Pháp môn dễ tu, dễ chứng,
hợp cả thời cơ
Thích
Trường Lạc biên dịch
Source: Quảng Đức.com
Trong bốn mươi
chín năm thuyết pháp độ đời,
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ dạy,
nói rộng, vô lượng vô biên, vô
số pháp môn phương tiện; nói
hẹp với con số lượng cũng đến
tám muôn bốn ngàn. Tất cả pháp
môn ấy đều tùy theo căn cơ sai
biệt của chúng sinh mà Phật nói,
nên chẳng đồng: Hoặc lớn nhỏ, cao
thấp, hoặc khó dễ, mau chậm, v.v... Tu với
một pháp môn nào chẳng hạn, chúng
sinh phải dùng tự lực rốt ráo mới
được liễu sinh thoát tử và siêu
phàm nhập thánh.
Ngoài vô
lượng, vô biên vô số pháp môn
tu tự lực, Ðức Phật còn dạy thêm
một pháp môn tu tự lực nương với
tha lực; pháp môn này rất dễ tu, dễ
chứng và hợp với tất cả thời
cơ.
Ðứng về mặt
thế gian mà nói, ở ngoài đời, con
người ta muốn sinh sống của dễ dàng,
không ai lại chẳng chọn một công nghệ
dễ làm và mau phát tài. Cũng thế,
đứng về mặt đạo mà nói,
người Phật tử muốn được giải
thoát, không ai lại chẳng lựa một
pháp môn dễ tu, dễ chứng mà tu. Bởi
vì, ở trong thời kỳ mạt pháp này
là thời kỳ rất khó tu, Phật tử
cần phải biết pháp môn nào dễ tu,
dễ chứng để hành trì.
Mỗi Ðức Phật
ra đời độ sinh, thời gian giáo hóa
của mỗi Ngài đều chia ra làm ba thời
kỳ:
1.- Thời kỳ Chánh pháp,
2.- Thời kỳ Tượng pháp,
3.- Thời kỳ Mạt pháp.
Thời kỳ Chánh
pháp là lúc Phật còn tại thế;
Ngài đi khắp chỗ cùng nơi giảng kinh
cứu thế, thuyết pháp độ đời.
Chúng sinh nào có phục đức nhân
duyên lớn gặp Phật khai thị cho, thì
liền chứng được quả thánh, ngàn
người không sót một.
Thời kỳ Tượng
pháp là sau khi Phật đã thâu thần
nhập diệt, chúng sinh không còn diễm
phúc gặp Phật nữa. Mặc dầu sẵn
có ba tạng kinh điển của Phật lưu
truyền, mà số tu đắc quả thành
đạo chỉ riêng người căn tánh
thuần thục, huệ nhiều, chướng ít
được chứng ngộ mà thôi, nên chi
sự tu hành của Phật tử ở thời
kỳ Tượng pháp có phần khuy khuyết,
không được toàn hảo như thời
kỳ Chánh pháp.
Ðến thời kỳ
Mạt pháp, là sau khi cách Phật đã
lâu đời, một nỗi kinh luật xiêu
lạc, Chánh pháp thất truyền, lại
thêm các nhà đại diện cho Phật
chỉ đạo, bậc đại thiện tri thức
khó gặp, mà người học đạo
phần đông là hạng nghiệp nặng,
chướng dày, nên chi sự tu hành số
người chứng quả rất hiếm hoi, chẳng
khác nào bông xoài khi mới đơm hoa
thật nhiều, mà lúc kết trái còn
rất ít.
Chúng ta ngày nay
ở nhằm thời kỳ Mạt pháp của
Ðức Thích Ca Mâu Ni. Sự tu hành của
chúng ta khó bì, khó sánh với những
người ở trong hai thời kỳ Chánh pháp
và Tượng pháp. Lâm vào thời
buổi khó khăn như vậy, chúng ta phải
chọn một pháp môn nào dễ tu, dễ
chứng để cho chúng ta đi thẳng thắn
một lần đến bờ giác, kẻo một
khi vô thường bỏ mất thân người
rồi, muôn kiếp ngàn đời khó
gặp lại.
- Căn cứ vào
đâu mà biết thời kỳ Mạt pháp
khó tu chứng?
- Thời kỳ Mạt
pháp khó tu chứng tại sự đấu tranh
kiên cố mà ra. Sự đấu tranh kiên
cố của chúng ta đây xét lại
khởi điểm của nó ở tâm chấp
ngã và chấp kiến mà có.
Chấp ngã là
chấp có đây có kia, chấp có
người có ta. Còn chấp kiến là
chấp có phải có quấy, chấp có hay
có dở, chấp có hơn có kém,
chấp có khôn có dại v.v... hễ cái
gì trái ý mình, thì không vừa
lòng, liền nổi sân si. Chính tại sự
sân si này là cái nhân sinh ra các
điều phần, cãi vã và tranh
đấu. Ðó là bằng cớ nghiệp
nặng, chướng dày, si mê lầm lạc
của chúng ta. Mà khi có phiền não,
nghiệp chướng, thì tất nhiên không
có trí huệ, rất khó tu chứng lắm
vậy.
Ðây chúng ta
mới xét qua một ít nội chướng
cũng đủ thấy nó trở ngại như
thế nào rồi. Còn nếu bàn về ngoại
duyên, như hoài cảnh riêng của từ
cá nhân, từ gia đình hay tình thế
của quốc gia, xã hội và thế giới,
thì còn biết bao nhiêu là việc
khó khăn nữa!
- Ở trong thời kỳ Mạt pháp
khó tu chứng như vậy, chúng ta có
nên ngã lòng hay không?
- Tuy nhiên, chúng ta
không nên ngã lòng. Chúng ta phải
bình tĩnh để sáng suốt giải
quyết lần lần. Biết rằng chúng ta là
những người ở trong thời kỳ Mạt
pháp, chính là những kẻ đã
lâm vào hoàn cảnh nghèo thời cơ
lẫn phương tiện, thì đáng lẽ
chúng ta phải phát tâm rộng lớn và
kiên cố để tu hành.
Vả lại, trong bốn
phương pháp độ sinh của chư Phật
như:
1/ “Pháp thí
độ chúng sinh”, tức là từ kim
khẩu Phật nói ra mười hai phần kinh
hóa độ chúng sinh.
2/ “Thân nghiệp
độ chúng sinh”, tức là chư Phật
dùng ba mươi hai tướng tốt với
tám mươi vẻ đẹp và hào quang
của các Ngài mà hóa độ
chúng sinh.
3/ “Thần thông
lực độ chúng sinh”, tức là chư
Phật có vô lượng đức dụng
thần thông đạo lực và các
pháp biến hóa dùng để hóa
độ chúng sinh.
4/ “Danh hiệu
độ chúng sinh”, tức là chư Phật
có vô lượng danh hiệu hoặc chung,
hoặc riêng, nếu chúng sinh nào biết chuyên
tâm xưng niệm hồng danh của Ngài,
thì một ngày kia sẽ được gặp
Phật hóa độ cho.
Trong bốn pháp
độ sinh của Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni, mặc dầu ba pháp đứng đầu
đã tuần tự trôi qua với thời gian dĩ
vãng chỉ còn lại pháp độ sinh
thứ tư là “Danh hiệu độ chúng
sinh” cho chúng ta tu hành dễ dàng, thì
gẫm lại chúng ta ở trong thời kỳ Mạt
pháp này chưa đến đỗi là
hoàn toàn vô duyên bạc phúc
đâu! Vậy chúng ta phải phát tâm
rộng lớn, nỗ lực tu hành kiên cố
với pháp môn “Danh hiệu độ
chúng sinh”, tưởng lại cái kết
quả đời tu của chúng ta sau này cũng
không đến đỗi không hy vọng
được giải thoát.
- Kinh nào nói
pháp môn “Danh hiệu độ chúng
sinh”?
- Kinh Ðại Tập
Nguyệt Tạng nói: “Trong thời kỳ Mạt
pháp, chúng sinh chỉ nương sức niệm
Phật mà ra khỏi luân hồi”.
Kinh Vô Lượng
Thọ, Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật khuyên
chúng sinh nên trì danh hiệu Ðức Phật
A Di Ðà để thoát cõi khổ, sinh
về cõi an vui, đủ duyên lành tu
hành mau chứng đạo quả Bồ đề.
Kinh A Di Ðà,
Ðức Bổn sư Từ phụ nói: “Tất
cả sáu phương thế giới: Ðông
phương, Nam phương, Tây phương, Bắc
phương, Hạ phương, Thượng phương
chư Phật và Bồ tát đều khen
ngợi pháp môn “Danh hiệu độ
chúng sinh” và thường hộ niệm những
người chuyên trì danh hiệu Ðức
Phật A Di Ðà”.
Kinh Bửu Tích
nói: “Ðức Thích Ca Mâu Ni giảng
pháp môn “Danh hiệu độ chúng
sinh” (pháp môn Trì danh niệm Phật) cho
vua Tịnh Phạn với bảy vạn người
tộc thuộc nghe đều phát tâm tu theo
được siêu sinh về Cực lạc thế giới”
Nói tóm tắt,
pháp môn “Danh hiệu độ chúng
sinh”, tức là pháp môn “Trì danh
niệm Phật” đều được nhiều
kinh luận khác nói đến và tán
thán công đức không thể kể
xiết.
- “Trì danh niệm
Phật” nghĩa gì?
- Chữ “Trì”
nói đủ là “Trì cửu”
nghĩa là giữ mãi không thay đổi.
Chữ Danh nói
đủ là “danh hiệu” nghĩa là
tên và hiệu.
Chữ Niệm nói
đủ là “niệm niệm” nghĩa
là nghĩ nhớ đến luôn.
Chữ Phật nói
đủ là “Phật đà” nghĩa
là người đã giác ngộ hoàn
toàn với ba bậc giác: Tự giác,
giác tha và giác hạnh viên mãn do
sự tu hành.
“Trì danh niệm
Phật” là một pháp môn chuyên tu
của tông Tịnh độ (một tông trong
mười tông của đạo Phật) bằng
cách nghĩ nhớ đến danh hiệu Ðức
Phật A Di Ðà không bao giờ xao lãng.
- Phải niệm như
thế nào mới đúng ý nghĩa danh
hiệu Phật?
- Phật là một
danh từ tôn xưng những bậc giác ngộ
hoàn toàn và được xem như hiện
thân của các đức tính:
1.- Ðại từ
nghĩa là thường ban vui cho khắp cả
chúng sinh một cách bình đẳng.
2.- Ðại bi nghĩa
là thường cứu khổ cho mọi loài
mọi vật.
3.- Ðại hùng
nghĩa là luôn luôn hăng hái về
sự cứu khốn phò nguy và xây dựng
hạnh phúc cho chúng sinh không biết mỏi
mệt.
4.- Ðại lực
nghĩa là mạnh dạn và cương quyết
việc cứu tế chúng sinh không hề
chán nản.
- Pháp môn niệm
Phật có mấy cách?
- Trong Ðại Tạng
Kinh nói: “Pháp môn niệm Phật”
có trên trăm cách, mà giản tiện
để thuật lại thì có bốn pháp
là:
1.- Thật tướng niệm Phật,
2.- Quán tưởng niệm Phật,
3.- Quán tượng niệm Phật.
4.- Trì danh niệm Phật.
Thật tướng
niệm Phật là niệm Phật bằng cách
tuyệt đối, là khế hợp với bản
tâm chân như. Nghĩa là hành giả trong
cảnh giới này không còn chấp một
quan niệm nào, hoặc năng, hoặc sở,
không còn danh tự, ngôn thuyết nào cho
đến cái biết không này cũng
thật không, tức là chánh định
hoàn toàn song song với Thiền tông.
Cách niệm Phật
này cao lắm, chỉ dành riêng cho những
bậc thượng căn, thượng trí dùng
mà thôi.
Quán tưởng
niệm Phật là niệm Phật bằng cách
tưởng tượng nhớ lại những
tướng hảo của Phật mà mình
đã chiêm ngưỡng.
Những người
mới tu, hoặc trí kém không nên áp
dụng cách này sớm, vì có hại cho
phần não nhiều.
Quán tượng
niệm Phật là niệm Phật bằng cách
chiêm ngưỡng ngay tượng Phật, nhìn
rõ từ nét, từ phần các tướng
tốt của Phật. Cặp mắt phải chăm
chú không xao lãng, còn trong trí cứ
nghĩ rằng như mình đứng trước
Báo thân của Phật thật mà khởi
lòng cung kính, tin, nguyện.
Trì danh niệm
Phật là niệm Phật bằng cách ghi nhớ
danh hiệu của Phật. Ðể tỏ lòng cung
kính như chúng ta thường niệm đủ
là “Nam mô A Di Ðà Phật”, hoặc
là “A Di Ðà Phật” mà trong Kinh
Nhật Tụng của chúng ta thường thọ
trì do Ðức Bổn sư Thích Ca đã
khuyên dạy.
Trong bốn cách
vừa nói trên, xét kỹ, chỉ có
cách thứ tư là “trì danh niệm
Phật” là giản tiện và phổ thông
nhất.
- Phải trì danh
niệm Phật bằng âm thanh nào?
- Chúng ta có
thể trì danh niệm Phật bằng:
1/ “Cao thanh
niệm” nghĩa là niệm lớn tiếng.
Cách này chúng ta có thể dùng
mõ để phụ lực, hoặc giữ
trường canh mà lấn áp tiếng
động bên ngoài và đánh tan sự
buồn ngủ của chúng ta.
2/ “Ðê thanh
niệm” nghĩa là niệm nhỏ tiếng.
Nếu niệm lớn tiếng nghe hơi mệt, thì
nên dịu lại để giữ tâm khỏi
sự tán loạn, giải đãi.
3/ “Kim cang niệm”
nghĩa là niệm chỉ nhép môi,
động lưỡi mà không có ra tiếng
như hai cách vừa nói trên.
4/ Mặc niệm”
nghĩa là niệm âm thầm. Ðến
đây môi, lưỡi không còn
động, chỉ dùng trí để nhớ
câu niệm Phật mà thôi.
KINH NGHIỆM.- Chúng ta
có thể dùng bốn cách trên đây
mà thay đổi. Không nên cố chấp
một pháp niệm nào nhất định.
Nghĩa là nếu niệm thầm (mặc niệm)
có hơi năng đầu, buồn ngủ, thì
trở lại niệm lớn tiếng và tuần
tự, hoặc đê thanh niệm, v.v...
Ngài Luật Hàng
Pháp sư dạy chúng ta có thể trong khi
dùng bốn cách “Trì danh niệm
Phật”:
1.- Hoặc là niệm
đủ sáu tiếng “Nam mô A Di Ðà
Phật”.
2.- Hoặc chỉ niệm
bốn tiếng “A Di Ðà Phật”.
3.- Hoặc cho câu
niệm Phật theo hơi thở ra vào tùy theo
sức mà niệm nhiều câu hay ít câu
gọi là “Xuất nhập tức niệm”.
4.- Hoặc khi niệm
Phật, luôn luôn trụ tâm nơi đỉnh
đầu để tâm khỏi duyên cảnh
khác mà bị tán loạn.
Ngoài ra, người
niệm Phật phải chú trọng đến ý
căn bản của mình, nghĩa là phải gom
thâu tư tưởng lại mà đặc
biệt để ý đến bốn điểm
cần thiết:
1.- Phải kiên
thành nghĩa là cung kính, thành khẩn,
kỵ sự khinh mạn, không tôn kính.
2.- Phải thống
thiết nghĩa là tỏ vẻ đau khổ, kỵ
sự trống không, không thiết thực.
3.- Phải kiên chí
nghĩa là ý chí vững vàng, kỵ
sự gián đoạn, đứt khúc, không
nối tiếp nhau.
4.- Phải chuyên
nhất bấy giờ là chỉ theo một chiều,
kỵ sự xen tạp lộn xộn.
Ý căn
được kềm vào bốn điểm này
thì các căn khác như: mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân khó duyên ngoại mà
phát thức vọng động.
Muốn cho được
kết quả chắc chắn, trong khi niệm, hoặc
lớn tiếng, nhỏ tiếng, chúng ta còn
phải luôn luôn kiểm điểm những
việc như sau:
1.- Giữ miệng niệm
cho rành rẽ.
2.- Kềm hai lỗ tai nghe
cho rõ ràng.
3.- Giữ tiếng niệm
cho trong trẻo, đều đều.
4.- Nhất là cái
ý phải cẩn mật, kim chỉ cho thật
khít khao mà dày dặn đừng để
một tà niệm nào xen vào.
Trong Kinh Di Giáo,
Ðức Phật dạy chúng ta khi niệm Phật
phải chăm chỉ, chẩm bẩm như mèo
rình chuột, như viên tướng soái
giữ cửa thành. Nếu được như
thế, thì chúng ta sẽ thành công
“Niệm Phật Tam muội” vậy.
- Niệm Phật có
lợi ích gì cho mình và cho người
không?
- Ðức Thích Ca
Mâu Ni nói: “Ta là Phật đã
thành, còn chúng sinh là Phật sẽ
thành”. Nói một cách khác,
Ðức Phật là người đã giác
ngộ sự thật, còn chúng sinh là
người sẽ giác ngộ sự thật ấy
sau này, nếu biết tu hành chân chính.
Vì vậy, hết thảy các hành
động của Phật tử phải nhắm Phật
làm mục tiêu gương mẫu; nghĩa là
phải thực hành các đức tính cao cả
của Phật vào đời sống hằng
ngày của mình.
Thí dụ: Như
một người chí sĩ hằng ngày tủ
đến những đấng anh hùng để
khích lệ chí hướng của mình đã
làm gương cho mình noi theo, thì Phật
tử cũng vậy, giờ phút nào cũng
đều niệm Phật để hướng Phật
làm gương cho mình, lấy sự hành
động của Phật để chỉ huy đời
sống của mình, hy vọng tạo thành
mình trở nên một bậc đại từ,
đại bi, đại hùng, đại lực v.v...,
tức là thành Phật. Như thế là
niệm Phật có ích lợi cho mình vậy.
Khi niệm đức
tính đại từ bi của Phật, thì
phải áp dụng những biện pháp thiết
thực và khôn khéo để bảo vệ
và giúp đỡ đời sống của
mọi loài. Khi niệm đức tính đại
hùng lực của Phật, thì phải cực
đoan, quả cảm thực hành biện pháp
vị tha, lợi tha dầu phải hy sinh tài sản
và thân mạng của mình đi nữa
cũng không từ. Như thế là niệm
Phật có ích lợi cho người, cho vật,
cho chúng sinh vậy.
- Như thế nào
pháp môn danh hiệu độ chúng sinh là
dễ tu?
- Pháp môn danh
hiệu độ chúng sinh dễ tu là vì:
1.- Lúc nào niệm
Phật cũng được cả:
a) Sớm mai niệm
Phật được,
b) Trưa niệm Phật
được,
c) Tối niệm Phật
được,
d) Khuya niệm Phật
được v.v... nghĩa là không hạn
cuộc thì giờ.
2.- Chỗ nào niệm
Phật cũng được cả:
1/ Trong chốn già lam:
a) Trước chánh
điện niệm Phật được,
b) Sau nhà Tổ
niệm Phật được,
c)
Trong liêu thầy niệm Phật được,
d)
Hai bên Ðông lang, Tây lang niệm Phật
được,
e)
Trên gác chuông niệm Phật được,
g) Dưới gốc cây Bồ
đề, gốc da, gốc duối
niệm Phật được.
Tóm tắt, là niệm Phật
không hạn định xứ sở.
2/ Trong nhà:
a)
Trước bàn thờ Tam Bảo niệm Phật
được,
b)
Tại phòng khách niệm Phật được,
c)
Tại phòng ăn niệm Phật được,
d)
Tại phòng ngủ niệm Phật được,
đ)
Sau nhà bếp niệm Phật được,
e)
Trong phòng tắm niệm Phật được,
g)
Trong phòng tiêu niệm Phật được,
h)
Trong nhà sanh niệm Phật được.
Tóm
tắt, bất kỳ chỗ sạch, chỗ dơ đều
niệm Phật được hết. Nhưng mà
nên lưu ý: Các nơi nào không
được thanh tịnh, tinh khiết, thì phải
mặc niệm nghĩa là niệm thầm, niệm
trong tâm trí, niệm bằng ý tưởng.
3/ Ở chốn sơn lâm:
a)
Trên đỉnh núi niệm Phật
được,
b)
Trong động, trong hang niệm Phật được,
c)
Ngoài rừng, bụi niệm Phật được.
4/ Miền duyên hải:
a)
Ngoài cồn, ngoài bãi niệm Phật
được,
b)
Trên doi, dưới vịnh niệm Phật
được.
5/ Ở thôn quê:
a)
Trong vườn, ngoài rẫy niệm Phật
được,
b) Trong ao, đầm, ngoài đồng
áng niệm Phật
được.
6/ Ở thành thị:
a)
Giữa chợ đông niệm Phật
được,
b)
Trong quán cháo, hàng cơm, lò bánh,
tiệm nước, rạp hát niệm Phật
được,
c)
Ngoài bến xe, bến tàu niệm Phật
được.
7/ Ở trường vận động:
a) Tại sân đấu cầu,
đánh vợt niệm Phật được,
b)
Tại hồ bơi lội niệm Phật
được.
8/ Ở bãi chiến trường:
a) Trước họng súng, mũi
gươm niệm Phật được,
b) Trên máy bay, dưới tàu
lặn niệm Phật được,
c) Trong tiếng nổ của lựu
đạn, quả bom
niệm Phật được.
3.- Niệm Phật cách nào
cũng được
Niệm
Phật không nhất định phải một
mực chắp tay cúi đầu, quỳ gối
trước bàn thờ mãi, mà tha hồ
đi, đứng, nằm, ngồi, bò, leo, chạy,
nhảy v.v..., tùy theo hoàn cảnh. Niệm
Phật cũng chẳng bắt buộc phải lớn
tiếng, dài hơi luôn luôn, mà niệm
mau, niệm chậm, niệm thầm, niệm có
tiếng mõ, tiếng chuông, niệm vừa lần
tràng (lần chuỗi), niệm đếm hơi
thở ra vào (sổ tức niệm), niệm như
thế nào tùy thời thay đổi, miễn
là niệm niệm tiếp nối, đừng cho
gián đoạn mới hy vọng đến cảnh
giới “nhất tâm bất loạn”.
4.- Người hạng nào niệm
Phật cũng được cả
a) Không hạn cuộc tuổi
tác, kẻ bé măng
sớm niệm càng hay, mà người già
tàn tạ muộn niệm Phật cũng tốt.
b)
Không hạn định nghề nghiệp: Người
làm quan, làm thầy, làm thợ, cày
ruộng, đi buôn, lập vườn, học
trò, lính tráng v.v... người nào
niệm Phật tâm lần sáng tỏ, không
bê trễ công việc làm ăn, biết
yêu nghề, biết trọng danh giá mình,
không làm điều ám muội, ích
kỷ hại nhân.
5.- Pháp môn tu nào cũng
gồm đủ ở trong pháp môn “Danh
hiệu độ chúng sinh”
Nhiều
người tưởng rằng tu hành
được thành đạo là nhờ có
ăn chay, giữ giới, tụng kinh, trì chú,
tham thiền, nhập định nhiều năm, chớ
nghe nói niệm Phật được thoát
khỏi sinh tử luân hồi ắt nghi ngờ;
vì các người ấy chưa rõ pháp
môn “Danh hiệu độ chúng sinh”
gồm tất cả các pháp, chưa nhận
định niệm Phật tức là Giới,
niệm Phật tức là Kinh giáo, niệm
Phật tức là Thiền, niệm Phật tức
là Phật.
Niệm
Phật tức là Giới.- Chuyên
trì các điều Phật cấm là giữ Giới
để trị tam nghiệp: Thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp. Còn chuyên
trì danh hiệu của
Phật là niệm Phật để trị thân
tâm. Niệm Phật mãi
thì thân an nhàn, tâm thuần thục. Tâm thuần thục là
tâm rốt ráo; tâm rốt ráo là
tâm rỗng không; ấy là niệm tánh
(tánh niệm Phật). Niệm tánh với
Giới tánh (tánh giữ Giới) nào có
khác gì? Nên chỉ niệm Phật tức
là giữ Giới vậy.
Niệm Phật tức
là Kinh giáo.- Cả ba tạng kinh lớn đều
bởi tâm mà ra. Nếu tâm không có
Phật thì giáo vào đâu? Nhưng
mà tâm ai lại không có Phật, chỉ vì
mình không tự nhận đó thôi. Kinh
giáo là cốt yếu cho người biết
rõ lối tà mà bỏ đặng quay về
đường chánh. Trì kinh mục đích
để minh tâm kiến tánh; còn niệm
Phật cốt yếu để trừ sạch các
mối nghĩ nhầm đặng đi đến chỗ
chánh niệm và chân niệm, tức là
minh tâm kiến tánh,
nên chi niệm Phật tức là Kinh giáo
vậy.
Niệm Phật tức
là Thiền, là Phật.- Lặng xem một câu
thoại đầu gọi là Tham thiền. Ngồi
yên xét hơi thở gọi là Tọa
thiền. Tham với Tọa cả hai phương cũng
đều là Thiền cả. Thiền, Phật
rốt cuộc cũng là một Tâm. Thiền kia
tức là Thiền của Phật; Phật kia tức
là Phật trong Thiền, nên chi pháp môn
niệm Phật không có trở ngại gì
với pháp Tham thiền, không trái trấp
gì với pháp Tọa thiền.
Vả lại lúc Tham
thiền, nếu lấy sáu chữ Hồng danh “Nam mô A Di Ðà
Phật” làm câu thoại đầu,
niệm đi niệm lại quanh quẩn không rời,
thì không cần Tham
thiền mà cũng là Thiền rồi.
Pháp Tọa thiền cốt nhất phải
đến cõi chỉ còn một mối nghĩ
cùng ứng với Tâm, rỗng rang như hư
không thì đối với niệm Phật mà
tới cảnh “Nhất tâm bất loạn”
nào có khác gì? Nên chi niệm Phật
tức là Thiền là Phật vậy.
QUYẾT NGHI.- Giả
sử có người ngại rằng: Tu theo pháp
môn “Danh hiệu độ chúng sinh”
tức là niệm Phật cầu sinh Tịnh
độ Tây phương Cực lạc là
“Tiểu thặng” có phải không?
- Pháp môn “Danh
hiệu độ chúng sinh” ở trong Kinh A Di
Ðà. Bộ kinh này thuộc về loại
“vô vấn tự thuyết”, không ai hỏi,
Phật tự nói. Kinh A Di Ðà là kinh
Ðại thặng.
Vả
lại, người muốn niệm Phật cầu sinh Tịnh độ phải
phát tâm đại Bồ đề (rộng
lớn) trên cầu cho được quả Phật,
dưới mong mỏi hóa độ chúng sinh.
Phát tâm rộng lớn như vậy là tu
Ðại thặng.
- Người trọn
đời làm ác, khi gần chết, chí
tâm niệm Phật có được vãng sinh
không?
- Ðược. Ngày
xưa, ở Trung Quốc, đời nhà
Ðường có Trương Thiện Hòa
chuyên làm thịt trâu bán độ
nhật. Lúc chàng bệnh nặng gần chết,
thấy nhiều con trâu hiện trước mắt
đòi mạng. Trương Thiện Hòa sợ
hãi lắm, bảo vợ mau mau lên chùa
thỉnh thầy Tỳ kheo tới cứu độ
chàng.
Thầy Tỳ kheo dạy
rằng: Kinh Thập Lục Quán nói: “Nếu
người nào trong khi sắp lâm chung có
ác tướng địa ngục hiện ra, thì
phải chí tâm xưng niệm danh hiệu
Ðức Phật A Di Ðà, tức thì
được vãng sinh”. Vậy ngươi
hãy y theo lời kinh dạy mà làm ắt
được siêu độ.
Trương Thiện
Hòa vâng lời chí tâm niệm danh hiệu
Ðức Phật A Di Ðà. Vừa niệm ít
câu, Trương Thiện Hòa tự nói
rằng: “Ta thấy Ðức Phật từ
phương Tây đến kìa, ta đi theo
Ngài”. Nói dứt lời, Trương
Thiện Hòa tắt thở.
- Ðời nay có
người nghe câu Thánh giáo trong kinh rằng:
“Chúng sinh ở mười phương chí
tâm tin ưa muốn sinh về nước Ta,
đến cùng mười hơi niệm Phật,
nếu ai không được vãng sinh, Ta không
ở ngôi Chánh giác”, rồi người
ấy cả đời không lo tu hành gì
cả. Người nói như vầy: “Khi gần
chết ta sẽ niệm Phật mười câu
cũng không muộn gì”. Như vậy có
nên hay không?
- Không. Mười
niệm tương tục nói suông nghe không
khó, nhưng mà bắt tay vào việc làm
chẳng phải dễ. Vì
cái tâm của con người lăng xăng
như con ngựa hoang, cái ý thức của con
người lung loạn như con vượn chuyền
cây, nó cứ dong
ruổi mãi theo lục trần không ngừng
nghỉ. Hơn nữa, khi gần chết, có
biết bao nhiêu thứ khổ bấu theo thân. Nếu bình nhật không
tập niệm Phật cho
quen, đến cơn hấp hối thì làm
gì xong được.
Vậy mỗi người
nên lượng xét lại mà lo khắc
niệm Phật trước hay hơn.
Kinh giáo có
câu: “Chớ đời đến già mới
niệm Phật, mồ hoang biết mấy kẻ thanh
niên”.
Nói tóm lại,
pháp môn dễ tu, dễ chứng và hợp
cả thời cơ là pháp môn “Danh
hiệu độ chúng sinh” thông thường
gọi là pháp “Trì danh niệm
Phật” mà sao gọi là dễ tu?
- Pháp môn Trì
danh niệm Phật dễ tu vì:
1.- Lúc nào niệm
Phật cũng được,
2.- Chỗ nào niệm
Phật cũng được,
3.- Niệm Phật
cách nào cũng được,
4.- Người nào
niệm Phật cũng được,
5.- Pháp môn niệm
Phật bao gồm tất cả các pháp môn tu
khác.
Ðức Thích Ca
Từ phụ đã để dành sẵn một
phương thần dược chữa bệnh sinh tử
luân hồi cho bầy con
thơ dại dột rơi rớt trong thời kỳ
Mạt pháp này.
Ngài đinh ninh khuyên dạy rằng: Chúng
sinh chỉ nương pháp
môn niệm Phật mà được ra khỏi luân hồi. Vì
pháp môn niệm Phật có những công dụng đặc biệt
mà các pháp môn khác không có.
Cho hay
thân người khó gặp, Tịnh độ
Tây
phương lại dễ sinh! Vì Ðức Phật A
Di Ðà có lời thệ nguyện rộng
lớn rằng: “Nếu chúng sinh nào nghe danh
hiệu Ta, khởi tâm chí thành, niệm
từ một niệm đến mười niệm
mà Ta không tiếp độ về nước Ta,
thì Ta không làm Phật”.
May mắn thay! Hiện nay
chúng ta có cái thân người lại
được nghe pháp môn Dễ Tu thật
là chúng ta có đầy đủ
phước đức nhân duyên để sau
này sẽ vãng sinh về Tây phương
Cực lạc thế giới. Vậy chúng ta không
nên chần chờ, lần lựa gì nữa
mà không chuyên tâm trì niệm danh
hiệu của Ðức Phật A Di Ðà, kẻo
một khi thân này mất rồi, thì muôn
kiếp ngàn đời khó gặp trở lại
được.
Về
sự tu giải thoát, Ðức Thích Ca Mâu Ni
Phật có nhiều pháp môn chỉ dạy
từng bậc tu chứng từ phàm phu tiến
lên Thánh hiền, từ Thánh hiền tiến
lên Phật. Ngoài vô lượng pháp
môn tu tự lực, Phật còn chỉ thêm
một pháp môn tu tự lực nương tha
lực rất viên đốn, rất huyền
diệu, vì dễ thực hành mà thành
công, dùng sức ít mà có hiệu
quả, chính là pháp môn “Danh hiệu
độ chúng sinh” hay là “Trì danh
niệm Phật”.
Với
pháp môn này, mỗi người có
thể tùy phận, tùy sức mà tu chứng.
Không luận kẻ trí người ngu, không
luận kẻ tăng, người tục, không
luận người sang, kẻ hèn, không luận
người già, kẻ
trẻ, v.v... nói tóm tắt, tất cả
các giới người trong xã hội
đều có thể tu tập và chứng quả
tốt cả.
-
Nhờ đâu mà pháp môn “Danh hiệu
độ chúng sinh” tu dễ chứng?
-
Pháp môn “Danh hiệu độ chúng
sinh” tu dễ chứng là nhờ có:
1.-
Nhị lực,
2.-
Tam nhân,
3.-
Tam duyên,
4.-
Tam nhân duyên, thất nhân duyên, ngũ
nhân duyên.
NHỊ LỰC.-
Nhị lực là hai sức mạnh: 1/ Tự lực
và 2/ Tha lực.
Tự
lực là sức mạnh của cá nhân,
sức mạnh của riêng mình có.
Tha
lực là sức mạnh của người
khác, mà đây ám chỉ về sức
mạnh của chư Phật và chư Bồ tát
gia bị hay ủng hộ, hoặc là bố hóa
hay cứu giúp chúng sinh.
Công năng của Tự lực.- Ở đời con người ta,
phàm muốn nên công kia việc nọ, dầu
cho công việc nhỏ nhặt đến bậc
nào hay là dễ dàng đến đâu,
ít nữa mình cũng phải phí sức
mình ra làm mới được kết quả;
ấy gọi là do Tự lực.
Công năng của Tha lực.- Nếu một công việc lớn
lao, nặng nề quá, đem hết sức mình
làm chẳng xuể, bất buộc mình phải
cần đến sức người khác giúp
đỡ thêm mới mong được thành
tựu; ấy gọi là nhờ Tha lực.
-
Phẩm và lượng của Tự lực và
Tha lực khác nhau thế nào?
-
Luận về phẩm của Tự lực thì
giá trị của nó thật là quý.
Ðây, giả sử một người con thảo
muốn báo hiếu cha mẹ lúc còn sinh
tiền, tự mình phải ra tay nấu cơm, đun
nước dâng lên cho hai thân dùng
được no lòng ấm dạ; tự mình
phải ra sức giặt giũ y phục cho cha mẹ thay
đổi sạch sẽ hằng ngày; tự mình
phải ân cần hầu hạ bên giường,
quạt nồng ấp lạnh cho cha mẹ nghỉ ngơi
ngon giấc. Nói tóm tắt, là đích
thân mình đứng ra làm các việc
cần thiết để phục vụ cha mẹ trong
lúc tuổi già, thì lòng mình mới
cảm thấy vui sướng chẳng có chi bằng!
Hơn là mình phó thác cho tôi trái
tớ gái trong nhà, quanh năm cùng tháng
vẫn thay thế cho mình chăm nom từ miếng
ăn, thức uống, săn sóc từ manh quần
tấm áo, coi chừng từ giấc ngủ của
cha mẹ mình. Thật ra cách phụng
dưỡng ấy, tuy không thiếu sót về
phần vật chất nào; nhưng mà lòng
mình cũng thấy nao nao, chưa được thỏa
mãn lắm, vì mình xét lại còn
khuyết điểm một tinh thần là tình
thương yêu mật thiết giữa con cái
đối với cha mẹ. Bằng chứng thực nghiệm
là ai có dịp hầu hạ cha mẹ một
vài hôm trong lúc tuổi già ương
yếu, mà tự mình đi sắc thuốc,
hoặc đích thân mình bồng lên
đỡ xuống cha mẹ trên giường bệnh,
hoặc để tắm giặt giũ mùng mền,
thay xiêm đổi áo cho cha mẹ khi đau
ốm. Mình có làm được những
việc ấy một cách tận tình rồi
mới biết thưởng thức cái chân
giá trị của Tự lực nó thật
là quý báu vô cùng! Cũng như
một em bé học lớp sơ đẳng trường
tiểu học, tự mình viết được
một bài văn cỏn con với lời lẽ
ngây thơ mà có ý nghĩa, làm cho
thầy giáo là người chấm bài
của cậu học trò ấy rất hài
lòng khen ngợi, hơn cậu học trò
khác đồng thời đi tìm sách vở
chép lại những bài kiểu mẫu của
nhà văn sĩ trứ danh đã soạn.
Còn
bàn về lượng của Tự lực thì
thật là rất hiếm hoi! Ðây trên
thế gian này, người ta ai ai cũng cần
phải ăn no, mặc ấm và ở yên mới
sống. Nhưng nếu bắt buộc mỗi
người đều phải tự mình ra công
cày sâu, cuốc bẫm, gieo mạ, cấy lúa
mới có cơm ăn, tự mình phải
trồng bông, kéo chỉ, dệt vải, cắt
may mới có áo quần mặc, tự mình
phải đốn cây đẵn gỗ, dựng
cột xây tường mới có nhà ở
v.v... thì sức một người làm có
hạn, không bao giờ kịp hết cả trăm công
ngàn việc cần thiết ấy được.
Tuy
nhiên, mỗi người trong chúng ta, tự
mình không ra công trồng lúa cũng
được cơm ngày ba bữa no nê, tự
mình không ra công chăn tằm, quay tơ
cũng có quần áo lòe loẹt, tự
mình không ra công đào móng,
đắp nền, trộn hồ, gánh gạch cũng
được nhà cửa kín đáo ngăn
mưa đón gió v.v... Mặc dầu biết
rằng chúng ta có xuất tiền ra trả
công thuê người, mua vật liệu, song
cũng phải mang ân người. Nếu không nhờ
Tha lực là sức của người khác
đóng góp vào, thì chúng ta
đâu được cái cảnh sung sướng
là ăn no, mặc ấm, ở yên như thế
ấy! Nên chi quyết định rằng lượng
của Tha lực thật là rất trọng
đại lắm vậy!
- Sự liên quan của Tự lực
và Tha lực.- Tự
lực và Tha lực có liên quan mật
thiết không thể rời ra được. Vì
thế mà người ngoài đời cũng
như trong đạo không nên thiên chấp
Tự lực hay Tha lực, mà phải dung hòa,
phối hợp cả hai sức ấy lại áp
dụng mới được kết quả tốt trong
công việc sinh sống cũng như trong sự tu
hành. Ðại phàm con người biết
tín nhiệm Tự lực và Tha lực, thì
chẳng khác nào chim có hai cánh mới bay
được dễ dàng, cũng như xe có hai
bánh mới chạy được vững vàng;
nếu chích một cánh, thì chim kia phải
sa, đâu còn bay liệng tự do được
nữa, cũng như nếu hỏng một bánh
thì xe nọ phải ngả nghiêng nằm lì
một chỗ.
-
Nếu thiên chấp Tự lực, tự hào
nơi sức mình có đủ khả năng
chẳng cần đến Tha lực, phủ nhận
sức của quần chúng, thì người
thế gian sẽ thâu thập một kết quả
nhỏ nhít và khó khăn trong việc sinh sống
hằng ngày. Bởi vì Tự lực là
sức của cá nhân lẻ loi, yếu ớt
đối với Tha lực là sức của
nhiều người hợp lại mạnh mẽ. Nếu
tự cao, tự mãn với sức mình mà
chẳng cầu đến sức Phật, sức Bồ
tát, sức thầy sáng, bạn lành, thì
người học đạo giải thoát khó
bề tu hành chứng được quả
thánh. Bởi vì sức của phàm phu ngu
tục, đã phước mỏng lại thêm
chướng dày sánh với sức Phật,
Bồ tát phước đức vô lượng,
vô biên, kém xa một vực, chẳng khác
nào bọt nước phập phều trong biển
cả. Nên biết, bọt nước tuy là
bé bỏng mà chu du được khắp
cùng trong biển mênh mông, do vì nó
nhờ sức thủy triều lôi cuốn trong
lúc luân lưu xuống lên vòng quanh đại
hải. Nếu không nhờ lực lượng của
nước khi lớn khi ròng đưa đi, thì
làm sao bọt nước lưu thông khắp
cả đó đây trong biển dễ dàng! Vậy
thì, người tu hành không nên phủ
nhận “Tha lực” là sức Phật và
Bồ tát mà thiên chấp “Tự
lực” là sức của mình mà khó
nỗi thoát ra khỏi ải sinh tử luân
hồi, chẳng khác nào bọt nước
nếu phủ nhận lực lượng thủy
triều, thì không xê xích đi đâu
được hết.
-
Còn thiên chấp “Tha lực” thì sao?
-
Nếu thiên chấp “Tha lực” mà
phủ nhận “Tự lực”, thì
người thế gian không làm công việc
gì cả. Dụ như đứa con của một thầy
giáo ỷ lại rằng cha mình hay chữ
mà chẳng chịu ra công học tập, thì
tự nhiên nó phải dốt. Cũng như
người tôn giáo, người Phật tử
nếu phủ nhận sức mình, cứ một
mực đặt tín nhiệm vào Ðức
Phật, thì không làm sao chứng
được quả Phật.
-
Nếu dùng “Tự lực” nương
với “Tha lực” thì kết quả sẽ
được thế nào?
-
Nếu dùng “Tự lực” nương
với “Tha lực”, thì kẻ ngoài
đời sẽ thâu hoạch được kết
quả tốt đẹp trong công việc làm
của mình. Dụ như một đứa con
đã siêng năng, cần mẫn mà lại
có cha mẹ chia sớt gia tài và bà con,
anh em giúp thêm cả công lẫn của
nữa, thì đứa con ấy chắc chắn
được phát tài. Còn người trong
đạo, vừa dùng sức mình vừa
nương sức Phật, sức Bồ tát mà
tu, thì quyết định người Phật tử
ấy sẽ được vãng sinh về Tây
phương Cực lạc thế giới gặp
Ðức Phật A Di Ðà, nghe pháp “Vô
sanh” chứng ngôi “Bất thối” và
sẽ làm Phật kiếp vị lai. Như ngài
Huệ Viễn với những người trong hội
Liên xã có đến 123 vị ở Lô
Sơn hằng ngày lo phát triển các
việc lành và đem hết sức mình ra
chuyên niệm danh hiệu Ðức Phật A Di
Ðà cầu “Tha lực” đới nghiệp
vãng sinh, khi lâm chung đều được
Phật phóng hào quang đến tiếp dẫn
tất cả về Tây phương Cực lạc
thế giới.
Xứng
lý mà nói, nếu chỉ cần giác
ngộ bản tâm phá tan màn lưới
vô minh, vượt khỏi vòng sông ái
dục để chứng quả Niết bàn, thì
gọi là nương sức mạnh của mình.
Người do “Tự lực” mà tu chứng
quả Thánh là những bậc đại
trượng phu, những bậc thượng căn,
thượng trí. Chính là các bậc
đại Bồ tát và Thanh Văn ở trong
thời kỳ Chánh pháp. Chí như đến
thời kỳ Tượng pháp và Mạt
pháp căn khí con người đã kém
sút, tuy có tu mà không ngộ, hoặc
có ngộ mà không thuần. Vì soi
chiếu vào trong thì in tuồng thanh thoát
mà khi đối cảnh bên ngoài cũng
chưa khỏi mê mờ. Như không mê mờ
đi nữa, cũng chẳng qua là cuộc hạn
mà thôi. Ðến như bậc Bồ tát
chưa chứng “Vô sanh nhẫn” còn
có cái mê cách ấm (cái mê khi
thay đổi thân ngũ ấm), bậc Sơ quả
(Tu Ðà Hoàn) còn phải trải qua bảy
lần sinh tử ở cõi Dục giới vẫn
chưa khỏi cảnh tối nhập thai. Huống chi
là hạng bát địa phàm phu làm sao
khỏi theo dòng sinh tử. Thế thì nương
“Tự lực” mà tu thật là rất
khó xuất trần lao lắm. Vì một phen
mê lầm rồi thì trăm thứ đều
mê. Tai hại thay!
Bởi
cớ, Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật mới
tùy phương tiện dạy pháp môn
“Danh hiệu độ chúng sinh” để cho
người ở thời kỳ Mạt pháp
nương “Tha lực” mà tu hành mới
chắc chắn thành đạo.
TAM NHÂN HAY TAM TƯ LƯƠNG
Tam nhân là ba nguyên
nhân. Nguyên nhân là yếu tố căn
bản để được kết quả.
Tam tư lương là ba món tư
lương. Tư lương là những gì
có thể giúp đỡ đời sống
của con người. Nhất là trong những cuộc
hành trình như du lịch, tản cư chẳng
hạn, v.v...
Tư lương là thứ phải
được đặc biệt sắp sửa
đàng hoàng. Bởi vì con người
cần phải sống để làm cho đời
họ tiến hóa thêm lên, đồng thời
lại cần phải vì người mà giúp
đỡ, nâng cao đời sống đại đồng
được bớt khổ.
Thí dụ: Như người học
sinh Việt Nam, sau khi nhận thấy ở xứ sở
mình không đủ điều kiện để
thỏa mãn sự học theo ý muốn, hoặc
vì xã hội rối ren, hoặc vì nền
giáo dục quốc gia kém khuyết, v.v... nên
vừa nghe người giới thiệu ở một nước
khác có đủ điều kiện tốt cho người
học sinh ấy học tập thành tài, là
người học sinh ấy nghe theo và quyết
định xuất dương du học. Rồi nào
quần áo, sách vở, nào tiền bạc,
cơm gạo v.v... người học sinh ấy lo sắm
đủ để lên đường. Như thế
là người học sinh ấy đã dự
bị đủ “Tư lương” đi ra nước
ngoài học tập.
Nhưng đó chẳng qua là
câu chuyện thế gian mà thôi. Còn
“Tư lương” về mặt đạo
giải thoát của pháp môn niệm Phật
cầu vãng sinh là những tinh thần cần
thiết có một sức mạnh chuyển
đổi được cả một đời
hiện tại của Phật tử chúng ta và
có thể đưa chúng ta ra khỏi các
thống khổ ở thế gian ô trược
để sau này sẽ sinh sang một giữ an vui
và giải thoát.
Những “Tư lương”
của pháp môn “niệm Phật cầu
vãng sinh”, theo Kinh A Di Ðà, Ðức Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật dạy có ba
món là: 1.- Tín, 2.- Nguyện, 3.- Hạnh.
- TÍN là gì?
- Tín nghĩa là tin. Nó
là đầu mối, là bước trước
nhất để vào đạo tín là
chỗ phát sinh các công đức. Bởi
vậy trong Khế kinh có phân biệt sáu
thứ Tín: 1.- Tín tự, 2.- Tín tha, 3.-
Tín nhân, 4.- Tín quả, 5.- Tín sự, 6.-
Tín lý.
“Tín tự là tin tưởng
mình có khả năng sửa đổi tâm
tánh mình như: Sửa đổi ý nghĩ,
lời nói, việc làm từ dở ra hay, từ
quấy ra phải, từ dữ ra lành, từ xấu
ra tốt, từ mê ra giác v.v... và cố
gắng phát triển.
“Tín tha” là tin lời
Phật nói: “Chúng sinh đều sẵn
có bản tánh sáng suốt, có thể tu
hành tiến hóa đến địa vị
Phật như Ngài”. Và tin ở sự hộ
niệm thầm kín của Phật, của Bồ
tát nếu lòng thành mình cảm
đến.
“Tín nhân” là nhận
thức tu nhân hiện tại như thế nào
thì đời sau sẽ kết quả như thế
ấy. Thí dụ như chuyên tu niệm Phật,
thì thế nào cũng được vãng
sinh.
“Tín quả” là nhận
thức rằng cái quả không phải tự
có, chính phải suốt nguồn nhân.
Thí dụ như anh A và anh B
là hai anh em ruột, mà anh A thì giàu,
còn anh B lại nghèo, mặc dầu hai
người đều chí thú làm ăn.
Vì chỗ tạo nhân đời trước
của hai người sai khác: Anh A đã từng
tu hạnh bố thí nên ngày nay
được giàu; anh B đã không gây
nhân bố thí mà lại bỏn sẻn
nữa nên hiện giờ nghèo.
“Tín sự” là như tin
lời Phật nói: “Cách Ta bà
mười vạn ức cõi Phật, có thế
giới Cực lạc Tây phương”.
“Tín lý” là nhận
xét, tuy nhiên thế giới Cực lạc Tây
phương ấy vẫn không ngoài nhất
tâm thanh tịnh của mình.
Nói đến TÍN, không
phải Ðức Phật bắt buộc chúng ta
phải tin ngay lời của Ngài đâu; mà
Phật bảo chúng ta nghe cho kỹ, rồi suy nghĩ
cho cùng, nếu nhận định lời Ngài
nói là đúng, thì mới tin, bằng
không thì thôi. Vậy thì, tính
cách tin này không có nghĩa quên
mình mà chạy theo lời nói của kẻ
khác. Trái lại, nó còn đề cao tinh
thần tự chủ, đánh tan óc mê tín,
dị đoan, thần quyền mà phát khởi
nhiều đức tính tốt khác sẵn
có của chúng ta. Như thế gọi là
“Tự tín”.
Tuy biết rằng Tự tín là
vấn đề then chốt, nhưng nếu không do
Ðức Phật chỉ dạy, thì chúng ta
cũng khó biết được. Do đó,
đã là Phật tử, chúng ta không
vì lý do gì mà không tin Phật?
Ví dầu có điều Ðức Phật
đã nói mà chúng ta chưa đạt
được, chưa chứng được, hay chưa
thấy được với con mắt thịt của
chúng ta, chưa nhận được với sự
suy nghĩ nông cạn của chúng ta, thì
những điều đó vẫn bất di bất dịch.
Chẳng hạn, như trong Kinh A Di Ðà, Ðức
Phật Thích Ca bảo rằng kinh này là
pháp khó tin, thảo nào chúng sinh lại
chẳng lắm kẻ chưa tin!
Bây giờ chúng ta hãy tạm
so sánh những việc gần nhất để
hiểu và tin theo lời của Phật đã
nói Tây phương Cực lạc. Thí dụ
như chúng ta thấy trong một thành phố
chúng ta ở, nhà cửa thật nhiều,
nhưng đại khái có nhà tốt
đẹp, sạch sẽ, rộng rãi, mà cũng
có nhà xấu xa, nhơ nhớp, chật hẹp.
Trong những nhà ấy, có gia đình sung
sướng, vui vẻ, mà cũng có gia
đình khổ sở, buồn rầu. Còn xa,
khỏi xứ Việt Nam, cũng có xứ dân
cư lạc hậu và những xứ dân cư
văn minh.
Ðây xin nhắc lại vài
chuyện để làm bằng:
1.- Trước khi Kha Luân Bố
chưa tìm châu Mỹ, nào ai đã tin
có thế giới mới?
2.- Sau khi Phan Thanh Giản đi sứ
bệnh nước Pháp về nói những
cái văn minh bên nước ấy, như
đèn điện không dùng dầu mà
thắp lại cháy sáng tỏ như ban ngày,
thêm giữa gió mưa đèn ấy cũng
không tắt; còn cái xe đạp có hai
bánh trước sau ngay một chiều mà
người cỡi xe đạp chạy bon bon không
ngã. Các quan tại triều đình Huế
không ông nào tin.
Và bây giờ, nếu chúng ta
thử nói với các em ở cồn đảo
suốt đời không ra khỏi quê hương,
rằng có những xứ người ta xài
tiền bằng vàng và người xứ ấy
ở tại nhà mà bắt được tin
tức các nước khác, chắc rằng
các em ấy sẽ bảo nhau chúng ta nói
gạt.
Nước Cực lạc
của Ðức Phật A Di Ðà, kể về y
báo, chánh báo đối với người
chưa tin cũng bị ở trong tình trạng bi quan
này.
Hoặc
có người nói: “Tôi có tin
Tịnh độ Di Ðà mà chỉ là Tịnh độ duy
tâm, Di Ðà duy tánh mà thôi”.
Nói như thế
là nói lý, tưởng rằng người
đã tỏ vẻ thông minh, cao kiến; nhưng
kỳ thật, người ấy vướng phải
bệnh “kiến thủ” mà không hay,
vì chưa nhận được lý tâm
tánh là thế nào. Xét ra nếu Lý
rời Sự thành lý suông, mà Sự
rời Lý là sự mê
tín. Trong đạo Phật bao giờ Sự, Lý
cũng đi đôi,
thể với tánh lúc nào cũng hòa
hợp. Biết rằng tự tâm ta thanh tịnh là Tịnh độ,
tự tánh ta sáng suốt là Di
Ðà, nhưng ngoài tâm tánh cũng
vẫn có một cõi Tây phương Cực
lạc; một Ðức Phật A Di Ðà đúng với sự thật
là Sự, Lý viên dung, ấy cũng như tinh thần với vật
chất rất liên quan mật thiết vậy.
Tóm lại đoạn này,
người Phật tử tu tập pháp môn
niệm Phật, trước hết phải giữ
một lòng tin cho kiên cố, nhưng không
phải cố chấp, tin cho chí quyết, nhưng
không phải lý thuyết, tin những điều
chân chính, hợp lý mà không tin
một cách mê muội những việc dị
đoan. Nghĩa là lòng tin ấy phải có
đủ mấy nghĩa này: Tự, Tha, Nhân,
Quả, Sự, Lý một cách sáng suốt.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy ;
“Tin là nguồn của đạo, là mẹ
đẻ của các công đức. Tin có
thể thêm lớn căn lành, có thể
thành tựu đạo quả Chánh
giác”.
Vậy chúng ta phải bảo vệ
lòng tin cho vững, nếu chúng ta thật tâm
muốn giải thoát. Vì đó là
một thứ “tư lương” cần nhất
trước hết, mà trong Kinh A Di Ðà
Ðức Bổn Sư Thích Ca đã cặn
kẽ dạy.
- NGUYỆN là gì?
- Nguyện là thề quyết làm
việc gì cho đến kết quả mới
thôi. Như chúng ta sau khi nghe nói cõi
Tây phương Cực lạc là nơi vui
sướng, giải thoát, có Ðức Phật A
Di Ðà sẵn sàng tiếp dẫn chúng sinh,
dĩ nhiên chúng ta phát lòng thệ
nguyện mãnh mẽ tu tịnh nghiệp cầu sinh
Tịnh độ.
Nói như thế chắc không
khỏi có người vội phê bình rằng
thuyết Tịnh độ là bi quan, chán
đời và từ cái bi quan, chán
đời ấy sẽ làm cho con người yếu
hèn chăng?
- Xét kỹ lại, đối với
thế gian này cũng đáng bi quan lắm
chớ! Vì như sự thật đã thấy
phần nhiều con người ít sống theo tư
cách của con người. Nào là con
cháu ngỗ nghịch với cha mẹ, ông bà,
nào là vợ chồng oán hận giết
dốc lẫn nhau không biết gớm, nào là
anh em một nhà mà lại nồi da xáo
thịt v.v... Nói tóm, phần nhiều vì
“chấp ngã” mà sống xa đạo
đức, sống thuần theo phàm tình
để vừa theo dục vọng. Do đó,
trên thế giới này không mấy khi an
ổn và thật vui được. Ai cũng vì
một lẽ phải riêng của mình mà
quên cái lẽ phải chung đi. Bởi thế,
càng sửa đổi lòng người càng
táo bạo, quỷ quyệt, độc ác,
càng sửa đổi thế giới càng
điên đảo, hỗn loạn. Lắm lúc
người lấy khổ làm vui, lấy dơ
làm sạch, lấy quấy làm phải, v.v...
Như thế bảo sao chúng ta không bi quan,
không chán đời.
Nhưng thế này, bi quan theo
đạo Phật là bi quan để nhận thật
bề trái của cuộc đời, của bản
thân để thức tỉnh, để kích
thích lòng thương đối với nhân
loại. Sự chán đời của đạo
Phật không phải là lối chán
đời hủy mình, bỏ liều, ích kỷ,
mà trái lại chán đời để
không bị nhiễm theo đời hầu gây
tạo một trí huệ sáng suốt đủ
phương pháp cứu đời cho hợp lý.
Một bằng chứng chắc chắn
là người Phật tử, nhất là
người tu tịnh nghiệp, ngày nào cũng
thệ nguyện rằng:
“Nguyện
tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện
đắc trí huệ chân minh liễu
Phổ
nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế
thế thường hành Bồ tát
đạo”
Chướng là tất cả
những cái gì có thể làm hại cho
mình và di họa đến người khác,
mà miếng mồi nuôi lớn nó, chính
là những cảnh vật ở thế gian. Nếu
không chán nó, nhàm nó, nguyện
lìa bỏ nó, thì chắc rằng không bao
giờ có được cái trí huệ
siêu xuất thế gian. Mà thiếu trí huệ
ấy lòng từ bi cũng sai lạc đi, thì
làm thế nào thực hành theo công
hạnh Bồ tát là giáo hóa thế gian,
cải tạo thế gian một cách chân
chính thiết thiệt.
Ở tại cõi này, đồng
thời tự tu và độ người là
quý lắm rồi, nhưng cũng tương
đối một phần nào thôi, không
thể bỏ bổn phận được. Nhưng
nếu không khéo, thì cả mình và
lẫn người đều sai lạc và
đắm chìm trong bể khổ. Do đó,
Ðức Thích Ca Từ phụ đã cặn kẽ
khuyên chúng ta phải phát nguyện sinh về
cõi Cực lạc của Ðức A Di Ðà
dễ tu và dễ chứng quả Phật hơn.
Và nếu mỗi người nghe như vậy,
thì có lo gì thế giới này sẽ
không ai cứu độ!
Bởi thế, chúng ta cần phải
nguyện sinh Cực lạc Tịnh độ một
cách thiết tha mạnh mẽ. Vì ở
đấy, theo lời Ðức Bổn Sư Thích Ca
đã bảo trong Kinh A Di Ðà thì tất
cả đều vui vẻ, không bị hoàn
cảnh thân, tâm làm thối chuyển
đời sống của bậc Thánh nhân tu
hành cho tới khi nào chứng quả Phật
hoàn toàn.
Nguyện là sức mạnh để
chứng thật lòng tin trước kia là
chắc chắn. Nguyện có công năng kích
phát sự thực hành và còn làm
bánh lái cho con thuyền của chúng ta
không lạc nẻo quanh co. Ðức Phổ Hiền
là một vị Ðại Bồ tát mà
còn phát nguyện vãng sinh, lời lẽ
còn ghi trong Kinh Hoa Nghiêm, đức Mã Minh sau
khi tạo xong Luận Khởi Tín còn nguyện
về Tây phương Cực lạc.
- HẠNH là gì?
- Hạnh là công hạnh nghĩa
là sự thực hành, sự áp dụng
đúng theo lời nguyện.
Nếu pháp môn “Danh hiệu
độ chúng sinh” chỉ có Tín,
Nguyện, thì không trách gì người ta
sẽ bảo là một lối ỷ lại Tha
lực, thần quyền, chẳng khác nào
thằng giáo, đồng thời nó tự
mâu thuẫn với giáo lý của Phật.
Và có Tín, Nguyện suông, chẳng
khác nào thuyền kia có mũi, có
lái mà chẳng có chèo, xe nọ có
đủ bộ phận mà không ai điều
khiển. Bởi cớ đó dầu muốn dầu
không, người Phật tử cầu vãng sinh
về Cực lạc thế giới cần phải
thực hành y theo lòng tin và chí nguyện
của mình; cũng như muốn đi thuyền
từ chỗ này đến chỗ kia, chúng ta
phải ra tay chèo chống.
TAM DUYÊN
Tam duyên là ba duyên. Duyên
là điều kiện phụ thêm để
giúp sự kết quả được dễ
dàng. Tịnh độ môn lập ra thuyết minh
niệm Phật có ba duyên công lực là:
1.- Thân duyên.- Chúng sinh bắt
đầu tu hành, thì:
a) Miệng thường xưng niệm
danh hiệu Phật, Phật liền nghe vì tiếng
niệm Phật của chúng sinh thấu cảm
đến lòng từ bi của Phật.
b) Thân thường lễ kính
Phật, Phật liền thấy.
c) Tâm thường niệm Phật,
Phật liền biết đó.
Như thế nghĩa là ba nghiệp
của chúng sinh và ba nghiệp của Phật
không tách rời vậy.
2.- Cận duyên.- Chúng sinh
nguyện thấy Phật, Phật liền ứng niệm
mà hiện đến trước mắt.
3.- Tăng thượng duyên.-
Chúng sinh xưng niệm danh hiệu Phật thì
trong mỗi niệm trừ được tội lỗi
từ nhiều kiếp; khi chết, Phật và
Thánh chúng đều đến rước,
không bị các tà nghiệp ràng buộc
(Ðịnh thiện).
TAM NHÂN DUYÊN
Không luận là người
chuyên tu, chuyên niệm, nếu ai có thể
đủ ba điều kiện sau đây, vẫn
được vãng sinh Cực lạc thế giới,
nhưng vào bậc thấp “Hạ bối”.
1.- Giả sử không thể tạo
các công đức, thì phải phát
tâm Bồ đề vô thượng.
2.- Một mặt chuyên ý cho
đến chừng mười niệm mà niệm danh
hiệu Ðức Phật A Di Ðà.
3.- Ðem tâm chí thành
nguyện sinh về nước An lạc.
THẤT NHÂN DUYÊN
Người tu tịnh nghiệp, muốn
toại nguyện vãng sinh về bậc “Trung
bối”, trong Kinh Vô Lượng Thọ có
dạy phải đủ bảy nhân duyên:
1.- Phát tâm Bồ đề vô
thượng.
2.- Một mực chuyên niệm danh
hiệu Ðức Phật A Di Ðà.
3.- Có làm lành, giữ trai
giới nhiều.
4.- Xây tháp, dựng tượng.
5.- Cúng dường bậc Sa môn.
6.- Treo phan, đốt đèn, rải
hoa, xông hương.
7.- Ðem các công đức
trên hồi hướng về Cực lạc thế
giới, thì về sau có thể trụ vào
bậc “Bất thối”.
Ðiều quan hệ là phải
giữ được “Nhất tâm bất
loạn”.
NGŨ NHÂN DUYÊN
Người tu Tịnh độ muốn
toại nguyện vãng sinh về bậc
“Thượng bối”, trong Kinh Vô Lượng
Thọ có dạy phải đủ năm nhân
duyên:
1.- Bỏ nhà, lìa dục, làm
vị Sa môn.
2.- Phát tâm Bồ đề vô
thượng.
3.- Một mực chuyên niệm danh
hiệu Ðức Phật A Di Ðà.
4.- Tu các công đức.
5.- Nguyện quyết sinh về
nước An Lạc.
Ðiều quan hệ là phải giữ
được “Nhất tâm”.
Ngoài ra còn một hạng,
ngoài ba cấp vừa kể ở đoạn
trên, người tu Tịnh độ mà còn
nghi hoặc, nhưng biết tội phước chỉ
được sinh về “Biên địa”
ở cõi Tịnh độ.
Tuy nhiên, sự vui ở cõi
“Biên địa” này bằng ở
Trời Ðao Lợi.
QUYẾT NGHI
- Nói rằng chỉ có pháp
môn “Danh hiệu độ chúng sinh”
là dễ tu, dễ chứng, thì tất cả
vô lượng pháp môn khác đều
khó tu và khó chứng là tại làm
sao?
- Vì vô lượng pháp
môn khác chỉ dùng Tự lực mà tu
chớ không nương Tha lực. Và tu Tự
lực từ địa vị phàm phu vượt
lên quả Phật thật rất khó khăn,
rất lâu dài. Phải là bậc đại
căn, thượng trí có đại kiên
cố lực mới được; còn bậc
tiểu căn, hạ trí không bền chí,
thì chẳng tài nào tu được, nên
gọi là rất khó. Lại nữa, vì
phải trải qua ba A tăng kỳ kiếp làm
hạnh Bồ tát mới được chứng
quả Phật, nên gọi là rất lâu
dài.
Thì đây trong “Tịnh
độ Thập nghi luận” nói:
Những người tu
Phật ở thế giới này mà cứ
dùng lấy sức mình thôi, thì thật
chưa thấy ai được sinh về Tây phương
Cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà,
nên trong Kinh An Lạc nói: “Bắt đầu
từ địa vị phàm phu đủ thứ
phiền não ràng buộc, chưa biết Tam
Bảo là gì và cũng chưa biết
thiện ác nhân quả là chi, ban sơ
phát Bồ đề tâm, lấy đức tin
làm cội gốc mà trụ ở nhà
Phật và lấy giới hạnh làm nền
tảng, tu bỏ thân đời này làm
thân đời khác, tiếp tục luôn
luôn, giới hạnh không khi nào khuy khuyết,
trải qua một kiếp, hai kiếp, ba kiếp mới
lên bậc “Sơ phát tâm trụ”.
Lại y cứ như vậy tu
hành lần lên Thập tín nối nhau mãi
không hở dứt chút nào mà mãn
một muôn kiếp mới lên đến bậc
“Chánh tâm trụ” thứ sáu. Nếu
do đó mà tăng lên, thì đến
bậc “Bất thối trụ” thứ bảy.
Thế thì lấy
sức mình mà tu phải trải qua nhiều
thời gian lâu dài, nhưng cũng chưa
được sinh về Tây phương Cực
lạc thế giới của Ðức Phật A Di
Ðà. Còn tu theo pháp môn “Danh hiệu
độ chúng sinh” dung hòa Tự lực
với Tha lực, phối hợp
sức mình với sức Phật, sức Bồ
tát mà tu từ địa vị phàm phu
vượt lên quả Thánh thật rất dễ,
rất mau. Vì là vừa phát các hạnh
lành vừa nhất tâm chuyên niệm danh
hiệu Ðức Phật A Di Ðà là đủ,
nên gọi rằng mau. Và vì từ một
ngày nhẫn đến bảy ngày, hay là
từ một hơi niệm Phật đến
mười hơi niệm
Phật mà được “nhất tâm bất
loạn” trong lúc sắp lâm chung liền
được siêu thoát cõi phàm trần
nhập vào nước Phật, nên gọi là
rất mau.
Sách Tịnh độ
Thập nghi luận cũng nói: “Những
người tu Phật nếu tin chắc sức mình
với sức Phật A Di Ðà có cái
nguyện lực đại bi nhiếp thọ những
chúng sinh niệm Phật, rồi tức thì
phát Bồ đề tâm tu pháp “Trì
danh niệm Phật” nhàm chán cái thân
trong ba cõi, khởi làm những hạnh bố
thí, trì giới và trong khi làm được
một hạnh tốt nào cũng đều hồi
hướng về Tây phương Tịnh độ
của Ðức Phật A Di Ðà, thì đến
lúc lâm chung chắc chắn nhờ cái
nguyện lực của Phật cơ cảm tương
ưng lẫn nhau mà được vãng sinh trong
một đời khỏi phải trải qua nhiều
kiếp.
Hồi hướng có
ba cách:
1.- Hồi tự
hướng tha.
2.- Hồi tiểu
hướng đại.
3.- Hồi sự
hướng lý.
Hồi tự hướng
tha là đem công đức của mình
mà xoay về cho người khác, nghĩa là
không ích kỷ để thọ hưởng
một mình.
Hồi tiểu
hướng đại là chuyển hóa những
tâm tánh nhỏ nhặt riêng biệt thành
những chí nguyện cao cả, đại
đồng, phổ biến.
Hồi sự hướng
lý là kết quy tất cả những
động tác bên ngoài về bản tâm
của mình, nghĩa là thể nhận rằng
tất cả sự vật đều từ tâm
mà có và đều gom về bản thể
của tâm. Thế thì làm Phật
được là do tâm, mà làm chúng
sinh cũng là do tâm. Tâm, Phật, chúng sinh
ba thứ không sai biệt. Giờ đây chúng
ta niệm Phật cũng do tâm, Phật hay chúng
sinh chỉ như là bề trái, bề mặt của bàn tay thôi. Hễ
niệm chúng sinh thì phải làm
chúng sinh và chúng sinh chắc chắn phải
ở cõi phàm chịu khổ sở. Còn
trái lại, nếu niệm Phật thì sẽ
làm Phật và Phật thì ở cõi
Thánh được an vui giải thoát. Thánh
với phàm và Ta bà với Cực lạc
không ngăn ngại người, chỉ có
lòng người ngại thánh phàm thôi,
nên chi có câu rằng:
Lênh đênh trong cõi Diêm
phù
Khéo tu thì nổi
(siêu), vụng tu thì chìm (đọa)
Tóm
lại, về phần dễ chứng của pháp
môn “Danh hiệu độ chúng sinh”
nhờ có hai sức mạnh: Tự lực và Tha
lực, ba món Tư lương: Tín, Nguyện
và Hành, ba duyên: Thân duyên, Cận
duyên và Tăng thượng duyên với ba
nhân duyên hoặc bảy nhân duyên hay năm
nhân duyên.
Tự lực là sức của
mình, còn Tha lực là sức của Phật
và Bồ tát. Mỗi sức đều có
công năng hiệu quả đặc biệt.
Nhưng nếu Phật tử thiên chấp một
sức, thì sự tu hành phải khuy khuyết,
khó thành tựu được quả
“Vô thượng Bồ đề”. Bởi
thế chúng ta chẳng những cậy nơi sức
của mình tín ngưỡng mà tỏ
thấu chân lý của sự vật và thực
hành cái mục đích của mình
mà thôi; lại còn phải mong nhờ đến sức của
Phật và Bồ tát mới chứng
được quả
“vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác”, như chúng sinh phải
nương nhờ nguyện lực của Ðức Phật A Di Ðà mà
được vãng sinh Tịnh độ dễ
dàng.
Tín
là để phát khởi lòng nghĩ sự
hồi đầu của con người đối
với pháp môn niệm Phật sau khi đã
suy xét kỹ lưỡng.
Nguyện
là tỏ vẻ ham muốn, ngưỡng mộ
và chính nó là một sức mạnh
để thúc đẩy lòng tin ấy
được lớn thêm và vững vàng.
Hành
là bắt đầu vào thực tế để
chứng tỏ lòng tin và nguyện trước
kia không phải là lý thuyết suông
ngõ hầu đạt được kết quả
theo như ý muốn đã tin, đã
nguyện.
Nhưng
có điều rất quan hệ là làm sao cho
sự thực hành kia luôn luôn được
kềm giữ cho quay về một nơi khỏi bị
tản mác để tăng cường sức
mạnh trước kia cho thỉ chung như nhất.
Ðồng thời lại còn phải khởi lên
tấm lòng rộng rãi hơn, lợi ích
hơn để cho bao nhiêu công đức của
chúng ta vừa mới tạo nên được
đem ứng dụng trên tinh thần tự lợi
lợi tha xứng đáng. Làm được
như thế, tức là chúng ta hồi
hướng.
Ðức
Phật Thích Ca là vị Giáo chủ cõi
ngũ trược ác thế chỉ cách
đưa chúng sinh ra khỏi cõi Ta bà đau
khổ. Còn Ðức Phật A Di Ðà là
vị Giáo chủ cõi Tây phương thế
giới đón chờ tiếp dẫn chúng sinh
về cõi Cực lạc an vui. Tất cả lòng
từ bi của hai Ngài đã bộc lộ
rõ ràng cho chúng sinh thấy trong công
hạnh độ sinh tợ như một ông cha
hùng dũng hy sinh vào nhà lửa để
kêu gọi, dẫn dắt bầy con ngây dại ham
chơi và một bà mẹ hiền từ thắt
lòng héo ruột đang đứng chờ ở
ngoài cửa để
tiếp độ đám con ấy. Nhưng than
ôi! Chúng sinh ham chơi quá, mê
nghịch ngợm quá! Nhiều khi chúng trở
lại xua tay phỉ báng lời cha, không thèm
đoái hoài đến mẹ. Nhà gần
cháy hết, thân
chúng cũng sắp tàn, sức chúng hầu
kiệt. Thế mà chúng còn kháng cự,
khinh lờn, lý thuyết và cậy mình
để chờ hảo hoạn thiêu thân.
Thế
mà lòng từ bi của Ðức Phật vẫn
không giảm. Với cái sức nhiếp thọ
mạnh mẽ của Ngài, nếu chúng sinh
thật lòng tín, nguyện và hành,
thì không bao giờ bị bỏ rơi.
May
mắn thay! Trong đám chúng sinh ham chơi
quá, mê nghịch ngợm quá, lại còn
có đám Phật tử chúng ta: Kẻ
xuất gia và người tại gia biết vâng
lời ông cha giáo hóa (Ðức Thích Ca) và bà mẹ tiếp dẫn
(Ðức A Di Ðà). Hằng ngày chúng ta vừa ráng sức
mình ngăn ngừa các việc ác,
lại rộng làm các điều lành,
ấy là chúng ta dùng tự lực mà tu.
Ðồng thời chúng ta lại chuyên niệm
danh hiệu Phật không ngớt. Ấy là
chúng ta biết dung hòa Tự lực và Tha
lực, biết phối hợp sức mình với
sức Phật lại để mà tu. Sự học
đạo và hành đạo của chúng ta
rõ ràng là phải đường lối.
Vậy cứ y theo chiều hướng ấy mà phấn
khởi tu hành càng ngày càng thêm tinh
tấn để gây tạo
một cái đà có suc lớn, có
trớn mạnh đưa chúng ta thẳng
thắn một nước về Tây phương
Cực lạc thế giới lúc lâm chung
để nghe Ðức A Di Ðà thuyết pháp
“Vô sanh” chứng ngôi “Bất
thối” hầu có làm Phật kiếp vị
lai.
Về
thân bệnh, sách y dược nói:
“Thuốc trị trúng bệnh, bệnh lành
là thuốc hay”.
Về
tâm bệnh, Khế kinh nói: “Pháp môn
tu hợp thời cơ là pháp môn tuyệt
diệu”.
Thật
sự, thuốc trị thân bệnh, không có
thứ nào dở, mà dở là tại y sĩ
đặt không trúng ngay bệnh của
người đau. Cũng thế, pháp môn tu
của Phật dạy pháp nào tu cũng
được chứng ngộ, mà không chứng
ngộ là tại thầy truyền giáo dạy
không hợp thời cơ của người tu
học đó thôi.
-
“Thời cơ” là gì?
-
Chữ “Thời” nói đủ là
thời gian. Ấy là ngày giờ không
cùng tận nó cứ lưu chuyển mãi
không ngừng với ba trạng thái:1.- Thời
quá khứ là ngày giờ đã qua.
2.-
Thời hiện tại là ngày giờ
đương nay.
3.-
Thời vị lai là ngày giờ sẽ
đến.
Chữ
“Cơ”, nói đủ là căn cơ.
Ấy là cái gốc khi nói về thảo
mộc, cái trình độ, tài năng
và đức hạnh khi nói về con
người.
Hai
chữ “Thời cơ” nghĩa là cơ
hội vừa đúng ở buổi ấy.
-
Như thế nào gọi là chỉ đạo
hợp thời cơ và không hợp thời
cơ?
-
Muốn cho mau hiểu, thì sau đây là
một thí dụ có ghi chép trong kinh nói
cách chỉ đạo hợp thời cơ và
bất hợp thời cơ.
Kinh
nói: “Một lần kia, ngài Xá Lợi
Phất lãnh trách nhiệm dạy hai thầy
Tỳ kheo trẻ tuổi hai
pháp môn Chỉ quán khác nhau. Thầy
thứ nhất tu “Bất tịnh quán”,
thầy thứ nhì tu “Sổ tức quán”
Hai
thầy Tỳ kheo đã nhiều năm siêng
năng tu tập, nhưng không thâu thập
được kết quả gì hay. Chán nản
quá, hai thầy Tỳ kheo bèn đem sự
tình thành thật bạch lên Ðức
Phật.
Ðức
Thế Tôn xét căn cơ của hai thầy
biết rõ: Một thầy, khi trước, còn
ở ngoài đời, có làm nghề thợ
rèn, nay đi tu, bắt tập môn “Bất
tịnh quán” như thế là không
hợp thời. Một thầy nữa, lúc chưa
xuất gia, đã làm nghề khiêng thây
người chết, bây giờ vào đạo,
bắt tập môn “Sổ tức quán”,
như thế là không hợp cơ.
Ðức
Phật liền dạy hai thầy Tỳ kheo ấy
phải đổi pháp hành: Thầy đã
làm thợ rèn phải tu “Sổ tức
quan” là pháp quán đếm hơi thở
mới hợp thời, do vì trước kia, thầy
đã từng thụt ống bễ cho không
khí ra vào quạt lửa; còn thầy
đã làm nghề chôn tử thi phải tu
“Bất tịnh quán” là tu pháp
quán thân thể không sạch sẽ mới
hợp cơ, bởi vì trước kia, thầy
đã từng ghê gớm mùi hôi tanh
của mấy thây chết.
Quả
nhiên, sau một thời gian đổi pháp môn
tu tập, theo lời chỉ dạy của Ðức
Phật, cả hai thầy Tỳ
kheo trẻ tuổi đều thành công, chứng
quả “Thanh
Văn”.
Như thế, vấn đề
“thời cơ” đối với người Phật tử trong khi chọn một
pháp môn tu của Phật đã dạy,
thật là rất quan trọng lắm vậy.
Xứng
lý mà nói, ÐẠO lúc nào cũng
hợp thời, vì ÐẠO là bản thể
của vạn vật, nguồn sống chung của
muôn loài, thì thời gian nào Ðạo
lại chẳng hợp thời? Giả dự chúng ta
rời bản thể ra trong khoảnh khắc, lìa
ÐẠO trong giây lát coi chúng ta có
khỏi bị khuynh phúc liền không?
-
Chắc chắn là không khỏi khuynh phúc.
Vì cớ nào? Vì nếu chúng ta không
y theo ÐẠO mà xử thế, thì đời
sống của chúng ta phải bị điêu
đứng ngay. Lý do là mỗi khi xa lìa
ÐẠO rồi, thì ý nghĩ, miệng nói,
thân làm, nhất nhất đều sai lầm,
tức là bị tội lỗi. Thân tâm
chúng ta khi ấy không còn an vui, tự tại
được nữa. Bởi thế, thành nhân
có lời dạy rằng: “ÐẠO không
thể rời ra một chốc lát nào
được”.
Tuy
nhiên, về sự hóa ÐẠO, truyền
giáo phải biết thời cơ. Vì cớ mà
Phật, Bồ tát và các Tổ có
lúc phải tạm nín im một thời gian
trên con đường hoằng pháp lợi sinh
của Ngài. Dự như:
1.-
Ðức Thích Ca đóng thất ở
nước Ma Kiệt.
2.-
Ngài Duy Ma Cật đóng thất ở thành
Tỳ Da.
3.-
Ðức Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma
trọn chín năm ngồi xoay mặt vào
vách chùa Thiếu Lâm.
4.-
Ngài Lục Tổ Huệ Năng ngót mười
lăm năm ẩn dật sau khi đắc pháp
chân truyền, là tại cơ duyên chưa
đến, chớ không phải ÐẠO chẳng
hợp thời.
-
Cơ duyên là như thế nào?
-
Cơ duyên nói cho đủ là “cơ
hội” và “nhân duyên”.
“Cơ
hội” là buổi thích đáng
để làm việc.
“Nhân
duyên” là nhân cái này mà sinh ra
cái kia, ví như có hột giống mới
sinh ra được quả gọi là nhân; vật
kia theo vật nọ là thành, ví như
cái bình theo đất sét mà thành
gọi là duyên.
“Cơ
duyên” là “cơ hội” và
“nhân duyên” hòa hợp.
Hai
chữ “cơ duyên” là điểm
trọng yếu mà Ðức Giáo chủ
thường nhắm để giảng đạo
trọn một đời hoằng dương chánh
pháp của Ngài. Như:
1.-
Vì thấy căn cơ chúng sinh bất
đồng, có kẻ trí người ngu, kẻ
đại căn người tiểu trí, vì
thấy cấp bậc chúng sinh sai biệt, có
kẻ thượng lưu, trung lưu và hạ lưu
nên giáo lý của Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni cũng tùy theo mà chia ra làm năm
thặng, ba thặng, hai thặng, một thặng chẳng
hạn và phân ra làm bốn giáo, tám
giáo không chừng.
2.-
Vì rõ cơ duyên mà chương trình
thuyết pháp của
Ngài ngót nửa thế kỷ phải phân
làm năm thời
nói kinh và thời kỳ hóa đạo
của Ngài cũng tùy theo đó mà
chia ra làm ba thời kỳ giáo hóa.
Năm
thặng là: 1.- Nhân thặng, 2.- Thiên thặng,
3.- Thanh văn thặng, 4.- Duyên Giác thặng, 5.-
Bồ tát thặng.
Ba
thặng là: 1.- Tiểu thặng, 2.- Trung thặng, 3.-
Ðại thặng.
Hai thặng là: 1.- Tiểu thặng,
2.- Ðại thặng.
Một
thặng là Phật thặng cũng gọi là
Tối thượng thặng.
Bốn
giáo là: 1.- Tạng giáo, 2.- Thông giáo,
3.- Biệt giáo, 4.- Viên giáo.
Tám giáo là bốn giáo
pháp hóa nghi: 1.-
Ðốn, 2.- Tiệm, 3.- Bí mật, 4.- Bất
định, cộng với bốn giáo hóa
pháp: 1.- Tạng, 2.- Thông, 3.- Biệt, 4.- Viên,
thành tám giáo.
Năm
thời nói kinh là:
1.-
Thời Hoa Nghiêm, 2.- Thời A Hàm, 3.- Thời
Phương Ðẳng, 4.- Thời Bát Nhã, 5.-
Thời Pháp Hoa và Niết Bàn.
Ba
thời kỳ giáo lý là:
1/
Thời kỳ giáo lý thứ nhất, Phật
dùng duyên sanh xác định là thật
có, nên nói TÂM, CẢNH đều có
để phá cái chấp về tự tánh
thần ngã của ngoại đạo.
2/
Thời kỳ giáo lý thứ hai, Phật nói
CẢNH không TÂM có để lần hồi
Phật phá trừ chỗ chấp của Nhị
thặng về lý duyên sanh thật có, mà
nói lý ấy chỉ giả dối in tuồng
như có mà thôi; vì Nhị thặng
sợ về chỗ chân không nên phải
để giả hữu lại (như tuồng có)
mà dìu dắt họ.
3/
Thời kỳ giáo lý thứ ba Phật nói
TÂM với CẢNH đều không mới
đến chỗ rốt ráo của Ðại thặng, nên nói duyên sanh
ấy là tánh không, một mực
bình đẳng, viên dung cả hai Ðế
không ngại.
3.-
Vì biết trước phước đức của
chúng sinh, một khi cách Phật lâu
đời, càng ngày càng mỏng, nên
mỗi Ðức Phật đều chia thời gian
giáo hóa của các Ngài ra làm ba
thời kỳ giáo hóa với bốn phương
pháp độ sinh.
Ba
thời kỳ giáo hóa là:
1/
Thời kỳ Chánh pháp.- Lúc Phật còn
tại thế, người nào gặp Phật
hóa độ thì được chứng quả
thánh ngay, không sót một ai hết.
2/
Thời kỳ Tượng pháp.- Sau khi Phật
nhập Niết bàn rồi, chỉ riêng những
người căn tánh thuần thục, huệ
sâu, chướng nhẹ mới được
chứng ngộ mà thôi.
3/ Thời kỳ Mạt pháp.- Sau khi
cách Phật lâu xa, phần đông chúng sinh
bị nghiệp nặng, chướng dày,
nên số người tu hành được
chứng ngộ rất ít.
Bốn
phương pháp độ sinh là:
1/ “Pháp thí độ
chúng sinh”, tức là từ kim khẩu Phật
nói ra mười hai loại kinh hóa độ
chúng sinh.
2/
“Thân nghiệp độ chúng sinh”,
tức là chư Phật dùng ba mươi hai
tướng tốt với tám mươi vẻ
đẹp và hào quang của các Ngài
mà hóa độ chúng sinh.
3/ “Thần thông lực độ
chúng sinh”, tức là
chư Phật có vô lượng đức
dụng thần thông đạo lực và các
phép biến hóa dùng để hóa
độ chúng sinh.
4/
“Danh hiệu độ chúng sinh”, tức
là chư Phật có vô lượng danh
hiệu, hoặc chung, hoặc riêng, nếu có chúng
sinh nào biết chuyên tâm xưng niệm
hồng danh của Ngài, thì một ngày kia
sẽ được gặp Phật hóa độ
cho.
Mỗi
pháp môn tu đều hợp với mỗi căn
cơ.
Thật
sự, chúng sinh có nhiều tâm bệnh
nên pháp dược của Phật phải
tùy theo số bệnh mà có nhiều môn
tu; cũng như thân thể con người ta
thường đau nhiều chứng nên y dược
phải chế ra nhiều thứ thuốc. Mà
đã tùy bệnh chỉ bày phương
thuốc, thì dầu pháp dược hay y
dược, mỗi thứ đều trị mỗi
chứng mà thôi.
Thí dụ: Trong y dược có
“đại hoàng”, “bã
đậu” tánh
nhuận trường, thì dùng chữa bệnh
táo kiết; còn
“càng khương”, “phụ tử”
tánh ôn nhiệt, thì dùng trị bệnh
hàn lương. Không thể lấy “càng
khương”, “phụ tử” mà chữa
bệnh táo kiết được; làm như
thế chẳng khác nào muốn tắt lửa
mà lại chế thêm dầu. Cũng thế, trong
pháp dược có pháp tu “đốn
ngộ” để dạy bậc thượng căn,
đại trí thành công tức khắc;
và pháp môn “tiệm tu” để
dắt dẫn hạng người hạ căn, tiểu
trí đi từ từ trên con đường tu
hành lần hồi cũng đến
mức thành công. Không thể dùng
pháp môn tu “đốn
ngộ” mà dạy người hạ căn,
vì có sẵn tánh độn tệ,
người làm sao đủ sức lãnh hội
nổi!
Như
thế thì biết rằng giữa lương y
với bệnh nhân cũng như giữa nhà
giảng đạo với người tìm tu hai
bên đều có liên đới quan hệ
lắm. Vậy thì, khi
thân thể đau, bệnh nhân muốn trị
lành mạnh, phải tìm lương y,
bác sĩ ký thác bổn mạng. Và
người bệnh phải khai hết, không giấu
giếm từ chi tiết tình hình bệnh
biến chuyển trong thời gian đã qua với
hiện nay, để cho lương y, bác sĩ
nhận chắc đau chứng gì mà đặt
trúng phương thuốc trị. Cũng thế, khi
bị phiền não phức tạp ưu sầu
quá, người tâm bệnh muốn cầu
pháp dược giải khổ, phải tìm minh
sư, thiện hữu. Còn làm ông thầy
chỉ đạo phải để ý từ li,
từ tí về trình độ học lực,
căn tánh, nghề nghiệp với sự phát
tâm của người muốn học đạo ra
thể nào, trước khi thâu nhận làm
đệ tử. Nhờ có dò xét kỹ
lưỡng mới biết người ấy thuộc
về hạng nào để chọn một pháp
môn hợp với căn cơ dạy cho người
tu được kết quả tốt đẹp.
Tuy
nhiên, trong y dược và pháp dược
cũng có một vài trường hợp
đặc biệt là: “Y dược” có
thuốc bá chứng và “Pháp
dược” có pháp môn tu hợp tất
cả thời và nhiếp tất cả căn cơ.
Trong
y dược, các thầy thuốc nghĩ đến
tình cảnh những
người nghèo ở xa thẳm, hẻo lánh,
mỗi khi đau ốm, đi
rước một ông thầy về uống thuốc thật là hết
sức khó, nên mới chế ra một
thứ thuốc đặc biệt trị đủ
thứ bệnh, gọi là “thuốc bá
chứng”. Thuốc này đỡ khổ cho kẻ
bệnh nghèo và nhất là ở “xa tít mù khơi”. Cái
sáng kiến chế ra thứ thuốc bá
chứng của các ông dược sư thật
đáng khen!
Trong pháp dược, Ðức
Phật nghĩ thương
xót chúng sinh trong thời kỳ Mạt pháp,
nghèo phước đức, nghèo trí
huệ, nghèo nhân duyên, nghèo thời cơ
lẫn phương tiện, làm sao mà tu hành
thành đạo được, nên mới
nói ra một pháp môn tu đặc biệt
hợp tất cả thời và nhiếp tất
cả căn cơ để cứu độ những
chúng sinh nào có kết duyên lành
với Ngài. Pháp môn này thuộc về
phương pháp độ sinh thứ tư của
Phật là “Danh hiệu độ chúng
sinh”, tên nó là “Trì danh niệm
Phật”. Ấy là một pháp môn
không ai hỏi mà Phật tự nói.
Môn
pháp dược này cũng như “thuốc
bá chứng” ở trong y dược vậy.
Nó có một công dụng thù thắng là cứu thoát chúng
sinh ở đời Mạt pháp tu ra khỏi ải sinh tử luân
hồi, bằng cách đưa chúng sinh về Tây phương Cực
lạc thế giới của Ðức Phật A Di
Ðà ở đó tu thêm cho dễ, đến
khi chứng được ngôi “Bất thối
Bồ tát” và bổ xứ làm Phật.
Ðến
chỗ này, chúng ta mới thấy rõ tâm
từ bi của Ðức Phật đối với
chúng sinh ở đời Mạt pháp rộng
lớn vô cùng, chẳng biết dùng lời
chi tán thán cho vừa, cho xứng!
-
Thế nào gọi là pháp môn
“Trì danh niệm Phật” hợp tất
cả thời và nhiếp tất cả căn cơ?
-
Ðứng về phương diện thời gian mà
nói, trong một ngày đêm chia ra làm
sáu thời, mà thời nào niệm Phật
cũng được, sớm mai, trưa, xế, chiều,
tối, khuya không hạn cuộc thời nào
cả.
Ðứng
về phương diện xứ sở mà nói,
chỗ nào niệm Phật cũng được,
ở chỗ thanh vắng cũng như chỗ ồn
ào, ở chỗ tinh khiết cũng như chỗ
nhơ uế không hạn cuộc vị trí.
Ðứng
về phương diện tuổi tác mà
nói, kẻ trẻ tuổi cũng như người
tuổi già đều niệm Phật được
cả.
Ðứng
về phương diện oai nghi mà nói, lúc
tới lui, qua lại, đi đứng, nằm ngồi,
trong bốn oai nghi ấy con người đều
niệm Phật được cả.
Ðứng
về phương diện âm thanh sắc tướng
mà nói, khi có khóa lễ bái sám
công cộng hay lúc trong người thấy
hôn trầm, tán loạn, thì cần niệm
Phật lớn tiếng dài hơi có nhịp
nhàng với chuông mõ; còn khi tâm
mình bình tĩnh, ý mình vắng lặng
cứ âm thầm niệm Phật, không tiếng
người cũng không tiếng chuông mõ.
Cũng được phép niệm Phật không
đèn nhang, không y áo khi bị hoàn
cảnh bắt buộc như lúc bị ngồi
tù, nhốt khám, hay khi ra bãi chiến
trường.
Ðứng
về phương diện căn cơ mà nói, người
trong ba bậc chín cấp: Thượng, trung, hạ
lưu, đại căn, tiểu căn, thượng
trí, hạ trí, lợi căn, độn căn,
đủ căn, thiếu căn đều niệm
Phật được cả.
QUYẾT
NGHI
-
Nói rằng: Pháp môn Trì danh niệm
Phật hợp tất cả thời cơ, vậy trong ba
thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp
và Mạt pháp có ai tu theo pháp môn
ấy mà được siêu thoát luân
hồi không?
- Trong
thời kỳ Chánh pháp, Kinh Bảo Tích
nói: “Phụ vương của Phật chắp
tay bạch với Phật rằng: Tu hành cách
nào sẽ được đạo của chư
Phật? Ðức Phật đáp: “Hết
thảy chúng sinh đều tức là Phật.
Vậy phụ vương phải chuyên cần tinh
tấn niệm danh hiệu Ðức Phật A Di
Ðà ở Tây phương Cực lạc thế
giới, thì sẽ thành Phật đạo”.
Phụ
hoàng vâng lời thành tâm niệm Phật
liền được vãng sinh. Sau trong tộc
thuộc của vua Tịnh Phạn cả thảy mấy
vạn người cũng nhờ tu theo pháp môn
niệm Phật mà được siêu thăng.
Ở
thời kỳ Tượng pháp, khi Phật giáo
ở Ấn Ðộ truyền sang Trung Hoa, đời
Ðông Tấn có Ðại sư Huệ Viễn
quy tập cả tăng lẫn tục cộng chung một
trăm hai mươi ba người phát nguyện
chuyên tu tịnh nghiệp đều được
vãng sinh tất cả với các điềm
lạ: Ngài Huệ Viễn niệm Phật chín
năm thấy Phật đến rờ đầu ba
lần thọ ký. Các vị khác có
vị biết trước ngày giờ vãng sinh,
có vị thấy Phật phóng hào quang
đến tiếp dẫn, có vị nghe tiếng
nhạc trời với mùi hương lạ trước
khi lâm chung.
Trong
thời kỳ Mạt pháp này, ở nước
Việt
Tôi
còn nhớ cách ba mươi năm nay, các
báo chí ở Sài Gòn có đăng
tin ông Cả Thời, một tín đồ họ
Thích chuyên tu niệm Phật, ở làng
Hạnh Thông Tây, tỉnh Gia Ðịnh biết
ngày giờ chết của ông trước một
tháng. Và đến ngày ông chết,
trước mười lăm phút, ông đi
từ giã hết thảy người nhà
để đi đến chỗ ông định
cất xương. Ấy là một cái lu lớn
có sơn phết và đặt sâu xuống
đất từ lâu, con cái của ông đều
biết. Ý của ông muốn: Khi gần bỏ
xác, ông ngồi kiết già niệm Phật
chờ vãng sinh và cũng được
để y như vậy mà lấp đất,
nên đâu đó ông đã sắp
đặt sẵn sàng.
Lúc
ông Cả Thời từ giã bà con để
đi chầu Phật, con cái trong nhà không
mấy tin, vì thấy ông không có đau
ốm chi hết. Nhưng chúng cũng để
ý theo rình coi thử. Ông cả đánh
diêm quẹt lên rọi đường đi
trước, sắp con nhẹ bước theo sau cách
xa xa. Ðến sinh phần, ông dở nắp lu
vào trong ngồi niệm Phật lớn tiếng
dài hơi một chập. Bỗng đâu trên
không trung có lằn ánh sáng giáng ngay
chỗ ông ngồi. Vắng tiếng niệm Phật
của ông Cả, các con theo rình đốt
đèn lên xem, thì thấy ông đã hóa
ra người thiên cổ.
Những
người tu pháp môn niệm Phật
được vãng sinh từ xưa đến nay
thật rất nhiều, ai muốn rõ thêm sự
tích có chứng nghiệm chắc chắn,
thì xem Tập Vãng Sinh của Ðại sư
Liên Trì và sách Tịnh độ
Thánh hiền của Bành cư sĩ.
Tóm
lại, về phần hợp thời cơ của
pháp môn “Danh hiệu độ chúng
sinh”, tức là pháp môn niệm Phật
là một pháp dược tuyệt diệu
gồm thâu tất cả các môn tu, chuyên
trị tất cả tâm bệnh của chúng sinh
cũng như thuốc bá chứng là một
thứ y dược trị đủ các thứ
thân bệnh của con người. Pháp môn
niệm Phật được công nhận siêu
việt hơn tất cả các pháp, lý do
nó có công năng độ được ba
bậc, chín cấp chúng sinh bất cứ
thời kỳ nào, mà nhất là ở
thời kỳ Mạt pháp, càng cách Phật
lâu đời, chúng sinh bị nghiệp nặng,
chướng dày, nếu không tu theo pháp
môn niệm Phật, thì khó thành
đạo lắm.
Ðức
Bổn sư Thích Ca Từ phụ đã biết
trước về đời Mạt pháp, chúng
sinh khó tu khó chứng với pháp môn
đốn ngộ như pháp Tham thiền minh tâm
kiến tánh thành Phật tức thời, nên
Ngài tự giảng Kinh A Di Ðà, nói ra
một pháp môn khó tin là “Trì danh
niệm Phật” cầu đới nghiệp vãng
sinh về Tây phương Cực lạc thế
giới ở đó tu hành dễ thành
tựu quả “Vô thượng Bồ
đề”.
-
Vậy Phật tử Việt
-
Chắc chắn chúng ta đều dư biết:
Phải vâng lời Phật, noi gương các
ông Bồ tát và nghe theo lời khuyên
bảo của chư Tổ lo chuyên tu niệm Phật.
Hơn nữa, Phật giáo truyền sang nước
Việt
BỐN MƯƠI HAI PHÁP
TRÌ DANH NIỆM PHẬT^
Những
người chuyên tu tịnh nghiệp cần biết
rõ bốn mươi hai pháp Trì danh niệm
Phật để hành trì cho hợp thời
cơ mới hy vọng được kết quả
“nhất tâm bất loạn”.
1.-
“Hộ ý căn trì danh”: Trì danh niệm Phật hộ
được ý căn.
Một
khi mình đã dụng tâm niệm Phật,
thì những điều dữ, điều lành
không cần tưởng đến, dầu việc
cần thiết đi nữa cũng dẹp lại một
bên, đừng để nó chướng ngại
tâm niệm Phật của mình.
Phải
nghĩ như vầy: Tâm niệm bị ngoại
duyên ràng buộc là cơ quan dụng sự
toàn nơi ý địa; nếu mình chăm
chú niệm Phật đến chỗ tâm
địa quang minh, thì ý địa sẽ
hóa thành “Diệu quan sát trí”,
tức là pháp “Trì danh niệm Phật
hộ ý căn” có năng lực chuyển
phàm thành thánh.
2.- “Giới khẩu nghiệp trì
danh”: Trì danh
niệm Phật giữ được nghiệp miệng.
Khi
mình niệm Phật thì bao nhiêu những
lời hung ác, miệng mình không nói
đến; nếu rủi ro lỡ lời bất nhã,
thì mình phải hối hận liền, tự
trách mình là người biết niệm
Phật sao còn thô tục, rồi cất tiếng
niệm Phật lớn để đánh thức
tâm mình bài trừ miếng dữ.
3.- “Ðoan thân trì danh”: Trì danh niệm Phật thân
phải đoan chính.
Mình
đã đích thân niệm Phật thì
những lúc đi, đứng, nằm, ngồi,
tới, lui, qua, lại phải cho đoan chính. Hễ
thân đoan chính thì tâm mới
được thanh tịnh.
4.- “Quá châu trì danh”: Trì danh niệm Phật bằng
cách lần chuỗi.
Miệng
vừa niệm Phật một câu “
5.- “Cao thanh trì danh”: Trì danh niệm Phật cất
tiếng cho cao.
Lúc
nào vọng tưởng loạn khởi, thần
chí hôn trầm, thì phải cất tiếng
lớn lên niệm Phật, tức thì cảnh
giới đổi mới. Bởi vì tâm của
mình nhận được tiếng mình niệm
Phật tỏ rõ, thì bao nhiêu những
tiếng vu vơ tự nhiên tiêu tan.
6.- “Ðê thanh trì danh”: Trì danh
niệm Phật nhỏ tiếng.
Khi
nào thân thể mỏi mệt mình hạ
hơi, xuống giọng niệm Phật nhỏ tiếng,
đến lúc sức khỏe phục hồi mình
sẽ niệm lớn tiếng.
7.- Kim cang trì trì danh”: Trì danh niệm Phật bằng
cách “Kim cang trì”.
Lúc
nào thân tâm mình không thích hợp
với hoàn cảnh, nhân vật ở chung quanh
nó làm chướng ngại sự niệm
Phật của mình, thì mình chỉ nhích
môi lưỡi niệm Phật không ra tiếng
và cứ niệm như vậy mãi, bền
chí không quên.
8.- “Mặc nhiên trì danh”: Trì danh niệm Phật một
cách im lặng.
Nếu
mình không chịu niệm Phật lớn tiếng,
nhỏ tiếng, niệm Phật lần chuỗi cho
đến niệm Phật nhích môi lưỡi
mình cũng gọi là trước tướng,
thì có cách niệm không nhích môi
lưỡi và không phát ra tiếng, chỉ
buộc tâm vào một chỗ, niệm trong
tâm, rồi đem cái nghe trở vào mà
nghe tâm niệm. Niệm như vậy cho lâu
thì sẽ được “Niệm Phật tam
muội”.
9.- “Ðiều tức trì
danh”: Trì danh
niệm Phật với sự điều hòa hơi
thở.
Lúc
niệm Phật mình ngồi im lặng, quán
cái chót mũi, điều hòa hơi thở
ra vào, cứ một hơi thở là một
câu niệm “Nam mô A Di Ðà Phật”
không quá gấp cũng không quá
hưỡn, để cho tâm với hơi thở
nương nhau mà ra vào. Trong lúc đi,
đứng, nằm, ngồi đều niệm mãi.
Sau khi nhiếp tâm được lâu rồi,
thì hơi thở với sự niệm hai cái
đều quên, tức là thân tâm mình
với hư không chẳng khác. Trì niệm
như vậy đến khi công phu thuần thục,
tức nhiên tâm nhãn khai thông, thì
một ngày kia tam muội hiện tiền, ấy
là “Duy tâm Tịnh độ”.
10.- “Tùy phận trì danh”: Trì danh niệm Phật với
cách tùy phận.
Khi
niệm Phật mà mình thấy hôn trầm,
thì mình đi kinh hành mà niệm, khi
loạn động thì mình ngồi ngay thẳng
mà niệm, hoặc giả đi, ngồi đều
không hạp, thì mình quỳ, đứng hay
nằm nghiêng bên phía tay phải niệm
cũng được. Nhưng câu niệm Phật
sáu chữ “
11.- “Ðáo xứ trì
danh”: Trì danh
niệm Phật khi đi đến chỗ nào.
Niệm
Phật không nệ là chỗ nào, chỗ
sạch sẽ, chỗ nhơ bẩn, chỗ vắng
vẻ, chỗ rộn ràng, chỗ vui, chỗ buồn
mình cũng cứ hồi quang phản chiếu mà
tự nghĩ rằng “bao nhiêu cảnh giới
ấy từ vô thỉ đến nay, mình
đã trải qua đến tram, ngàn, muôn
ức lần rồi, nó vẫn không lạ, duy có
một điều “Niệm Phật vãng
sinh” là điều mình chưa làm
được nên bị luân hồi mãi.
Vậy ngày nay mình chẳng quản niệm
được hay niệm không được,
mình chí quyết làm sao cho cái tâm
niệm Phật của mình đến chết cũng
không quên. Bởi vì quên cái tâm
niệm Phật, thì bao nhiêu tạp niệm
thiện ác kia sẽ kéo nhau đến làm
cho mình thọ khổ lụy với nó, nên
chỉ trong lúc đại, tiểu tiện lợi hay
lúc sinh đẻ mình cũng vẫn niệm
không kể sạch dơ; hễ càng khổ
càng niệm, càng đau càng niệm,
càng buồn càng niệm, như đứa
trẻ kêu mẹ không sợ mẹ giận.
Nếu sợ mẹ giận mà chẳng dám
kêu, thì đứa con ắt lạc mẹ, chớ
làm sao gặp mẹ được.
12.- “Hữu định vô
định trì danh”:
Trì danh niệm Phật có định giờ
và không định giờ.
Mỗi
ngày hai buổi, sớm tối niệm Phật có
chừng đến chết cũng không thêm
bớt; ấy là niệm Phật có định
giờ. Còn mấy buổi khác, nếu thong
thả thì niệm nhiều, bận việc thì
niệm ít; ấy là niệm Phật không
định giờ.
13.- “Ðối tượng, ly
tượng trì danh”:
Trì danh niệm Phật đối trước
tượng và không đối trước
tượng.
Trong
lúc đứng trước tượng Phật
mình cứ một lòng tin tưởng
tượng Phật là vị chân Phật, chớ
không nghĩ là Phật đồng, Phật
gỗ, Phật đất, Phật giấy mà sinh
lòng phân biệt. Còn như trong lúc
không có tượng Phật, thì mình
phải ngồi cho đoan chính, xoay mặt về
hướng Tây, khởi niệm tưởng cái ánh
quang minh của Ðức Phật A Di Ðà trụ
trên đầu mình, chữ nào câu nấy
đều chẳng lạc không, thì ác
nghiệp tự nhiên tiêu.
14.- “Man trung trì danh”: Trì danh niệm Phật lúc
bận rộn.
Trong
lúc rộn việc, mình liệu bề niệm
Phật được một câu thì niệm
một câu, niệm được mười câu
thì niệm mười câu.
Ông
Bạch Lạc Thiên dạy: “Ði cũng niệm
A Di Ðà, ngồi cũng niệm A Di Ðà,
dầu rộn như tên bắn, đạn ria cũng không
rời niệm A Di Ðà”.
15.- “Nhàn trung trì danh”: Trì danh niệm Phật lúc thong
thả.
Rảnh
việc được giờ nào, phút nào,
thì nên niệm Phật thêm giờ phút
nấy. Bởi vì ở đời có nhiều
người cực khổ, làm ăn không hở
tay, muốn cầu một chút thong thả cũng
chẳng được thay, có đâu rảnh
mà tu hành. Ngày nay mình được
thong thả lại được nghe thêm pháp
niệm Phật là may mắn lắm! Vậy mình
nên phấn khởi tinh thần chuyên tâm
niệm Phật.
16.- “Tôn quý trì danh”: Trì danh niệm Phật phaùi
tôn quý.
Phước
đời nay là do công hạnh tu hành
đời trước nên chi những bậc tôn
quý vinh hiển phần nhiều là những
vị cao tăng đại đức đời
trước chuyển thế lại. Song phải biết
cái vinh hoa ấy tuy có mà chẳng bền,
nếu mình cứ mê đắm theo sự sung
sướng về nhục dục mà tạo ác
nghiệp, thì ắt phải trầm luân. Chi
bằng mình phát tâm làm việc Phật
pháp, tạo chỗ thờ Phật để hằng
ngày tụng niệm, in kinh ấn tống, đúc
tượng Phật cho người chiêm ngưỡng,
gặp ai cũng khuyên bảo niệm Phật; vì
mình theo bậc tôn quý nói ra nhiều
người kính nể nghe theo, và mình
phải cương quyết vãng sinh cho
được để làm khuôn mẫu cho
người khác bắt chước.
17.- “Ti tiện trì danh”: Trì danh niệm Phật phái ti
tiện.
Những
người ti tiện đem thân làm nô lệ
cho người là cực khổ, nếu không
sớm tìm phương pháp giải thoát,
thì về sau lại càng khổ hơn nữa.
Thế thì phải ráng niệm Phật cho
nhiều để ươm giống Bồ đề
kết duyên lành với Phật.
18.- “Tịnh tế trì danh”: Trì danh niệm Phật im lặng
kỹ lưỡng.
Những
người trí xảo phần đông hay
điên đảo, vậy phải để lòng
im lặng niệm Phật kỹ lưỡng. Nếu
người trí huệ niệm Phật thì
thiên hạ bắt chước niệm theo nhiều cho
đến kẻ tu ngoại đạo cũng quay
đầu trở lại, vì cái thanh danh của
trí huệ đủ khai phát lòng
người.
19.- “Lão thiệt trì danh”: Trì danh niệm Phật chắc
thiệt.
Những
người không cầu danh lợi, chẳng khoe
tài năng, một lòng chân thiệt niệm
Phật tu hành rất là ít có, nên
chi sự chắc thiệt là một con
đường đi thẳng đến Tây
phương Cực lạc; vì đã chắc
thiệt thì ngoài sáu chữ Nam mô A Di
Ðà Phật ra, không còn một mảy chi
vọng tưởng nữa.
20.- “Hỷ khánh trì danh”: Trì danh niệm Phật lúc vui
mừng.
Những
người đương ở trong cảnh vui mừng
mà biết xét rằng cái vui mừng ấy
không bền, nên nhân lúc vui mừng lại
phát tâm niệm Phật để nhờ ánh
sáng của Phật gia bị cho mình nhân
cảnh thuận trừ bỏ ác niệm
được nhiều, thì những phước
duyên thường đưa đến cho mình
vừa ý tu thêm mãi, đến khi chết
được vãng sinh về cõi Tịnh độ,
thật vui sướng vô cùng!
21.- “Hứa nguyện trì danh”: Trì danh niệm Phật với
cách hứa nguyện.
Gốc
của sự vãng sinh là “Trì danh niệm
Phật”. Nhưng cái oai quang của Phật
không thể nghĩ bàn cho nên niệm danh
hiệu của Phật để cầu điều
lành thì được như ý muốn. Vậy
thì, thay vì cầu thần vái quỷ,
thì nên hứa nguyện niệm Phật là
tốt hơn. Kinh nói niệm Phật có
mười điều lợi ích:
1.-
Ngày đêm thường được các
vị Ðại lực thần tướng các
cõi trời ẩn hình ủng hộ.
2.-
Thường được đức Quán Thế
Âm Bồ tát và các vị Bồ tát
khác ủng hộ.
3.-
Ðức Phật A Di Ðà thường phóng
ánh quang minh mà nhiếp thọ người
niệm Phật.
4.-
Các loài ác quỷ, rắn và thuốc
độc không thể hại được.
5.- Những nạn nước, lửa,
đao binh và
những hoạnh tử, uổng tử với lao ngục
đều khỏi bị cả.
6.-
Những tội đã phạm ngày trước
thảy đều tiêu và cũng khỏi oan
báo.
7.-
Ngủ chiêm bao thì thấy điềm tốt
và có khi thấy được thân Phật.
8.-
Tâm mình thường vui và làm việc
gì cũng được kết quả tốt.
9.-
Thường được mọi người kính
trọng.
10.-
Ðến lúc gần chết, tâm bình tĩnh
niệm Phật, tự mình thấy Phật và
Bồ tát phóng quang tiếp dẫn mình.
22.- “Giải thích trì
danh”: Trì danh
niệm Phật giải ác niệm.
Bao
nhiêu điều nghịch cảnh hiện tiền
của mình đều do túc duyên đưa
đến, mình không nên nhân nghịch
cảnh ấy mà khởi ác niệm thêm nữa.
Mình phải an lòng, chí tâm niệm
Phật mãi, thì lâu ngày chầy tháng
cảnh duyên ấy cũng xoay đổi trở
lại; vì Phật có vô lượng trí
huệ, phước đức gia bị cho mình.
23.- “Quý phận trì danh”: Trì danh niệm Phật biết
hổ thẹn.
Ở
trong cảnh ngộ đau khổ mà cứ buồn
rầu tên xiết mãi là người
không rõ Phật tánh, nên chi đã
buồn thì phải nghĩ thế nào cho mình
và người đều được khỏi
khổ. Biết rằng Phật hay thương xót
chúng sinh, mình dụng “Bi tâm” niệm
Phật để cầu đến lượng từ bi
của Ngài tế độ, thì sự niệm
Phật ấy đáng khẩn thiết lắm.
Mình phải sinh lòng hổ thẹn về sự
tu hành của mình chậm trễ, rồi mỗi
khi tưởng đến Phật mình hết sức
buồn tủi, như vậy sáu chữ “Nam mô
A Di Ðà Phật” của mình niệm chữ
nào cũng tha thiết dễ cảm đến
Phật và Bồ tát.
25.- “Cúng dường trì
danh”: Trì danh
niệm Phật với pháp cúng dường.
Trong
những ngày lễ vía Phật, nếu mình
chỉ dùng đèn, nhang, bông, trái,
tùy phận cúng dường thì chỉ
có “Tài cúng” mà thôi. Vậy
mình phải dùng thêm “Pháp
cúng” của tâm mình thì công
đức được thù thắng hơn.
26.- “Báo đáp trì
danh”: Trì danh
niệm Phật báo ân.
Người
đời dùng tâm thành kính đối
với trời đất, dùng tâm trung hiếu
đối với quê hương, cha mẹ, theo
pháp thế gian cũng là phải, vì hợp
phong tục; nhưng xét lại chưa phải là
sự báo ân đúng chánh pháp.
Vậy chúng ta phải dùng cái tâm
niệm Phật để đền bốn ân
trọng kia mới xứng đáng. Mỗi khi niệm
Phật, chúng ta nguyện đem công đức
niệm Phật vì cả bốn ân mà hồi
hướng về Tây phương Tịnh độ.
Làm như vậy tức là chúng ta
đã gieo hột giống Kim Cang cho những
người ăn của chúng ta rồi, thì
đời sau các người ấy chắc có
lúc được gội nhuần giáo pháp
của Phật mà siêu thăng.
27.- “Bố thí trì danh”: Trì danh niệm Phật với
cách bố thí.
Khi
thấy ai ở trong hoàn cảnh khốn khổ
như đau ốm, đói khát, rách
rưới, thì trước hết mình giúp đỡ thuốc men cho
người uống, cơm cháo cho người
ăn, áo quần cho người mặc, rồi sau
mình dùng lời lành, lẽ chánh
khuyên người niệm Phật. Ðó là
mình dùng tài thí của cái khổ
nhất thời và dùng pháp thí cứu
cái khổ lịch kiếp. Hai phương pháp
bố thí mình làm được hoàn
toàn.
Còn
như thấy người và vật ngộ nạn
mà sức mình không phương cứu
nổi, thì mình thành tâm niệm Phật
để an phần thần thức cho người bị
nạn. Hoặc gặp phải năm đại bệnh,
đại thích, suốt đêm mình trì
niệm danh hiệu của Phật, thì có thể
tiêu được oan lệ. Bởi vì một
câu neo với sáu chữ hồng danh “Nam
mô A Di Ðà Phật” của mình chí
thành thấu đến tất cả mười
phương pháp giới, chúng sinh đều
được phần lợi ích, thì cai công
đức bố thí ấy không thể nghĩ
bàn.
28.- “Tâm niệm
tâm thính trì danh”: Trì danh niệm Phật bằng
cách tâm niệm tâm nghe.
Tâm
mình nhớ đến danh hiệu Phật rồi
mới khua động lưỡi; lưỡi khua
động rồi đem về tâm; lưỡi
động thành tiếng, tai lại tự nghe.
Nếu trì danh niệm Phật được tâm
niệm tâm nghe, thì con mắt không ngó
bậy, lỗ mũi không ngửi bậy, thân
cũng không hành động bậy, tức
là Phật tánh của mình nhờ sáu
chữ “
29.- “Thanh trung trì danh”: Trì danh niệm Phật trong tiếng
niệm.
Nếu tiếng niệm Phật
đã thuần thục, thì trong sáu trần chỉ còn
một trần là thanh trần mà thôi.
Khi ấy sự tác động của sáu căn
đều ký thác cho
lỗ tai, thân không phân biệt, mũi
chẳng rõ mùi, con mắt không biết
mở nhắm, hai món viên thông của đức Quán Thế Âm
và Ðại Thế Chí cũng tức là một, không chi
chẳng viên, không chi chẳng thông; căn tức là
trần, trần tức là căn, căn trần
tức là thức;
mười tám giới đều dung hòa làm
một giới.
Muốn
áp dụng pháp niệm Phật này, phải
có một khoảnh đất trống sạch
sẽ, đi quanh theo phía tay phải một vòng
rồi chậm rãi cất tiếng niệm Phật
lớn, lần lần niệm như vậy trong ba
vòng, tiếng niệm của tâm mình thấu
lộ ra ngoài bao trùm cả mười
phương. Ðó là an trụ thân tâm
thế giới ở trong tiếng niệm Phật mà
cũng là đem thân tâm của mình an
trụ ở trong tiếng niệm Phật mà niệm
Phật. Cái thắng cảnh này có thể
diệt trừ được các thứ nhơ
bẩn của tâm.
30.- “Quang trung trì danh”: Trì danh niệm Phật trong ánh
sáng.
Tiếng
nói là tiếng của tâm, ánh sáng
cũng là ánh sáng của tâm. Hễ
tiếng của tâm quanh lộn ở đâu
thì ánh sáng của tâm phóng ra ở
đó. Nếu mình an trụ ở trong tiếng
của tâm mà niệm Phật, tức là
mình an trụ ở trong ánh sáng mà
niệm Phật.
31.- “Cảnh trung trì danh”: Trì danh niệm Phật trong
gương.
Chân
tâm ví như cái gương tròn lớn,
sáng suốt không gì ngăn che, hết
thảy chúng sinh và Phật ba đời
mười phương đều là bóng ở
trong gương cả, nên chỉ “Trì danh
niệm Phật” ở trong tiếng tức là
ở trong ánh sáng, mà ở trong ánh sáng
tức là ở trong gương.
32.- “Bất đoạn trì
danh”: Trì danh
niệm Phật không dứt.
Mỗi
ngày hai buổi, buổi mai và buổi chiều,
lúc bận việc cũng như lúc rảnh rang,
ở chỗ sạch sẽ hay chỗ nhơ bẩn
đều một lòng chăm chú niệm
Phật. Giả sử trong khi tiếp chuyện với
khách, cái tướng niệm bề ngoài
có gián đoạn đi nữa cũng chẳng
qua gián đoạn thanh niệm, chớ không
thể gián đoạn tâm niệm. Niệm
Phật đến cảnh giới như thế thì
dễ thành tam muội lắm vậy.
33.- “Bất tạp trì danh”: Trì danh niệm Phật không xen
vọng tưởng.
Niệm
Phật trừ được vọng tưởng là
dứt hết tạp niệm tức nhiên chánh
niệm phát hiện.
34.- “Cô thân trì danh”: Trì danh niệm Phật của
người cô thân.
Những
người không còn cha mẹ, chẳng có
vợ con, thì không việc gì ràng
buộc, nhân hoàn cảnh ấy mà niệm
Phật thì dễ bề giải thoát hơn
mọi người khác.
35.- “Kiết kỳ trì danh”: Trì danh niệm Phật kỳ
hạn.
Niệm
Phật có kỳ hạn từ bảy ngày.
Pháp niệm Phật này có hai cách:
1/
Niệm Phật có kỳ hạn một mình
thì phải sắm đủ cơm khô,
nước trong, dầu, đèn, giường,
mùng. Người xuất gia thì ở riêng
trong liêu hay cất một cái thất trong
vườn chùa mà ở. Còn người
tại gia thì ở riêng một căn nhà
dọn sạch sẽ hay làm một cái thất
gần nhà tùy ý.
Trong
chỗ ở niệm Phật chỉ vừa dọn một
bàn thờ Phật và để giường
ghế nằm ngồi. Trọn bảy ngày phải
ăn ngọ, chăm chú niệm Phật, tụng kinh,
xem luận, không được nghĩ đến
việc khác, nhất là không giao tiếp
với một người nào.
2/ Niệm Phật có kỳ hạn
đông người, thì
phải rước một
vị Hộ thất sư, lập ra quy điều
nghiêm ngặt.
Ðến ngày khởi thất, những món
ăn, thức uống,
nhang, đèn, bông, trái do ông Hộ
thất sư chiếu biện đủ cả.
Bắt đầu từ đó các vị
đồng thất kia phải y theo quy đều
đã định: Giờ nào lễ sám,
niệm Phật, giờ nào ăn, giờ nào
nghỉ, giờ nào thọ trì trong bảy
ngày đúng theo quy điều đã lập.
36.- “Tụ hội trì danh”: Trì danh niệm Phật lúc
tụ hội.
Trong
khi nhiều người tụ hội lại làm ban
niệm Phật, phải sắp đặt có trật
tự. Như lúc niệm Phật thì một
người dẫn câu xướng lên
trước, mấy người kia niệm theo sau; cứ
niệm một tiếng thì gõ mõ một
tiếng, tiếng nào mõ nấy cho đều,
không lộn xộn mà loạn động tâm
đi.
37.- “Thành tựu tha nhân
trì danh”:
Trì danh niệm Phật thành tựu cho
người.
Hoặc
ở một chỗ niệm Phật cầu nguyện cho người, hoặc đồng
với người ở một chỗ niệm Phật
có kỳ hạn, hoặc
đem pháp môn niệm Phật giảng cho người biết, hoặc
phá cái nghi niệm Phật giùm cho người, hoặc khuyên
người bền chí niệm Phật, v.v...
Nhất là người sắp lâm
chung, mình đi đến hộ niệm, khiến cho
người sắp chết nhớ sáu chữ hồng danh “Nam mô A Di
Ðà Phật” vừa nhớ vừa niệm, làm cho người
giữ được chánh niệm và
vãng sinh.
Ðó
là thành tựu pháp huệ mạng cho
người vậy.
38.- “Nạn trung trì danh”: Trì danh niệm Phật khi có
nạn.
Trong
lúc có tai nạn như giặc nổi dậy
khắp xứ, bệnh truyền nhiễm lan rộng
cùng nơi có người phát tâm
niệm Phật cầu tiêu tai. Một người
niệm thì một người được an,
nhiều người niệm thì nhiều người
được an. Bởi vì trong khi phát tiếng
niệm Phật thì đã có ánh
sáng quang minh của Ðức A Di Ðà trụ
ở trên đảnh người, thì tự
nhiên có các vị thiện thần ủng
hộ cho khỏi tai nạn.
39.- “Mộng trung trì danh”: Trì danh niệm Phật lúc
chiêm bao.
Những
người niệm Phật nguyện lực kiên
cố và công phu thuần thục cái niệm
ban ngày đã khắn khít, thì ban
đêm lúc chiêm bao cũng nhớ niệm
Phật luôn. Ðó là một triệu
chứng về sự vãng sinh chắc chắn cần
phải tiếp tục niệm mãi, không nên
thối chuyển.
40.- “Bệnh trung trì danh”: Trì danh niệm Phật lúc
bệnh hoạn.
Khi
có bệnh, người ốm nên nghĩ rằng:
“Bệnh là cái máy của sự
chết, mà cái chết là cái ải
của Thánh, phàm, tịnh, uế, do đó
mà sai biệt, nên cho tịch khi đau ốm
phải để tâm nhớ Phật bội phần,
niệm danh hiệu Phật và tưởng cảnh
Tây phương Cực lạc mãi, cũng như
kẻ ở đất khách nhớ cha mẹ, nhớ
làng nước, nhớ quê hương, một
mực khoan khoái muốn về, không có
chút gì bận lòng”.
Nếu
nghĩ được như thế, thì đến
lúc mạng chung, chắc có ánh sáng
của Phật đến rước làm cái
chí nguyện vãng sinh của mình
được thỏa mãn.
41.- “Lâm chung trì danh”: Trì danh niệm Phật lúc
sắp chết.
Những
người niệm Phật lúc sắp chết
phải dự tính rằng: “Chết là
sự trọng yếu cuối cùng của đời
người, nếu không nhớ niệm Phật
thì cái đời tu hành của mình
đã luống công mà cái khổ luân
hồi cũng không thể nào tránh
khỏi”.
“Lại
cái thân tứ đại giả hợp của con
người là vô thường. Thêm cõi Ta
bà của con người ở là nhơ uế.
Cái thân đã không bền, cái
cõi lại không sạch, không đủ
làm cho mình quyến luyến. Thế mà
ngày nay mình chết, bỏ cái thân
huyễn hóa để bắt cái thân liên
hoa hóa sinh, từ cái cõi khổ ngũ
trược ác thế mà về được
cõi Cực lạc Tây phương chẳng
khác nào mình đổi áo cũ rách
mà lấy áo mới lành, thì có chi
sung sướng bằng!”.
Nếu
dự tính được như vậy, thì
lúc sắp chết, tâm chẳng còn
thương tiếc xác thịt và chẳng
còn quyến luyến cõi đời, mà
giữ được chánh niệm, thì
được trực vãng Tây phương
Cực lạc thế giới dễ dàng.
42.- “Phát nguyện sám hối
trì danh”: Trì danh niệm Phật cần
phải phát nguyện sám hối.
Những
người niệm Phật phải có đủ ba
điều cần thiết: “Tín, Hạnh,
Nguyện”.
TÍN.-
Trước hết phải tin lời Ðức Thích
Ca nói: “Từ cõi Ta bà này đi
thẳng qua hướng Tây cách xa mười
vạn cõi Phật, có một thế giới
kêu là Cực lạc. Cõi ấy do hạnh
nguyện vô lượng vô biên thanh tịnh
với Ðức Phật A Di Ðà tạo thành,
cũng như cõi Ta bà này do nơi vọng
nghiệp nhơ bẩn của chúng sinh gây tạo
ra vậy.
Kế
đó ta tin Ðức Phật A Di Ðà là
ông Giáo chủ ở cõi Cực lạc,
xưa có lời thệ nguyện tiếp dẫn
những chúng sinh niệm Phật trong mười
phương về nước Ngài để
hưởng cái vui lâu dài, cũng như
Ðức Thích Ca là ông Giáo chủ ở
cõi ngũ trược ác thế này, xưa
kia cũng thệ nguyện hiện thân thuyết
pháp để hóa độ những chúng
sinh có thiện căn ra khỏi cõi khổ sinh
tử luân hồi.
Sau
ta tự tin ta cũng có đủ trí huệ
như Phật, song vì ta mê, Phật giác
mà thành ra ta với Phật khác xa, nếu
một ngày kia ta đoạn trừ hết vọng
tưởng mê chấp rồi, thì ta với
Phật không hai. Khi ấy, Phật tức ta, ta tức
Phật.
HẠNH.-
Khi ta đã tin chắc chắn rồi, thì ta phải
thực hành theo sự tin ấy. Như ta đã
tin Ðức Phật A Di Ðà có đủ
thệ nguyện tiếp dẫn chúng sinh, thì
hằng ngày ta phải chí tâm niệm danh
hiệu Ngài mong cầu Ngài cứu độ. Ta
đã tin nơi ta có thể làm Phật,
thì thường bữa ta phải nhất tâm
niệm Phật để diệt trừ vọng
tưởng điên đảo.
NGUYỆN.-
Trong khi ta thực hành theo cái của ta đã
tin, thì ta cần phải phát nguyện lớn,
lúc hiện tiền này sau bỏ báo thân được
nhờ công đức của Phật mà
được vãng sinh về Cực lạc thế
giới, nghe pháp Vô sanh của Phật dạy,
chứng quả Bất thối và được
bổ xứ làm Phật để hóa độ
chúng sinh.
Nhờ
có nguyện lớn làm hướng đạo cho
TÍN và HẠNH sự tu hành của ta mới
đạt mục đích. Nếu có TIN và
HẠNH mà không có NGUYỆN thì cũng
như người tin chắc bên bờ kia có
cảnh vui sướng, lo sắm ghe thuyền sẵn sàng
mà lòng lại dần dà không chịu
xuống ghe thuyền đi, thì làm sao qua
đến bờ kia được, nên chi những
người đã tin tu pháp môn niệm
Phật cần phải phát nguyện mới
được.
Song
khi phát nguyện rồi, ta cần phải chí
tâm sám hối những tội lỗi của ta
đã làm; vì tội nghiệp do thân,
khẩu, ý của ta tạo ra từ vô thỉ
đến nay rất nhiều không kể hết.
Vậy mỗi ngày, đối trước Tam Bảo,
ta nên niệm Phật phát cầu xin sám
hối. Như thế, tội nghiệp của ta càng
ngày càng tiêu mà phước lại
càng ngày càng lớn nhờ đó
cái nguyện niệm Phật cầu sinh của ta
không bị trở ngại, trong chín phẩm sen
vàng ở ao bảy báu trên Tây
phương Cực lạc thế giới thế nào
ta cũng có được một.
Ngài
Cổ Am Thiền sư nói: “Người ở
bậc nào tu pháp môn Trì danh niệm
Phật cũng đều có ứng nghiệm:
Ðương lúc sống thì phước
duyên thêm nhiều, khi chết tội hết,
nghiệp tiêu và được vãng sinh
về Tây phương Cực lạc thế
giới”
Chư
Tổ cũng thường nói: “Người tu
pháp môn niệm Phật” cầu đới
nghiệp vãng sinh về cõi Tịnh độ
cũng như cỡi thuyền buồm xuôi gió
và thuận nước, chẳng nhọc sức
mình chèo chống mà tự nhiên mau
đến vậy”.
Dịch
theo quyển Tu niệm Phật tam muội phương
tiện đàm của Ðường Ðại
Viên.
TỰA
Tôn chỉ nhà
Phật là đoạn tuyệt học căn, hòa
bình thế giới, nên khiến chúng sinh
hữu lậu tu pháp vô lậu được
từ biển khổ sinh tử lên bờ Bồ
đề.
Ở trong thời kỳ
mạt pháp, vì thấy chúng sinh nghiệp
dày, chướng nặng, căn lành vùi
lấp, những người hoài bão tâm
đại từ bi, muốn đem Phật pháp
cứu độ người đời, thì lại
tùy thuận diễn giảng những pháp
phương tiện hữu lậu.
Những tưởng
chuyển được chúng sinh, nào dè
đâu phải bị chúng sinh chuyển lại.
Vì tại nơi tùy thuận chúng sinh mà
những sự ăn, uống, đi, ở, làm
lụng của người gánh vác sứ
mạng của Phật dường như đều
thủ pháp hữu lậu hết. Cho đến
cả sở học cũng muốn bỏ luôn nữa!
Thấy tình cảnh
như vậy, soạn giả (Ðường Ðại
Viên) bồi hồi, lo ngại một nỗi, mặc
dầu tuyên diễn rành rẽ tất cả
giáo pháp hay là truyền bá hết
thảy tôn lý, vị tất chúng đã
làm theo, chưa chắc gì được phổ
cập lợi tha. Nhân có suy xét như
vậy, tôi mới phát ra một lý
tưởng: Muốn được gồm cả
“tự tha lưỡng lợi”, ở chỗ thanh
vắng hay nơi ồn ào cũng đều làm
được, thì chỉ có pháp môn
niệm Phật mà thôi.
Nhưng, một nỗi lo
cho cuộc thế đa đoan dễ sinh vọng
động làm cho giải đãi, chẳng
được thành công đắc quả,
nên tôi soạn Pháp môn phương
tiện này, chia ra mười bốn chương,
trước diễn giải pháp “Quán
tưởng tam muội”, pháp “Niệm
Phật tam muội”, cho đến pháp “Diệt
chướng tam muội”.
Nếu hành giả
kiết giới đàn để niệm Phật,
thì ắt thành tựu dễ dàng. Còn
như rõ thấu lý ấy mà phát tâm
chánh tín, mặc dầu chưa kiết giới
đàn, cũng được tùy ý tam
muội.
Quyển “Niệm
Phật tam muội” này, chỗ nào văn nghĩa
còn sơ sót, xin các hàng đại
thiện tri thức bổ chính cho.
Soạn
giả: ÐƯỜNG ÐẠI VIÊN
Dịch
giả: THÍCH TRƯỜNG LẠC
CHƯƠNG I
VÀO NHÀ (Nhập thất)
Kinh Pháp Hoa nói:
“Vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai,
ngồi tòa Như Lai”.
Nhà Như Lai
đây là có nghĩa từ bi, áo Như
Lai đây là có nghĩa nhu hòa nhẫn
nhục, tòa Như Lai đây là có
nghĩa tất cả pháp đều không.
Muốn tu pháp Niệm
Phật Tam muội thì hành giả phải
kiết giới đàn.
Trước
hết là “Vào nhà”. Mà hễ
vào nhà chúng sinh, thì
chỉ có tranh danh đoạt lợi, nên chi
dầu có trốn lên núi, lánh vào non
để khỏi ồn ào, náo nhiệt đi
nữa, rồi cũng không chịu nổi với
lối ở lâu trong cảnh vắng, sau chán
nản đâm ra lười biếng. Còn lấy
cái thân tứ đại giả hợp này
làm nhà, thì lại thêm nhiều
điều phiền não. Chi bằng lấy cái tâm làm nhà, thì
mới là cái nhà “vô
tướng”.
Niệm Phật,
trước hết phải phát tâm đại
từ bi, coi tất cả chúng sinh như con dại,
không đem lòng sát hại, mà vẫn bình
đẳng cứu độ khiến cho chúng sinh
đều đặng thành Phật.
Cùng
ở một nhà đại từ bi của Như Lai
thì quả gần
bên Phật. Như thế tức là ÐỊNH
của “Tam học”.
Hễ vào nhà
thì phải dùng y phục che thân thể. Mà thế thường
đồ tốt thì sinh ham, đồ xấu
lại bắt chán. Ham và chán hay luôn
loạn cái tâm đi. Bởi
vậy phải dùng thử áo “Tâm
niệm” mới đoạn trừ tất cả chướng ngại. Như
gặp sự cường bạo chướng ngại,
thì lấy nhu hòa mà thù đáp;
nếu gặp sự khi thị
chướng ngại, thì thù đáp bằng
nết tốt nhẫn nhục.
Mặc được áo nhu hòa nhẫn nhục
của Như Lai, thì
tất cả điều chướng ngại sẽ
hóa ra món trợ đạo;
tuy phải trải qua nhiều nỗi gay go vẫn
không biến đổi. Như thế, tức là
GIỚI của “Tam học”.
Ðã
vào nhà, mặc áo, thì phải có
chỗ ngồi. Mà trong bốn oai nghi “ngồi, nằm, đi,
đứng” thường thay đổi lẫn nhau,
thì cái tâm cũng có thể gián
đoạn, mặc dầu kiết già phu tọa
trên giường thiền, nên chi có ngồi
thiền, thì phải quán tất cả
“pháp không”. Không chẳng những
là không sáu trần: Sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp; không sáu căn:
Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý mà
thôi, cho đến tất cả những danh lợi
dục lạc của pháp thế gian cũng không;
không luôn cả đại từ bi, nhu hòa,
nhẫn nhục của pháp xuất thế gian
nữa.
Quán cái chỗ
ngồi tất cả “pháp không” như vậy rồi, thì thật ra
chưa ngồi cũng đã ngồi, ví như
chưa ngồi cũng như
chưa lìa chỗ ngồi. Thế là còn
chi chưa chịu phải
pháp “thiền thâm diệu vô
thượng” nữa ru? Như thế tức là
HUỆ của “Tam học”.
Vào nhà Như Lai
thì phải nguyện từ đây luôn
luôn không bỏ hạnh đại từ bi.
Mặc áo Như Lai thì phải nguyện từ đây
luôn luôn không lìa nết nhu hòa
nhẫn nhục. Ngồi tòa Như Lai thì phải
nguyện từ đây luôn luôn mỗi niệm
đều quán tất cả “pháp
không”.
Tu “Tam
học”: Giới, Ðịnh, Huệ tinh tấn luôn luôn, thì thân của mình không
khác với Phật mười phương ba
đời.
Cái tâm niệm
Phật được như vậy, thì gọi
là “tức tâm
tức Phật”. Cái tâm quán tưởng
Phật được như vậy cũng gọi
là “tức tâm tức Phật”. Quyết
lấy đó làm cơ sở pháp niệm
Phật Tam muội, thì chắc được
pháp Niệm Phật Tam muội rốt ráo
vậy.
CHƯƠNG II
XÉT TIẾNG NIỆM
Nếu lập cơ sở
như vừa nói trên kia, thì nên quán
cái niệm ấy sinh bởi tâm hay bởi
miệng? Nói rằng sinh bởi miệng, thì
ắt tượng đất, tượng gỗ,
hình đồng kia cũng có niệm vì
có miệng. Bằng không thì niệm ấy
sinh bởi tâm, chớ nào phải bởi
miệng. Trước kia chưa cử động,
miệng, lưỡi chưa phát tiếng, thì
nên biết niệm ấy khởi sinh nơi tâm rồi
truyền sang miệng mà có thanh âm, vậy
mới là hoàn toàn một niệm.
Lại phải quán
niệm ấy, nguyên bởi tâm truyền sang
miệng, cũng như sóng với nước.
Sóng cả ngàn muôn vẫn cùng đồng
một thể với nước, thì một niệm,
mười niệm, cả ngàn muôn vẫn
cùng đồng một thể niệm, mặc dầu
là cái ngôi phận dã vọng của
sắc tâm.
Một niệm như kia
cũng không khác gì với một niệm
tích tụ cả ngàn muôn năm; thế
tức một niệm muôn năm. Lại nữa,
như sóng tuy thật là nhiều cũng
đồng một thể nước; nên chi cái
niệm muôn năm tuy thật chẳng khá nghĩ
lường, nhưng niệm trước không
khác niệm sau; thế tức là muôn năm
một niệm.
Ngộ được
một niệm muôn năm, thì biết một
tiếng niệm Phật diệt cả tội trọng
sinh tử tám mươi ức kiếp. Rõ thấu
muôn năm một niệm, thì biết từ
trước khởi sinh tất cả vọng niệm
phải đọa vào ba đường ác
với ngày nay thường thường niệm
Phật cho đến khi thành Phật vẫn không
lìa một niệm lúc tối sơ. Cũng
thí như gà ấp trứng, chuyền cái
ôn độ không cho gián đoạn, thì
hành giả hãy tỏ thấu một niệm,
trân trọng một niệm, giữ gìn một niệm.
Cái công phu niệm Phật, mỗi niệm
đều tiếp nối luôn luôn, không
để hở, không ngừng nghỉ, tức
thì cùng tột cõi vị lai.
CHƯƠNG III
TƯỚNG CHÂN THẬT
Nếu người
muốn rõ biết,
Tất cả Phật ba
đời,
Hồi quang tánh
pháp giới,
Tạo nghiệp bởi
tâm thôi.
Kinh Hoa Nghiêm.
Bất luận cảnh
giới nào, tất cả hành giả không
lìa tánh pháp giới. Hết thảy cảnh
giới phi Phật cũng đều có thể
quán là cảnh giới Phật, bởi vì Phật
ba đời đều do tâm tạo. Bấy giờ
dựa theo tánh pháp giới để mà
quán tất cả pháp, thì cảnh giới
nào cũng đều do tâm đạo.
Hành pháp môn
phương tiện, phàm những cái mắt
thấy hay không thấy đều giả tá
làm Phật A Di Ðà; những cái tai nghe hay
không nghe đều giả tá làm tiếng
niệm Phật; bao nhiêu những cái ngửi,
nếm, đụng chạm sắc pháp của mũi,
lưỡi, thân, ý cũng đều giả tá
như thế cả. Giả tá cho đến cõi
Ta bà làm thế giới Cực lạc, chúng
sinh sáu đường làm những bậc
thượng thiện nhân, ao báu, gió,
nước, chim, cây cũng tùy quán tùy
hiện. Lần lần thuần thục, thì sự
tiếp xúc của sáu căn lìa khỏi
sáu trần, tức đã bắt đầu xa
cõi Ta bà gần nơi Tịnh độ. Vậy
mới thuần đến cách thâu nhiếp
của sáu căn, tịnh niệm thường
tiếp tục như Kinh Lăng Nghiêm đã
bảo. Ban đầu quán tướng uế
đổi ra tướng tịnh gọi là hữu
tướng; kế đó cũng diệt cả
tướng tịnh, chẳng những diệt
tướng uế, tức tâm thể yên lặng
gọi là vô tướng, mà cũng diệt
luôn cả vô tướng, vắng lặng hiện
tiền mới gọi Thật tướng.
Như vậy, niệm ấy mới tương ưng
cùng Phật.
CHƯƠNG IV
TÙY HỶ
Mười điều
phát nguyện của Bồ tát Phổ Hiền,
công đức tùy hỷ thuộc về hàng
thứ năm.
Phàm thấy
người làm các công đức, mà
phát tâm hoan hỷ, thì công đức
ấy ta sẽ có phần trong đó nên
gọi là công đức tùy hỷ.
Ta niệm Phật hoặc
khuyên người niệm Phật, hoặc thấy
người niệm Phật, mà phát tâm vui
mừng khen ngợi đều có phần công
đức cả. Bằng như có tiếng
người niệm, mà chưa ắt là tiếng
niệm Phật, hoặc đấy sinh tiếng mắng
nhiếc ta, hoặc chẳng phải tiếng người
như chim, thú, nước, gió... làm cho ta vui
hay buồn. Ðối với người chưa niệm
Phật, ắt sinh các món chướng ngại.
Ta nay niệm Phật nên xem tất cả tiếng
của người và chẳng phải người
ấy đều là tiếng niệm Phật,
chẳng dấy sinh hào ly phân biệt, đây
là lành, dữ, đó là người
cùng chẳng phải người. Các tiếng
ấy đều dùng làm tiếng giúp ta
niệm Phật, thay ta niệm Phật, ta nên vui
mừng tùy hỷ.
Quán như thế
ấy, mới lần lần vào chỗ đại
nguyện của ngài Phổ Hiền Bồ tát.
CHƯƠNG V
NIỆM PHÁP
Cách thức niệm
Pháp không có nhất định. Tùy theo
những người có duyên với pháp
nào thì cứ lựa trong các kinh, luận
mà làm theo. Cho nên không thể nhất
định là phải đứng theo pháp Ban
châu Tam muội, hay là phải ngồi theo pháp
Nhất hạnh Tam muội, như thế rất khó,
mặc dầu là bậc đại tinh tấn đi
nữa, chi bằng đứng, ngồi đều làm
hết cả hai là tiện hơn.
Pháp trì danh trong
Kinh A Di Ðà, pháp quán trong Kinh Quán
Vô Lượng Thọ đều chuyên một
môn, ước như làm cả hai pháp càng
tốt, mà nhất là pháp trì danh
thì lại phổ cập hơn.
Những
pháp trì danh của tôi đã soạn
như: Truy đảnh niệm Phật:
Niệm Phật đến chỗ rốt ráo; Phản văn niệm
Phật: Niệm Phật hồi quang phản chiếu và mấy chục
pháp niệm Phật của bổn sư Ấn Quang diễn giảng đều
rất thiết cận và dễ làm theo.
Còn kiết giới
đàn trường kỳ, thì những hạng
sơ cơ dễ sinh lười biếng lắm; chi
bằng thủ tiêu, kiết một kỳ thất,
lần lần thêm hai thất, ba thất, cho
đến cả tháng, cả năm.
Cái tâm đã
hết lười biếng, thì cũng nên cấm
khẩu, đừng nói chuyện nhiều. Không
cấm khẩu, thì niệm Phật không
được thuần thục, không luận kiết
giới đàn trường kỳ hay đoản
kỳ.
Bớt bớt một
câu chuyện,
Thêm niệm Phật
một tiếng,
Giết chết các
vọng tâm,
Tức pháp thân
ứng hiện.
Giác Minh Diệu
Hạnh
Không bớt câu
chuyện, niệm Phật không nhiều; niệm
Phật không nhiều, vọng niệm không
chết; vọng niệm không chết, pháp
thân thế nào sống được?
CHƯƠNG VI
CỐ GẮNG TINH TẤN
Phải niệm Phật
luôn luôn quyết cho tới khi thành tựu.
Người đánh
cờ không hay lạnh, nóng, quên hết
thì giờ cũng vì mắc tranh thắng bại.
Người đánh bạc bỏ cả ăn ngủ
cũng vì ham tiền tài. Người đắm
sắc bị lửa dục đốt rụi cả
xác thịt lẫn tinh thần cũng vì say
mê hoa nguyệt. Rất đỗi một phen vọng
động theo cuộc vui một lúc, mà những
người tạo nghiệp tà ấy còn
hàng phục dễ dàng con ma ngủ, huống chi
ta đã phát tâm về việc lớn
sống chết cầu sinh về Tịnh độ
được an vui cả vô lượng kiếp, há
lại chẳng được hay sao?
Hơn nữa, những
pháp thế gian mà người ta dám phí
hết cả sức lực và tinh thần để
làm từ tháng kia qua năm nọ cũng
không nản chí với cái điều vì
dân vì nước, vì chủ nghĩa, vì
danh dự, vì quyền lợi, vì sinh hoạt
của bậc anh hùng nghĩa sĩ, sĩ, nông,
công, thương, huống chi ta là người
cầu đạo xuất thế gian lại không tinh
tấn được hay sao?
Thoảng
như làm lâu mỏi mệt muốn dấy tâm lười
biếng, thì nên quán tưởng chúng
sinh ở địa ngục kia không một ngày
nào được ngừng nghỉ mối lửa thiêu đốt rụi xác,
tuyết lạnh nứt da, giường sắt,
cột đồng đọa đày, vùi dập!
Sự thống khổ ở nơi ấy, một ngày
bằng biết mấy muôn năm.
Nếu không tinh tấn
niệm Phật, thì sẽ không tránh khỏi
cái khổ ấy đâu. Mình chưa cứu
mình được, có lý nào lại
cứu người được bao giờ.
Phải phát tâm hy
sinh cả thân mạng cầu cho gặp Phật nghe
pháp để độ mình và cứu
người.
CHƯƠNG VII
KHÔNG BỎ LÃNG
Những pháp hữu vi
của thế gian đều không ngoài cái
công lệ sinh diệt. Có sinh diệt thì
không được vĩnh viễn kế tục nhau.
Mà hễ không vĩnh viễn kế tục nhau,
thì ngày nay niệm Phật, mà ngày mai
lại không niệm Phật, thời này niệm
Phật, mà thời khác lại không niệm
Phật. Kế tục nhau từ sát na cho đến
cả tháng hằng năm cũng sẽ còn
có gián đoạn. Mà hễ có gián
đoạn, thì lại càng dễ sinh ra
lười biếng lắm.
Ðức Khổng Tử
đứng trên bờ xem nước chảy, nói:
“Ngày đêm nước chảy không
ngừng nghỉ, Ðạo cũng như thế ấy
luôn”.
Bây giờ nên
quán tánh nước ngày đêm không
ngừng nghỉ; hoặc quán cái tiếng reo khi
chảy để kế tục cái niệm của ta.
Quán nước chảy không
ngừng là bổn tánh, hoặc có khi
ngừng là bởi sự
trở ngại của đất, đá ngăn
đón. Cái niệm không ngừng cũng
bổn tánh, hoặc có lúc ngừng là
bởi sự ngăn ngại của vọng tưởng
đó thôi. Nhưng đất, đá có
thể đưa đón cái tánh nước
chảy mà không thể ngăn đón cái
tánh nước chảy được. Vọng
tưởng có thể ngăn ngại cái
tướng niệm Phật mà không hề ngăn
ngại cái tánh niệm Phật được
bao giờ.
Tánh niệm Phật
thường tồn, tức là Phật tánh
thường tồn. Thế thì, niệm Phật
cùng không niệm Phật cũng tự Như,
kiết giới cùng không kiết giới vẫn
không ngừng nghỉ.
CHƯƠNG VIII
HÀNG PHỤC LŨ MA
Giữa hạn kỳ
kiết giới, nhờ dụng công rốt ráo
nên thường hay phát sinh cái huệ
hiểu biết viết thi, làm kệ mau như
nước chảy.
Hám Sơn Ðại
sư nói: “Ðó là bệnh thiền,
chớ nên để cho nó phóng túng.
Hãy biết trước kia bảo châu đã
mất, nay tìm lại được, không chi
đáng mừng; không nên viết, không
nên làm, mặc dầu rành hiểu thi,
kệ”.
Có khi lại thấy
tướng hảo quang minh của Phật, cũng chớ
nên mừng. Vì đó là duy tâm
biến tướng, như bóng trong gương,
có chi rằng lạ: Gương đóng bụi
thì lu, lau sạch bụi thì hiện.
Mỗi khi gặp những
cảnh giới trên kia đều nên quán:
“Pháp vốn bình đẳng, không có
hơn kém”, nên cho là bình thường,
tức như: “Tâm bình thường tức
là Ðạo, mới có thể hàng phục
tất cả lũ ma”.
Nếu cứ tự ý
đặt thi, làm kệ, thì rất dễ sinh
tâm, được một ít đã cho
rằng đủ mà phát khởi con ma ngã
mạn cống cao. Thấy tướng hảo quang minh sinh
tâm vui mừng, thì mất cả chánh
niệm, khiến cho phát khởi con ma hoan hỷ.
Người tu niệm nên biết.
CHƯƠNG IX
TRỪ VỌNG NIỆM
Không được
nhất tâm niệm Phật là bị xen lẫn
các vọng niệm. Mà khởi sinh vọng
niệm là bởi năm căn đối với năm
trần gây ra nhiễu động căn của
ý; hay là căn của ý vọng động
mà dắt dẫn năm căn, mặc dầu
không đối với năm trần.
Bởi thế cho nên
muốn đoạn vọng tưởng cần phải
đoạn căn của ý. Mà muốn
đoạn căn của ý, phải giả tá quán
trước kia đã đoạn diệt năm
căn không còn dùng đến nữa.
Lúc tưởng đến sắc, thì quán
căn của mắt đã đoạn không
cần dùng xem sắc. Khi tưởng đến thanh
âm, thì quán căn của tai đã
đoạn, không dùng nghe thanh âm, thì
căn của ý sẽ yên tịnh, không
khởi động; cho đến mũi, lưỡi,
thân cũng quán như thế ấy cả.
Lại một pháp
môn phương tiện: Lúc vọng niệm
khởi lên thì nên quán chính mình
đương niệm Phật ở tại ao sen thất
bảo, cách xa thế giới này mười
muôn ức cõi Phật, dầu có vọng
niệm những cảnh giới ấy cũng không
ích gì! Như thế, cũng là một
pháp môn để trị bệnh vọng
tưởng.
CHƯƠNG X
CHÁNH NIỆM
Vọng niệm cũng ở
trong chánh niệm mà ra, nên ngoài chánh
niệm ra hẳn không chi là vọng niệm. Cho
nên mỗi lần vọng niệm khởi sinh,
không cần bài trừ, mà chỉ biết
đó là vọng niệm, nên lập tức
sinh tâm chánh niệm. Sinh tâm chánh niệm
thì vọng niệm tức thì tự phải
tiêu diệt, nên không cần phải bài
trừ.
Hãy
quán cái tánh của vọng niệm vốn không, đó
là pháp “Không Quán”.
Ðã được pháp “Không
Quán”, không do thấy Phật mà
khởi sinh ma hoan hỷ cống cao, cũng không
thấy Phật mà khởi sinh ma ưu sầu. Chỉ
bình thường tiếp tục chánh niệm,
không sinh tâm tưởng gặp Phật hay là
tưởng không gặp Phật. Như thế là
cảnh giới chánh niệm.
CHƯƠNG XI
GIẢI TRỪ SỰ NGỜ VỰC
Có khi muốn gặp
Phật mà không gặp được thì
chớ nên vì sự không gặp mà
khởi sinh điều lo rầu.
Bởi sao vậy? Bởi sắc tức là không,
không tức là
sắc, theo Kinh Bát Nhã Tâm Kinh nói. Chỉ
được cái tâm
không thì hẳn không chi là hai: Thấy sắc thân Phật
cũng không thấy sắc thân Phật.
Cũng có khi còn
ngờ vực nghĩa Kinh Kim Cang: “Nhận sắc
tướng là Phật, nhận âm thanh là
Phật, thì lạc vào nẻo tà, không
rõ tự tánh là Phật”. Mà sợ
nỗi niệm Phật thấy Phật là sắc
tướng, là thanh âm, là nẻo tà thì
hãy quán sắc tướng, thanh âm
đều không: “Không tức Phật”.
Nên hiểu rằng:
Chẳng phải do nơi sắc tướng, thanh âm
mà thấy Pháp thân Phật hay là
không do nơi sắc tướng, thanh âm mà
chẳng thấy Pháp thân Phật. Thế nên
không cầu thấy Phật thì niệm Phật
không thiết, còn chăm cầu thấy Phật
lại sinh vọng niệm; mà chỉ phải mỗi
niệm cầu thấy Phật cũng như không
cầu, mỗi niệm không thấy Phật cũng
như thấy.
CHƯƠNG XII
HIỂU VÀ HÀNH
Pháp môn niệm
Phật Tam muội không ngoài sự hiểu
và hành.
Soạn ra
các đoạn trước kia, sở dĩ muốn hành giả hiểu
lý cho thấu đáo để làm theo cho
khỏi lạc nẻo sai đường. Nếu chỉ
biết văn cho thông, hiểu nghĩa cho rõ
mà gọi là liễu ngộ, rồi không
cần gì là thực hành, thì hại
đạo lắm, chẳng khác nào kể
các món ăn trơn, đếm của báu
suông vậy thôi!
Còn như trong lúc
thực hành mà diệt sạch sành sanh
những điều tri giải, không còn chút
tí gì lưu ở nơi tâm, mặc dầu
đã hiểu lý rốt ráo, cứ một
mực “Không tâm” niệm Phật,
trì cái hành, diệt cái hiểu mới
là tương ưng với pháp niệm Phật.
Nếu còn dính mắc cái tri giải hẳn
thật không chứng ngộ pháp Tam muội.
Hai điều “Hiểu
biết” và “Làm theo”
(giải hành), những người ơ hờ
thường dễ hiểu lầm. Mà hiểu lầm thì hại to, sai
một ly, đi một dặm; nghĩa là sai
một mảy may, cách xa một trời một
vực.
CHƯƠNG XIII
HỢP CƠ DUYÊN
Gọi Tịnh độ
tức là để đối với uế
độ. Cũng như đối với bệnh mà
dùng thuốc: Muốn trị bệnh bón, bệnh
kiết, thì dùng đại hoằng, bã
đậu; muốn chữa bệnh hàn lương,
thì dùng càn cương, phụ tử.
Ở thế giới Ta
bà này đủ cả năm thứ
trược:
1.- Kiếp trược
là kiếp có nhiều uế trược.
2.- Kiến trược
là kiếp có sự hiểu biết tà
vạy uế trược.
3.- Phiền não
trược là nhiều điều phiền não
uế trược.
4.- Chúng sinh
trược là phải chịu quả báo
chúng sinh khổ não uế trược.
5.- Mạng trược
là mạng sống ngắn ngủi uế
trược, đủ cả mười tội ác:
Tham, sân, si, sát, đạo, dâm, vọng... Ác
trược đã nhiều như thế kia, nếu
không giảng pháp môn Tịnh độ,
thì làm sao mà cứu cho được.
Tất cả những
pháp môn khác vốn không tương
ưng với cơ duyên quốc độ này,
mặc dầu đều được giải thoát
sinh tử. Thế thì, những hàng đại
thiện tri thức nên hoãn lại các
pháp kia để thực hành pháp Tịnh
độ ngõ hầu cứu vãn cái gặp
cháy mày!
Ðã rõ danh
nghĩa của Tịnh độ, tịnh thì không
tạp, mà tạp thì tất phải
trược, tuy gồm có pháp lành, cũng
như dùng cây lưu ly khuấy nước trong
thì trở thành đục, mất cả
tánh thanh tịnh. Cho nên Thiện Ðạo
Hòa thượng phát minh cái thuyết: Tu
tịnh nghiệp có hai thể: 1.- Chuyên tu, 2.-
Tạp tu. Chuyên tu thì mười phần vãng
sinh trọn vẹn. Tạp tu thì trăm phần
không được một hai.
Chỉ có quyển
“Tây phương xác chỉ” của
Giác Minh Diệu Hạnh chú trọng cái
pháp chuyên tu, thì người tu pháp Tam muội
nên nhận đó là “chỉ nam”
(địa bàn).
CHƯƠNG XIV
CHỨNG NGHIỆM THÀNH TỰU
- Hoặc có
người hỏi: Không cần gặp Phật,
thế nào đắc pháp Tam muội? Rốt
ráo không chi được, thế nào
biết đó là Tam muội?
- Niệm Phật là
nhân của Tam muội, Tam muội là quả
của niệm Phật, nhân ngay hẳn quả ngay.
Bằng cứ y theo pháp mà niệm Phật, công
phu niệm Phật thuần thục, thì thấy
Phật cũng tốt, không thấy Phật cũng
tốt.
Nếu
niệm Phật không y theo pháp, hoặc công phu
chưa thuần thục, mà có sở đắc
thì tức đó là ma, còn không
sở đắc thì đó là mê. Bổn
tánh con người tức là Phật mà
chưa được thành Phật, bởi vì
nhiều kiếp đến giờ bị những
nghiệp hoặc vọng tưởng nên mới
khởi sinh tất cả tạp tánh: Tham, sân, si,
sát, đạo, dâm, vọng, v.v... Cũng như
đã chặt đứt cả tay chân, không
thể liền lại; công phu niệm Phật
thuần thục thì đối cảnh trần
duyên không hề một mảy manh động
cái tâm tham, sân si...
Như
thế ấy, trong đạo pháp nhà Phật
gọi “thật chết”: Diệt tâm trần
tục, “thật sống”: Giác ngộ.
Giác
Minh Diệu Hạnh nói: “Giết chết cái
vọng tâm, tức Pháp thân ứng
hiện”. Thế thì, pháp Tam muội hà
tất phải tìm ở đâu!
Tất
cả những thần thông diệu dụng, cảnh
giới của hành giả chứng ngộ mỗi
mỗi không đồng nhau. Thoảng như có
đắc pháp nên vui mừng mà chẳng
nên khoe khoang thổ lộ; vui mừng quá sẽ
lạc nẻo ma, mà khoe khoang thổ lộ hẳn
phải thất bại, nên chi phải thận
trọng, phải thận trọng!
Dịch
giả THÍCH TRƯỜNG LẠC
--- o0o ---
Vi tính: Diệu
Huệ. Trình bày: Anna
Cập nhật: 1-7-2004