PHÁT TÂM BỒ ĐỀ
THEO TINH THẦN KINH HOA NGHIÊM
Bài Luận văn của Tăng
sinh Thích Phước Trí
( Trích nguồn: Đến Từ
Trái Tim )
DÀN BÀI
- Giới
thiệu đề tài.
- Lý do
chọn đề tài.
- Giới
hạn phạm vi đề tài.
1.1.
Giới thiệu khái quát về Kinh Hoa Nghiêm.
1.2.
Ý nghĩa tên Kinh.
1.3.
Nội dung Kinh Hoa Nghiêm.
2.1.
Bồ Đề là gì ?
2.2.
Tâm Bồ Đề là gì ?
2.3.
Phát Tâm Bồ Đề là như thế
nào ?
2.4.
Phát Tâm Bồ Đề theo tinh thần Kinh Hoa
Nghiêm.
1.1.
Thế nào là Tà Phát Tâm Bồ
Đề.
1.1.
Thế nào là Chánh Phát Tâm Bồ
Đề.
1.1.
Nhân duyên Phát Tâm Bồ Đề.
a) Niệm
ân đức sâu dày của Phật mà
Phát Tâm Bồ Đề.
b) Nhớ
công ơn Cha Mẹ mà Phát Tâm Bồ
Đề.
c) Niệm
ân Sư trưởng mà Phát Tâm Bồ
Đề.
d) Niệm
ân Thí chủ mà Phát Tâm Bồ
Đề.
e) Thương
chúng sanh mà Phát Tâm Bồ Đề.
f) Nhớ
nổi khổ sinh tử mà Phát Tâm Bồ
Đề.
g)
Tôn trọng tính linh mà Phát Tâm Bồ
Đề.
h)
Sám hối nghiệp chướng mà Phát
Tâm Bồ Đề.
i)
Cầu vãng sanh Tịnh độ mà Phát
Tâm Bồ Đề.
j) Muốn
cho chính pháp trụ lâu ở thế gian
mà phát tâm Bồ đề.
- Lợi
ích của sự Phát Tâm Bồ Đề.
- Tự kiểm
tra mình và khuyên rộng khắp đại
chúng cùng đồng phát tâm.
I. Xác Định
Ý Nghĩa Đề Tài
Trong
quyển Nhập Bồ Tát hạnh có nói:
“Muốn diệt trừ vô lượng khổ
đau trong ba cỏi, và trừ những nỗi
bất an cho hữu tình, muốn hưởng
được trăm thứ khoái lạc, thì đừng
bao giờ xả bỏ Tâm Bồ Đề. Những
hữu tình đang bị trói buộc trong
ngục sinh tử mà phát Tâm Bồ Đề
chốc lác cũng được gọi là con
của Phật, đáng được trời
người kính lễ. Như hóa chất
luyện vàng, cái thân phàm tục ô
uế sẽ được Tâm Bồ Đề chuyển
hóa thành thân Phật, bảo châu vô
giá. Bởi thế, hãy giữ vững Tâm
Bồ Đề. Bằng con mắt tuệ, đấng
đạo sư của chúng sanh thấy rõ
Tâm Bồ Đề hết sức qúy báu.
Bởi vậy, ai muốn ra khỏi ba cõi hãy
khéo giữ vững Tâm Bồ Đề”.
Có
khi nào chúng ta tự hỏi lòng mình
là làm thế nào để được
thành Phật không ? Phải chăng nhờ
hành đạo Bồ Tát mà thành
Phật. Vậy đạo Bồ Tát làm sao
mà thành được ? Có phải là do
“phát Tâm Bồ Đề”. Vậy Phát
Tâm Bồ Đề là động lực
độc nhất vô nhị của nhân hạnh
Bồ Tát và quả chứng Như Lai. Nếu
không có động lực đó, thì
nhân hành Bồ Tát sẽ không có
một ai hành và quả chứng Như Lai sẽ
không có một ai chứng.
Như
vậy cũng đủ hình dung ra rằng, Phát
Tâm Bồ Đề quan trọng như thế nào
trong Phật Pháp Đại thừa, cũng như
người tu hành theo Kinh Hoa Nghiêm. Là một
hành giả chuyên tu Phật Pháp Đại
thừa mà nói là không cần Phát
Tâm Bồ Đề là không thể
tưởng tượng được. Người
thực sự tu học Đại thừa xưa nay
chưa ai bỏ qua việc Phát Tâm Bồ
Đề. Phật dạy: “Mỗi chúng sanh
đều có khả năng thành Phật”.
Theo Kinh Hoa Nghiêm, điều đó có nghĩa
là mỗi phàm phu đều có tiềm
năng khai mở những tâm thức tiến hóa
nói trên. Rằng sự khai mở ấy bắt
đầu bằng phát khởi Bồ Đề
Tâm và kết thúc bằng viên mãn
Bồ Đề Tâm. Nói cách khác,
chính Bồ Đề Tâm là cốt lỗi
của tất cả mọi tâm thức tiến
hóa. Chính Bồ Đề Tâm là
động lực đẫy kẻ phàm tiến
tới Thánh vị. Bồ Đề Tâm không
những là phương tiện, mà là
bản thể của giác ngộ. Bồ Đề
Tâm vừa là đối tượng
được khai mở, mà cũng vừa là
chủ thể khai mở.
II. Lý do
chọn đề tài
Đạo
Phật lưu hành ở nước ta hằng bao
thế kỷ, ăn sâu vào tiềm thức
của mọi người dân Việt. Không
chỉ là Phật Pháp Đại Thừa, mà
còn là nhất thượng thừa. Hành
giả Phật Pháp nói chung, đúng lý
đều là Bồ Tát và đều
đã Phát Tâm Bồ Đề. Nhưng
nếu hỏi rằng phải chăng đạo hữu
đã Phát Tâm Bồ Đề thì
chắc đại đa số Phật tử sẽ
không biết trả lời ra sao.
Chính vì một
số người đang tu học Phật pháp,
cũng như đa số Phật tử nói chung
chưa rõ Phát Tâm Bồ Đề là như
thế nào, nên không thể thực hiện
Bồ Tát đại hạnh. Vì vậy, Phật
Giáo lâm vào hiện trạng ảm đạm
trời chiều, và đa số nhân quần
xã hội cho rằng Phật Giáo là không
cần thiết cho ngày nay, thậm chí chê bai
là tiêu cực, yếm thế. Thử hỏi
điều đó là một tổn thất to
lớn biết chừng nào cho Đạo Phật.
Người
có tâm với Đạo Phật chúng ta
không thể ngồi nhìn Đạo Phật cứ
thế mà đăm chiêu, không chút
động tâm. Cho nên cần phải dựa
trên tinh thần căn bản của Đức
Phật, nêu cao những đặc chất vì
pháp vì người, làm cho Đạo Phật
hoạt động tích cực trở lại trong
thế giới ngày nay. Vậy, phải làm sao ?
Chỉ có một cách duy nhất là
“Phát Tâm Bồ Đề”, thực
hiện Bồ Tát đại hạnh mới
được. Như Hòa Thượng đã
viết ở phần lược giải Kinh Hoa Nghiêm,
phẩm Phổ Hiền trang 380 như sau: “Theo Phật
hay Phổ Hiền Bồ Tát, Bồ Đề tâm
tức trí huệ là trên hết. Tu cùng
kiếp mà không có Bồ Đề Tâm
chỉ đạo, công phu cũng thành vô
ích. Muốn có trí tụê, chúng ta
phải học, phải suy nghĩ, phải làm và
phải Phát Tâm Bồ Đề mà kinh
thường gọi là tụê học”.
Vì lý do ấy mà con chọn đề
tài: “Phát Tâm Bồ Đề theo tinh
thần Kinh Hoa Nghiêm” này.
Phát
Tâm Bồ Đề tức là lập chí, hun
đúc một tâm ý hướng mình
vào con đường giác ngộ, phát
triển tâm linh đi vào sự khai phát
tiềm năng linh thiêng sẵn có của mỗi
người, vào tất cả những hoạt
động hướng tới Chân, Thiện, Mỹ.
Nhiều khi mình nghĩ: “Tu mấy chục năm
rồi, cần gì phải bàn tới chuyện phát
tâm… Nói chuyện phát tài coi bộ
hấp dẫn hơn !” Thật sự, phát
tâm là chuyện mình cần làm hằng
ngày. Tâm thái hướng về giác
ngộ phải được khơi dậy, hun
đúc, ấp ủ, nuôi dưỡng, không
thể buôn lơi. Khổng Tử nhắc:
“Đạo dã giả, bất khả tu du ly
dã !” Nghĩa là đạo thì chẳng
thể tạm rời, dù trong thoáng chốc.
Đạo tức là Tâm Bồ Đề vậy.
Có
thể lúc đầu, sự phát tâm chỉ
là một ý tưởng nho nhỏ. Nhưng khi
ý tưởng ấy dấy động lên
một cuộc cách mạng về cái nhìn,
về nhân sinh quan và vũ trụ quan, về
nhận thức, về giá trị của cuộc
sống và ý nghĩa đời mình….
thì ý tưởng ấy chắc chắn mở ra
một tâm thái rộng rãi, dẫn ta tới
một ngưỡng cữa tâm linh cao hơn, sáng
hơn; mà một khi đã bước qua cửa
ấy rồi, cuộc đời mình hoàn
toàn đổi thay, không còn nhìn cạn
hẹp như xưa nữa. Đức Phật gọi
động cơ thúc đấy ta vào con
đường tiến hóa ấy là Phát
Tâm Bồ Đề.
III. Giới
hạn phạm vi đề tài
Như
chúng ta đã biết, thế giới ngày nay
có nhiều biến động. Xã hội
phát triển theo chiều hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, người
người lo toan tất bật với cuộc sống,
quên mất bản tâm của mình.
Trước tình hình đó, những
người con Phật chúng ta cần phải
phát đại Bồ Đề Tâm. Không
chỉ vì Đạo Phật suy vi mà Phát
Tâm Bồ Đề, mà chính là vi
phải Phát Tâm Bồ Đề để cứu
khổ nhân loại. Vì lẽ đó, là một
tín đồ Phật Giáo, việc Phát
Tâm Bồ Đề là không thể trì
hoãn. Đại cương Kinh Hoa Nghiêm tác
giả Thích Hoằng Trường có viết:
“Quên Phát Bồ Đề Tâm, làm
mọi thiện pháp, đó là ma
nghiệp”. Điểm đặc sắc của Kinh
Hoa Nghiêm là thấy được khả năng
tiềm tàng vô song của mỗi chúng sinh.
Rằng mình có khả năng làm khô
biển nghiệp, siêu thoát càn khôn,
nắm trọn vũ trụ trong lòng bàn tay.
Chỉ cần phát triển Bồ Đề Tâm
thì bao ác nghiệp sẽ tan rã, bao công
đức thành tựu, bao việc bất khả
tư nghì tự hiển hiện. Để bắt
đầu sự hiển hiện ấy, Kinh Hoa Nghiêm
dạy ta trước hết phải sửa đổi
cái nhìn: “Hãy thức tỉnh khỏi
cơn mê nghĩ về một cuộc sống mà
dòng đời mãi trôi, ngày lại
ngày ta chẳng ý thức nó trôi về
đâu” . Hãy làm cách mạng trong
nội tâm; đặt cho mình một sứ
mạng cao cả. Đừng chờ Phật, Bồ
Tát hay một vị trời nào đó
hiện ra chỉ bảo, tuyên bố đặt
định sứ mạng giùm mình. Đời mình,
mình phải tự sáng tạo, đừng
chờ ai sáng tạo giúp mình.
Phát
Tâm Bồ Đề quyết không phải là
việc bình thường mà cực kỳ
hiếm có rất khó đạt được.
Một hành giả Phật Pháp, nếu
đã thực sự Phát Tâm Bồ Đề
thì địa vị của người đó
trong Phật Pháp sẽ rất cao cả, ngay cả
công đức mà người đó có
được cũng sẽ rất là rộng
lớn. Bởi vì người Phát Tâm Bồ
Đề, ngay lúc đó đã có
thể được tôn xưng là Bồ
Tát. Bồ Tát sở dĩ trở thành
Bồ Tát chính là ở chổ đã
Phát Tâm Bồ Đề. Người đã
Phát Tâm Bồ Đề, tuy hãy còn
là một phàm phu nhưng cũng đã
không còn là phàm phu bình thường
nữa, mà đã trở thành một vị
phàm phu Bồ Tát rồi. Có điều
là, việc nảy sinh ra tâm Bồ Đề
cố nhiên là cực kỳ khó, nhưng lai
rất dễ thoái chuyển. Một người
đã Phát Tâm Bồ Đề, nếu
không chịu được những gay go phức
tạp, mà một khi đã để mất
đi cái tâm Bồ Đề, thì cái
tư cách Bồ Tát của người
đó cũng sẽ vì vậy mà mất theo.
Vì lẽ đó, là Bồ Tát hay
không phải là Bồ Tát, mấu chốt quan
trọng nhất không ở đâu khác,
mà hoàn toàn quyết định ở chổ
đã Phát Tâm Bồ Đề chưa ?
Có thể vĩnh hằng giữ lấy, không
để mất cái tâm Bồ Đề ấy
hay không ?
“Phát
Tâm Bồ Đề theo tinh thần Kinh Hoa
Nghiêm” là một công trình nghiên
cứu tương đối khó khăn và
vất vả. Ngoài những khó khăn về
sự bất nhất trong một số kinh, trong các
tài liệu nghiên cứu, thì vấn
đề then chốt chính yếu là muốn
mọi người cùng đồng phát tâm:
“Cầu đạo giải thoát, hướng
đến Phật qủa, làm lợi ích
chúng sanh”. Trong kinh Vô Tận Ý, Đức
Phật dạy chúng ta: “Nếu không vì
hóa độ chúng sanh, ta không Phát
Tâm Bồ Đề này”. Cho nên Phát
Tâm Bồ Đề không chỉ là để
hy vọng sau này mình sẽ thành Phật,
mà quan trọng hơn vẫn là để ngay
bây giờ có thể hóa độ chúng
sanh, thâm nhập xã hội, tiếp cận
nhân quần, tùy phận, tùy sức mà
mở lối cho chúng sanh ra khỏi đường
mê. Nói theo cách nói thông thường,
Phát Tâm Bồ Đề có hai mục
tiêu: Hướng lên thành Phật là
mục tiêu hàng đầu; Hướng xuống
hóa độ chúng sanh là mục tiêu
thứ 2 mà người xuất gia cũng như
những người con Phật có tâm hạnh
Bồ tát cần phải thực hành.
Để
trình bày đề tài trên, có
rất nhiều vấn đề để thảo
luận, bàn bạc, song phạm vi giới hạn
của bản luận văn này chỉ xin sơ
lược đôi nét về các vấn
đề liên quan đến “Phát Tâm
Bồ Đề” được bàn đến
dưới đây:
- Giới
thiệu khái quát về Kinh Hoa Nghiêm, Ý
nghĩa tên kinh, nội dung kinh.
- Trình
bài - Giải thích đề tài - Bồ
Đề – Tâm Bồ Đề - Phát Tâm
Bồ Đề.
- Phát
Tâm Bồ Đề theo tinh thần Kinh Hoa Nghiêm.
- Thế
nào là tà Phát Tâm Bồ Đề
và thế nào là chân chánh Phát
Tâm Bồ Đề.
- Nhân
duyên Phát Tâm Bồ Đề.
- Phương
pháp - khuyên rộng khắp đại chúng
cùng đồng phát tâm.
- Lợi
ích của sự Phát Tâm Bồ Đề.
B.
NỘI DUNG
Chương 1: GIỚI
THIỆU KHÁI QUÁT VỀ KINH HOA NGHIÊM
1.1. Giới
thiệu Kinh
Kinh
Hoa Nghiêm là một kinh đồ sộ và
vĩ đại nhất trong Phật Giáo đại
thừa. Bộ kinh được thuyết trong 21
ngày, sau khi đức Thích Ca Mâu Ni thành
chánh giác dưới cội Bồ Đề. Kinh
diễn tả cảnh nội chứng bất tư
nghì của Đức Phật. Qua bộ kinh,
Đức Phật, bậc giác ngộ chân lý
tối thượng, hiển bày một nhân sinh
quan và vũ trụ quan thâm quảng, chẳng
hạn cuộc bởi thời gian, không gian và
phạm vị nhỏ bé của cá thể hay
văn hóa.
Không
những bộ kinh có hình thức đồ
sộ: 80 cuốn, trăm vạn chữ, mà nội
dung của nó cũng vĩ đại: bao hàm, dung
nạp tất cả mọi tư tưởng của
Đại thừa Phật Giáo. Bởi vậy, Tổ
Sư xưa có nói: “Am hiểu Kinh Hoa
Nghiêm là am hiểu tất cả mọi tông
phái Phật Giáo. Am hiểu Kinh Hoa Nghiêm
là am hiểu con đường tu Bồ Tát
Đạo, thành Phật độ sanh. Kinh Pháp
Hoa là vua của các kinh. Còn Kinh Hoa Nghiêm
là vua của tất cả vua”.
Kinh
này là đỉnh cao trí huệ của
văn học Phật Giáo. Nó không những
chỉ thẳng bản tánh Phật của mỗi
người, nó còn chỉ ra con đường
viên mãn đạo Bồ Tát. Theo đó,
giác ngộ không phải là giai đoạn
chót của đường tu mà là một
điểm nhỏ trong qúa trình tu hành
độ sanh, thực hành hạnh nguyện của
Đức Phổ Hiền. Bao nhiêu quả vị tu
chứng chỉ là phương tiện mà
thực chất vốn không, bao nhiêu dục
vọng tự khô kiệt vì thể tánh
chân như luôn hiển hiện.
Kinh
này tiếng Phạn gọi là Avatamsaka Sutra.
Từng phần của bộ kinh được dịch
ra tiếng Hoa vào khoảng thể kỷ thứ hai
công nguyên, và công trình phiên
dịch được xúc tiến cả mấy
trăm năm. Trong khoảng thời gian ấy, có
hơn 30 bản dịch từng phần của kinh,
và rất nhiều dịch giả biên soạn, tái
dịch những tác phẩm cũ. Vô số
sớ giải và án văn có liên hệ
tới Kinh Hoa Nghiêm được sáng tác.
Cuối cùng vào khoảng thể kỷ thứ
bảy thì kinh được hoàn thiện. Ba
bản dịch chính của kinh là bản gồm
có 60 cuốn, do Ngài Budhabhadra (359-429) dịch,
và bản gồm 80 cuốn, do Ngài Shikshananda
(652-710) dịch và bản 40 cuốn của Ngài
Prajna dịch. Bản Hoa Nghiêm 80 cuốn thông
dụng và hoàn thiện hơn vì
được dịch từ bản chính văn
tương đối đầy đủ nhất.
Riêng
Hòa Thượng chủ nhiệm bộ môn có
viết trong “Lược giải Kinh Hoa Nghiêm”
trang 7-9 như sau:
Kinh
Hoa Nghiêm có 3 bộ: Bộ thứ nhất gọi
là đại Hoa Nghiêm do Pháp Thân Tỳ
Lô Giá Na Chuyển. Bộ thứ hai là Trung Hoa
Nghiêm do Báo thân Lô Xá Na Chuyển
và bộ thứ ba do Ứng thân Thích Ca
Mâu Ni Phật thuyết. Như vậy, Kinh Hoa Nghiêm
có cái nhìn về Đức Phật khác
hơn các hệ tư tưởng khác và
đương nhiên cũng khác hơn các
hệ tư tưởng khác và đương
nhiên cũng khác với lịch sử thông
thường mà chúng ta học.
Cả
3 bộ kinh này đều ở cung rồng Ta Kiệt
La. Nhưng hai bộ dại kinh và trung kinh quá
đồ sộ, không thể mang về, nên
ngài Long Thọ Bồ Tát chỉ thỉnh
được bộ Tiểu Hoa Nghiêm gồm có
100.000 bài kệ. Và mang về nhân gian.
Ngài lọc lại, chỉ còn một nữa
là 45.000 bài kệ.
Bộ
tiểu Hoa Nghiêm do ngài Long Thọ đem về,
rồi truyền sang Trung Hoa, được dịch ra
tiếng Trung Hoa, còn lại ngày nay 2 bộ.
Bộ Hoa Nghiêm 60 quyển do Ngài Giác Hiền
dịch đời Tấn và bộ 80 quyển
dịch ở đời Đường, dưới
sự bảo trở của Tắc Thiên Hoàng
Đế, quen gọi là Võ Hậu.
Bộ
Kinh Hoa Nghiêm chúng ta học chủ yếu
nương theo bộ kinh đời Đường. Kinh
Hoa Nghiêm do Báo thân viên mãn Lô
Xá Na và kinh do Pháp thân Tỳ Lô
Giá Na Phật chuyển thì chúng ta không
thấy được Báo thân và Pháp
thân Phật, nên không thể nghe, không
thể đọc và không thể hiểu
được.
Hiểu
Kinh Hoa Nghiêm là từ văn tự đi vào
tư duy, vào thiền định, phát sinh
được trí tụê và dùng
trí tụê quán sát mọi sự, mọi
vật. Kinh Hoa Nghiêm dẫn chúng ta vào
pháp giới hay nhìn thế giới chân
thật. Và biết được việc ở
dạng chân thật, thì ta không còn
lỗi lầm trên sinh hoạt hiện tượng
của cuộc đời. Kinh Hoa Nghiêm muốn dạy
ta cốt lỗi ấy.
Kinh
Hoa Nghiêm phát xuất từ Ấn Độ,
nhưng được phát triển mạnh ở
Trung Quốc, Nhật Bản. Thật vậy, theo sự
nghiên cứu, Kinh Hoa Nghiêm chỉ còn tìm
thấy rải rác trong vài tác phẩm ở
Ấn Độ. Đó là Bộ Đại
Trí Độ luận của ngài Long Thọ
có dẫn dụng Kinh Hoa Nghiêm và những
tác phẩm chú sớ như Thập Trụ
Tỳ Bà Sa Luận, hoặc Thập Địa Kinh
Luận giải thích về hai phẩm: Thập
Trụ, Thập Địa của kinh. Như vậy,
chỉ có một phần nhỏ của kinh
được truyền thừa, còn toàn bộ Kinh
Hoa Nghiêm không có.
Tuy
nhiên, về sau, Kinh Hoa Nghiêm được
truyền sang Trung Quốc có 3 bộ, nhưng
đều phát xuất từ nước Vu
Điền của Trung Á (ngày nay thuộc khu
tự tự của Trung Quốc). Kinh Hoa Nghiêm mang
về Trường An, đến đời Tấn
thì ngài Phật Đà Bạt Đào La
(Giác Hiền) là người đầu tiên
dịch sang tiếng Trung Quốc bộ Lục Thập Hoa
Nghiêm, gồm 60 quyển, thường gọi là
bộ cựu dịch. Cách 200 năm sau, đến
đời Đường, Ngài Thật Xoa Nan
Đà dịch, chia thành 80 quyển, gọi
là Bát Thập Hoa Nghiêm hay bộ tân
dịch. Và cũng ở đời Đường,
ngài Bát Nhã dịch riêng phẩm Nhập
Pháp Giới, gọi là Tứ Thập Hoa
Nghiêm gồi 40 quyển.
Kinh
Hoa Nghiêm phát triển mạnh ở Trung Quốc,
tiến đến thành lập Tông Hoa Nghiêm.
Sơ Tổ của Tông này là ngài
Đỗ Thuận (557-640), nhưng đến ngài
Trí Nghiêm (602-668) là nhị Tổ mới
chính thức thành lập Tông Hoa Nghiêm.
Và Tổ thứ ba của Tông này rất
nỗi tiếng, đó là ngài Pháp
Tạng (Hiền Thủ, 643-712). Phải nói là
đến thời của ngài Phát Tạng
mới luận giải Kinh Hoa Nghiêm và
giảng kinh này cho Tắc Thiên hoàng
hậu. Ngài Pháp Tạng lý giải theo
bộ bát thập Hoa Nghiêm. Ngài giảng
giải đầy đủ hơn, vì đã
tổng hợp được hai hệ tư tưởng
Bát Nhã và Duy Thức của Sơ Tổ
và Nhị Tổ, kết hợp thành bộ Hoa
Nghiêm sớ. Đây là cốt lõi của
Tông Hoa Nghiêm, làm cho Phật pháp thịnh ở
đời này.
Tóm
lại, Kinh Hoa Nghiêm phát xuất từ Ấn
Độ, nhưng vì qúa cao siêu, hiếm
người tiếp thu được và tất
nhiên việc phát triển càng khó hơn.
Phải đợi đến khi truyền sang Trung Quốc
hay Nhật Bản và phải gặp những vị
vua chúa có phước báo và quyền
thế phát tâm mới đủ điều
kiện hổ trợ cho công việc phiên dịch,
truyền bá kinh, cũng như xây dựng
chùa chiền, đúc tượng được
thành công.
Riêng
ở Việt
1.2. Ý
Nghĩa Tên Kinh
Tên
kinh toàn bộ là: “Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm”, gọi tắt là
Hoa Nghiêm. Nói vắng tắt, ý nghĩa
tên kinh là ẩn dụ về pháp giới,
pháp giới tức là chân tâm. Pháp
giới là cảnh giới vô sai biệt, trong
đó bao hàm mọi cảnh giới của
thánh và phàm, của vũ trụ và
vạn tượng. Đặc tính này bao gồm
lý sự, thể, tướng, dụng nhân
quả của pháp giới. Cũng như hoa sen (trong
đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa) là ẩn
dụ của chân tâm, Hoa Nghiêm là ẩn
dụ của pháp giới. Nếu phân tích
tên kinh từng chữ thì:
Đại:
là chỉ thể tánh bao la vô cùng tận
của pháp giới, không sao có thể đo
đạc trắc lượng được biên
cương của pháp giới vô hình, ngay
như vũ trụ cũng chỉ là một
điểm trong pháp giới.
Phương:
Nghĩa là phép tắc, nguyên lý, chân
lý, pháp bất biến của pháp giới.
Những chân lý này lúc nào cũng
hiển nhiên, đúng đắn, chân
chính không lệch lạc. Thí dụ như
lý nhân qủa, lý nhân duyên, nghiệp
báo, lý luân hồi. Chân lý chính
là tướng trạng của pháp giới.
Chân lý thì vô hình nhưng nó chi phối
sự vận hành của tất cả mọi sự,
mọi hiện tượng.
Quảng:
Chỉ sự ứng dụng của pháp giới
thì rộng lớn, trùm khắp vũ trụ,
châu biến khắp nơi đâu cũng vô
ngại. Không đâu ra ngoài phạm vi
pháp giới. “Bóng dáng” của
pháp giới (chân tâm của ta) thì gần
kề và hiển hiện khắp nơi nhưng ta
chẳng thấy đặng. Vì sao ? Vì ta bị
vọng tưởng, dục vọng che khuất trí
tuệ để thấu hiểu pháp giới. Nếu
ai thể nhập pháp giới, trong một bụi
trần y có thể dung nạp vô biên thế
giới, trong một sát na dạo khắp vũ
trụ. Đó là ứng dụng của pháp
giới.
Phật:
Chử này có hai nghĩa, một là Trí
giác ngộ, hai là người giác ngộ.
Giác ngộ điều gì ? Giác ngộ
sự huyền diệu của pháp giới, của thể,
tướng và dụng trong ba chữ Đại
Phương Quảng. Sự giác ngộ này
là chìa khóa để nhập pháp
giới, của đại giải thoát, tự
tại vô ngại. Sự giác ngộ này
biểu hiện bằng thập trí hay thập lực
trí của Đức Phật. Trong tên kinh, chữ
Phật với ý giác ngộ là nghĩa
chính, còn nghĩa người giác ngộ
là nghĩa phụ, bởi vì đặc tính
của pháp giới thì vô nhân vô
ngã.
Hoa:
Đây là hình tượng ẩn dụ
sự tu hành mười ba la mật. Sự tu trì
này là nhân để nhập pháp
giới, thành tựu mọi công hạnh của
Bồ Tát Đạo. Hình ảnh đóa hoa
nở là hình ảnh của Tâm Bồ
Đề, khai mở ra trong tâm thức người tu.
Tâm này là nhân của mọi công
đức, mọi hạnh lành. Hoa này có
mười cánh, mỗi cánh là một
hạnh ba la mật. Mời cánh ba la mật tức
là: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục,
Tinh tấn, Thiền định, Bát nhã,
Phương tiện, Đại nguyện, Đại
lực, và Đại trí.
Nghiêm:
Nghĩa là trang nghiêm, như dùng hoa để
trang nghiêm. Ở đây ám chỉ dùng
vạn hạnh để trang nghiêm bản thể thanh
tịnh, trang nghiêm pháp giới. Hoặc có
nghĩa là dùng vạn hạnh công đức
để thành tựu Phật qủa. Nhân (trong
chữ Hoa) là Bồ Đề Tâm, qủa (trong
chữ Nghiêm) là Phật. Mỗi đóa hoa
là một công hạnh với mỗi cánh hoa
là một ba la mật. Kết những hoa đó
lại thành vòng, thành tràng, tức
là xâu nối những công hạnh đó
với nhau. Bạn biết tràng hoa này dài bao
nhiêu không ?
Dài
lắm ! Vô cùng vô tận chẳng biết
tới đâu thì hết. Đó chính
là đặc tính của sự tu hành theo
hạnh nguyện của Ngài Phổ Hiền: tu
hoài không nghĩ, tu vô tận.
Ngài
Thanh Lương Trừng Quán, có viết bài
văn giới thiệu Kinh Hoa Nghiêm, trong đó
có đoạn như sau:
Đại
dĩ khoáng kiêm vô tế
Phương
dĩ chính pháp tự trì
Quảng
tắc xứng thể nhi chân,
Phật
vị giác tư huyền diệu,
Hoa
dụ công đức vạn hạnh.
Nghiêm
vị sức pháp thành Phật.
Dịch rằng:
Đại
thì rộng rải, không biên giới
Phương
là chân lý tự vận hành
Quảng
hợp bản tánh, biếp khắp nơi
Phật
tức giác ngộ lý diệu huyền
Hoa
chỉ vạn hạnh, cùng công đức
Nghiêm
tô điểm lý, thành tựu người.
Trong bài tựa cho
Hoa Nghiêm Đại Sớ, Ngài có viết
thêm:
Kiến
văn vi chủng,
Bát
vạn siêu thập địa chi giai,
Giải
hạnh tại cung,
Nhất
sinh viên khoáng kiếp chi qủa.
Nghĩa
là dù có kẹt trong vòng bát nạn
(tức là gặp những khó khăn tột
bực ngăn trở sư tu hành), nếu
được thấy hoặc nghe Kinh Hoa Nghiêm, ta
cũng có thể tu chứng vượt ngay tới
giai vị Thập Địa, tức là giai vị
tột bực của Bồ Tát. Nếu hiểu
biết rồi thực hành theo Kinh Hoa Nghiêm
thì ngay trong một đời này, ta có
thể viên mãn quả báo tu hành của
vô lượng vô biên kiếp.
Theo
ngài Trừng Quán, tuy Kinh Hoa Nghiêm đồ
sộ và vĩ đại vô cùng, nhưng
phương pháp tu chứng mà kinh dạy thì
lại giản dị và mạch lạc vô
ngần. Đồ sộ và vĩ đại là
vì: Nếu hiển bài chân lý của kinh
cho rốt ráo thì mình phải đọc
bản thượng phẩm Hoa Nghiêm, gồm có
vô lượng vô biên bài kệ, nhiều
như bụi trần trong vũ trụ vậy. Hễ
nơi nào có sự hiện hữu dưới
dạng tâm thức, vật chất, năng
lượng… thì nơi ấy có bản
thượng phẩm này. Nếu bạn chẳng
có đủ đủ thời gian đọc bản
thượng, thì đây bản trung chỉ
có hơn trăm ngàn vạn ức bài kệ
mà thôi ! Nếu bạn cũng chẳng rãnh
rỗi đọc bản ấy, thì đây
bản hạ: chỉ hơn 10 vạn bài kệ.
Giản
dị và mạch lạc vì: toàn kinh là
một bản đồ tu hành từ phàm phu
tới thành Phật. Từ chương trong kinh
dạy về từng giai đoạn tu hành. Pháp
tu ở trước là nhân duyên cho pháp tu
ở sau; cảnh giới ở trên thì phải
từ cảnh giới ở dưới tiến lên.
Pháp nào kinh dạy cũng thực dụng. Pháp
nào cũng bao hàm mọi khía cạnh, từ
nội tâm tới ngoại hạnh, từ tự tu
tới độ sinh, từ xuất thế đến
nhập thế…. Nhưng việc tu thật giản
dị: cứ tu xong bước này, thì
bước kế hiển hiện. Tu theo kinh, đọc
kinh, tụng kinh, quán kinh, trì kinh tức là
thể nhập vào chốn bất khả tư
nghì, siêu việc tư duy lý luận.
Bởi
thế nói kinh là bản đồ thì
vẫn chưa đúng. Kinh là cửa ngõ
của pháp giới, của giải thoát, của
tự tại. Kinh là thật tại vô ngại
trong trần lao hư huyển. Kinh là tổng thể
nhất như trong vạn thù sai biệt.
1.3. Nội
dung Kinh Hoa Nghiêm
Nội
dung của Kinh Hoa Nghiêm là nói về tinh
thần biện chứng, triết lý và
phương thức tu hành đạo Bồ Tát.
Nó diễn tả cảnh giới nội chứng
cũng như trọn vẹn công hạnh của
đường tu, từ phàm phu lên đến
qủa vị cứu cánh giác ngộ. Cũng
có thể nói đại ý của kinh
này dạy ta làm sao khai mở chân tánh hay
pháp giới trong tâm mình. Hoặc làm sao
triển khai Bồ Đề Tâm tới chổ viên
mãn nhất. Để giải thích nội dung tu
hành, kinh chia làm bốn phần chính.
1. Tín phần:
Phần này có 6 phẩm, thuyết minh cảnh
giới nội chứng của chư Phật để
giúp ta thoát khỏi sự hạn chế nhỏ
hẹp do trí óc đặt định ra. Khi
mình buôn bỏ những thành kiến và định
kiến đặt ra trên nền móng của
bản ngã, thì tự nhiên chân lý
sẽ hiển hiện. Sự chấp nhận chân
lý ấy, gọi là đức tin. Chân
lý, hay pháp giới hay chân tâm vốn
sẵn có trong mỗi chúng sinh. Chỉ chờ ta
khai mở.
2. Giải
phần: Phần này có 31 phẩm, giải
thích cặn kẽ các hạnh tu của
đạo Bồ Tát, từ hạnh vị thập
trụ, thập hạnh, thập hồi hướng,
thập địa, tới hạnh vị Đẳng
giác. Mỗi giai đoạn là một qúa
trình phát triển và trưởng thành
tâm giác ngộ và hạnh giác ngộ. Chữ
“Giải” ở phần này có nghĩa
là thấu triệt, không bằng suy nghĩ, hay so
sánh, mà bằng thể nghiệm sự vắng
lặng trong sáng của nội tâm. Sự vắng
lặng này có là do bụi bặm phiền
não được quét sạch,và Tâm
Bồ Đề được nuôi lớn. Do
đó phải thực hành: Cầm chổi
quét sạch bụi phiền não trong lòng
để thấy chân lý.
3. Hạnh phần:
Phần này chỉ có một phẩm: Phẩm ly
thế gian. Phần này trình bày về 2000
công hạnh, tóm tắt tất cả cách tu
trì Bồ Tát Đạo từ lúc mới
phát tâm cho tới hạnh vị Đẳng
giác. Chính công phu tu hành ở giai
đoạn này là then chốt cho sự cứu
cánh thành tựu đạo Bồ Tát. Trong
khi “Giải” là thể nghiệm chân
lý, “Hạnh” ở đây có nghĩa
là chia sẽ chân lý, giáo hóa
chúng sanh. Giải và hạnh đi đôi
với nhau không tách rời, không thể
phân biệt trước sau. Biểu hiện của
hạnh là: An trụ trong cảnh giải thoát (ly
thế gian) nhưng vẫn ở trong trần thế
để giáo hóa, phục vụ; làm
chuyện giáo dục, công ích xã hội
để độ sanh.
4. Chứng
phần: Phần này trình bày cảnh
giới rốt ráo của đạo Bồ Tát.
Tuy phần này chỉ có một phẩm, nhưng
rất dài, tên là Nhập Pháp Giới.
Trong phẩm ấy, người hành giải tiêu
biểu là một vị đồng tử tên
là Thiện Tài, đại biểu cho chúng
sinh, cho ta thấy sự tu hành từ đầu cho
tới khi giác ngộ, thâm nhập pháp
giới, ta cần trưởng thành những tâm
thức nào. Với quan niệm thông thường,
ta nghĩ rằng: Chứng qủa thành Phật
là giai đoạn cuối cùng; nhưng theo tinh
thần Kinh Hoa Nghiêm thì cái cuối cùng
và cái bắt đầu thì bình
đẳng. Khi Thiện Tài nhập pháp giới
thì quan niệm tu hành có sự bắt
đầu (từ phàm phu), có sự kết
thúc (chứng đắc, thành Phật)
đều tiêu vong, không thể áp dụng.
Bất khả tư nghì ! Tuy nhiên chúng ta
có thể an toàn mà kết luận rằng:
Chứng có nghĩa là sự giải thoát rốt
ráo nhất, là đại Niết Bàn,
là cảnh giới tự tại vô ngại
cứu cánh nhất, trong đó mọi chấp
trước vào quan niệm và vào bản
ngã hoàn toàn vắng bặt.
Đối
với một hành giả thì Kinh Hoa Nghiêm
như một con đường dẫn tới sự
viên mãn Bồ Tát Đạo, viên mãn
Tâm Bồ Đề. Như vậy thì khởi
đầu của con đường này là
đâu ? Là sự phát khởi Tâm Bồ
Đề. Do đó chủ đề của Kinh
là Bồ Đề Tâm.
Kinh này dạy ta
làm sao Phát Tâm Bồ Đề, làm sao
nuôi dưỡng, thành thục, rồi tới
viên mãn; lại làm sao khiến tâm
này phát triển ở những chúng sinh
khác. Bởi vậy Kinh Hoa Nghiêm, từ đầu
đến cuối, có thể xem như là một
chương trình dạy ta thứ lớp tu hành
từ phàm phu lên đến quả Phật.
Có lẽ không có kinh nào trong Phật
giáo trình bày sự tu hành một
cách toàn diện rốt ráo như Kinh Hoa
Nghiêm.
Chương 2 :
TRÌNH BÀY – GIẢI THÍCH ĐỀ
TÀI
Trước
khi đi vào nội dung chính, cốt lỗi
nhất của đề tài “Phát Bồ
Đề Tâm”, muốn chuyển Phàm
thành Thánh ta cần phải tu đạo Bồ
Tát. Vậy tu đạo Bồ Tát là tu
gì ? Là tu Bồ Đề Tâm. Tu Bồ
Đề Tâm là nghĩa làm sao ? Là tu ba
tâm thái: Trực tâm, Thâm tâm và
Đại bi tâm.
Ý nghĩa của ba
tâm thái đó là:
- Trực
tâm: là tâm chính niệm chân như,
chính niệm Phật tánh: đây là
tâm thái có thể quán chiếu, có
thể thấy, có thể phản ảnh đặc
tính của chân như. Tâm này là
trạng thái rỗng rang không chút phiền
não, duyên lự, tạp niệm của lòng
ta. Tâm này khi phát triển đến cùng
cực sẽ khiến trí hụê Bát nhã
hiễn hiện, đồng thời khiến ta đạt
tới cảnh giới vô ngã, là căn
bản để liễu thoát sinh tử. Ở nơi
mức độ bình thường, thấp nhất, tâm
này là lương tâm, là tâm chân
thật, thẳng thắn, ngăn chặn ta làm
ác, hủy phạm giới luật, làm chuyện
đen tối, khúc khuỷu, không thành
thật, dối trá.
- Thân
tâm: là tâm thái hướng vào
tánh chân thiện mỹ của pháp tánh:
Đây là tâm khiến ta thích làm
thiện, thích tu hành, thích học tập.
Tâm này là rường cột giúp ta
thành tựu mười ba la mật, thập lực
trí và vô số thần thông biện
tài công đức, bởi vì nó thôi
động sự ưa thích thực hiện vô
vàn điều lành, tu tập muôn ngàn
pháp môn mà không mệt mỏi, nhàm
chán. Để phát triển tâm này, ta
cần phát vô số đại nguyện,
nguyện tu hành vô lượng pháp môn.
Tâm này khi phát triển đến cùng
cực sẽ làm ta đạt tới cảnh giới
vô ngã Niết Bàn, song không làm ta
chấp vào cảnh giới tịnh tĩnh của
cỏi Niết Bàn. Ngược lại nó
khiến ta không ngừng tu hành để viên
mãn hạnh nguyện.
- Đại bi
tâm: là tâm bao nạp tất cả chúng
sinh, là lòng thương vô hạn:
Lòng này là đại bi khiến ta thấy
chúng sinh và mình chỉ là một.
Lòng đại bi giúp ta sống tự tại
trong cõi phàm, không chuyện thị phi tranh
chấp của chúng sinh làm ta phiền não.
Đại bi là tình thương không có
điều kiện, không có đòi hỏi
được trả ơn hay được
thương lại. Người tu tâm đại bi
thì chỉ bố thí, ban bố, nhưng không
hề đòi hỏi, chiếm đoạt, yêu
cầu gì lại cho mình. Nếu trực tâm
được tu hành trong cô đơn im lặng
thì đại bi tâm là cách tu hành
giữa chúng sanh, huyên náo tạp nhiễm.
Chỉ khi tâm đại bi phát triển
đến cùng cự thì đạo Bồ
Tát mới viên mãn, bởi vì tâm
đại bi là chiếc thuyền để
độ chúng sinh tói giác ngộ. Và
chỉ khi chúng sinh giác ngộ hết thì
đạo Bồ tát mới thành.
Ba tâm này
liên hệ mật thiết với nhau. Không
cách gì chỉ tu đơn độc một
tâm mà bỏ phế hai tâm kia. Khi một
tâm tu thì tự nhiên nó sẽ thúc
đẩy hai tâm kia cùng phát triển. Theo quan
điểm của ngài Thanh Lương quốc sư,
thì tâm đại bi nuôi dưỡng hai
tâm kia. Ngài có làm ví dụ Tâm
Bồ Đề như cây đèn dầu. Dầu
tượng trưng cho hạnh cứu độ chúng
sinh, tức là lòng đại bi. Tim đèn
tượng trưng cho hạnh của thân tâm,
tức sự rộng phát đại nguyện.
Ánh sáng của đèn tượng trưng
cho hạnh của trực tâm, tức là
đại trí hụê. Qua đó ta thấy, tu
Bồ Tát hạnh là làm phát triển
và thành thục tới chổ cứu cánh viên
mãn Bồ Đề Tâm, tức trực tâm,
thâm tâm và đại bi tâm.
Để
rõ hơn chúng ta sẽ trình bày giải
thích đề tài “Phát Tâm Bồ
Đề theo tinh thần Kinh Hoa Nghiêm” từ chi tiết
được phân ra như sau:
Theo ngài Pháp
sư Diễn Bồi trong Khuyến Phát Bồ
Đề Tâm dịch như sau (trang 19-26).
2.1.
Bồ Đề là
gì ?
Là
tiếng Ấn Độ, dịch ra tiếng Trung Quốc
thì có hai cách, cách dịch cũ và
cách dịch mới. Cách dịch cũ
trước đời Đường là
“Đạo”, dịch mới sau đời
Đường là “Giác”. Nếu so
sánh ý nghĩa thì: Nói về những
diệu lý do chư Phật Thánh qủa thể
hội được và những trí đức
đã thành tựu mà dịch Bồ
Đề là “Đạo” thì không
có gì là không được. Nhưng
cách dịch mới là “Giác” thì
xác đáng hơn. Chữ “Giác”
và chữ “Ngộ” trong “Giác
Ngộ” là gần nghĩa nhau, “Giác”
tức là “Ngộ”, “Ngộ” tức
là “Giác”, nhưng thường ghép
với nhau mà thành ra “Giác Ngộ”.
Chữ
“Giác” nghĩa là Bồ Đề
khác nghĩa với chữ “Giác” trong
“cảm giác”, “tri giác”,
“ố giác” thường gặp. Căn
cứ vào những điều được
chỉ dẫn trong kinh Phật, thì chữ
“Giác” nghĩa là Bồ Đề
“thuần chính giác”, trái nghĩa
với mê hoặc, vì “Giác” sở
dĩ gọi là “Giác” vốn là
đối lập với mê hoặc.
Người
phàm đới với sự vật này kia
không hiểu được chính xác,
không thể gọi là “Giác”. Ngay
cả trong trường hợp tưởng rằng
mình đã hiểu rồi, nhưng cái
“hiểu” đó đã thật
“thuần chính” chưa thì vẫn
còn là vấn đế lớn. Vì tất
cả những sự “hiểu” thông
thường đó, phần lớn đều
còn lẫn thành phần ô trọc trong
đó mà chưa “thanh tịnh”. Cho
nên chữ “Giác” nghĩa là Bồ
Đề chân chính là phải “thuần
chính”, “thanh tịnh”, không lẫn một
mảy may vẫn đục hay mê hoặc trong
đó, nếu không thì chưa đúng
nghĩa “Giác” của chữ Bồ
Đề. Do đo,ù “Giác Ngộ”
và “mê hoặc” là trái hẳn
nghĩa nhau, khi đã hiện diện sự giác
ngộ thì mê hoặc đã tiêu tan
hết rồi, hai cái đó không thể
cùng song song tồn tại, cái lẽ của
nó cũng như vậy. Quang minh xuất hiện
thì hắc ám tiêu tan, trái lại hắc
ám bao trùm thì quang minh biến mất. Lại
như bạo ác và chính nghĩa không
thể cùng song song tồn tại, khi chính
nghĩa ngẫng cao đầu dậy thì bạo
ác bị xéo nát.
Phải
đạt đến trình độ như thế
nào thì mới được gọi là
“Giác Ngộ”?
Phải
đến được cái mức không còn
mê hoặc thì mới nói là Bồ
Đề. Ở địa vị phàm phu, do còn
có mê hoặc, chưa thành tựu
được Bồ Đề. Chỉ có thánh
nhân xuất thế, vì đã dứt
được mọi mê hoặc, nên đã
thành tựu được giác ngộ, mới
có thể nói là đạt được
Bồ Đề. Cùng với thánh nhân
xuất thế, nhưng về trình độ
khác nhau chia làm tam thừa khác nhau. Cái
mà các vị Thanh Văn thành tựu
được là Bồ Đề Thanh Văn,
cái mà các vị Duyên Giác thành
tựu được gọi là Bồ Đề
Duyên Giác. Cái các bậc Phật
Đà vô thượng thành tựu
được gọi là Bồ Đề vô
thượng. Nói về ý nghĩa của
Giác Ngộ, tuy rằng cùng là giác
ngộ, nhưng tùy theo mức độ sâu
nông khác nhau mà chia thành ba loại Bồ
Đề, mà Bồ Đề Vô thượng
là cứu cánh nhất, viên mãn nhất,
cũng là cái Bồ Đề mà
người phát tâm Bồ Đề muốn
chứng qủa.
Bồ
Đề không chỉ có danh nghĩa của
nó, mà lại còn có tự thể
của nó. Cái gì là tự thể
của Bồ Đề ? Đó là điều
mà chúng ta sẽ bàn tiếp dưới
đây.
Phật
Pháp có sự phân biệt Tam thừa cộng
giáo và Đại thừa cộng giáo;
Tự thể của Bồ Đề từ Tam thừa
cộng giáo là chỉ Tụê thanh tịnh
vô lậu xuất thế. Tụê này không
phải cái gì khác, mà tức là
tụê tâm sở trong ngũ biệt cảnh,
chỉ có biệt cảnh tụê thông với
lậu và vô lậu, mà đây là
chỉ chuyên chỉ tụê tâm sở vô
lậu. Tự thể của Bồ Đề xuất
từ Đại thừa bất cộng giáo thì
chỉ tứ trí Bồ Đề thanh tịnh. Tứ
trí Bồ Đề thường được
nói đến trong duy thức học, tức là
tứ trí chuyển bát thức mà thành
tứ trí (Thành sở tác trí, Diệu
quan sát trí, Bình đẳng tính trí
và Đại viên kỉnh trí). Đại
thừa coi Tứ trí này là tự thể
của Bồ Đề. Trên lập trường
đó, Bồ Đề mà Thánh giả tam
thừa đạt được, vẫn chưa
đủ tư cách gọi là Bồ Đề,
vì Tứ trí của nó chưa viên
mãn, giác ngộ còn chưa cứu cánh,
phổ biến. Như giác ngộ mà các
thánh giả Thanh Văn, Duyên Giác đạt
được chỉ là bộ phận, chưa
thể biến khắp hết tất cả, cho nên
không được gọi là Bồ Đề;
Giác ngộ của Thánh giả Bồ Tát
đạt được, phổ biến thì cố
nhiên đã phổ biến, nhưng vẫn chưa
đạt đến vô thượng, cho nên
cũng không thể gọi là Bồ Đề.
Giác
ngộ của Thánh giả Tam thừa, đã
không thể gọi là Bồ Đề, thì
tại sao kinh nói có ba loại Bồ Đề
của Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát
? Nên biết rằng đây là đứng
trên tướng bình đẳng của Bồ
Đề mà nói, vì Bồ Đề tức
là Giác ngộ, Thánh giả Tam thừa
đều được Giác ngộ, cho nên
có thể gọi chung là Bồ Đề.
Nhưng theo ý nghĩa thù thắng, thì
chỉ có vô thượng Bồ Đề mới
có thể chân chính gọi là Bồ
Đề. Vì chỉ có chứng được
vô thượng Bồ Đề thì mới
hoàn thành được Tứ trí. Khi
chưa thể hoàn thành viên mãn, vì
thế, gắn với ý nghĩa thù thắng
của Bồ Đề, chỉ lấy Tứ trí
làm thể. Diệu Quang Sát Trí trong tứ trí,
nhị thừa có thể đạt được
thành tựu từ bộ phận. Còn như
Thành Sở Tác Trí, Bình Đẳng
Tính Trí, Đại Viên Kính Trí,
nhị thừa căn bản không thể thành
tựu. Chân chính hoàn thành Tứ trí
Bồ Đề duy chỉ có Phật và Phật
mới có thể cứu cánh viên mãn.
Thế nên, chí có giác ngộ mà
Phật đã tối cao hoàn thành Tứ
trí mới chân chính được gọi
là Bồ Đề. Mà Vô Thượng Bồ
Đề này lấy Tứ trí làm thể.
Giác ngộ của nhị thừa, do đó
không thể gọi là Bồ Đề.
Bồ
Đề là giác ngộ, lấy vô lậu
tuệ làm thể. Vô lậu tuệ tức
tuệ tâm sở trong biệt cảnh, cho nên
Bồ Đề cũng có tâm sỡ tương
ứng của nó, cũng tức là tâm sở
tương ứng với tứ trí. Nói đến
họat động tâm thức của người ta,
có cái gọi là tương ứng tâm
sở, như đệ bát thức trước
có năm tương ứng tâm sở, đệt
thất thức có 18 tương ứng tâm
sở, đệ lục có 51 tương ứng
tâm sở, năm thức trước có 34
tương ứng tâm sở; Đến tứ
trí do Bồ Đề Phật quả hoàn
thành là do bát thức chuyển thành.
Bát thức hữu lậu đã có tâm
sở tương ứng thì tứ trí vô
lậu cũng có tâm sở tương ứng
của nó. Cho nên bất luận một trí
nào trong tứ trí, cũng quyết không
phải là cô đơn biệt lập. Tâm
sở tương ứng của Bát thức hữu
lậu có sự khác nhau, hoặc nhiều
hoặc ít. Tâm sở tương ứng của
Tứ trí vô lậu thì lại cũng có
21 tương ứng tâm sở, tức là ngũ
biệt cảnh: Dục, Thắng giải, Niệm,
Định, Tuệ; Ngũ biệt cảnh: tác
ý, xúc, thọ, tưởng, tư; thêm
vào đó 11 thức tâm sở: Tín,
tàm, qúy, vô tham, vô sân, vô si, tinh
tiến, khinh an, bất phóng dật, hành xả,
bất hoại. Tương ứng với Bồ
Đề Tứ trí, không ngoài 21 tâm
sở nói trên, đó là nghĩa
tương ứng của Bồ Đề.
2.2. Tâm
Bồ Đề là gì ?
Ý
nghĩa của Bồ Đề, còn nhiều
điều có thể nói. Nay hãy tạm
dừng để nói về Tâm Bồ Đề.
Cái tâm nói ở đây hơi khác
với cái thường nói, tâm không
phải là cái cục thịt do máu thịt
tạo thành, cũng không phải là hư
vọng phân biệt tâm thường nói
mà là hy vọng, nguyện vọng, tham muốn.
Phật pháp thông thường nói đến
“dục” (tham muốn) đều là nói
cái không tốt, có ý chê trách.
Nhưng nếu nói đến lòng tham muốn
thiện pháp thì không phải là không
tốt, mà là điều không thể
thiếu được đối với người tu
học Phật pháp. Nếu không có thiện
pháp dục thì sẽ không đi tìm
sự giải thóat, không trưng cầu Vô
Thượng Bồ Đề. Khi đã có
thiện pháp dục rồi thì sẽ nhiệt
liệt theo đuổi những mặt nói trên.
Cho nên, chữ “Tâm” trong Bồ đề
tâm có nghĩa là hy vọng, dục cầu,
cũng có nghĩa là lập chí. Chúng ta
bất luận làm việc gì cũng phải
có nguyện vọng, dục cầu, lấy nó làm
động lực thì mới có thể hoàn
thành được việc ta muốn làm.
Việc thông thường trong thế gian mà
còn như vậy, huống gì chúng ta muốn
hoàn thành Vô thượng bồ đề,
nếu không có nguyện vọng cao cả, dục
cầu nhiệt liệt thì làm sao có thể
đạt được mục đích thành
Phật ? Vậy tự thể nay tức là dục
tâm sở trong ngũ biệt cảnh. Cái dục
tâm sở này giải thích chính đáng
chữ “Tâm” trong phát Bồ đề
tâm. Nhưng phải biết rằng, chính cái
dục tâm sở trong biệt cảnh, trên
địa vị phàm hữu lậu thông với
tam tính; thiện, ác, vô ký, duy cái
chí nguyện dục Bồ đề này, khi
bắt đầu khởi phát, tức là tùy
thuận vô lậu pháp của thiện pháp
hữu lậu. Nên biết rằng, để cầu
được Vô Thượng Bồ Đề
mà phát sinh nguyện dục này, dựa
trên nguyện dục này mà tiến lên
theo hướng mục tiêu muốn đạt tới,
công đức pháp vô tận mà
Đại Thừa Phật quả có đều do
cái dục tâm này sinh ra. Vì vậy
chữ “Tâm” trong “Tâm Bồ
Đề”, chúng ta không thể coi
thường được.
Lại
nữa, trong kinh thường hay nói đến
vọng tâm, chân tâm và Bồ đề
tâm.
- Vong
tâm thì bao quát tất cả những gì
thuộc về đầu óc của ta, sự tư
duy, nghĩ ngợi, tính toán, cho đến
tình cảm, phiền não, vui buồn, yêu
ghét, giận hờn. Tất cả hoạt
động của những suy tư, tình cảm
trên thì xoay quanh một trung tâm mà ta
gọi là cái ngã, cái tôi. Cái
tôi này, theo Đức Phật, thì không
có thực thể, không hiện hữu. Nó
chỉ là một quan quan niệm, một sự
chấp trước lầm lẫn, rằng bản
ngã có thật.
Vong
tâm còn bao quát cả trực giác,
tiềm thức, hoặc theo danh từ nhà Phật,
thì gọi là thức A lại gia, thức thứ
tám, hoặc tạng thức. So sánh về tầm
vóc và chiều sâu: Suy tư và tình
cảm đem so với thức A Lai Gia thì cũng
như vài hạt bụi so với dãy núi Hy
Mã Lạp Sơn.
-
Chân tâm có nhiều tên: Phật tánh,
chân Như, Như Lai Tạng tánh, Pháp
giới tánh, thể tánh… Chân tâm
thì bất biến, tuyệt đối, vô
biên, vô giới hạn, siêu việt ra
ngoài sự tưởng tượng, hình dung hay
tiếp xúc của cảm quang bình thường.
Vọng tâm chẳng làm sao có thể trắc
lượng hoặc “thấy” được
chân tâm. Mọi kinh nghiệm của giác quan
(như bạn ngồi thiền bổng thấy Phật
Bồ Tát, hào quang, cảnh nhiệm mầu)
đều thuộc phạm vi của vọng tâm
chứ không phải của chân tâm.
- Bồ
Đề Tâm thì chẳng phải là vọng
tâm, nhưng cũng chẳng phải là chân
tâm, phải chăng khó hiểu qúa ?
Để cho dễ hiểu, xin lấy ví dụ sau:
Vọng tâm là biển nước, chân
tâm là mặt trăng, thì Bồ Đề
Tâm là bóng trăng trên nước. Ở
đâu có trăng thì ở đó có
bóng trăng. Bồ Đề Tâm là cái
bóng của chân tâm.
Trăng
không thể tiếp xúc với nước,
nhưng bóng trăng thì gắn liền với
nước. Chân tâm thì ở trong phạm vi
của tuyệt đối, nó không thể khiến
thế gian là cõi tương đối tiếp
xúc được. Nhưng Bồ Đề Tâm
thì được. Bồ Đề Tâm là
phương tiện để chân tâm khởi
tác dụng tích cực trong cỏi trần
thế. Bồ Đề Tâm là tâm thái
vô hạn, vô biên, vô tận, không
bị ngăn ngại bởi phiền não chấp
trước của bản ngã nhỏ bé. Cũng
như bóng trăng vận hành tự tại
trên mặt nước, không hề trở
ngại.
Do
đó kinh Hoa Nghiêm chú trọng vào sự
nuôi dưỡng và khở phát Bồ
Đề tâm. Chỉ lo diệt phiền não
thôi thì chưa đủ, và không cứu
cánh. Như các vị A La Hán lậu tận,
dứt hết phiền não, nhưng không thể
thành Phật. Thành Phật là do phát
triển Bồ Đề Tâm. Nếu bạn nuôi
dưỡng được một phần Bồ
Đề Tâm thì tự nhiên một phần
phiền não sẽ rơi rụng mà bạn
chẳng mệt nhọc diệt trừ.
Ví
dụ: Thay vì kềm hãm tánh giận dữ
khi thấy kẽ khác làm lỗi, cố giằng
cơn giận; thì bây giờ mình tập tha
thứ lỗi họ. Tìm hiểu nhân quả
khiến họ sai lầm, nhất là thấu suốt
những nhân tố trong tình cảm, quan niệm,
để biết cách giúp đở “gở
kẹt” cho họ. Tấm lòng biết tìm
hiểu sự khó khăn của kẻ khác,
gọi là trí huệ. Chỉ khi có trí
huệ, sự tha thứ mới đem tới hiệu
quả tích cực. Tha thứ hoài hoài,
mà chẳng bao giờ trách cứ ai. Đó
chính là trạng thái của Bồ Đề
Tâm.
2.3. Phát
tâm Bồ Đề là như thế nào ?
Tâm
đã nói rồi, bây giờ nói tiếp
đến “Phát Tâm Bồ Đề”.
Trung tâm của bốn chữ này là chữ
“phát”. “Phát” có nghĩa
là “phát khởi”, “phát sinh”,
tức là phát sinh, phát khởi cái
Bồ Đề tâm ấy. Nghĩa chữ
“phát tâm” rất rộng, như phát
tâm niệm Phật, phát tâm trì chú,
phát tâm tụng kinh, phát tâm tham thiền.
Đây là nói về phương diện tu trì
Phật pháp. Nếu nói về phương
diện thế tục, có thể nói là
phát tâm cầu tài, phát tâm làm
quan, phát tâm cầu danh, phát tâm cầu
trí. Mà phát tâm gì ắt phải
làm việc đó. Cho nên luận nói:
“Như người tham công danh, phát tâm
cầu công danh, tu hành đặng công danh,
nếu tham tài bảo, phát tâm cầu tài
bảo. Phàm người muốn cầu thiện
cầu ác, đều trước hết phát
cái tâm rồi sau thực hiện cái chí
của mình. Cho nên, người cầu Bồ
Đề thì phát tâm Bồ Đề, tu
hành Bồ Đề”.
- Cái
tâm nguyện cầu chứng vô thượng
Bồ Đề này, làm sao mới có thể
phát khởi được ? Nói kỹ, thì có
thể nói nhiều mặt, ở đây chỉ
nói sơ lược qua hai loại.
+ Một
là phát tự tính nội tại: Trong lòng
ta vốn đã có giác tính Bồ
Đề, nhưng khi nó bị phiền não che
mất, sức mạnh của giác quá mỏng
yếu, không thể có tác dụng mạnh.
Như người ta khi đang có bệnh, tinh
thần vận động hẳn không thể nâng
lên được. Tuy trong trạng thái phiền
não mê hoặc động loạn bất an,
nhưng giác tính Bồ Đề vẫn tồn
tại, chưa vì đau mà mất đi. Muốn
rời bỏ cái tướng động loạn bất
an đó, trừ khi chứng được Bồ
Đề Phật quả. Khi có cái tâm
thành Phật ấy rồi thì nên biết
đây tức là đã phát tâm
Bồ Đề tự tính nội tại.
+ Hai là
phát tư trợ ngoại tại: Có thể
có người nói; nội tại đã
có thể phát tâm Bồ Đề, thế
thì tại sao nay không thấy chúng sinh tự
phát?
Đó
là vì không được ngoại duyên
tư trợ. Thế nào là sự tư trợ
ngoại duyên ? Tức là Thiện hữu và
Thánh giáo. Như nghe Đại thừa Thánh
giáo, dựa vào huấn tập thường
xuyên của Thánh giáo ấy, thế là
tự mình phát Đại Tâm Bồ
Đề. Đây là phát tư trợ
bằng tự mình phát Đại tâm Bồ
đề. Đây là phát tư trợ
bằng lực Thánh giáo. Hoặc xem thấy thần
thông, đạo lực của Phật, Bồ
Tát, khiến cho tự mình phát đại
tâm Bồ Đề. Đây là phát tư
trợ bằng lực Thiện hữu.
Bốn
chữ “Phát Tâm Bồ Đề”
đã lần lượt giải thích rồi,
căn cứ những điều đã nói
trên, chúng ta có thể biết rằng:
Người tu học Phật pháp Đại thừa
chân chánh, cũng như hành giả tu học,
thực hành hạnh nguyện Bồ Tát theo tinh
thần kinh Hoa Nghiêm mà Phật đã dạy,
tất cả đều phải tự mình phát
tâm Bồ Đề, không những thế mà
con khuyến dẫn người khác phát tâm.
Chỉ có tất cả mọi người cùng
đồng phát tâm Bồ Đề, thì
Phật pháp mới có thể tiếp tục
hoằng dương, chúng sanh mới có thể
phổ độ ! Tất cả những người con
Phật, đồng tu học Phật pháp, bất
luận là Tăng hay tục, nam nữ đều
phải phát tâm Bồ Đề. Đặc
biệt là thời kỳ đổi mới như
hiện nay, xã hội không ngừng phát
triển, người người tất bặc lo cơm
áo gạo tiền, đua đòi chạy theo
vật chất xa hoa mà quên đi bản tâm.
Vì vậy, Phát tâm Bồ Đề là
một việc cấp bách trước mắt của
hành giả Đại thừa.
2.4 Phát
tâm Bồ đề theo tinh thần Kinh Hoa Nghiêm
Kinh
Hoa Nghiêm day rằng quên phát tâm Bồ
đề mà làm mọi hạnh lành thì
đó chỉ là nghiệp ma. Bởi thế
qúa trình tu tập hành đạo đều
dựa hoàn toàn vào năng lực của
tâm Bồ đề. Điều này ta có
thể thấy trong toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm.
Bầy giờ để đơn giản hóa,
chúng ta hãy nói về những điểm
chính yếu, cần thiết nhất.
Theo
tinh thần Kinh Hoa Nghiêm thì:
Phát
tâm Bồ Đề, nói gọn là vừa
hướng mình vào đường tu giác
ngộ, vừa làm việc hóa độ
chúng sinh, tức là “trên cầu Phật
đạo, dưới hóa độ chúng
sanh”. Hai mục tiêu này cũng chính
là ba tâm: Trực Tâm, Thâm Tâm và
Đại Bi Tâm đã giải thích rõ
ở phần đầu.
Phát
tâm Bồ đề không phải là chỉ
khởi một ý tưởng muốn tu hành hay
muốn độ chúng sinh rồi ngừng lại.
Nó đòi hỏi ta phải phát khỏi
những ý tưởng đó hoài hoài.
Nói cách khác: Phát tâm Bồ
đề là hun đúc trong lòng một khuynh
hướng kiên cố hướng về hai mục
tiêu tu đạo và độ sanh.
Kinh
Hoa Nghiêm dạy ta phát tâm Bồ đề
như sau:
Phát
tâm Bồ Đề tức là khơi dạy
lòng Đại Bi: Chúng sinh cần ta cứu
vớt. Tự thân của mỗi người
chúng ta thử nhìn và quan sát xem nỗi
khổ của chúng sinh, ai thoát được
sanh già bệnh chết ? Ai tránh được
chuyện bất như ý ? Họ sẽ rất sung
sướng và thấy an lành nếu có ai
đó giúp họ giải thích nguyên
nhân sinh ra nỗi thống khổ, dắt dẫn
họ giải trừ những thống khổ ấy.
Chúng sinh đang cần tình thương của
Bạn an ủi, che chở, đùm bục. Họ
cần một người hiền từ, đáng tin
cậy. Họ cần ban cho họ một tình
thương vô tư, bình đẳng rộng
lớn có thể dập tắt lửa nóng
giận, thù hằn trong tâm họ. Tình
thương ấy giống như tình thương
của cha mẹ đối với con cái vậy
đó; Không chút mong cầu chỉ biết
phục vụ. Họ cần tình thương vô
ngã của bạn.
Phát
tâm Bồ đề là khơi dậy lòng an
lạc: Chúng sinh ai cũng có nỗi bức
rức đau khổ. Những kẻ tội nghiệp
nặng nề vì đã từ sát hại,
trộm cắp, loạn luân, phá giới…
thì trong lòng càng bất an, ray rức. Họ
cần bạn đem tấm lòng tha thứ bao dung ban
bố cho họ, khiến tâm họ hết đau
khổ, đắc an lạc.
Phát
tâm Bồ đề là khơi dậy lòng
nhiêu ích: Nhiều người vì chẳng
thấu hiểu đạo lý nên đã
lầm lẫn tạo ác nghiệp và tập
thành thói quen làm ác. Họ cần
bạn giúp họ, dắt dẫn họ, giúp
đở họ tìm về đường sáng,
ra khỏi hố bùn đen tối. Họ không
muốn bị nhìn với cặp mắt ruồng
bỏ, ghét chê. Họ cần bạn thật
tình giúp họ.
Phát
tâm Bồ đề là khơi dậy lòng ai
mẫn: Nhiều chúng sinh luôn có tâm lo
sợ hãi hùng. Sống trong một thế
giới lúc nào cũng cạnh tranh, lòng sân
hận, ngăn cách tình người càng
lúc sâu đậm. Nhiều người cứ
sống với tâm trạng đề phòng, nghi
ngờ, cô lập, rồi sinh khiếp nhược
nội tại, nỗi sợ mà họ không sao
thừa nhận, kết quả là họ truyền
phóng lòng sợ hãi ấy ra bên ngoài
thành sự giận dữ, hung bạo, tranh
chấp… Họ cần bạn bao dung, thông hiểu
họ, làm họ hết sợ hãi.
Phát
Bồ đề tâm là khơi dậy tâm
vô ngại: Nếu sống trên đời,
chuyện gì bạn cũng muốn cho vừa ý
mình, đúng theo dự định mình
muốn thì đâu đâu bạn cũng
sẽ thất vọng. Chẳng lẽ mình nên
để những sở thích, ham muốn, tính
toán, dục vọng xiềng xích sự tự do,
tự tại vốn có trong lòng mình sao ?
Chẳng lẽ mình cam tâm đánh mất
sự tự tại vô ngại này sao ? Nên
cởi bỏ xiềng xích là vừa… Nếu
là vô ngại, mình chớ nên chướng
ngại, đố kỵ ghen ghét kẻ khác,
cản trở họ thành công trên
đường đạo hay đường đời,
thì tự mình chuốc khổ, rồi tự sinh
chướng ngại mà thôi.
Phát
tâm Bồ đề là khơi dậy tâm
Quảng đại: Không biết bao nhiêu chuyện
vụn vặt hàng ngày khiến tâm ta quay
cuồng bận rộn. Dường như tâm ta
cứ chạy rong hoài hoài, không biết
đâu là trọng tâm, chổ quy hướng
(tức chân tâm vô ngã) để lòng
yên nghỉ. Khi tâm mất chổ quy hướng
thì ta dễ cau có, ích kỷ, chỉ nghĩ
ngợi cho mình, vì mình, của mình.
Mình cần lắng tâm yên lặng để
cỏi lòng trở nên mở rộng. Bạn
hãy thường tìm cách ngồi xuống
định thần, tĩnh tư để bản
ngã im lặng, chân lý hiển bày mở
ra trong tâm.
Phát
tâm Bồ Đề là khơi dậy lòng
vô giới hạn: Tư tưởng, quan niệm,
định nghĩa và thành kiến, hạn
chế mình. Những kiến giải và kinh
nghiệm trong chức nghiệp cũng hạn chế
tiềm năng vô biên. Ngay cả lý thuyết,
học thuyết, triết lý trong tôn giáo
cũng hạn chế sự sống của chân lý.
Bạn hãy nổ lực hướng mình vào
khơi dậy chân lý bất biến, kinh gọi
là pháp giới tánh, Phật tánh, vì
đó là con đường duy nhất giải
thoát mọi giới hạn. Chúng sinh ai cũng
sống trong ngục tù tư tưởng, xiềng
xích thành kiến; họ cần bạn giải
phóng họ; chỉ cho họ ánh sáng trí
tuệ vô hạn.
Phát
tâm Bồ đề là khơi dậy tâm
rộng rãi (khoang bát): Ở đời nhiều
người hiến mình cho danh vọng, hết
lòng phụng sự uy quyền lợi lộc.
Càng nổ lực bao nhiêu lòng họ càng
khép kín, càng nhỏ hẹp lại.
Đến độ tấm lòng chật hẹp
ấy nhiều khi làm kẻ khác nghẹt thở
khó sống. Họ cần bạn giúp họ
mở cánh cửa đóng kính ấy ra,
để họ có thể thấy vị Phật trong
tâm họ. Khoang bát là tâm thái
thầm hiểu rằng chư Phật vốn ở trong
tâm ta, Phật bên ngoài và Phật bên
trong tâm không sai thù khác biệt. Và rằng:
Không có hạnh phúc nào thâm sâu
bằng hạnh phúc xuất phát từ cỏi
lòng, nơi mà chư Phật an trú. Khơi
dậy tâm này là khởi lòng cung
kính, tôn trọng, cúng dường chư
Phật mười phương. Bạn hãy khơi
dậy tâm thái khoang bát trong lòng mình
trước rồi khai mở cho những chúng sinh
tâm hôn khép kính. Họ cần bạn
giúp.
Phát
tâm Bồ Đề là khơi dậy tâm thanh
tịnh: Ô nhiễm là đặc tính của
thế giới ta sống. Suy nghĩ và tâm
tình ô nhiễm là đặc tính của
thế giới nội tâm. Một khi hít thở
được không khí lành thì chẳng
ai muốn sống nơi không ô nhiễm vẫn
đục. Cũng vậy, nếu ai nếm
được mùi vị thanh tịnh an lạc
thì chẳng ai còn muốn đắm mình
trong cấu nhiễm phiền não. Chúng sinh cần
bạn giúp họ trồng đóa sen lòng.
Bạn hãy đem sự thanh tịnh của thân,
miệng, ý cúng dường cho thế giới
chúng sanh.
Phát
tâm Bồ đề là phát khởi trí
huệ chân chánh: Chúng sinh thì bị
kềm tỏa trong vòng bản ngã, biểu
hiện qua cảm xúc, tình cảm, quan niệm,
dục vọng. Thánh nhân thì giải
thóat những thứ đó. Các Ngài
thấu hiểu và tri nhận được sự
vận hành của những xiềng xích ấy.
Tri nhận tức giải thoát. Các Ngài
thấy rằng hễ càng nghe lời bản ngã
thì kềm kẹp càng siết chặt; mà
càng vùng vằng tranh đấu đè
bản ngã thì kèm kẹp lại càng
mạnh mẽ, vi tế hơn.
Rằng:
Đạo cao một phân,
Ma cao một thước.
Đạo cao một thước,
Ma nhảy lên đầu.
Bởi
thế mỗi người con Phật, tu theo pháp
Phật cần giữ tâm bất động, không
tranh, không tham, không chấp trước. Lặng im
quán chiếu mọi sự. Mặc cho nhân
duyên đến nhân duyên đi. Mình
hãy lặng im trong im lặng…
Bồ
Tát phát ý cầu Bồ đề
Chẳng
phải không phân, không có duyên.
Đối
Phật pháp tăng sinh tịnh tín,
Từ
đó khơi dậy quảng đại tâm.
*
Phương pháp tu: Thực hành Lập Nguyện:
Có
rất nhiều phám môn hay phương pháp tu
hành giúp Bồ Đề tâm phát
triển vô hạn. Sau đây xin nêu ra một
cách thông thường nhất. Đó là
phát nguyện: “Bởi tu hành vô nguyện
bất thành”. Thí dụ như chuyện
cúng dường hoa. Chắc chúng ta ai cũng
có lần cúng hoa dang Phật, hoặc chưng hoa,
rãi hoa, tán hoa để cúng dường.
Lúc ấy bạn suy nghĩ gì ? Sau đây
là sự suy nghĩ của Bồ Tát, khiến cho
hành động cúng dường hoa trở
thành một pháp môn tu tuyệt diệu:
“Khi con cúng
dường hoa như vậy, con xin đem căn lành
này hồi hướng như vầy:
Nguyện tất cả
chúng sinh đắc hoa tam muội, nở khai tất
cả mọi thứ chân lý.
Nguyện tất cả
chúng sinh đều được như Phật, ai
nhìn thấy Ngài cũng sinh hoan hỷ, không
nhàm chán.
Nguyện tất cả
chúng sinh gặp duyên vừa lòng, tâm
không động loạn.
Nguyện tất cả
chúng sinh làm đủ mọi chuyện thanh
tịnh, rộng lớn.
Nguyện tất cả chúng
sinh thường nhớ bạn tốt, tâm không
tráo đổi.
Nguyện tất cả
chúng sinh như thuốc trị bá bệnh,
có thể trừ khử mọi độc phiền
não.
Nguyện tất cả
chúng sinh thành mãn đại nguyện,
đạt tới địa vị vô thượng
trí vương.
Nguyệt tất cả
chúng sinh có đặng trí huệ như
ánh nhật quang, phá ngu si ám.
Nguyện tất cả
chúng sinh có sự giác ngộ như vầy
tịnh nguyệt, lớn rộng tròn đầy.
Nguyện tất cả
chúng sinh vào cỏi chân báu, gặp
thiện trí thức, thành tựu đầy
đủ tất thẩy thiện căn”.
Đó
là cách phát tâm Bồ đề của
đại Bồ Tát hồi hướng thiện
căn khi cúng dường hoa. Ngài nghĩ như
thế vì muốn chúng sinh đắc trí
vô ngại. Chỉ một việc dâng hoa nhưng
biết suy nghĩ lập nguyện như vậy thì
vũ trụ quan sẽ mỡ rộng, không còn
hạn hẹp. Đây chỉ là cách phát
nguyện sơ khởi trong vô sống nguyện
mà Bồ Tát lập ra khi tu hành.
Nói
đến lập nguyện, lấy người thế
gian mà nói, mặc dù mỗi người
đều lập nguyện riêng, nhưng đại
thể là ai cũng có chí nguyện của
mình. Có người lập nguyện rồi
có thể thành được sự nghiệp
mà mình kỳ vọng, hoàn thành
được tâm nguyện của mình. Nhưng
cũng có người lập nguyện rồi,
kết quả cũng không nên việc gì,
không đạt được nguyện vọng
của mình. Cũng là lập nguyện, vì
sao có người thành công có kẻ
thất bại ?
Vấn
đề là lập nguyện có kiên cố
hay không, có người lập nguyện rồi,
không thể kiên định chí nguyện
của mình, hơi bị đã kích là
lung lay chíc nguyện, thế thì làm sao
mà thành công được ? Đã
lập nguyện rồi thì phải kiên
định bất di bất dịch, không vì
trắc trở mà dao động, không vì
đã kích mà sợ hãi, không vì
khó khăn mà lùi bước, không
vì trở ngại mà nản lòng. Lập
nguyện kiên cố như vậy thì không
có việc gì là không làm nổi. Cho
nên lập nguyện không chỉ để mà
lập nguyện, mà phải lập nguyện kiên
cố cũng như khi phát Bồ đề tâm;
quyết không vì bất cứ khó khăn
nào mà để mất bản nguyện hay
Bồ đề tâm của mình, phải có
quyết tâm, sinh mệnh ta có thể mất,
chí nguyện ta quyết không dao động
mới được.
Giả
định không phát tâm Bồ Đề
quảng đại như vậy, không lập
nguyện kiên có như vậy, thì hậu
quả của nó sẽ ra sao ? Xin thưa răng:
Nếu không đạt được sự phát
tâm quảng đại như đã nói
trên thì cho dù chúng ta có tu hành
trong ba đại a tăng kỳ kiếp, cũng không
thể nào thoát khỏi vòng luân hồi
sinh tử. Tức là, dù người hành
giả có tu trì đúng phép trong thời
gian dài vô số kiếp vi trần, thì cũng
vẫn cứ đắm chìm trong bể khổ tử
sinh không thể thóat. Nguyên nhân là
ở đâu ?
Chính
là vì không phát tâm quảng
đại, không lập nguyên kiên cố.
Chúng ta hãy nghĩ xem, điều đó quan
trọng đến thế nào ? Không chỉ
như vậy, nói theo quan điểm chung, tu hành
Phật pháp không ngoài hy vọng đạt
được thành tựu về Phật pháp.
Nhưng nếu không phát tâm Bồ đề
quảng đại, không lập nguyện kiên
cố, thì dù có dụng công tu hành,
kết quả vẫn là vất vã vô
ích, không đạt được lợi
ích thực tế của Phật pháp.
Như
thế gian tu phúc hạnh là để kiếp sau
được sinh lên trời, sẽ được
hưởng phúc trời. Đến một ngày
nào đó khi hết phước rơi xuống,
hậu quả sẽ không tưởng tượng
được. Như thế không phải là
uổng công vất vả sao ? Cho nên cũng
là dụng công tu hành mà phát tâm
quảng đại, lập nguyện kiên cố
thì thành tựu sẽ lớn, không phát
tâm quảng đại, lập nguyện kiên
cố, thành tựu sẽ nhỏ, thậm chí
còn uổng phí công lao vất vả. Vì
vậy, phát tâm quảng đại, lập
nguyện kiên cố là điều kiện
không thể thiếu được của việc tu
hành Phật pháp.
Phát
tâm quảng đại, lập nguyện kiên
cố, nói cách khác là phát tâm
Bồ đề, lập nguyện Bồ Tát. Phát
khởi tâm Bồ đề, lập nên nguyện
Bồ Tát, lấy cái tâm nguyện đó
mà tu mọi thiện hạnh, mới có thể
thành Phật nghiệp, Bồ Tát nghiệp,
cũng tức là Thiện nghiệp vô lậu
xuất thế gian. Nếu không phát tâm Bồ
đề, không lập nguyện Bồ Tát,
thề thì mọi thiện pháp đã tu,
có thể tương ứng với Phật pháp
hay không cũng thành vấn đề lớn.
Không
chỉ có thế, theo Kinh Hoa Nghiêm: Một
hành giả dù đã phát tâm Bồ
đề, động cơ phát tâm lúc
đầu, tuy nói là để hóa độ
chúng sinh, nhưng lâu dần, trên
đường đạo Bồ đề, hoặc
vì bận xử lý việc đời, hoặc
vì không chịu được thử thách,
hoặc vì cảm thấy chúng sinh khó
hóa độ, thế rồi tự nhiên quên
mất tâm nguyện Bồ đề đã
phát lúc đầu. Về việc này
Đức Phật đã nói cho chúng ta
biết: “Quên mất tâm Bồ đề
thì tu mọi thiện pháp cũng thành ma
nghiệp”. Gọi là quên mất tâm
Bồ đề, không nên nghĩ là chưa
từng có cái tâm ấy. Kinh nói:
“Xưa có một vị Bồ Tát gặp
được một đấng Như Lai, liền
phát tâm Bồ Đề. Như vậy
đáng lẽ rất tốt, nhưng về sau trong tu
hành ở thế gian, quên mất cái tâm
Bồ đề đã phát, cư như là
chưa hề xảy ra chuyện đó. Hành
giả quên mất tâm Bồ đề như
vậy, mặc dù vẫn tu hành mọi thiện
pháp ở thể gian, như tu ngũ giới, thập
thiện, tứ thiền, bát định… cụ
thể hơn, như bắc cầu, rải
đường, cho áo, cho ăn, cho thuốc tứ
sự v.v… đều có thể gọi là
thiện pháp. Tóm lại, phàm việc gì
có ích cho nhân quần xã hội, thế
giới, nhân loại, đủ các loại
việc từ thiện như vậy, đều có
thể gọi là thiện pháp. Nhưng mọi
thiện pháp đã tu, nếu tương ứng
với tâm Bồ đề, tự nhiên sẽ
trở thành tư lương thành Phật.
Còn nếu không tương ưng với tâm Bồ
đề thì tất cả đều thuộc ma
nghiệp.
Cái
gọi là ma nghiệp ấy là gì ? Ma, như
mọi người đều biết, tức là ma
vương, tác dụng duy nhất của ma
vương là cản trở chúng ta hướng
lên, hướng về cái thiện, hướng
về quang minh. Không nên nghĩ chỉ có ma
vương trên trời lục dục mới là
ma, phàm những cái gì ngăn trở
chúng ta trên con đường xuất thế
đều có thể gọi là ma. Lấy
thiên ma mà nói thì tà dục chỉ
mong chúng sinh trong tam giới đều làm con ma,
cháu ma, trở thành quyến thuộc của ma.
Vì thế khi có một người muốn
vượt ra ngoài tam giới, là ma vương
phát hoảng, sợ rằng quyến thuộc của
nó lại thiếu đi một. Thế là
nó thi triển mọi chước quỷ mưu ma, cản
trở lưu giữ người muốn xuất tam
giới ấy, không cho ra khỏi tam giới. Do
đó, quên mất tâm Bồ đề mà
tu mọi thiện pháp, thì nhiều nhất
cũng chỉ cảm thấy được qủa
phúc báo sinh lên cỏi trời mà
thôi, không thể thoát ra khỏi bàn tay ma
vương, vẫn nằm trong sự khống chế
của ma vương, ngoan ngoãn làm họ
hàng thân thuộc của ma vương.
Lại nói thêm,
phát tâm Bồ đề rồi mà lại
quên mất tu các thiện pháp còn là
ma nghiệp, huống gì căn bản không
phát tâm Bồ đề, không lập
nguyện Bồ Tát ? Những người như
vậy tu các thiện pháp thì càng
không phải nói. Cho nên nói: “Quên
đi còn như vậy, huống gì là
chưa phát”. Từ đây có thể
thấy rõ hơn, phát tâm Bồ đề
quan trọng như thế nào.
3.1. Thế
nào là Tà phát tâm Bồ đề?
Ở
đây, chúng ta cũng có thể
được gợi ý cho thấy, phát tâm
lập nguyện, tuy nói rằng ai cũng có
thể làm được, nhưng phải
được một bậc đại thiện trí
thức chỉ rõ. Theo sự chỉ dẫn của
bậc thiện tri thức mà phát tâm lập
nguyện, thì có thể tiến lên theo
mục tiêu chính xác. Nếu gặp thầy tà
bạn ác chỉ vẽ cho ta phát tâm lập
nguyện, thì chúng ta không những không
có mục tiêu chính xác để theo,
mà tiền đồ của chúng ta cũng
rất nguy hiểm. Điều này không thể
không đặc biệt chú ý.
Phát
tâm thường nói đến trong Phật
giáo, tức là động cơ như
người ta vẫn nói. Động co có
thuần chính hay không, có quan hệ rất
lớn đối với tiền đồ của ta.
Nếu động cơ không tốt, không ngay
thẳng thì chí nguyện lập ra cũng ắt
là tà ngụy. Phát tâm lập nguyện
lập ra cũng ắt là tà ngụy. Phát
tâm lập nguyện đã tà ngụy,
thì hành vi ắt sẽ thiên lệch, kết
quả đương nhiên sẽ không thể
tốt được. Ngày nay người ta phát
tâm lập nguyện thực sự để giải
thoát sinh tử thì ít lắm.
Trong
khuyến phát Bồ đề tâm của pháp
sư Diễn Bồi dịch trang 56-64. Đại sư
Tỉnh Am đã dạy: “Ở đời có
kẻ tu hành, vẫn là tu hành đấy,
nhưng không suy ngẫm tự tâm, chỉ lo
việc ngoài: Hoặc cầu lợi dưỡng
hoặc chuộng hư danh, hoặc tham dục lạc
ở đời này, hoặc mong quả báo kiếp
sau. Phát tâm như thế gọi là tà
phát tâm ?”.
* Theo
như Đại sư Tỉnh Am nói: Trên
đời có một số người tu hành,
tuy nói là phát tâm tu hành, nhưng
họ chỉ biết tu mà không biết suy
ngẫm tự tâm. Người tu học Phật
pháp chân chính thì điều quan trọng
nhất là tu tâm. Vì thế, trong kinh Phật
có lúc gọi tu hành là tu tâm. Trong
toàn bộ giáo lý Phật pháp
đại thừa, tuy không thể nói hết
thảy điều thuộc duy tâm luận, nhưng
về đại thể, Phật pháp rất trọng
tâm linh. Cho nên trong tát phẩm Tống
Kính Lục, Diên Thọ Thiền sư ở
Vĩnh Minh: “Thiên kinh vạn luận, tất minh
duy tâm”. (Muôn kinh nghìn luận, tất
cả đều làm rõ cái tâm). Cái
tâm của ta, suốt ngày như vượn
chuyền cành, như ngựa không cương, khi
lao về Đông, lúc chạy về Tây,
đâu có chịu nghe theo sự khống chế
của ta. Đã không thể khống chế
được tâm, đương nhiên cũng
không thể hiểu rõ nó. Như ta, lúc
bình thường, cái tâm rõ ràng
là chạy theo hướng ác, tức dục
vọng hay còn gọi là ngũ dục
lạc… mà vẫn cứ nói tâm ta
thiện. Chẳng phải đây là một
hiện tượng tồn tại phổ biến hay sao ?
Cho nên đức Phật từ lâu đã
nói cho những người tu hành Phật
pháp biết rằng phải từng giờ từng
ngẫm về cái tâm của mình. Khi tu
hành ta phải luôn tự hỏi: Tâm ta giờ
này đây thế nào, ở trong ở
ngoài, hay ở giữa, là thiện hay là
ác hay là vô ký. Người tu học
Phật pháp, sở dĩ dụng công học
đạo, không ngoài suy ngẫm lòng
mình, tức là việc lớn đã xong,
tất cả thành công viên mãn.
Cái
tâm của ta từ xưa đến nay phải
chăng là cái tâm phân biệt hư
vọng và bên trong cái tâm phân biệt
hư vộng này phải chăng còn có
một cái tâm không phân biệt ? Khi tu
hành chúng ta phải suy ngẫm như vậy.
Nên suy ngẫm, mò mẫm lâu dài,
trường kỳ như vậy, cho đến một
lúc bổng nhiên sáng bừng lên, tìm
ra chính mình, thấy được thực
chất vốn có của mình, lúc đó
vấn đề đã được giải
quyết.
Trên
đời có người tu hành, không
những không suy ngẫm lòng mình mà
lại “chỉ lo việc ngoài”. Cái
gọi là “ngoại vụ”, dưới
đây sẽ giải thích riêng, ở
đây có thể tổng quát thành
một câu, là để cho cái tâm của
mình rong ruỗi việc ngoài, khi chạy về
Đông, lúc theo về Tây, không có
cách nào kìm giữ được. Chính
là vì cái tâm suốt ngày rong ruổi
bên ngoài không một phút giây ngừng
nghỉ, cho nên việc tu hành trước sau
không tương ứng được.
Cái
tâm chỉ biết lo việc ngoài ấy là lo
cái gì ? Nói ra thì rất nhiều, ở
đây chỉ vắn tắt nói mấy
điều quan trọng.
*
“Hoặc cầu lợi dưỡng”, đây
là một đối tượng của
“ngoại vụ”. Lợi dưỡng tức
là tài lợi cúng dường, là
cốt nói đến người xuất gia tu
hành. Ta vứt bỏ tài vật thế tục
để vào chùa sống cuộc sống của
người xuất gia, mọi thứ cần cho cuộc
sống hằng ngày đều là dựa vào
sự cúng dường từ bên ngoài.
Trên lập trường Phật pháp, vốn
dĩ là có một phần tu hành, tất
nhiên sẽ cảm ứng một phần cúng
dường. Vấn đề là xem ta có phải
thật thà tu hành không. Thật thà tu
hành học đạo, không lo không có
cúng dường. Nhưng trong thực tế, đa
số người tu hành vẫn cứ thấy lo
sợ rằng sự cúng dàng của mình
có thể gián đoạn, do đó không
ngừng chạy theo sự cúng dàng bên
ngoài để mong nuôi sống bản thân của
mình, duy trì cuộc sống hàng ngày
của mình. Thời Phật tại thế và
ở các quốc gia Phật giáo phương
*
“Hoặc chuộng hư danh” là đối
tượng thứ hai của “ngoại vụ”.
“Hư danh” là cái danh hão huyền,
tức là cái tiếng tăm như thế
tục nói. Tiếng tâm là sinh mệnh thứ
hai của người. Một người có
tiếng tâm tốt, không những là dễ
dàng sống hòa hợp với người
khác, mà trong việc lập thân xử thế
cũng là một nhân tố rất quan trọng.
Như ta làm một việc gì đó, có
thành công được hay không, hoàn
toàn là xem tiếng tăm của ta thường
ngày ra sao mà quyết định. Vì thế
mọi người phải lo sao cho có tiếng tăm
tốt. Điều đó vốn không có
gì là không tốt. Nhưng một hành
giả xuất gia tu hành, dụng công tu hành
sao cho tinh tiến là phận sự của
người xuất gia, không cần gì mà
phải rêu rao ngoài miệng, càng không
cần gì mà phải đem điều
đó ra để tỏ rằng mình là
người tu hành. Thực tế có rất
nhiều người hay phô trương khoe khoang
công phu của mình, để cho mọi
người biết anh ta tu hành ra sao. Xét
nguyên nhân và mục đích không
ngoài ý muốn được người
khác khen ngợi mình, để cho tiếng tăm
lan truyền như vậy tức là tham cầu hư
danh. Một người tu hành chân chính,
đã không nên cầu lợi dưỡng,
lại không nên chuộng hư danh, vì điều
đó là không phù hợp với việc
tu hành.
*
“Hoặc tham dục lạc đời này”,
đó là kiểu “ngoại vụ”
thứ ba. Theo Phật pháp, người tu hành chân
chánh phải diệt trừ, xưa đuổi ngũ
dục ra khỏi tâm trí của mình. Nếu
như không thể xua đuổi dục lạc
đời này, trái lại còn tham tiếc
thì việc tu hành không thể đạt
được mục đích. Nếu biết
rằng năm thứ dục lạc (sắc, thanh,
hương, vị, xúc) có một sức mạnh
rất lớn, thường làm mê hoặc
những người phàm tục ở thế gian,
nó làm cho người ta mê đắm.
Không biết rằng tham tiếc dục lạc bây
giờ thì tương lai sẽ thành năm
sợi dây ràng buộc vào trong địa
ngục. Vì một khi ta sa vào cái bãy
của ngũ dục thì chỉ có ngày
ngày lún sâu vào hố sâu của
ngũ dục, khác nào lửa cháy chất
thêm củi, ngọn lửa sẽ cháy to hơn.
Nói thực, người ta từ vô lượng
kiếp, thường ở trong lục đạo luân
hồi, tử sinh không thể độ thóat
chính là vì tham tiếc ngũ dục
trước mắt. Chư Phật bảo cho chúng ta:
“Bất cứ một hành giả Phật
pháp nào, nếu muốn lìa bỏ
đường mê mà lên bờ giác,
chuyển phiền não thành Bồ đề,
thì chỉ có một cách duy nhất là
từ bỏ ngũ dục”. Cho nên bất luận
là tại gia hay xuất gia, nếu muốn phát
tâm tu hành thực sự thì phải thờ
ơ với dục lạc thế gian hiện thời.
Không nên có một chút tham tiếc
hoặc theo đuổi. Giả định vẫn còn
tham tiệc, thì cái tâm của ta hiện nay
tất nhiên sẽ vẫy vùng trong cảnh
giới ngũ dục, khi thì chạy theo sắc
đẹp trước mắt, khi thì chạy theo
hương quyến rũ hoặc xúc giác của
thân thể. Trong tình hình đó, cái
tâm của ta làm sao có thể để
yên ổn trênđối tượng quán
sát, tu hành đúng pháp được ?
Cho nên tham cầu dục lạc kiếp này
là một động lực lớn làm cho
tâm ta chạy theo việc ngoài.
*
“Hoặc mong quả báo kiếp sau”, là
dạng “ngoại vụ” thứ tư. Mục
đích chân chính của việc tu học
Phật pháp, tất nhiên là để
giải thóat khỏi sinh tử, không nên
có hy vọng cầu tìm cái gì khác
cả, càng không nên trông mong phúc
lạc quả báo vị lai. Nhưng phần lớn
người tu hành, nhất là người tu tai
gia, thường thường học Phật tu hành
chỉ là để tìm cầu phúc lạc
quả báo vị lai. Như vậy quả là sai.
Nên biết trông mong quả báo vị lai
tốt hơn hiện tại, dù ta có tìm
được thì ta vẫn trong vòng luôn
hồi sinh tử, chưa giải quyết được
vấn đề. Hơn nữa, nếu phát tâm
như vậy, vì chỉ một dạ tìm quả
báo kiếp sau, cho nên tâm ta tự nhiên lo
tính việc ngoài, không thể đặt yên
trên cỏi Phật, tu hành đúng pháp.
Vì vậy, trông mong quả báo vị lai
cũng là không được.
*
“Phát tâm như vậy thì gọi là
phát tà tâm”, đây là lời
tổng kết. Các loại phát tâm
đã nói trên tức là phát tà
tâm. Dựa vào cái tà tâm đó
mà lập nguyện là tà nguyện. Nói
theo Phật pháp một cách chính xác,
phát tâm lập nguyện như thế thì
thà rằng không phát tâm lập nguyện
còn hơn, vì làm như vậy không
những không thể nào tương ứng
với Phật pháp mà còn có hại cho
mình. Cho hay, bất cứ người nào
phát tâm lập nguyện nếu không theo
chính lý, không đi vào chính
đạo, tham cầu những lợi ích lớn
thế gian, ham muốn tiếng tâm ở thế gian,
tập nhiểm dục lạc thế gian, trong mong quả
báo vị lai… không thể gọi là
phát tâm lập nguyện chân chính, chỉ
có thể gọi là tà tâm, tà nguyện.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Sau khi Phật diệt
độ, trong thời mạt pháp, tà sư
thuyết phát hằng hà sa số, làm cho
người tu chân chánh thành quyến thuộc
ma”, hay trong bài “Hiển chính biện
ngộ”, Đại sư Ấn Quang nói:
“Ngoại đạo ngày nay khắp thế gian
đều thấy”. Nhưng đáng ghét
nhất là những ngoại đạo ấy, dựa
vào Phật pháp, dụ dỗ đồ
chúng, tạo tác phi pháp, cuồng hoặc
vô tri, đi vào ngoại đạo, nhầm theo
đường tà, kẻ không biết cứ
tưởng là chính pháp !
Trong
những ngoại đạo dựa vào Phật
pháp ấy, hãy lấy Đồng Thiện
Xã mà nói: Bất cứ một người
nào đến gặp Xã, khi nói cầu
đạo, trước hết phải do một giáo
thụ gì đó, lâm thời thay người
cầu đạo kính thỉnh Thánh Phật
Tiên Chân âm đàn, lại đòi
người cầu đạo phải tự mình
nhặt một cái lá thăm vò viên
bỏ trong chén, nếu mở ra thấy chữ
“chuẩn” thì mới cho phép nhập
Xã. Đã nhập Xã rồi, còn bắt
phải thề không được đem những
mật ngữ truyền dạy trong đạo nói
với người khác chưa nhập đạo, nay
đối với bố mẹ, anh em, con cháu,
chồng vợ cũng không được để
lộ. Nếu vi phạm lời thề, thì xin bị
xét đánh, chết cháy, chết đuối
hay bị bất cứ một cái chết bắt
đắc kỳ tử nào… Phát tâm lập
nguyện như vậy, tức là tà tâm
tà nguyện đã nói trên.
Không
riêng Đồng Thiện Xã như vậy, mà
còn nhiều người lợi dụng Phật
pháp để làm những chuyện phi pháp.
Cách đây không lâu có giáo
chử xứ sương mù… mọi
đường ngay nẻo tắt đều bí
hiểm. Những giáo môn không chính
đáng như vậy có đáng để
chúng ta học tập, sùng phụng hay không ?
Người có chút ích tri thức,
đều biết rõ cái xằng bậy của
nó, không gần gủi nó. Nhưng chúng
ta là đệ tử Phật phụng hành
chánh pháp, làm sao có thể theo chúng
mà xoay chuyển ?
3.2. Thế
nào là chân chánh phát tâm Bồ
đề ?
Lại
nữa trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm do
Pháp sư Diễn Bồi Dịch trang 65-67,
Đại sư Tỉnh Am có dạy: “Đã
không cầu lợi dưỡng tiếng tăm,
lại không tham dục lạc quả báo, chỉ
vì giải thoát sinh tử, vì giác
ngộ Bồ đề mà phát tâm, phát
tâm như vậy, gọi là “chính”
lại nữa: “Một lòng trên cầu
Phật đạo, một dạ dưới hóa
độ chúng sinh. Nghe đường Phật
dài xa, không sinh lùi khiếp; thấy chúng
sinh khó độ, không sinh chán mỏi. Như
trèo núi cao muôn nhẫn ắt phải
trèo đến đỉnh; như lên tháp chín
tầng, ắt phải lên đến ngọn.
Phát tâm như thế, gọi là
“chân”.
Phát
tâm tà tướng đã nói xong, bây
giờ nói về phát tâm chân chính.
Phát tâm nói ở đây và phát
tâm nói ở trên, hoàn toàn trái
ngược nhau, ở trên xuất phát từ tham
cầu lợi dưỡng, thích được
nổi tiếng… loại phát tâm nói
dưới đây, đã không tham cầu
lợi dưỡng, lại không thích tiếng
tăm; ở trên xuất phát từ tham cầu
dục lạc hiện thế, quả báo vị lai…
ở dưới, đã không tham cầu dục
lạc hiện thế, lại không mong chờ quả
báo vị lai, một lòng một dạ, chỉ
vì giải thoát sinh tử, vì giác
ngộ Bồ đề mà phát tâm tu
hành. Phát tâm như vậy gọi là
“chính”. Phát tâm để liểu sinh
thoát tử, mới nhìn, hình như chỉ
để giải thoát chính mình, nhưng
thật ra mục đích duy nhất của việc
học Phật, là để giải quyết vấn
đề lớn về sinh tử, sinh mệnh này
tiếp teho sinh mệnh khác, hình thành một
dòng chảy sinh mệnh tiếp nối nhau không
ngớt. Dòng chảy sinh mệnh này chìm
nổi trong bể khổ tử sinh. Đó chính
là nổi thống khổ cực lớn ! Chổ
khác nhau lớn nhất giửa Phật Giáo
và các tôn giáo khác, chính là
ở vấn đề lớn này. Bất cứ
một tôn giáo nào khác, trong giáo
lý của họ, xưa nay chưa từng chỉ cho
người ta cách giải quyết vấn đề
sinh tử như thế nào, thậm chí dạy
người ta cầu trường sinh, như Đạo
Giáo ở Trung Quốc, hoặc dạy người ta
cầu vĩnh sinh bất tử, như Đạo Cơ
Đốc hiện nay. Theo chính nghĩa Phật
pháp, chúng sinh ở thế gian này, trừ phi
không sinh, chứ đã sinh thì không
thể không tử. Nếu muốn không chết,
trước hết phải không sinh. Cái gọi
là trường sinh, vĩnh sinh, nói thẳng ra
chỉ là lừa dối người ngu mà
thôi. Từ xưa đến nay có ai đã
từng thấy người nào trường inh
hoặc vĩnh sinh ? Vẫn cứ là sinh rồi
tử, tử rồi sinh, sinh tử không ngừng. Vì
vậy, người học Phật chân chính,
tuyệt đối không phải là để
cầu trường sinh, vĩnh sinh, chỉ phát
tâm để giải thoát sinh tử, chỉ
phát tâm để cầu chứng vô
thượng Bồ đề. Ngày nào chưa
đạt mục tiêu đó thì ngày
đó còn không ngừng theo đuổi mục
tiêu đã nói trên.
Phát
tâm Bồ đề tâm có hai nhiệm vụ
lớn: Một là trên cầu Phật đạo
để tự lợi, hai là dưới là
hóa độ chúng sinh. Một lòng trên
cầu Phật đạo là nhiệm vụ thứ
nhất khi muốn hoàn thành nhiệm vụ
ấy, thì mọi ý nghĩ trước sau
đều phải tập trung tất cả vào đạo
Phật không một giây phút lãng quên,
càng không thể giữa đường lùi
bước. Một dạ dưới hóa độ
chúng sanh là thuộc nhiệm vụ thứ hai. Khi
muốn hoàn thành nhiệm vụ đó,
thì phải một lòng một dạ hóa
độ chúng sinh quyết không một chút
lòng nào vị kỷ.
Có
điều là, khi đã phát tâm, phải
tiến tới làm cho nó kiên cường, cho
dù có lúc “Nghe nói đường
Phật dài xa, không sinh lòng lùi
khiếp”, trước hết phải thừa nhận
mình vẫn là một phàm phu khổ não,
bắt đầu từ điểm là phàm phu cho
đến điểm cuối cùng chứng
được Phật quả, ở giữa là
một con đướng xa vời gian khổ. Nói
“đường Bồ đề xa lắc”
là như vậy. Con đường Bồ đề
đi từ phàm phu đến Phật quả là
rất dài, không thể đi hết trong thời
gian ngắn. Người phát tâm Bồ Đề,
không thể vì nghe nói đường Bồ
đề xa dài mà sinh lòng khiếp sợ
lùi bước, mà phải có một dũng
khí vô tỉ, phát huy tinh thần dũng
mãnh vô úy, khắc phục mọi khó
khăn, bài trừ mọi chướng ngại,
với ý chí chưa đạt mục
đích chưa thôi, đi hết cái lộ
trình Bồ đề xa lắc đó.
Còn
nữa, “thấy chúng sinh khó độ,
không sinh lòng chán nản mỏi mệt”.
Chúng sinh nói về số lượng thì
vô lượng vô biên, nhiều không sao
tính xuể, nói về mặt căn tánh,
thì mỗi người có một căn tính
khác nhau. Chúng sinh thuần lương, cố
nhiên dễ độ hóa, nhưng đa số
là cương cường ngang nghạnh. Gặp
những chúng sinh cương cường ngang
nghạnh ấy, không những không tiếp thụ
sự giáo hóa của ta, mà lại còn
có thể buông lời lăng nhục. Thậm
chí chân đá tay đấm, gặp những
chúng sinh như vậy, người hành
đạo Bồ Tát phải chịu đựng
được thử thách, quyết không
những không vì thế mà nảy sinh
lòng chán nản mỏi mệt, mà còn
phải sinh lòng thương xót, cảm thấy
những chúng sinh này ngu si thái quá, ta
không cảm hóa thì còn ai đến
cảm hóa cho ? Từ đó mà tìm
phương kế để giáo hóa, phải
làm để cho chúng sinh đó chịu
sự giáo hóa mà đi lên con
đường Phật thì mới thôi. Giả
định vì chúng sinh khó hóa độ
mà sinh lòng chán mỏi, thậm chí
không giáo hóa chúng sinh nữa thì ta
không thể nào hoàn thành được
cái bản nguyện hóa độ chúng sinh,
đó là một điều vô cùng
đáng tiếc.
Để
kiên định tâm nguyện, bây giờ xin
nêu một thí dụ: “Như trèo
núi cao vạn nhẫn ắt phải trèo
đến đỉnh”. Cao vạn nhẫn là
để nói độ cao của núi. Theo
cách xưa ở nước ta, tám thước
là một nhẫn, vạn nhẫn là tám
vạn thước. Núi cao vạn nhẫn là
núi cao tám vạn thước. Như chúng ta
trèo núi, không thể vì thế núi
cao vút mà nảy sinh lòng khiếp sợ
lùi bước. Để có thể mở
rộng tầm mắt, phải lên đỉnh cao,
thì mới có thể nhìn được
toàn cảnh bốn bên. Giả dụ trèo
lên lưng chừng núi rồi lùi xuống,
thì muôn vàn cảnh sắc, làm sao
thưởng thức được.
Qua
đó ta liên tưởng đến những
tấm gương tu hành của các vị Bồ
Tát phát tâm Bồ đề chân
chính. Bồ Tát là những nhân vật
sống động và hiện thật trong cõi
đời của chúng ta. Sự tích của
các Ngài chúng ta biết ít, dù sự
thị hiện của các Ngài thì vô
số. Song lẽ, kinh Phật dạy rằng, những
vị Bồ Tát ấy vốn mang ý nghĩa
tượng trưng để dạy ta phản tỉnh,
bắt chước theo gương sáng của
các Ngài. Sau đây là một vài
vị Bồ Tát chính giúp ta suy tư về
gương sáng của các Ngài.
+ Bồ Tát
Phổ Hiền: Gọi là Bồ Tát của
Đại hạnh, vì Ngài đại biểu cho
tinh thần tinh tấn, tu mọi pháp môn không
nhàm mỏi, không gián đoạn, không
giới hạn. Ngài thường được
hình dung cởi con voi trắng sáu ngà. Voi
là biểu tượng cho tính chắc thật,
bước đi vững vàng của công hạnh
tu trì. Sáu ngà voi tượng trưng cho
sáu Ba la mật căn bản.
+ Bồ
Tát Văn Thù: Gọi là Bồ Tát
của Đại trí, vì Ngài tượng
trưng cho nhân tu là lòng tín chân thật,
và quả tu là trí huệ bát nhã.
Ngài vừa là mẹ của đức tin mà
cũng là mẹ của trí huệ. Đức
Văn Thù thường được thấy
ngồi trên con sư tử. Sư tử, vị
chúa sơn lâm trượng trưng cho tâm
vô úy. Khi trong tâm không còn tư tưởng
hắc ám, được trí huệ chiếu
sáng thì cõi lòng sẽ hết sợ
hãi. Tay Ngài có lúc cầm cuốn kinh
Bát Nhã, có lúc cầm gươm trí
huệ, có lúc lại cầm cây như ý.
Như ý là một pháp khí đại
biểu cho quyền uy, muốn gì được
nấy, hết sức tự do tự tại; do
đó nó tượng trưng cho trí huệ
bát nhã, khiến ta được tự tại
không bị phiền não bức bách. Học
gương của Ngài là học cách tu
hành trong mọi hoàn cảnh, phiền não
nghiệp chướng.
+ Bồ Tát
Quán Âm: Ngài đại biểu cho lòng
đại bi vô hạn, sẳn sàng cứu khổ
cứu nạn, mà không phân biệt người
tốt xấu. Ngài là tấm gương
để ta học cách phát triển giáo
hóa tha nhân. Thông thường ta thấy
đức Quán Âm tay cầm bình nước
cam lộ, tay cầm nhành dương chi. Bình cam
lộ, tương truyền có thể chứa
trọn nước trong bốn biển: nó
tượng trưng cho mức độ sâu rộng
của lòng đại bi, có thể bao hàm
mọi tâm thái. Nước cam lộ là
nước đại bi, có thể dẹp tan lửa
sân hận. Nhành dương liễu mểm
mại là đặc tính hiền từ, như
nhuyến, đem lại thanh tịnh, trừ bệnh
độc. Học gương Ngài là bắt
chước lòng đại bi, thương yêu
chúng sinh vô điều kiện.
+ Bồ Tát Di
Lặc: Ngài đại biểu cho lòng hiền
từ, nhu nhuyến, bao dung, làm chổ dựa cho
tât cả chúng sinh, khiến ai cũng cảm
nhận sự ấm cúng và tình thương
chân thật. Ngài là tấm gương
để ta học cách đối xử với
chúng sinh. Tuy đức tướng của Ngài Di
Lặc đầy đủ 32 tướng như Phật,
như thông thường ta thấy Ngài
dưới hình dáng của Bố đại
hòa thượng: Một vị Tăng bụng
tròn, tay nắm quạt, tay xách bị, dạo
khắp nơi. Bụng tròn của Ngài là
biểu thượng cho lòng bao dung, hiền từ.
Có bài thơ tán thán Ngài rằng:
“Độ
dại năng dung, dung thiên hạ nan dung chi sự.
Khẩu
khai thường tiếu, tiếu thế gian khả
tiếu chi nhẫn”.
Nghĩa
là: Bụng lớn có thể chịu đựng,
tha thứ những việc mà thiên hạ khó
tha thứ. Miệng rộng hay cười, cười
những việc đáng cười của thế
nhân. Học gươngtốt của Ngài là
học lòng bao dung, từ hòa vô lượng.
+ Bồ Tát
Địa Tạng: Ngài tượng trưng cho
lòng hiếu thảo và tánh kham nhẫn
vô biên đối với chúng sinh. Ngài là
đại biểu của đại nguyện ba la
mật. Thường thường, Ngài tay cầm
tích trượng, tay cầm ngọc châu. Tích
trượng có 12 vòng vàng, khi tung nó
phát ra tiếng kêu loảng xoảng, rung
động và phá tan cửa địa ngục.
Tích trượng là đại biểu cho trí
huệ phá tan 12 nhân duyên sinh tử. Ngọc
châu của Ngài có thể chiếu soi cõi
hắc ám địa ngục, khiến chúng sinh
chịu khổ, khi thấy ánh sáng sẽ lập
tức theo đó thoát ra khỏi cõi đen
tối u minh. Ngọc châu chính là biểu
tượng của trí huệ chiếu thấu
cõi lòng phiền não u ám của
chúng ta. Học gương đức Địa
Tạng là học gương hiếu thảo với
tất cả chúng sinh. Thường tự soi
sáng cõi lòng, cũng như hy sinh bản
thân để thành tựu kẻ khác.
+ Bồ Tát
Đại Thế Chí: Ngài đại biểu cho
sức tinh tấn, kiên trì tu tập. Trong khi
đức Quán Âm tượng trưng khía cạnh
độ sinh nhập thế của Pháp môn
Tịn Độ, đức Thế Chí tượng
trưng cho khía cạnh chuyên tu xuất thế.
Ngài thường cầm đóa sen, tượng
trưng cho sự tu hành thanh tịnh, gnay trong cõi
ô trược tịnh nhiễm. Học gương
Ngài là học đức vô úy, không
bắt chước những tấm gương xấu,
những ảnh hưởng của kẻ xấu quanh
mình. Mình chỉ chịu ảnh hưởng
bởi những người hay những chân lý
nào mình muốn mà thôi. Đó
gọi là sức mạnh ý chí. Một khi
đã quyết định tu hành thì
mình giữ vững chí hướng không nghi
ngờ, bỏ bê nữa. Đó chính là
tinh thần của đức Đại Thế Chí.
Tóm
lại, người tu học Phật pháp, cần
phải chọn cho mình những tấm gương
sáng, noi theo đó học hỏi phát tâm
Bồ đề, thì mới có thể gọi
là phát tâm chân chinh. Người phát
tâm chanh chính là cực kỳ qúy
hóa.
3.3. Nhân
duyên Phát Tâm Bồ đề
Như
đã nói, con đường tu hành từ
phàm phu tới giác ngộ thì dài
lắm. Đôi khi phải mất rất nhiều
kiếp số, chứ không phải chỉ một
đời rồi “tức thân thành
Phật”. Chúng ta có biết khi Bồ Tát
muốn dẫn dắt chúng sinh tu hành nhiều
kiếp số như vậy, điều khó khăn
nhất đối với các Ngài là gi
chăng ?
Ngoài
sự phát tâm Bồ đề chân chánh
điều khó nhất chính là kết
duyên lành với chúng sinh. Kết duyên
lành nghĩa là làm người bạn
tốt, đáng tin cậy, đáng tín
nhiệm. Nói cách khác, theo ngôn ngữ
hiện đại, thì tức là làm sao
có được sự tính nhiệm, đắc
nhân tâm, có được sự tin cậy
của chúng sinh. Mà không lợi dụng,
lạm dụng và lợi dụng lòng tin cậy
ấy. Đó là điều khó.
Là
người tín đồ, mình biết vị
Thầy ấy có thể dẫn dắt mình tu
tới nơi tới chốn mình mới theo ông ta
chớ. Dại gì đi học theo những
người ích kỷ, lợi dụng mình
để làm chuyện lợi ích cho riêng
họ. Đặt lòng tin vào trật người
Thầy thì khổ lắm. Để giải quyết
vấn đề ấy, chư Bồ Tát đã
bắt đầu đường tu bằng hạnh
bố thí ba la mật; phục vụ, làm lợi,
bố thí, cấp dưỡng, chăm sóc,
nuôi nấng, bảo bọc… chúng sinh. Làm
tất cả những việc gì lợi ích
chúng sinh trước đã. Đương
nhiên, các Ngài làm nhưng không vì
quyền lợi, ích kỷ riêng tư.
Tục
ngữ nói: “Có thực mới vực
được đạo !” Do vậy, điều
thiết thực nhất để tạo sự tín
nhiệm là đáp ứng được nhu
cầu của chúng sinh. Mà những nhu cầu
này không ra ngoài những chuyện trong sinh hoạt
thường nhật; ăn uống, ngủ nghỉ,
công việc, gia đình, vui buồn, khó
khăn, bịnh hoạn, tai ương… Khi Bồ
Tát bố thí, các Ngài tìm cách
làm sao giải quyết những nhu cầu ấy.
Nhưng có lẽ nhu cầu lớn nhất của
chúng sinh là làm sao họ vơi khổ
đau, được vui sướng. Và đó
là lý do tại sao trước khi giảng
giải pháp môn tối hậu giác ngộ
thành Phật, chư Bồ Tát phải làm vô
lượng việc tốt, khiến chúng sinh bớt
khổ, thấy gương vị tha không ích
kỷ và tin tưởng vào đạo
đức của các Ngài.
Kết
quả ? Chúng sinh khi quan sát thấy cỏi
lòng thật sự tự tại không ích
kỷ, đầy lòng vị tha, từ bi của
các Ngài, họ sẽ tự nguyện theo chân
tu hành. Đó gọi là gieo duyên
lành.
Giờ xin nói
về nhân duyên Phát tâm Bồ đề.
Tâm Bồ đề này là vua trong các
thiện pháp; phải có nhân duyên mới
phát khởi được. Nói đến
nhân duyên Phát tâm Bồ đề thì
có rất nhiều, nếu nhất nhất nói ra,
thì không sao nói hết được.
Trong
quyển “Khuyết phát Bồ Đề
Tâm” của Pháp Sư Diễn Bồi dịch,
từ trang 98 – 283 nhà xuất bản Hà
Nội 1994 có viết.
Đại
sư Tỉnh Am khái quát sơ lược
thành 10 loại nhân duyên phát tâm
Bồ đề như sau:
+
Một là niệm trọng ân Đức Phật.
+
Hai là niệm ân Cha Mẹ.
+
Ba là niệm ân sư trưởng.
+
Bốn là niệm ân thí chủ.
+
Năm là niệm ân chúng sinh.
+
Sáu là niệm nỗi khổ sinh tử.
+
Bảy là tôn trọng tính linh của
mình.
+
Tám là sám hối nghiệp chướng.
+
Chín là cầu vãng sinh tịnh độ.
+
Mười là để niệm chính pháp
có thể trụ lâu.
Trong
10 loại nhân duyên trên, 5 loại đầu
là nhân duyên ngoại tại, 5 loại sau
là nhân duyên nội tại. Đây là
nội dung chính, tức là nói nhân
duyên phát tâm Bồ đề, cũng tức
là nói cho ta biết lấy nhân duyên
gì để phát tâm Bồ đề. Theo
Phật phát, bất luận làm gì cũng đều
có nhân duyên của nó. Có nhân
duyên rồi, sau đó mới có thể
làm được việc gì ta muốn làm.
Phát tâm Bồ đề, tất nhiên cũng
không thể thiếu nhân duyên. Nếu không
có nhân duyên, không thể phát tâm
Bồ đề.
a) Niệm ân
đức sâu dày của Phật mà Phát
tâm Bồ Đề
Kinh
Pháp Hoa nói: “Hạt giống Phật theo duyên
mà khởi phát”. Càng thấy rõ
nhân duyên phát tâm Bồ đề là
không thể thiếu được. Đệ tử
Phật tu học Phật pháp, bất luận là
tại gia hay xuất gia, quan trọng nhất không
gì hơn là luôn luôn tư niệm,
đức nặng sâu của Phật Đà
đã mang lại cho ta và phải nghĩ cách
báo đền. Cho nên “niệm ơn nặng
của Phật” mà phát tâm Bồ
đề được liệt vào thứ nhất.
“Vì
sao niệm ân đức sâu nặng của
Phật ? Là vì đức Phật Thích Ca
Như Lai của ta trước hết phát tâm
vì chúng ta mà hành đạo Bồ
Tát; trải qua vô lượng kiếp, chịu
đủ mọi nổi khổ. Khi ta tạo ra nghiệp
chướng, Phật rất thương ta, tìm
mọi phương tiện dạy bảo hóa
độ ta, nhưng ta ngu si không biết tín
thụ. Ta ra xuống dịa ngục, Phật rất
đau buồn, muốn chịu khổ thay ta, nhưng
nghiệp chướng ta quá nặng, không
thể cứu vớt ta ra khỏi địa ngục.
Ta đầu thai làm người. Phật dùng
phương tiện bảo ta trồng cây thiện
căn, đời đời kiếp kiếp Phật theo
sát ta (để giáo hóa) tâm người
không lúc nào lìa bỏ ta. Khi Phật
mới xuất thế, ta còn trầm luân. Nay ta
có thân người thì Phật đã
diệt độ. Tội gì mà sinh vào
thời mạt pháp ? Suy ngẫm như vậy, xưa
nay nếu không gây trồng thiện căn,
làm sao có thể được nghe Phật
pháp ? Không nghe Phật pháp thì đâu
biết thường chịu ơn Phật ? Ân ấy,
đức ấy, đồi núi khó bì.
Trừ phi phát tâm quảng đại, hành
đạo Bồ Tát, kiến lập Phật
pháp, cứu độ chúng sinh thoát khổ,
thì dù nát thịt tan xương há
dễ đền đáp (ơn đức Phật).
Ấy là nhân duyên phát tâm Bồ
đề thứ nhất như vậy”.
b) Nhớ công
ơn Cha Mẹ mà phát tâm Bồ đề
Muốn
báo đền ân đức Phật,
đượng nhiên phải vận dụng sinh
mệnh của ta, mà sinh mệnh này là do Cha
Mẹ ta mang lại. Ân đức của cha mẹ,
cũng không thể không báo đền. Cho
nên “Niệm ân đức cha mẹ”
mà phát tâm Bồ Đề liệt vào
thứ hai.
“Rằng
sao phải nhớ công ơn Cha Mẹ ? Đau buồn
cho Cha Mẹ, vất vả sinh ta, mười tháng mang
thai, ba năm bú mớm, nhường khô bỏ
ướt, nuốt đắng nhả ngọt, ta mới
thành người, những mong nối dõi tông
đường cung thừa tế tự. Nay chúng ta
đã xuất gia, lạm xưng Thích tử,
thẹn nhận danh hiệu Sa môn. Bùi ngọt
không dâng, tế tự không có, khi cha
mẹ sống không thể phụng dưỡng, khi cha
mẹ chết không thể dẫn linh. Đối
với thế tục đã là tổn thất
lớn cho cha mẹ, mà cũng không
được ích gì để giúp cha
mẹ họ hàng giải thoát sinh tử, siêu
thăng Tịnh độ. Cả hai đằng
đều sai, tội nặng khó trốn. Suy nghĩ
như vậy, chỉ có luôn hành Phật
đạo suốt trăm kiếp nghìn đời,
phổ độ chúng sinh khắp thập
phương tam thế, thì không chỉ cha mẹ
đời này mà cha mẹ kiếp kiếp
đều được cứu vớt, không chỉ
cha mẹ một người mà cha mẹ mọi
người, thấy được siêu thăng.
Đây là nhân duyên phát tâm Bồ
đề thứ hai vậy”.
c) Niệm ơn
Sư Trưởng mà Phát tâm Bồ
Đề:
Sinh
mệnh của ta do cha mẹ cho, nhưng có
được tri thức, hiểu được ít
nhiều Phật pháp là nhờ có sự
dạy bỏ dẫn dắt của sư trưởng.
Không có sự dạy bảo dắt dẫn
đó, ta sẽ không biết gì. Cho nên
“niệm ân đức sư trưởng”
mà phát tâm Bồ đề được
liệt làm thứ ba.
“Vì
sao nhớ ơn Sư Trưởng ? Cha mẹ tuy có
thể sinh ra thân ta, nhưng nếu không có
sư trưởng thế gian thì không biết lễ
nghĩa; nếu không có sư trưởng
xuất thế, thì không hiểu Phật pháp.
Không biết lễ nghĩa thì giống như
dị loại, không hiểu Phật pháp thì
chẳng khác người trầng tục. Nay lũ
chúng ta bởi biết lễ nghĩa, hơi hiểu
Phật pháp, cà sa phủ thân, giới
phẩm che mình, cái ơn nặng đó
đều là nhờ sư trưởng mà
có. Nếu cầu chứng tiểu quả, thì chỉ
có thể tự lợi. Nay muốn thành
đạo đại thừa, phải phát nguyện
lợi khắp mọi người. Có như thế
thì hai loại sư tưởng thế gian và
xuất thế đều được lợi. Ấy
là nhân duyên phát tâm Bồ đề
thứ ba”.
d) Niệm ơn
thí chủ mà Phát tâm Bồ đề:
Với
người xuất gia học Phật mà nói, cha
mẹ sinh ra ta, sư trưởng dạy bảo ta, cố
nhiên không sai. Nếu như không có sự
cúng dường tài vật của thí
chủ, thì ta không thể yên tâm học
đạo, trụ trì Phật pháp, độ
hóa chúng sinh. Do đó, người xuất
gia học Phật, ắt phải luôn luôn tư
niệm ơn thí chủ.
“Thế
nào là niệm ơn thí chủ ? Chúng ta
ngày nay thức ăn vật dụng hàng ngày
đều không phải do ta mà có. Cháo cơm
ba bửa, quần áo bốn mùa, những khi
ốm đau, tổn phí để nuôi thân,
nuôi miệng đều là nhờ ở sức lao
động của người khác cung cấp cho chúng
ta chi dùng. Một hành giả xuất gia học
Phật pháp, bất luận là tự lợi hay
lợi tha, muốn khỏi phải lo nghĩ cho đời
sống, phải có thí chủ phát tâm
cúng dường, nhờ sư phát tâm
cúng dường của thí chủ, mà
có thể thành tựu được đạo
nghiệp xuất gia hoặc hạnh nguyện độ
sanh. Như vậy, ơn đức của thí chủ
đối với người xuất gia là rất
lớn. Nhưng ở đây cần phải nói
rõ, thí chủ cúng dường Tăng
Bảo phải có cái tâm thuần khiết,
không thể lẫn vào đây một
động cơ phụ nào cả thì mới
thực sự có công đức lớn. Nếu
không như thế, thì dù phát tâm
cúng dường Tăng Ni công đức cũng
chẳng được là bao, thậm chí
không có công đức gì. Đại
sư Tỉnh Am dạy: “Kẻ kia dốc sức
cấy cày, khó lòng dủ miệng. Ta
đây mặc đủ còn thừa, biết đâu
tiếc của ? Kẻ kia cửa liếp nhà tre,
tất bặc suốt đời. Ta thì cửa cao
chùa rộng, quanh năm nhàn rỗi. Lấy
cái lao động của người kia để cho
chúng ta nhàn dật, trong lòng yên chăng ?
Đem cái lợi của người khác
để nuôi béo chúng ta, với lý
có thuận chăng ? Nếu không phải bi
trí song hành, phúc tuệ nhị nghiêm,
bố thí được ơn, chúng sinh nhận
thưởng, thì hạt gạo tất vải cũng
có phận phải đền, ác quả khó
thoát. Aáy là nhân duyên phát tâm
Bồ đề thứ tư vậy”.
e)Nhớ ơn chúng
sinh mà phát tâm Bồ đề:
Giữa
người với người có quan hệ dựa
vào nhau mà sinh tồn, cho nên nhân loại
thế giới đan vào nhau thành một mạng
lưới quan hệ hết sức mật thiết,
chúng sinh hình như không có quan hệ gì
với ta, nhưng từ vô thỉ cho đến
ngày nay với thời gian dài ấy, cũng
là có quan hệ thân thuộc.
“Đại
sư Tỉnh Am dạy: “Ta với chúng sinh,
từ nhiều kiếp trước đến nay,
đời đời kiếp kiếp đã từng
là bố mẹ của nhau, có ơn đức
với nhau. Nay vì khác kiếp hôn mê
không nhận ra nhau, theo lý mà suy, há
không báo đáp ? Nay là trâu ngựa
mang lông đội sừng, biết đâu trước
kia không phải là con ta ? Nay là sâu
bướm bò trườn bay lượn, biết
đâu xưa chẳng từng là cha ta ?
Thường thấy, trẻ nhỏ rời xa cha mẹ,
lớn lên dung mạo thảy đều quên.
Huống gì thân duyên kiếp trước,
mà nay khó rõ họ Trương hay họ
Nguyễn. Kẻ kia gào khóc dưới
địa ngục, vật vã trong ngạ quỷ,
đau khổ ai hay, đói rét ai tỏ ? Ta tuy
không thấy không nghe, nhưng kẻ kia ắt
đang cầu xin cứu vớt. Ngoài kinh ra không
ai kể được việc này, ngoài Phật
ra không ai nói được lời này. Lũ
người tà kiến kia, đâu có thể
biết được ? Vì lẽ đó Bồ
Tát thấy sâu kiến đều là Cha
Mẹ ta xưa kia, là chư Phật sau này cho
nên luôn luôn nghĩ cách mạng lại
lợi ích cho sâu kiến, luôn luôn nghĩ
cách báo ơn sâu kiến. Ấy là
nhân duyên phát tâm Bồ đề thứ
năm”.
f) Nhớ nỗi
khổ sinh tử mà Phát tâm Bồ Đề:
Năm
loại ân đức đã nói trên
là điều mà những người tu học
Phật pháp phải ghi nhớ. Nhưng mục
đích cuối cùng của việc tu học
Phật pháp là giải thoát nổi khổ
lớn sinh tử. Nếu không vì cái mục
đích cuối cùng ấy thì hà tất
phải học Phật, học Phật có ý
nghĩa gì ? Cho nên “Niệm nổi khổ sinh
tử” mà Phát tâm Bồ đề
liệt vào thứ sáu.
Đại
sư Tỉnh Am dạy: “Thế nào là
nhớ nỗi khổ sinh tử ? Đó là
nói ta và chúng sinh từ nhiều kiếp
đến nay, luôn luôn trong luân hồi sinh
tử, chưa được giải thoát. Cõi
người, trên trời, giới này phương
khác, biến đổi khôn cùng, thăng
trầm chốc lát. Chốc ở trên trời,
chốc ở cỏi người, chốc ở
địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Hắc môn
sớm ra mà chiều về, hang thép tạm
rời mà lại nhập. Lên núi đao,
khắp mình không còn mảnh da lành;
trèo cây kiếm, từng mẫu nhỏ thịt
xương cũng nát; sắt đỏ không
thể đói lòng, hễ nuốt vào
ruột gan đều như nát. Đồng chảy
khó uống cho đở khát, uống vào
xương thịt đều tan. Cưa sắt sẽ
thân, đứt rồi lại nối, nghiệp phong
thổi nhẹ, chết rồi lại sinh. Trong thành lửa
cháy, không nỡ nghe thảm thiết tiếng gào;
trên chậu rán quay, chỉ vang lại tiếng
kêu thống khổ. Băng lạnh vừa ngưng,
thì hình trạng (tội nhân) như sen xanh
kết nhụy; máu thịt nức nỡ, thì
thân thể (tội nhân) như sen đỏ nở
hoa. Một đêm địa ngục, tử sinh
đã trải muôn lần, một sáng khổ
đau, nhân gian đã qua trăm tuổi. Nhiều
lần phiền ngục tốt vất vả, ai tin lời
răn dạy của Diêm Vương. Chịu tội
biết khổ, dù hối hận cũng muộn
rồi, đã thoát lại quên, vẫn như
xưa gây nghiệp ác. Đánh lừa bật
máu, ai hay cực nhục mẹ ta ? Dắt lợn
vào lò, đâu biết cha mẹ ta đau
đớn. Ăn thịt con mà không biết,
văn vương còn vậy, ăn thịt cha
nào có hay, giống phàm đều thế.
Ân ái năm nào nay hóa oan gia, giặc
thù ngày xưa nay thành cốt nhục. Xưa
là mẹ mà nay là vợ, trước là
cha mà nay là chồng, có túc mệnh
thông biết được thì hổ nhục
xiết bao, có thiên nhãn thông thấy
được thì thật đáng cười
đáng thương. Lẫn trong bọc phân,
mười tháng nằm co tù túng ! Máu
ối tanh hôi, đầu lộn chui ra lộn
ngược ! Thơ dại mà hay, Đông Tây
chẳng biết, đến khi khôn lớn, tham dục
liền sinh. Chẳng mấy chốc già ốm
tím theo, trong nháy mắt, vô thường
lại đến ! Gió lửa thét gào,
thần thức ở trong tán loạn; tinh huyết
đã kiệt, da thịt ở ngoài héo
khô. Không một sợi lông không bị kim
chích, không một huyệt khiến không
bị dao đâm, con rùa đem ninh, lột mai
nó dễ, thần thức sắp tắt, khó
lìa xác hơn. Tâm không chủ
định, như con buôn xuôi ngược nơi
nơi; thân chẳng định hình, như
nhà ở thường thường đổi. Như
hạt bụi thế giới đại thiên, sao
đếm hết bao nhiêu thân qua lại, như
mệnh mang tứ hải ba đào, ai đếm
xuể có bao nhiêu biệt lệ ? Đống
xương khô ngất nghểu vượt cả
núi cao, bãi thây xác mênh mông,
rộng hơn mặt đất. Giả sử không
được nghe lời Phật dạy, sự thực
này ai thấy ai nghe ? Nếu như không
được học Phật kinh, lý lẽ ấy sao
hay sao biết ? Có người vẫn tham luyến
như xưa, si mê như cũ, chỉ e trăm
kiếp nghìn đời, một lầm trăm lỡ.
Thân người khó được mà dễ
mất, giờ lành khó đến mà dễ
để qua. Đường sá mịt mờ, ly
biệt dài lâu. Ác báo chốn tam
đồ, vẫn phải tự ta gánh chịu.
Đau lòng không nói được, nào ai
thay được cho ta ? Nói đến điều
này há không lạnh gáy ? Vì lẽ
đó, nên dứt lòng sinh tử, rời
bể ái dục , tự cứu, cứu người
kiêm đủ, cùng lên bờ bến Niết
Bàn, công huân khoáng hậu không
tiền, chỉ một việc này là đủ. Ấy
là nhân duyên phát tâm Bồ đề
thứ sáu vậy”.
g) Tôn
trọng tính linh mình mà phát tâm
Bồ đề:
Hiểu
rõ sinh tử là một nỗi khổ lớn,
muốn giải quyết đại khổ đó,
tất phải tôn trọng tính linh của
mình, cũng tức là tự mình tôn
trọng mình. Giả sử như một người
không tôn trọng tính linh của mình,
thì ở thế gian anh ta sẽ tạo ra đủ
loại tội lỗi, sống bất thiện, làm
sao có thể giải thoát sinh tử
được ? Cho nên: “Tôn trọng tính
linh của mình” mà phát Bồ Đề
tâm liệt vào thứ bảy. Đại sư
Tỉnh Am dạy: “Vì sao tôn trọng tính
linh của mình ? Rằng cái tâm hiện nay
của ta cùng cái tâm của Phật Thích
Ca Như Lai là vô nhị vô biệt. Vì sao
đức Thế Tôn từ kiếp vô
lượng đến nay đã sớm thành
chánh giác. Còn chúng ta hôn mê
điên đảo vẫn làm phàm phu ? Lại
nữa, đức Phật Thế Tôn thì có
thần thông, trí huệ, công đức trang
nghiêm vô lượng, còn chúng ta thì
chỉ có nghiệp hệ, phiền não, trói
buộc sinh tử vô lượng. Tâm tính
là một mà mê ngộ vực trời.
Nghĩ lại suy đi, há không hổ thẹn ?
Ví như châu báu vô giá mà
vùi trong bùn đọng, coi như ngói
vụn, không quý tiếc trân trọng, vì
lẽ đó nên dùng thiện pháp vô
lượng mà đối trị phiền não, tu
có công đức, thì tính đức
mới khai hiển. Như châu báu được
rửa sạch, đỉnh treo lên cờ cao sẽ
tỏa sáng soi gọi khắp nơi, làm lu mờ
hết thảy mọi thứ ánh sáng khác.
Như thế thì có thể nói là
không phụ công giáo hóa của Phật.
Không phụ tính linh của mình. Ấy
là nhân duyên phát tâm Bồ Đề
thứ bảy”.
Tóm
tắt những điều nói trên, đã
làm người đều có Phật tính,
thì “vì lẽ đó” nay làm
người, lại mai gặp được Phật
pháp, “nên dùng thiện pháp vô
lượng mà đối trị mọi phiền
não”. Phát tâm tu học Phật pháp,
bài học duy nhất đầu tiên là
đối trị phiền não. Vì chúng sinh
sở dĩ lưu chuyển trong luân hồi sinh tử
là do sự dẫn dắt của nghiệp lực,
mà đứng đầu nghiệp lực là
phiền não đang không ngừng phá rối.
Nếu có thể diệt trừ sự phá
rối của phiền não thì sẽ có
thể không tạo ra nghiệp hữu lậu nữa,
không có sự thúc đẩy của
nghiệp lực hữu lậu, thì tự nhiên
không phải chịu nỗi khổ sinh tử.
Thiện pháp vô lượng, nói rộng
là tám vạn bốn nghìn pháp môn.
Dùng tám vạn bốn nghìn pháp môn
đó đối trị tám vạn bốn
nghìn phiền não. Nói giản đơn
đó là sáu phép Ba La Mật mà
Bồ Tát tu. Tu như thế đến trình
độ hoàn mãn thì chỉ có thể
đối trị sạch mọi phiền não.
Chúng
ta biết rõ tính linh sẵn có của
mình vốn là sáng quắt rực rỡ
và có tính đức thiên nhiên,
thì nay, nếu có thể trên cơ sở
tôn trọng tính linh của mình mà tu
đức một cách thiết thực, thì
có thể nói là “không phụ
công” Phật Đà quay buồm từ bi
xuất hiện ở nhân gian mỏi miệng, nhọc
lòng “giáo hóa” chúng ta. Vì
Phật hiện về nhân gian thuyết pháp
là để giáo hóa chúng sinh. Nay theo
lời dạy của Phật Đà mà làm,
đương nhiên không phụ lòng từ bi
giáo hóa nhân loại của Phật
Đà. Đồng thời ta tu hành theo lời
giáo huấn của Phật, làm cho tính linh ta
hiển hiện, không còn bị vùi lấp
trong bùn nhơ, thì không những không
phụ công giáo hóa của Phật. Từ
vô thỉ đến nay, chúng ta điên
đảo mê hoặc, tạo nghiệp chịu
khổ, cố nhiên phụ công giáo hóa
của chư Phật, thực ra còn phụ cả
tính linh của mình. Của nhà quý
báu vốn có trong tính linh của mình
không đem ra dùng mà cam tâm luân
lạc làm kẻ hành khất bần cùng,
đó là điều Phật thương xót
chúng ta. Nay hiểu rõ tính linh mình là
quý báu mà phát tâm Bồ Đề,
lấy việc thành Phật làm mục
đích.
h) Sám hối
nghiệp chướng mà phát tâm Bồ
Đề:
Tôn
trọng tính linh của mình là nhằm để
lìa khỏi sinh tử, mà lìa khỏi nổi
khổ sinh tử thì phải tu hành đúng
pháp. Trong quá trình tu hành, muốn
tiến lên thuận lợi vô ngại, phải
sám hối tiêu trừ nghiệp chướng.
Vì nghiệp chướng là sự chướng
ngại lớn nhất trên đường tu
hành, phải sám hối tiêu trừ đi. Cho
nên “sám hối nghiệp chướng”
mà phát tâm Bồ Đề liệt làm
thứ tám.
Đại
sư Tỉnh Am nói: “Vì sao phải sám
hối nghiệp chướng ? Kinh nói phạm một
tội đột các la, như Tứ Thiên Vương
tuổi thọ năm trăm tuổi xuống nê
lê địa ngục. Cát la là tội nhỏ
mà làm khổ báo như thế, huống
gì tội nặng ? Khổ báo khó mà
nói hết ! Nay chúng ta trong sinh hoạt hằng
ngày, nhất cử nhất động luôn
luôn phạm giới luật, ăn cơm uống
nước phạm thi la. Tội lỗi phạm trong
một ngày cũng đã là vô
lượng, huống gì tội lỗi đã
phạm suốt đời suốt kiếp, thì
thật không thể nói hết. Hãy lấy
ngũ giới mà nói, mười người
thì chín người phạm lộ ra thì
ít che giấu thì nhiều. Ngũ giới gọi
là Ưu Bà Tắc giới, còn chưa
thể thủ trì đầy đủ, huống
gì Sa Di giới, Tỳ Khưu giới, Bồ Tát
giới v.v… thì càng bất tất phải
nói. Hỏi danh nghĩa thì nói rằng
tôi là Tỳ Khưu. Nhưng thực chất
thì chưa đáng Ưu Bà tắc, há
không đáng hổ thẹn sao ? Nếu biết
được rằng không thụ Phật giới
thì thôi, đã thụ giới thì
không được phạm giới. Không phạm
giới thì thôi, khi đã phạm giới thì
cuối cùng ắt phải rơi vào tam ác
đạo. Nếu không từ mẫn mẫn tha,
tự thương thương tha, thương mình
thương người, tự xót mình xót
người, thân khẩu khẩn thiết miệng
khấn lệ rơi, cùng khắp chúng sinh
cầu xin sám hối, thì ác báo
nghìn đời muôn kiếp khó thoát.
Ấy là nhân duyên phát tâm Bồ
Đề thứ tám vậy”.
i) Cầu vãng sanh
Tịnh Độ mà phát tâm Bồ
Đề:
Tu
hành ở cỏi dục giới, thế gian
đầy ô trược này, những nhân
duyên cản trở đạo là rất nhiều,
nếu muốn được hoàn cảnh thanh
tịnh lý tưởng, giải thoát sinh tử
một cách thuận lợi, lại học
được rất nhiều phương tiến
độ sinh, như vậy chỉ có cầu
vãng sinh Tịnh Độ. Vì cõi Tịnh
Độ là dễ tu hành nhất. Cho nên
“cầu vãng sinh Tịnh độ” mà
phát tâm Bồ Đề liệt vào thứ chín.
Ngài
Tỉnh Am dạy: “Vì sao phải cầu vãng
sanh Tịnh độ ? Vì tu ở uế độ
này, thành đạo khó lắm, vãng sanh
Tịnh độ kia, thành Phật sẽ dễ.
Vì dễ nên một đời có thể
thành, vì khó nên nhiều kiếp cũng
chưa thành. Vì thế các bậc Thánh
hiền xưa người người hướng theo, nghìn
kinh muôn luận chổ nào cũng có chỉ
quy. Tu hành thời mạt thế không sao
vượt được pháp môn Tịnh
độ này. Nhưng kinh nói thiện căn
ít không thể vãng sinh Tịnh độ.
Nói phúc đức nhiều, không gì
bằng chấp trì danh hiệu A Di Đà
Phật, nói thiện căn nhiều, không gì
bằng phát tâm Bồ Đề quảng
đại. Vì thế trì niệm thánh
hiệu chốc lát còn hơn bố thí
trăm năm, phát tâm quảng đại một
lần vượt hơn hẳn tu hành trọn kiếp.
Niệm Phật vốn là mong thành Phật,
không phát đại tâm thì niệm
Phật để làm gì ? Phát tâm
nguyện là để tu hành, không sinh
được Tịnh độ, thì tâm
đã phát cũng dễ thoát. Vậy
thì gieo hạt Bồ Đề, cày bằng
cái cày niệm Phật, quả đạo sẽ
tự nhiên tăng trưởng, cưỡi con
thuyền đại nguyện, đi vào biển
lớn Tịnh độ, ắt hẳn sẽ vãng
sinh Tây Phương Cực Lạc. Ấy là
nhân duyên phát tâm Bồ Đề thứ
chín”.
Niệm
Phật đã lấy việc vãng sinh Tịnh
độ làm bản nguyện, thì nên
“cưỡi con thuyền đại nguyện đi
trên biển lớn Tịnh độ thì mới
có thể yên ổn vững vàng sinh vào
thế giới cực lạc” cho nên nói:
“Đi vào biển lớn Tịnh độ,
ắt hẳn sẽ vãng sinh Tây phương
Cực lạc”, thuyền đại nguyện, là
nói về thuyền 48 lời nguyện của Phật
A Di Đà: Nói về hành giả, là
thuyền đại nguyện vãnh sinh Tịnh
Độ của mình. Cưỡi hai con thuyền
đại nguyện đó, đi vào lãnh
hải của Tây phương Tịnh độ.
Cưỡi gió đè sóng dũng mãnh
tiến lên, cuối cùng ắt sẽ đến
Tây phương Cực lạc thế giới. Có
thể thấy tâm nguyện của chúng sinh
và tâm nguyện của Phật A Di Đà
là tương nhiếp tương thành. Vì
vậy mới có câu nói: “Nên biết
Phật A Di Đà nhờ đại nguyện mà
thành Phật. Nếu như nguyện ta đã
phát còn hợp với nguyện Phật nhiếp
sinh, thì vãng sanh Tịnh độ khó gì
? Vô lượng kiếp trước, Phật
đã vì chúng sinh chịu khổ khắp
thế giới mà phát 48 nguyện. Theo đại
nguyện đó trải bao kiếp lâu dài, tu
Bồ tát hạnh… Nên hiểu đại
nguyện đại lực của Phật A Di Đà
cũng ví như một con thuyền lớn bất cứ
là ai, chỉ cần lên thuyền là sẽ
tới bến bên kia, không lo đắm chìm
mà là thuận nước, thuận gió.
Nếu ta không chịu lên thuyền thì sẽ
như thế nào ? Cho nên vẫn phải tự
mình phát nguyện là việc trước
hết. “Cưỡi thuyền đại
nguyện” có thể vãng sanh Tịnh
độ, thì tức là sẽ vượt ngang
qua sinh tử, lướt nhanh đến Bồ đề
vô thượng. Ấy là nhân duyên
phát tâm Bồ đề thứ chín.
j) Muốn cho
chính Pháp trụ lâu ở thế gian mà
phát tâm Bồ đề:
Trước
khi vãng sinh Tịnh độ, nếu hiểu
được Phật pháp, thì không những
có lợi ích cho mình, mà còn có
lợi ích cho nhân loại, thậm chí cũng
có lợi ích mọi chúng sinh trong tam giới
ngũ thú. Như Lai có thể vĩnh hằng
trụ lại ở thế gian. Cho nên “niệm
chính pháp trụ lâu ở thế gian”
mà phát tâm Bồ đề liệt làm
thứ mười.
Đại
sư Tỉnh Am nói: “Vì sao phải làm
cho chánh pháp trụ lâu ở thế gian ?
Đức Thế Tôn chúng ta từ vô
lượng kiếp đến nay vì chúng ta
mà tu đạo Bồ đề, làm
được những việc khó làm, thế
mới thành Phật. Khi đã thành Phật
rồi, hóa độ khắp hết, vào cõi
Níêt bàn, chính pháp, tượng
pháp đều đã qua đi, chỉ còn
mạt pháp. Giáo pháp còn đó,
nhưng không người học, tà chính
không phân, phải trái không rõ, chỉ
lo tranh cạnh, chạy theo lợi danh. Ngước
trông đâu đâu, khắp thiên hạ
đều thế, không biết Phật là ai,
chính pháp nghĩa là gì, Sư Tăng là
danh hiệu gì ? Suy tàn đến như thế,
đau lòng không nỡ nói, mỗi khi nghĩ
đến, bất giác lệ rơi ! … Do vậy
đau lòng không chịu nỗi mà vô
kế khả thi, khoảnh khắc quên mình bỉ
hậu, bổng nhiên phát khởi đại
tâm, tuy không mong vãn hồi vận mạt
ở thời nay, quyết mong hộ trì chính
pháp trong kiếp tới… Vì cớ
đó, cùng các đạo hữu đến
đạo trường này, mở pháp hội
này, sám hối tu pháp, phát 48 đại
nguyện, nguyện nào cũng nhằm hóa
độ chúng sinh, mong trăm ngàn kiếp
phát tâm, tâm tâm đều thành
Phật. Từ ngày hôm nay, mãi mãi về
sau, hết cả kiếp này, thề quy hướng
Tây phương mà an dưỡng, khi đã
lên tòa sen cửu phẩm lại xin về thế gian
Sa bà, mong sao mặt trời Phật lại tỏa
sáng, cửa pháp lại xiển dương,
biển Tăng trong suốt ở cỏi này, không
đông phương chúng sinh đều độ
hóa. Vận hội nhờ đó mà dài
thêm, chính pháp nhờ đó mà
trụ lại thế gian. Ấy là nhân duyên
phát tâm Bồ đề thứ mười
vậy”.
Vì
sao phải làm cho chính pháp trụ lầu
ở thế gian ? Điều nên biết trước
hết là chính pháp của Phật
đã khai thị cho chúng ta không phải
dễ dàng mà có được, trước
hết phải thể ngộ được chính
pháp, sau đó đem cái chính pháp
đã thể ngộ được tuyên phát
cho mọi người nghe. Thể ngộ chính
pháp tức là thành Phật. Phật sở
dĩ thành bậc Chính giác, không phải
vì mình mà vì chúng sinh chúng ta
mà thành Phật. Vì thế mới nói:
“Đức Thế Tôn ta, từ kiếp vô
lượng đến nay, vì chúng ta mà tu
đạo Bồ đề”. Trong quá trình tu
đạo Bồ đề, không phải Phật
đã có thể tiến lên phía
trước một cách thuận lợi không
gặp khó khăn trở ngại gì, mà
là làm được những việc khó
làm, chịu đựng những điều khó
chịu, để làm việc hóa độ
chúng sinh. Khó làm mà làm
được, nói như việc bố thí,
bề ngoài thì thí tiền tài,
đối với tiền tài người có
chút hiểu biết, không phải đến
nỗi khó thì xả, bề trong thí sinh
mệnh, có lúc phải thí đầu
mắt, tủy não, chân tay, thậm chí
toàn thân, thế thì thật không còn
giản đơn nữa rồi. Một sự “nan
hành năng hành” vĩ đại biết bao.
“Khó chịu mà chịu được”.
Hãy nói việc nhẫn nhục. Căn tính
của chúng sinh rất khác nhau, ta thật
lòng thật dạ vì sự tốt đẹp
của chúng sinh, hy vọng dẫn dắt chúng
sinh lên đường sáng sủa nhân sinh,
họ không những không lĩnh tình và
cám ơn, trái lại dùng đủ thủ
đoạn không chính đáng để
đối phó với ta, chửi bới ta, lăng
nhục ta, đánh đập ta, làm cho ta chịu
không nổi. Nếu không có một chút
nhẫn nhục nào đó, ta ắt sẽ
thoái tâm, không tiếp tục tiến lên
trên đường Bồ đề nữa. Vậy
mà Đức Phật của chúng ta, bất
luận bị dày vò, đã kích
đến mấy cũng vẫn chịu đựng
được, cốt sao đạt được mục
đích hóa độ những chúng sinh
cương cường ngang nghạnh khó giáo hóa.
Hơn nữa, trước sau không bỏ chúng sinh
nào. Đây là một tinh thần “nan
nhẫn năng nhẫn”. Vĩ đại biết bao !
Phật
đã không từ gian khổ xả kỷ lợi
tha như vậy, thậm chí chịu khổ vô
lượng thay cho chúng sinh, cho mãi đến khi
nhân hành đáng tu ở nhân địa
Bồ tát được tu đến mức viên
thành, phúc tuệ được tu đến
mức hoàn mãn, thế mới thành
được Phật. Từ đây có thể
thấy thành Phật không phải dễ dàng,
mà phải trải qua đủ loại khổ
luyện trong thời gian rất dài thì mới
có thể ngồi dưới gốc Bồ
đề, nhìn sao sáng ban đêm, phá tan
mọi ma quân mà thành chánh giác
vô thượng. Vì lẽ đó, chúng ta
“thân là Phật tử” dù sao cũng
phải coi việc hoằng pháp lợi sinh, kế
tục mệnh tuệ của Phật là nhiệm
vụ duy nhất thì mới có thể báo
đền trong muôn một ơn đức sâu
dày của Phật. Nếu không làm
được như vậy thì không thể
đền đáp ơn sâu của Phật.
Mười
loại nhân duyên phát tâm Bồ đề
trên, nhìn ra như đối lập với nhau,
thực ra có quan hệ mật thiết với nhau, không
cho phép chúng ta thay đổi thứ tự
trước sau. Đại sư Tỉnh Am từ trong kinh
điển, rút ra mười loại nhân
duyên phát tâm, có thể thấy rõ
đức từ bi sâu rộng của người.
Ngài lại dạy thêm: “… Xét tôi
khổ chí, cùng lập nguyện này,
cùng phát tâm này, ai chưa phát
tâm thì nay phát, ai đã phát tâm
rồi thì phát thêm nữa; ai đã
phát thêm rồi nay hãy tiếp tục
phát tâm. Đừng sợ khó mà
khiếp hãi rút lui, đừng cho là dễ
mà coi thường, đừng nóng vội
mà không kiên trì lâu dài,
đừng lười biếng trễ nải mà
không dũng mãnh, đừng uể oải mà
không hăng hái, đừng chần chừ
mà chờ đợi đến ngần ngại,
đừng vì mình ngu đần mà không
dám phát tâm, đừng cho rằng mình
căn cơ nông mỏng mà tự nghĩ mình
không có phận”.
Phát
tâm Bồ đề quảng đại, không
thể chậm trễ, ai chưa phát tâm nguyện
Bồ đề hãy phát tâm ngay hôm nay, ai
đã phát tâm nguyện Bồ đề
rồi, hẫy làm cho tâm nguyện Bồ
đề ấy lớn thêm theo ngày tháng.
Nếu ai đã nêu cao được tâm
nguyện lớn thì muôn vàn xin chớ
để thoái thất tâm nguyện Bồ
đề.
Phát
tâm Bồ đề vô thượng rồi,
phải hành đạo Bồ tát rộng
rãi, mà hành đạo Bồ tát là
rất gian nan khốn khổ tuyệt đối không
thể nghĩ là nhẹ nhàn. Xưa kia Phật
đà phát tâm hành đạo Bồ
tát, đã trải qua một lịch trính
làm được những việc khó làm,
với tinh thần đại vô úy, đã
gạt bỏ mọi gai góc nguy hiểm khó
khăn rồi mới đạt được mục
đích thành Phật. Nay trong bài Đại
sư Tỉnh Am đã nêu ra tám điều
“đừng” để khuyên chúng ta
không được sơ ý trong khi phát
tâm Bồ đề.
-
“Đừng vì khó khăn mà khiếp
sợ lùi bước”. Thường nói,
vấn đề cá nhân dễ giải quyết, công
việc của đại chúng khó xử lý.
Phát tâm Bồ đề để độ
hóa chúng sinh là mưu cầu hạnh
phúc cho đại chúng, nhưng căn tính
của từng người khác nhau, khi tiếp
xúc với quần chúng không thể tránh
khỏi nhiều việc gai góc khó giải
quyết, như sợ khó khăn mà không
dám tiến lên, thế thì tất nhiên
sẽ khiếp hải lùi bước không còn
các dũng khí làm Bồ Tát nữa, cho
nên hành đạo Bồ tát đầu
tiên là phải không vì khó khăn
mà không dám tiến lên để
tránh cái tâm lý khiếp hải thoái
chuyển.
-
“Đừng cho là dễ mà khinh
thường”. Việc lớn hành đạo
Bồ tát cho là gian nan cố nhiên là
không được, nhưng cho là dễ dàng
cũng không được. Trong đoạn
“tôn trọng tính linh của mình”
đã từng nói, chúng sinh vốn có
viên ngọc quý Phật tính, phải gia
công mài rủa mới sáng đẹp, nếu
coi là dễ mà khinh thường thì dễ
nẩy sinh tự mãn. Người tự mãn
cuối cùng sẽ tự phá tự bỏ,
không thể thành công, thử nghĩ mà
xem, làm một việc nhỏ ở thế gian
còn khó thành công huống hồ gì
việc lớn thành Phật độ sinh ?
-
“Đừng nôn nóng mà không kiên
trì lâu dài”. Đạo Bồ tát
là dài lâu, phải kiên trì làm
trong thời gian dài thời mới đến
được tận cùng con đường Bồ
đề, do đó không thể nôn nóng
mà thiếu lòng kiên trì. Trung quốc
có câu tục ngữ: “Dục tốc bất
đạt”. Chúng ta phải nhớ lấy.
Người thợ thông thường ở thế gian
còn phải tốn công học tập nhiều
năm mới thành nghề được huống
gì việc lớn thành Phật độ sinh. Muốn
thành công nhanh chóng sao được ? Có
người nghĩ rằng một đời có
thể thành Phật, đó thật là
một quan niệm sai lầm lừa người dối
mình. Nói thật việc nhỏ ở thế
tục còn không thể cầu may, cầu may
trên đường tu hành thành Phật
càng sai lầm lớn mà trí giả không
bao giờ làm.
-
“Đừng lười biếng trễ nãi
mà không có dũng khí”. Con
đường đi đến Phật quả dài
lâu như thế, không tinh tiến dũng mãnh
không được, tuyệt đối không
thể lười biếng trễ nải một tí
nào. Nhưng dũng mãnh không thể chỉ
dũng mãnh nhất thời, mà phải dũng
mãnh một cách kiên trì, không
gián đoạn thì mới là dũng
mãnh thực sự, phải tiến lên phía
trước bằng những bước đi vững
chắc thì mới là tinh tiến thật sự.
Chỉ có tiến tới trên con đường
Phật một cách tinh tiến thì mới
tránh khỏi được tình trạng nẩy
sinh tâm lý lười biếng muốn nghĩ
ngơi khi thuận lợi thoải mái. Có
nhiều người học Phật, không thể
đạt được Bồ đề tối cao
vô thượng, nguyên nhân căn bản
là do lười biếng trễ nải.
- “Đừng
uể oải mà không hăng hái”. Trong
thế gian hiện thực ta có thể thấy rõ
ràng là, phàm phu làm việc gì
mà hăng hái phấn chấn thì dễ
có thu họach lớn, còn uể oải chây
lười thì rất khó thành công.
Việc đời còn thế huống gì việc
đạo Phật vô thượng. Vì thế
hành giả Bồ tát phải hăng hái
phấn chấn. Không thể uể oải rụt
rè, càng không thể chây lười
được sao hay vậy. Nên biết rằng
sức mạnh tinh thần là lớn hơn cả,
một khi tinh thần đã suy sụp thì
không còn cách nào cứu vãn
được.
-
“Đừng chần chừ mà chờ đợi
ngày mai”. Hôm nay phát tâm Bồ
đề thì ngay ngày hôm nay bước
lên đường Bồ tát, đừng mang
tâm lý chần chừ chờ đợi mà hao
phí thời gian qúy báu. Càng không
thể trông chờ tương lai, phải làm
với tinh thần “việc hôm nay làm xong trong
hôm nay” quyết không đợi đến
ngày mai, phải biết rằng ngày mai rồi
lại có ngày mai khác. Nếu như chần
chừ thành nết, việc gì cũng đợi
ngày mai thì chưa nói Đạo Phật
vô thượng, mà cả việc đời
cũng khó hy vọng thành công, cho nên
không thể chần chừ qua ngày.
-
“Đứng vì mình ngu đần mà
không dám phát tâm”. Căn tính
chúng sinh có sự khác nhau giữa thông minh
lanh lợi và ngu đần chậm chạp.
Đó là một sự thật không thể
phủ nhận được. Nhưng chúng ta nên
biết, người căn tính thông minh lanh
lợi cố nhiên có thể hướng theo
đường Phật, mà người ngu đần
chậm chạp cũng có thể hướng
đến Bồ đề. Hơn nữa cùng ngu
đần chậm chạp thì càng phải tu
học Bồ đề. Vì người người
đều có thể tu được, không
phân biệt kẻ trí người đần. Cho
nên hành giả Phật pháp đừng
vì tư chất ngu đần của mình mà
cứ không dám phát tâm tiến thủ
trên con đường vô thượng.
- “Đừng
cho rằng mình căn cơ nông mỏng mà
tự nghĩ mình không có phận”.
Có thể có người cho rằng Phật
đạo vô thượng là để cho
người có căn tính sâu dày tu, ta
là người căn cơ nông mỏng, không
có tư cách tu học đạo Phật, thế
là tự ti tự bỏ cho rằng mình không
có phận. Không biết rằng nghĩ thế
là sai lầm. Trong kinh, Phật nhiều lần căn
dặn chúng ta: “Mọi chúng sinh đều
có tính Phật, đều có khả năng
thành Phật”. Ta là một chúng sinh
vì sao tự phá tự bỏ coi là mình
không có duyên phận gì với Bồ
đề vô thượng ? Mọi chúng sinh
đều có khả năng thành Phật, tại
sao ta không có khả năng ấy ? Phải tự
tin như vậy.
Nên
biết rằng chư Phật mười phương,
bất luận là Phật đã thành
ngày xưa, hay hiện nay đang thành Phật,
tương lai cũng thế, tất cả đều
là nhờ phát tâm Bồ đề. Nhờ
phát tâm Bồ đề mà được
thành Phật. Thế thì sự tôn qúy
và công đức đặc biệt rộng
lớn của việc phát tâm Bồ đề
không phải nói cũng đã rõ.
Nhưng
đặc tính của một vị Phật, cùng
có một gốc: “Bồ đề tâm”.
Bởi vậy, nếu muốn chứng đắc, ta
phải phát tâm. Phát tâm Bồ đề
thì phải bỏ tâm tham muốn dục vọng
ích kỷ. Sở dĩ ta không buông bỏ
được những thứ ích kỷ vì ta
không thấy được tầm vóc và
hạnh phúc do Bồ đề tâm đem lại.
Có
kệ tụng nói về khả năng của Bồ
đề tâm, rằng:
“Bồ
đề tâm là gốc mười lực
Gốc
bốn biện tài, bốn vô úy,
Cũng
là gốc của thập bát pháp;
Đắc
những thứ ấy do phát tâm”.
Không những
vậy, mọi quả vị và cảnh giới
khác đều do phát âm mà thành.
“Sắc
tướng trang nghiêm của thân Phật,
Pháp thân
bình đẳng kỳ diệu ấy,
Trí huệ vô
trước, đáng cúng dường,
Điều do phát
tâm mà chứng đắc.
Quả vị
Độc Giác, A La Hán
Niềm vui thiền
định của Sắc giới.
Những thứ tam
muội cỏi Vô sắc,
Đều do phát
tâm làm cội gốc.
Niềm vui tự
tại của trời người,
Đủ thứ sung
sướng trong các nẻo,
Niềm vui do sức
định, tinh tấn…
Tất thảy
đều do sơ phát tâm”.
Tầm vóc và
công năng của sự phát tâm Bồ
đề thì không thể lường
được.
“Muốn
biết tất cả mọi Phật pháp,
Hãy
mau khởi phát Bồ đề tâm.
Tâm
này công đức thù thắng nhất,
Chắc
chắn đắc Phật trí vô ngại.
Chúng
sinh tâm hạnh: có thể biết,
Cỏi
nước, hạt bụi: cũng rõ thấu.
Biên
tế hư không: đo lường được.
Công
đức phát tâm không thể tính.
Phát
tâm: sản sinh Phật ba đời,
Thành
tựu an lạc trong thế gian,
Tăng
trưởng tất cả thắng công đức,
Vĩnh
đoạn tất cả mọi nghi hoặc.
Mở
ra tất cả diệu cảnh giới,
Tận
trừ hết thảy mọi chướng ngại,
Làm
thành tất cả cõi thanh tịnh,
Xuất
sinh tất cả trì Như Lai.
Muốn
gặp mọi Phật trong mười phương,
Muốn
thí vô tận kho công đức,
Muốn
diệt khổ não của chúng sinh,
Hãy
mau phát khởi Bồ đề tâm.
Tóm
lại, nếu ai có thiện duyên với Phật,
kính tin Tam Bảo nhưng chưa nghe, không biết
phát tâm là gì, không biết phát
tâm thế nào, chưa từng phát tâm
Bồ đề; nay đã nghe, đã đọc
được bài luận văn này, đã
hiểu nhân duyên phát tâm Bồ đề,
hiểu được ý nghĩa, phương
pháp, công đức và sự thù
thắng của nó, thì xin nguyện cùng
chư phương Phật tử. Các vị tín
tâm với Tam Bảo cùng chư Đại
Đức, Tăng Ni. Từ hôm nay đây lập tức
phát tâm, lập tức lập nguyện. Tứ
chúng Phật giáo ngày nay nếu có
thể cùng phát tâm Bồ đề, dùng
lập nguyện Bồ Đề, kết thành
quyến thuộc Bồ đề tiến lên trên
đường Phật thì tin rằng không
chỉ Phật giáo được chấn hưng,
chánh pháp được trường tồn
lâu dài mà tất cả chúng sinh trong
thế giới Sa bà cũng sẽ được
lợi ích. Vì tứ chúng Phật giáo,
có thể thực sự khẩn thiết phát
tâm thì thế giới Sa bà này an cư lạc
nghiệp. Sở dĩ thế giới này có
nhiều hỗn loạn, chiến tranh, thiên tai…
đâu đâu cũng đằng đằng
sát khí chỉ vì Phật pháp chưa
truyền bá khắp mọi ngóc ngách của
thế giới, chưa thấm vào trong mọi
ngóc ngách của thế giới, chưa thấm
váo trong mọi tấm lòng. Chúng ta phát
âm Bồ đề nếu như người
người đều hoằng dương Phật
pháp, làm cho Phật pháp lưu hành
khắp thế gian, chuyển hóa thế giới
uế ác, ô trược này thành ra
“Tịnh độ ở chốn nhân gian”
thì tuyệt vời biết mấy.
Để
kết thúc bài luận văn, sau đây
là một phần những lời kệ mà
Đức Di Lặc chỉ dạy cho Thiện Tài
Đồng Tử về ý nghĩa cũng như
lợi ích của Bồ Đề Tâm được
trích trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Hiền Thủ, NXB
Tôn Giáo 2003, Thích Hoằng Trường
dịch và soạn, trang 637-640:
“Thiện
nam tử !
Bồ
đề tâm này cũng như hạt giống,
Vì
làm sinh trưởng mọi thứ Phật pháp.
Bồ
đề tâm này như thửa ruộng tốt,
Vì
làm tăng trưởng những pháp bạch
tịnh của mọi chúng sinh.
Bồ
đề tâm này như đất bao la,
Vì
trì giữ hết mọi thứ thế gian.
Bồ
đề tâm này cũng như tịnh thủy,
Vì
tẩy sạch hết phiền não cấu bẩn.
Bồ
đề tâm này cũng như gió mạnh,
Thổi
khắp trần gian không hề trở ngại.
Bồ
đề tâm này cũng như lửa hực
Thiêu
đổt tất thảy mớ củi thành kiến.
Bồ
đề tâm này cũng như tịnh nhật,
Chiếu
khắp vũ trụ.
Bồ
đề tâm này cũng như trăng rằm,
Tròn
đầy tất cả mọi pháp bạch tịnh.
Bồ
đề tâm này ví như đèn
sáng,
Tỏa
ra đủ thứ ánh sáng chân lý.
Bồ
đề tâm này ví như mắt sáng,
Thấy
biết nơi đâu an ổn, hiểm nghèo.
Bồ
đề tâm này cũng như đại lộ,
Vì
dẫn ta về thành phố đại trí.
Bồ
đề tâm này ví như đường
chính,
Vì
khiến rời bỏ những nẽo tà vạy.
Bồ
đề tâm này như chiếc xe lớn,
Vì
chuyên chở hết tất cả Bồ tát.
Bồ
đề tâm này ví như cửa ngõ,
Mở
ra tất cả công hạnh Bồ tát.
Bồ
đề tâm này cũng như cung điện,
Để
ta an trụ tu tập tam muội,
Bồ
đề tâm này ví như vườn
tược,
Vì
vào dạo chơi, sẽ thọ pháp lạc.
Bồ
đề tâm này cũng như nhà ở,
Vì
làm tất cả chúng sinh yên ổn.
Bồ
đề tâm này là chổ trở về,
Vì
đem lợi ích đến khắp trần gian.
Bồ
đề tâm này là chổ nương
tựa,
Vì
Bồ tát hạnh đều dựa vào
đó.
Bồ
đề tâm này ví như từ phụ,
Giáo
dục dạy dỗ tất cả Bồ tát.
Bồ
đề tâm này ví như từ mẫu,
Nuôi
nấng chăm nom tất cả Bồ tát.
Bồ
đề tâm này như người bạn
tốt,
Thành
tựu lợi ích tất cả Bồ tát.
Bồ
đề tâm này như người lãnh
tụ,
Vì
vượt trên bậc thanh văn duyên giác.
Bồ
đề tâm này như vị đế
vương,
Vì
mọi ước nguyện đều làm tự
tại.
Bồ
đề tâm này ví như đại hải,
Tất
cả công đức đều chứa trong nó.
Bồ
đề tâm này như núi Tu di,
Đối
xử bình đẳng với mọi chúng sinh.
Bồ
đề tâm này như núi Thiết vi,
Nhiếp
trì nâng đội tất cả thế giới.
Bồ
đề tâm này ví như tuyết sơn,
Trưởng
dưỡng tất cả cây thuốc trí tuệ.
Bồ
đế tâm này ví như Hương sơn,
Xuất
sinh mọi thứ hương thơm công đức.
Bồ
đề tâm này ví như hư không,
Công
đức tuyệt diệu rộng lớn vô biên.
Bồ
đề tâm này ví như hoa sen,
Vì
chẳng ô nhiễm bởi pháp thế gian.
Bồ
đề tâm này ví như voi khôn,
Vì
tánh thuần hậu, không ác dữ dằn.
Bồ
đề tâm này ví như thiện mã,
Vì
xa rời hết những tánh nết xấu.
Bồ
đề tâm này như người cầm
cương,
Nắm
giữ chân lý của chiếc xe lớn
(đại thừa).
Bồ
đề tâm này ví như thuốc hay,
Trị
lành tất cả mọi bịnh phiền não.
Bồ
đề tâm này ví như hố sâu,
Hãm
diệt hết thảy mọi thứ độc ác.
Bồ
đề tâm này ví như kim cương,
Xuyên
thủng mọi vật.
Bồ
đề tâm này như hợp hương
thơm,
Cất
giữ tất cả hương thơm công
đức.
Bồ
đề tâm này như hoa tuyệt đep,
Khắp
hết trần gian ai cũng thích ngắm.
Bồ
đề tâm này như bạch chiên
đàn,
Dập
tắt lửa dục khiến được tươi
mát.
Bồ
đề tâm này như hắc trầm
hương
Vì
khi xông lên trùm khắp pháp giới”.
Lại
nữa, Kinh Lương Hoàng Sám, chương
thứ tư, phẩm Phát Bồ Đề Tâm
trang 101 có ghi:
…“Bây
giờ đã cùng nhau gặp thời buổi
tốt, ngày đêm chớ để phiền
não che lấp tâm tánh, phải nên nổ
lực phát tâm Bồ đề. Tâm Bồ
đề tức là tâm Phật, công
đức trí huệ vô lượng, không
thể nghĩ bàn. Phát tâm một niệm
còn được công đức như vậy
huống gì phát tâm luôn luôn.
Giả
sử lịch kiếp tu hành vô lượng
phước đức, làm đủ hết thảy
việc lành, không bằng một niệm phát
tâm Bồ đề trong muôn một. Toán
số thí dụ cũng không thể so
lường được công đức phát
tâm Bồ đề.
Lại
như có người chỉ làm việc
phước đức chớ không phát tâm
vô thượng Bồ đề; người
ấy cũng như kẻ cày ruộng không
gieo giống. Mầm mấm đã không gieo
thì làm sao có lúa thóc.
Vì lý do ấy
nên phải phát tâm Bồ đề để
làm nhân duyên cho việc chứng quả;
trước là báo ơn chư Phật, sau
là cứu vớt muôn loài.
Sở
dĩ Phật khen ngợi các Thiên tử rằng:
“Lành thay !
Lành thay ! Như lời các ngươi nói
là vì muốn lợi ích cho hết thảy
chúng sanh”.
Phát tâm Bồ
đề là cách cúng dường lớn
hơn tất cả”.
Đường
đạo vô biên,
Nhưng bắt
đầu bằng bước gần nhất:
Hãy phát Bồ
đề tâm.
Cuối
cùng xin hết thảy chư vị cùng phát
tâm Bồ đề, cùng hành đạo
Bồ tát, cùng hướng quả Bồ
đề.