|
Truyện ngắn :
OAN HỒN
Thủy
Lâm Synh
Cơn mưa
giông vừa tạnh, chỉ còn lác đác vài hạt thật nhẹ. Xa xa, những
tia chớp lóe lên làm sáng rõ ngọn tháp giáo đường. Giờ nầy mọi
người trong xóm Xuân Bình đã say ngủ. Khuya lắm rồi, dễ chừng
cũng sau nửa đêm. Lão Doanh, bước ra sân quẹo qua phía hè sau,
nơi có ba tấm ván dựng thành hình chữ U chứa một đống tro, vắn
quần lên tiểu.
“Cho tôi miếng
nước...có ai cho tôi miếng nước...trời ơi, tôi khát quá, chết
mất...”
Trong bóng đêm
dày đặc, lão Doanh rùng mình ngơ ngát, lão nói thầm trong bụng:
“Giờ nầy ai còn
xin nước?”
Lại tiếng kêu:
“Cho tôi xin
miếng nước...có ai cho tôi miếng nước...trời ơi...”
Tiếng than lúc
nầy gần lắm, the thé lạ kỳ, khiến người nghe nổi da gà. Lão
Doanh ráng sức tiểu cho lẹ, chưa đã, nhưng lão đành cầm ...lắc
lắc thật nhanh, thả ống quần ngủ xuống, vội chạy vào nhà, đóng
sầm cửa lại. Tiếng xin nước lúc nửa đêm làm toàn thân lão Doanh
ớn lạnh. Sực nhớ câu nói của cha Luông: “Chúa đã từng làm phép
đuổi quỷ nhập vào đàn heo để cứu người đàn bà ...”. Lão Doanh mò
tìm chiếc hộp quẹt đốt đèn, đến bàn thờ cầm cây thánh giá, tròng
xâu chuỗi vào cổ mở cửa bước ra sân. Lão Doanh cầm thật chắc
cây thánh giá làm như thể nó vụt bay đi. Lão đưa lên trời, đọc
một hồi kinh Lạy Cha cho đến đoạn cuối ...nhưng cứu chúng con
cho khỏi sự dữ...Amen. Lão cố đọc lớn câu sau cùng nhiều lần.
“Quớc, quớc”
Lão Doanh giật
bắn mình, một con quạ đâu đó kêu hai tiếng, vỗ cánh sà xuống
ngang trước mặt lão rồi vụt bay đi. Lóng ngóng vài giây, tiếng
kêu xin nước không còn nữa... “như vậy là tốt lắm rồi”, lão
Doanh nghĩ như thế và tự cho mình hưởng cái quyền an ninh. Có
thể sau khi đọc kinh, hồn ma được nhập vào con quạ và Chúa đã
đem nó đi trấn nước rồi, miệng lão càm ràm, khinh miệt: “ma với
cỏ” rồi quày quả bước vô nhà, đóng cửa. Đặt cây thánh giá vào
chỗ cũ, cởi xâu chuỗi tròng hai bận vào nó, lão Doanh bưng chiếc
đèn hột vịt lên gần miệng thổi cái phụt, để lại xuống bàn. Lòng
đôi dép Nhựt dính cát, lão co hai bàn chân xát vào nhau vài lần
cho sạch trước khi nằm trở lại.
Độ tàn điếu
thuốc, trí lão Doanh
chưa hết bàng
hoàng, trong mùng, mắt lão vẫn còn thao láo với màu đen quánh
xung quanh. Bỗng tiếng bước chân của ai mỗi lúc nghe một gần.
Tiếng chân ngừng hẳn, mấy con gà phát hiện có bóng người la
toáng lên, đập cánh đành đạch như muốn phóng ra khỏi chuồng. Lão
Doanh ngồi phắt dậy đi đến cửa sổ nhìn ra vì đinh ninh có kẻ
trộm. Một tia chớp lóe lên, lão Doanh giật bắn người, lạnh toát
xương sống; dáng một người đàn bà gầy đé, đầu bù xù, một mớ tóc
phủ xuống gương mặt xanh dờn như tàu lá chuối non mà lão chỉ
cách bà ta có mấy song cửa sổ.
Người kia cất
tiếng gọi:
“Cho tui xin
miếng nước... cho tui xin... xin nước”
Tiếng nói đứt
quảng và mang âm thanh cực kỳ rùng rợn. Lúc nầy hồn vía lão
Doanh lên mây. Lão á khẩu phóng lại bộ phản lăn tuốt vào góc
trùm mền kín mít. Bà vợ nằm trên chõng tre kê gần bếp, chưa tỉnh
ngủ hẳn, nghe thấy tiếng kêu bên ngoài sợ quá đái vãi ra quần,
nhào qua phòng thằng Thế, đứa con đang ngủ chung với vợ mới cưới.
Bà nhào lên giường chen vào giữa hai vợ chồng nó làm chúng giật
mình thức giấc hỏi dồn:
“Chuyện gì vậy,
có chuyện gì...?”
“...mờ...mờ...ma...”
Bà Doanh trả
lời ú ớ, hai hàm răng gõ vào nhau nghe lộp cộp. Một góc của
chiếc mùng bị đứt dây, phủ xuống làm Thế quờ quạng một lúc mới
hất được mùng chui ra. Lúc nầy nó đã nghe tiếng kêu xin nước bên
ngoài vọng vào làm tim nó cũng đập thình thịch.
Nãy giờ toàn
thân lão Doanh nằm co quắp như con tôm. Tất cả vốn liếng kinh,
kệ lão nhớ câu nào đọc câu đó, không đầu không đuôi. Lão sờ lên
cổ để tìm xâu chuỗi hộ mạng, nhưng chợt nhớ ra đã treo nó lên
cây thánh giá rồi. Trong nhà lão Doanh ai nấy đều run. Thằng
Thế làm bạo rón rén xuống nhà bếp lấy cái rựa, nó không biết lấy
rựa để làm gì, chặt ma ư? Nó không có ý định ấy, nhưng nghe nói
ma sợ sắt biết có đúng không? Cái rựa không nằm ở vị trí thường
lệ, nó mò mẫm trong bóng đêm, bàn tay phải giong ruổi huơ vào
lưỡi dao, nó thấy rát biết vừa bị đứt. Thế lấy bàn tay trái bóp
mạnh vào vết thương cho cầm máu.
Bên ngoài tiếng
xin nước và tiếng móng tay cào lên cánh cửa bằng tole cứ chốc
chốc xoáy vào nghe cực kỳ rùng rợn. Thục và mẹ chồng vốn chưa
thân nhau lắm, thế mà đêm nay, Thục ltrùm mền quá đầu quay mặt
vào vách run như người bị sốt rét nặng thì sau lưng mẹ chồng
cũng ôm chặt lấy vai nàng mà run. Một đêm hãi hùng không tả trùm
xuống nhà lão Doanh, một ngôi nhà lẽ loi cách ly xóm đạo Xuân
Bình mấy trăm thước.
Nói cho đúng lão Doanh có
người con trưởng tên Gia hiện đang làm việc gì đó trên cơ quan
phường Tân Giao. Gia nghĩ mình có quyền nên thấy khoảng đất
trống sau khi ai đó hốt cốt mấy ngôi mộ liền nhau, hắn mướn thợ
cất lên ngôi nhà cho cha mẹ và hai vợ chồng đứa em mới lấy vợ
dọn vào. Còn riêng Gia thì chính quyền đã cấp phát cho căn hộ
tịch thu của một gia đình vượt biên để lại trong cư xá Thống
Nhất. So bán kính, nhà lão Doanh nằm gần nghĩa địa công giáo hơn
là xóm đạo Xuân Bình.
Khoan nói đến
tiếng con ma thỉnh thoảng kêu than xin nước uống mà người ta đồn
đãi bấy lâu, nay nhà lão Doanh mới biết là có thật. Tiếng gió về
đêm thổi mấy cây dương liễu trồng xung quanh nghĩa trang lúc cao
vút, lúc ngừng hẳn rồi trầm trầm trước khi hú lên như một cơn
suyễn nặng, cộng với tiếng chó tru dài khan khan đâu đó, tự nó
đã tạo lên những âm giai ma quái đến rợn người.
Nghe nói có
ma, năm ba thanh niên trong nhóm Thánh thể hiếu kỳ, đem dao, gậy
và dĩ nhiên là cây thánh giá to tướng ra nghĩa trang căng mùng
nằm chờ. Nhưng lạ lắm, những đêm trăng thanh gió mát hoặc trời
khô ráo, không mưa thì lại chưa bao giờ nghe thấy tiếng ma xin
nước. Chỉ có khi nào sau cơn mưa vào lúc nửa đêm thì tiếng kêu
xin nước lại xuất hiện. Việc nầy khiến nhiều người
đoán mò
rằng, trời hành không cho nó uống nước, nên thấy nước nó thèm.
Câu chuyện ma
xin nước đã tạo cho dân địa phương truyền miệng nhau nhiều huyền
thoại. Trong ấy có chuyện một người đàn bà chửa, còn rất trẻ,
xin ăn lang thang trên khắp nẻo đường trong thị xã Cam Phương.
Cô ta không có nhà cửa, tối đến thì đụng đâu quấn mền đó. Người
ta gặp cô ở những góc phố, trong lều chợ, hè trường học, trạm xe
búyt v.v... không ai biết chỗ nào chắc chắn.
“Khó khăn như
thế thì chửa với đẻ làm chi cho phiền.” - Ông đi qua, bà đi lại
khó tánh bàn tán như thế.”
Nhưng những suy
nghĩ rộng lượng hơn thì cho rằng con người là một tổng hợp của
hỷ nộ ái ố – có thể sau một bữa ăn no, người ta có quyền nghĩ
đến một chút thoải mái bằng phương tiện sẵn có. Người kể chuyện
còn cả quyết tiếng xin nước ấy chính là hồn ma chị Thơm, chị đã
tự tử trong khám nhân lúc Việt Nam có tổ chức Sea Game năm 2003.
Chính quyền
muốn cho thế giới thấy vẻ lành mạnh, văn minh của xã hội nên đã
mạnh tay với những người ăn mày khắp cả nước. Không ngờ như mặt
trái sần sùi của tấm huy chương, chỉ thị lại ảnh hưởng đến số
phận người đàn bà khốn khổ. Chắc buồn lòng thế nào đó mà chị
Thương treo cổ tự tử. Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột –
giới chức địa phương không ai buồn điều tra vụ người ăn mày tại
sao chết. Hơn nữa, thiên hạ có thói quen cho rằng, người ăn mày
vốn trên đời đã bất hạnh, chết đi biết đâu không là một giải
thoát khỏi cảnh đọa đày do cơm áo gây nên.
Không phải
ngẫu nhiên mà ông bõ già của nhà thờ Xuân Bình được nhắn vào
phòng giam nhận xác chị Thơm về chôn. Nguyên anh Gia, làm việc
trong phường Tân Giao lúc nầy mới theo công giáo. Mỗi tuần anh
về nhà thờ xưng tội, xin lễ rất đều đặn, nên càng quen thân với
tín hữu, quen với bõ già. Cha xứ trở nên thân thiện với người có
quyền chức thấy rõ. Sau lễ có khi Gia ở lại la cà nói chuyện
thân tình với cha. Khi về Gia thường khuân theo các thứ quà cớm
thặng dư do giáo dân mang tới biếu cho cha, đại khái như kết bia,
vài chai rượu lễ, thùng nước ngọt, tá áo thun v.v...Thứ gì Gia
cũng dễ dãi nhận cho cha vui. Thật ra tặng người cán bộ mấy thứ
dư dùng cũng có cái lợi – thứ nhất, bất cứ những lỗi lầm nào từ
việc lái xe cán chết người, chở ba, xe lậu, đánh lộn...của con
chiên Xuân Bình bị bắt về đồn, chỉ cần cha nói một tiếng là mọi
việc đều yên. Thứ nhì, tội gì không làm quen với những người có
quyền, họ là thành phần truyền đạo tốt. Tiếng nói của họ mạnh
gấp trăm lần mấy ông biện trong giáo xứ gởi ra ngoài gõ cửa
những người lương chung quanh để mở mang “xóm” Chúa.
Trước khi bõ
già đi nhận xác người ăn mày, họ đạo Xuân Bình mở một phiên họp
bàn xem nên chôn người ấy ở đâu. Hai phần ba số người dự phiên
họp đều không tán đồng cho người ăn mày nằm trong khu nghĩa
trang công giáo vì họ cho rằng sẽ làm ô uế những linh hồn thánh
thiện đang nằm chờ sự trở lại của Chúa Giêsu trong ngày tận thế.
Bõ già buộc phải tìm một rẻo đất bên ngoài mà chôn người ăn mày.
Ông cắm lên ấy cây thập giá tự chế với hi vọng tình thương Thiên
Chúa sẽ ngó ngàng cho con người bạc mệnh. Công việc mai táng
hoàn tất, nhưng có một điều chưa bao giờ hoàn tất là hồn ma chị
Thơm. Thỉnh thoảng bõ nằm chiêm bao thấy bóng chị Thơm đi vào
nhà thờ xin nước. Ông thì không tin chuyện ma quái vì đã có niềm
tin mãnh liệt vào Thiên Chúa. Nhưng lạ quá, không tin là một
việc, nhưng chiêm bao cứ đến khuấy bõ lại là việc khác. Đôi khi
bõ đâm ra hối hận vì đã trót nhận xác chị Thơm về chôn, biết đâu
con ma nó lại không theo bõ suốt đời. Sau bao nhiêu lần chiêm
bao thấy chị Thơm về báo, bõ già không biết làm gì khác bèn đem
tự sự trình lên cha xứ. Cha Luông nói với bõ là từ nay đừng bao
giờ nhắc đến chuyện hoang đường ấy nữa, cha không muốn nghe. Bõ
riu ríu cáo từ, trong thâm tâm ông cứ băn khoăn về những điềm
chiêm bao kỳ lạ. Mới đêm kia đây thôi, vừa đặt lưng xuống giường
là bõ đã ngủ khì, trong giấc mơ ông thấy chị Thơm về đứng ngoài
cửa sổ nói với ông như thế nầy:
“Tôi là người con gái mồ côi
từ nhỏ, sống bằng tình thương của bá tánh. Mười tháng trước đây,
nhân dính vào vụ bán vé số giả, tôi bị công an thị xã bắt nhốt.
Trong đêm mưa tầm tả, không còn ai ở cơ quan, Gia - một tên cán
bộ đã vào nhà giam giở trò sàm sở, dùng sức mạnh cưỡng hiếp tôi.
Hắn đã cướp đi sự trong trắng của tôi, làm cho tôi mang
bầu, dẫn đến cuộc sống khốn khổ tôi
phải đi xin ăn. Thời gian mấy tháng sau, trong đợt Sea Game, nhà
nước muốn che đậy bộ mặt nghèo đói của xã hội. Tôi lại bị bắt
khi sắp sinh con. Gia muốn che giấu hành động bỉ ổi nên đã vào
nhà giam lấy dây siết cổ tôi rồi tạo cho hiện trường được nhìn
như một vụ tự tử. Tôi thật sự bị giết, tôi muốn kêu oan”.
“Maria lạy Chúa
tôi”! cơn ác mộng hãi hùng, bõ già choàng tỉnh giấc, mồ hôi vã
ra như tắm.
Ngày Chủ Nhật sau đó, bõ chăm
chú nhìn Gia đang quỳ dưới hàng ghế cuối. Mặt Gia toát ra đường
nét ác độc, đê hèn một cách đáng ghét. Thế mà không biết tại
sao từ ngày hắn vào đạo, cha Luông xem hắn như một tín hữu thân
cận. Nhiều khi hai người nói chuyện riêng hàng giờ trong phòng,
sau đó khi về hắn còn chở theo những thùng quà nặng trĩu khiến
bõ già tiếc hùi hụi. Đôi khi làm việc ngoài vườn khát khô cả cổ,
bõ muốn vào nhà kho chôm lon nước ngọt, khui ra tu một hơi cho
đã nhưng sợ mang tội ăn cắp.
Từ ngày hồn ma
báo mộng, bõ rất ghét bộ mặt đạo đức giả của Gia. Càng gai mắt
hơn khi hắn khúm núm quỳ dưới chân Chúa nhân từ và nhận những
chiếc bánh Thánh vô nhiễm. Cũng có thể hắn hối hận chăng? Bõ già
nghĩ như vậy. Nhưng không, một hôm bõ vô tình đứng ngoài cửa
nghe mẫu chuyện giữa cha xứ và hắn.
“Thưa cha đạo mình khi rửa
tội là tất cả tội lỗi đều được Chúa tha hết phải không cha?”
Tiếng cha Luông:
“Giáo hội dạy thì như vậy,
nhưng đừng lý tưởng hóa nó.”
“Nghĩa là sao
con chưa hiểu.”
“Nghĩa là nói
thì như vậy nhưng muốn được tha tội, không phải chỉ có rửa mà
còn phải thật sự ăn năn, nếu không ăn năn thì dầu có rửa hết
nước một sông cũng không thể nào sạch tội.” Câu chuyện giữa cha
xứ và Gia bõ già nghe có thế, nhưng bõ chợt hiểu rằng Gia theo
đạo vì hắn muốn cha rửa cho hết tội do hắn gây ra. Bên trong có
tiếng đẩy ghế và tiếng Gia cáo từ, bõ già vội bước nhanh ra sân
làm bộ lom khom tưới hoa.
Đêm nay trời
cũng hâm hấp nóng, khuya lắm rồi mà bõ chưa ngủ được. Nhìn ra
cửa sổ bóng trăng lờ mờ, bõ chợt trông thấy một bóng người đi
tới, đi lui, bõ bất giác hỏi:
“Ai đó ?”
Tiếng nói như bị
nghẽn trong cổ họng, bóng người trả lời:
“Tôi đây, tôi là
Thơm, người được ông nhận về chôn mấy tháng trước.”
Bõ giật thót
người, trong bụng nhũ thầm, “ma” nhưng không hiểu sao bõ không
thấy sợ hãi chút nào, bõ hỏi:
“Cô đến đây có
việc gì?”
“Ông đã chôn xác
xác tôi, chắc ông biết không phải tôi tự tử”
“Tôi có hồ nghi
như thế?
“Đúng lắm”
Khi bóng chị
Thơm đến vịn hai tay vào song cửa sổ, một luồng gió mát lạnh hắt
vào, người bõ bắt đầu run, tất cả đều lờ mờ. Trí bõ già nhớ lại
hôm nhận xác gương mặt chị Thơm trắng bạch như người chết đuối,
hai con mắt trợn dộc và hai bên mép chảy xuống hai vệt máu khô
quánh. Ông lạnh người thụt lùi vào trong, lấy can đảm hỏi:
“Tại sao cô lại
đến đây mà không đến chỗ khác?”
Bóng ma trả lời:
“Tại vì ông là
một con người tử thế, có lòng thương người nên tôi đến nhờ ông”.
Trong bóng đêm,
bõ già trầm ngâm một giây hỏi:
“Cô nhờ tôi làm
việc gì?
“Ông cầu siêu
cho tôi đi tái sinh, nếu không tôi sẽ vất vưởng ở đây mãi”
“Tôi không tin
vào việc con người chết rồi có thể tái sinh”
Bóng ma xác
quyết:
“Lúc còn sống,
tôi cũng không biết và cũng không ai nói cho tôi biết về việc
con người sau khi chết, phần hồn còn đi tái sinh. Khi chết rồi,
hồn tôi lang thang khắp nơi, đã gặp nhiều vong hồn và tiếp xúc
với người cõi âm nên mới hiểu.
Bõ già chống
chế:
“Nhưng tín lý
của tôi không tin việc ấy là thật.”
“Đây là quy luật
luân hồi tự nhiên trong vũ trụ, không dính dáng gì đến tín lý
nào cả”
“Như vậy thì tôi
làm gì?”
“Ông mua cho
được 49 con chim, 49 con cá.”
“Cô biểu tôi nấu
cách sao hai thứ ấy?”
“Không, loài vật
cũng tham sống sợ chết như người. Hai loại chim và cá ông mua
khi chúng còn sống, ông đem ra mộ của tôi với lòng thành khẩn,
ông chỉ nói như thế nầy: ‘98 mạng sống nầy được tự do kể từ hôm
nay, để cầu cho vong linh Văn Thị Thơm sinh ngày 16 tháng 3 năm
1980 được đầu thai hóa kiếp’. Sau đó ông thả chim bay lên trời,
cá thả xuống sông cho chúng tự do, gọi là phóng sinh”.
Bõ già phân vân
hỏi:
“Làm sao tôi có
nhiều tiền như thế?
“Ngày mai, sẽ có
người đem tiền tới cho ông”. Sau câu nói ấy, bóng ma ngoài cửa
biến mất.
Bõ già níu kéo:
“B...bao giờ thì
tôi làm việc ấy”
Không thấy bóng
ma trả lời. Bõ già khệnh khạng bước đến giường, vừa nằm, vừa lần
chuỗi mân côi.
Sáng hôm sau, khi quét lá
trước ngõ, lòng bõ già hoang mang vô hạn. Một gã xe ôm chạy xe
vào sân, hắn nói có người gởi tiền nầy cho ông, gã xe ôm vụt
biến ra khỏi ngõ, bõ già không kịp hỏi một câu, ông lấy thư bọc
vào túi, cài ghim cẩn thận, dự trù thực hiện lời hứa.
Tiếng xe cha Luông vừa về tới:
“Bõ ơi! Ra đây phụ cha một
tay khuân mấy bình hoa đặt lên bàn thờ. Nhà cụ Doanh vừa mua hoa
đem tới để xin lễ cầu hồn cho anh Phạm Oan Gia. Cụ Doanh nói đêm
qua anh Gia uống rượu say, chạy xe tung gãy cột đèn phụ ngay hẻm
số 35. Trụ đèn ngã, dây chằng cột điện quấn vào cổ anh ấy tắt
thở tại chỗ”
Bõ già thảng thốt kêu lên:
“Maria, Giê-su
lạy Chúa tôi”
Bõ cùng cha
Luông đưa hoa vào nhà nguyện. Cha Luông trở ra lấy xe gắn máy
đi chở thầy phó tế rồi cùng chạy lên nhà lão Doanh xem có thể
giúp được gì cho một gia đình tân tòng. Bõ ngồi môt mình nhìn
sâu lên tượng Đức Mẹ, lòng chưa hết bàng hoàng, ông nhũ thầm:
“Luân hồi, tái
sinh, phóng sinh...” những cụm từ xa lạ tưởng như mơ hồ, sao nay
cứ lẫn quẩn đâu đây như một luồng gió nhẹ vừa thổi đến trong đêm
hè oi bức.
TLS
Apr. 6, 2008
|