PHẢI CHĂNG THIÊN NHIÊN LÀ VÔ HẠI?
Ds Nguyễn ngọc Lan & Bs
Thú y Nguyễn thượng Chánh
Ngày nay phong trào dùng thuốc
thiên nhiên đang bành trướng mạnh
mẽ khắp mọi nơi trên thế giới.
Phải chăng đây là khuynh hướng
trở về nguồn của con người? Tại
miễn
dịch, phòng trị các bệnh thông
thường như ho hen cảm cúm, viêm sưng
đau nhức khớp xương hoặc để giúp
làm tăng hay giảm cân. Đối với
người Vn chúng ta, hiện tượng này
không có gì mới lạ hết. Ngày
xưa ở quê nhà, chúng ta cũng đã
từng dùng thuốc thiên nhiên rồi.
Đó là thuốc Bắc, thuốc
mua dễ dàng không cần
toa bác sĩ trong các pharmacies, trong các chợ,
trong tiệm Produits naturels, Health food stores hoặc mua qua ngõ
bưu điện và Internet…Viết bài
nầy, tác giả không có chủ tâm
đánh giá thuốc thiên nhiên hay thuốc
Tây. Thuốc nào cũng có cái hay cái
dở, cái mạnh cái yếu của nó
hết!..
Một nhận
định sai lầm
Thường tình, ai cũng
nghĩ rằng hễ thiên nhiên là vô
hại. Các nhà khoa học Tây phương
đã cho biết là có một số
thuốc thiên nhiên kể cả các loại
vitamines, nếu dùng không đúng cách
vẫn có thể gây hại cho sức khỏe...Một
vài loại thuốc có thể che lấp một
cách tạm thời diễn biến thật sự
của bệnh trạng và làm sai lạc kết
quả các test của phòng thí nghiệm.
Chúng cũng có thể làm gia tăng tác
dụng của thuốc Tây đến độ gây
nguy hiểm cho bệnh nhân. Đôi khi thuốc
thiên nhiên cũng có thể hóa giải,
làm giảm hay làm mất tác dụng của
một loại âu dược nào đó
nếu được dùng chung với nhau. Tóm
lại, tất cả các phản ứng bất
lợi vừa nêu trên đều do sự
tương tác (interaction)
giữa các món thuốc với nhau mà ra
thôi.
Một số thuốc
thiên nhiên thông dụng tại hải ngoại
*Valériane (Valeriana officinalis, Valerian, Herbe aux
chats, Herbe de st George): Giúp an thần, giảm lo âu bức rức,
giảm stress, giảm suy nhược tinh thần,
động kinh, giúp tập trung tư tưởng
và ngủ ngon...Không nên sử dụng chung
với các loại thuốc ngủ hay thuốc an thần
(sédatifs) như barbituriques, benzodiazepines (Valium, Librium, Ativan). Cũng không
nên uống chung với các thuốc thiên
nhiên có tính an thần như Camomille, Kava
và Millepertuis vì tính an thần sẽ bị
gia tăng gấp bội, bệnh nhân có thể
rơi vào trạng thái mê man. Cùng một
lý do vừa nêu, không nên uống Valeriane
chung với rượu vì sẽ làm tăng
tác dụng của alcool. Không nên uống chung
cùng lúc với thuốc trị bệnh mất
ngủ vì tác dụng của thuốc nầy sẽ
tăng.
*Kava-Kava (Piper methysticum, Tonga, Awa): Trị lo âu, an
thần...Không nên sử dụng chung với
các loại thuốc barbituriques, benzodiazepines, thuốc
trị suy nhược tinh thần và thuốc trị
bệnh Parkinson. Kava có ảnh hưởng không
tốt đối với các loại thuốc gây
mê, như nó có thể làm gia tăng
tác dụng của thuốc mê Halothane, rất nguy
hiểm khi giải phẫu. Không nên uống
rượu lúc sử dụng thuốc Kava.
*Echinacée (Echinacea sp, Cone flower, Hedgehog, Indian
Head): Trị
cảm cúm, cảm nhiễm đường hô
hấp, tăng cường sức miễn dịch...Không
sử dụng Echinacée nếu đang xài các
loại thuốc làm giảm sức miễn dịch (immunosuppresseur) như Cyclosporine
sau khi được giải phẫu ghép bộ
phận. Kỵ các loại thuốc corticostéroides
(Prednisone, Decadron), các steroides anabolisants (Winstrol), Amiodarone
(Cordarone), Methotrexate (Rheumatrex) và Ketocomazol (Nizoral).
Phụ nữ đang mang thai không nên xài
Echinacée. Những người nào đang mắc
bệnh lao, hoặc các bệnh thuộc tự
miễn (auto immune disease) như rheumathoid
arthritis, systemic lupus erythomatosus
cũng không nên sử dụng Echinacée. Chỉ
nên uống trong vòng từ 7 đến 14 ngày
mà thôi, không nên uống liên tục trong
8 tuần lễ.
*Tỏi (Allium sativum, Garlic, Nectar of the Gods, Ail): Trị cảm cúm, tiêu chảy, giúp làm giảm đường lượng trong máu, giảm cholesterol, giảm áp huyết, ngăn ngừa tình trạng xơ cứng động mạch, ngừa các bệnh thuộc về tim, bổ gan và tăng cường sức miễn dịch…Thuốc tỏi có khuynh hướng làm máu loãng. Không nên xài thuốc tỏi cùng lúc với các thuốc kháng đông (anticoagulant) như Warfarin (Coumadin) hoặc với các thuốc có tính chống kết tụ tiểu cầu (antiplaquettaire) như Aspirine vì có nhiều nguy cơ bị xuất huyết. Đối với các thuốc trị bệnh tiểu đường thường được gọi là thuốc giảm đường lượng (hypoglycémiant), cũng không nên dùng chung với thuốc tỏi để tránh tình trạng đường huyết bị kéo xuống quá thấp.
*Gừng (Gingembre, Ginger) dùng trong trường hợp muốn nôn mửa, say sóng (motion sickness) và ăn không ngon, mất đói...Gừng kéo dài thời gian chảy máu. Tránh dùng gừng chung với các loại thuốc làm loãng máu như Aspirine, Coumadin. Lạm dụng gừng có thể ảnh hưởng đến các thuốc trị bệnh tim và thuốc trị tiểu đường.
*Camomille (Tanacetum parthenium, Feverfew, Wild Chamomile): Trị tinh thần căng thẳng, nhức đầu, phong thấp, dị ứng, chóng mặt, đau bụng lúc hành kinh...Không nên uống Camomille chung với các thuốc kháng đông vì sẽ dễ gây xuất huyết. Cũng không nên uống chung với thuốc chống đau nhức làm loãng máu thuộc nhóm anti inflammatoire non stéroidien như Tylénol, Aspirine, Ibuprofene (Advil, Motrin), Celebrex. Phụ nữ đang mang thai tránh dùng Camomille vì có thể làm tử cung co thắt. Không uống chung với thuốc kháng đông Coumadin. Camomille có chứa chất chát tannin có thể ngăn trở việc hấp thụ chất sắt.
*Millepertuis (Hypericum perforatum, St John’s Wort, Goatweed, Herbe de St Jean): Trị suy nhược tinh thần nhẹ, lo âu, mệt mỏi, ăn không biết ngon, mất ngủ và đau nhức các bắp cơ, tăng sinh lực, giúp ổn định tâm tánh trong thời gian tiền kinh nguyệt...Uống chung với các thuốc trị sida, như thuốc Indinavir, sẽ làm giảm tác dụng của loại thuốc diệt siêu vi nầy. Millepertuis cũng ảnh hưởng đến tác dụng của các thuốc trị kinh phong (antiépileptique), thuốc ngừa thai, thuốc làm giảm sức miễn dịch, thuốc chống suy nhược tinh thần (Prozac, Paxil), thuốc chống kết tụ tiểu cầu, thuốc kháng đông (Coumadin), thuốc ngừa sự loại bỏ bộ phận ghép (Cyclosporine), thuốc chống siêu vi agents antirétroviraux (Invirase), thuốc trị bệnh tim Digoxine (Lanoxin) và Théophylline.
*Bạch quả (Ginkgo biloba, Yinhsing, Fossil tree, Kew tree, Maiden hair tree): Giúp máu lưu thông được dễ dàng, trị viêm phế quản, xơ cứng động mạch, cholesterol cao, bồi dưỡng trí nhớ, giảm triệu chứng bệnh Alzheimer, cải thiện tình trạng chóng mặt, giúp gan và túi mật hoạt động tốt...Có thể làm xuất huyết nếu xài chung với thuốc kháng đông hoặc thuốc làm máu loãng như Aspirine, vitamin E, Plavix, Persantine và Ticlid. Tạp chí New England Journal of Medicine có đề cập đến một ca xuất huyết trong mắt sau khi bệnh nhân đã thường xuyên uống Ginkgo biloba và Aspirin trong một thời gian dài. Tránh xài Ginkgo biloba lúc mang thai và lúc cho con bú.
*Nhân Sâm (Panax ginseng): An thần, giảm stress, bồi dưỡng sinh lực, tăng sức miễn dịch, giảm đường máu, giảm cholesterol và trợ dương...Dùng Ginseng chung với thuốc kháng đông có thể gây xuất huyết. Với thuốc trị suy nhược tinh thần Phenelzine (Nardil) sẽ gây nhức đầu, run rẩy. Với thuốc trị bệnh tim Digoxin (Lanoxin) sẽ làm khó đo lường hiệu quả và tác dụng của món thuốc nầy. Cũng không nên uống Ginseng nếu đang trị liệu bằng các thuốc tâm thần (antipsychotiques) và thuốc trị suy nhược tinh thần hay trầm cảm (antidepresseur). Nếu đang dùng thuốc trị bệnh tiểu đường (Diabeta, Diamicron) thì cũng không nên dùng Ginseng cùng một lúc vì đường lượng có thể bị kéo xuống quá nhanh...Lạm dụng Ginseng sẽ có nguy cơ làm tăng áp huyết, bồn chồn, mất ngủ, bị tiêu chảy hoặc da nổi đỏ.
*Ephedra / Ephedrine (Ephedra sinica, Ma Huang, Sea Grape, Yellow Horse, Desert Herb): Trị suyễn, tăng sinh lực, và để giúp làm giảm cân...Có thể dẫn đến những phản ứng bất lợi như ngạt thở, áp huyết tăng cao gây hại cho tim.
Sử dụng cùng lúc với thuốc thông mũi (décongestants) có chứa chất Ephedrine như Dristan, Sinutab, Sudafed, Actifed hoặc với các thuốc có Caffeine, bệnh nhân sẽ bị co giật, hôn mê và có thể bị đột quỵ tim. Không nên uống Ephedra trong các trường hợp sau đây: lúc mang thai, lúc cho con bú, khi có bệnh tiểu đường, đang bị bệnh tăng nhãn áp glaucome hoặc đang bị chứng cường giáp trạng (hyperthyroidisme).
*Sulfate de glucosamine: Trị đau nhức do thoái hóa khớp (arthrose), bảo vệ sụn khớp...Có người cho rằng Glucosamine có tính làm tăng đường máu? Nếu dùng chung với thuốc Insuline có thể sẽ làm giảm tác dụng của thuốc nầy. Vấn đề trên cũng còn trong vòng tranh cãi giữa các nhà khoa học với nhau. Nên ngưng uống Glucosamine một tuần trước ngày đi thử máu để việc đo đường lượng được chính xác hơn. Không xài Glucosamine đồng thời với thuốc kháng đông Warfarin (Coumadin). Các người nào thường hay bị dị ứng với đồ biển thì không nên uống Glucosamine có hoặc không có phối hợp với Chondroitine vì cả hai chất nầy đều có nguồn gốc từ cá mập.
*Dong Quai (Angelica sinensis, Ginseng pour femme): Trị mất ngủ, điều kinh, trị đau bụng và giúp giảm thiểu các triệu chứng bất lợi của thời kỳ mãn kinh...Không nên dùng Dong Quai lúc đang mang thai, hoặc lúc có kinh nguyệt quá nhiều. Những người đang bị bệnh tiểu đường cần thận trọng vì Dong Quai có thể làm tăng đường huyết.
Với liều lượng cao, Dong Quai làm tăng nhịp tim và làm tăng áp huyết.
*Cam thảo (Réglisse, Glycyrrhiza glabra, Licorice, Sweetwood): Trị bệnh đau dạ dầy, loét bao tử, loét miệng, ho hen, phong thấp, v.v… Dùng cùng lúc với các thuốc lợi tiểu (diurétiques) có thể làm giảm chất potassium trong máu. Không nên uống cùng một lượt với thuốc trị bệnh tim như Lanoxin hoặc với các thuốc làm hạ áp huyết. Tránh dùng Réglisse khi có thai, lúc bị tiểu đường, yếu gan, yếu thận hoặc đang mắc các bệnh chứng về tim mạch hoặc áp huyết cao.
*Saw Palmetto (Serenoa repens, Cabbage Palm, Sabal, Dwarf Palm, Palmier Nain): Có tính lợi tiểu, và được dùng để trị các bệnh thuộc đường tiết niệu...Saw Palmetto cũng thường được sử dụng để chữa trị truờng hợp tiền liệt tuyến bị triển dưỡng (benign prostatic hypertrophy). Phản ứng phụ của thuốc là có thể làm giảm sự ham muốn tình dục và gây nhức đầu. Nó cũng có thể làm thay đổi tác dụng của các thuốc ngừa thai và của các hormones trị liệu khác. Không nên dùng Saw Palmetto lúc mang thai hoặc trong thời gian cho con bú.
*Hawthorn (Crataegus oxycantha, Aubépine, Mayflower, Maybrush): Trị hồi hộp, tim đập nhanh, lo âu mất ngủ, giảm các cơn đau thắt ngực bằng cách giảm áp huyết động mạch và giảm cholesterol trong máu...Không nên uống cùng một lúc với các loại thuốc trị bệnh tim như Digoxin (Lanoxin) vì nhịp tim có thể bị giảm nhiều.
*Hà thủ ô (Polygonum multiflorum, Radix Polygoni multiflori, Chineese knotweed, Flowery knotweed, Ho shou wu, He shou wu, Zi shou wu, Shou Wu Pian, Fo ti): Rất phổ biến ở Việt Nam và Bắc Mỹ. Theo Đông y, Hà thủ ô dùng để bồi dưỡng sức khỏe, giữ cho tóc và râu được đen lâu bạc, bổ gan thận huyết, bổ xương, trợ dương…Theo cơ quan y tế của Anh quốc Medecine&Health Care Products Regulatory Agency cho biết, có nhiều khảo cứu nói đến tác dụng độc hại của Hà thủ ô đối với gan như làm vàng da, vàng mắt, nước tiểu xậm màu, ói mửa, đau bụng, biếng ăn và làm cho yếu sức (Batinelli et al 2004, New case of acute hepatitis following consumption of Shou Wu Pian, Ann Inter Med140:E589)
*Nước bưởi (Jus de pamplemousse, grapefruit juice): Món giải khát bổ dưỡng chứa nhiều sinh tố...Có thể tương tác với một số thuốc Tây rất nguy hiểm. Không uống nước bưởi cùng lúc với các thuốc trị cao máu, thuốc hạ cholesterol, thuốc trị nấm, thuốc trị đau thắt ngực hoặc điều hòa nhịp tim và các loại thuốc ngừa sự loại bỏ bộ phận ghép.
Một thị trường hỗn
độn
Trên 70% thuốc thiên nhiên bán
tại Canada được xếp vào nhóm
thực phẩm... Ngày 1 Janvier 2004, Cơ quan Santé
Canada cho áp dụng điều luật mới về
thuốc thiên nhiên. Santé Canada gọi tất cả các sản
phẩm thiên nhiên với cái tên chung
là Produits de santé naturels PSN. Trong nhóm nầy
bao gồm: các dược thảo, rong biển,
nấm, vi khuẩn tốt hay probiotics, vitamins, khoáng
chất, các acids béo thiết yếu (essential fatty
acids) như Omega-3, các sản phẩm từ thú
vật và hải sản, các thuốc Tàu hay
thuốc Bắc, Cao đơn hoàn tán, thuốc
Nam, thuốc Ấn độ, các thuốc liệu
pháp vi lượng đồng cân (produits
homéopathiques)… Theo luật nầy tất cả
nhà sản xuất thuốc thiên nhiên phải
có môn bài cấp bởi Santé Canada. Nhà
sản xuất phải đệ nạp các thông
tin như: phải nêu rõ tên sản
phẩm, chất gì, nguồn gốc từ
đâu, có những hoạt chất nào,
ảnh hưởng trên sức khỏe cùng liều
lượng và cách sử dụng ra sao, các
tài liệu khảo cứu liên hệ, v.v…Nếu
được chấp nhận, Santé Canada mới
cấp cho sản phẩm một DIN (drug identification number)
gồm 8 số, hoặc số NPN (numéro de Produit
Naturel), hoặc số liệu pháp vi lượng
đồng cân DIN-HM (homeopathic medecine). Tất cả
chỉ dẫn và các điều cấm kỵ (contre-indications, mise en garde) cũng
đều phải được ghi rõ bên
ngoài hộp thuốc...Đối với thuốc
thiên nhiên sản xuất tại Canada và Hoa
Kỳ, nhà bào chế phải tuân theo một
số quy tắc làm ăn đàng hoàng gọi
là BPF (Bonne Pratique de Fabrication, Good Manufacturing Practice). Một
món thuốc có mang ký hiệu DIN, NPN hoặc
DIN- HM cho biết là nó đã đáp
ứng đầy đủ thủ tục cứu xét
của cơ quan Y tế Canada...Thực tế cho thấy kỹ
nghệ thuốc thiên nhiên không ngừng
phát triển một cách quá nhanh chóng trong
một bối cảnh hỗn độn, không có
luật lệ rõ ràng để quy định
và kiểm soát. Ai muốn bán gì thì
bán, nói sao hay quảng cáo sao cũng
được hết...Tạp chí Protégez Vous
đã từng cho điều tra xét nghiệm
một số thuốc thiên nhiên bán tại
Quebec, thì mặc dù có mang ký hiệu DIN
đàng hoàng nhưng không ít sản
phẩm đã không tôn trọng những điều
đã ghi trên hộp thuốc như liều
lượng không đúng, thậm chí chất
thuốc cũng không tương ứng như đã
ghi bên ngoài. Direction des Produits de Santé naturels
thuộc Santé Canada hiện đang cố gắng
nghiên cứu và tìm cách giải quyết
vấn đề thuốc thiên nhiên cho
được trật tự và hợp lý
hơn. Chuyện không đơn giản đâu!.
Chất lượng của
thuốc: một vấn đề nan giải
Trước một
rừng thuốc thiên nhiên đủ loại,
đủ cỡ, người tiêu thụ bị hoa
mắt, phân vân và tự hỏi không
biết mình nên chọn thuốc nào
đây? Thôi thì chỉ còn biết tin
vào quảng cáo, hình thức và màu
sắc bên ngoài của hộp thuốc để mà
quyết định.
Tại Canada, thuốc thiên nhiên
nằm trong vòng kiểm soát của một số
nhà bào chế lớn như: Wampole Canada, Swiss
Herbal, Quest, Jamieson, Lalco, Adrien Gagnon, Jean Marc Brunet, v.v...Ngoài
ra cũng có một số labo nhỏ chen chân kiếm
ăn bên cạnh các nhà bào chế
đàn anh. Santé Canada ước lượng
thị trường thuốc thiên nhiên tại Canada
ở vào lối
4,3$ tỉ/năm (so với 10,9$
tỉ/năm cho các dược phẩm có brevet).
Thuốc thiên nhiên tại Hoa kỳ 36$ tỉ/năm.
Thuốc thiên nhiên được sản xuất
theo lối công nghiệp thì đòi hỏi
phải có nguồn cung cấp nguyên liệu
thật dồi dào. Một số được sản
xuất ngay tại Canada hoặc Hoa Kỳ và phần
lớn còn lại được nhập cảng
từ Á Châu hay từ Nam Mỹ. Hoạt chất
của cây thuốc có thể rất thay
đổi, tùy theo thời gian tăng trưởng, nơi
trồng, cách trồng, tùy theo phần nào
của thực vật được sử dụng và
cũng tùy theo cây thuốc được gặt
hái lúc nào trong năm. Tại những
phương trời xa xôi vạn dặm thì
làm sao kiểm soát một cách chu đáo
tất cả quy trình sản xuất nguyên vật
liệu để bảo đảm có một
chất lượng an toàn và trung thực cho
được?. Đây cũng là một vấn
đề lo nghĩ của những nhà bào
chế có lương tâm...Không phải thiên
nhiên là vô hại!!! Một số
thực vật có thể có hại cho sức khỏe
như làm hư gan, hại thận hay thậm
chí còn có thể
gây ra ung thư. Bởi lẽ nầy nên một
số chất sau đây bị cấm tại Canada: Aristolochia
(Birthworth, Snake root, Guang Fang Ji), Coca (Erythroxylum coca), Nux vomica (có
Strychnine) và Pau d’arco
(Tabebuia impetiginosa). Santé
Canada thường theo dõi và kiểm soát
các loại thuốc thiên nhiên bán trên
thị truờng, đặc biệt quan tâm đến
các món thuốc nhập cảng từ Á
châu. Thỉnh thoảng cơ quan nầy cũng có
phát hiện một số thuốc mạo hóa. Tuy
mang danh nghĩa là thuốc thiên nhiên nhưng
nhà sản xuất lại cố tình pha trộn
thêm những loại thuốc Tây (prescription drugs, medicaments
d’ordonnance) vào trong đó. Những chất
thuốc thường được trộn thêm
có thể là những steroides, hormones, các
chất thuốc lợi tiểu, các thuốc kháng
viêm sưng (anti inflammatoires),
các thuốc trợ dương (aphrodisiaques) và thuốc làm giảm
đường huyết (hypoglycémiant).
Nhãn hiệu của các thuốc nhập cảng
từ Á Châu thường lem nhem không rõ
rệt, khó hiểu, không đầy đủ
chỉ dẫn cần thiết và cũng không
nêu rõ những điều cấm kỵ quan
trọng!
Santé Canada cảnh
giác dân chúng
Nhằm mục đích
cảnh giác người tiêu thụ về sự
nguy hiểm của một vài loại thuốc
thiên nhiên, Santé Canada thường xuyên cho
phổ biến các thông báo như sau:
**Theo sự nhận định của cơ quan Y Tế
Canada, thì…sự phối hợp giữa nhiều
loại thuốc thiên nhiên với nhau đều được
nghi ngờ là có thể dẫn đến
những phản ứng bất lợi, làm tổn
thương gan và có hại cho sức khỏe.
Ngoài ra còn có vấn đề như những
nguyên liệu sử dụng là những nguyên
liệu bị giả mạo hay bị biến đổi
cũng được kể như là những
nhân tố bất lợi…(…a number of factors
must be considered when a natural product with multiple ingredients is suspected
to be associated with adverse effects. And adulterant or misidentified
ingredients could be present in the product that maybe responsible for any
adverse effects. Possible toxicity due to excessive dosing or prolonged intake
should be considered. Some herbs may contain hepatotoxins and other may contribute
to idiosyncratic hepatotoxic reactions and involve an immunological response...
Health
Kết luận
Tại
Tài liệu tham khảo:
-
Santé
Canada- Cadre réglementaire pour
les produits de santé naturels: Aperçu(2004).
-
Chevalier,
A. Encyclopédie des plantes
médicinales. Montréal, Sélection du Reader’s
Digest, 1997.
-
The healing power of vitamins, minerals and herbs-the A-Z guide to
enhancing your health and treating illness with nutritional supplement.
-
Collège
des Médecins du Québec et Ordre des Pharmaciens du Québec-
Attention, Parlez-en avec votre Médecin ou votre Pharmacien.
-
Natural Medicines Comprehensive Database - compiled by the Editors of Pharmacist’s Letter and
Prescriber’s Letter, Sixth edition, 2004.