợ quá, chắp tay nói: “Tôi tưởng
rương không, không có ǵ, không biết có ngài ở trong
rương này, xin ngài tha-thứ lỗi-lầm cho tôi. Xin
đừng giận tôi!”
Người phàm-phu bị
vô-lượng phiền-năo làm cùng-khốn, chủ nợ
ma-vương sinh-tử ràng-buộc. Muốn tránh
sinh-tử vào trong Phật-pháp tu-hành pháp lành, làm các
công-đức, như gặp rương báu nhưng,
bị gương “thân-kiến” (tư-tưởng
cố-chấp thân ḿnh) mê-hoặc, nhiễu-loạn, lầm
tưởng là có “ta”, liền đóng kính lại và cho là
chân-thực. Do đó, mất mọi công-đức,
thiền-định đạo-phẩm, các pháp lành vô
lậu (không c̣n bị sinh-tử) cùng đạo-quả
Tam-thừa. Như người ngu bỏ rương báu,
những người tham-trước ngă-kiến cũng
thế! (13)
36. KHOÉT MẮT ÔNG TIÊN
Xưa có người vào núi
học đạo thành tiên, được năm phép
thần-thông (14), có thiên-nhăn (15) trông suốt tất cả,
thấy được hết thảy của báu chôn
dưới đất.
Có ông vua nghe biết, vui mừng,
bảo quần-thần: “Làm sao mời được
vị Tiên ấy về ở luôn trong nước ta, không
đi đâu, làm cho kho-tàng nước ta được
nhiều của báu!” Khi ấy, có một viên quan ngu-si,
đến chỗ vị Tiên ở, t́m phương-tiện
khoét hai con mắt của vị Tiên ấy mang về, tâu
vua: “Bầy tôi khoét mắt của vị Tiên ấy đem
về đây, mục-đích là để vị ấy
ở luôn trong nước, không đi đâu nữa!” Nhà vua
bảo: “Ta sở-dĩ mong được vị Tiên
ấy ở luôn trong nước là v́ vị ấy thấy
được những châu-báu chôn dưới đất,
nay ngươi khoét mắt c̣n làm ǵ được!”
Người đời, thấy
người ta làm hạnh Đầu-Đà (16)
khổ-hạnh, nằm nơi núi rừng, đồng
vắng, mồ-mả, gốc cây ..., tu
“tứ-ư-đoạn” (17) và :bất-tịnh-quán” (quán-sát thân
thể không trong sạch), bèn cưỡng-bách đem về
nhà cúng-dàng mọi thứ, hủy mất pháp lành của
người ta, khiến đạo-quả của
người ta không thành. Mất mát đạo-nhăn, mất
mát thiện-lợi, hoàn-toàn không được ǵ như
viên quan ngu kia, hủy mất vị Tiên vậy!
37. GIẾT CẢ ĐÀN TRÂU
Xưa có người có hai trăm
năm mươi con trâu thường đuổi đi t́m
cỏ ngon ăn. Một hôm có con hổ ra ăn mất
một con, người chủ đàn trâu nghĩ: “Nay
mất một con không c̣n đủ đàn, c̣n những con
kia nuôi làm ǵ!” Nghĩ rồi, người ấy
đuổi tất cả trâu đi, con th́ lăn xuống
hố sâu, con lần lên ghềnh núi rơi xuống dần
dần chết cả.
Phàm-phu ngu-si thụ-tŕ
đầy-đủ giới-pháp của Phật, bị
phạm một giới, không sinh tâm thẹn-hổ, thanh-tịnh
sám-hối (18), nghĩ: “Ta chót phá một giới không c̣n
đầy-đủ, ta giữ làm ǵ nữa!” Thành hết
thảy mọi giới phá hết. Như người ngu
kia làm chết hết đàn trâu, không c̣n con nào vậy!
38. UỐNG NƯỚC
ỐNG MÁNG
Xưa kia có người đi
đường khát quá, thấy ống máng gỗ có ḍng
nước trong chảy qua, người ấy tới kín
uống. Uống nó, người ấy giơ tay bảo
ống máng: “Ta uống đủ rồi nước
đừng chảy nữa!” Dù nói thế nước
vẫn chảy như cũ, người ấy cáu nói: “Ta
uống rồi, bảo mi đừng chảy nữa, sao mi
cứ chảy?” Có người gần bên nghe thấy
bảo: “Người ngu-si quá, không biết chi cả, sao
ngươi không đi đi, lại bảo nó đừng
lại...!”
Người đời, vị
sự khát-ái sinh-tử, uống nước mặn
ngũ-dục và đă bị ngũ-dục làm
mỏi-mệt chán-ngán như người kia uống nước
đủ rồi, liền nói: “Ngũ-dục: sắc, thanh,
hương, vị, xúc các ngươi đừng lại
để ta trông thấy nữa!” Song, ngũ-dục cứ
nối-tiếp nhau không dứt; thấy lại, cáu bảo:
“Ta đă bảo mi diệt ngay đừng sinh nữa, sao mi
c̣n lại đây làm cho ta trông thấy?” Khi ấy, có
người trí-tuệ thấy thế bảo: Ngươi
muốn tránh dục-vọng, ngươi cần nén-dẹp
sáu t́nh (19), ngăn-đóng tâm-ư, thời tưởng càn không
sinh, liền được giải-thoát, hà-tất không
thấy “dục” mới không phát-sinh. Như người ngu
uống nước cũng thế! (20)
39. THẤY NGƯỜI TRÁT
NHÀ
Xưa có người đến
nhà người khác, thấy nhà cửa tường-vách
của họ trát (tô) đất-cát bằng-phẳng,
sạch-sẽ, đẹp-đẽ, liền hỏi: “Ông
trát vách bằng ǵ mà đẹp thế?” Chủ-nhân đáp:
“Tôi dùng vỏ trấu, ngâm nước nhào lẫn với
bùn rồi tôi trát vào vách mà được thế!”
Người ngu nghĩ: “Vỏ
trấu không bằng lấy toàn thóc nhào với bùn mà trát vách
sẽ trắng, sạch, bằng-phẳng và đẹp
hơn!” Nghĩ rồi, người ấy về lấy
thóc nhào lẫn với bùn rồi đem trát vách.
Người ấy hy-vọng vách sẽ bằng-phẳng.
Ngờ đâu lại thành chỗ cao, chỗ thấp,
nứt-nẻ, hư-phí thóc, không lợi-ích ǵ, không bằng
ra ơn bố-thí cho người sẽ được
nhiều công-đức hơn.
Phàm-phu nghe bậc Thánh-nhân
thuyết-pháp, tu-hành mọi điều thiện, xả thân
này sẽ sinh lên trời cùng được giải-thoát,
liền tự sát ḿnh mong được sinh lên cơi trời,
được giải-thoát. Uổng mất thân ḿnh không
được ǵ cả, như người ngu kia vậy!
40. CHỮA ĐẦU KHÔNG TÓC
Xưa có người đầu
không tóc, mùa Đông bị rét quá, mùa Hạ bị nóng quá,
lại bị ruồi muỗi bám-rỉa ngày đêm,
khổ-năo khó chịu.
Biết ông thầy thuốc có
nhiều phương-thuật, người ấy
đến nói chuyện: “Xin thầy làm ơn chữa giúp
tôi cái đầu không tóc này!” không ngờ, ông thầy
thuốc đầu cũng không tóc, ông nhấc mũ
bảo: “Ông trông đầu tôi, tôi cũng bị bệnh
ấy, đau-khổ lắm. Nếu tôi chữa
được, tôi chữa khỏi bệnh tôi trước
rồi sẽ giúp ông!”
Người đời bị sinh,
lăo, bệnh, tử xâm-phạm tổn-năo, muốn cầu
trường sinh bất tử. Nghe biết ở
đời có những bậc Sa-Môn, Bà-la-môn, lương-y
v.v... chữa lành mọi bệnh, người đời
đến những nơi đó nói: “Kính xin ngài làm ơn
trừ-khử giúp tôi bệnh vô-thường sinh-tử,
để được ở nơi yên-vui măi măi không
biến-đổi!” Bà-la-môn... đáp: “Chúng tôi cũng lo
bệnh vô-thường, sinh, lăo, bệnh, tử ấy và
chúng tôi cũng mong cầu thấy được nơi trường-tồn
mà măi vẫn không được. Nay chúng tôi nếu làm cho
ông được, chúng tôi hăy tự làm cho chúng tôi đă!”
Như người đầu không tóc kia, không biết, làm
nhọc-mệt ḿnh mà không thể khỏi được.
(21)
41. HAI QUỈ TRANH NHAU
Xưa có hai con quỉ Tỳ-xá-xà
(Pisàca) (22) chung nhau một cái rương, một cái
gậy, một đôi guốc. Một hôm hai con căi nhau, tranh
nhau, con nào cũng muốn ḿnh được cả. Hai con
phân-vân suốt ngày không sao xử b́nh được. Khi
ấy có người đi lại thấy thế, hỏi:
“Rương, gậy, guốc này có cái ǵ kỳ-dị mà các
ngươi căi nhau, tranh nhau và giận nhau đến
thế?” Hai quỉ cùng đáp: “Rương của chúng tôi
hiện đủ tất cả quần áo, giường
đệm, chăn gối, vật-thực, đồ
dùng...; gậy này khi cầm vào tay, oán-địch
đều quy-phục không dám tranh-đấu; guốc này
đi vào, bay đi tự-tại không chút ngăn-ngại!”
Người ấy nghe rồi
bảo: “Các ngươi đứng xa một chút, ta sẽ
v́ các ngươi chia đều các vật này cho!” Hai
quỉ nghe lời đứng ra xa, tức th́ người
ấy ôm rương, cầm gậy và xỏ guốc bay
mất. Hai quỉ ngạc-nhiên, không được ǵ
cả. Bay đi người ấy ngoái lại bảo hai
quỉ: “Các ngươi căi nhau, tranh nhau, ta lấy đem
đi để các ngươi không c̣n tranh nhau nữa!”
Quỉ Tỳ-xá-xà ví-dụ vào các
ma, ngoại-đạo. “Bố-thí” như rương, các
đồ dùng của trời, người... trong năm
đường đều từ đấy phát-sinh.
“Thiền-định” như gậy, tiêu-phục như
giặc-giă phiền-năo, ma-oán. “Tŕ-giới” như guốc,
quyết-định sinh lên Nhân, Thiên. “Các ma,
ngoại-đạo tranh rương” ví-dụ vào chúng-sinh
trong sinh-tử (hữu-lậu) gượng cầu
quả-báo không được ǵ cả. Nếu tu-hành
được hạnh lành, bố-thí, tŕ-giới,
thiền-định sẽ thoát khổ và được
đạo-quả! (23)
42. CON LẠC-ĐÀ CHẾT
Xưa có ít người lái buôn cùng
đi buôn bán với nhau. Một chuyến đi, nghỉ
giữa đường, tự nhiên con lạc-đà
chết. Trên lưng lạc-đà chở nhiều thứ
trân-bảo, vải tốt và các tạp-vật. Nay
lạc-đà chết các vật phải mang xuống
để lột da. Lột rồi người chủ
đi bảo hai người đệ-tử ở
lại: “Các anh ở lại coi da lạc-đà này cho khéo,
đừng để bị ướt, rữa nhé!”
Sau đó trời mưa, hai
người ngây-ngô đem hết vải tốt che tấm
da, làm vải tốt hỏng hết; nếu tính giá vải
với giá da, th́ đắt hơn ngọc! Ngu-si mới
đem vải tốt che da vậy!
Người đời cũng
thế. Người không sát-sinh như tấm vải
tốt, da lạc-đà như của-cải; trời
mưa ướt rữa như kẻ phóng-dật làm
bại-hoại hạnh lành. Giới không sát-sinh là nhân
tốt hơn hết của Pháp-thân (24) Phật. Song, không
chịu tu, chỉ đem của-cải xây các tháp-miếu,
cúng-dàng chúng Tăng, bỏ gốc lấy ngọn, không
cầu căn-bản như thế được phúc
ít-ỏi, và có thể sẽ phải lưu-chuyển trong
năm ngả, không tự ra khỏi được. Các
người tu-hành phải tinh-tâm giữ giới bất
sát!
43. CON TRÂU ĐÁ
Xưa có người đục
giữa một ḥn đá lớn, trải bao ngày, tháng, bao
công-sức mới thành con trâu nhỏ để chơi.
Dụng-công nhiều mà kỳ-vọng ít!
Người đời cũng
thế. “Đục-giũa ḥn đá lớn” ví-dụ cho
sự học-vấn tinh-cần lao-khổ; “thành con trâu
nhỏ” ví-dụ cho tiếng đồn phải, trái
lẫn-lộn. Người học, nghiên-cứu kỹ,
suy-nghĩ chín, thông hiểu rộng cần phải nói theo
thực-hành, cầu những kết-quả thù-thắng
cao-xa. Nếu cầu danh-dự nhất thời, kiêu-mạn
ngông-nghênh chỉ tăng thêm tội lỗi mà thôi!
44. THÀ ĂN NỬA BÁNH
Xưa có người đói ăn
bảy cái bánh nướng. Ăn được sáu cái
rưỡi, thấy no no, tự nhiên người ấy
tức lên, đập tay phàn-nàn: “Nay ta nói là do nửa cái
bánh này no được, thà trước ta ăn nó xong!”
Người đời cũng
thế. Từ trước tới nay thường không có
sự vui-sướng nhưng, do si-mê điên-đảo
tưởng càn là vui-sướng. Như người si kia,
tới nửa cái bánh sau cùng sinh ra tư-tưởng no
đủ. Ôi, giầu-sang khi cầu nó rất khổ,
được rồi giữ nó cũng khổ, sau bị
mất đi lo-nghĩ càng khổ! Trong ba thời ấy
đều không có ǵ vui cả! – Như ăn mặc... cho là
vui-sướng, trong tân-khổ sinh là lạc-tưởng! –
Chư Phật nói: “Ba cơi (Dục, Sắc, Vô-Sắc) không
yên, đều là đại-khổ; phàm-phu mê-lầm
điên-đảo, tưởng càn là vui-sướng
vậy!”
45. NGƯỜI Ở GIỮ
CỬA
Xưa có người xắp
đi xa, gọi người ở bảo: “Ta sắp đi
xa, ngươi ở nhà coi cửa, coi cái dây và coi con lừa
này cho khéo nhé!”
Sau khi chủ nhà đi khỏi, bên
hàng xóm có tổ-chức cuộc tấu-nhạc vui.
Người ở muốn đi nghe nhưng, tâm không yên,
liền nghĩ một kế là lấy dây buộc cánh
cửa để lên lưng lừa, dắt lừa
đến chỗ tấu-nhạc, nghe. Khi người
ở dắt lừa đi, của-cải trong nhà kẻ
trộm vào lấy hết. Chủ nhà về hỏi:
“Của-cải trong nhà đâu cả rồi?” Người
ở đáp: “Khi ông chủ đi giao cho tôi coi cửa, coi
dây, coi lừa thôi, ngoài ra tôi không biết chi cả!” Ông
chủ nói: “Bảo ngươi coi cửa chính v́ những
của-cải trong ấy, nay của-cải mất dùng
cửa làm chi!”
Người ngu trong sinh-tử
bị tôi-tớ “tham-ái” cũng thế. Chư Phật
dạy thường phải giữ-ǵn cửa ngơ mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ư, ḿnh, đừng
tham-đắm vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp;
giữ con lừa “vô-minh” coi sợi dây “tham-ái”. Mà những
người tu đạo giải-thoát không vâng lời
Phật dạy tham-cầu lợi-dưỡng,
giả-hiện thanh-bạch, ngồi nơi an-tĩnh, tâm-ư
giong-ruổi tham-đắm ngũ-dục, bị sắc,
thanh, hương, vị mê-loạn, vô-minh che-lấp chân-tâm,
dây “tham-ái” ràng-buộc, của báu đạo-phẩm,
chính-niệm, giác-ư (tâm-ư ứng-hợp sự giác-ngộ)
đều tan mất!
46. TRỘM TRÂU ĂN THỊT
Xưa có một làng chuyên đi
ăn trộm trâu về giết thịt. Người
mất trâu ḍ theo lốt chân trâu đến làng kia t́m,
gặp người trong làng người ấy hỏi:
Ông có ở làng này không?
Người ăn trộm đáp:
Tôi không ở làng này.
Hỏi: Làng ông có ao và có
người ngồi bên ao ăn thịt trâu không?
Đáp: Không có ao.
Hỏi: Bên ao có cây không?
Đáp: Không có cây.
Hỏi: Các ông đi ăn trộm
trâu ở phương Đông phải không?
Đáp: Không có phương
Đông.
Hỏi: Các ông ăn trộm trâu
giữa trưa ư?
Đáp: Không có giữa trưa.
Người t́m trâu nói: Có thể
không có làng, không có cây, chứ trong thiên-hạ há lại không
có phương Đông, không có thời, như thế
biết là ông nói dối không thể tin được,
vậy chính ông là người ăn trộm trâu về
giết thịt ăn phải không?
Đáp: Thực có ăn.
Người phá-hủy
giới-cấm cũng thế. Người ấy
che-dấu tội-lỗi không chịu dăi-bày, chết
phải sa vào địa-ngục, chư thiên,
thiện-thần dùng thiên-nhăn quán-sát không thể che giấu
được. Như kẻ ăn trộm trâu kia không
thể nào nói dối được.
47. GIẢ TIẾNG
UYÊN-ƯƠNG
Xưa nước kia có ngày
khánh-tiết, các phụ-nữ đều cầm hoa sen. Có
một nhà nghèo vợ bảo chồng: “Hôm nay anh làm sao
kiếm cho em được bông hoa sen để góp mặt
với đời th́ em sẽ là vợ anh, bằng không em
sẽ bỏ anh em đi, không lấy anh nữa!”
Người chồng trước
đây khéo kêu giả tiếng uyên-ương. Giữa lúc khó
tính, người ấy liền đánh bạo vào trong ao sen
nhà vua giả kêu làm tiếng uyên-ương để hái
trộm. Người coi ao thấy tiếng sột-sạt
mới hỏi: “Ai ở trong ao đấy?” Người kia
buột miệng đáp: “Tôi là chim uyên-ương đây?”
Người coi ao bắt, điệu về chỗ vua,
giữa đường người ấy lại họa
tiếng uyên-ương kêu. Người coi ao bảo:
“Trước đây sao anh không kêu, bây giờ kêu ích ǵ!”
Người ngu ở đời
cũng thế. Suốt đời làm mọi sự
tàn-hại, ác-nghiệp, tâm không tập làm và
sửa-đổi thành-nghiệp thiện, tới khi
mất mới nói: “Nay tôi muốn tu thiện”, th́
ngục-tốt đă điệu đến chốn Diêm-la
(25), tuy muốn tu thiện cũng không kịp
được. Như người ngu kia, đi đến
chốn vua mới giả tiếng chim uyên-ương kêu
vậy!
48. CÂY GẪY CÁO CHẠY
Xưa có cáo đồng ở
dưới gốc cây, bị gió thổi gẫy cành rơi
vào lưng. Bị tai-nạn, nó nhắm mắt bỏ cây
ấy chạy đến chỗ trống khác, không thèm ngoái
trông lại. Chạy măi đến tối cũng không
chịu trở về ổ cũ. Xa xa nó trông vào các cây,
đều thấy gió thổi vào cành cây rung-chuyển
cả gốc ngọn, nó mới nói: “Thôi ta trở về
gốc cây cũ!”
Đệ-tử
ngu-si cũng thế. Được xuất-gia
được gần thầy, hơi bị quở-trách
một chút là trốn ngay đi nơi khác. Sau gặp
những ác-tri-thức năo-loạn nhiều quá mới về
chỗ cũ. Đi, lại như thế thực là ngu-mê!
49.
TRẺ TRANH SỢI TÓC
Xưa hai
đứa trẻ ra sông tắm, t́nh cờ chúng
được nắm tóc, đứa cho là râu của các ông
Tiên, đứa bảo là lông gấu.
Bên sông có
một ông Tiên. Khi hai đứa căi nhau măi không thôi, chúng
đem đến chỗ ông Tiên nhờ ông giải-quyết
hộ. Ông Tiên lấy gạo và vừng (mè) bỏ vào
miệng nhai, nhổ ra bàn tay, bảo: “Thứ trên bàn tay ta
đây tựa như cứt chim sẻ này!” Ông Tiên chỉ
nói thế, không đáp thẳng vào lời chúng hỏi chi
cả!
Người
ngu ở đời, khi nói pháp chỉ nói các pháp hư-luận
không chịu đáp theo chính-lư, khác ǵ ông Tiên kia, lũ
trẻ hỏi ông một đàng, ông đáp bóng một
nẻo, bị người chê cười. Những kẻ
chỉ nói phù-phiếm, dối-trá cũng thế!
50.
THUỐC CHỮA LƯNG GÙ
Xưa có
người bỗng dưng bị gù lưng, mời
thầy về chữa. Thầy thuốc nhào bột với
dầu đồ, lấy ván ép đầu, đuôi. V́
sức ép quá đau, hai mắt ḷi ra.
Người
ngu ở đời cũng thế. V́ tu phúc-đức,
đi buôn-bán gây nhiều điều phi-pháp, tuy việc phúc
thành nhưng, lợi không hàn kín chỗ hại, sau phải
sa vào các đường ác, như người chữa
lưng hai mắt bị ḷi vậy!
51.
THUÊ CHUNG NGƯỜI Ở
Xưa có
năm người chung nhau thuê một người ở.
Trong năm người, một người bảo họ
giặt áo. Sau lại có một người khác bảo
giặt áo, người ở bảo: “Theo thứ-tự tôi
phải giặt áo cho ông đưa trước đă
rồi tôi sẽ giặt cho ông!” Người thứ hai giận
bảo: “Ta cùng người trước thuê mi, sao mi chỉ
giặt riêng cho người ấy?” Nói rồi,
người kia lấy roi đánh mười roi. Và, cứ
thế lần-lượt năm người đều
đánh mỗi người mười roi.
Năm Ấm
(sắc, thụ, tưởng, hành, thức) cũng thế.
Phiền-năo nhân-duyên họp thành thân này nhưng, năm
Ấm này thường đem sinh, lăo, bệnh, tử cùng
nhiều khổ-năo đánh đập chúng-sinh. Năm
người dụ cho năm Ấm và người ở dụ
cho tấm thân này vậy!
52.
CON HÁT TẤU NHẠC
Xưa có
người con hát tấu nhạc vui trước nhà vua. Nhà
vua hứa cho ngh́n tiền. Xong việc, người ấy
vào hỏi nhà vua số tiền ấy. Nhà vua không trả,
bảo: “Người tấu nhạc vui, vui cho ngươi
chứ có vui ǵ cho ta. Nay ta cho ngươi tiền lại làm
vui thêm cho ngươi nữa à?
Quả-báo thế-gian cũng
thế. Trong cơi người hay trên cơi trời tuy
hưởng được chút vui sướng nhưng,
không có ǵ là thực, v́ nó c̣n bị vô-thường
tan-diệt không lâu-bền được, như tấu
nhạc vui không kia vậy!
53. TR̉ BÓP CHÂN THẦY
Xưa có ông thầy có hai
đệ-tử. Ông có bệnh đau chân, nên ông
thường sai hai người đệ-tử tùy
thời mỗi người bóp một chân. Hai người
thường ghen-ghét nhau. Một người này hành một
người khác bằng cách lấy đá đập vào chân
ông thầy mà người kia đang bóp. Người kia
tới giận lắm, lại lấy đá dập vào chân
ông thầy mà người ấy đang bóp.
Học-đồ trong Phật-pháp
cũng thế. Người học Đại-thừa chê
Tiểu-thừa, người học Tiểu-thừa chê
Đại-thừa, làm cho giáo-pháp của Phật tại hai
đàng đều hỏng.
54. ĐẦU ĐUÔI TRANH NHAU
Xưa có con rắn đuôi bảo
đầu: “Ta phải được đi trước!”
Đầu lại bảo đuôi: “Ta vẫn ở
trước, sao lại làm lộn-xộn vậy?”
Kết-cục, đầu ở trước th́ đuôi
quấn vào cây không đi được; đuôi ở
trước th́ rơi xuống hố lửa chết cháy!
Thầy, tṛ cũng thế.
Bảo thầy già-cả ở trên thời những
người trẻ không thích, muốn ḿnh là người
dẫn đầu mới được. Để cho
người tuổi trẻ thời tuổi trẻ tính-khí
bồng-bột, không am giới-luật sẽ trái phạm
nhiều. Do đó, đều dắt nhau vào
địa-ngục cả
55. XIN CẠO RÂU VUA
Xưa ông vua có một
người thân-tín liều ḿnh trong quân-trận để
cứu vua được an-toàn. Nhà vua vui mừng bảo:
“Khanh muốn ǵ, cầu ǵ trẫm tha hồ cho khanh
được toại nguyện!” Người ấy
thưa: “Tâu Đại-vương, thần chỉ xin
Đại-vương khi nào Đại-vương cần
cạo râu, xin cho thần cạo!” Nhà vua nói: “Ǵ chứ
việc ấy nếu hợp với ư khanh trẫm cũng
cho khanh theo sở-nguyện!” Đời ai cũng chê
cười là ngu-si: “Chà, xin cai-trị nửa nước
hay làm quan đại-thần, phụ-tướng không
được đâu mà lại đi xin cái nghề
hèn-hạ ấy!”
Người ngu cũng thế.
Chư Phật trong vô lượng kiếp làm những
hạnh khổ khó làm mà được thành Phật.
Gặp được Phật, gặp được
giáo-pháp và được thân người toàn-vẹn là khó,
khác ǵ như con rùa mù gặp được hốc gỗ
nổi trên biển cả. Nay sự khó gặp đă
được song, tâm-ư kém-cỏi, giữ được
ít giới cho là đủ, không cần cầu diệu-pháp
Niết-bàn tối-thắng nữa, như người không
có tâm cầu tiến, tự làm việc tà đă cho là
đủ!
56. Đ̉I CÁI VÔ-VẬT
Xưa có hai người đi
một đường, thấy một người
chở xe vừng (mè) đi trên quảng đường
gập-ghềnh không tiến lên được. Người
chở xe lên tiếng nhờ hai người đi
đường đẩy giúp cho một đoạn
để ra khỏi quăng đường này. Hai
người kia đáp: “Chúng tôi đẩy giúp ông sẽ cho
chúng tôi vật ǵ?” Người chở xe nói nói: “Vô-vật
(không có vật ǵ!)” Hai người túm vào đẩy giúp xe
cho người ấy đến quăng đường
bằng-phẳng. Đến đây hai người kia
lại hỏi người chở xe: “Sao, bây giờ ông
biếu chúng tôi vật ǵ đem lại đây?”
Người chở xe đáp: “Vô-vật!” Hai người
kia nói: “Được, ông cho chúng tôi cái “vô-vật”
vậy!” Trong hai người, một người mỉm
cười nói: “Người ấy chẳng cho chúng ta cái
“vô-vật” chúng ta cũng chẳng buồn!” Một
người nói: “Không, đă nói cho ta cái “vô-vật”, quyết-định
phải có cái vô-vật, mới được!” Một
người nói: “Hai chữ “vô-vật” hợp lại là
giả-danh; thế-tục phàm-phu chấp vào chữ “vô-vật”
ấy, sinh ra ư-niệm là chỗ vô-sở-hữu!”
Người thứ hai nói: “Vô-vật” tức là lẽ
chân-thực không c̣n tướng-trạng (vô-tướng),
không vương ư-nguyện (vô-nguyện) và không c̣n
tạo-tác (vô-tác)!” (26)
57. ĐẠP MIỆNG
TRƯỞNG-GIẢ
Xưa có ông trưởng-giả
đại-phú, những người tả, hữu
đều cung-kính ông, muốn làm ông vừa ḷng, nên khi ông
nhổ họ tranh nhau di. Có một người ngu tranh không
kịp mới nói: “Trưởng-giả nhổ xuống
đất, các anh tranh nhau di, tôi tranh không được,
vậy hễ khi tôi thấy trưởng-giả nhổ tôi
sẽ di trước các anh!”
Quả thực, khi
trưởng-giả sắp nhổ người ấy trông
thấy liền co chân đạp vào miệng
trưởng-giả sứt cả môi, gẫy cả
răng. Trưởng-giả bảo: “Sao ngươi
lại đạp vào miệng, môi ta?” Người ngu
đáp: “Trưởng-giả nhổ khỏi miệng
xuống đất những kẻ nịnh kia tranh nhau di
mất, tôi muốn di không kịp nên khi tôi thấy
trưởng-giả sắp nhổ ra khỏi miệng tôi
giơ chân di trước, mong được vừa ḷng
trưởng-giả, chứ có phải tôi đạp
trưởng-giả đâu!”
“Phàm, vật phải đúng
thời. Thời chưa tới, gượng dùng
công-sức sẽ bị khổ-năo. Người đời
nên biết thời và phi-thời!”
58. HAI CON CHIA CỦA
Xưa nước Ma-la (Malaya-dessa)
có một người ḍng quí-phái bị bệnh nặng,
biết ḿnh chết, mới dặn hai con: “Sau khi ta chết
các con chia của-cải cho khéo nhé!”
Sau khi cha chết hai con theo lời
cha dạy, chia của làm hai phần. Nhưng, người
anh bảo: “Em chia không đều!” Khi ấy có ông lăo nhà quê
bảo: “Nếu các ngươi muốn chia của-cải
cho đều, bây giờ có vật ǵ đều xé,
đập làm hai phần cả!” Hai người kia
hỏi: “Xé, đập thế nào thưa Cụ?” Ông lăo
đáp: “Như: áo quần xé làm đôi, mâm, b́nh đập
bổ làm hai, cong vại đập làm hai, tiền bạc
bẻ làm đôi. Nghĩa là hết thảy của-cải
ǵ đều xé, bẻ, đập làm hai phần cả!”
Phương-pháp chia của như thế ai cũng chê
cười.
Ngoại-đạo nghiêng tu
về. “Phân-biệt-luận” cũng thế. Luận-môn có
bốn loại:
1.
Quyết-định-đáp-luận-môn: Như loài người,
hết thảy có thân đều phải chết là
“Quyết-định-đáp-luận-môn”.
2.
Phân-biệt-đáp-luận-môn: Như “tử” (chết)
phải có “sinh”; “ái” hết không sinh, có “ái” phải có sinh, là
“Phân-biệt-đáp-luận-môn”.
3.
Phản-vấn-đáp-luận-môn: Như có người
hỏi: “Con người có phải là tối-thắng không?”
Nhưng lại đáp ngược lại câu hỏi: “Ông
hỏi về con người đối với ba
đường ác: địa-ngục, ngă-quỷ, súc-sinh
hay là hỏi về con người đối với
chư Thiên? Nếu hỏi về con người
đối với ba đường ác th́ con người
thực tối-thắng. Nếu hỏi con người
đối với chư Thiên th́ con người không
bằng. Những nghĩa như thế là
“Phản-vấn-đáp-luận-môn”.
4. Trí
(xếp-đặt)-đáp-luận-môn: Như hỏi
Phật về mười bốn câu nạn-vấn (27) hay
hỏi về thế-giới chúng-sinh hữu-biên (có
biên-giới), vô-biên (không biên-giới), hữu chung, thủy
(có trước, sau), vô chung, thủy (không có trước,
sau)... Những nghĩa như thế là
“Trí-đáp-luận-môn”.
Ngoại-đạo tự cho ḿnh
là có trí-tuệ, phá bốn loại luận-môn trên làm ra
một “Phân-biệt-luận” mà thôi. Như người ngu
chia của-cải, đập, bể làm đôi vậy!
59. XEM THỢ LÀM B̀NH
Xưa có hai người
đến chơi nhà thợ gốm, xem họ lấy chân
quay cái ṿng làm b́nh sành không chán.
Sau đó, một trong hai
người bỏ đến đại-hội
được ăn cơm ngon, được nhiều
ngọc báu. Một người xem làm b́nh cứ bảo đợi
xem xong đă, dần dần xem đến mặt trời
lặn, thành mất cả ăn uống, của báu.
Người ngu cũng thế. Chuyên-chú sửa-sang
việc nhà, không hiểu ǵ đến lẽ
vô-thường:
Hôm nay tu sửa việc này,
Bao nhiêu việc khác tạo đầy ngàn
mai!
Độ sinh chư Phật ra đời,
Nơi nơi vang dậy những lời sâu-xa.
Giọt mưa giáo-pháp chung ḥa,
Bận duyên thế-sự hóa ra vô t́nh!
Biết đâu “chết” đến bên B́nh!
Mà duyên Phật-Hội (28) xưa thành
bỏ qua!
Pháp trân-bảo của Phật-đà,
Mảy-may không được phải sa ba
đường!
B́nh kia xem-xét tỏ-tường,
Miên-man say-đắm, lợi thường
được chi!
...Đường lên giải-thoát mong ǵ?
60. BÓNG VÀNG ĐÁY NƯỚC
Xưa có người ngu
đến một ao lớn, thấy bóng dưới
nước đúng bóng vàng thực, người ấy cho
là thực vàng liền xuống ao xúc bùn t́m-kiếm. T́m
mệt không được, lên bờ ngồi. Một lúc
nước trong, bóng vàng lại hiện ra, người
ấy lại xuống xúc bùn t́m. T́m măi cũng không
được. Đến lúc người cha đi t́m con,
thấy con hỏi: “Con làm ǵ mệt thế?” Người
con đáp: “Thưa cha, con thấy đáy nước có bóng
vàng thực, con xuống xúc bùn t́m, t́m mệt mà không
được!” Người cha nghe con nói, trông xuống
đáy nước thấy có bóng vàng thực, biết
rằng vàng này ở trên cây chiếu xuống, mới
bảo con: “Con, đây quyết là vàng do chim bay công
đậu về để trên cây, chứ không phải
ở dưới nước đâu, con lên xem!”
Con nghe lời cha trèo lên cây quả-nhiên t́m
được:
Phàm-phu không biết chi chi,
Tấm thân “vô-ngă” lại gh́ “có ta”!
Vàng đâu bóng nước la-đà,
Khổ công nhọc xác được qua
chút nào!
61. SÁNG-TẠO MUÔN VẬT
Xưa kia đồ-chúng Bà-la-môn
đều nói: “Đại-Phạm Thiên-vương là cha
của thế-gian, tạo ra muôn vật”.
Tạo-vật-chủ có các đệ-tử. Các
đệ-tử theo đó nói là ta cũng tạo
được muôn vật. Các đệ-tử cũng
cậy ḿnh có trí-tuệ, một hôm nói với
Đại-Phạm Thiên-Vương rằng: “Chúng con
muốn tạo ra muôn vật!” Đại-Phạm
Thiên-Vương bảo: “Các ngươi đừng khởi
ra ư-nghĩ ấy, các ngươi không thể tạo
được đâu!” Các đệ-tử kia không tin
lời Đại-Phạm Thiên-Vương, cứ
tự-nhiên tạo ra muôn vật. Đại-Phạm
Thiên-Vương thấy những vật của các
đệ-tử ḿnh tạo ra không ra chi, bảo: “Các
ngươi tạo h́nh chi mà đầu to, cổ nhỏ,
tay to, cánh tay nhỏ, ống chân lớn, gót chân nhỏ trông
như quỉ Tỳ-xá-xà vậy?” Thế biết, mỗi
loại, mỗi loại đều do tự-nghiệp
tạo ra, chứ không phải Đại-Phạm
Thiên-Vương tạo ra!
Chư Phật thuyết-pháp không
chấp đoạn (mất hẳn), không chấp
thường (thường c̣n măi). Như thuyết về
bát-chính-đạo (8 con đường chính: chính-kiến,
chính-tư-duy, chính-ngữ, chính-nghiệp, chính-mệnh,
chính-tinh-tiến, chính-niệm, chính-định) ngoại-đạo
thấy thế có kẻ cho là đoạn, là thường
rồi sinh chấp-trước, lừa-dối
thế-gian..., chỗ nói của họ thực là phi-pháp
vậy! (29)
62. ĐAU ĂN CHIM TRĨ
Xưa có người bị
bệnh nặng quá, thầy thuốc coi bệnh bảo
phải ăn thịt chim trĩ hàng ngày mới khỏi.
Người ấy nghe lời ra chợ mua được
một con chim trĩ về làm thịt ăn. Ăn hết
không mua nữa.
Sau đó, thầy thuốc
đến hỏi: “Ông khỏi hẳn chưa?”
Người có bệnh đáp: “Trước thầy bảo
tôi ăn thịt chim trĩ hàng ngày nhưng tôi ăn một
bận thôi, nay bệnh vẫn chưa khỏi!” Thầy
thuốc bảo: “Sao ông không ăn luôn đi, lại chỉ
ăn một con thời mong khỏi bệnh sao
được!”
Ngoại-đạo cũng
thế. Phật, Bồ-tát là bậc Vô-thương
lương-y bảo: “Nên giải tâm-thức”, thời
ngoại-đạo chấp thường-kiến
(tư-tưởng chấp thường c̣n măi măi cho
quá-khứ, hiện-tại, vị-lai chỉ là một
Thức (ví như một con chim trĩ) không có sự
tàn-tạ, thiên-chuyển. Thế nên, không thể chữa
khỏi được bệnh ngu-hoặc phiền-năo.
Chư Phật bảo các ngoại-đạo trừ bỏ
thường-kiến v́ “hết thảy mọi pháp niệm
niệm sinh-diệt, sao lại có một Thức
thường hằng bất biến?” Như thầy
thuốc dạy ăn chim trĩ hàng ngày cho khỏi
bệnh, đức Phật cũng thế dạy chúng-sinh
hiểu các pháp có hoại nên không thường,
nối-tiếp nên không đoạn là diệt-trừ
được bệnh thường-kiến. (30)
63. QUỈ LA-SÁT GIẢ
Xưa nước Càn-đà-vệ
(Gandhàra) có bọn con hát nhân thời đói kém họ rủ
nhau đi sang nước khác kiếm ăn. Đi qua núi
Bà-la-tân là núi có rất nhiều quỉ dữ La-sát ăn
thịt người.
Bọn con hát tới đây
tối phải ngủ đêm dưới chân núi, gió rét
đốt lửa sưởi. Trong bọn con hát ấy có
một người rét quá không ngủ được,
mới dậy lục rương áo tṛ, lấy cái áo mang
h́nh quỉ La-sát mặc vào, ngồi trông vào đống
lửa, sưởi ấm. Có một người ngủ
tỉnh dậy trông ra đống lửa thấy quỉ
La-sát ngồi sưởi, sợ quá, không xét-nét ra sao vùng dậy
chạy, làm kinh-động cả những người
đang ngủ; những người đang ngủ cũng
nhổ dậy chạy hết. Người mặc áo
quỉ La-sát không hiểu sao cũng chạy theo sau.
Những người đồng-hành thấy quỉ La-sát
theo sau cho là nó muốn làm hại ḿnh càng sợ, chạy
vượt qua sông, núi, trụt ngă cả xuống hang-hố,
thân-thể sây-sát, mỏi-mệt quá và, măi đến sáng
mới biết là không phải quỉ!
Phàm-phu cũng thế, ở trong
phiền-năo đói-thiếu thiện-pháp, muốn đi xa
t́m thực-pháp vô-thượng: thường, lạc, ngă,
tịnh nhưng, đối với tấm thân
ngũ-uẩn này chấp càn là “có ta”, v́ “ngă kiến”
(tư-tưởng chấp cái ta) nên phải lăn-lộn
trong sinh-tử, bị phiền-năo đuổi theo không
được tự-tại, sa rơi vào hang-hố
của ba đường ác: địa-ngục,
ngă-quỉ, súc-sinh. “Đến sáng” dụ cho đêm
sinh-tử đă hết, ánh-sáng trí-tuệ tỏ-lộ
mới biết ngũ-uẩn không có chân-ngă.
64. NHÀ CŨ CÓ QUỈ
Xưa có căn nhà cũ,
người ta bảo nhà này thường có quỉ dữ
nên ai cũng sợ không dám nằm ngủ.
Bấy giờ có người
tự khoe là ta to gan, bảo: “Ta muốn vào trong nhà này
ngủ một đêm xem sao!” Nói rồi, đêm ấy vào
ngủ. Sau lại có người tự khoe là can-đảm,
dũng-mănh hơn người trước, nghe
người bên cạnh nói là nhà này thường có quỉ
dữ, người ấy cũng muốn vào thử xem sao.
Người ấy tới đẩy cửa vào,
người đến trước cho là quỉ, đun
cửa ra ngăn không cho vào. Người tới sau cũng
bảo là có quỉ. Hai người đấu-tranh nhau
đến sáng, trông thấy nhau mới biết là không
phải quỉ.
Người đời cũng
thế. Nhân-duyên tạm-hợp không có chủ-tể,
suy-nghiệm, phân-tích ra không có cái ǵ là “cái ta” song, chúng-sinh
chấp càn phải, trái sinh sự tranh-tụng như hai
người kia vậy!
65. VIÊN THUỐC HOAN-HỶ
Xưa có một phụ-nữ
hoang-dâm vô-độ. Dục-t́nh nàng càng mạnh, nàng ghen-ghét
chồng càng nhiều nên nàng thường nghĩ những
phương-sách hại chồng. Mọi phương-sách
đều hỏng. May gặp lúc chồng có lệnh đi
sứ nước láng-giềng, nàng ngầm làm những viên
thuốc độc để hại chồng nhưng nói
dối: “Thưa anh, nay anh đi xa em sợ anh đi có lúc
bị đói-thiếu, em làm được năm trăm
viên thuốc “hoan-hỷ”, là đồ hành-lư tiễn anh lên
đường. Khi nào đến cảnh-giới
nước ngoài anh hăy dùng!”
Chồng tin lời vợ,
đến cảnh-giới nước ngoài chưa kịp
đem ăn thời trời tối. Trong đêm tối,
nằm nghỉ trong rừng sợ thú dữ người
ấy mới trèo lên cây ẩn, thành bỏ quên thuốc
hoan-hỷ dưới gốc cây. Ngay đêm ấy, năm
trăm người ăn trộm, ăn trộm năm
trăm con ngựa cùng của báu của
Quốc-Vương nước kia về qua, nghỉ
dưới gốc cây. Do sự xông-pha, lẩn tránh về
đến đây đều đói, cả bọn thấy
thuốc “hoan-hỷ” dưới gốc cây liền chia nhau
mỗi người ăn một viên. Ăn rồi,
thuốc độc mạnh quá, năm trăm người
đều chết.
Sáng sau người ấy ở
trên cây xuống thấy bọn trộm chết ở
dưới gốc cây, mới giả vờ đem dao, tên
bắn chém vào những thây chết, rồi thu lấy
ngựa, của báu đi vội vào nước kia.
Nửa đường,
người ấy gặp Quốc-Vương cùng nhiều
người nước kia đang theo dấu-vết
đuổi t́m. Quốc-Vương nước kia hỏi:
“Ông là người nào, ở đâu lại bắt
được những ngựa này?” Người ấy
đáp: “Tôi là người nước kia, giữa đường
gặp bọn trộm, tôi với bọn này bắn chém
nhau, cuối cùng tôi giết chết được cả
năm trăm đứa ở dưới gốc cây. Do
đó, tôi bắt được những con ngựa này cùng
trân-bảo định đem đến nộp
Quốc-Vương. Nếu Ngài không tin, xin ngài sai
người thân-tín đến chỗ bọn trộm tôi
giết xem có đúng không!” Quốc-Vương kia liền
sai người thân-tín đến xem, quả-thực như
vậy. Quốc-Vương kia vui mừng khen là hiếm có.
Về đến kinh-đô,
Quốc-Vương kia thưởng tước-vị cao,
cho nhiều trân-bảo và phong thái-ấp cho người
ấy. Các cựu-thần của Quốc-Vương kia
thấy thế sinh ḷng ghen-tức, tâu vua: “Người kia
là người xa lạ chưa đủ tin
được, sao Quốc-Vương vội cho họ
những ân-sủng quá hậu; Quốc-Vương
thưởng tước-vị cho họ hơn cả các
cựu-thần!” Người ấy nghe biết, nói: Ai là
người đủ sức mạnh có thể thử tài
với tôi xin mời ra nơi b́nh-nguyên cùng tôi đấu
một cuộc hơn, thua!” Những người
kỳ-cựu nghe biết nhưng đều sợ không dám
địch.
Sau đó, nơi đồng
ruộng nước kia có con sư-tử dữ, chặn
đường bắt người, làm ngăn-trở
sự giao-thông của quốc-gia. Khi ấy, các
cựu-thần bàn với nhau: “Người kia tự cho
ḿnh là dũng-kiện không ai địch nổi, nay nhân có
tai-nạn sư-tử này chúng ta tâu với nhà vua sai
người kia đi trừ-khử, nếu người
kia giết được sư-tử dữ, trừ
hại cho nước thời mới thực là kỳ-tài!”
Bàn rồi, các cự-thần vào tâu vua, vua ưng-chuẩn,
cấp binh-khí cho người ấy đi.
Người ấy nhận
sắc-chỉ rồi, ư-chí cương-quyết, đi
đến nơi sư-tử. Đến đây,
sư-tử trông thấy kêu rống, nhẩy chồm tới
trước, người ấy kinh-hoảng vội trèo lên
cây. Sư-tử há miệng ngẩng đầu trông lên cây,
người ấy sợ xuống, lúng-túng đánh rơi
con dao vào trúng mồm sư-tử. Sư-tử chết ngay.
Người ấy vui mừng về tâu vua, vua càng yêu-quí và
thần-dân trong nước từ đấy ai cũng
kính-phục, khen-ngợi.
Viên thuốc “hoan-hỷ” của
người vợ là dụ vào “bất-tịnh-thí” (của
bố-thí không trong-sạch). Ông vua sai Sứ-giả là
bậc “thiện-tri-thức”. Đến nước khác là
dụ lên cơi trời. Giết bọn trộm dụ vào
người được quả Tu-đà-hoàn, mạnh
mẽ dứt được ngũ-dục cùng các
phiền-năo. Gặp được Quốc-Vương
dụ vào việc gặp được Hiền-Thánh. Các
cựu-thần ghen-tức dụ vào các ngoại-đạo
thấy bậc trí-giả dứt được
phiền-năo cùng ngũ-dục sinh tâm phỉ-báng nói là không có
sự ấy. Người kia khích các cựu-thần không ai
địch cùng ḿnh được là dụ về những
ngoại-đạo không dám chống-đối. Giết
sư-tử là dụ về phá ác-ma, dứt phiền-năo,
điều-phục được ác-ma, được
phong-thưởng đạo-quả không
chấp-trước. Thường khiếp-sợ là dụ
cho lẽ thường hay dùng yếu chế-ngự
mạnh.
Trong lúc ban đầu, bố-thí
tuy không có tịnh-tâm nhưng, người bố-thí may
gặp thiện-tri-thức, được quả-báo
thù-thắng. Sự bố-thí không trong sạch c̣n như
thế, huống là có thiện-tâm hoan-hỷ bố-thí.
Thế nên, trong chỗ phúc-điền, tâm cần chăm
làm bố-thí! (31)
66. NÓI VÀ LÀM
Xưa con ông
đại-trưởng-giả cùng nhiều người
lái buôn vào bể t́m ngọc. Con ông trưởng-giả
ở nhà đọc thuộc ḷng những phương-pháp
về thuyền-bè đi bể. Như vào bể gặp
chỗ nước xoáy cần lái thuyền như thế,
giữ thuyền như thế, bắt thắng như
thế, làm cho nó đứng như thế v.v...! Con ông
trưởng-giả tự-hào bảo mọi người:
“Phương-pháp vào bể tôi biết hết cả
rồi!” Mọi người đều mừng.
Vào bể chưa bao lâu,
người thuyền-trưởng bị bệnh mất.
Con ông trưởng-giả thay vào chỗ đó. Đến
chỗ nước xoáy, con ông trưởng-giả
xướng: “Nên lái, giữ như thế, bắt thắng
như thế...!” Nhưng thuyền cứ quay tṛn, không
tiến được đến chỗ có châu-ngọc.
Cuối cùng cả thuyền đều chết ch́m.
Phàm-phu cũng thế, tập
được ít pháp thiền-định về
Sổ-tức-quán (32) cùng Bất-tịnh-quán..., mới
đọc được chữ, không hiểu nghĩa và
phương-pháp thực-hành ra sao đă tự-hào là biết
rơ, lại trao-truyền cho người khác, làm cho
người ta mê-loạn tâm-thần, đảo lộn
pháp-tướng, suốt đời không được ǵ,
như người ngu làm người ta chết ch́m
dưới bể!
67. VỢ CHỒNG ĂN BÁNH
Xưa hai vợ chồng nhà kia có
ba cái bánh. Vợ chồng chia nhau mỗi người
một cái, c̣n một cái giao-hẹn với nhau: “Ai không nói
sẽ được ăn!”
Giao-hẹn rồi, ai cũng
muốn được bánh, nên đều im-lặng không
nói. Một chốc có kẻ trộm vào nhà lấy tất
cả tài-vật, vợ chồng chỉ liếc mắt
nh́n, không nói. Sau cùng không thấy nói, kẻ trộm
định lại xâm-phạm người vợ ngay trước
mặt chồng. Chồng thấy thế vẫn không nói.
Vợ tức quá quát kẻ trộm và mắng chồng:
“Đâu lại có người ngu-si như vậy, v́ một
cái bánh, thấy kẻ trộm mà không kêu-ca ǵ cả!”
Chồng vỗ tay cười: “Ô chị cả, tôi
định được cái bánh phải thế chứ
chị nhỉ?” Ai nghe biết chuyện này cũng bật
cười.
Phàm-phu v́ chút danh-lợi nhỏ trá
hiện im-lặng, bị phiền-năo ác-tặc
giả-dối xâm-phạm mất thiện-pháp, sa rơi vào
ba đường ác mà không biết sợ-hăi cầu
đạo xuất-thế, cứ ham-đắm
chơi-đùa trong ngũ-dục... Gặp khổ không lo,
như người ngu kia vậy!
68. OÁN-HẠI LẪN NHAU
Xưa có người giận nhau
với người khác, buồn-rầu không vui. Một hôm
có người hỏi: “Sao nay ông buồn thế?”
Người ấy đáp: “Có người họ chê tôi, tôi
không đủ sức và không biết phương-pháp báo thù
lại họ nên tôi buồn!” Người kia nói: “Chỉ có
thần-chú Tỳ-đa-la (33) là có thể hại
được họ nhưng, lo chưa kịp hại
họ đă hại ḿnh rồi!” Người ấy nghe
thế mừng quá, nói: “Xin Ngài làm ơn dạy cho tôi
thần-chú ấy, dù sẽ hại ḿnh cũng không sao, tôi
chỉ mong hại được họ thôi!”
Người đời, v́ cơn
giận-tức muốn cầu thần-chú Ty-đa-la
để năo-hại kẻ khác nhưng, không năo-hại
được người mà v́ sự giận-tức,
trước tiên hăy năo-hại ngay ḿnh đă. Và, sau c̣n
phải sa vào địa-ngục, ngă-quỷ, súc-sinh như
người ngu kia không khác.
69. BẮT CHƯỚC ĂN
NHANH
Xưa có người đi từ
Bắc-Ấn đến Nam-Ấn. Tới một nơi
nghỉ thời-gian lâu, người ấy cưới
được một cô gái làm vợ. Vợ làm tiệc vui
mừng đăi chồng. Chồng được bữa
tiệc ăn lấy ăn để không sợ nóng chi
cả. Vợ lấy làm lạ mới bảo chồng: “Đây
có giặc-cướp ǵ đâu mà anh ăn hấp-tấp
thế. Ăn từ từ chứ cho vui!” Chồng đáp:
“Em ạ, anh có việc rất mật, không thể nói
với em được!”
Vợ nghe chồng nói cho là có phép
ǵ kỳ-lạ, tha-thiết hỏi măi chồng mới nói:
“Đây là phương-pháp từ tổ-phụ anh
đến nay vẫn ăn nhanh, nên anh vẫn phải ăn
nhanh thế v́ đó là cổ-truyền!”
Phàm-phu không đạt chính-lư, không
biết thiện-ác, làm mọi hạnh-tà, không biết
hổ-thẹn lại nói: “Đây là pháp của
tổ-phụ tôi như thế, dù chết tôi cũng không
bỏ!” Như người ngu ăn nhanh lại cho là
phương-pháp tốt đẹp!
70. NẾM QUẢ AM-BÀ-LA
Xưa có ông trưởng-giả
muốn ăn quả Am-bà-la (Àmra) (34) mới sai
người đến một vườn nhà kia mua và
dặn phải mua quả ngon.
Người được sai
đem tiền đi mua, người chủ có quả
bảo: “Quả Am-bà-la nhà tôi đều ngon không có quả
nào xấu, ông nếm thử một quả th́ biết
tất cả!” Người mua quả nói: “Mỗi quả
tôi phải nếm một tí xem sao rồi tôi mới
lấy, chứ nếm một quả sao biết cả
được!” Tức thời người ấy hái
quả, mỗi quả nếm một tí rồi đem
về nhà. Vê nhà, ông trưởng-giả trông thấy
tởm quá, bực không ăn, vứt tất cả.
Người đời nghe
giữ giới và bố-thí sẽ được
giầu-có, vui-vẻ nhiều và thân thường
được yên-ổn không bị các tai-hoạn,
người đời không tin nói: “Nếu bố-thí
được giầu-có, tôi được thực tôi
mới tin!” Mắt thấy đời nay giầu-sang,
nghèo-hèn, đều do nghiệp trước mà
được quả-báo nhưng, không biết suy một
sự ra muôn sự để t́m nhân-quả, lại mang ḷng
bất-tín..., một mai mệnh mất đi,
của-cải tan-nát, như người ngu nếm quả
thành bỏ hết cả!
71. V̀ VỢ MẮT MÙ
Xưa có người đàn-ông
lấy hai vợ, nằm gần người này
người kia giận. Không sao chấm dứt
được cảnh-tượng ấy, người kia
đành nằm ngửa giữa hai vợ. Không may gặp lúc
trời mưa nhà dột nước, đất đỏ
xuống mắt, người kia vẫn không dám
cựa-cậy, v́ trước người kia đă
cam-kết với hai vợ là không ngả-nghiêng sang bên nào,
thành hai mắt bị mù.
Phàm-phu gần-gũi bạn tà,
tập làm những sự phi-pháp, gây ra những nghiệp
triền-phọc, phải sa vào ba đường ác ở
măi nơi sinh-tử, mất con mắt trí-tuệ, như
người chồng ngu-si, v́ hai vợ mà hai mắt
đều hỏng!
72. ĂN VỤNG GẠO
Xưa có anh chàng rể đến
nhà bố vợ, thấy giă gạo, anh ta đến
bốc trộm một nắm bỏ vào mồm ăn.
Vừa bỏ vào mồm, vợ ra thấy chồng mừng
quá, muốn được nói chuyện. Nhưng, miệng
chồng đầy gạo không nói được. Lại
sợ xấu-hổ không dám nhả ra, nên anh ta cứ
ấp-úng không nói. Vợ lấy làm lạ, mới lấy
tay vẽ, hỏi th́ chồng nói là miệng bị sưng.
Vợ vội-vàng chạy đi nói chuyện với cha:
“Thưa cha, chồng con vừa lại đây, bỗng
dưng miệng sưng không nói được!”
Người cha thấy thế cho gọi thầy thuốc
chữa. Thầy thuốc tới xem bảo: “Bệnh này
nặng lắm, phải lấy dao cậy mồm ra
đắp thuốc mới khỏi được!” Nói
rồi, thầy thuốc liền lấy dao cậy mồm,
gạo đổ ra, việc bại-lộ.
Người đời làm mọi
hành-vi tàn-ác, phạm giới thanh-tịnh, che-giấu
lỗi lầm không chịu tỏ-lộ phải sa vào
địa-ngục, ngă-quỉ, súc-sinh. Như người
ngu kia, v́ chút thẹn-hổ không chịu nhả gạo ra,
phải lấy dao cậy mồm mới tỏ
lỗi-lầm vậy!
73. NGỰA ĐEN ĐUÔI
TRẮNG
Xưa có người cỡi
ngựa đen ra trận đánh giặc. V́ sợ quá không
chiến-đấu được, người ấy
lấy máu của những người đă chết ḥa
với cát bôi lên mặt mũi rồi nằm lẫn vào
đám xác chết trước, giả chết.
Người ấy nằm xuống, con ngựa đen
bị người khác đuổi mất.
Lúc quân-lính về hết
người ấy dậy đi cắt lấy đuôi
ngựa trắng của người khác c̣n đấy
đem về làm tin. Về nhà có người hỏi: “Ông
để ngựa đâu không cưỡi về?”
Người ấy đáp: “Ngựa tôi bị chết
rồi, tôi chỉ cắt đuôi đem về thôi!”
Người hàng xóm trông thấy nói: “Đuôi ngựa của
ông đen sao đuôi này lại trắng?” Người
ấy im-lặng. Ai cũng bật cười.
Người đời tự nói
là ḿnh tu-hành khá lắm, có tâm từ-bi không uống ăn
tửu-nhục nhưng, hay giết-hại chúng-sinh, làm
nhiều điều độc-ác. Tự dối là
thiện, không việc ác nào không làm thời như
người ngu kia nói dối ngựa chết không khác!
74. THAM-CẦU
LỢI-DƯỠNG
Xưa có ông vua đặt ra
pháp-chế về sự “tẩy-tịnh” (35) đối
với các người Bà-la-môn... ở trong nước. Ai
trái lệnh phải đi làm các việc vất-vả.
Khi ấy, có người Ba-la-môn
xách b́nh tắm không, nói dối là nước của
người tẩy-tịnh đem đổ đi,
người ấy nói: “Tôi chẳng tẩy-tịnh, nhà vua
tự tẩy lấy! V́ theo ư nhà vua, tránh sự
phục-dịch, tôi nói dối là tẩy-tịnh, chứ
thực không phải tẩy-tịnh chi cả!”
Phàm-phu tu đạo giải-thoát,
h́nh-tướng bề ngoài đầy-đủ nhưng,
bề trong hư-hỏng, tham-cầu lợi-dưỡng và
trốn-tránh sự phục-dịch khác ǵ người
cầm b́nh không kia, có tướng mà trong không vậy!
75. CON LẠC-ĐÀ VÀ CÁI V̉
Xưa có người đựng
thóc trong ṿ sành, con lạc-đà rúc đầu vào ăn không
rút ra được. Người ấy thấy thế lo.
T́nh cờ có một ông lăo tới, bảo: “Ngươi
đừng buồn, ta có phương-pháp làm nó rút
đầu ra nhanh được. Giờ ngươi nên
chặt đầu nó đi, nó sẽ ra được
ngay!” Người ấy tin thực, lấy dao chặt
đầu lạc-đà. Mất cả lạc-đà,
vở cả ṿ. Người đời ai cũng chê cười.
Tâm phàm-phu mong cầu
đạo-quả Bồ-đề (36), giáo-pháp Tam-thừa
(37) thời cần phải giữ giới cấm,
đề-pḥng mọi điều ác. Song, họ bị ngũ-dục
phá-hủy tịnh-giới. Phạm giới rồi họ
bỏ rơi Tam-thừa, buông-lung tâm-ư, gây mọi việc
ác. Đạo-pháp và tịnh-giới đều bỏ,
như người ngu làm lạc-đà và ṿ đều
hỏng.
76. ĐIỀN-PHU NHỚ
VƯƠNG-NỮ
Xưa có anh điền-phu đi
chơi thanh trông thấy con gái vua đẹp quá về nhà
ngày đêm tưởng-nhớ, nghĩ cách thông-giao không
được thành bệnh. Những người
thân-thuộc thấy thế, hỏi. Anh đáp: “Bữa
trước tôi ra thành trông thấy con gái vua đẹp quá,
tôi tương-tư, nghĩ cách thông-giao với nàng không
được nên thành bệnh. Nếu không được
toại-nguyện, tôi chết mất!” Những
người thân-thuộc nói: “Anh đừng buồn, chúng
tôi sẽ t́m phương-tiện cho anh, để anh
được toại-nguyện!”
Hôm sau những người
thân-thuộc tới thăm nói: “Việc anh, chúng tôi đă
nói rồi nhưng, cô ấy không muốn!” Anh
điền-phu nghe, vui cười cho là việc đă
quyết-định.
Người ngu không phân-biệt
thời-tiết: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Trong mùa Đông
đem gieo hạt giống xuống đất, mong
được hoa-quả chỉ uổng công vô-ích v́
trời rét mầm lá, cành rễ đều hỏng.
Người ngu tu-tập được ít chút phúc đă cho
là đầy-đủ, cho là thiện-căn
Bồ-đề có thể chứng được, như
anh điền-phu hy-vọng con gái vua không khác!
77. TRANH VẮT SỮA LỪA
Xưa người mọi không
biết con lừa làm sao, chỉ nghe người ta nói là
sữa lừa rất ngon mà không ai biết cả. Một
hôm họ được con lừa đực, họ
muốn bú sữa, họ tranh nhau: người nắm
đầu, người nắm tai, người nắm
đuôi, người nắm chân... và đều muốn bú
trước cả. Kết-cục, mọi người
h́-hục, mỏi-mệt, vất-vả, không
được ǵ cả. Người đời chê
cười.
Phàm-phu, ngoại-đạo nghe nói
đến đạo, họ không muốn t́m-hiểu
đến nơi đến chốn, sinh tưởng
niệm-càn, khởi mọi tà-kiền (tư-tưởng
tà-vạy), nào: khỏa-h́nh, nhịn đói, gieo ḿnh nơi
ghềnh đá, đâm đầu vào đống lửa...
bởi những tà-kiến ấy phải sa-đọa vào
đường ác, như những người mọi
vọng-cầu sữa lừa vậy!
78. CHA CON HẸN NHAU
Xưa có người cha đêm
nằm bảo con: “Mai con đi cùng cha đến làng kia mang
ít đồ vật về với cha!” Đứa con nghe
rồi, sáng mai dậy lủi-thủi đi đến làng
kia không hỏi ǵ cha cả. Đến nơi, người
mệt, đói-khát không được ǵ lại quay trở
về. Về gặp cha, cha mắng: “Mi ngu quá, không biết
chi cả. Sao mi không đợi ta, để đến
nỗi đi không về rồi, chịu khổ-cực,
lại bị người ta chê cười cho!”
Phàm-phu cũng thế,
được xuất-gia, mang h́nh-tướng
người xuất-gia nhưng, không cầu minh-sư
để học-hỏi đạo-pháp, làm tổn mất
các công-đức đạo-phẩm, thiền-định
cùng các đạo-quả của bậc Sa-Môn. Như
người ngu đi không về rồi, tự
mỏi-mệt, thời người mang h́nh-tướng
tựa Sa-Môn, không hiểu biết ǵ, cũng không
được ǵ vậy!
79. VÁC KỶ CHO VUA
Xưa có ông vua muốn vào
vườn Vô-ưu chơi vui, mới sai một viên quan
cầm cái kỷ để ngồi nghỉ. Viên quan sợ
xấu-hổ không cầm, mới tâu: “Tôi không cầm
được, tôi chỉ vác những thứ vác được
thôi!” Ông vua có vẻ bực, sai người lấy ba
mươi sáu cái kỷ chất lên lưng viên quan kia
bắt vác. Mọi người đều cười.
Phàm-phu chấp-trước,
thấy một sợi tóc nữ-nhân rơi ở
đất không dám nhặt, tự cho là giữ giới.
Nhưng, sau bị phiền-năo mê-hoặc, ba mươi sáu
vật nơi thân-thể họ như: tóc, răng,
đại, tiểu bất-tịnh v.v... không cho là xấu,
xông-xáo tất cả, không sinh thẹn-hổ và, đến
chết cũng cố-thủ không bỏ, như
người ngu vác kỷ vậy!
80. UỐNG LỘN THUỐC
RỬA
Xưa có người đau
hạ-bộ, thầy thuốc bảo phải dùng thuốc
rửa mới khỏi. Người ấy nghe,
sắm-sửa đủ các vật-liệu để
rửa. Thầy thuốc chưa kịp đến,
người ấy lấy ngay thuốc rửa uống.
Uống vào, bụng chương lên, sắp chết.
Thầy thuốc đến thấy lạ hỏi.
Người ấy nói: “Ban năy tôi lấy thuốc rửa
uống nên thế!” Thầy thuốc trách: “Sao ngươi
ngu thế, không hiểu phương-tiện là ǵ cả!”
Vừa trách vừa vội-vàng lấy thuốc khác cho
người ấy uống, thổ ra được,
khỏi ngay.
Phàm-phu cũng thế, muốn
tu-học pháp thiền-quán, cần quán “bất-tịnh”
trước lại quán “sổ-tức”; cần quán
“sổ-tức” lại quán “lục-giới” (38), trên,
dưới lộn-lẫn, không có căn-bản, uổng
mất thân-mệnh và chịu sự vất-vả. không
hỏi bậc lương-sư tu thiền quán
lộn-lẫn, như người ngu uống thuốc
bất-tịnh vậy!
81. GẤU CẮN, BẮN TIÊN
Xưa hai cha con nhà kia đi
chơi với bạn. Người con đi lang-thang vào
rừng bị gấu cắn, nát cả thân-thể.
Người con cố-gắng ḅ về chỗ cha. Cha trông
thấy ḿnh con rách-nát, lạ hỏi: “Ḿnh con sao bị
thương vậy?” Người con nói: “Thưa cha, con vào
rừng có con vật ǵ lông ḿnh xồm-xoàm, nó lại
hủy-hoại con!” Người cha giận quá, tay cầm
cung-tên vào rừng, trông thấy ông Tiên râu tóc rất dài,
người cha tưởng là con thú hại con ḿnh, dương
cung định bắn. Những người gần bên
thấy thế hỏi: “Sao ông lại bắn người
ấy, người ấy không làm hại ai cả, ông nên
t́m trị những kẻ có lỗi chứ!”
Những kẻ giả-dối
vô-đạo ở đời chỉ muốn hăm-hại
những bậc lương-thiện có đức, như
người cha kia, con bị gấu cắn lại
định sát-hại ông Tiên!
82. KHÊNH GIƯỜNG GIEO
MẠ
Xưa có người nhà quê đi
qua khu ruộng thấy mạ mọc xanh tốt
mườn mượt, mới hỏi người
điền-chủ: “Ông làm sao mà mạ được mọc
xanh-tốt vậy?” Người điền-chủ đáp:
“Cần làm đất bằng-phẳng, phân, nước
đều là được thế!”
Người ấy về, y theo
phương-pháp ấy làm, nghĩa là cũng làm ruộng
bằng-phẳng, điều ḥa phân, nước rồi
gieo mạ xuống đất. Trong khi gieo người
ấy sợ chân ḿnh dẫm xuống đất, làm
đất dắn lại, mạ không mọc
được, mới nghĩ: “Ta nên ngồi trên
giường, sai người khênh, ở trên ta rắc
mạ xuống, như thế tốt hơn!” Nghĩ
rồi, người ấy sai bốn người mỗi
người khênh một chân giường, vào ruộng
rắc mạ thành đất càng dắn thêm, lại bị
người ta chê cười: “Chà, sợ hai chân thành tám
chân!”
Phàm-phu tu giới-điền
(giới-luật như mảnh ruộng) mầm lành
sắp mọc, cần phải có thầy dạy, phải
theo đúng mới được. Nhưng, lại trái
phạm, làm nhiều điều ác, làm cho mầm-mống
của giới-luật không mọc được, như
người ngu sợ hai chân, thành tám chân vậy!
83. KHỈ OÁN TRẺ CON
Xưa có con khỉ bị
người lớn đánh, không làm sao được, quay
lại oán trẻ con.
Phàm-phu ngu-si, trước
giận-tức người, việc ấy đă
thay-đổi, đă tan-diệt trong dĩ-văng rồi,
thế mà những sự nối-tiếp về sau, vẫn cứ
cho là nó thuộc về những sự trước, rồi
sinh giận-tức càn, làm cho sự độc-hại
của giận-tức càng sâu-dầy, khác ǵ con khỉ
bị người lớn đánh, lại quay ra oán trẻ
con!
84. NGUYỆT-THỰC ĐÁNH
CHÓ
Thần-thoại xưa cho
rằng A-tu-la (39) thấy mặt trời, mặt trăng
trong sáng lấy bàn tay che kín. Người thường không
hiểu sao, đem chó ra đánh.
Phàm-phu đă bị tham, sân, si làm
khổ thân, lại c̣n nằm trên gai-góc, lửa nóng
đốt ḿnh, như người ngu thấy
nguyệt-thực đem chó ra đánh!
85. SỢ SẼ ĐAU
MẮT
Xưa có cô gái sợ sẽ đau
mắt, nên làm đau trước. Có người quen
hỏi cô: “Mắt cô đau ư?” Cô đáp: “Đau! Có
mắt phải đau chứ! Mắt tôi chưa đau, tôi
sợ sau nó sẽ đau, nên tôi làm cho nó đau
trước!” Những người ấy nói: “Chà, mắt
c̣n, dù đau hay không đau có hề chi nhưng, mắt không
c̣n th́ suốt đời đau-khổ măi!”
Phàm-phu ngu-si nghe nói sự
giầu-sang là gốc của sự suy-hoạn, nên không dám
bố-thí, sợ sau được quả-báo nhiều
của báu, lại phải chịu thêm sự khổ-năo. Có
người bảo: “Ông cứ bố-thí, dù sau
được quả-báo khổ hay vui không cần nghĩ
nhưng, nếu không bố-thí sẽ bị nghèo-cùng khổ
quá th́ sao?” Như cô gái kia không nhịn được
sự đau gần lại đem khoét mắt đi
để mang khổ măi măi!
86. CHA GIỮ KHUYÊN (40) CON
Xưa hai cha con một nhà đi
một đường. Giữa đường, bọn
cướp xông ra định bóc-lột. Trên tai
người con có đôi khuyên vàng, người cha sợ
cướp giựt mất, mới lấy tay dứt.
Chặt quá dứt không được, cùng-quẫn
người cha liến chém đầu con đem giấu
một chỗ. Giây-lát bọn cướp đi,
người cha đem đầu lắp lại với
ḿnh, th́ ôi thôi không liền được nữa!
Phàm-phu v́ danh-lợi tạo
mọi tṛ hí-luận, như nói: “Có hai đời, không có hai
đời; có trung-ấm (41), không có trung-ấm; có
tâm-số-pháp (42), không có tâm-số-pháp. Mọi thứ
vọng-tưởng (tưởng càn), không có thực pháp!”
Đến khi người khác đem luận-thuyết
như-pháp phá luận-thuyết ấy, th́ người
ấy lại nói: “Trong luận của tôi không có thuyết
ấy!”
Như thế, người ngu-si
chỉ v́ chút danh-lợi, cố nói dối để làm
mất đạo-quả của bậc Sa-Môn, sau khi
thân-mệnh tan-mất phải sa vào ba đường ác,
khác ǵ người ngu v́ chút danh-lợi nhỏ chém
đầu con vậy!
87. KẺ CƯỚP CHIA
CỦA
Xưa có bọn cướp đi
ăn cướp về, lấy được nhiều
của đem chia cho nhau. Chỉ c̣n vài cái áo Khâm-bà-la (Kambala)
(43) nơi Lộc-giă không được thuần-hảo,
nhiều người cho là của xấu, đem chia cho
người kém nhất. Người được,
bực quá, đem vào thành bán, không ngờ các nhà
trưởng-giả, quí-phái lại trả một giá
rất đắt, nếu tính ra thời một áo này
giá-trị c̣n hơn tất cả tài-vật của cả
bọn. Người ấy thích quá.
Người đời bố-thí
không biết có được quả-báo hay không nhưng,
đến khi được sinh lên cơi trời,
được nhiều sự vui-vẻ, khi đó mới
hối-hận là trước đây ta không bố-thí
nhiều. Áo Khâm-bà-la sau khi được giá đắt
người ấy mới sinh tâm vui-mừng cũng như
sự bố-thí; bố-thí ít được nhiều, lúc
đó mới vui-mừng, hối-hận không làm thêm
nhiều sự lợi-ích nữa!
88. KHỈ NẮM NẮM
ĐẬU
Xưa có con khỉ nắm một
nắm đậu, lỡ rơi một hạt xuống
đất, nó liền bỏ những hạt đậu
trong tay ra, đi t́m nhặt hạt đậu rơi kia.
Hạt đậu rơi chưa t́m được,
những hạt đậu bỏ ra gà vịt mổ ăn
hết.
Phàm-phu tu đạo giải-thoát,
trước hủy một giới không biết sám-hối,
phóng-túng tăng thêm thành bỏ cả. Như con khỉ
đánh rơi một hạt đậu thành mất cả
vậy!
89. ĐƯỢC CON
CHUỘT VÀNG
Xưa người đi
đường được con chuột bằng vàng,
thích quá bỏ vào bọc đi. Đến bên sông,
người ấy cổi áo định qua sông, tức thời
con chuột vàng biến thành con rắn độc.
Người ấy nghĩ: “Thà bị rắn độc
cắn chết, cũng cứ mang đi, chứ không
vứt bỏ” – chắc tâm người ấy
ngầm-cảm là thế nào nó cũng trở lại vàng. – Măi
măi ngồi bên bờ sông, người ấy thấy con
rắn độc biến thành rắn thực, không trở
lại vàng nữa, mới bảo: “Ô, nó thường măi
vậy à!” Nói rồi người ấy cứ liều
bắt con rắn độc bỏ vào bọc, bị
rắn độc cắn chết ngay.
Người ngu ở đời
thấy làm việc thiện được lợi, tâm
họ không có chân-thực, chỉ v́ lợi-dưỡng mà
bám vào thiện-pháp ấy thôi, nên sau khi mất đi họ
phải sa vào các ngả ác, như người bắt
rắn độc bị nó cắn chết vậy!
90. ĐƯỢC TÚI TIỀN
VÀNG
Xưa có người nghèo đi
đường, t́nh-cờ bắt được túi
tiền vàng, mừng quá đổ ra đếm. Đếm
chưa xong, người chủ của túi tiền ấy
đến, người ấy phải trả lại
tất cả. Trả rồi, người ấy ân-hận
là bắt được không đi nhanh đi, c̣n ở
lại đếm, thành tiếc quá!
Người đời gặp
được Phật, Pháp, Tăng là ruộng phúc, không
chăm tu-hành nghiệp-lành, phút-chốc đi sa vào ba
đường ác, khác ǵ người ngu kia phải trả
tiền lại cho chủ cũ mang đi, để ḿnh
hối-tiếc không kịp. việc đời như bài
kệ sau đây:
Hôm nay tu sửa
việc này.
Bao nhiêu việc
khác chất đầy ngày mai!
Đắm say,
biết khổ nào ai?
Vô-thường
vụt đến bên tai chẳng tường!
Bộn-bề bao
việc thế-thường,
Người
quanh-quẩn vẫn trong đường quẩn-quanh.
Ḱa anh tiền
được rành-rành,
Vội-vàng
đếm, đếm để thành tiếc không!
Việc
đời chung một luật chung!
91.
NGHÈO MUỐN BẰNG GIẦU
Xưa có
người nghèo, trong nhà có ít của-cải, trông thấy
nhà đại-phú sang-trọng, ư chỉ muốn bằng
nhưng, không sao bằng được. Người
ấy buồn, định có ít của quăng xuống
sông hết. Hàng xóm thấy bảo: “tài-vật của ông tuy
ít nhưng, nó có thể giúp ông sống được vài
ngày, sao ông lại đem quăng xuống sông?”
Người
ngu tu đạo giải-thoát, thấy được ít
lợi-dưỡng, trong tâm mong-mỏi sao bằng
được các bậc cao-đức, để
được nhiều lợi-dưỡng. Có
ư-tưởng ấy nên thấy những bậc
kỳ-cựu có đức, có tài, học rộng
được nhiều người cung-kính cúng-dàng,
chỉ muốn làm sao bằng được. Không
được, buồn, muốn bỏ đạo. Khác ǵ
người ngu kia muốn bằng nhà giầu, không
bằng, định quăng ít của của ḿnh đi!
92.
TRẺ ĐƯỢC VIÊN THUỐC
Xưa có
người vú già bế đứa trẻ đi
đường, mệt quá nằm ngủ. có một
người đi qua cho đứa trẻ một viên
thuốc hoan-hỷ. Đứa trẻ được viên
thuốc, ham mùi ngon không tưởng ǵ đến những
vật nơi ḿnh nữa, tức thời người kia
cổi hết những kiềng, khóa, ṿng anh-lạc,
quần-áo, vật-dụng... mang đi.
Người
tu đạo giải-thoát ham ở những nơi huyên-náo,
lắm việc tham-cầu chút lợi-dưỡng, bị
giặc phiền-năo cướp mất tất cả ṿng
báu công-đức của giới-luật. Cũng như
đứa trẻ kia tham chút mùi ngon, bị giặc cướp
bóc-lột hết thảy!
93. BÀ
GIÀ BẮT GẤU
Xưa có bà già
nằm dưới gốc cây nghỉ mát, bỗng dưng có
con gấu lại vồ. Bà tránh kịp, chạy ṿng quanh
cây. Con gấu t́m đuổi. Một tay gấu bám cây, một
tay định quơ lấy bà. Bà lanh ư, cấp-thời
giơ tay quàng nắm lấy hai tay gấu, gấu không
cựa-cậy được.
T́nh-cờ bà
trông thấy một người đi qua, bà gọi:
“Ngươi lại đây giết con gấu này với ta,
ta chia thịt cho!” Người kia tin lời bà, chạy ngay
lại giữ con gấu cho bà. Có người giữ
rồi, bà liền bỏ chạy. Người kia sau bị
con gấu làm khốn!
Phàm-phu làm các
bộ luận kỳ-dị, nội-dung không đẹp,
lời văn rườm-rà, nhiễu lỗi. Chưa xong
hoàn-toàn, người ấy chết đi, người sau
xem đem chú-thích, không đạt được ư thêm
khốn-đốn vào ḿnh. Cũng như người
dại-khờ kia thay bà già giữ gấu, bị hại ngay
ḿnh!
94.
LỖ HỔNG MA-NI (44)
Xưa có
người tư-thông với vợ người khác. Trong
lúc ái-ân, người chồng từ ngoài vào biết,
mới đứng ngoài cửa đợi t́nh-địch
ra th́ giết.
Khi ấy,
người vợ bảo với t́nh-nhân: “Chồng em
biết rồi, không có lối ra, ước ǵ bây giờ có
cái lỗ hổng Ma-ni mới có thể thoát ra
được!” T́nh-nhân nói thế, tưởng lầm là
trong buồng có ngọc Ma-ni, tham-tiếc, không biết
để chỗ nào, mới bảo: “Không thấy ngọc
Ma-ni anh quyết không ra đâu!” V́ vậy, trong chốc-lát
bị người chồng kia giết chết.
Phàm-phu cũng
thế. Có người bảo: “Trong sinh-tử,
vô-thường, khổ, không, vô-ngă... cần xa-ĺa
thường-kiến, đoạn-kiến mà ở trong
trung-đạo; qua trung-đạo sẽ được
giải-thoát!” Phàm-phu hiểu lầm bèn t́m trong
thế-giới hữu-biên, vô-biên và nơi chúng-sinh
hữu-ngă, vô-ngă, hoàn-toàn không quán được lư
trung-đạo nào cả, bỗng dưng chết đi do
vô-thường giết hại, phải sa vào ba
đường ác. Khác ǵ người ngu kia đi t́m Ma-ni,
bị người giết hại. (45)
95.
ĐÔI CHIM BỒ-CÂU
Xưa có
đôi chim bồ-câu: - con đực, con mái - cùng ở chung
một tổ. Mỗi mùa thu khi hoa-quả chín hai con đi
công quả về để đầy tổ. Sau quả
khô-héo sụt suống c̣n nửa tổ, con đực
giận, ngờ mắng con mái: “Ta đi lấy quả
vất-vả, mi ở nhà ăn vụng đi c̣n nửa
tổ thế hở?” Con mái đáp: “Em có ăn vụng
đâu, tự quả nó héo sút đi đấy chứ!” Con
đực không tin, giận quá: “Không phải mi ăn
vụng tại sao ít đi, c̣n căi?” Quát rồi, chim
đực lấy mỏ mổ chim mái chết.
Sau ít ngày,
trời mưa to, quả ngấm nước lại nở
ra đầy tổ như cũ. Bấy giờ chim
đực hối-hận: “Nó thực không ăn, ta giết
lầm nó chết rồi!” Chim đực thương-xót,
kêu khóc: “Em ơi, em ở đâu về với anh!!!”
Tâm phàm-phu
điên-đảo, thường ôm-ấp, ham-đắm
dục-lạc, không quán-sát lẽ vô-thường, phạm
vào giới-trọng, sau hối-hận không kịp, chỉ
c̣n biết than-tiếc như con bồ-câu đực kia
vậy!
96.
NÓI DỐI MẮT L̉A
Xưa có
một người thợ làm việc cho nhà vua, không
chịu được khổ-cực, mới nói dối là
mắt bị ḷa. Người thợ khác nghe thấy
thế cũng muốn tự-hoại mắt ḿnh,
để tránh việc khổ nhọc. Có người
bảo: “Sao ngươi lại hủy ḿnh để
chịu sự đau-khổ vậy?”
Phàm-phu v́ chút
danh-dự, lợi-dưỡng, cố nói dối làm
hủy-hoại mất tịnh-giới, chết đi
phải sao vào ba đường ác. Cũng như
người ngu kia v́ chút lợi nhỏ, hoại mắt ḿnh
vậy!
97.
MẤT ÁO LĨNH-ĐIỆP
Xưa có hai
người làm bạn với nhau, một hôm cùng đi trong
khoảng đồng rộng, một người mặc
áo lĩnh-điệp, bị giặc xông ra lột mất,
c̣n một người sợ chạy trốn vào bụi
rậm.
Cổ áo
lĩnh-điệp trước kia người ấy có
giấu một đồng tiền vàng. Người ấy
bảo bọn giặc: “Thưa các ông, áo này chỉ đáng
giá một đồng tiền vàng, nay tôi muốn đem
một đồng tiền vàng chuộc lại áo, các ông có
vui ḷng không?” Bọn giặc hỏi: “Tiền vàng
ngươi để đâu?” Người ấy liền
mở cổ áo lấy tiền vàng ra cho bọn giặc xem
và bảo: “Đây là vàng thực, nếu các ông không tin
lời tôi, các ông đem đến hỏi ông thợ vàng đang
trốn trong bụi rậm kia th́ sẽ rơ!” Thế là
bọn giặc thấy thêm người kia, lại lấy
cả áo. Thành ra người ngu làm mất cả áo lẫn
vàng; tự mất của-cải của ḿnh, lại làm
mất lây đến người khác nữa.
Phàm-phu tu-hành
đạo-phẩm, làm các công-đức, bị giặc
phiền-năo cướp-bóc mất mát thiện pháp, mất
mát công đức. Không những mất lợi-lạc
nơi ḿnh, lại khiến người khác mất cả
đạo-nghiệp, chết đi phải sa vào ba
đường ác, như người ngu kia vậy!
98.
ĐỨA TRẺ THẢ RÙA
Xưa có
đứa trẻ chơi đùa trên bờ ao,
được một con rùa lớn. Ư nó muốn giết
con rùa nhưng, không biết làm sao được, mới
hỏi một người đi qua: “Làm sao giết
được con rùa này ông?” Người ấy bảo: “Em
đem thả nó xuống nước, tức thời
giết được nó!” Đứa trẻ tin lời,
đem thả xuống nước, con rùa được
nước bơi mất.
Kẻ phàm-phu
muốn ǵn-giữ sáu căn: Mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ư để tu các công-đức nhưng,
không biết làm sao mới hỏi người ta: “Làm
nhân-duyên ǵ được giải-thoát?” Những kẻ
ngoại-đạo tà-kiến, ma-vương, bạn ác
bảo: “Ngươi cứ thả lỏng t́nh-ư vào sáu
trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cùng
những dục-vọng... quyết được
giải-thoát!” Người ngu không suy nghĩ kỹ, tin dùng
lời nói ấy, sau khi chết đi phải sa vào ba
đường ác, như đứa trẻ
tin-tưởng, thả rùa mất hút vậy! (46)
99.
TỈNH GIẤC MƠ HOA
Xưa kia khi
đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật
(Grdhrakùta), thành La-duyệt-kỳ (Ràjagrha), trong thành có
một dâm-nữ mà người ta thường gọi là
nàng Liên-Hoa. Nàng có một h́nh dáng đẹp-đẽ, cả
nước không ai sánh kịp. V́ thế, em các
đại-thần ai cũng t́m đến nơi nàng và
đều kính mến nàng như ngọc.
Đột-nhiên
thiện-tâm nàng phát khởi nàng muốn bỏ
thế-sự, đi tu. Nàng t́m đến nơi Phật.
Giữa đường có gịng suối, nàng nghỉ chân
xuống nước. Khi rửa tay, khuôn mắt nàng hiện
xuống nước, nàng trông thấy mặt ḿnh
hồng-hào, sáng-sủa, đầu-tóc xanh-mướt,
h́nh-dánh đẹp-đẽ hơn người, ḷng nàng
thao-thức ân-hận: “Người ta sinh ra đời
được h́nh-thể như vầy ít có, thế mà
nỡ nào ḿnh tự hủy bỏ, đi làm vị nữ
tu-sĩ cho hoài! Ta nên thuận thời, thỏa-măn t́nh riêng
ta đă!” Nghĩ rồi, nàng quay về.
Đức
Phật biết nàng Liên-Hoa đă đến lúc độ
được, Ngài mới hóa làm một người
đàn-bà đẹp tuyệt-trần, c̣n đẹp hơn
nàng Liên-Hoa ngh́n, muôn lần. Người đàn-bà này cũng
đi trên con đường ấy nhưng đi
ngược lại. Giữa lúc đang đi, nàng liên-Hoa
trông thấy người đàn-bà kia, sinh ḷng kính mến.
Nàng liền hỏi người đàn-bà: “Bà từ đâu
lại đây, chồng, con, cha, anh bà ở đâu mà bà
đi một ḿnh không có ai cùng đi vậy?” Bà kia đáp:
“Tôi từ trong thành tới đây, bây giờ tôi muốn
trở về nhà đây ạ!” Bà lại tiếp: “Chúng ta
gặp nhau đây, tuy không quen biết nhưng cũng
như quen, chúng ta lại bờ suối ngồi nghỉ nói
chuyện cho vui đi!” Nàng Liên-Hoa thích quá, trả lời xin
vâng.
Hai
người trở lại bờ suối ngồi, cùng nhau
bày-tỏ tất cả nỗi ḷng u-ẩn cho nhau nghe.
Một lúc, người đàn-bà kia nằm gối lên đầu
gối nàng Liên-Hoa ngủ mất. Và, chỉ trong giây-lát
người đàn-bà kia tắt thở, thây chương hôi
rữa, bụng nứt, vi-trùng ḅ ra lúc-nhúc, răng long, tóc rụng,
thân-thể, tay chân ră-rời. Nàng Liên-Hoa thấy thế, tâm
nàng sợ quá mới nghĩ: “Người đẹp
như thế, bỗng dưng chết đi, thân ta há
được lâu dài! Thôi, ta nên tới chốn Phật
tinh-tiến học đạo là hơn!” Nghĩ rồi,
nàng vùng dậy đi đến chốn Phật.
Đến nơi nàng lễ Phật, bạch Phật
hết mọi sự mà nàng vừa trông thấy.
Đức
Phật dạy: “Người ta có bốn sự không
thể trông-cậy được. Bốn sự ấy là
ǵ? – Một là, trai-trẻ rồi sẽ già. Hai là,
mạnh-khỏe rồi sẽ chết. Ba là, thân-thuộc
tụ-họp rồi sẽ biệt-ly. Bốn là, của
báu tích-tụ rồi sẽ phân-tán. Tiếp đó,
đức Phật nói bài kệ:
Mạnh sao,
đau cũng xa đời!
Trẻ sao, già
đến sắc người cũng suy!
Suôi tay ghi
dấu biệt-ly,
Tấm thân
ngà-ngọc ra ǵ nữa đâu!
B́nh-sinh
nghĩ tưởng dài lâu,
Lỏng buông ham-muốn, mong
cầu sướng vui.
Việc hư đâu biết
ngậm-ngùi?
Sự đời thay đổi
biết lời gần, xa?
Thân nhơ dùng được chi
mà!
Già, đau,
chết-chóc la-cà bên thân.
Một mai
ai-tín bất thần,
Cha, con
thân-thích dễ phần cậy trông?
Nàng Liên-Hoa nghe
pháp vui mừng, tâm-ư cổi-mở, quán thấy tấm thân
như huyễn-hóa, mệnh người thực nhanh-chóng,
chỉ có đạo-đức Niết-Bàn là an-vui lâu dài. Tức
th́ nàng tới trước Phật, bạch: “Lạy
đức Thế-Tôn! Con muốn xuất-gia làm
Tỳ-Khưu-Ni, kính mong đức Thế-Tôn hoan-hỷ
chấp-thuận cho con!” Đức Phật dạy: “Lành
thay!...” Nàng thành vị Tỳ-Khưu-Ni, suy nghĩ chính-quán,
chứng quả A-la-hán.
Mọi
người nơi giảng-đường nghe đức
Phật nói ai cũng vui mừng.
100.
CẢNH SỐNG TRÊN ĐỜI
Khi đức
Phật ở trong vườn Trúc thành La-duyệt-kỳ
(Ràjagrha), một hôm Ngài cùng các đệ-tử nhận
lời thỉnh của thiện-tín vào thành thuyết-pháp.
Thuyết-pháp xong, chiều về giữa đường
Ngài gặp một người chăn trâu, đương
đuổi đàn trâu lớn vào thành. Ngài thấy con nào con
ấy no-béo, lồng-lộn đâm-húc nhau, Ngài liền
đọc bài kệ:
Lăm-tăm
roi nhắc trên tay,
Chăn-nuôi
mong để có ngày thịt, sơi!
Già đi,
chết lại..., chuyển-dời,
Chiếc thân
chăm-chút đợi thời ra đi!
Góp-gom
tài-sản chi-ly,
Dù ai, ai
mặc, suy-vi chẳng từ!
Ngày, đêm
sống tưởng lặng-tờ,
Mệnh-căn
tự-hủy từng giờ không hay!
Cuộc đời trong giấc
ngủ say,
Ao sâu giọt nước, ẩm
đầy bao lâu?
Đức Phật về
đến vườn trúc, rửa chân rồi ngồi vào
ṭa cũ. Tôn-giả A-
Đức Phật bảo: “Này ông
A-nan, ông có trông thấy người chăn trâu đuổi
đàn trâu vào thành không?” Tôn-giả A-
Đức Phật bảo: “Ông
A-Nan, cứ ǵ đàn trâu ấy, người đời
cũng thế! Người đời chỉ chấp chặt
cái “ta”, không biết đến lẽ “vô-thường”,
ham-đắm ngũ-dục, nuôi-nấng thân ḿnh, vui ḷng
thỏa ư lại tàn-hại lẫn nhau; khi vô-thường
oán-kết từ xưa vụt đến, mờ-mịt
không biết ǵ, thời có khác chi đàn trâu kia vậy!”
Trong giảng-đường khi
ấy có hai trăm vị Tỳ-Khưu c̣n vương tính
tham-lam sự cúng-dàng nghe đức Phật nói pháp ấy
tự thẹn, cố-gắng sửa-chữa,
được đầy-đủ thần-thông và
được quả vị A-la-hán.
Mọi người trong
giảng-đường vui, buồn xen lẫn, làm lễ
Phật rồi lui.
Tôi tạo
bộ luận này,
Ḥa-hợp
lời vui cười;
Thêm, bớt
lời chính-thực,
Quán nghĩa
hợp hay không.
Tựa như
thuốc độc đắng,
Ḥa-hợp cùng
thạch-mật;
Thuốc
để phá-hoại bệnh,
Luận này
cũng như vậy.
Đùa-cười
trong chính-pháp,
Như thuốc
độc-dại kia;
Nhưng,
chính-pháp của Phật,
Vẳng,
định soi sáng đời.
Như uống
thuốc thổ ra,
Dùng vị Tô
(47) nhuận thể;
Nay tôi đem
nghĩa ấy,
Tỏ bày
lẽ “tịch-định”.
Như thuốc
A-già-đà, (48)
Dùng lá cây gói,
phong;
Thuốc thoa
chỗ độc rồi,
Lá cây vứt
bỏ đi.
Đùa-cười
như lá bọc,
Thực-nghĩa
nằm ở trong;
Trí-giả dùng
chính-nghĩa,
Đùa-cười
nên bỏ đi! (49)
Chú thích:
(1) Bộ này chính tên là “Bách-Dụ
Kinh”. Nội-dung toàn bộ đều là lời thí-dụ,
ngụ-ư răn dạy những người ngu-si, không
hiểu, để đi thẳng vào đường
hiểu-biết chân-chính, nên nay đổi là
“Phật-học Ngụ-ngôn”.
Bách-Dụ Kinh là cuốn kinh
số 209 (tập 4, trang 543-557) Trong Đại-Tạng-Kinh.
Bộ kinh này chia làm 4 quyển, do ngài
Cầu-Na-Tỳ-Địa (Ấn-Độ) dịch
chữ Phạm ra chữ Hán, trong đời Tiêu-Tề.
Bộ kinh này có vài điểm
khác-biệt: 1/ Phần “Chính tôi được nghe...”
để cuối quyển nhất, chứ không để
đầu kinh như thường-lệ của các kinh. 2/
Dưới đề-mục kinh và bài kệ cuối kinh
lại đề tên “Tôn-giả: Tăng-già-tư-na
soạn” mà theo thông-lệ kết-tập trong các kinh đă
có “Chính tôi được nghe...” thời không có
soạn-giả. 3/ Lẽ ra kinh Bách-Dụ phải
đủ 100 bài thí-dụ, nhưng đây chỉ có 98 bài.
Mặc dầu có những điểm khác-biệt trên
nhưng, trực-nhận nội-dung bộ này toàn là
những lời ngụ-ư răn dạy rất hay, chúng tôi
lược-dịch để cống-hiến
Phật-tử. Bổ-khuyết vào chỗ khác-biệt trên,
chúng tôi đem đoạn “Chính tôi được nghe...” lên
đầu kinh cho hợp; rút 2 bài ở kinh khác thêm vào sau cho
đủ 100 bài và, không chia riêng quyển như cũ
nhưng, có ghi lại nơi chú-thích mỗi khi hết
quyển để tiện bề t́m hiểu (lời
dịch-giả).
(2) Xem kinh Quán-Âm thụ-kư đă
giải.
(3) Dị-học Phạm-chí:
Những người Bà-la-môn có những học thuyết
kỳ lạ, khác đạo Phật.
(4) Ngũ-giời: Năm
điều răn: không sát-sinh, không trộm-cắp, không
tà-dâm, không nói dối và không uống rượu.
(5) Tu-đà-hoàn (Srotàpanna-phala):
Trung-Hoa dịch là “Nhập-lưu, Nghịch-lưu, Dự-lưu”
và có nghĩa là vị tu-hành đi ngược ḍng
sinh-tử, phàm-phu đă được dự vào ḍng
Thánh-đạo. Đây là quả thứ nhất trong 4
quả-vị của Thanh-Văn. Bậc Thanh-Văn tu
Tứ-đế chứng 4 quả là: 1/ Tu-đà-hoàn. 2/
Tư-đà-hàm (Sakràgami), Trung-Hoa dịch là “Nhất-lai”: c̣n
phải một lần sinh Nhân, Thiên. 3/ A-na-hàm (Angàmi),
Trung-Hoa dịch là “Bất-lai”: không phải sinh trong
Dục-giới. 4/ A-la-hán (Arahat), Trung-Hoa dịch là “Vô-sinh”:
không c̣n sinh-tử.
(6) Giai-cấp tu-sĩ Ấn-Độ-giáo. Xem kinh
Niết-Bàn giải rơ.
(7) Đến đây là hết quyển nhất.
(8) Đệ-tử
Phật tu Tứ-đế. Xem chú-giải nơi kinh Quán-Âm
thụ-kư.
(9)
Ngũ-uẩn: C̣n gọi là ngũ-ấm: sắc, thụ,
tưởng, hành, thức, 5 thức này tạo thành
vật-thể.
(10)
Ngũ-dục: 5 món dục vọng của-cải,
sắc-đẹp, danh-vọng, ăn uống, ngủ
nghỉ. Hoặc là: sắc, thanh, hương, vị, xúc; 5
trần-cảnh.
(11) Tu-sĩ.
Xem kinh Niết-Bàn đă giải rơ.
(12) Do-tuần
(Yojana): Số lượng đo-lường của
Ấn-Độ xưa. Mỗi Do-tuần 16 dậm,
mỗi dậm 576 thước tây. Như thế
ước-lượng mỗi Do-tuần chừng 9.216
thước tây.
(13)
Đoạn trên dụ: Người đời bị
nhiều phiền-năo đau-khổ về thân-tâm trong ṿng
sinh-tử. Muốn tránh khỏi, người đời tu
theo Phật-pháp nhưng, v́ cho thân ḿnh quá quí-trọng không
tiến tu được.
(14) 5 phép
thần-thông: Thần-túc, Thiên-nhăn, Thiên-nhĩ, Tha-tâm,
Túc-mệnh. Thêm “Lậu-tận-thông” là 6.
(15) Thiên-nhăn:
Con mắt đắc-đạo trông suốt hết
thảy.
(16) Đầu-đà (Dhùta): Tàu
dịch là “Đẩu-tẩu” có nghĩa là đập
giũ sự tham-trước về ăn, mặc, nơi
ở. Hạnh này chuyên tu về khổ-hạnh.
(17) Tứ-ư-đoạn: Tức là
chính-cần. Xem quyển Bước Đầu Học
Phật giải rơ.
(18) Sám-hối: Hối-lỗi. Xem quyển Bước
Đầu Học Phật đă giải.
(19) Sáu t́nh: Tức 6 căn: mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ư.
(20) Đoạn trên nói: Cần diệt vọng-tâm là
hơn.
(21) Đoạn trên nói: Cần tự-giác,
tự-độ.
(22) Tỳ-xá-xà: Tên một loài
quỉ trên cơi trời Tŕ-Quốc, Trung-Hoa dịch là
“Điên-quỉ” (con quỉ điên-cuồng).
(23) Đến đây hết
quyển thứ 2.
(24) Pháp-thân: Tấm thân chung cùng
trong sự-sự, vật-vật. Xem quyển Bước
Đầu Học Phật giải rơ.
(25) Diêm-la: Gọi đủ là
Diêm-ma-la-xă (Yama-Răja) Trung-Hoa dịch nghĩa là “phọc”
trăng-trói các tội-nhân. Theo Pháp-Uyển Châu-Lâm th́
Diêm-la-vương trước kia là Tỳ-Sa
Quốc-vương đánh nhau với Duy-Đà
Như-Sinh-vương không nổi, tức, thề sẽ
làm Địa-ngục-chúa để trị tội. Và, có 18
người bầy tôi cùng thề phụ-tá, chủ-sự 18
ngục.
(26) Đoạn trên nói: Đă là
“vô-vật” – không có vật ǵ – th́ phải không c̣n có lời
nói của “không”, không c̣n có h́nh-tướng của “không”,
không c̣n có ư-nguyện về “không”, không c̣n hành-động
tạo-tác về “không”, mới là “không”. Như
“giải-thoát”, phải giải-thoát cả cái “thấy”, cái
“biết” của giải-thoát mới là “giải-thoát”.
Nghĩa là không c̣n chút vọng-niệm biểu-lộ ra
lời nói, hành-động!
(27) 14 câu nạn-vấn của
ngoại-đạo hỏi, Phật không đáp v́ không là
sự-thực: 1/ Thế-giới và ta là thường ư?
2/ Thế-giới và ta là vô-thường ư? 3/
Thế-giới và ta cũng là hữu-thường cũng
là vô-thường ư? 4/ Thế-giới và ta là phi
hữu-thường, phi vô-thường ư? 5/ Thế-giới
và ta là hữu-biên ư? 6/ Thế-giới và ta là vô-biên
ư? 8/ Thế-giới và ta là phi-hữu-biên, phi vô-biên
ư? 9/ Sau khi chết có thần-thức đi ư? 10/ Sau
khi chết không có thần-thức đi ư? 11/ Sau khi
chết cũng có thần-thức đi, cũng không có
thần-thức đi ư? 12/ Sau khi chết cũng
chẳng phải có thần-thức đi, cũng chẳng
phải không có thần-thức đi ư? 13/ Đời
sau là thân hay là thần? 14/Thân khác, thần khác ư?
(28) Phật-hội: Nơi tụ-hội nghe Phật
thuyết-pháp.
(29) Đoạn trên nói:
Ngoại-đạo hay có tư-tưởng thiên-lệch
cố-chấp. Chấp mọi pháp là thường c̣n măi măi
không mất, hay chấp mọi pháp chỉ có nhất
thời rồi tan-diệt hẳn. Trái lại,
Phật-học đều hướng về
trung-đạo (đạo-lư trung-dung) không thiên-chấp bên
nào.
(30) Đoạn trên nói: Tâm thức
chúng-sinh luôn luôn chuyển-biến và tương-tục không
phải như ngoại-đạo cho “tâm-thức” là
thường c̣n măi măi không thay đổi, hay cho là
đoạn-diệt hẳn.
(31) Đây hết quyển thứ 3.
(32) Sổ-tức-quán (Ànàpànà) Quán-tưởng bằng
cách đếm hơi thở.
(33) Tỳ-đà-la (Vetala):
Thần-chú làm quỉ nhập vào thây người chết
trở dậy đi giết người.
(34) Quả này tại Ấn-Độ, như quả
đào nhưng không phải đào.
(35) Tẩy-tịnh: hai chữ này
có nhiều ư-nghĩa khác nhau: 1/ Thân-thể bẩn-thỉu
không chịu tắm gội như phái Bà-la-môn tu
khổ-hạnh xưa, nay cần phải tắm rửa cho
sạch-sẽ. 2/ Thân-tâm làm nhiều tội-lỗi, cần
phải gột-rửa cho sạch-sẽ. 3/ Rửa
hậu-môn khi đi đại-tiện (đi tiêu, đi
cầu) cũng gọi là “tẩy-tịnh”.
(36) Bồ-đề (Boddhi): Có
nghĩa là giác-ngộ.
(37) Tam-thừa: Giáo-pháp của
Phật tùy-theo căn-cơ chúng-sinh mà hóa-độ nên có
cao, thấp khác nhau cũng như ba cỗ xe (Tam-thừa)
tùy theo trọng-lượng nhiều, ít mà chuyên-chở. Ba
cổ xe ấy là: Đại-thừa, Trung-thừa,
Tiểu-thừa. Tiểu-thừa: Thanh-Văn tu
Tứ-đế, Trung-thừa: Duyên-Giác tu 12 nhân-duyên,
Đại-thừa: Bồ-tát tu Lục-độ.
(38) Lục-giới: Tức
lục (6) đại: Địa, thủy, hỏa, phong,
không, thức. Xem kinh Duyên-Sinh giảng rơ.
(39) A-tu-la (Asura): Một loài quỷ-thần Trung-Hoa
dịch là “Phi-thiên”.
(40) Khuyên: là vật người ta
dùng đeo tai cho đẹp. Khuyên có nơi c̣n gọi là “Cúc,
hoa, tọng-teng v.v...”
(41) Trung-ấm: Theo
Phật-học, người ta do ngũ (5) ấm: sắc,
thụ, tưởng, hành, thức tụ-họp
cấu-tạo mà thành. Nó c̣n là “sinh”, nó tan là “tử”. Tử
(chết) nhưng không phải mất hẳn, nó theo nhân làm
ra mà đi chịu quả-báo. Trong khi nó chưa đi
chịu báo, thời-gian ấy Phật-học gọi là
“Trung-ấm-thân”.
(42) Tâm-số-pháp: Tức
“Tâm-sở-hữu-pháp” là những tâm phụ-thược vào
tâm-vương trong Duy-Thức-học.
(43) Khâm-bà-la: Tên một thứ áo của
Ấn-Độ. Áo này dệt vừa lông, vừa tơ.
(44) Ma-ni (Mani):
Tên một thứ ngọc. Tàu dịch là “Như-ư”. Ma-ni theo
nhà Tề dịch c̣n có nghĩa là “lỗ hổng ở
dưới nước”
(45) Đoạn trên dụ:
Người tu muốn được giải-thoát,
phải quán-sát lư trung-đạo, nghĩa là quán-sát
đạo-lư trung-dung không thiên-chấp vào “có, không”, không
nghiêng vào “Niết-bàn, sinh-tử”, ... mới được.
Ở đây người ngu không biết quán lư, ṃ-mẫm,
t́m-kiếm trong thế-giới, chúng-sinh “hữu, vô”,
thời chứng-ngộ sao được!
(46) Tới đây là hết 98 bài
thuộc quyển thứ 4 Kinh Bách-Dụ. Để
quy-kết bằng lời Phật cho hoàn-bị bộ kinh,
chúng tôi xin thêm hai bài 99, 100 này mượn trong kinh Pháp-Cú
Thí-Dụ (lời dịch-giả).
(47) Tô là váng sữa. Lấy
sữa ḅ, sữa dê chế làm đồ ăn gọi là
“lạc”, trên món lạc có một từng sữa đóng
đông lại gọi là “Tô”.
(48) A-già-đà-dược (Agada):
Trung-Hoa dịch là “Bất-tử-dược”
(thuốc không chết).
(49) Toàn bài kệ này là phần cuối-cùng của kinh
Bách-Dụ gồm có 98 bài ở trên. Theo giọng bài kệ
và có tên ghi dưới bài kệ thời chính là Tôn-giả:
Tăng-già-tư-na soạn.