PHẬT GIÁO TỪ ẤN ĐỘ TRỰC
TIẾP
TRUYỀN VÀO VIỆT
TS.
Lâm Như Tạng
Source
: Thư viện Hoa Sen
A. Bề Lưng của bán
đảo Ấn Trung: Việt
Từ
phương Bắc, Trung Quốc đã tràn
xuống chiếm cứ đất đai với âm
mưu đồng hóa dân Việt, biến Việt
Từ
phía Tây, Ấn Ðộ trong cao trào bành
trướng văn minh văn hóa, tôn giáo
của họ ra các nước chung quanh có
tính cách ôn hòa, hòa bình, vì
lúc đầu chỉ là mục đích giao
thương qua lại, sau đó nhờ giáo
lý cao sâu bất bạo động của
Phật Giáo đã đi vào lòng
người một cách tự nhiên, dễ dung hợp
với các nền văn hóa địa
phương. Do đó người Ấn Ðộ
đã gây được ảnh hưởng
rất sâu rộng ra các nước chung quanh.
Bằng chứng cho thấy rằng Phật Giáo
có số tín đồ đông nhất
trên thế giới hiện nay.
Từ
trước đến nay có rất nhiều giả
thuyết về thời điểm và phương
hướng của sự du nhập Phật Giáo
vào Việt
Khởi
nguyên Phật Giáo Việt
Sau
đây xin được dẫn chứng các
dữ kiện lịch sử, các tài liệu
để minh chứng những tuyến đường
và thời điểm du nhập của Phật
Giáo từ Ấn Ðộ vào Việt
B.
Phương cách và các tuyến
đường du nhập
Sau
khi bình phục được toàn cõi Ấn
Ðộ, vua A-Dục (Asoka) lên ngôi năm 273 trước
Tây lịch làm vua được 37 năm. Ông
là một Phật tử rất thuần thành
trị nước an dân bằng tinh thần Bi Trí
Dũng của Phật Giáo. Ấn Ðộ
dưới thời ông trị vì rất thái
bình thịnh vượng. Ông rất hăng say
trong việc chấn hưng Phật Giáo nên
đã cho dựng trên 84.000 tháp thờ
Phật trên toàn cõi Ấn Ðộ.
Ðồng thời nhà vua cũng cho dựng vô
số những trụ đá tại những nơi di
tích của Ðức Phật như tại
vườn Lâm Tỳ Ni nay nằm trong địa
phận nước Nepal nơi Ðức Phật
Ðản Sanh, tại Bồ Ðề Ðạo Tràng
nơi Ðức Phật thành đạo, tại
Lộc Uyển nơi Ðức Phật thuyết pháp
lần đầu tiên, tại rừng Ta La Song Thọ
nơi Ðức Phật nhâp Niết Bàn ...
Nhờ
những trụ đá A-Dục các nhà
khảo cổ mới xác định được
một cách rõ ràng các thánh tích
của Ðức Phật. Ngoài ra các nhà
khảo cổ còn tìm được 35 di
tích ngự chỉ có đánh số của
vua A Dục dặn dò con cháu mai sau phải
tiếp tục phụng thờ Ðức Phật và
phát huy truyền bá Phật Pháp. Trong số
đó có ngự chỉ số 4 tìm
được tại núi Kandahar ngày nay thuộc
địa phận Afghanistan có ghi những lời dạy
của nhà vua là phải tổ chức
đại lễ Phật Ðản hằng năm cho
trọng thể và truyền bá lời dạy
của Ðức Phật đến mọi người...
Ngự chỉ số 6 được tìm thấy
tại núi Gimar miền tây Ấn Ðộ có
ghi rõ hơn lời dặn về việc phụng
thờ Ðức Phật bằng cách tổ chức
rước tượng Ðức Phật và di
tích trọng thể trong ngày đản sanh...
Sử Tích Lan (Sri-Lanka) Mahavamsa có ghi rằng vua
A Dục (Asoka) cho Hoàng tử Mahinda qua Tích Lan
để truyền bá Ðạo Phật và
kể từ đó về sau mỗi năm đại
lễ Phật Ðản được tổ chức
trọng thể. Mặc dầu Tích Lan đã
bị Anh xâm lăng và bị áp lực
của hội truyền giáo Thiên Chúa Tây
phương bỏ ngày lễ Vesak từ năm 1815
nhưng Phật tử Tích Lan đã tranh
đấu và đã đòi lại
được ngày nghỉ lễ Phật Ðản
từ ngày 17.4.1885. Kể từ đó Ðạo
Phật rất hưng thịnh tại đảo quốc
nầy.
Từ
phong trào chấn hưng Phật Giáo dưới
thời vua A Dục, Phật Giáo có đầy
đủ năng lực, nhiều nhân tài trí
thức kể cả Phật tử tại gia và
nhiều trí thức lỗi lạc thuộc hàng
tăng lữ nên đã là thuận duyên
cho việc truyền bá đạo Phật ra
nước ngoài.
Nói
tiếp từ thời A Dục, theo nhiều sử
liệu được kiểm chứng cho thấy
rằng vào thế kỷ thứ hai trước
công nguyên tại Ấn Ðộ có tư
trào Phật Giáo Ðại Thừa rất
phóng khoáng, rất năng động, rất
hăng say hoạt động truyền giáo trong
nước và truyền sang nước ngoài
nhất là theo đường biển truyền sang
các nước chung quanh.
Sự
truyền bá Ðạo Phật từ Ấn Ðộ
cùng trong tư trào truyền bá văn minh
Ấn ra các nước chung quanh. Trong thập
hùng ca Ramayana của Ấn Ðộ có nói
đến tên các xứ như
Theo
các tư liệu của W. Cohn trong Buddhha in der Kunst des
Ostens, Leipzig 1925; F.M. Schnitger trong The Archaellogy of Hindoo Sumatra,
Leyde 1937 và G. Ferrand trong tạp chí Journal Asiatique
Juillet - Aout 1919 ... Người ta đã tìm thấy
các dòng chữ Sanskrit của Mulavarman tại
các vùng Kutei ở Borneo và các bia
đá khắc chữ Sanskrit của Purnavarman ở
Tây Java. Các tượng Phật thuộc
trường phái Amaravati được tìm
thấy ở Sampaga (Célèbes) phía nam tỉnh
Giember (Ðông Java) trên đồi Se Guntang ở
Pelembang (Sumatra) là xưa nhất có thể là
trước công nguyên. Do đó người ta
đã kết luận rằng những bước
đầu văn minh và tôn giáo từ Ấn
Ðộ đã truyền qua
Văn
minh và tôn giáo từ Ấn Ðộ cũng
đã truyền qua Mã Lai tại các vùng
như Perak, Xêlebơ ..., qua Thái Lan, Campuchia,
Miến Ðiện ... Tại Campuchia các nhà
khảo cổ đã tìm thấy được 4
bia đá có khắc chữ Sanskrit.
Theo
V. Rougier trong sách Nouvelles Découvertes Chames au Quang Nam,
Befeo XI, đã viết rằng các nhà khảo
cổ đã tìm thấy tượng Phật
Ðông Dương một trong những tác
phẩm điêu khắc đẹp nhất thuộc
trường phái Amaravati Ấn Ðộ. Ðiều
nầy cho thấy chính người Ấn Ðộ
đã truyền đạo Phật thẳng vào
Việt Nam chứ không phải từ Trung Hoa truyền
vào.
Theo
H.G. Quaritch Wales trong A. Newly Explored Route of Ancient Indian Cultural
Expansion Indian Art and Letters, các nhà truyền
giáo và thương nhân người Ấn
còn dùng những con đường vừa
thủy vừa bộ từ nam Ấn thay vì phải
qua eo biển Malacca về phía nam xa xôi họ
đã qua eo đất Kra và bán đảo Mã
Lai, họ có thể vượt mấy tiếng
đồng hồ đường bộ là có
thể từ biển Ấn Ðộ để vào
biển Mã Lai. Họ dùng thủy đạo
giữa Andaman và Nicobar, hoặc dùng thủy
đạo giữa Nicobar và Achin để đến
Kedah, tại những địa điểm nầy
các nhà khảo cổ đã tìm thấy
nhiều đồ vật cổ của nền văn minh
Ấn Ðộ. Họ tiếp tục đường
bộ nầy đến Thái Lan, Campuchia và
vào Viêt Nam.
Ðồng
thời những người Ấn phát xuất
từ Trung Ấn còn dùng tuyến
đường bộ quang qua đèo Hasse Des Trois
Pagodes, theo sông Kanburi xuống châu thổ sông
Menam, từ đó đến sông Mekong qua đất
Lào rồi vào Thanh Hóa, Nghệ An và
đến Luy Lâu của Giao Châu. Trên tuyến
đường nầy các nhà khảo cổ
cũng đã tìm được các cổ
vật của nền văn minh Ấn Ðộ và di
tích Phật Giáo.
Về
Thiền Tông nếu phân tích các văn
thơ thiền sớm nhất tại Việt
Trong sách Thuyền Uyển Tập Anh, có ghi
đoạn văn Thiền sư Tỳ Ni Ða Lưu Chi
gọi đệ tử Pháp Hiền bảo rằng:
"Ðại
phàm tâm ấn của chư Phật không
lừa dối ta. Tâm ấn tràn đầy như
thái hư, không thiếu, không thừa,
không đi, không tới, không được
không mất, chẳng một chẳng khác,
chẳng thường chẳng đoạ; vốn không
ở chỗ sinh, cũng không ở chỗ diệt,
không lìa xa mà cũng chẳng không
lìa xa vì phải đối lập các
nhân duyên hư vọng mà phải đặt
giả ra các tên như vậy. Cho nên chư Phật
ba đời đều do đó mà đắc
pháp, Tổ các đời cũng do đó
mà đắc pháp, ta cũng do đó mà
đắc pháp, ngươi cũng do đó
mà đắc pháp. Ðến như những
loài hữu tình hay vô tình cũng do
đó mà đắc pháp".
Ðó là tư tưởng Bát Nhã,
nếu ai đã từng nghiên cứu kinh Bát
Nhã đều rõ, như đối chiếu
với Bát Nhã Tâm Kinh ta cũng hiểu
được điều đó.
Theo K. Mukerji trong sách Indian Literature in China and the Far
East, ở Trung Hoa phải đợi đến đầu
thế kỷ thứ V, Cưu Ma La Thập (Kumarajiva)
đến Trung Hoa dịch kinh Bát Nhã và sau
đó mới có ảnh hưởng sâu
rộng của bộ kinh nầy. Trong khi đó bộ
Bát Thiên Tụng Bát Nhã (Astasahasrika) do
Khương Tăng Hội dịch tại Giao Châu
vào đầu thế kỷ III được
các nhà Phật học đánh giá
là bộ kinh từ Ấn Ðộ xuất hiện
xưa nhất trong toàn bộ văn hệ Bát
Nhã. Trong khi đó kinh Bát Nhã Damasahasrika
do Lokasema dịch tại Trung Quốc cuối đời
nhà Hán là bộ kinh xuất hiện chậm
hơn nhiều, có thể nói là vào
thời kỳ thứ hai của văn hệ Bát
Nhã tại Ấn Ðộ (tham khảo Jaidava Singh trong
sách An Introduction to Hadhyamaka (Trung luận) Philosophy).
Ðiều
nầy cho thấy bộ Bát Thiên Tụng Bát
Nhã do Khương Tăng Hội dịch ra chữ
Hán là do các Tăng sĩ từ Ấn
Ðộ trực tiếp đưa sang Giao Chỉ vào
thời điểm sớm hơn lúc dịch kinh
rất nhiều. Vì để có đủ
trình độ ngôn ngữ và kiến thức
về Bát Nhã để có thể dịch
kinh được, chắc chắn tại Giao Chỉ
phải có các viện nghiên cứu và giảng
dạy Phật Pháp nhất là về kinh Bát
Nhã và dạy tiếng Pali, Sanskrit do các
Tăng sĩ người Ấn giảng dạy.
Có nhiều lối giải thích về
nguyên nhân của sự truyền bá văn minh
và tôn giáo từ Ấn Ðộ ra các
nước chung quanh trong đó từ việc di
dân từ Ấn Ðộ ra nước ngoài
cũng là những nguyên nhân quan trọng.
Vào
những năm đầu công nguyên có
các cuộc xâm lăng của người Kushans
cũng có thể là nguyên nhân gây ra
những đợt di tản người Ấn ra
nước ngoài. Những người Ấn ra
nước ngoài đã truyền bá tôn
giáo và văn minh của họ cho dân
địa phương trên quê hương mới
đó là lẽ đương nhiên và
nó đã trở thành như vết dầu
loang dần dần rộng ra khắp các vùng
lân cận.
Thế
nhưng theo G. Coedes tác giả sách Histoire Ancienne
Des États Hindouisée d'Extrême Orient, 1944, thì
nguyên nhân sâu xa của sự bành
trướng nền văn minh và tôn giáo của
Ấn Ðộ trước công nguyên là kinh
tế, thương mại, sự giao dịch giữa
Viễn Ðông và Ðịa Trung Hải. Kế
đến là sự đông tiến của
Alexandre, sự thành lập triều đại Maurya,
sau đó là triều đại Kaniskha ở
Ấn Ðộ... Nhất là đế quốc La
Mã ở phương Tây đã kích
thích mạnh mẽ nền goại thương Ấn
Ðộ (tham khảo E.H. Warminton trong sách The Commerce
Between The Roman Empire and
Từ
những thế kỷ trước công nguyên
Ấn Ðộ vẫn mua được vàng ở
Xibêri đi bằng con đường xuyên qua
Bactriane nhưng từ thế kỷ thứ hai trước
công nguyên vì các đợt di dân
lớn ở Trung Á đã làm chướng
ngại con đường chuyên chở đó. Sau
đó họ chuyển hướng nhập vàng
từ La Mã thế nhưng chẳng bao lâu La
Mã không bán vàng ra nước ngoài
nữa nên Ấn Ðộ mới chuyển qua các
nước phía Ðông và lên tận Giao
Châu để mua những tiêu, quế, gỗ
trầm hương, vàng bạc và các
loại ngọc thạch. (Tham khảo sách Roman coins
found in India của R. Sewell, 1904).
Vì địa thế của Việt Nam nằm
trên trục giao thông từ Nam Á lên
Bắc Á và gần như nằm giữa các
nước Ðông Nam Á nên các tàu
buôn Ấn Ðộ theo gió Tây Nam lên
trước khi đến Trung Quốc họ phải
ghé qua Giao Châu như trạm dừng chân
để nghỉ ngơi cũng như học Hán
văn và làm quen với phong tục của
Việt Nam và Trung Hoa trước khi đi sâu
vào lục địa Trung Quốc.
Ðể có đủ những thương
phẩm kể trên cung ứng cho thị trường
rộng lớn ấy, các thương gia Ấn
phải theo gió mùa Tây
Những
thương gia Ấn Ðộ cố nhiên họ
không phải là những Tu sĩ Phật Giáo
nhưng vì đường đi quá xa và
lênh đênh trên biển cả lâu ngày
nên họ thường thờ và cầu nguyện
Ðức Quán Thế Âm (Avalokitedvara) Bồ
Tát và Ðức Phật Nhiên Ðăng
(Dipankara) để cầu che chở cho tai qua nạn
khỏi trên biển cả. Những người
Ấn Ðộ rất tin tưởng vào Ðức
Phật Nhiên Ðăng che chở cho họ khi họ
chí thành niệm danh hiệu của Ngài (Tham
khảo A. Fouchet trong sách Iconographie Bouddhique)
Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa có
những câu như sau: Trì niệm danh hiệu Quan
Âm Ðại Sĩ thì vào lửa dữ,
lửa ấy không đốt được, và
đó là thần lực của vị Ðại
Sĩ nầy. Nếu bị nước lớn cuốn
trôi mà trì niệm danh hiệu Quan Âm
Ðại Sĩ, thì tức khắc được
vào chỗ nước cạn. Trăm ngàn vạn
ức người, vì kiếm bạc, vàng,
lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ
phách, trân châu, và những thứ quí
báu khác..., phải ra biển cả; giả
sử bị trận gió lớn trong bầu trời u
ám thổi bạt thuyền tàu sa vào
đảo quốc la sát, trong những người
ấy đến nỗi chỉ có một
người trì niệm danh hiệu Quan Âm
Ðại Sĩ, những người ấy cũng
vẫn thoát được cái họa la sát.
Vì những lý do như vậy mà vị
Ðại Sĩ nầy có danh hiệu là Quán
Thế Âm".
Bởi lẽ những thương thuyền Ấn
Ðộ luôn luôn đem những tượng
Phật và Bồ Tát theo họ để thờ
phụng nên khi họ đến Giao Châu lưu
lại để chờ đến năm sau xuôi theo
gió Ðông Bắc trở về, trong khoảng
thời gian dài hăng năm đó họ
đã gây ảnh hưởng một cách
tự nhiên đến dân bản xứ Giao
Châu. Ngoài ra còn có một số
người đã định cư ở lại Giao
Châu làm ăn lấy vợ lấy chồng.
Những người Ấn đó đã là
những hạt nhân truyền bá Phật Giáo
tại Giao Châu trong thời kỳ phôi thai ban
đầu.
Ngoài ra cũng vì lý do cầu nguyện cho
tai qua nạn khỏi trên biển nước mênh
mông đầy sóng to gió lớn nguy hiểm
như vậy nên những thương gia người
Ấn thường mời một vài vị tu sĩ
Phật Giáo cùng đi trên thuyền với
họ để cầu nguyện. Chính những
vị tu sĩ Phật Giáo nầy đã lưu
lại Giao Châu và do những sinh hoạt tín
ngưỡng của họ đã dần dần
ảnh hưởng một cách tự nhiên
đến dân địa phương mà họ
có dịp tiếp xúc. Như thế là
Phật Giáo đã được thâm
nhập vào dân Việt
Sau
đó Phật Giáo từ Luy Lâu
được truyền sang Trung Quốc, từ Trung
Quốc truyền qua bán đảo Triều Tiên
và từ bán đảo nầy truyền qua
nhật Bản. (Tham khảo sách Trung Quốc Phật
Giáo Thông Sử của nhà sử học
Nhật Bản Kamata, Tokyo 1981).
C. Thời gian và sự hiện hữu của
Phật Giáo tại Việt
Hai
thế kỷ trước công nguyên các trung
tâm Phật Giáo tại miền duyên hải
Ðông
Phật
Giáo từ Ấn Ðộ được truyền
trực tiếp qua Việt Nam trước rồi sau
đó mới truyền qua Trung Quốc chứ
không phải Phật Giáo từ Trung Quốc
truyền qua Việt Nam như những sách cũ
đã ghi (Theo sách "Việt Nam Phật
Giáo Sử Luận, quyển I, của Nguyễn Lang,
1994).
Theo
sử gia Nhật Bản, ông Kamata, trong sách Trung
Quốc Phật Giáo Thông Sử, xuất bản
tại đại học Ðông Kinh năm 1981,
đã nhiều lần xác nhận rằng
Phật Giáo đã du nhập vào Trung Quốc
từ Việt Nam, có đoạn ông gọi
là Việt Nam, có đoạn gọi là Giao
Chỉ. Ðề cập đến Phật Giáo Giao
Chỉ tức là đề cập đến trung
tâm Phật Giáo tại Luy Lâu.
Do đâu mà có từ Luy Lâu ? Tiếng
Việt gọi là Dâu, tiếng Hán phiên
âm ra Luy Lâu còn gọi là Liên Lâu,
nằm ở trung tâm đồng bằng sông
Hồng nay là huyện Thuận Thành, tỉnh
Hà Bắc, Bắc Việt.
Ngày
xưa Việt
Về
địa thế, có nhiều đường
thủy bộ chạy ngang qua Luy Lâu khiến nơi
đây thành một trung tâm giao dịch rất
quan trọng. Có những đường bộ như
con đường đi Phả Lại, Ðông
Triều đến biên giới Việt Trung (nay
là đường số 18). Ðường thủy
từ Dâu nối sông Ðuống, sông Hồng
ra biển, hoặc nối với sông Lục
Ðầu, sông Thái Bình rồi ra biển.
Vì
địa thế thuận lợi cho việc giao thông
như thế nên Dâu là trung tâm
thương mại rất sầm uất đương
thời. Các thương gia Ấn Ðộ và
Trung Quốc đều đổ về đây
để mua bán các nông sản, lâm
sản, vải vóc và các hàng công
kỹ nghệ khác rất thạnh hành. Họ mua
hàng tại đây để đem về
nước hoặc trên đường buôn
bán tiếp tục qua các nước khác trong
vùng.
Luy
Lâu còn là trung tâm chính trị,
là thủ phủ của Giao Châu qua nhiều
thời đại của chính quyền đô
hộ từ phương Bắc. Thủ phủ nầy
có thể được xây dựng từ
thời Triệu Ðà, 179 năm trước công
nguyên. Sau khi nhà Hán chiếm được
Nam Việt của Triệu Ðà, họ vẫn giữ
nguyên Luy Lâu làm trị sở của Giao
Chỉ. Trong sách biên niên của nhà
Hán ghi 10 huyện của quận Giao Chỉ trong
đó Luy Lâu là đứng đầu.
Nhờ
vào vị thế như vậy nên chẳng
những các thương nhân mà các
vị Tu sĩ Phật Giáo Ấn Ðộ cũng
đến đây để truyền bá Phật
Giáo, học chữ Hán và dịch kinh
điển từ tiếng Phạn ra Hán văn
trước rồi mới tiếp tục công việc
công việc truyền bá dễ dàng hơn
để đi sâu vào lục địa Trung
Quốc.
Từ Luy Lâu Phật Giáo được lan truyền
ra khắp vùng đồng bằng sông Hồng,
và khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ
lúc bấy giờ. Phật Giáo đã tạo
cho Luy Lâu một phong tục tốt đẹp, một
hình ảnh thân thương mà dân
chúng nơi nầy rất tự hào không bao
giờ quên qua những câu ca dao như sau :
"Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mùng tám thì về hội
Dâu"
hay là
"Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp Dâu thì
về"
Như thế là Phật Giáo Luy Lâu
đã gắn liền với tín ngưỡng
dân gian, được dân gian hóa và phong
tục hóa. Nó thể hiện tâm lý
dân gian, thế giới quan và lòng mong
ước, tính hiền hòa của dân quê
vùng Dâu và cả vùng đồng bằng
Bắc Việt cho mãi đến ngày nay vẫn
giữ được nét đặc thù của
Phật Giáo dân gian.
Ngược về quá khứ lúc bấy
giờ tại Ấn Ðộ nhằm thời kỳ vua A
Dục (Asoka lên ngôi vào năm 273 trước
Tây lịch và làm vua được 37 năm,
theo Phật Giáo Từ Ðiển của Ðoàn
Trung Còn) bình phục được toàn
cõi Ấn Ðộ, đóng đô tại
Pâliputra, Ngài mời hàng ngàn vị
Thánh Tăng để lo việc kết tập Kinh
Luật Luận và cử nhiều phái
đoàn ra nước ngoài truyền đạo
đến các nước phương Tây,
phương Ðông cũng như vùng Ðông
Nam Á.
Sử
liệu Miến Ðiện có chép rằng,
một phái đoàn do hai Cao Tăng Uttara và
Sona đã đến Miến Ðiện để
truyền bá Ðạo Phật. Sử liệu Phật
Giáo Thái Lan cũng có ghi hai Cao Tăng
nói trên cũng đã qua Thái Lan
để truyền bá Ðạo Phật. Thế
nhưng hai Cao Tăng đó tiếp tục hành
trình đến Việt Nam và Trung Quốc hay
không, không thấy sử liệu nào ghi
lại.
Theo
sử liệu Trung Hoa có ghi rằng ở Giao Châu
tại thành Nê Lê (chính là Ðồ
Sơn hiện nay) có bảo tháp của vua A
Dục. Ðiều đó có thể nói
lên rằng Phật Giáo được truyền
trực tiếp từ Ấn Ðộ qua Việt Nam
rất sớm có thể vào thời vua A Dục
bên Ấn Ðộ.
Chúng ta vẫn biết rằng từ Bắc Ấn
Ðộ có những đường bộ có
thể qua Trung Quốc nhưng đến Lạc
Dương, Bành Thành và các thành
phố khác của Trung Quốc rất xa xôi,
đường đi qua núi non hiểm trở
đầy thú dữ và tiếp đến
phải qua những sa mạc mênh mông, mùa
hè rất nóng bức và mùa đông
thì băng giá cực lạnh, rất nguy hiểm
về nhiều mặt không tiện lợi cho việc
giao thương. Hơn nữa lúc bấy giờ
đi đường bộ chỉ có thể
dùng ngựa, do đó việc chuyên chở
hàng hóa không thuận tiện. Bởi
những lý do đó mà đường
bộ không được các thương
nhân và các Tu sĩ Phật Giáo sử
dụng.
Theo
George Coedes trong sách "Histoire ancienne des états
hindouisés d'Extrême Orient" viết rằng: Hầu
hết các vùng ở Ấn Ðộ đều
tham gia vào việc truyền bá nền văn minh
Ấn Ðộ ra ngoài lục địa Ấn,
nhưng phần tham gia lớn nhất thuộc về
vùng Nam Ấn.
Khi
nhìn vào bản đồ thế giới, ta
thấy rằng sự truyền bá trên phải
đi bằng đường biển mới có thể
đến Việt
Giáo
sư Louis De La Vallée Puossin trong sách "Dynasties et
histoire de l'Inde" viết rằng: Tất cả các
hải cảng vùng Ðông Ấn đều
có tham gia vào sự nghiệp chung truyền
bá nền văn minh Ấn Ðộ ra các
nước ngoài, nhưng các hải cảng
Cả
hai sử liệu trên đều cho ta thấy rằng
sự truyền bá nền văn minh Ấn Ðộ,
đương nhiên là trong đó có
cả Phật Giáo, ra các nước lân
cận phải là đường biển, có
nghĩa là Phật Giáo phải được
truyền vào Việt Nam trước rồi mới
vào Trung Quốc sau.
Vào thế kỷ thứ V có Pháp Hiển
và vào cuối thế kỷ thứ VII có
Nghĩa Tịnh của Trung Quốc đều lên
thuyền tại Tamralipti cũng gọi là Tamluk,
cửa sông Hằng để trở về Trung Hoa.
Như vậy không phải những thế kỷ
trước kỷ nguyên mà mãi về sau
đến thế kỷ thứ VII đường
biển vẫn là phương tiện giao thông
thuận lợi nhất từ Ấn Ðộ đi
Ðông Nam Á và lên đến Trung
Quốc.
Những điều kể trên nói lên
rằng sự truyền bá nền văn minh Ấn
trong đó có cả Phật Giáo
được truyền ra các nước lân
cận bằng đường biển thuận lợi
hơn là đường bộ. Như vậy
càng làm rõ nét hơn sự truyền
bá Phật Giáo từ Ấn Ðộ qua Việt
Trong sách "Lĩnh Nam Chích Quái"
có câu chuyện Ðồng Tử và Tiên
Dung như sau:
"Ðồng Tử và Tiên Dung lập phố
xá buôn bán, giao thiệp với nhiều
nhà buôn nước ngoài. Một hôm
Ðồng Tử theo một khách buôn ngoại
quốc đi bằng thuyền ra khỏi xứ. Họ
ghé lại một hòn núi tên là
Quỳnh Viên để lấy nước ngọt.
Dưới núi Quỳnh Viên, Ðồng Tử
gặp một nhà sư Ấn Ðộ ở trong
một túp lều. Nhà sư giảng cho
Ðồng Tử nghe, Ðồng Tử phát tâm
ở lại đảo để học đạo, giao
vàng cho bạn để bạn đi buôn dùm
mình, hẹn khi về thì ghé lại
đón cùng về. Khi về, Ðồng Tử
được nhà sư cho một cây gậy
và một nón lá, bảo rằng với
những vật nầy có thể làm phép
lạ. Sau khi về nước, Ðồng Tử giảng
Phật Pháp cho Tiên Dung nghe, cả hai đều
được giác ngộ, bỏ chuyện buôn
bán, tìm thầy học đạo...".
Trong câu chuyện trên thấy nói
đến khách buôn nước ngoài
đó là những người Ấn Ðộ.
Ðồng thời việc Ðồng Tử và
Tiên Dung bỏ nghề buôn bán để
tầm thầy học đạo cho thấy đạo
Phật rất được dân chúng mến
mộ. Câu chuyện càng làm sáng tỏ
thêm Phật Giáo được truyền bá
vào Việt
Trong
sách "Ngô Chí" có chép bức
thư của Viên Huy gửi cho thượng thư
lệnh Tuân Húc năm 207, trong đó có
đoạn khen Sĩ Nhiếp giữ gìn quận Giao
Châu được thái bình an ổn hơn 20
năm, và có đoạn viết: "Khi ra
vào thì đánh chuông khánh, uy nghi
đủ hết, kèn sáo thổi vang, xe ngựa
đầy đường, người Hồ đi
sát bánh xe đốt hương thường
có mấy mươi người...".
Người
Hồ tức là các vị sứ người
Ấn Ðộ, bấy giờ đã có nhiều
ở Giao Châu. Vì Sĩ Nhiếp rất sùng kính
đạo Phật nên trong những lễ lạc
đều có các sị sư bản xứ
và sư người Ấn Ðộ tham dự.
Theo Trần Văn Giáp,. tác giả sách
"Le Bouddhism En Annam Des Origines Au XIIIè Siècle"
có đề cập đến Mâu Tử là
người Trung Hoa trước theo Lão Giáo, sau
đó nhập tịch Giao Châu, theo đạo
Phật và học giáo lý Phật Giáo
tại Giao Châu. Sau đó ông viết sách
"Lý Hoặc Luận" (những luận lý
để làm tiêu tan các mối nghi hoặc
về Phật Giáo), là sách về Phật
Giáo sớm nhất tại Việt
Trong sách "Lý Hoặc Luận" của
Mâu Tử được viết vào thế
kỷ thứ II Tây lịch tại Giao Châu có
nói nhiều về Tăng Ni tại Giao Châu trong
đó có cả Tăng sĩ bản xứ
và Tăng sĩ nước ngoài và những
tệ trạng trong giới Tăng Ni như sau: "Sa
Môn ngày nay có kẻ lại thích uống
rượu ngon, có khi có vợ con, biết
cất giữ tiền bạc, của quí...".
Trong
đoạn văn trên cho ta những nhận xét
như sau: Trước tiên là từ "Sa
Môn". Theo thứ bậc của Tăng Ni Phật
Giáo khi xuất gia thọ 10 giới gọi là Sa
Di. Sau nhiều năm tu học có công hạnh,
rành rõi về Kinh Luật Luận Phật
Giáo và phải trên 20 tuổi mới có
thể thọ 250 giới để trở thành
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni phải thọ 348 giới. Sau khi thọ
Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni, mỗi năm phải nhập
hạ và liên tục tu học mấy mươi
năm sau và phải có đức hạnh
tốt, gương mẫu và thường là
trên 50 tuổi Giáo Hội mới suy tôn
lên hàng Thượng Tọa. Quí Thượng
Tọa tiếp tục đạo nghiệp, có
đức độ gương mẫu được
mọi người kính nể và thường
là trên 60 tuổi mới được Giáo
Hội lập ra giới đàn truyền giới
để suy tôn lên hàng Hòa Thượng
và cao hơn nữa là Ðại Lão Hòa
Thượng. Thường thì những Thượng
Tọa cao tuổi hoặc Hòa Thượng trở
lên mới được gọi là Sa Môn.
Thế nhưng không phải đạo Phật
truyền bá vào Việt
Như vậy nếu tính ngược thời gian
từ lúc Lý Hoặc Luận ra đời (theo
Paul Pelliot nói rằng Mâu Tử sinh vào
khoảng 165-170. Trong bài tựa Lý Hoặc
Luận, Mâu Tử nói vì thời ấy
tại Trung Quốc loạn lạc nên ông cùng
mẹ đến Giao Châu tỵ nạn, năm 26
tuổi lấy vợ. Theo Hồ Thích và Paul
Pelliot thì Lý Hoặc Luận được
viết vào cuối thế kỷ thứ II, nghĩa
là những mẩu chuyện về Phật Giáo
mà ông đã viết thuộc về thế
kỷ thứ hai và trước đó rất
lâu có thể phải tốn trên vài
trăm năm mới có đủ thời gian
đào tạo được những Sa Môn
như trong sách đã kể.
Ðiều
tiếp theo là Ðạo Phật phải có
mặt tại Giao Châu lâu lắm, có rất
nhiều chùa chiền và rất nhiều Tăng
Ni, sinh hoạt Phật Giáo cũng rất nhiều thế
hệ nên tín đồ Phật Tử lâu
ngày sinh ra lờn đi, xem thường các
vị Sa Môn, trong sự thờ ơ bất kính,
quên lãng của tín đồ, các sị
Sa Môn mới sinh tật như trong Lý Hoặc
Luận đã viết.
Theo
sử liệu trên ta có thể kết luận
rằng đạo Phật đã được
các Tu sĩ Ấn Ðộ truyền vào Việt
Nam chậm lắm phải là vào thế kỷ
trước công nguyên hoặc sớm hơn
mới sinh ra những hiện tượng tiêu cực
mà Mâu Tử đã đề cập
đến.
Trường hợp vị sư Khương Tăng
Hội (200-280). Theo sách "Việt Nam Phật
Giáo Sử Luận" quyển I, của Nguyễn
Lang từ trang 85, viết như sau:
"Cha
mẹ Tăng Hội người gốc Khương
Cư (Sogdiane) cư trú tại Giao Chỉ để
buôn bán. Tăng Hội chắc chắn là sinh
trên đất Giao Chỉ, cha mẹ ông mất
năm ông lên mười tuổi. Không biết
ai đã nuôi dạy Tăng Hội sau khi cha mẹ
ông mất, chỉ biết rằng lớn lên
ông đi xuất gia và tu học rất tinh
tiến (Cao Tăng Truyện). Ta cũng không biết
thầy của ông là ai và trong số
mười vị Tăng sĩ truyền giới cho
ông có vị nào là Tăng sĩ ngoại
quốc không. Ta chỉ biết ông giỏi cả
Phạn ngữ lẫn Hán tự. Trong các tác
phẩm của ông ta thấy có tập Nê
Hoàng Phạm Bối là một tập thi ca về
đề tài Niết Bàn tuyển dịch từ
những bài thi tụng Phạn Ngữ, Lục
Ðộ Tập Kinh của ông văn từ
điển nhã, chứng tỏ Hán văn của
ông không thua gì người Trung Hoa thời
ấy. Cố nhiên là sinh trưởng tại Giao
Châu ông phải nói thạo tiếng
nước ta.
"Sách
Cao Tăng Truyện nói rằng ông đến
Kiến Nghiệp thủ đô nước Ngô (nay
là Nam Kinh) vào năm Xích-Ô thứ mười,
tức là năm 247. Ông mất vào năm 280,
niên hiệu Thái Khương nguyên niên
đời nhà Tấn. Như vậy ông
đã ở trên đất Trung Hoa 33 năm.
Nhiều người cho rằng ông đã
trước tác và dịch thuật tại
đây, nhưng kỳ thực một phần quan
trọng của công việc nầy đã
được ông làm tại Giao Chỉ.
"Trong
bài tựa kinh An Bang Thủ Ý do ông viết,
ta thấy có một chứng cớ rõ rằng ông
đã viết bài tựa nầy trước
năm 229, nghĩa là hồi ông còn hành
đạo tại Giao Chỉ. Ðó là chi tiết
An Thế Cao, người đã dịch kinh An Bang
Thủ Ý: "Có vị Bồ Tát tên
là An Thanh, tự là Thế Cao, con đích
của vua nước An Tức, sau khi nhường
ngôi cho chú lánh nạn qua đất nầy,
sau bèn về ở Kinh Sư...". Kinh Sư ở
đây là Lạc Dương, chính ở
Lạc Dương mà An Thế Cao đã dịch
nhiều kinh vào hậu bán thế kỷ thứ
hai. Nếu bài tựa nầy viết sau năm 229,
tức năm Ngô Tôn Quyền xưng đế
thì Kinh Sư phải là Kiến Nghiệp chứ
không phải là Lạc Dương nữa. Bởi
vì sau ngày Tôn Quyền xưng đế,
nước ta đã nội thuộc Ðông
Ngô rồi mà không theo Bắc Ngụy.
"Chi
tiết quan trọng trên còn cho ta một dữ
kiện lịch sử nữa: Những cuốn kinh mà
An Thế Cao dịch tại Lạc Dương đã
được mang tới và lưu hành tại
Giao Chỉ trong thời gian Tăng Hội hành
đạo tại đây. Những kinh nầy ví
dụ như kinh An Bang Thủ Ý, đã
được mang xuống do những người
Phật tử Lạc Dương tới tỵ nạn
tại Giao Chỉ. Trong số những người
Phật tử nầy có Cư sĩ Trần Tuệ, học
trò của An Thế cao, người mà Tăng
Hội đã gặp và đã cùng
cộng tác để chú sớ kinh An Bang Thủ
Ý".
Sau
khi đọc những đoạn trên chúng ta
thấy rõ rằng những kinh mà An Thế Cao
dịch đã được lưu hành tại
Giao Châu và từ Giao Châu được
Phật tử đem đến Lạc Dương cho An
Thế Cao dịch. Ðiều đó một lần
nữa khẳng định rằng Phật Giáo
đã được truyền vào Việt
Trong
bài tựa kinh An Bang Thủ Ý, Khương Tăng
Hội viết: "Tôi sinh ra như dấu tích
cuối cùng, vừa mới đủ sức vác
củi thì mẹ cha đều mất, bậc Tam
Sư cũng viên tịch, nhìn lên mây
trời, buồn thấy mình thiếu người
chỉ dạy". Tam Sư tức là Hòa
Thượng, Yết Ma, Giáo Thọ ba chức vị
cao nhất trong giới đàn truyền giới cho
Tăng Ni và Phật tử như đã nói
phần trên.
Ðiều
nầy một lần nữa cho ta thấy rằng Phật
Giáo Việt
Theo
sách "Thiền Uyển Tập Anh Ngữ
Lục" (được soạn từ cuối thế
kỷ XI đến đầu thế kỷ XIII, khắc
in năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) truyện Quốc
Sư Thông Biện có nói về truyền
đạo Phật vào nước Việt Nam với
những chi tiết rằng: Nhân ngày rằm
tháng hai, mùa xuân năm Hội Phong thứ 5
(1096), Phù Thánh Cảm Linh Nhân Hoàng
Thái Hậu (tức Y Lan nguyên Phi, mẹ vua Lý
Nhân Tông, được phong làm Hoàng
Thái Hậu năm 1073) đến chùa thiết lễ
Trai Tăng. Trong khi đàm đạo bà hỏi
Thiền sư Trí Không (tức Quốc Sư
Thông Biên) về Ðạo Phật truyền
vào nước ta khi nào, nhà sư đã
dẫn lời sư Ðàm Thiên người Trung
Quốc trả lời Tùy Văn Ðế về
Phật Giáo Giao Châu như sau: "Xứ Giao
Châu có đường thông với Thiên
Trúc. Khi Phật Pháp mới đến Giang
Ðông chưa khắp thì ở Luy Lâu
đã có tới 20 bảo tháp, độ
được 500 vị Tăng và dịch
được 15 quyển kinh rồi. Như vậy
là Phật Giáo đã truyền đến
Giao Châu (Việt
Theo
sử liệu Lý Hoặc Luận ta có thể
hiểu rằng số kinh đã được
dịch tại Giao Châu rất nhiều chứ
không phải chỉ 15 quyển mà thôi.
Trong
Lý Hoặc Luận có đoạn:
"Người
ta hỏi Mâu Tử: Chân lý chí thật
thì thường không văn hoa, lời nói
chí lý thì không hoa hòe... cho nên châu
ngọc thì quý giá mà ngói vụn
thì đồ bỏ. Xưa thánh nhân chế
ra bảy kinh, văn từ không quá ba vạn
lời và không gì không đủ trong
từng ấy kinh văn. Ngày nay, chương
điển của Phật Giáo có tới
hàng ngàn, ngôn từ có tới hàng
ngàn ức, sức một người không
thể nào đọc hết được. Tôi
chán mà không muốn đọc".
Ðó
là sách được viết vào cuối
thế kỷ thứ hai có thể cho ta hình dung
được số lượng kinh điển
đã được dịch và lưu hành
tại Giao Châu thời bấy giờ rất nhiều.
Ðiều đó cũng cho ta thấy Phật
Giáo đã du nhập vào Giao Châu lâu
lắm, đã có nhiều Tăng sĩ, nhiều
học giả lắm mới có đủ thời gian
và trình độ dịch kinh nhiều đến
như thế như thế.
Những kinh mà An Thế Cao đã dịch
tại Lạc Dương là do Phật tử mang
từ Giao Châu đến đó là những
kinh gì ? Theo sử gia Nhật Bản Kamata. Trong
sách đã dẫn là Trung Quốc Phật
Giáo Thông Sử gồm có 35 bộ 41 quyển
như sau:
1. An Bang Thủ Ý kinh, 1 quyển
2. Ấm Trì Nhập kinh, 1 quyển
3. Bách Lục Thập Phẩm kinh, 1 quyển
4. Ðại Thập Nhi Môn kinh, 1 quyển
5. Tiểu Thập Nhi Môn kinh, 1 quyển
6. Ðại Ðạo Ðịa kinh, 2 quyển
7. Nhơn Bổn Dục Sanh kinh, 1 quyển
8. Ðạo Y Phát Hành kinh, 2 quyển
9. A Tỳ Ðàm Ngũ Pháp kinh, 1 quyển
10. Thất Pháp kinh, 1 quyển
11. Ngũ Pháp kinh, 1 quyển
12. Thập Pháp kinh, 2 quyển
13. Phổ Pháp Nghĩa kinh, 1 quyển
14. Nghĩa Quyết Luật kinh, 1 quyển
15. Lậu Phân Bố kinh, 1 quyển
16. Tứ Ðế kinh, 1 quyển
17. Thất Xứ Tam Quán kinh, 2 quyển
18. Cửu Hoàng kinh, 1 quyển
19. Bát Chánh Ðạo kinh, 1 quyển
20. Tạp Kinh Tứ Thập Tứ Biến, 2 quyển
21. Ngũ Thập Giảo Kế kinh, 2 quyển
22. Ðại An Bang kinh, 1 quyển
23. Tư Duy kinh, 1 quyển
24. Thập Nhị Nhơn Duyên kinh, 1 quyển
25. Ngũ Ấm Dụ kinh, 1 quyển
26. Chuyển Pháp Luân kinh, 1 quyển
27. Lưu Nhiếp kinh, 1 quyển
28. Thị Pháp Phi Pháp kinh, 1 quyển
29. Pháp Thọ Trần kinh, 1 quyển
30. Thập Tứ Ý kinh, 1 quyển
31. Bổn Tướng Y Trí kinh, 1 quyển
32. A Hàm Khẩu Giải, 1 quyển
33. A Tỳ Ðàm Cửu Thập Bác Kiết
kinh, 1 quyển
34. Thiền Hành Pháp Tưởng kinh, 1
quyển
35. Nan Ðề Ca La Việt kinh, 1 quyển.
Những sử liệu đã dẫn đủ
để cho chúng ta kết luận được rằng
các nhà sư Ấn Ðộ đã trực
tiếp đến nước Việt Nam để
truyền bá Phật Giáo và do đó trung
tâm Phật Giáo tại Luy Lâu đã
được thành lập, hiện nay còn
nhiều di tích trong đó có chùa Dâu
là một trong những trung tâm Phật Giáo
rất quan trọng trong những thế kỷ đầu
công.
Về
thời điểm du nhập của Phật Giáo
như trên đã nói chậm lắm phải
là trong thế kỷ trước công nguyên.
Sau đó Phật Giáo đã phát
triển khá phổ biến tại Luy Lâu và
những vùng lân cận.
TS.
Lâm Như Tạng