Thöa baïn,

PHẬT GIÁO VÀ TƯ DUY TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT

22.03.2006 - 12:35

 

 

Từ khi du nhập vào nước ta, Phật giáo đă tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử; bởi vậy, nó đă ḥa quyện và tham gia nhào nặn nên văn hóa, tư tưởng, phong tục, tập quán, nếp sống của người Việt; nó đă thấm sâu vào máu thịt, vào tư duy của họ.

Ngày nay, số người cảm t́nh với Phật giáo ngày càng đông; những kinh sách, lớp học, viện nghiên cứu về Phật giáo ngày càng nhiều; vai tṛ, đóng góp của giới tăng ni Phật tử ngày càng có ư nghĩa thiết thực. Ảnh hưởng của Phật giáo đối với xă hội là đáng kể. Vậy dưới góc độ tư duy truyền thống, ảnh hưởng của Phật giáo đối với người Việt ra sao? Nh́n một cách tổng thể trên tầng vĩ mô ta thấy cấu trúc tư duy truyền thống của người Việt bao gồm bốn yếu tố chính: - Cái bản địa : - Nho    - Phật     - Lăo

Sự ḥa quyện bất phân giữa bốn yếu tố này tạo nên cho người Việt truyền thống một quan niệm sống, một lối suy nghĩ tương đối hoàn chỉnh để xuất cũng như sử, hành cũng như tàng. Về h́nh thức, đó là những cái khác nhau, thậm chí có những yếu tố đối lập nhau, nhưng chúng lại thống nhất, ḥa quyện, nhào nặn và tạo nên một cái chỉnh thể, đó là tư duy người Việt. Giữa chúng vô h́nh trung có sự phân công, hợp tác nương tựa, bổ sung cho nhau. Mỗi yếu tố đều có cái mạnh, cái yếu sở trường, sở đoản của ḿnh. Mỗi yếu tố đều xem xét phản ánh những mặt khác nhau của đời sống con người. Nho th́ mạnh về chính trị xă hội: đề cao tam cương, ngũ thường, coi trọng những quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ. Lăo chủ trương xa lánh những ǵ là nhân tạo, quay về bắt chước tự nhiên, sống tự nhiên như nhiên, vô vi đạm bạc. Cả hai đạo đều không hề đả động đến vấn đề sống chết, họa phúc, sướng khổ. Chẳng hạn, Nho cho rằng chưa biết được việc sống th́ làm sao biết được việc chết, giàu sang tại mệnh, phú quư tại trời. C̣n Lăo lại cho rằng sống chết, sướng khổ, họa phúc là những điều tự nhiên. không cần can thiệp để ư v́ trong cái này đă có cái kia và ngược lại cụ thể trong phúc có họa, trong họa có phúc. Những lư giải đó không thỏa măn nhu cầu nhận thức tâm lư của người Việt cổ truyền. Đạo Phật với một hệ thống giáo lư phong phú chặt chẽ, trong đó có những học thuyết có thể giải quyết nhu cầu nhiệm vụ hầu như bỏ trống này. Sự phân công mang tính tự phát do nhu cầu cuộc sống quy định, đă h́nh thành nên một cách tự nhiên tư duy của người Việt truyền thống. Có điều, nếu Nho hơi nghiêng về nhập thế th́ Phật Lăo lại hơi nghiêng về xuất thế. Điều này đă được Mâu Tử nói rơ từ thế kỷ thứ II. Nếu Nho nghiêng về đối nhân xử thế, lăo nghiêng về lối sống th́ Phật nghiêng về triết học, tâm linh. Cái chung của cả ba đạo trên là tu dưỡng đạo đức. Tất nhiên đi sâu th́ việc tu dưỡng này cũng mang những sắc thái khác nhau. Như vậy, nếu xét tư duy người Việt truyền thống trên góc độ lư luận, triết học th́ tỷ trọng tham gia của Phật giáo trong sự tổng hợp trên là lớn hơn, căn bản hơn có hệ thống hơn. Chính v́ vậy mà nó tồn tại lâu dài hơn, bề thế hơn, vững chắc hơn.

Bây giờ ta xem bốn yếu tố trên đan xen, bổ sung, thống nhất với nhau như thế nào? Trước hết, ta thấy học thuyết nhân quả, luân hồi của nhà Phật, không những không cản trở quan niệm linh hồn của người Việt cổ, mà nó c̣n có nhiều điểm tương đồng và ở khía cạnh nào đó, nó đă củng cố và đặt cơ sở cho quan niệm đó. Trong các bản luận, kinh, luật của Phật giáo Việt Nam và trung Quốc cổ ta thấy có cả khái niệm linh hồn, cái mà Phật giáo nguyên thủy Ấn Độ bác bỏ. Ngay quan niệm tam giới, lục đạo của Phật cũng rất gần với quan niệm tam phủ của tín ngưỡng bản địa, quan niệm tam tài của Nho giáo. Sự ḥa quyện giữa tam giáo và tín ngưỡng bản địa đến nỗi rất khó phân biệt cái nào thuộc giáo nào, cái nào là của bản địa. Ngay trên bàn thờ ở một số nơi ta thấy có cả Phật, Tiên, Thánh, Tổ tiên... Trong dân gian, trên bàn thờ của nhiều nhà cũng vậy. Ngay trong một số chùa, nơi được gọi là thánh địa của Phật giáo cũng không c̣n là Phật giáo thuần túy nữa, bởi lẽ có mặt cả thần mây, thần mưa, thần sấm, thần chớp, thần đá, thần hổ, có mặt cả các đức ông, các mẫu v.v… Chính sự tổng hợp bốn yếu tố trên đă tạo nên cho người Việt truyền thống một cấu trúc tư duy tương đối hoàn chỉnh, toàn diện giữa cá nhân và xă hội, tâm linh và thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của đời sống con người trong xă hội Việt Nam cổ truyền. Cũng chính nhờ sự tổng hợp này mà cái bên ngoài biến thành cái bên trong, cái của người biến thành cái của ḿnh. Trong cái tổng hợp tạo nên cấu trúc tư duy truyền thống của người Việt đó, Phật giáo chiếm vị trí không nhỏ. Chính v́ vậy, ảnh hưởng của Phật giáo thông qua sự tham gia của yếu tố Phật giáo vào cấu trúc tư duy truyền thống là cực kỳ sâu sắc. Bây giờ ta hăy phân tích cụ thể, xem những yếu tố nào của Phật giáo tác động lên tư duy của người Việt truyền thống, và chúng tác động ra sao. Trước hết, ta xét đến quan niệm về khổ của Phật giáo. Như trên đă tŕnh bày khổ tiếng Phạn là Dukkha, tiếng Pa li là Duhkha. Nội dung của khổ đế nói rằng đời là khổ, tồn tại là khổ. “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển".
          Chữ Dukkha thực ra được cấu tạo bởi hai từ Du là khó và kha là chịu. Như vậy, nghĩa của Dukkha là khó chịu, bứt rứt, giày ṿ, đau đớn, khổ cực, buồn phiền. Phật cho rằng cái làm cho tâm buồn phiền gọi là khổ. Nghĩa của Dukkha rất rộng, lâu nay ta chỉ nói gọn là khổ, làm cho Phật giáo có vẻ bi quan.
Đánh giá về con người, về tồn tại, mỗi nhà tư tưởng có một cách tiếp cận. Hê ghen cho tồn tại là hợp lư (chính v́ vậy mà sau này C.Mác cho rằng cái ǵ hợp lư nhất định tồn tại, chủ nghĩa cộng sản hợp lư, vậy nhất định nó tồn tại), c̣n đức Phật cho tồn tại là khổ, khắp nơi đều thấy khổ. Vậy phải chăng đây là một tư trào chán đời, chán ghét hiện thực?

Walpola Rahula cho rằng Phật giáo không bi quan, cũng không lạc quan: nếu cần đánh giá nó, cần một tính từ cho nó, th́ tính từ đó là thực tế mới thích hợp. C̣n Kimura Tai ken cho rằng sự chán đời của đức Phật là nhằm tới ánh sáng vĩnh cửu chiếu rọi lư tưởng tối cao, chứ không phải sự chán đời tuyệt vọng. Nó trái ngược hẳn với chủ nghĩa yếm thế (Pessimism). Cái gọi là yếm thế quan của Phật giáo chủ yếu nhằm tới lư tưởng tối cao có tính chất triết học và tôn giáo. Về nội dung của khổ, ta đă phân tích khá kỹ ở phần trên.

Tóm lại dukkha có ba nghĩa chính:

- Nó chỉ sự đau khổ thông thường.

- Nó chỉ sự đau khổ do thay đổi (vô thường) gây nên.

- Nó như là một trạng thái bị quy định.

Nói về đau khổ nhưng cuộc đời của Đức Phật không phải là cuộc đời u buồn, sầu năo như một số người cố tưởng tượng một cách sai lầm. Ngược lại, Ngài cũng như đệ tử đích thực của Ngài có vẻ là những người sung sướng nhất v́ họ không sợ hăi, không lo âu, họ bao giờ cũng tĩnh tâm, thanh thản. Không một đảo lộn nào, không một tai ương nào có thể làm rối họ. Phật không bao giờ u buồn hay sầu thảm. Cứ nh́n lên mặt Ngài lúc nào cũng b́nh tĩnh, thanh thản, luôn mỉm cười, rạng rỡ, hạnh phúc, hài ḷng,... chúng ta sẽ thấy rơ. Thậm chí những người đau khổ đầy trái ngang cứ nh́n lên mặt Ngài cũng cảm thấy nỗi đau khổ của ḿnh có phần được vơi đi. Trong hội hoạ điêu khắc Phật giáo không bao giờ khám phá ở đức Phật một dấu vết đau khổ buồn bă nào. Ngôi chùa không bao giờ tượng trưng cho sự u buồn mà nó tượng trưng cho sự trong sạch. yên tĩnh, thanh thản. Đời là khổ nhưng Phật tử không v́ thế mà u buồn, bực ḿnh, sốt ruột. Một trong những tệ xấu nhất trong cuộc đời, theo Phật giáo, là sự chán ghét hay căm thù. Chán ghét là sự biến thái của sự ác tâm đối với sinh linh đau khổ, nó cũng là đau khổ v́ nó tạo cơ sở cho trạng thái bất hạnh, một hành vi xấu xa. Sốt ruột, bực bội, chán ghét chỉ làm tăng mối u sầu, làm cho hoàn cảnh vốn đă nặng nề càng nặng nề hơn. Chúng ta cần phải tránh những cái đó, hiểu được đau khổ nguyên nhân và cách trừ bỏ đau khổ với tinh thần kiên nhẫn, thông minh, quyết tâm, đầy nghị lực.

Mọi nỗi khổ đều có nguyên nhân của nó. Tự ḿnh làm, tự ḿnh chịu c̣n kêu ca ai, kêu ca nỗi ǵ. Sự thực cái khổ này vừa là để trả quả, vừa là để tạo nhân. Bởi vậy, nó có ư nghĩa và giá trị của nó. Ư nghĩa của nó là ở chỗ làm cho người ta cố gắng vươn lên sống tốt, sống thiện để sau này đỡ gặp lại nó. Giá trị ở chỗ nó là chỗ thử thách con người, trong khổ đau mới thấy rơ phẩm giá con người, thấy rơ sự vươn lên hay gục ngă trước cuộc đời. Không phải ngẫu nhiên mà các vị Bồ tát đều phải trải qua những kiếp người trước đó để thử thách.

Và biết đâu mỗi chúng ta, mỗi hành động, cử chỉ, suy nghĩ của chúng ta cũng đều là nhũng thử thách của tạo hoá để đi tới sự hoàn thiện hơn. Với quan niệm như trên của Phật giáo th́ cái khổ của kiếp người lại có phần thi vị và bi kịch nhân loại đỡ phần chua chát.

Quan niệm, học thuyết về khổ của nhà Phật đă tác dụng, ảnh hưởng lên tư duy người Việt khá sâu đậm, nó làm cho người Việt có sức chịu đựng vô cùng dẻo dai, một đức tính nhẫn nại, bền bỉ, cam chịu. Nếu không có những đức tính như vậy, thử hỏi, sau một ngh́n năm Bắc thuộc, nhất là sau cuộc đàn áp đẫm máu của Mă Viện, liệu dân tộc ta có c̣n tồn tại không? Với hoàn cảnh như vậy, người Do Thái đă phải lang bạt khắp thế giới. Nhưng điều c̣n quan trọng hơn là trong những nỗi khổ của nhà Phật, bằng thực tiễn và sự suy nghĩ của ḿnh, người Việt đă phát hiện ra một nôi khổ bao trùm lớn nhất, cao nhất mà không một nỗi khổ nào có thể sánh được ở xứ sở Việt Nam này, đó là nỗi khổ mất nước. Không có nỗi khổ nào khổ hơn nỗi khổ mất nước. Bởi vậy, trong Phật giáo Việt Nam, đánh giặc cứu nước cũng là Thiền, cũng là một con đường đi đến giác ngộ.

Bây giờ ta xét anh hưởng của quan niệm vô thường trong Phật giáo lên tư duy truyền thống của người Việt như thế nào. Xuất phát từ chỗ cho rằng mọi sự vật hiện tượng là sự kết hợp động của những yếu tố động nên nó không có tự tính, tức không có cái mà nhờ đó có thể gọi nó là nó. Mọi cái đều vô thường (chư hành vô thường), mọi cái đều vô ngă (chư pháp vô ngă). Ngay con người cũng chỉ là sự kết hợp động của những yếu tố động (sắc, thụ, tưởng, hành, thức), bởi vậy, con người cũng là vô ngă. Đă vô ngă đă không có cái ǵ mà nhờ đó tôi có thể được gọi là tôi, ta có thể được gọi là ta, th́ sống với chết, sinh với tử có ư nghĩa ǵ, đó chẳng qua chỉ là đổi thay, hợp tan của ngũ uẩn. Quan niệm này khiến cho tinh thần con người không khiếp sợ, bạc nhược (vô bố úy) trước cái chết.
Quan niệm về nhân quả tác dộng tới tinh thần con người Việt Nam truyền thống đến nỗi câu nói gieo gió gặp băo, nhân nào quả nấy trở thành câu cửa miệng của mỗi người. Nếu không có học thuyết luân hồi, nhân qua của nhà Phật, nếu mọi người dầu cho rằng chết là hết, đời sống chỉ có một lần, từ đó mọi hành động kể cả những hành động độc ác, tham lam, tàn bạo cũng không hề gây hậu quả ǵ sau khi chết, th́ đạo đức sẽ xuống dốc, suy thoái biết đến nhường nào.

Phật giáo là học thuyết về tâm. Người quản lư giỏi nhất là người thu phục dược nhân tâm. Phân tích mỗi công việc của con người, ta thường thấy có ba giai đoạn: 1. Sự chuẩn bị thể hiện dưới dạng những ư tưởng, ư đồ, ư định, suy nghĩ kế hoạch trong đầu; 2. Hành động thực hiện về mặt vật chất những ư đồ trên; 3. Kết quả hành động kéo theo một tâm trạng nào đó. Phật giáo đề cao giai đoạn một, tức tất cả thiện ác đều phụ thuộc vào tâm. Như vậy, Phật giáo ngăn chặn tội ác khi nó c̣n đang ở dưới dạng mầm mống, ngăn chặn từ gốc, từ trong tâm, trong suy nghĩ của mỗi người.
Con người nh́n không có nhiều loại bệnh nhưng đại thể có hai loại bệnh lớn, đó là bệnh về thân (thể xác vật chất) và bệnh về tâm (tinh thần), mặc dù hai cái đó không tách rời nhau. Một trong những phương pháp chữa bệnh về tâm là phải an được cái tâm, và đây là sở trường của Phật giáo.
Phật giáo là một trong những cơ sở quan trọng nếu không muốn nói là quan trọng nhất quy định tính hơi hướng nội trong tư duy của người Việt truyền thống. Trong cuộc sống, họ đề cao cái tâm, sống nghiêng về nội tâm, t́nh cảm. Chả thế mà khái niệm tâm của Phật giáo ở Việt Nam c̣n được thay bằng khái niệm ḷng, bụng, dạ.

Học thuyết duyên khởi của nhà Phật ảnh hưởng lên tư duy truyền thống của người Việt ở chỗ khi xem xét sự vật hiện tượng, người Việt hơi nghiêng về quan hệ. Điều này cũng có mặt hay, mặt dở của nó. Nếu ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy th́ cái khái niệm của Phật giáo chiếm một vị trí không nhỏ trong hệ thống ngôn ngữ Việt Nam. Chính Phật giáo đă làm cho ngôn ngữ nước ta thêm phần phong phú, làm tăng tính chất triết học trong tư duy của người Việt, khiến tư duy của người Việt mang tính khái quát hơn, trừu tượng hơn.

Như vậy, dù ít hay nhiều, dù mờ hay tỏ, tư duy truyền thống của người Việt đều có sự tham gia, đóng góp của Phật giáo. Ở đây ta thấy sự ḥa quyện giữa những nét tư duy của tam giáo và tư duy bản địa tạo nên tư duy của người Việt truyền thống. Theo nghĩa này có thể nói rằng Phật giáo không chỉ ảnh hưởng sâu đậm lên tư duy truyền thống của người Việt, mà nó c̣n góp phần tạo nên tư duy truyền thống của họ.

Đến đây ta đă phân tích sự khúc xạ, ảnh hưởng của Nho Phật đối với con người, văn hoá Việt Nam. Nhưng nghiên cứu triết lư trong văn hoá Việt Nam th́ có một lĩnh vực không thể bỏ qua, đó là triết Việt.

HHL (Theo Triet lư trong VHPD )