(Gởi
Nguyễn thị Hạnh, bây giờ bạn ở đâu?) - Còn nhớ…Chiều chủ
nhật hôm đó, anh Dũng nói. Hôm nay em không học đàn bài Ngọc
Lan của Dương thiệu Tước nữa phải không, vậy mình lên nhà Hạ
đi...
Thông
thường chủ nhật anh Dũng hay tụ tập nhóm “Cái bang” của anh
ấy trong căn phòng rộng của anh ở đằng sau, để đàn hát và…nhậu
nhẹt, hiền lành thôi. Hôm nay anh lại rủ Dung lên nhà Hạ
chẳng phải để đàn hát thì là gì. Dung đồng ý, tự nhủ không
biết Y Nhu có hay mình đến nhà Hạ chơi không, hay nó lại tủi
thân. Trót nhận lời anh rồi, ngày nào không gặp nhau trên
lớp chứ, thôi tuần sau vậy. Đi đường Hòa Bình, rẽ vào một
con hẻm sâu và rộng; nhà Hạ nằm trong một khu vườn xanh um
cây trái, nhiều nhất là sapotier. Những cây sapotier đang
còn tơ, cho trái rất nhiều, lá cây rất xanh. Nhờ thế căn
phòng choán một phần ba tòa nhà( cha Hạ xây cho con gái dạy
đàn) luôn nằm trong bóng râm của khu vườn. Phòng treo đầy
các lọai đàn, đàn guitar, đàn măng đô lin, đàn tranh…Cây đàn
piano nằm trong góc. Trong chương trình ca nhạc của đài
Truyền hình Huế thời bấy giờ Hạ, Diệu Mi là hai ca sĩ chính.
Thật bất ngờ, Hạ và Y Nhu bước ra cùng một lúc. Hạ nói gần
như reo:
-
Anh Dũng! Hôm nay hai anh em không hòa đàn sao, lại lên thăm
Hạ?
-
Ờ, con Dung học bài Ngọc Lan của Dương thiệu Tước xong chưa
anh Dũng? Y Nhu hỏi.
-
Xong rồi, học chi nữa. anh Dũng cười đáp. Cả bốn kéo nhau
vào phòng, Hạ dọn rượu sapotier. Thứ rượu mùi lâu ngày, có
khi để quên cả năm do mẹ Hạ làm. Cha mẹ Hạ đều là người Bắc
sống ở Huế lâu năm, nhiễm đậm tập tục của người Huế, song
cách làm rượu sapotier thì do mẹ Hạ nghĩ ra.
- Cho anh
uống rượu lỡ say sao Hạ? anh Dũng vừa nhấp một ngụm rượu
dịu, nồng và ngọt trong cổ, thứ rượu này ngon không thua chi
rượu nếp ở nhà cất. Tuy nhiên mỗi thứ ngon một cách khác
nhau. Ngồi bên cạnh anh Dũng, Hạ trông nhỏ bé với mái tóc
dài ngang lưng. Y Nhu thì tóc ngắn ngang vai, dáng ngổ ngáo,
người thấp nhỏ bên cạnh một Thùy Dung nhỏ nhắn thanh mảnh
với mái tóc demigarcon nhí nhảnh đáng yêu. Sau khi chào ba
má Hạ, họ bắt đầu cuộc hòa đàn. Anh Dũng ngồi vào dương cầm
còn Hạ bắt đầu hát với cây guitar trên tay. Hạ nói không có
cây đàn trong tay Hạ không hát được. Y Nhu và Thùy Dung hát
nhẹ theo. Trong khi hát, Dung không ngớt nhìn ra ngoài cửa
sổ, chăm chăm những ngọn lá sapotier thon thon hình thuyền
rung rinh trong gió nhẹ buổi chiều. Trời đang còn sớm, nắng
chiều lấp lánh trong các bụi cây quanh vườn. Mải ngắm cảnh
và mải đuổi theo những nốt nhạc của cung Mi thứ trên dương
cầm, bản Hương Xưa của Cung Tiến do hai người đàn hát chấm
dứt hồi nào. Y Nhu huých tay vào vai bạn.
-
Hết rồi đó, ngồi mơ mộng chi rứa?
-
Hết rồi à?
Hạ đặt
cây guitar xuống bàn, nhấp ngụm nước chanh vừa do má Hạ làm
đem vào cho con gái, mỉm cười, thở phào trước khi chuẩn bị
sang bản thứ hai. Hai bản nhạc của Cung Tiến mà Hạ và anh
Dũng ưa thích, là bản Thu Vàng và Hương Xưa. Bản Thu vàng dễ
hát, bản Hương Xưa làm rung động hồn người khó hát. Vừa lúc
anh Dũng uống gần hết li rượu trở lại dương cầm, chợt nghe
giọng Y Nhu kêu lên:
- Serénate đi! Hát bài Serénate!
- Thu Vàng cái đã, bài Serénate buồn, hát
sau.
- Thôi cũng được.
Và họ cùng cất tiếng hát Thu vàng, mặc dù chưa đến thu. Hầu
như bản nhạc nào của Cung Tiến cũng có một ý nghĩa nào đó,
bất kể giòng nhạc thế nào; với Bach và Schubert, những dĩa
nhạc của họ đều mang đến cho người nghe sự rung động và tràn
đầy cảm xúc. Nhạc của Cung Tiến cũng vậy, kể cả khi ông phổ
thơ Quang Dũng, đều là những bài hát được Hạ và anh Dũng ưa
thích. Đó là điểm tương đồng duy nhất giữa hai người, dù anh
hơn em một con giáp. Sự rung động và cảm xúc xích người ta
lại gần nhau, tuy thế Dung biết anh mình không hề say mê
Hạ. Trọn đời anh ấy chỉ yêu có một người, còn duyên nợ ba
sinh thế nào, chưa biết.
Dung và Y Nhu còn thân thiết hơn cả Hạ, lẽ giản dị Hạ thì
tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm nhạc từ lâu, còn Dung và Y Nhu
vẫn đang còn mới sinh viên …năm cuối. Vả lại, cả hai tà tà,
nửa học nửa chơi bao nhiêu, trái lại cô nàng Hạ học rất chăm
chỉ, làm bài thường đạt điểm cao.
Không hiểu cơ duyên nào đưa con người ấy đến với âm nhạc
chứ?
Sau cùng, bài Serénate cũng được cất lên, âm giọng cao vút
của Hạ vang trong căn phòng rộng phía tây với ánh nắng buổi
chiều đang tàn dần trên ngọn cỏ lá cây bên ngoài. Chiều
xuống chậm, giọng Hạ nổi trôi bềnh bồng trong chìm nổi âm
thanh, rồi từng giọt dương cầm diễn tả mối tình si tan theo
cung La thứ, tan theo và rụng rơi theo ráng chiều đỏ lựng tự
lúc nào phía bên ngoài…tắt lịm. Những thanh âm thánh thót
đến và đi không chút tiếc nuối, như bản tính của anh Dũng
vốn vậy – xong là xong. Trong khi từng giọt của cung La thứ
nhịp 2/4 chìm vào hư không tự lúc nào mà giọng hát Hạ còn
ngân nga trong khoảng lặng của âm thanh cho đến khi dứt. Y
Nhu hất mái tóc ngổ ngáo ra sau, mấy lần nó nhúc nhích rồi
lại ngồi yên, nó là đứa cất tiếng trước tiên.
- Hay quá, hát laị lần nữa đi.
- Hạ hát hai lần rồi. Hạ đưa tay với li nước chanh,
lườm nhỏ bạn.
- Hay thật.
Tràng pháo tay của hai người vang lên, dù không đủ lớn, sau
đó có thêm anh Dũng phụ họa. Tràng pháo tay của ba người
vang trong căn phòng rộng làm nụ cười nở trên môi, khiến
rạng rỡ khuôn mặt Hạ; một khuôn mặt nét đăm chiêu phảng phất
nhiều hơn nụ cười, bởi đôi chân bị tật từ hồi nhỏ - một
chiếc xích lô cán ngang chân cô bé mới mười tuổi trên đường
tới trường. Khi tựa đầu vào lưng ghế dựa ngồi nghe, trái tim
và thần trí chao đảo theo từng nốt nhạc Dung nghĩ, tại sao
mình và Y Nhu thích chi bản nhạc này, nó buồn chứ có vui
đâu. Bản Hương Xưa của Cung Tiến không buồn đến thế.
- Chiều rồi, về nhé Hạ. Cám ơn Hạ. Anh Dũng nói rồi
đứng lên.
-Tuần tới tụi tao lên, mi chỉ cho tau đàn bản nớ với. Lần
đầu tiên Y Nhu toét miệng cười.
- Anh Dũng dạy cũng được mà. Hạ nói.
- Bụt nhà không thiêng. Anh vừa cười vừa chỉ Dung. Cho đến
khi cả hai xuống nhà chào ba má Hạ ra về, Dung vẫn còn nhớ
dáng con Y Nhu, khi nào cũng nhớ dáng con Y Nhu mới quái lạ,
nó cùng sánh vai Hạ tiễn hai anh em ra cổng vườn. Một bên Hạ
xinh đẹp với làn da mịn màu mật ong, mái tóc thề xõa ngang
vai, dáng đi cà nhắc không mất nét nghệ sĩ. Một bên Y Nhu
ngổ ngáo với tóc cắt ngắn, tóc nó cứng, dáng đi cứng, người
thấp nhỏ song còn mập hơn Thùy Dung. Nói quái lạ bởi chưa
bao giờ Dung quên được cái thời khắc đinh mệnh, nó làm cho
người ta có thể đến gần hoặc vì một lí do nào đó xa nhau mãi
mãi.
- Tuần tới bọn tau lên, Y Nhu nhắc lại.
- Mình sẽ đem cho Hạ khế và ổi xá lị nhé. Dung dịu dàng.
- Chớ không phải hai bạn đi chùa sao?
- Đi chùa buổi chiều về thì lên, Hạ có dạy lớp buổi sáng mà.
Thùy Dung mỉm cười leo lên ngồi yên sau xe anh Dũng. Anh
Dũng đợi hai bạn một lát không nghe nói gì mới nổ máy xe.
Quái lạ, buổi chiều hôm ấy, buổi chiều không có chi là” Lời
buồn thánh” mà tại sao in sâu trong kí ức Dung đến thế.
Cả ba không ngờ rằng lời hứa tập đàn hát bài Serénáte trên
guitar do Hạ và anh Dũng làm “trưởng ban hướng dẫn” chẳng
bao giờ thực hiện được. Họ cũng đã tập hát bè bản Thu vàng
của Cung Tiến khá thành công, tuy chưa có ca sĩ nào, cho đến
bây giờ hát được bản Hương xưa hay như anh Dũng hát cho Hạ
nghe hồi ấy. Có lẽ anh đã hát với tất cả tâm hồn mình. Với
anh Dũng, dù mươi năm sau, dù anh không còn là người anh
lãng mạn( đúng nghĩa danh từ... Lãng mạn chứ không hiện thực
bởi ngay chính cái lãng mạn ấy đã là hiện thực rồi) như
trước, không còn hát những bài tiền chiến, không ngồi nắn
nót chép từng khuôn nhạc thật đẹp trong tập nhạc anh đóng
rất công phu. Anh kẻ từng dòng nhạc rất đẹp. Cho dù thế nào
chăng, Dung vẫn cảm nhận được, có lúc anh còn có vẻ xa cách
em gái, tận trong góc khuất con người ấy, bản Hương xưa vẫn
còn chứ không bao giờ mất.
Nhớ…
Càng ngày Thùy Dung càng ốm, vốn nó là đứa học tài
tử, bây giờ càng chạy đua nước rút. Nó và tôi cùng viết
chung một đề tài, ngày nào cũng ghé bên Liễu quán hay lên
chùa kiếm tài liệu. Có nó tôi cũng đỡ buồn. Có lần tôi hỏi
Dung:”Không hiểu tại sao mi chọn đề tài Phật giáo? Chẳng
phải mi chỉ thích nghe tiếng chuông chùa và lắng nghe tiếng
thông reo trên ngọn đồi Quảng Đại, mi có ưa tụng kinh mô!”
Nó cười khúc khích:” Ừ đúng, mà tao lại thích viết về đề tài
ni mới lạ. Cũng có thể vì mẹ tau mê truyện của sư bà Thể
Quán, tao cũng mê. Lúc nhỏ tao theo mẹ lên chùa, làm chi mi
biết không? Trong khi mẹ hầu chuyện với sư ông tao và Tám ra
ngòai đồi thông chơi, chán chê vô phòng của chư tăng ngủ…cho
đến khi mẹ kêu dậy”thọ trai” rồi về…Chừ lớn rồi không làm
như lúc nhỏ nữa, chỉ siêng đi chùa để ngắm cảnh thôi.”
- Khỉ, rứa mà chừ mi…mi dám viết về đề tài Phật
giáo?
- Đó là karma, nghiệp!
- Hừ, hạnh phúc là yêu thích công việc của ta làm!
Ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau trong thư viện,
trên lớp, vậy mà vẫn không đủ. Thùy Dung nói chuyện hay, lôi
cuốn tôi. Tôi là gì? Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa rõ xuất
xứ, tôi là ai. Ba tôi có lần nói, ông nhặt tôi trong nhà
thương thí và mang về nuôi, để lí giải sự thù địch của mẹ
nuôi đối với tôi. Tôi đang ở với người tôi phải gọi là bà
nội, mặc dù bà không hề yêu tôi chút nào. Thùy Dung khuyên,
thì cứ làm như không biết, đó là bà nội mình, có chi mà phải
bận lòng. Tuy nó gầy ốm song đôi mắt long lanh lúc nào cũng
như cười. Lục nhật kí của Thùy Dung đọc hai câu thơ của Lí
Bạch:”
“ Cô phàm viễn ảnh bích không tận
“Lưu kiến trường giang thiên tế lưu”.
Thùy Dung giật lại:” Việc chi mà ngày mô cũng đọc
nhật kí của tao hả? con kia?
- Chán đời, muốn tự tử.
- ?!
Nó nhìn tôi một lúc:
- Mình nghĩ là…sao không lên chùa và tụng kinh,
nếu điều đó làm bạn nguôi ngoai?
Nếu Duy Phác nghe được! Anh là một phật tử thuần
thành và cả lớp đều biết anh yêu Dung.’ Cứ nghĩ lấy một con
người không hề biết đến những vui buồn của vợ, những khát
vọng của người phụ nữ bình thường; lấy một người quanh năm
chỉ biết đi chùa, lo cho trẻ cô nhi, người nghèo, sống cho
người khác hơn cho bản thân thì tao chết mất. Tao mến anh và
có thể thương như một người anh chứ tình nam nữ thì không
đâu. Người ta kết hôn với một phàm nhân có máu nghệ sĩ chút
đỉnh chứ ai lại đi lấy một con người sống với cao vọng và
lí tưởng?”
Dung đã nói như thế. Chủ nhật chúng tôi đều đến chùa. Mỗi
chi đòan khoảng mười em độ tuổi dậy thì. Còn Phác là huynh
trưởng của chi đoàn thiếu nữ chúng tôi, chi đoàn Thanh.
Chiếc áo màu thiên thanh biểu trưng cho điều đó. Dù thế,
chúng tôi không là hai kẻ ngoan đạo, Dung vốn là cô bé được
mẹ yêu, nó không kiêu ngạo trái lại còn khiêm nhường. Chúng
tôi mỗi đứa làm thêm giờ ở một thư viện.
Dung làm
ở Trung tâm Xavier do cha Odique phụ trách. Nó chỉ làm một
thời gian rồi chuyển sang Thư viện trung ương làm với tôi.
Công việc với số tiền phù hợp với sinh viên nghèo khiến tôi
vui. Dung cũng vui. Là con mọt sách hơn đàn hát, Dung bỏ
luôn bài Ngọc lan không tập nữa, mặc dù anh Dũng rất thích
bài đó. Có hôm tôi đến thấy anh đang tập cho nó đàn, con bé
khổ sở với những ngón tay cứng nhắc, sau cùng bỏ đi chơi.
Chúng tôi hẹn nhau lên Hạ hoài, không còn thời giờ vì bài vở
của năm cuối cùng nhiều qúa, lại còn cái tiểu luận ra
trường. Tôi thầm rủa con bé tại sao chọn đề tài quá khó này.
Tứ diệu đế. Nói thì dễ. Còn thực tế? Có khi nào tôi cảm thấy
mình thật sự vui và bớt khổ đâu?! Hay kiếp trước mình vụng
đường tu? Kiếp này thì sao?
Tôi mê
bài Serénate Hạ hát, tôi thích bản Hương xưa anh Dũng hát
trên dương cầm. Thế nhưng tôi là một con bé kém cỏi. Dung
cười, nó bảo, mình thi xong sẽ lên nhà Hạ. Một bữa tôi đọc
hai câu thơ của Phạm thiên Thư.
“ Chiều
xưa vòng ngọc trao tay
Tặng nhau
khăn lụa cuối ngày ráng pha.”
Nó bảo nó
đã đính ước với Duy Phác rồi!
Trời
đất?!
Còn nhớ…
Duy
Phác nhận Y Nhu là em gái, như vậy nó cũng có một chỗ dựa
tinh thần.
Socrate không lấy ác trả lại ác vì:” Lấy ác trả lại ác là
một điều bất công”. Nỗi ám ảnh lớn nhất đời tôi là Đức Phật,
tôi không nói điều đó ra bao giờ. Y Nhu siêng tụng kinh hơn
và nó đã mua một chuỗi hạt bồ đề.. Nó cũng thường lục nhật
kí của tôi ra đọc.
“ Nghĩ gì về cơn mưa?
Khúc nhạc dịu vỗ về
Còn chi nữa
Niềm ray rức khôn nguôi.”
-
Việc chi ngày mô cũng lục nhật kí của tao ra đọc thế? Con
kia?
-
Chừ yêu đời rồi. Nó cười đáp. Sao tụi mình không lên nhà Hạ.
-
Thi xong hãy lên, vả lại…cái bài Serénate ấy chỉ thêm hoại
người. Đàn hát riết hết cả nhuệ khí mất, mình phải tinh tấn
tu tập chứ?
-
?!
Một buổi
chiều chúng tôi từ chùa Diệu Đế về, anh Dũng nổi hứng hò Y
Nhu lại, ba anh em, lúc đó Thùy Hương còn nhỏ, ra bể sen
bách diệp của mẹ trồng trước nhà. Anh Dũng mang theo cây
măng đôlin đàn bài Serénata. Y Nhu và tôi hát theo nho nhỏ.”
Lắng trầm tiếng chiều ngân. Nhạc dặt dìu ái ân…” Kì lạ, dù
chỉ sau đó mấy tháng, cả một tổ ấm gia đình tan tác…Kẻ nam
người bắc gặp nhau như trong giấc mơ, mừng tủi của kẻ này đi
kèm nước mắt của kẻ kia. Bên cạnh cảnh đoàn tụ là cảnh chia
lìa. Hạnh phúc và đau khổ chỉ nằm trong một sát na. Những
lời đức Phật dạy theo gió bay đi. Một lúc những chia li và
đau khổ dồn dập đến với những tâm hồn chưa hề chuẩn bị cho
điều đó. Hoặc đã chuẩn bị nhưng không ngờ lại đến quá sớm
như thế. Bề ngoài tất cả mau chóng trở lại bình thường. Hạ
vẫn ở đó, ba mẹ Hạ già đi, nhất là ba Hạ. Khu vườn vẫn xanh
tươi với những lá sapotier thon thon hình thuyền, nhưng rựợu
sapotier, thứ rượu cất lâu năm không còn. Ba Hạ trở thành
một con người khác. Ông ta già hẳn, đau một thứ bệnh gì
không rõ.
Còn Y Nhu? Nó ở đâu? Sau ngày thống nhất Nhu không về.
Dung sang tìm Thu, cô bạn nhỏ hơn mình ba tuổi ỏ cách nhà
một con đường. Ba Thu bây giờ là chủ quán cà phê. Những đổi
thay đến chóng mặt khiến người ta không kịp ngạc nhiên nữa.
Thu tàng tàng đi ra. Tôi nói tôi cần biết tin tức của Nhu.
Nó là đứa bạn duy nhất trên đời lắng nghe những gì tôi nói,
đọc những gì tôi viết dù ngô nghê dù lãng mạn hay thực tế.
Nó là đứa con gái suốt đời tìm kiếm tình thương mà chỉ có
đọc kinh và lần tràng hạc, chẳng qua chỉ đủ lãng quên đời.
- Chị mới về sao?
- Ừ. Lâu nay Nhu có ghé đây không?
Thu làm thinh. Nói chuyện thay đổi, chuỵện địa lí sang
chuỵên lịch sử, làm như không hề biết đến một Thu viết vào
tập nhạc chép tay của anh Dũng bản” Reverie”, nét chữ phóng
khoáng rất đẹp song đầy lí trí. Bây giờ hắn là thi sĩ của
miền mới giải phóng, là nhân tố tích cực của báo BTT…Lại còn
đọc thơ cho Dung nghe. Tôi nóng ruột đứng lên.
- Mình về đây.
Thu ngập ngừng một lúc – Mấy bữa chị Nhu đi ngang nhà chị có
nói, nhà con Dung buồn quá. Chị có ghé nhà nhờ Thu cắt tóc.
Chị ấy lạ lắm.
- Nói đi, Nhu hiện ở đâu? Mình về qua nhà bà nội hắn chỉ còn
lại mấy tập cour hồi hắn đi học, song bà nội về quê rồi.
- Cách đây nửa tháng, chị Nhu có ghé đây hỏi thăm tin tức
chị. Chị ấy nói gia đình đã ra đi mà không cho chị biết
trước, có lẽ lúc ấy tình hình lộn xộn quá, mạnh ai nấy…
chạy. Huống hồ ba chị là quân nhân, đang cắm trại không về
nhà.
- Nhưng ta muốn biết, bây giờ hắn ở đâu?
- Chị ấy đi xa lắm. Thu trở vào nhà mang ra li nước chanh
ướp đá. Giọng Thu trở thành tiếng thì thầm. Cái ngày ba Thu
mượn cuốn tiểu luận ra trường của chị, trong lời dẫn nhập
chị viết:’Bèo và nước luôn luôn hai và luôn luôn một. Chúng
kết hợp để rồi chia li, chúng không bao giờ là một khối đồng
nhất.” Chị nhớ không?
- Khi đó thầy hướng dẫn phê bình ta viết văn chương quá. Ta
viết thế vì muốn nói về Có và Không, nhưng chưa đủ…
- Còn nữa.” Sóng và nước tuy hai mà một vì sóng là tượng
của nước. Trăng rơi vãi trên giòng nước là huyễn tượng nhưng
nó là một ảo ảnh có thật, một ảo ảnh hiện hữu trong cái vô
thường của vạn pháp. Nhìn trăng trôi trên giòng nước không
biết đó là nước hay là trăng. Nhìn giòng nước không biết
nước trôi hay cầu trôi. Thật sự trăng trên trời và trăng
dưới nước chỉ là một. Thuyền và biển, bèo và nước là hai
thực hữu, chúng tách lìa nhau song kề bên nhau. Sáng và tối,
đêm và ngày, đó là hai thực tại không một mà cũng không hai;
trong ánh sáng đã hàm chứa bóng tối, trong bóng đêm đã hàm
chứa bình minh. Đó là nhận thức trước khi huyễn tượng biến
thành hiện thực.’
“ Làm sao mà ngươi thuộc lòng còn hơn cả ta, ta đã làm mất
tập tiểu luận ấy rồi”. Dung thầm nghĩ.
- Là lúc con người nhận ra lẽ vô thường của cuộc
đời. Cái chết và sự sống luôn nằm trong nhau. Trong hạnh
phúc chứa mầm đau khổ trong xum họp nhuốm mùi chia li.
Thu hít vào một hơi thật sâu:
- Khi ấy chị Nhu ghi vào sau tập tiểu luận hai
câu thơ của Hồ Dzếnh mà chị hay ngâm:
“ Nát thân, không nát nổi hồn.
Len trong cái chết, vẫn còn cái đau.”
Dung cảm thấy li nước chanh lạnh ngắt trong tay. Giọt nước
không tan vào cổ họng mà biến thành đá trong thanh quản:
- Chị Nhu không bao giờ trở về nữa. Chị ấy chết rồi.
Dung chới với. Li nước chanh rơi xuống đất vỡ vụn. Giọng của
Thu gần như tiếng nấc nghẹn. Nghe như lời phán quyết của tòa
án:” Y Nhu phải chết.’
v .
Còn nhớ…
Cung La thứ đi mất, Mi trưởng đi mất. La Paloma đi mất,
Bambino đi mất, Histoire d’un l’amour, dĩ nhiên, không còn.
Không ai có thể thấy và biết được tương lai, không ai biết
được trong rừng có bao nhiêu lá, các con. Điều ấy, bao nhiêu
năm sau Dung mới nhận ra được, như lời đức Phật dạy. Tiếng
thở dài xa vắng của Thu có một cái gì đó nao lòng. Tôi không
sợ bóng đêm mà sợ cái nao lòng. Mỗi buổi mai thức dậy sửa
soạn về trường; trên chuyến tàu chợ nhớp nhúa mùi hơi người,
mùi hôi thối của nước tiểu và gia súc…Không có mẹ, không có
gia đình. Tôi tập cho mình quen lần với điều ấy. Song tôi
chưa tập cho mình quen với việc không có Nhu.
Nhỏ Hạ, không phải đợi đến mười năm sau mới gặp. Bốn năm sau
đó Dung đi lấy chồng, Hạ vẫn còn ở đó, trong ngôi nhà đó,
giữa vườn cây xanh um ấy, và chính Hạ cho em gái xuống làm
phù dâu. Còn Hạ, với đôi chân cà nhắc, cùng em gái đạp xe
đến nhà Dung cách nhà Hạ chỉ một con đường – đường Hòa Bình
– rẽ sang phải là đường Đòan thị Điểm, con đường đầy những
cây muối lâu năm chạy ngang cửa Hiển Nhơn. Nhà Thùy Dung nằm
trên con đường ấy. Hạ đến nhà Dung lúc 5 giờ rưỡi sáng để
phụ trang điểm cho cô dâu bởi lễ rước dâu vào lúc 7 giờ. Hạ
trang điểm rất khéo, mặc Dung dãy nãy vì cô không quen đánh
nhiều phấn. Da mặt cô suốt mấy năm đi dạy chỉ toàn đánh phấn
nụ. Đi dạy bằng xe đạp vẫn giữ được làn da min màng tươi trẻ
nhờ phấn nụ không có hóa chất.
Bao nhiêu vật đổi sao dời! chỉ trong chưa đầy một năm!
Hạ vẫn còn ở đó, làm một việc không dính chi đến âm nhạc là
chăm lo các em ở trường mẫu giáo. Dung lấy một người không
ăn nhập chi đến môn mình học, tuy thế họ vẫn hạnh phúc. Trải
bao nhiêu dâu bể, bản tình ca bất tử không mất, nó còn trong
tâm tưởng, mãi hoài.
Những đêm từ dưới trường lên, cô không thèm muốn chi hết,
chỉ thích ngồi dưới trời sao, tưởng niệm một thời thanh xuân
đã qua…
“ Nghĩ gì về cơn mưa?
Khúc nhạc dịu vỗ về
Còn chi nữa?
Niềm ray rức khôn nguôi.
- Việc chi ngày mô cũng lục nhật kí của ta đọc, con kia?
Chán đời, muốn tự tử.”
Cái quầng đen ấy không chịu tan, nó giăng ngang trước mặt.
- Đồ quỷ sứ. Nó vừa cười vừa vẫy tay. Mi và Phác xa
nhau rồi à? Rứa mà cũng bày đặt yêu, ba bảy hai mốt.
- Ta nghĩ ta không yêu Phác, ta chỉ yêu chính mình;
đó chỉ là mộng.
- Mi nói mộng và thực không khác nhau mà.
- Mộng mơ cũng tựu thành bao nhiêu công trình lớn
của nhân loại.
- Có những con người suốt đời không hề biết đến mộng mơ.
Tại sao mi viết:” Trăng trên trời và trăng dưới nước tuy hai
mà một, còn đêm và ngày là hai thực hữu khác biệt, không một
mà cũng không hai?”
- Đó là vạn pháp tùy duyên mà khởi lên.
- Tại sao mi viết:” Trong sự sống đã mấm
mồng cái chết, trong xum họp đã nhuốm màu chia li. Âm dương
là hai mặt của một đồng tiền?”
- Đó thuộc về tánh không trong đạo Phật,
chúng mình chỉ lấy lại ý của các nhà sư, bạn biết mà.
- Tao vẫn chưa hiểu. Tại sao Nikos Kazanzaki
lại viết:” Vấn đề không phải là nhìn thấy đốm lửa cháy từ
thế hệ này sang thế hệ khác như thế nào mà nhảy và cháy cùng
đốm lửa ấy.”
- Đó là hiện sinh đích thực, là cuộc sống.
Thôi đi, Y Nhu, mình mệt lắm rồi, hãy cùng nhau tìm một bãi
cỏ xanh!
- Không, chừ mình không hiện hữu nữa, ta là
trăng trên trời rồi. Sự thật và mộng mơ không tách lìa nhau,
bạn viết thế mà.
- Y Nhu, chúng mình là bạn.
- Thế sau bao nhiêu nạn tai, mi thành tựu
được những gì?
- Trở về nương tựa Phật.
- Chúng ta là bèo và nước, ta là bóng tối, mi
là ánh sáng. Ta thuộc về cõi âm, mi thuộc về cõi dương.
Chúng mình không gần nhau được nữa.
- Y Nhu!
Tiếng Dung gọi thành một vọng âm xa lắc.Bạn đã
vĩnh viễn xa rồi, tại sao có những cái chết quái quắc như
thế? Mà tại sao con người cứ ưa hỏi tại sao? Bởi vì tình
thương thật thương chính là tình thương im lặng.
Nhớ…
“ Nói cho chị biết thế, chúng ta không có quê hương, không
có chỗ trở về, dù trong cuộc đời, dù trong cõi chết. Mơ ước
gì? Vọng về trời? về bể? Về bờ bến quê hương? Một trò cười,
vô nghĩa tuốt.” Một câu Bùi Giáng dịch từ cuốn Ngộ Nhận của
Albert Camus. Bây giờ mọi cái đã xa. Xa lắm rồi, như tuồng
cung La thứ không trở lại, như tuồng nửa bản tính ca đã mẩt
đi vĩnh viễn. Biết tìm đâu ra một người bạn, không ở cực bên
này, không ở cực bên kia?!
Họ gặp nhau trên một con thuyền. Trên chiếc thuyền rồng tối
nay có khoảng bốn mươi người.
- Mái tóc đờmi của chị mô rồi? Chị để tóc dài trông lạ hẳn.
Thanh hồn nhiên hỏi. Những con chim sơn ca của một thời, bây
giờ chúng đã đủ lông cánh, có người còn là nhân tố tích cực
trong vùng mới giải phóng. Duy Phác lên đường đi diện HO, họ
tổ chức buổi họp mặt để từ giã. Ai cũng tưởng cô đi Mỹ, té
ra Dung vẫn còn ở nhà chồng. Hưng và Hòa đang hát điệu chầu
văn. Có người đi dạy, có người làm Giám đốc khách sạn, có
người làm ở Ty nhà đất.
Thanh là
thợ may sau khi giã từ nghề giáo. Bí làm chủ tiệm bán đồ xây
đựng.
-
Đến gìơ thả đèn rồi, chị trưởng đoàn nói.
-
Tại sao khi nào người ta cũng thắp nến trong những cái hoa
đèn? Không thắp có được không? Thanh chợt hỏi. Bấc giác Dung
mỉm cười.
-
Cây sáp tượng trưng cho ánh sáng của sự sống.
Hoa là sự phù du của kiếp người. (hơn hai mươi năm qua rồi,
Dung thầm nghĩ).
- Thế mà lâu ni em không nghĩ tới.
- Chị
cũng không hề nghĩ đến làm gì. Dung đáp.” Chiều buồn nhẹ
xuống đời, người tình tìm đến người, thấy run run trong
chiều phai…” Ngay cả lúc tuyệt vọng nhất cô biết mình chưa
thể ẩn tu được. Cả sự tập trung nghe hát lúc này. Duy Phác
đang ngâm bài” Đôi mắt người Sơn Tây” còn cô thì nghĩ chuyện
khác. Hai mươi tám đoàn viên phật tử đã mất hiện thờ vọng (kí
thác) trong một ngôi chùa. Không cần hai mươi năm để làm câm
lặng một con người nhưng Y Nhu chưa hề mất trong cô. Lạ thay
hắn vẫn hiện hữu đó, giống như những bản tình ca bất tử,
giống như bản Serenata vẫn còn vọng âm, kể cả khi cô về dạy
ở một ngôi trường xa Huế hai mươi bảy km. Thỉnh thoảng cô
cũng mượn cây măng đô lin của Lụa đàn bản đó, chỉ đàn một
khúc thôi. Chỉ có Dung biết mình không hề đánh mất chính
mình thôi. Cái sự thật trần trụi là người ta vẫn phải sống,
cho dù bao nhiêu phi lí nghiệt ngã.
Đôi mắt
người phụ nữ nhìn theo giòng sông. Những chiếc đèn lồng trôi
nhè nhẹ.
Thuyền
trôi ra cửa biển rồi, Y Nhu. Nhưng đến và đi chỉ là một mà
thôi.
Huế tháng 7/95 – 12/2008.