Ông Thầy Tu Của Cả Mọi Thời
Bài của
Andrea McQuillin
( Trích Việt Báo online : Mục tin Cộng đồng )
|

|
|
|
|
B́a Shambala tháng 3-2006.
|
|
|
H́nh
ảnh quen thuộc và đại chúng mà mọi
người thường biết về Thiền Sư
Thích Nhất Hạnh không nói lên được những
thành tựu mà thầy đă thực hiện như một
bậc đạo sư, như một học giả và
như một chiến sĩ xă thân cho ḥa b́nh và công bằng
xă hội.
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh thường
được các thiền sinh tu tập với
người gọi một cách thân thương “Thầy”.
Thầy là một đạo sư trực thuộc một
truyền thống đạo sư gồm nhiều thế
hệ đạo sư đă thành đạt. Năm
mười sáu tuổi, thầy đi xuất gia ở
một thiền viện ngoại ô thành phố Huế.
Thầy bổn sư của thầy thuộc thế
hệ thứ 41 ḍng thiền Lâm Tế . Thầy Thích
Nhất Hạnh thuộc thế hệ thứ 42 Ḍng Lâm
Tế và cũng là thế hệ thứ 8 phái Liễu Quán,
một phái thiền tiến bộ có ảnh hưởng
lớn ở Miền Trung Việt Nam.
Phật Giáo Việt Nam
có một lịch sử chuộng tinh thần dung hợp,
Thầy đă là một nhân tố rất tích cực cổ
xúy sự kết hợp về một mối nhiều
truyền thống khác nhau. Nhận thức của Thầy
được xiểng dương rơ ràng trong ḍng thiền
Tiếp Hiện, gồm có vừa tu sĩ vừa cư
sĩ do thầy thành lập từ năm 1966. Ḍng Thiền
này không chấp nhận thái độ giáo điều, trong
sự tu tập cũng như trong hành động. Ḍng
thiền này t́m đủ mọi hành động có thể
làm sống dậy và nuôi dưỡng tinh thần từ bi
và hiểu biểu biết thâm sâu trong sự sống
hằng ngày. Người thực tập theo Ḍng Tiếp
Hiện xem tinh thần từ bi và hiểu biết thâm sâu
quan trọng hơn bất cứ tổ chức, cơ
cấu hay truyền thống Phật Giáo nào.
Các Thầy, các Sư Cô và các Anh Chị trong Ḍng Thiền
Tiếp Hiện thực tập cần mẫn 14 giới
Tiếp Hiện - thường gọi 14 cách tu tập chánh
niệm mà Thiền Sư đă biên soạn năm 1966.
Mười bốn giới này được thai nghén và
chế tác trong thời gian chiến tranh Việt Nam và kinh
nghiệm kinh qua chiến tranh của thiền sư đă
là cột trụ của sự phát triển những phép tu
tập do thầy hướng dẫn cho những thiền
sinh đến với Người. Trong bốn mươi
năm đầu của đời Thầy, đất
nước Việt Nam hoàn toàn đắm ch́m trong cuộc
tranh chấp bằng vũ khí, trước nhất là
chống đối sự chiếm đóng của quân
đội Nhật, rồi cuộc chiến giành
độc lập để thoát khỏi ách đô hộ
của người Pháp và cuối cùng là cuộc chiến Việt
Nam có sự can thiệp của Hoa Kỳ. Thiền sư
Thích Nhất Hạnh đi Hoa Kỳ cuối năm 1961
để nghiên cứu về tôn giáo tỷ giáo và sau đó
được mời dạy tại Đại Học
Princeton và Columbia, New York Hoa Kỳ trong lúc có sự căng
thẳng lớn giữa chính quyền Thiên Chúa Giáo Ngô
Đ́nh Diệm và Phật Giáo Việt Nam. Đến năm
1964, theo lời yêu cầu của những bạn
đồng lư tưởng Thầy gấp rút trở về
lại Việt Nam
trong lúc chiến tranh có ṃi lan rộng. Cũng năm
nầy, thầy thành lập Trường Thanh Niên Phụng
Sự Xă Hội nhằm huấn luyện tu sĩ và cư
sĩ trẻ dấn thân đối phó với sự nghèo
đói, thất học và thiếu tổ chức ở nông
thôn, xây dựng lại những thôn làng bị chiến tranh
tàn phá, định cư những nạn nhân chiếc
cuộc, lập trường học, trạm y tế cho
những vùng nông thôn xa ở Việt Nam. Vào giữa năm
1970, trường Thanh niên Phụng Sự Xă Hội có
gần mươi ngàn người vừa tác viên, vừa
trợ tác viên, vừa cảm t́nh viên tự nguyện
đến hợp tác.
Thiền Sư Nhất Hạnh quả là người lănh
đạo của Đạo Bụt Dấn Thân ở
Việt Nam và đă đem Đạo Bụt Dấn Thân này
qua phương Tây nhưng Thầy luôn khiêm cung và bảo
rằng Thầy chỉ theo gương của vua Trần
Nhân Tông của thế kỷ 13. Ông vua này, sau khi
nhường ngôi cho con, đă đi tu và đă thành lập
Thiền Phái Trúc Lâm vẫn c̣n thịnh hành cho đến
ngày nay ở Việt Nam.
Giữa năm 1966 Thầy rời Việt Nam và đă
trực tiếp gửi cho Chính quyền Hoa Thịnh
Đốn tuyên ngôn kêu gọi Ḥa B́nh. Đi thuyết
giảng khắp Bắc Mỹ Châu, Âu Châu, Úc Châu và Á châu,
Thầy tŕnh bày t́nh trạng thảm khốc do chiến
tranh gây ra ở Việt Nam. Đó cũng là lần thầy
gặp tu sĩ Thomas Merton, ḍng Trappist Công giáo. Linh mục
đă gọi thầy là “người anh em của tôi” và
đó cũng là năm Thầy gặp Mục Sư Martin
Luther King Jr. . Tiến Sĩ Martin Luther King đă đề
nghị Giải Nobel Ḥa B́nh cho Thầy năm 1967 và trong
bức thư gửi Hội Đồng Giám Khảo giải
Nobel người viết: Tôi chưa thấy người
nào xứng đáng nhận giải Nobel Ḥa B́nh bằng ông
thầy tu tao nhă này, đến từ Việt Nam. Những
cái thấy của Người, nếu đem thực
hiện sẽ xây được cả thành quách lớn cho
Ḥa B́nh”. Nhưng Giải Nobel Ḥa B́nh chưa bao giờ
tới tay Người và những công tác cho Ḥa B́nh của
Thầy đă khiến cho cả hai phía chiến tranh từ
chối quyền trở về nước của Thầy,
trước nhất Việt Nam Cọng Ḥa rồi sau đó
Chính Quyền Cọng Sản.
Gần phân nửa đời, ông thầy tu tám mươi
tuổi Thích Nhất Hạnh đă bị sống lưu
đày ở phương Tây. Ban đầu thầy lập
Văn Pḥng ở Paris
cho đến giữa năm 1975. Sau đó Thầy về
Phương Vân Am (Nông Trại Khoai Lang) ở một
thời gian gần như ẩn tu, chỉ làm vườn,
thiền quán và viết lách- Sư Cô Chân Không, người
học tṛ trưởng đă từng phụ tá cho Thầy
trên 30 năm đă diễn tả thời gian này như là
thời gian khó khăn nhất cho Thiền Sư bởi v́
công việc viết lách và giảng dạy cho hằng triệu
độc giả đều ở trong nước, hàng
ngàn đệ tử của Thầy cũng đang ở
trong nước và hàng trăm công tŕnh văn hóa, xă hội
mà thầy hướng dẫn đều đang nằm
trong đất nước Việt Nam trong khi đó th́
Thầy lại bị lưu đày ở Phương Tây.
Nhưng thiền sinh Tây Phương bắt đầu t́m
đến với Thầy và cùng với Thầy giúp
đỡ bao nhiêu người tị nạn đă trốn
khỏi đất nước Việt Nam hậu chiến tranh
vừa độc tài vừa nghèo đói. Cuối năm 1982
Phương Vân Am đă trở nên quá nhỏ đối
với số người t́m đến muốn học
đạo với Thầy. Phương Vân Am phải
dời về Làng Mai với cơ sở rộng răi hơn,
tọa lạc ở Miền Tây Nam tỉnh Dordogne, Lot &
Garonne và Gironde và chính nơi đây Thầy vẫn c̣n
định cư cho tới bây giờ.
Ông Thầy tu này rất ít khi rảnh rang. Trong 30 năm qua
Thầy không ngớt hướng dẫn các khóa tu tập,
trị liệu cho cựu chiến binh Hoa Kỳ của
trận chiến Việt Nam, chữa bệnh tâm thần cho
họ, hướng dẫn tu tập cho những
người làm việc xă hội, cho những người
làm việc cho Ḥa B́nh, cho tù nhân, cho Công An Cảnh sát, cho
người Palestine và người Do Thái, cho thương
gia, cho Dân Biểu Quốc Hội và cho mọi thành phần
trong xă hội. Là một tác gia sáng tác rất nhiều sách, Thầy
đă viết hơn 60 cuốn sách gồm cả những
cuốn giáo khoa căn bản về chánh niệm. Thầy
cũng là tác giả những sách rất uyên bác về
lịch sử Phật Giáo Việt Nam, về A T́ Đàm, Duy
Thức Học...(Triết Học Phật giáo và Tâm lư
học Phật giáo) về Giới Luật (Giới Tỳ
Kheo và Tỳ Kheo Ni tân tu) về Phật Giáo Tịnh
Độ. Thầy đă thành lập những trung tâm tu
học rất lớn ở tiểu bang California và tiểu
bang Vermont cùng hằng trăm tăng thân tu tập cùng
khắp Bắc Mỹ Châu, hằng trăm tăng thân ở
Âu Châu, Úc Châu và Á châu với tên là Cộng Đồng Tu
Tập Chánh Niệm.
Đầu năm 2005, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
được về nước sau gần 40 năm
lưu đày với một phần nhỏ gia đ́nh tâm
linh của Thầy gồm 100 tu sĩ và 90 cận sự nam
và nữ thuộc trên bốn mươi quốc gia. Đúng
như mọi người vẫn chờ đợi,
Thầy mời các đệ tử Tây Phương cùng
đi với Thầy trong chuyến hành hương ba tháng
đó. Thầy nói: “Tôi mong các bạn cùng đi Việt Nam với tôi có thể hiến
tặng cho Việt Nam
năng lượng thực tập cao nhất của các
bạn về niệm, về định và về tuệ.
Đó là phẩm vật quư nhất mà tôi có thể cúng
dường cho tổ tiên và cho đất nước tôi
sau 39 năm vắng mặt.” Và cũng đúng như
mọi người chờ đợi, rất nhiều sinh
hoạt của Thầy – ví dụ trong đó có những khóa
tu cho tăng ni kéo dài cả tuần lễ, và trong thời
gian này lần đầu tiên quư thầy và quư sư cô đă
có dịp ngồi lại với nhau để chia sẻ
sự tu học - để khai thông được t́nh
trạng ứ đọng và đem các phe chống
đối đến ngồi lại với nhau để
cùng sinh hoạt và tụng giới chung.