
Pháp sư Tuyên Hóa,
một Thiền Sư Trung Hoa thời hiện đại
Thích Nguyên Tạng
Melbourne, Úc Châu 2001
Pháp sư được xem là nhà truyền
bá Phật giáo Trung Hoa thành công nhất trên đất Mỹ
ở cuối thế kỷ
XX này.
Thân thế và ḍng họ:
Pháp sư thế danh là Bạch Ngọc Thư , Pháp danh
An Từ, tự Độ Luân, Pháp hiệu Tuyên Hóa. Ngài sinh
ngày 26/04/1918 (nhằm ngày thứ sáu, 16 tháng 3 năm Mậu
Ngọ) tại làng Kiết Lâm, Măn châu thuộc vùng Đông
Bắc, Trung Hoa, trong một gia đ́nh có tám người
con. Thân phụ là cụ ông Phú Hải và mẹ là
người họ Hồ.
Ngài là người con út trong một gia đ́nh có
truyền thống kính tín Tam Bảo. Mẹ của ngài
ăn chay trường và tu theo pháp môn niệm Phật.
Trước khi sanh ngài bà có một giấc mơ kỳ
lạ. Một đêm nọ, bà thấy một luồng hào
quang của Đức Phật A Di Đà chiếu sáng
khắp mọi nơi và làm chấn động đất
trời. Giật ḿnh dậy bà ngửi thấy mùi thơm
kỳ diệu lan tỏa khắp trong pḥng. Không lâu sau đó
bà đă hạ sanh ngài.
Xuất gia và tu học:
Vào năm 11 tuổi, trong một lần băng qua
một cánh đồng gần ngôi làng, ngài thấy một
tử thi của một đứa trẻ nằm
dưới đống rơm. Ngài chưa từng thấy
người chết trước đó, nên hỏi mẹ
ngài và mới biết đó là cái chết, cái sự hủy
hoại của một kiếp người. Trong tâm trí non
nớt bất giác ngài suy nghĩ có cách nào để thoát
khỏi sự chết chăng ? và ngài được
một người quen khuyên rằng "chỉ có một
con đường duy nhất để thoát chết là tu
tập theo con đường Đạo để giác
ngộ được bản tâm và biết rơ
được bản lai diện mục của ḿnh"
(The only way to escape death is to practice the Tao/Way so as to enlighten
one's mind and understand one's inner self). Do đó ngài muốn
xuất gia đầu Phật để có thể thực
hành được con dường đạo trọn
vẹn
HT Tuyên Hóa và hai đệ tử người
Mỹ
Ngài đến bày tỏ ư nghĩ cao đẹp này
với mẹ và được mẹ khuyên rằng:
"xuất gia là chuyện tốt, nhưng cũng không
phải là chuyện dễ làm. Cần phải có thiện
căn, phải có đại nguyện lực, phải phát
đại Bồ đề tâm th́ mới có thể thành
tựu được Vô thượng đạo. Nay con
phát tâm như vậy, mẹ ḷng ủng hộ và
điều này cũng khế hợp với giấc mơ
của mẹ năm xưa. Tuy nhiên, nay mẹ đă già, ngày
tháng chẳng c̣n bao lâu nữa, các anh chị của con
đều đă tự lập, con nên ở lại
để phụng dưỡng cha mẹ tuổi già, khi cha
mẹ qua măn phần rồi, con xuất gia cũng không muộn".
Ngài vâng lời mẹ và ở lại phụng
dưỡng cha mẹ. Ngày ngày ngài theo mẹ tu pháp môn
niệm Phật và lạy Phật sám hối để tiêu
trừ nghiệp chướng.
Đến năm ngài 19 tuổi th́ mẹ ngài qua
đời. Ngài đến Chùa Tam Duyên , đănh lễ và
chính thức xuất gia với Ḥa Thượng
Thường Trí . Sau đó ngài trở lại quê nhà
để tiếp tục nghiên cứu kinh điển và tu
tập trong một thiền thất nhỏ bên ngôi mộ
của mẹ trong ba năm để tỏ ḷng hiếu
đạo. Trong suốt thời gian này, ngài tinh tấn
tọa thiền, tụng kinh và lạy sám hối. Ngài
chỉ ăn mỗi ngày một bữa và có lúc nhập
định ba ngày liên tục, có khi đến một
tuần lễ mới xả thiền.
Rồi một đêm nọ, người dân trong làng hoảng
hốt thấy thiền thất của ngài bỗng phát
hỏa. Hàng trăm người xách nước chạy
đến để chữa cháy. Tuy nhiên khi tới nơi
họ thấy thiền thất của ngài vẫn tĩnh
mịch lặng yên và ngài vẫn an nhiên trong thiền
định.
Năm 1947, sau đệ nhị thế chiến
(1940-1945), Pháp sư bắt đầu chuyến vân du
hoằng hóa. Cuối cùng, trải qua hơn ba ngàn dặm,
ngài đến chùa Hoa Nam để bái kiến Thiền
sư Hư Vân (Hsu Yun/Empty Clound), lúc ấy Thiền sư
Hư Vân đă 109 tuổi. Thiền sư Hư Vân vừa
nh́n thấy ngài th́ liền nhận ra hoa trái tu tập
của ngài trong thời gian qua. Thiền sư Hư Vân nói:
"Như thị, như thị", và ngài cũng đáp
lại: "Như thị, như thị " (Thus it is).
Thiền sư Hư Vân liền ấn chứng sở
đắc của ngài và ngài chính thức trở thành tổ
thứ 9 của Thiền phái Quy Ngưỡng (Wei Yang Sect) và
là vị tổ thứ 49 của Thiền tông Ấn-Hoa.

HT
Tuyên Hóa và hai đệ tử người Mỹ
(xem bài về hai
vị này ở đây)
Đạo nghiệp:
- Tại Hồng Kông:
Mùa hè năm 1949 cuộc cách mạng trong nước bùng
nổ, ngài đến tị nạn ở Hồng Kông.
Đến nơi không có một đồng xu dính túi, ngài
đi thẳng đến một sơn động và
ngồi kiết già nhập định trong hai tuần
lễ. Lúc bấy giờ đoàn người tị nạn
kéo sang Hồng Kông ngày càng đông từ Hoa lục. Ngài
phải rời hang động và tạo ngân quỹ
để cứu giúp người dân.
Hồng Kông là mảnh đất của Gia Tô giáo từ
năm 1842 khi Thực dân Anh chiếm cứ ở đây. Do
đó mọi việc Phật pháp phải làm lại từ
đầu. Trong 12 năm hoằng pháp tại Hồng Kông,
ngài đă xây dựng chùa Tây Lạc Viên, Chùa Từ Hưng
Thiền và một giảng đường, ngài đă
tổ chức in ấn lại một kinh sách và thuyết
pháp giảng kinh cho dân chúng. Đặc biệt là ngài cho
xuất bản tờ báo Tâm Pháp (Mind Dharma) để
phổ biến giáo lư. Các bộ Kinh được ngài
thuyết tại Hồng Kông gồm có Kinh Hoa Nghiêm (Shurangama
Sutra), Kinh Địa Tạng (Earth Store Sutra), Kinh Kim Cang
(Vajra Sutra) và Kinh A Di Đà (Amitabha Sutra) ... và chính nhờ các
pháp hội này mà PG đă nhanh chóng lan tỏa và phát triển
mạnh ở Hồng Kông trong một thời gian ngắn.
Trong thời gian 10 năm lưu trú tại đây, pháp
sư cũng tổ chức các chuyến đi hoằng pháp
ở các nước Thái Lan và Miến Điện
để thuyết giảng, t́m hiểu và nghiên cứu PG
Nam Tông. Ngài mong muốn qua ngài sẽ thiết lập thành
một khối thống nhất mạnh mẽ giữa hai
truyền thống
Tại Úc châu:
Năm 1959, ngài nhận được tin Thiền sư
Hư Vân viên tịch ở Trung Hoa, thọ thế 120
tuổi, ngài giả từ Hồng Kông và đến
hoằng pháp tại Úc châu. Tại đây ngài
được mời dạy Hoa ngữ tại một
đại học ở
Năm 1961, ngài được Hội Phật giáo
tại tiểu bang
- Tại Mỹ châu:
Tại San Francisco, Ngài sống và tu tập trong một
căn hộ nhỏ ở khu có đông người Hoa.
Tại đây ngài ẩn nhẫn tu tập thiền
định để chờ đợi cơ duyên
thuận lợi để ra hoằng pháp. Lúc bấy
giờ ngài tự gọi ḿnh là Nhà sư trong phần mộ
(Mộ Trung Tăng/The Monk in the Grave).Thời gian đầu
ngài chỉ được biết đến trong cộng
đồng người Hoa, nhưng lần lần
giảng đường của ngài có nhiều
người Mỹ khác đến nghe pháp, đặc
biệt nhiều sinh viên người Hoa và Mỹ cũng
đến nghe pháp. Trong dịp này Pháp sư Tuyên Hóa đă
tuyên bố với tín đồ về mục đích chính
của Ngài có mặt ở Mỹ là : "Đem giáo lư
Phật đà qua phương Tây và thành lập ở đây
một cộng đồng Tăng già chánh truyền ;
tổ chức và hỗ trợ công tác phiên dịch toàn
bộ kinh điển Phật giáo sang tiếng Anh và
nhiều thứ tiếng khác; quảng bá một nền giáo
dục hướng thiện qua việc thành lập các
trường tiểu, trung và đại học Phật
giáo".
Năm 1968, Ngài mở một giảng đường
để thuyết pháp tại lầu 4 của chung cư
Waverly, nơi đây từng là một ngôi đền
của đạo lăo và ngài bắt đầu thuyết
giảng Kinh Lăng Nghiêm (Suramgama Sutra/ Flower Adornment), pháp
hội này kéo dài đến 96 ngày. Sau pháp hội này ngài tuyên
bố rằng : "Năm nay hoa Chánh pháp sẽ nở
rộ trên đất Mỹ- một đóa hoa năm
cánh" (This year the Dharma flower will bloom in
Mùa đông năm 1969, ngài cho trùng tu lại ngôi giảng
đường và đặt tên là Tu viện Kim Sơn (Gold
Mountain Monaster). Kim Sơn là danh hiệu của một ngôi
chùa ở Trung Hoa và sinh hoạt tại đây đều
theo quy củ thiền môn truyền thống của PGTH. Và
cũng trong năm này, Ngài thành lập Viện Dịch Kinh
(The Buddhist Text Translation Society), một tổ chức chuyên
trách việc phiên dịch và in ấn kinh điển và
đă xuất bản trên 200 dịch phẩm, trong đó
phần lớn được dịch sang tiếng Anh,
tiếng Việt và tiếng Tây Ban Nha.
Vào ngày 7 tháng 7 năm 1972, Ngài mở đại giới
đàn để truyền giới cho hơn 200 Tăng Ni
ở Mỹ và các nước lân cận về thọ
giới trong dịp này, đặc biệt trong đó có
năm vị tăng sĩ người Mỹ, đây là
lễ truyền trao giới pháp đầu tiên trên
đất Mỹ, đàn giới kéo dài 108 ngày. Theo Mahavamsa
(bộ đại sử của Tích Lan, vua Mahanama cho
rằng "Phật giáo không thật sự cắm rễ
trên một đất nước cho tới khi nào một
người dân của xứ sở ấy được
thọ giới ngay trên quê hương của anh"
(Buddhism could not truly be said to have taken root in a country until a
native-born son could be ordained in his native land). Điều
kiện này hôm nay nước Mỹ đă hội
đủ.
Năm 1974, pháp sư đă mua lại một bệnh
viện ở
Đây là một cơ sở hoằng pháp vĩ
đại nhất từ trước tới nay tại
Mỹ với diện tích rộng 488 mẫu (rộng
gấp 25 lần ṭa Bạch ốc). Pháp sư Tuyên Hóa đă
nói về nhân duyên thành lập Vạn Phật Thánh Thành (VPTT)
: "Có thể nói rằng nhân duyên thành lập VPTT đă
được định trước từ vô
lượng kiếp. Làm sao chúng ta có thể xây cất
được bảy, tám chục ṭa nhà như thế
?".
Thật ra, nơi này là một bệnh viện do chính
quyền
Toàn khu bệnh viện có đủ chỗ cho hơn
20000 người cư trú. Vào giữa năm 1970, bang
Sau khi mua lại bệnh viện này, pháp sư Tuyên Hóa
đă tái tạo thành VPTT. Nhằm giải quyết nạn
khan hiếm nước, ngài đă dùng tuệ nhăn để
xác định vị trí mạch nước ngầm, và công
việc này đă thành công. Đây là một sự kiện
bất khả tư ngh́, và cho đến hôm nay, mỗi khi
nhắc lại sự kiện này mọi người
đều thấy vui, xúc động pha lẫn hào
hứng.
Cổng Tam Quan Vạn Phật Thánh Thành
Vạn Phật Thánh Thành là nơi hội tụ của
những người có đạo đức trí tuệ
chân chính. Tại đây tuyệt đối không có sự
phân biệt, chia rẽ, Nam-Bắc tông đều thông giao,
văn hóa Đông Tây đều ḥa hợp, nhân sĩ trên
thế giới xem đây là một cơi để quay về
tự tâm. Pháp sư Tuyên Hóa đă khẳng định
rằng "VPTT không phải là một cơ sở của
tư nhân, nó thuộc quyền sở hữu của tất
cả Phật tử trên thế giới, kể cả tín
đồ của mọi tôn giáo khác".
Đời sống tu học tại VPTH được
áp dụng cả năm Tông phái lớn của PGTH, đó là
Luật tông (Vinaya/Disciple), hành giả thọ tŕ 250 giới
dành cho Tỳ kheo và 348 giới dành cho Tỳ kheo ni, 5
giới dành cho Phật tử tại gia; Thiên Thai tông (T'ien
T'ai ), chuyên chú đến việc học kinh và tụng Kinh;
Mật tông (Esoteric), thọ tŕ thần chú và các môn Đà ra
ni; Tịnh độ tông (Pureland), tụng kinh và niệm
danh hiệu Phật A Di Đà (Namo-om-i-t'o-fa) và Thiền tông
(Ch'an/Zen) bao gồm tọa thiền và tham công án (Kung-an).
Đặc biệt, Pháp sư Tuyên Hóa khuyên dạy các
đệ tử phải tinh tấn thọ tŕ Sáu nguyên
tắc sống (lục đại tông chỉ) mà chính nó
đă giúp cho ngài thành tựu được đạo
nghiệp, Đó là: Không tranh , Không tham, Không t́m cầu, Không
ích-kỷ, Không mưu cầu tự lợi, và Không nói
dối. (Six great principles: do not fight, do not be greedy, do not seek,
do not be selfish, do not pursue personal advantage, and do not lie-bringing
benefit to the multitudes)
Sáu
đại tông chỉ của HT Tuyên Hóa ( bấm vào h́nh
để xem lớn hơn)
Lời kết:
Pháp sư Tuyên Hóa cũng nổi danh về
đức khiêm cung vô ngă và ḷng từ bi vô biên đối
với chúng sanh. Ngài hành đạo không biết mệt
mỏi cho đến suốt đời. Ngài đă viên
tịch vào ngày mùng 10 tháng 5 năm Ất Hợi (1995)
tại VPTT,
Sự ra đi của Pháp sư giống
như mặt trời khuất bóng, khiến ai cũng
thương cảm thống thiết. Cuộc đời
tu tập và hành đạo của ngài là một tấm
gương sáng ngời cho tất cả chúng sanh. Với
tinh thần từ bi, trí tuệ và tận tụy với
chúng sanh, ngài đă cảm hóa được hàng vạn
người trở về với Chánh Pháp, đi theo con
đường thanh tịnh và giải thoát. Hy vọng
rằng sự nghiệp giáo hóa của ngài sẽ
được duy tŕ và ngày càng phát triển hơn nữa
trên đất Mỹ.
Tham khảo theo các tài liệu:
John Snelling, The Buddhist Handbook, the complete guide to Buddhist
Schools, Teachings, Practice, and History, Inner Traditions, Rochester,
Vermont, 1998.
Rick Fields, How the Swans came to the lake, A Narrative History of Buddhism in
America, Shambhala, Massachusetts, USA, 1992.
Paul Croucher, A History of Buddhism in
Website: Dharma Realm Buddhist Association (http://www.drba.org/)