
Kính thưa quý Hành
giả Chân ngôn,
Bộ
Tôn Thắng Đà la ni đã được chúng tôi ấn
tống đầy đủ trong Quyển Mật Tạng
Phật Giáo Việt Nam Tập 1 năm 1999.
Tuy
nhiên, khi đọc Bài Nghi quỹ Hành trì Tôn Thắng Đà
La Ni do Cố Hoà Thượng Thích Thiền Tâm soạn thuật
và được truyền lại bởi Cố Thuợng
Toạ Thích Chơn Kiến - vị Tôn Túc khả kính và là
Sư phụ của Thấy Thích nguyên Tạng ở
Australia, là người phụ trách Trang nhà lớn của
Phật giáo: www.quangduc.com
hiện nay.
Theo
lời của Thầy Nguyên Tạng cho biết, Cố
Thượng Toạ đã lấy Nghi quỹ nầy
nầy làm công phu mỗi ngày, mong đem dòng Mật nhũ
làm “phương tiện thiện xảo” để độ
sanh và đóng góp vào sự nghiệp tâm linh của chính mình
nói riêng và của Phật giáo- nói chung.
Cảm
niệm và quí trọng tấm lòng đối với Ân
sư của Thầy Thích Nguyên Tạng- vị tăng tài
trẻ và năng nổ, có hạnh nguyện lớn đem
đạo vào đời để lợi ích cho mọi
người mà chúng tôi được may mắn quen
biết. Chúng tôi xin được đem Nghi quỹ
nầy vào Trang nhà để phổ biến.
Con
xin đê đầu đảnh lễ Giác Linh Cố
Thượng Toạ Thích Chơn Kiến và kính xin Thầy
Thích Nguyên Tạng hoan hỷ cho phép con được làm việc
nầy.
Nếu
những ai hữu duyên và muốn hành trì Chân ngôn Tôn Thắng
Đà La Ni theo Nghi quỹ đã soạn sẳn, có thể
theo đây để miên mật thọ trì.
Cẩn chí,
Cư sĩ Liên Hoa
|
PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG (bài Thần Chú này
được TT Chơn Kiến thọ trì mỗi ngày) (Niệm hương xong, đứng
kiết-ấn Phổ-lễ Chân-ngôn tụng chú và lễ
bái như sau): 1.
Tam-bộ phổ-lễ chân-ngôn : I .
Chí tâm đảnh lễ : II.
Chí tâm đảnh lễ : III.
Chí tâm đảnh lễ : (Ngồi
kiết-già chấp tay tụng chú và đọc bài
kệ-tán như sau) : 2.
Tịnh-Pháp-Giới Chân-ngôn : 3.
Hộ-Thân Chân-ngôn : 4. Như-Ý-Bảo-Châu-Vương
Chân-ngôn : Kệ-tán
: 5.
PHẬT-ĐẢNH TÔN-THẮNG DHÀRANI:
1- Na mô ba ga pha tê 2-
Sạt hoa tát răn lô ki da 3-
Bờ ra di vi ti sắc tra da 4-
Bút đà da ba ga phê tê 5-
Tát đi da tha 6-
Um! Bút rum, bút rum, bút rum 7-
Suýt đà da, suýt đà da 8-
Vi suýt đà da, vi suýt đà da 9-
Á sá ma sá ma 10- Sa
măn tá phạ hoa sát 11- Sa
phả ra na ga ti ga gạ na 12- Xoa
phạ hoa vi suýt đi 13- Á
vi chuân da đu măn 14-
Sạt hoa tát thá ga đá 15-
Sủ ga đa 16-
Phạ ra phạ ca nã 17- A
mi rị tá, bi sá cu 18- Ma
ha muýt dơ ra măn đarabana 19- Um!
Á hạ ra, á hạ ra 20- A
du săn đà ra ni 21-
Suýt đà da, suýt đà da 22- Ga
ga na xoa phạ hoa visuýtđi 23- U
sắc ni sá vi ca da visuýtđi 24- Sá
hạ sa ra, ra sa mi santônitê 25- Sá
ra hoa tát thá ga đa 26- A
hoa lô ki ni 27-
Sạt hoa tát thá ga đa mát tê 28- Sá
tra bá ra mi tá 29- Ba
rị bủ ra ni 30- Na
sá bủ mi bơ ra đi sắc ni tê 31- Sá
ra hoa tát thá ga đa hất rị đà da 32-
Đi sắc sá na 33-
Đi sắc si tê 34- Um!
Muýt đơ ri, muýt đơ ri, ma ha muýt đơ ri 35- Hoa
dí ra ca da 36-
Săn hạ da nã vi suýt đi 37- Sá
ra hoa ca ma, phạ ra na vi suýt đi 38- Ba
ra đu ri ca ti, bi ri vi suýt đi 39-
Bơ ra ti na hoa ra đá da, a dục suýt đi 40-
Sam ma dã, đi sắc sá na, đi sắc si tê 41-
Um!ma ni, ma ni mạ hạ ma ni 42- Á
ma ni, á ma ni 43-
Vĩ ma ni,vĩ ma ni, mạ hạ vĩ ma ni 44- Mát
đi mát đi, mạ hạ mát đi 45- Tát
thá đá, bủ đa 46- Cu
thi vi ri suýt đi 47- Vi
sa phổ ra, bút đi vi suýt đi 48- Um!
Hi hi 49- Dá
ra, dá ra 50-
Vĩ dá ra, vĩ dá ra 51- Sa
ma ra, sa ma ra 52- Sa
phạ ra, sa phạ ra 53- Sá
ra phạ bút đa 54-
Đi sắc sá na 55-
Đi sắc si tê 56-
Suýt đi, suýt đi 57-
Họa di ri, họa di ri, mạ hạ họa di ri 58- Á
họa di ri 59- Hoa
di ra gạ bi 60- Dá
ra gạ bi 61-
Vĩ dá ra gạ bi 62-
Hoạ di ra, rít họa lã gạ bi 63-
Họa di rô, na ga tê 64-
Họa di rô, na bà vê 65-
Họa di ra, sam bà vê 66-
Họa di rô, họa di rị na 67-
Họa di rảm, hoa phạ đô mạ mạ 68- Sá
rị sảm, si ra phạ sát ta phạ năng 69-
Tả ca da, bi ri, vi suýt đi 70-
Sất da hoa phạ, đô mi sát na 71- Sá
ra phạ, ga ti, bi rị suýt đi 72- Sá
ra phạ, tát tha gạ đa, sất da mi 73- Sá
ma sa phạ, sát dăn tu 74-
Sạt hoa tát tha ga đa 75- Sá
ma sá phạ sa, đi sắc si tê 76- Um!
Sất đi da, sất đi da 77- Bút
đi da, bút đi da 78- Vi
bút đi da, vi bút đi da 79-
Bồ dà da, bồ đà da 80- Vi
bồ đà đa, vi bồ đà da 81- Mô
ca da, mô ca da 82- Vi
mô ca da, vi mô ca da 83-
Suýt đà da, suýt đà da 84- Vi
suýt đà da, vi suýt đà da 85- Sa
măn tá, tát bi rị mô ca da 86- Sa
măn đá da, sa mi bi rị suýt đi 87- Sá
ra phạ, tát thá ga đá,sam ma da hất rị đà da 88-
Đi sắc sá na, đi sắc si tê 89- Um!
Muýt đơ ri, muýt đơ ri, mạ hạ muýt
đơ ra 90-
Mạn đà ra bá na 91-
Đi sắc si tê 92- Sóa
ha (Tuỳ
sức tụng nhiều hay ít 7 biến, 21 biến, 49
biến hoặc 108 biến) Tán
: 6.
Quãng-Đại Bất-Không Ma-Ni Phổ-Cúng-Dường
Chân-ngôn : 7.
Tuỳ-Cầu Tâm-Trung-Tâm Chân-ngôn : 8.
Đại-Thắng Phật-Đảnh Chân-ngôn : (Ấn
Hoả-Diệm) Chí
tâm quy mạng lễ : Giải-thoát chủ
thế-giới, Nam mô Hư-Không Công-Đức,
Mục-Tịnh Vô-Cấu, Vi-Trần
Đẳng-Đoan-Chánh, Công-Đức-Tướng,
Quang-Minh-Hoa, Ba-Đầu Ma-Diễm Lưu-Ly Quang-Sắc,
Bảo-Thể-Hương,
Tối-Thượng-Hương,
Diệu-Cúng-Dường, Chủng-Chủng Diệu-Thái
Trang-Nghiêm, Đảnh-Kế Diệu-Tướng
Vô-Lượng Vô-Biên, Nhựt-Nguyệt Quang-Minh,
Nguyện-Lực Trang-Nghiêm, Biến-Hoá Trang-Nghiêm,
Quãng-Đại Trang-Nghiêm, Pháp-Giới Cao-Thắng
Vô-Nhiễm Bảo-Vương
Như-Lai. ( 1 lạy ) Chí
tâm quy mạng lễ : Quang-Thắng Thế-giới,
Thiện-Danh-Xưng Kiết-Tường-Vương
Như-Lai. (1lạy) Chí
tâm quy mạng lễ : Diệu-Bảo Thế-giới,
Bảo-Nguyệt Trí-Nghiêm Quang-Âm Tự-Tại-Vương
Như-Lai. ( 1
lạy ) Chí
tâm quy mạng lễ : Viên-Mãn Hương-Tích
Thế-giới, Kim-Sắc-Bảo-Quang Diệu-Hạnh
Thành-Tựu Như-Lai. ( 1
lạy ) Chí
tâm quy mạng lễ : Vô-Ưu Thế-giới, Vô-Ưu
Tối-Thắng Kiết-Tường Như-Lai. ( 1
lạy ) Chí
tâm quy mạng lễ : Pháp-Tràng Thế-giới, Pháp-Hải-Lôi-Âm
Như-Lai. ( 1 lạy ) Chí
tâm quy mạng lễ : Thiện-Trụ Bảo-Hải
Thế-giới, Pháp-Hải-Thắng-Huệ Du-Hý
Thần-Thông Như-Lai. ( 1
lạy ) Chí
tâm quy mạng lễ : Tịnh-Lưu-Ly Thế-giới,
Dược-Sư Lưu-Ly-Quang Như-Lai.
( 1 lạy ) Chí
tâm quy mạng lễ : Vô-Chướng-Ngại
Thế-giới, Anh-Đà-Ra-Tràng-Tinh-Vương Như-Lai.
( 1 lạy ) Chí
tâm quy mạng lễ : Ái-Lạc Thế-giới,
Phổ-Quang-Minh Công-Đức Trang-Nghiêm Như-Lai.
(1lạy) Chí
tâm quy mạng lễ : Phổ-Nhập Thế-giới,
Thiện-Đấu Chiến-Nan Hàng-Phục Siêu-Việt
Như-Lai. (1lạy) Chí
tâm quy mạng lễ : Diệu-Âm-Minh Thế-giới,
Bảo-Liên-Hoa Thiện-Trụ Sa-La Thọ-Vương
Như-Lai. ( 1 lạy ) (Quỳ
chấp tay niệm Phật hồi-hướng) : Quy
mạng lễ A-Di-Đà Phật
Nay
con trì-chú Lễ-sám niệm Chúng-sanh
vô-biên thề-nguyện độ Con
nguyện lâm-chung dự biết thời Xin
đem công-đức thù-thắng nầy (Đứng
lên xướng lễ) : Chí
tâm đảnh lễ : Chí
tâm đảnh lễ : Chí
tâm đảnh lễ : |
Về
tín ngưỡng cột kinh Phật đỉnh Tôn Thắng
ở Thế kỷ X (Số 1(25)/2004)
Năm 1963, ở Hoa Lư,
đã phát hiện được một cột kinh
Phật do Đinh Liễn, con Đinh Tiên Hoàng, dựng
năm 973. Tác giả bài này đã nghiên cứu cột kinh
đó(1). Năm 1964, phát hiện được cột kinh
thứ hai, tác giả bài này cũng đã nghiên cứu
cột kinh này(2). Năm 1978, lại phát hiện thêm 14
cột kinh tương tự ở Hoa Lư. Trên các cột
kinh này đều có khắc bài Phật đỉnh Tôn
thắng Đà-la-ni (Usnisavijaya dharani). Đây là bài chú
bằng chữ Hán phiên âm tiếng Phạn. 14 cột kinh nói
trên đều không còn nguyên vẹn, nhưng xét những dòng
chữ còn lại thì thấy các minh văn tương
đối giống nhau. Trong đó, có ba cột còn khá nguyên
vẹn, có thể đọc được đầy
đủ các dòng chữ.
Ba cột kinh này khác hai cột được phát
hiện năm 1963-1964 một đoạn quan trọng, cho
ta nhiều thông tin sử liệu. Đoạn này nằm
ngay sau bài Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni nói trên.
Đoạn này trên ba cột cũng có những chỗ khác
nhau. Tôi gọi bản khắc trên ba cột đó là 3A, 3B và
3C.
Sau đây là nguyên văn đoạn đó mà tôi chép
lại từ cột 3A: “Đệ tử Suy thành Thuận
Hóa, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, đặc
tiến Kiểm hiệu Thái sư, thực ấp nhất
vạn hộ, Nam Việt vương Đinh Khuông Liễn,
sở vi vong đệ Đại đức Đính Noa
Tăng Noa bất vi trung hiếu phục sự
thượng phụ cập trưởng huynh, khước
hành ác tâm, vi bội nhược ái khoan dung, huynh hư trước
tạo thứ sở dĩ tổn hại Đại
đức Đính Noa Tăng Noa tính mệnh, Yếu thành gia
quốc vĩnh bá môn phong. Cổ ngôn tranh quan bất
nhượng vị, tiên hạ thủ vi lương, trí
dĩ như tư. Kim nguyện tạo bảo tràng nhất
bách tọa, tiến bạt vong đệ cập tiên vong
hậu một nhất hạ thoát, miễn cánh chấp
tụng. Tiên chúc Đại Thắng Minh hoàng đế,
vĩnh bá thiên
Dịch nghĩa như sau: Đệ tử là Suy thành
Thuận Hóa, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ,
đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư, thực
ấp một vạn hộ, Nam Việt vương Đinh
Khuông Liễn, vì vong đệ là Đại đức
Đính Noa Tăng Noa không làm điều trung hiếu, không
thờ cha và anh, lại có lòng ác, trái với sự yêu
thương và khoan dung, anh không thể bỏ qua, nên đã
làm tổn hại đến tính mệnh của Đại
đức Đính Noa Tăng Noa, để trọn vẹn
tình nhà nghĩa nước. Lời người xưa
rằng đã tranh quan thì không nhường, ra tay
trước mới là hay, đến nỗi ra tình hình
như vậy. Nay nguyện làm 100 cột kinh để cúng
cho vong đệ và những hồn ma của người
chết trước đây và sau này, cầu cho tất
cả giải thoát, không phải tranh giành kiện tụng.
Trước hết là chúc cho Đại Thắng Minh hoàng
đế, mãi mãi làm chủ trời
Ở câu cuối cùng, bản 3B chép: “Tiên chúc Đại
Thắng Minh hoàng đế, vĩnh trấn thiên
Chúng ta biết Đại Thắng Minh hoàng đế là
tên hiệu của vua Đinh Tiên Hoàng. Còn Tĩnh Hải quân
Tiết độ sứ, đặc tiến Kiểm
hiệu Thái sư là tước vua Tống ban cho Đinh
Liễn năm 973 khi Liễn đi sứ Trung Quốc (xem
Tống sử). Theo chức danh trên cột kinh này thì
Đinh Liễn còn có thực ấp 1 vạn hộ. Chúng ta
đã biết rằng thực ấp là một hình thức
ruộng ban cấp vào thời Lý. Như vậy là cột
kinh này ta biết thực ấp đã có từ đời
Đinh.
Theo ba cột kinh này thì Đinh Khuông Liễn đã làm 100
cột kinh như vậy để cầu cho người
em là Đính Noa Tăng Noa đã bị Liễn giết.
Người em này, theo sử ta thì được ghi là
Hạng Lang. Chúng ta cần chú ý là chữ Đính rất
gần với chữ Hạng.
Việc tạo hàng loạt cột kinh khắc Phật
đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni ở Hoa Lư có liên
hệ với tín ngưỡng kinh tràng Phật đỉnh
Tôn thắng Đà-la-ni trong Mật giáo Trung Quốc. Mật
giáo Trung Quốc phổ biến tín ngưỡng cột kinh
Phật đỉnh Tôn thắng vào thế kỉ VIII.
Thời kỳ này, Phật giáo Trung Quốc đã trải
qua giai đoạn Trì Minh giáo (Vidya-yana), bước vào giai
đoạn Chân Ngôn giáo (Mantra-yana) với sự phổ
biến của kinh Đại Nhật Như Lai và bắt
đầu hình thành Mật tông với các Tổ như
Thiện Vô Uý (Subhakarasimha), Kim Cương Trí (Vajrabodhi),
Bất Không (Amoghavajra).
Trong thời kì này, Phật đỉnh là một loại
Phật của Mật giáo bắt đầu
được thờ phụng như Đại Phật
đỉnh, Phật đỉnh luân vương, Kim luân
Phật đỉnh, Xí Thịnh Quang Phật đỉnh.
Về tiếu tượng cũng có tượng Phật
đỉnh, đó là tượng ngồi Kiết già trên tòa
sen, tay trái kết ấn Thiền định, tay phải
kết ấn Hàng ma. Các bài kinh và thần chú liên quan
đến Phật đỉnh Phật cũng
được phiên dịch, tạo thành một loại
hành trì gọi là Phật đỉnh pháp.
Trong các kinh về Phật đỉnh thì kinh Phật
đỉnh Tôn thắng là đặc biệt quan trọng.
Kinh Phật đỉnh Tôn thắng được Phật
- đà - ba - lợi (Buddhapala) đem vào Trung Quốc và
được dịch năm 687 (Đại tạng kinh q.
19, 349). Theo ý kiến của nhiều người thì kinh này
được dịch từ niên hiệu Nghi Phượng
(676-679).
Tôn thắng Phật đỉnh tu du già pháp nghi quỹ
chép: “Tôn thắng Phật đỉnh, cũng có tên là
Trừ chướng Phật đỉnh Luân vương,
ngồi Kiết già trên tòa sen, da trắng, hai tay Thiền
định, trong tay có hoa sen, trên hoa sen đặt Kim
Cương câu. Trong tất cả các Phật đỉnh,
Tôn thắng Phật đỉnh có thể trừ
được tất cả phiền não nghiệp
chướng cho nên gọi là Tôn thắng Phật
đỉnh hay là Trừ chướng Phật đỉnh”.
Vì vậy, năm Đại Lịch 11 (776) vua
Đường là Đại tông đã ra lệnh cho
tăng ni trong toàn quốc, trong một tháng phải
đọc thuộc kinh Phật đỉnh Tôn thắng
Đà-la-ni.
Từ tín ngưỡng Phật đỉnh Tôn thắng,
xuất hiện hình thức sùng bái đặc biệt,
đó là tín ngưỡng Tôn thắng kinh tràng, tức các
cột kinh khắc bài Đà-la-ni Phật đỉnh Tôn
thắng. Trong kinh Tôn thắng Đà-la-ni có viết: “Đem
Đà-la-ni viết lên các tràng, để trên núi cao, hay trên
nhà cao, các chỗ cao, hoặc trong tháp, các tăng ni,
thiện nam tín nữ, thấy các kinh tràng này, hay gần các
kinh tràng, hình các kinh tràng dọi vào người, gió thổi
bay vào người, hay gió thổi bụi tràng vào
người, thì các tội nghiệp sẽ tiêu tan”. Và
phổ biến là dựng các cột kinh bằng đá,
gọi là các Tôn thắng thạch tràng. Ở Trung Quốc
hiện nay, dựa vào các ghi chép, người ta biết
được khoảng 70-80 cột kinh. Tuy có nhiều
loại khác nhau, nhưng nói chung người ta chia làm hai
loại: Loại thứ nhất là cột kinh dựng
để cầu phúc, tu công đức cho chúng sinh. Loại
thứ hai là dựng cho người chết. Người
dựng kinh tràng có thể lấy danh nghĩa cá nhân, tự viện,
gia đình hay quốc gia để lập kinh tràng. Còn có
cột kinh khắc cả tượng của người
đã mất, lại còn có cột kinh có bình đặt xá
lợi, ngoài Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni còn
khắc cả Pháp thân kệ. Những cột kinh này
gọi là Xá Lợi tràng. Như cột kinh ở chùa Long Hưng
Hàng Châu năm 842.
Trên các kinh tràng có một đoạn tự ghi rõ lí do, tên
người lập, gọi là tràng chủ, tên người
cùng dựng và tên người viết chữ. Có những
cột, số người tham gia xây dựng khá đông.
Như vậy, những cột kinh tìm thấy ở Hoa
Lư là biểu hiện một tín ngưỡng của
Mật giáo Trung Quốc. ảnh hưởng của nó
đã lan đến Triều Tiên. Và với những phát
hiện ở Hoa Lư, ta thấy tín ngưỡng này đã
phổ biến ở Việt
Hà Văn Tấn (*)
__________________________
*. GS. Viện Khảo cổ học.
1. Hà Văn Tấn. Từ một cột kinh Phật năm
973 vừa phát hiện ở Hoa Lư -Nghiên cứu Lịch
sử số 76, tháng 7-1965.