Phậ t Giáo -câu trả lời cho NIETZSCHE
Quán Như
( Trích : Chuyển Luân
Online )
Ở Việt
Tuy nhiên không phải
triết gia nào cũng có thiện cảm với Nietzsche.
Bertrand Russell nhạy cảm với chũ nghĩa quốc
xă, nên cho Nietzsche cổ vỏ một thứ triết lư con
người quyền lực, nhằm loại bỏ
những người hoặc chủng loại kém cỏi (như
Quốc Xă đă tiêu diệt Do Thái và thí nghiệm tạo
những con người tuyệt hảo như trong phim The
Boys From Brazil) khỏi mặt địa cầu và chỉ
c̣n lại những con người hoàn hảo theo kiểu
Nietzsche, một con người 'không c̣n t́nh cảm, tàn
nhẫn, gian trá, chỉ chuyên nghĩ tới quyền
lực'. Dĩ nhiên những ngộ nhận đó ngày nay
không c̣n nữa.
Nói tới Nietzsche là
phải nói tới 'đối thủ' của ông,
người mà ông đă khai tử một cách gọn gàng;
'Thượng Đế đă chết'. Thượng Đế
ngày xưa được ưa chuộng bao nhiêu th́ bây
giờ bị lạnh nhạt bấy nhiêu, nhất là ở
Tây Phương. Ngay cả hàng ngũ chăn chiên
cũng không c̣n mấy người tin là Thượng
Đế có thật (ít nhất là Thượng Đế
hữu ngă). Tuỳ Viên báo chí của Tổng Giám Mục
Canterbury (Giáo Trưởng cao nhất của Anh Giáo) đă
tuyên bố trong tờ
Cái
Chết Của Thượng Đế
Nietzsche muốn nói ǵ khi
tuyên bố là Thượng Đế đă chết và c̣n
bảo là tất cả chúng ta là những kẻ đă
giết Ngài?
Xác nhận của
Nietzsche không phải là một xác nhận có tính cách thần
học (nghĩa là ai muốn tin th́ cứ tiếp tục
tin). Nietzsche cũng không đưa lư luận đầy
đủ để chứng minh là Thượng Đế
không hiện diện, mà nói là Ngài chỉ hiện diện
trong tâm trí của con người. Nó chỉ là một
lời kêu cứu trầm thống của triết lư và
văn hoá Tây Phương hiện đại. Nói một cách
khác nó nói lên sự mất mát ḷng tin vào thế giới quan
siêu h́nh cùng với toàn thể hệ thống giá trị
(nhất là các giá trị luân lư) đă được
chấp nhận trong văn hoá và tôn giáo (it refers to the
complete loss of belief in the accepted religious and metaphysical
world view along with the system of values it upholds). Lời tuyên
bố này tiên đoán sự phát hiện của thời
đại hư vô, một thời đại thiếu trù
phú về văn hóa do việc mất mát ḷng tin này. Oái
oăm thay việc mất ḷng tin vào Thượng Đế
mà người Tây Phương xem là tối thượng và
vô giá này, lại là một hệ quả tự nhiên và
hợp luận lư của thế giới quan siêu h́nh và tôn
giáo đă được chấp nhận trong lịch
sử văn hoá Tây Phương.
Tất cả bắt
đầu từ nền tảng tư tưởng của
Socrate và Plato phân chia hai thế giới, bị chia cắt
riêng biệt: một thế giới vô thường,
thực tế và hiện sinh; một thế giới khác
trường tồn, nền tảng của mọi hữu
thể. Chính thế giới Thực Hữu (true Reality) này
mang ư nghĩa cho mọi ư nghĩa và giá trị cho
'đời sống'. Quê nhà đích thực của con
người là thế giới thiêng liêng này, nó giúp cho con
người định hướng đời sống
của ḿnh. Thế giới này cũng cho con người
khả năng dùng lư trí để 'làm hoa tiêu cho linh hồn'
(the pilot of the soul). Trong khi thế giới tự nhiên,
hiện hữu không có một giá trị ǵ, không ư nghĩa
tự tại nào, mà chỉ là một phản ảnh
yếu ớt, một phó bản mờ nhạt của
thế giới 'thực hữu'. Trong nền tảng
thế giới nhị nguyên này, đời sống đích
thực của con người là đời sống đi
t́m thực hữu trường cữu của thế
giới 'bên trên', và mục tiêu của đời sống
cho đến lúc qua đời là theo đuổi con
đường đạt được kiến
thức, thiết lập mối liên hệ với, và
cuối cùng đi vào, thế giới 'trường cữu'
đó. Đó là quê nhà đích thực của con
người. Giá trị nhân sinh cao cả nhất của con
người về mặt tôn giáo, đạo đức,
thẩm mỹ, không thể t́m ở thế giới tự
nhiên này, nhưng chỉ có thể t́m thấy trong một
thế giới đă được siêu nhiên hóa. Thế
giới hiện hữu chỉ qua là thế giới vô
thường, vô nghĩa, vô giá trị và có thể gọi là
thế giới 'bất thiện' (evil). Do đó những đam
mê, ước muốn và mục đích đều vô giá
trị và vô nghĩa. Và những t́nh cảm này phải
được chế ngự bỡi những thiện nhân
(Good man). Trong thế giới Tây Phương, tư
tưởng của Plato đă cung cấp nền
tảng thần học cho Ky Tô Giáo. Như Augustine nói:
'Ky Tô Giáo là tư tưởng Plato của quần chúng'
(Christianity is Platonism for the people). Thế giới thực
hữu trường tồn của Plato trở thành
Vương Quốc của Thượng Đế! Thế
giới này c̣n được nhiều người
'vươn tới' hơn thế giới thuần lư
của triết gia, v́ chỉ cần một điều
kiện duy nhất là Ḷng Tin là có thể về với
nước Chúa! Tuy nhiên đối tượng của ḷng
tin chỉ có thể minh chứng được khi chết
(eschatological verification).
Plato, diễn dịch
tư tưởng Socrate, theo Nietzsche là một bước
ngoặt và là đỉnh cao nhất của lịch sử
thế giới. Mặc dù Ky Tô Giáo tuyên bố là chỉ
cần ḷng tin là được lên thiên đàng, tư
tưởng Plato, hay có thể nói là toàn thể lịch
sử tư tưởng Tây Phương, khuyến khích con
đường theo đuổi trí thức của những
con người có thiên tư. Con đường theo
đuổi tri thức đă định tính và định
hướng cho việc h́nh thành văn hoá Tây Phương
cho đến ngày nay. Ngang trái thay, chính v́ theo đuổi con
đường đi t́m tri thức và sự thật đă
khiến cho nhăn quan thế giới nhị nguyên của Plato
không c̣n đứng vững nữa. Có nghĩa là đến
lúc không c̣n mấy ai tin vào sự hiện hữu của
Thượng Đế. Và việc mất ḷng tin này
đưa đến một thời đại tràn
ngập chủ nghĩa hư vô (nihilism). Việc theo
đuổi đi t́m sự thật khiến người ta
khám phá ra được một chân lư là, không có một chân
lư nào cả, không có cái gọi là thế giới thực
hữu trường tồn theo thị kiến của Plato.
(Phật trong 49 ngày tỉnh tọa cũng không t́m thấy
ǵ khác hơn không có cái ǵ gọi là trường tồn
cả, Tất cả vô thường v́ tất cả là
duyên khởi). Nếu không có thế giới bất biến
trường tồn th́ cũng không có vương quốc
của Thượng Đế và không có cả một
Thượng Đế không có vương quốc! Cái
chết của Thượng Đế có nghĩa là sự
sụp đổ toàn diện của một thế
giới quan, sự giải thích về sự hiện
hữu, cả một hệ thống giá trị,
đạo đức diễn dịch ra từ thế
giới quan này. Tại sao chuyện 'động
trời' như thế có thể xảy ra
được?
Sự kiện này liên
hệ đến toàn thể lịch sử triết lư
và thần học Tây Phương, nhất là sự phát
triển của khoa học hiện đại (khoa học
theo nghĩa của từ ngữ Đức Wissenschaft
gồm cả khoa học chính xác thực nghiệm lẫn
khoa học nhân văn như khoa ngữ văn mà Nietzsche là
một chuyên viên).
Đầu thế kỷ
18 bắt đầu với nhà tư tưởng Ư Vico, các
nhà triết lư đi đào bới lịch sử để
t́m các dấu hiệu có ư nghĩa để giải thích
sự liên tục giữa quá khứ, thời đại
họ đang sống và hướng đi của lịch
sử trong tương lai. Mặc dù là quan điểm khác
nhau, các triết gia này đều nh́n lịch sử qua
lăng kính Plato, tất cả đều kết luận là
lịch sử nhân loại tiến hoá theo một mục
đích có ư nghĩa và mục đích này phản ảnh
những nổ lực và tiềm năng của con
người. Con người và hành động là trung tâm
điểm của vũ trụ và vũ trụ này có
mục đích và được cấu trúc một cách nào
đó để thực hiện những mục
đích nói trên. Nhưng theo Nietzsche, v́ những khám phá
của các khoa học gia, nhất là
Nietzsche dĩ nhiên là không
vui vẻ ǵ khi thấy Thượng Dế chết v́ ông
không chấp nhận chủ nghĩa hư vô. Thượng
Đế được xem như là vô giá trong văn minh
và văn hoá Tây Phương, vốn là nguốn
cỗi ḷng tự hào của con người, và nếu
Ngài (hiểu theo lăng kính của Plato, nền tảng
triết lư và thần học Tây Phương) không c̣n
nữa, tất cả sẽ bị tràn ngập và phá hủy
bởi một thời đại tàn bạo như thú
vật. Trong Những Suy Nghiệm Không Đúng Thời
(Untimely Meditations) Nietzsche cho thấy nỗi lo sợ của
ông:
Lư thuyết cho là giữa
con người và con vật không có ǵ khác nhau- nếu
được truyền bá trong một vài thế hệ
nữa, không ai ngạc nhiên khi thấy con người ch́m
đắm trong ḷng vị kỷ nhỏ nhen, tham lam, tan
vỡ và biến dạng không c̣n là con người nữa.
Thay vào đó, trong tương lai có những hệ thống
cá nhân ích kỷ, nhóm người này bốc lột những
nhóm người khác.
Cái chết của
Thượng Đế và sự phát sinh của chủ
nghĩa hư vô, mặc dù là do kết quả của
một sự duyệt xét thành khẩn về những định
chế mà người Tây Phương tạo dựng ra,
lẽ ra phải đưa đến những ǵ có giá
trị hơn cho nhân loại, trái lại nó tạo ra
một hố thẵm về mặt văn hoá. Sự
sụp đổ của ư niệm Thượng Đế
làm mở ngỏ những sức mạnh tàn hại
khốc liệt cho văn hóa nhân loại. Những ǵ mà chúng
ta tự hào về con người đang bị tàn phá
sụp đổ mà chưa có hệ thống giá trị nào
thay thế.
Tất cả những
hệ thống giá trị là sản phẩm của con
người, do chính con người sáng tạo ra, và nếu
chúng bị hủy bỏ đi, cả vũ trụ
chúng ta đang sống trở thành lạnh lẽo, vô nghĩa.
Con người cảm thấy ḿnh bị lừa dối
trong một thời gian quá dài và tự dưng cảm
thấy hoàn toàn vô vọng v́ mất mát quá lớn này. Tuy
nhiên chưa ai có thể biết chắc là cuộc
đời thực sự vô nghĩa không, hay nó có thể có
ư nghĩa vượt ngoài sự suy nghĩ của con
người. Nietzsche cũng nghĩ như thế và ông ta
bắt đầu đi xây dựng một thế giới
quan mới và một hệ thống giá trị mới
để thay thế cho hệ thống cũ đă bị
sụp đổ. Cái chết của Thượng
Đế đặt lại một câu hỏi căn
bản về ư nghĩa của đời sống và
của con người mà tất cả mọi người
đều phải đi t́m ra câu giải đáp. Nietzsche ví
von điều nầy với một con tàu lại ra
khơi trong một chuyến viễn du mới, một
cuộc hành tŕnh mới.
Mỗi cá nhân có những
tiềm năng chưa hề được vén mở và
khi tiềm năng này được hé mở, đời
sống của họ trở nên vô giá, có ư nghĩa hơn và
làm con người thơa măn không biết tới mức nào mà
lường. Lầm lạc một lần để đi
theo viễn kiến của Plato và Thượng Đế
hữu ngă của Ky Tô Giáo không có nghĩa là tất cả
mọi con đường tiến hóa khác trở thành
những ngỏ cụt, không có nghĩa là không c̣n một con
đường nào khác. Nietzsche dĩ nhiên làm chuyến
viễn du mới, chỉ tiếc là ông chưa đi
được xa để thấy mặt trùng dương,
Đề nghị trả lời của ông khi đối
mặt với chủ nghĩa hư vô, đề nghị
lượng giá lại mọi giá trị chưa đi đến
đâu th́ ông qua đời. Tuy nhiên ông cũng đă
để lại cho chúng ta vài dấu ấn, dù mờ
nhạt. Nietzsche có nhắc tới mối lo sợ của
ông là mọi người trong cơn khủng hoảng
đối mặt với hư vô, có thể t́m về
Phật Giáo như là một niềm an ủi trong hố
thẵm in lặng.
Phật Giáo Qua Lăng Kính Của
Nietzsche
Nietzsche thấy có một
sự tương đồng giữa thời đại
của ông và thời đại của Đức Phật.
Theo Nietzsche Đức Phật cũng thấy hoàng hôn
của những thần tượng như ông ta thấy
Thượng Đế đă chết. Nhưng thay v́ t́m
một con đường mới vén mở những
tiềm năng của con người để
đối phó lại với hư vô, Đức Phật
tạo ra một tôn giáo giúp con người 'thích ứng'
với hư vô một cách 'an lạc'! Đức Phật
dạy những đệ tử cùng thời làm thế nào
để đối diện với sự vô nghĩa
của hữu thể và đời sống, đối
diện với một vũ trụ mà trong đó con
người không có một chỗ đứng đặc
biệt nào hơn những chúng sinh khác, mà vẫn giữ
được an lạc. Đó t́nh trạng mà theo Nietzsche,
Phật Giáo gọi là 'nhập nát bàn'. Mặc dù Đức
Phật đă tránh được một thảm họa do
chuyện Thượng Đế đă chết, tức là
rơi vào t́nh trạng hỗn mang vô tổ chức,
Đức Phật đă không hiểu im lặng của
hố thẵm, cái t́nh trạng tâm lư tuyệt vọng khi
thấy cái thế giới quan mà ḿnh dùng làm nền tảng
của tất cả hệ thống giá trị bị hoàn
toàn sụp đổ. Cái tuyệt vọng của một người
khi thấy là đời sống hoàn toàn không có một ư
nghĩa nào và do đó thế giới ḿnh sống cũng
hoàn toàn không có một giá trị hay ư nghĩa nào. Đức
Phật v́ không hiểu được hố thẵm đó
từ đâu, nên đă chấp nhận hố thẵm
đó như là hiện trạng cuối cùng của
hữu thể. Đức Phật đă t́m cho con
người một mục đích của sự sống,
đó là nát bàn, một liều thuốc cuối cùng, giúp con
ngựi an lạc, vô dục, vô cầu trong đó mọi
khổ đau của trần thế sẽ không c̣n nữa
và cái chết được xem như là niềm an lạc
tối hậu. Do đó Nietzsche xem Phật Giáo là một tôn
giáo cho một nền văn minh đă mệt mơi đến
hồi kết thúc. Mặc dù theo Nietzsche, Đức
Phật đă không siêu việt hóa được cái hố
thẵm hư vô, ông xem Đức Phật như là một
người y sĩ thực sự đă t́m được
phương thuốc cứu chữa cho con bệnh. Không
giống như những tôn giáo khác, Phật Giáo không
hứa hẹn với con người những mục tiêu
giả tưởng, mà chỉ cung cấp những mục
tiêu thực tế. Con đường Phật đạo
đưa tới hạnh phúc thực sự chứ không
phải là một thứ hạnh phúc hứa hẹn hoang
đường. Tuy nhiên Đức Phật không
vượt qua được hố thẵm hư vô và
chỉ làm tăng thêm cái vô nghĩa của một vũ
trụ cứng nhắc, lạnh lẽo và vô nghĩa.
Nietzsche thấy những nhà tư tưởng
đương thời mất niềm tin nơi Ky Tô Giáo
nên bắt đầu thấy Phật Giáo quyến rũ nên
lo sợ là Phật Giáo sẽ lần lần lan tràn qua Âu
Châu. Phật Giáo cung cấp một cách trị liệu cho
tâm trạng thất vọng của thành phần trí thức
Âu Châu và giúp họ đối đầu với hố
thẵm hư vô một cách an lạc.
Giải Pháp Của Nietzsche Để
Đối Đầu Với Hố Thẵm Hư
Vô
Nietzsche đi t́m câu
trả lời cho câu hỏi căn bản: Nếu nguồn
cỗi của chân lư, thế giới tuyệt đối
thường hằng của Plato không có thực, thế giới
hiện sinh vô thường mà chúng ta đang sống th́ sao?
Câu trả lời của Nietzsche, ngạc nhiên thay, không khác
câu trả lời của Phật Giáo Đại Thừa là
bao nhiêu:
Khi chúng ta hủy bỏ thế
giới 'thực' th́ c̣n lại thế giới nào? Có lẽ
là thế giới hiện sinh? NHƯNG KHÔNG! Hủy bỏ
thế giới thường hằng có nghĩa là chúng ta
cũng hủy bỏ luôn thế giới hiện sinh, vô
thường.
Để độc
giả thấy cái nh́n của Nietzsche gần gũi với
Phật Giáo tới mức nào, câu khẳng định
của Đại Thừa có lẽ nên được
nhắc tới đây: Ta Bà tức Tịnh Độ.
Thiền bẻ gẩy cái nh́n nhị nguyên để
đạt tới cái khởi đầu của ṿng khâu Bát
Chánh Đạo: Chánh kiến. Nietzsche cũng thấp
thóang nh́n thấy chính kiến. Cái c̣n lại với chúng ta
chỉ giản dị là 'thế giới', khi thế
giới giao lưu với cuộc đời và được
giải thích qua thị kiến của con người. Theo
tử tưởng của Nietzsche tới đây, chúng ta
không c̣n ngạc nhiên khi thấy Ông đă quá gần gũi
với lư giải duy thức và cuối cùng đến cái mà
Phật xem là chân lư căn bản và tột cùng: duyên
khởi. Ai thấy được duyên khởi tức là
thấy chánh pháp và ai có được chánh kiến về
pháp tức là thấy được lư duyên khởi.
Thế giới được mô tả và định
nghĩa một cách có thể hiểu được: đó
là 'ư chí quyền lực (will to power) chứ không là ǵ khác '
Cái ư niệm 'ư chí quyền lực' của Nietzsche thay
thế cho 'ư niệm' niệm về Thượng
Đế và ư niệm này 'rút ra được từ
thế giới hiện sinh' (nói theo Phật Giáo, thế
giới ở đây và bây giờ). Nhờ cái ư chí quyền
lực này mà thế giới và cuộc đời lại
một lần nữa có ư nghĩa và con người có
được một thị kiến mới, đầy ư
nghĩa về hữu thể hiện sinh và giúp chúng ta
vượt qua hố thẵm hư vô. Qua bờ bên
kia.Yết Đế Yết Đế Ba La Yết Đế.
Làm thế nào Nietzsche đạt
được chánh kiến này?
Theo quan điểm
của Nietzsche, trong toàn thể lịch sử văn hoá Tây
Phương, chỉ có một dân tộc đạt
đến h́nh thức tuyệt hảo này: dân Hy Lạp cổ
đại. Họ là một dân tộc thiên tài 'độc
nhất' trong lịch sử nhân loại bởi v́ họ
đă tạo ra nhiều nhân vật cao cả nhất.
Để thấy thấp thoáng là nhân loại sẽ 'đi
về đâu', Nietzsche trở về với h́nh ảnh
của dân Hy Lạp. Đi t́m nguyên nhân tại sao dân Hy
Lạp có thể tạo ra nhiều h́nh ảnh cao cả
như vậy, Nietzsche khám phá ra là nhờ thái độ
của người Hy Lạp đối với dục
vọng và đam mê (desires and passions; để cho
độc giả có cảm tưởng gần gũi, đó
là thái độ đối với tham và sân). Con
người nh́n thấy những tàn hại ghê gớm
của 'bản tính' con người có thể gây ra, nhưng
khác với Plato, họ không tách con người ra khỏi
bản tính. Họ không có ư định giải thích cái này là
có giá trị hơn cái kia bằng cách dựa vào những
nguồn gốc siêu nhiên 'chỉ có trong trí tưởng
tượng', nhưng họ thấy được
những ǵ cao đẹp nhất ở ngay trong bản tính
con người (trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành
Phật!), ngay trong thế giới ta bà này. Người Hy
Lạp nhận là trong con người có cả những
chủng tử xấu xa và 'vô nhân', nhưng thiên tài
của họ nằm ở chỗ là họ tạo ra
những phương cách đối trị lại
những chủng tử xấu xa đó. Trong tác phẩm
của thi sĩ Hy Lạp, Hesiod, một trong những tính
chất căn bản của con người là xung
đột, tranh chấp mà ông gọi là Eris. Hesiod nhân cách hoá
Eris thành hai ông thần: một ông 'ác' luôn gây chiến tranh và
một ông 'Thiện' luôn là hiệp sĩ khuyên khích mọi
người cạnh tranh (chứ không phải xung
đột) với nhau. Nietzsche phê b́nh đây là điểm
sáng giá nhất trong tư tưởng Hy Lạp.
Điều quan trọng là, 'bản tính' của con
người có thể được uốn nắn không
phải để đưa đến những hành
động chiến tranh, mà khiến mọi người
tranh nhau để hướng thượng thăng hoa.
Người Hy Lạp không có phán đoán 'nhân tâm' là thiện
hay bất thiện, bởi v́ đó chỉ là phản
ảnh thiên nhiên, phi thiện-phi ác. 'Chân tâm' chỉ là
'tự nhiên nhi nhiên'. Tùy con người đi hướng
nào th́ chừng đó mới có thiện ác. Nếu dùng theo
hướng sáng tạo, cạnh tranh con người có
thể thăng hoa và theo đuổi sự tuyệt
hảo, arete. Những bi kịch ngày nay mà mọi
người c̣n thưởng thức như Sophocles, Aeschylus
và Euripides, cũng được sáng tạo từ tinh
thần agon này. Người Hy Lạp biết nghệ
sĩ là người luôn luôn dấn thân trong một
cuộc đấu tranh vói chính cá nhân ḿnh.
Qua những thí dụ
về chủng tử tốt của thi sỉ Hesiod,
người Hy Lạp tạo ra một mẫu mực
đấu tranh (agon) để theo đưổi sự
tuyệt hảo và mẫu mực này đă trở thành câu
trả lời cho hố thẵm hư vô. Eris của Hesiod
đă trở thành ư chí quyền lực của Nietzsche.
Cũng như Eris của Hy lạp, will power này cũng có
thể là chủng tử thiện hay ác. Nhưng cuộc
tranh đấu này, thay v́ tranh đấu với những
người khác nhau, nó là một cuộc tranh đấu
trong chính bản thân con người. Kẻ thù ta đâu có
phải là người. Kẻ thù ta tên nó là gian ác, thù
hận, là tam độc. Khả năng tự chế
dục vọng, si mê Nietzsche gọi là khả năng tự
chế (Self overcoming- Selbstuberwindung). Con đường
tự chế ngự dục vọng-si mê là con
đường vượt qua hố thẵm. Ư chí
quyền lực trong mỗi cá nhân được Nietzsche
đề nghị thay thế cho nổ lực tôn giáo (i.e.
Ky Tô Giáo). Mục tiêu của đời người không
phải là hướng về một thế giới khác, mà
là nổ lực tái tạo cá nhân trên thế giới này để
thăng hoa, đi t́m cái tối hảo (exellence-Ubermensch).
Mục đích tạo ra Ubermensch trở thành ư nghĩa
của cuộc đời.
Khuôn mẫu persuit for
excellence do văn hoá Hy Lạp cung cấp vẫn chưa
đủ trong thế giới hiện nay. Một thị
kiến mới về con người và cuộc đời
nếu muốn được mọi người tin
tưởng và chấp nhận phải khế hợp
với những tiến bộ về khoa học. Tuy nhiên
một thái độ máy móc về khoa học cũng sẽ
đưa con người về hố thẵm hư vô. Cái
nh́n phân tích máy móc không giúp ích ǵ trong việc đi t́m ư
nghĩa của con người và cuộc đời. Khi
đọc tác phẩm Lịch Sử Chủ Nghĩa Duy
Vật (History of Materialism) của Friedrich Lange, Nietzsche t́m ra
một phương tiện để phản bác chủ
nghĩa duy vật máy móc: đó là lư thuyết sinh
động của một toán học gia, Roger Boscovitch.
Vật thể thay v́ chỉ là một khối ù ĺ bất
động, cứng nhắc, được thay thế
bởi puncta, những lực vô h́nh, không định
hướng, trung tâm của lực, mà các khoa học gia
gọi là Những Trung Tâm Lực (Force-centres-Kraftcentren). Cái
mà chúng ta gọi là một khối rắn chắc thật
ra các chùm-lực. Cái mà chúng ta nghĩ là không châm thủng
được, thực ra chỉ là những phản
lực. Tất cả những hiện tượng tự
nhiên từ một vi tử đến con người theo
mô thức này, là tổng hợp của những lực. Con
người cũng tiến hóa như thiên nhiên, dùng
những h́nh ảnh mà chúng ta có về chính bản thân
của ta, là tổng thể của những lực 'bên
trong' chúng ta như nhu cầu, bản năng, t́nh cảm,
đam mê. Ai am hiểu giáo lư Duy Thức đều biết
là 'tư tưởng' và cảm giác chỉ là kết
quả của sự giao lưu giữa tâm vương và
tâm sở và ư thức chỉ là một 'điều hợp
viên', Con người chấp vào ngă hữu v́ nghĩ là
phải có một ngă hữu điều hợp tư
tưởng và t́nh cảm này. Tuy nhiên trong Phật Giáo có
thể có tư tưởng nhưng không có người
suy nghĩ (Thoughts without a thinker!). Nietzsche thấy là
thuyết vật thể sinh động của Boscovitch
phải được bổ khuyết thêm bằng 'ư
chí bên trong' (inner-will), những động lực từ bên
trong khiến chúng ta suy nghĩ hay hành động- và ngay
cả một nguyên tử cũng có một wille zur Match này.
Có thể gọi những động lực tiên khởi
(nisus) này là 'bản năng' thêm vào thuyết khối-
lực của Boscovitch thành Willen-Punktationen hay các
điểm-lực (Will points), Đây là nổ lực
của Nietzsche đi t́m nền tảng khoa học cho tư
tưởng về bản chất nhân loại (nhân tâm-chân
tâm) một nền tảng khoa học. Tất cả
những nhu cầu, bản năng, dục vọng là thành
quả của sự giao tiếp của những lực
trong hiện tượng vật lư. Do đó không có cái
gọi là vật chất, và do đó cũng không có cái
chủ nghĩa duy vật máy móc, nhưng chỉ có những
cuộc tranh chấp giữa những lực, giữa ư chí
này và ư chí khác. Nietzsche do đó tuyên bố 'thế
giới nh́n từ bên trong, thế ǵới được
định nghĩa bằng những tính chất có ư
nghĩa, không có ǵ khác hơn là ư chí quyền lực’.
Dựa trên mô thức các lực sinh động tạo ra
vật chất, ngay cả đất đá, nếu con
người c̣n có một hy vọng nào để t́m
điều ǵ có thể thay thế cho khát khao về tôn giáo
đă bị sụp đổ (Thượng
Đế-thế giới ư niệm của Plato). con
người phải hướng nội để 'làm
việc' với những 'lực' bên trong chúng ta như nhu
cầu, t́nh cảm, đam mê bằng quá tŕnh 'tự chế
ngự' (self-overcoming- Selbstuberwindung). Phật Tử hẳn
ai cũng nhớ lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú:
tự thắng ḿnh mới là chiến thắng lớn
nhất! Nếu Nietzsche sinh ra là một người
Phương Đông, nghiên cứu Phật Giáo bằng
Pali-Sankrit-Hán-Tạng hay cả Việt ngữ, ông khỏi
cần phải lập thuyết dông dài mất th́ giờ,
v́ những điều ông nói là những giáo pháp căn
bản của Đức Phật: Duyên Khởi. Vô minh-tương
đương với cái mà Nietzsche gọi là primitive nisus-
volitional actions và trăm ngàn pháp của tâm. Bắt
đầu từ hành là bắt đầu tạo
nghiệp- nghĩa là từ lúc có will to power. Và lời tuyên
bố sau đây không có khác một chút nào về quan niệm
giải nghiệp của Phật Giáo:
Chúng ra có hoàn toàn tự do
để tái tạo chúng ta và khai mở khả năng
tiềm ẩn mà mỗi người chúng ta đều có. Chỉ
khi nào chúng ta đi theo con đường đó chúng ta
mới có thể thấy đời sống lại có ư
nghĩa và có thể được thỏa măn sâu xa. Chúng ta
sẽ cảm nghiệm chính chúng ta như một cuộc
đời sống động, một cuộc đời
nên sống và có thể sống. (We are free to re-create ourselves
and release the potential that we each have. It is only by following such a
path that we can once find more meaningful and deeply satisfying lives.
We will come to experience ourselves as living life as it should be and can be
lived)
Nói suông chuyện
chuyển nghiệp, tu hành, giải thoát th́ ai cũng nói
được, nhưng làm thế nào để sống
đạo, thực hành con đường giải thoát
mới là chuyện khó. Về điểm này Nietzsche không
giúp ích được ǵ nhiều. Chỉ thấy răi rác
một vài lời khuyên trong các tác phẩm Daybreak, The Wanderer
and His Shadow (Hoài Khanh đă dịch tác phẩm này
trước 75) và The Twilight of the Idols (đă làm cho Lê Tôn
Nghiêm hết tin Chúa), Nietzsche nói là tự chế cũng
giống như một người làm vườn, tỉa
cỏ dại, cắt cành cây, ươm cây...Nietzsche nói:
Huân tập các chủng
tử tâm linh tốt trong mảnh đất mà đam mê
đă được tiết chế là một công việc
khẩn cấp và tức thời (To sow the seeds of good
spiritual work in the soil of the subdued passions is then the immediate urgent
task).
Nietzsche chỉ dơ tay
chỉ mặt trăng, nhưng không nói cho chúng ta biết
bằng cách nào để lên mặt trăng. Chúng ta phải
quay về phi thuyền Phật Giáo.
Ư Chí Quyền Lực Và Vô Minh
Nietzsche đi t́m một
con đường để vượt qua cái hố
thẵm hư vô do sự sụp đổ của cả
nền tảng của tư tưởng Tây Phương,
nhất là tư tưởng độc thần của Ky
Tô Giáo, khiến cho đời sống lại có ư nghĩa.
Hứng khởi từ con đường đi t́m sự
tuyệt hảo của tư tưởng Hy Lạp, sử
dụng lư thuyết về vũ trụ của Boscovitch
để có một nền tảng khoa học và sau đó
thêm vào ư tưởng ư chí quyền lực để tự
thắng t́nh cảm để thăng hoa khiến
người đời và đời người có ư
nghĩa. Phật Giáo chính là con đụ̈ng tâm linh mà Nietzsche
đă khổ tâm t́m kiếm để vượt qua hố
thẵm hư vô. Phật Giáo gọi là đáo bỉ
ngạn, qua bên kia bờ, giải thoát, tịnh độ,
ngộ, tùy pháp môn mà người Phật Tử hành tŕ.
Phật Giáo không phải chỉ muốn cho chúng sinh an
lạc bên bờ này của hư vô. Không không phải là
không mà là có, Không cũng không phải là có, mà là không. Không
cũng không phải là không không, mà cũng không phải là
không không có. Sở dĩ Phật phải dài ḍng v́ sợ
mấy ông Tiến Sĩ PG ở các đại học Tây
Phương 'y kinh giải nghĩa' thành ra Phật
mắc oan ba đời! Kim Dung viết kiếm hiệp 'nói
láo mà chơi nghe láo chơi' nhưng tâm đầy
đạo vị. Ông nói: Viên cũng là Không mà Không cũng là
Không! Chỉ những con khỉ con vượn nào trong
tiến tŕnh của Darwin như 'Ngộ Không', mới theo
pḥ được Tam Tạng. Không phải chỉ là
Đường Tam Tạng của Ngô Thừa Ân mà thôi,
đó c̣n là Sutras của Phật. Và trong Tam Tạng Kinh
Điển Phật nói ǵ? Tự ḿnh thắp đuốc
lên mà đi. Cúng dường chư Tăng th́ cứ cúng
dường chư Tăng, kư ca kư cóp tạo phước
điền th́ cứ kư ca kư cóp để chuyển
nghiệp chừng nào hay chừng đó. Nhưng Huệ
Năng nói trong Pháp Bảo Đàn Kinh: không tu th́ không bao
giờ giải thoát. Nói như Nietzsch không tự chế
th́ không qua được bên kia bờ. Nếu muốn làm
một cuộc hành tŕnh tâm linh như Nietzsch th́ chúng ta
phải dừng lại cái quan niệm cốt lơi nhất của
Đạo Phật; Duyên Khởi. Sở dĩ Phật có
thể đứng dậy khỏi gốc cậy Bồ
Đề là v́ Ngài đă thấy Duyên Khởi. Thấy Duyên
Khởi là thấy Pháp. Và bước đầu duyên
khởi là Vô Minh (trsna- Thirst). Vô Minh không có ǵ khác hơn là
'Will to power' của Nietzsche. Đó là bước đầu
trong quá tŕnh tác nghiệp như Ông đă định
nghĩa: The most primitive form of affect.Từ đó mà sinh ra
những t́nh cảm khác mà Phật Giáo nói rơ: hành, thức,
danh sắc...Vô minh thúc đẩy bản năng, dục
vọng, ham muốn...để đạt đến
mức làm con người ...hài ḷng hơn. Các chủng
tử bất thiện thúc đẩy con người chinh
phục kẻ khác, tàn ác, độc tài, thù hận. Tuy nhiên
nếu được huân tập đúng cách các chủng
tử này trở thành chủng tử Thiện và có thể
biến con người thành từ bi hỷ xă (tứ vô
lượng tâm). Vô minh thúc đẩy con người tham và
sân. Vô minh v́ nghĩ rằng thân ḿnh có thật nên si mê tự
ngă. Và Hoà Thượng Thanh Từ lư giải sở dĩ con
người tham và sân là v́ si, chấp thân này là có thật. Si
là nguổn cỗi của các hành động tác nghiệp
xấu. Nietzsch nhận xét là v́ Will of Power thúc đẩy nên
con người đi t́m hạnh phúc theo những
phương cách mà con người dần dần bị
buộc chặc vào khổ đau và khiến họ trở
nên hung ác, bạo động và tuyệt vọng (will to power
seeks happiness and fulfilment in ways that are inextricably link to pain and
frustration which in turn, create such secondary effects as cruelty, violence
and despair...) Nietzsche nói câu này như một Sa Môn nói pháp, không
có ǵ khác. Khi con người biết tự thắng ḿnh,
biết huân tập những chủng tử thiện, Trsna
vô minh có thể thăng hoa thành một con đường
tâm linh dharma chanda (sublimation- Sublimierung). Chúng ta có thể nh́n
cuộc đời với con mắt khác, từ nhăn thị
chúng sinh, nh́n thấy bổn lai diện mục của ḿnh
và một chân trời mới mở ra cao rộng
đến mức nào, chưa ai có thể biết
được. Đó là điều mà Nietzsche nói là khai
mở tiềm năng mà ai cũng có. Có chánh kiến th́ chúng
ta mới có được những 'chánh' khác. Con
người do đó sống một đời có ư
nghĩa, thoả măn, không c̣n bận tâm về cái
lưới sinh tử nữa. Quan niệm Dharma Chanda là
phương tiện giúp chúng ta đáo bỉ ngạn,
Hố thẵm hư vô đă bị lấp kín. Không ai c̣n
bận tâm về Thượng Đế giả
tưởng, như Nietzsche than phiền, đă lường
gạt nhân loại trong một thời gian quá dài.
Chúng tôi không muốn làm
bận tâm quư Phật Tử về tám vạn bốn ngàn
pháp môn tu hành. Ăn chay, niệm phật, cúng dường,
công quả, góp nhặt công đức, ngổi thiền, xây
chùa, xây viện dưỡng lăo, pháp thí, vác hèo vác gậy làm
ông ác đứng ngoài cổng chùa, biểu t́nh chống
chiến tranh đ̣i hoà b́nh....miễn là quư vị biết
đó là một những phương tiện giải
nghiệp, Miễn là quư Phật Tử biết Phật Giáo
là con đường trung đạo; không phải là con
đường độc thần của Ky Tô Giáo, không
phải là tư tưỏng nhị nguyên của của
Plato, không phải là chủ nghĩa Duy Vật máy móc, hai cái
ư thức hệ đă gây ra máu xương sông núi cho dân
tộc Việt Nam trong một thời gian quá dài. Phật
Giáo không hoàn toàn đồng ư với Mạnh Tử trong cho
bản tính con người là Thiện (Bất Nhẫn Chi
Tâm), cũng không đồng ư hoàn toàn với Tuân Tử cho
con người là cực ác, không đồng ư với Pháp Gia
như Hàn Phi Tử cho luật pháp làm cho con người
không phạm tội, không có đem Thiên Đàng Địa
Ngục để dụ dỗ và dọa nạt ai.
Chủng tử thiện hay ác đều có mặt trong
cuộc đời, trong mỗi người chúng ta. Nó
nằm đây, nằm trong những mỗi ai. Đó là
tâm ca, đạo ca, giải thoát ca. Muốn qua bên kia bờ
th́ phải tự vượt thắng chính chúng ta. Không tu mà
hy vọng giải thoát là chuyện bao giờ có. Huệ
Năng đă nhắc chừng chúng ta như thế. Cái này
có là cái kia có. Pháp môn vô lượng. Nhưng như Nhất
Hạnh nói, có một cánh cửa bao giờ cũng phải
mở rộng. Cánh cửa yêu thương. Quán Như
Viết theo Tỳ Kheo
Sagaramati, thế danh Robert G. Morrison, trong bài God Is Dead- What
Next? in trong Western Buddhist Review, số 1, 1994. Tỳ Kheo tên
đời là Robert Morrison, Ph D, dạy về Phật Giáo
tại Vijrakatu Buddhist Study Centre. Ttác phẩm Phật Giáo Và
Nietzsch của Morrison do