|
Pháp Tu Vô Tự Ngã và Bước Ðầu Tập Thiền Ðịnh
Phổ Nguyệt
Ðể được giác ngộ giải thoát khỏi dòng bộc lưu sanh tử và khổ ưu,
Phật đã dạy rất nhiều trong các kinh điển về pháp học cũng như
pháp hành. Ðiều quan trọng là phải trau giồi phẩm hạnh tức giới
luật nghiêm minh và rèn luyện trí tuệ. Trong việc tu tập sự rèn
luyện trí tuệ là thiết yếu soi sáng vô minh u tối để mở ra con
đường sáng chiếu rọi cho gới luật rõ ràng mà thúc liểm thân tâm
miêm mật mới có thể thoát khỏi mọi cám dỗ của dục lạc và vô
minh là gốc luân hồi. Ðạo Phật lấy Từ Bi và Trí Tuệ làm căn bản
cho việc tu tập. Trong vấn đề tự giác và giác tha đó, khi người
tu sĩ tự mình giác ngộ rồi mới có cơ may giúp ích được người
khác. Từ Bi là hình thức tu sĩ phải lột bỏ cái bản ngã của mình
có mà phục vụ tha nhân. Thiền định là con đường tối ưu thanh lọc
và đoạn tận các lậu hoặc cũng như các việc bất thiện khác để trở
thành tâm thánh thiện an tịnh vượt khỏi mọi hệ lụy đến sanh tử
ưu khổ của thế gian.Trong các pháp tu tập ấy, Phật dạy trước
tiên phải dẹp bỏ tự ngã của mình mà trau dồi phẩm hạnh và rèn
luyện tâm trí, đó là pháp tu vô tự ngã và bước đầu tập thiền
định.
I.
Chọn Tri Kiến để Nhận Thức
1.
Tưởng Tri (tri
kiến phàm phu: tà kiến,vô minh)
Tưởng tri
là tiến trình nhận thức không chính xác của dòng tâm thức đang
trôi chảy từng sát na sanh diệt liên tục. Cái
Tâm là dòng tâm thức lưu chuyển từ đời nầy sang đời khác. Nó
không có khởi đầu cũng không có chấm dứt vì sự nhận thức không
đến từ sự bất động hay không có nguyên nhân. Như
vậy, đặc tánh của tâm là vô thường, biến hoại và hay thay đổi.
Tưởng thức là sự suy nghĩ, tưởng nhớ, tưởng tượng, ký ức,
thuộc loại Mạt- Na- thức hay trong A-Lại-Da-thức, là những hình
ảnh được khôi phục lại, có cái trung thực, có cái sai lạc và
ngay cả có cái tương tự lẫn lộn với hình ảnh đối tượng cũ, nhưng
không phải đối tượng cũ. Đã là những hình ảnh cũ khôi phục lại
là những ảo ảnh của những đối tượng khiếm diện (kể như không có
đối tượng). Do đó tưởng tri là biết do tưởng thức hoặc suy nghĩ
lại những ý tưởng so đo, tưởng tượng những đối tượng không thật
có do tiền ngũ căn trực tiếp nhận thức, nên sự nhận thức chấp
trước, lệch lạc, còn sanh diệt biến đổi và không chơn thật của
tri kiến phàm phu của chúng sanh còn gọi là tà kiến.là
cái sở tri, chấp ngã cái bị sanh.
2.
Tuệ Tri (Chánh
Niệm, Thượng trí, Chơn Trí: Thắng Tri, Liểu Tri): Tri Kiến Hữu
Học và Giác Ngộ
Bài học này
đã được Phật day tôn giả Nandaka, nên tôn giả giáo giới lại cho
các vi Tỳ-kheo-ni về nhản căn sắc trần và nhãn thức theo chơn
trí. Chúng ta nhìn một vật thì thấy và biết như chơn mắt, thấy
biết như chơn các sắc, thấy biết như chơn nhãn thức vì chúng ta
đã hiểu được chơn mắt, chơn các sắc, và chơn nhãn thức theo
thật tướng của chúng như đã trình bày trên. Chơn mắt, chơn sắc,
và chơn nhãn thức là một khi nhìn một vật gì thì sử dụng một lần
mà thôi (vô thời gian). Nếu không kéo dài thời gian thì vật đó
còn nguyên thủy: nó-là-nó tại đó và lúc đó, vô thời không hay
mắt, sắc (vật), hay thấy (nhãn thức) vẫn còn chơn nguyên, thấy
biết không bị xúc thọ ái lăn trôi theo thời gian mà có những
khái niệm, nên mắt, sắc, thấy biết không thay đổi, cố định. Nói
chung, nhận thức trong Trí (hay Tâm) chúng ta đều có chứa sẵn
biểu hiện Trí Năng, Tình Năng và Hoạt Năng, nên dây thần kinh
dẩn truyền lên não hình ảnh của chơn các căn, từ chơn các căn
đồng thời đã xúc chạm dây thần kinh, có nhân căn xúc; do duyên
căn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ.
Vì chúng ta thấy biết (tuệ tri) chơn cảm thọ không có thời gian,
nên không có ái trước (trong A Lại Da thức) đối với các căn (không
lập lại), không có ái trước đối với các căn (hình ảnh các căn có
sẵn tích tụ) và ái trước đối với căn xúc (Xúc có sẵn trong
A-Lai-Da Thức: ký ức). Từ đó do duyên căn xúc này khởi lên lạc
thọ, khổ thọ , bất khổ bất lạc thọ mà không có ái trước đối với
cảm thọ ấy. Vị hữu học, bậc A la Hán và Ðấng Như Lai thì tri
kiến được chính xác hơn, cái biết sáng suốt như suy nghĩ rõ ràng,
không đối chiếu lệch lạch mà nhìn thẳng vào sự vật. Thắng tri
hay liễu tri sự vật mà không so đo, không suy nghĩ vẩn vơ, tưởng
tượng và không dục hỷ mà dùng chơn trí bằng pháp thượng trí, là
vô tự ngã, cái vô sanh.
Hành giả cần
phải khéo thấy như thật như chơn, với chánh trí hay chơn trí,
cái bất biến, thường còn hay pháp chánh tri kiến. Hành giả phải
đoạn tận các lậu hoặc, để được tự mình chứng tri trong hiện tại,
đạt đươc chánh trí, và an trú vô lậu tâm giải thoát, huệ giải
thoát, tức là an trú vào không tánh vậy.
II.
Pháp Học
1.
Vô Tự Ngã
Lậu Hoặc và Việc Bất Thiện Khác:
Vô tự ngã là
tiến
trình thanh lọc hay đoạn tận gốc rể lậu hoặc vốn che mờ tâm giác
ngộ. Trong kinh Căn Bản Phật dạy rất rõ, tri kiến phàm phu dùng
tưởng tri dể nhận thức sư việc theo sở tri và tự ngã của minh
nên hệ lụy đến ái thủ hữu là gốc của sanh tử luân hồi. Như
Phật thuyết giảng: (trong kinh Pháp M
ôn Căn Bản:
trí phàm phu)
--
Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy
các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập
pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không
thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc
Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa
đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối
chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy
nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói
người ấy không liễu tri địa đại. v.v....
Vậy
chúng ta không nên tu tập với tà kiến (tưởng tri) mà phải dùng
chánh trí như thấy biết đối tượng như chơn như thật, tức là tuệ
tri hay biết sát-na hiện tiền, liễu tri là biết đối tựợng vô
thời không (không trụ) nên không có ái thủ hữu không có dính
dáng gì đến sở tri và tự ngã. Như Phật dạy, cũng trong kinh Pháp
M ôn
Căn Bản, dùng thắng tri hay tuệ tri cho vị hữu học tu tập như
sau:
-
Này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo,
hữu học
tâm chưa thành tựu,
đang sống cần
cầu vô thượng
an ổn, khỏi
khổ ách. Vị
ấy thắng
tri địa đại
là địa đại.
Vì thắng tri địa
đại là địa
đại, vị
ấy đã không nghĩ đến
địa đại,
đã không nghĩ (tự ngã) đối
chiếu với
địa đại,
đã không nghĩ (tự ngã)
như là địa
đại, đã không nghĩ: "Địa
đại là của
ta", - không dục hỷ
địa đại.
Vì sao vậy? Ta nói vị
ấy có thể
liễu tri địa
đại. v.v....
2. Ðoạn Trừ Lậu Hoặc
Chỉ người tu
sĩ thấy biết như chơn như thật mới có thể diệt tận lậu hoặc có
như lý tác ý. Không thể cho người không thấy không biết tu tập
theo tà kiến làm cho lậu hoặc tăng trưởng. Dùng tri kiến rõ ràng
(chánh kiến) soi sáng các tà kiến và vô tự ngã chúng ta mới giải
thoát khỏi dòng tâm thức vẩn đục để cho tâm được an tịnh. Phải
đoạn trừ lậu hoặc bằng tri kiến, bằng phòng hộ, bằng thọ dụng,
bằng kham nhẫn, bằng tránh né, bằng trừ diệt, hoặc bằng tu tập.
Như Phật dạy
trong kinh Tất Cả Lậu Hoặc:
–
Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người
biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người
không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu
hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không
như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu
hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng
trưởng. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh
không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt. Này các
Tỷ-kheo, có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ, có
những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ, có những lậu hoặc
phải do thọ dụng được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do kham
nhẫn được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn
trừ, có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ, có những
lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ....
-Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo những lậu hoặc nào phải do
tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ, những lậu hoặc
nào phải do phòng hộ được đoạn trừ đã được phòng hộ đoạn trừ,
những lậu hoặc nào phải do thọ dụng dược đoạn trừ đã được thọ
dụng đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do kham nhẫn được đoạn
trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tránh
né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn trừ, những lậu hoặc nào
phải do trừ diệt được đoạn trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những
lậu hoặc nào phải do tu tập được đoạn trừ đã được tu tập đoạn
trừ; này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã sống phòng hộ
với sự phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát
ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau...
3. Bước Ðầu Học Thiền Ðịnh
Đức Phật
giảng cho Sa-di Rahula, con trai của Ngài thực tập Thiền như trong
Ðại Kinh Giới Giới La Hầu La.
Một
thời, Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá Ànathapindika.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để
khất thực. Tôn giả Rahula vào buổi sáng cũng đắp y, cầm y bát,
đi sau lưng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, sau khi đưa mắt ngó xung quanh,
bảo Tôn giả Rahula:
–
Này Rahula, bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội
hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc
pháp phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: "Cái này
không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải
tự ngã của ta...
–
Cả sắc, này Rahula; cả thọ, này Rahula; cả tưởng, này Rahula, cả
hành, này Rahula; và cả thức, này Rahula.
Niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như thế nào ? Làm cho
sung mãn, (pháp môn này) như thế nào là để được quả lớn, được
lợi ích lớn ?
–
Này Rahula, cái gì thuộc nội nhân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô
phù, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân,
xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột,
màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân,
thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ; như vậy, này
Rahula, được gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và
những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Địa giới ấy
phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: "Cái này
không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không
phải tự là ngã của ta". Sau khi như thật quán sát địa giới với
chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm
từ bỏ địa giới.
Cũng như trên, tiếp tục tu tập, thủy giới, hỏa giới, phong giới,
hư không giới, đất, nước,
hỏa, gió.
Riêng tứ vô lượng tâm phải
được tu tập theo chánh trí. Lòng từ trừ diệt sân tâm; lòng bi
trừ diệt hại tâm; lòng hỷ diệt trừ bất lạc; và lòng xả trừ diệt
hận tâm. Cũng vậy, tu tập bất tịnh để trừ diệt tham ái và tu tập
về vô thường để trừ diệt ngã mạn.
Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng từ. Này Rahula, do tu
tập sự tu tập về lòng từ, cái gì thuộc sân tâm sẽ được trừ diệt
. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng bi. Này Rahula, do tu
tập sự tu tập về lòng bi, cái gì thuộc hại tâm sẽ được trừ diệt.
Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về hỷ. Này Rahula, do tu tập sự
tu tập về hỷ, cái gì thuộc bất lạc sẽ được trừ diệt. Này Rahula,
hãy tu tập sự tu tập về xả. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về
xả, cái gì thuộc hận tâm sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu
tập sự tu tập về bất tịnh. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về
bất tịnh, cái gì thuộc tham ái được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu
tập sự tu tập về vô thường. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về
vô thường, cái gì thuộc ngã mạn được trừ diệt.
Thêm nữa
Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập nhập tức xuất tức niệm (niệm
hơi thở vô, hơi thở ra). Này Rahula, tu tập niệm hơi thở vô hơi
thở ra, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.
–
Bạch Thế Tôn, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như thế nào
? Làm cho sung mãn, (pháp môn này) như thế nào là để được quả
lớn, được lợi ích lớn ?
Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về niệm hơi thở vô hơi thở ra.
Này Rahula, do tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung
mãn, nên được quả lớn, được lợi ích lớn. Và này Rahula, thế nào
là tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn nên được
quả lớn, được lợi ích lớn ? Ở đây, này Rahula, vị Tỷ-kheo đi đến
khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi
kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác,
vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy
biết: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy biết "Tôi thở ra
dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra
ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ
thở vô," vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy
tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh
thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành
(Cittasankhara), tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành,
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị
ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác
về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở
ra", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với
tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi
sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra, vị ấy
tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm
giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập "Quán từ bỏ, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Tu
tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, này Rahula, làm cho sung
mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này Rahula, tu tập niệm
hơi thở vô hơi thở ra như vậy, làm cho sung mãn như vậy, thời
khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được
giác tri, không phải không được giác tri.
III.
Pháp Hành
1.
Hành Ðoạn Trừ Lậu Hoặc
a). Hành giả cần tư duy sự bất thiện và hậu quả của
lậu hoặc như dục tham, hữu tham, tà kiến và vô minh, vì những
cấu uế nầy tiết lậu từ các căn môn không được thúc liểm, như
nước rỉ từ bình chảy, hoặc vì chúng phát sanh những khổ sanh tử.
Nhờ tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sanh
không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt. Vị ấy như
lý tác ý:
"Đây là khổ", vị ấy giác tri;
: "Đây là khổ tập", vị ấy giác tri;
"Đây là khổ diệt", vị ấy giác tri;
: "Đây là con đường đưa đến khổ diệt" vị ấy giác tri.
Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến,
nghi, giới cấm thủ. Các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do
tri kiến được đoạn trừ
b).
bằng phòng hộ là biết được lậu hoặc nguy hiểm như vậy mà phòng
thủ là không cho nó lộ ra nghĩa là nhốt nó nó trong lòng không
nghĩ nó nữa. làm thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ được
đoạn trừ?
.”Sống phòng hộ với sự phòng hộ con mắt, các lậu hoặc tàn hại và
nhiệt não ấy không còn nữa”. Vị ấy giác tri;
“Sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ tai... (như trên)”
“Sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗi mũi... (như trên)”;
“Sống phòng hộ với sự phòng hộ lưỡi... (như trên)”;
“Sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ thân căn... (như
trên)”;
.”Sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ ý căn. các lậu
hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa”
Các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn
trừ.
c).
bằng thọ dụng
Các vị như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh,
ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức
nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần
truồng. Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không
phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức,
không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu
và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hổ trợ
phạm hạnh,
Nghĩ rằng (giác tri): "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và
không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm,
sống được an ổn".
Vị ấy như”lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa
lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió,
sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm
của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh; vị ấy như
lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các
cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.”
. Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não
ấy không còn nữa, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do
thọ dụng được đoạn trừ
d).
bằng kham nhẫn?
Hành giả như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự
xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loŕi bň sát;
kham nhẫn những cách nói mạ lỵ, phỉ báng. Vị ấy có tánh kham
nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt,
đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết
điếng người.
Nếu vị ấy nghĩ “kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và
nhiệt não ấy không còn nữa.”
Các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được
đoạn trừ.
e) bằng tránh né
Hành giả như lý giác sát tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ,
tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu,
vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Có những chỗ ngồi không xứng
đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những bạn bè ác độc
mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghi ngờ,
khinh thường; vị ấy như lý giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng
đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy.
Vị ấy “giác tri tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt
não ấy không còn nữa.”
, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tránh né được
đoạn trừ
f).
bằng trừ diệt
Hành giả
như lý giác sát không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ,
trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy); không có
chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không
cho tồn tại (sân niệm ấy); không có chấp nhận hại niệm đã khởi
lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy);
không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ,
trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác bất thiện pháp ấy).
Vị ấy “giác tri trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và
nhiệt não ấy không còn nữa”.
Các pháp ấy
được gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn diệt.
g). bằng tu tập
H
ành giả như
lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y
ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác sát tu tập
trạch pháp giác chi... (như trên)... tu tập tinh tấn giác chi...
tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định
giác chi... tu tập xả giác chi; xả giác chi này y viễn ly, y ly
tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy “giác tri tu tập
như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.”
Các pháp ấy
được gọi là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
2.
Bước Ðầu Tập Thiền Ðịnh
a). Quán Sát
– Hành giả,
bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại,
thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp phải
được quán sát như thật với chánh trí tuệ. Hành giả “giác tri
sắc không phải của ta, sắc không phải là ta, sắc không phải tự
ngã của ta.”
– Cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hành giả cũng ““giác tri
cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này
không phải tự ngã của ta.”
b). Niệm Xứ
Với Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra
Hành giả tu
tập sự tu tập nhập tức xuất tức niệm (niệm hơi thở vô, hơi thở
ra). làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.
. Địa giới
ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau:
Hành giảkhi
thở vô,” tuệ tri địa giới không phải là của ta; khi thở ra
tuệ tri địa giới không phải là ta;khi thở vô tuệ tri địa giới
không phải tự là ngã của ta; và cứ như thế tiếp tục thở ra và
thở vô tuệ tri địa giới vô ngã". Hành nhiều lần như vậy
trong thời thiền.
Sau khi như
thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm
ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.
Tuấn tự cả
thủy giới, hỏa giới, phong giới, hư không giới, đất, nước, lửa,
gió được tu tập như trên.
Riêng lòng
từ thì hành giả, khi thở vô “giác tri lòng từ sẽ trừ diệt cái
sân tâm”
Khi thở ra,”giác tri lòng từ sẽ trừ diệt cái sân tâm” tập
nhiều lần.
Cả bi, hỷ, xả, bất tịnh, và vô thường cũng tu tập như vậy trừ
diệt được cái hại tâm, cái bất lạc, cái hận tâm, cái tham ái, và
cái ngã mạn.
c). Chánh niệm Hơi Thở
Sau khi ngồi kiết già, lưng thẳng và chánh niệm, hành giả bắt
đầu,
“Tỉnh
giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra”. Hay thở vô dài,
vị ấy “biết tôi thở vô dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy biết:
"Tôi thở vô ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,"
vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An
tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ
thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành (Cittasankhara), tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành,
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở
ra", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị
ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra, vị ấy
tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm
định tĩnh, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi
sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán ly tham,
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra",
vị ấy tập "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán
từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
Tu tập niệm
hơi thở vô hơi thở ra như vậy, làm cho sung mãn như vậy, có quả
lớn, có lợi ích lớn.Tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy,
làm cho sung m
ãn nh
ư vậy
thời
khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được
giác tri, không phải không được giác tri.
IV.
Kết Luận
Ðoạn trừ lậu hoặc là bước tu tập về phẩm hạnh. Khi thanh lọc
thân tâm được thiện phước, hành giả mới an ổn tu tập thiền định.
Trước tiên, theo bài học đầu tiên Phật dạy con trai Ngài, hành
giả theo đó thực hành. Phải rũa sạch mọi lậu hoặc chất chứa
trong tự ngã từ nhiều đời bằng cách vô tự tính mọi hữu tồn trong
ngã chấp. Từ đó việc thiền định mới có cơ may mở ra con đường
giác ngộ.. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết, mà sư hiểu biết
đó là tuệ tri, một cái biết sat-na hiện tiền, cái biết sáng suốt
vô thời không, cái biết vô ngã vì nó không hệ lụy đến ái thủ hữu
của bản ngã ác pháp vốn gây ra sanh tử luân hồi và khổ ưu. Thực
hành phẩm hạnh thiện pháp và thiền định để thanh lọc dòng tâm
thức vẩn đục là pháp vô tự ngã tối ưu bước đầu tạo cho thân tâm
được an tịnh.
Tham khảo
Kinh Trung Bộ: (1). Kinh Pháp Môn Căn Bản(Mulapariyaya sutta);(2).
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (Sabbasavasuttam); (62). Ðại Kinh Giới Giới
La Hầu La (Maha-Rahulovadasuttam), do HT. Thích Minh Châu Việt
dịch từ Pali, trích trong website Quảng Ðức (kinh điển/Trung Bộ):
http://www.quangduc.com
|