NIẾT-BÀN:
BẢN CHẤT VÀ MỤC TIÊU GIÁC NGỘ
Thích Nhật Từ
Hiểu niết-bàn bằng các ý niệm của các truyền thống hữu
thần, chẳng hạn tương đương với Phạm Thiên hay tiểu ngã
trong Áo Nghĩa Thư hoặc là thượng đế của các tôn giáo
khác hay là khái niệm Đạo trong Lão giáo, v.v. . . sẽ
dẫn đến sự ngộ nhận cho rằng niết-bàn là siêu nhiên.
Niết-bàn vốn khác hẳn các khái niệm được nêu ở trên, bởi
vì niết-bàn không phải là nguồn gốc của vũ trụ. Sự chứng
đắc niết-bàn do đó không thể bị đồng hóa với sự đồng
dạng hay hợp nhất với nguồn gốc của vũ trụ. Niết-bàn đơn
thuần là trạng thái chấm dứt khổ đau (anto dukkhassa)
một cách vĩnh viễn (ak liko).
I. KHÁI
NIỆM "NIẾT-BÀN"
Niết-bàn (nibb na // nirv ?a) hay chân lý về trạng
thái vắng mặt hoàn toàn khổ đau (dukkha-nirodha-ariya-sacca)
là mục đích tối hậu của con đường tâm linh Phật giáo
ngay đời này. Niết-bàn có thể được hiểu một cách chính
xác trong mối quan hệ của nó với chân lý về đau khổ và
nguyên nhân của những đau khổ, cả về phương diện logic
và giải thoát luận. Có nghĩa là nếu cuộc đời có mặt đau
khổ và những nguyên nhân của chúng thì sự chấm dứt vĩnh
viễn các nguyên nhân của đau khổ dẫn đến sự vắng bóng
hoàn toàn khổ đau, là niết-bàn.
Trong mô thức của bốn chân lý, niết-bàn là trạng thái an
lạc cao cấp nhất (nibb naị paramaị sukhaị ), một trạng
thái vắng mặt toàn bộ sự không thỏa mãn hay là sự giải
thoát khỏi khổ đau một cách toàn triệt (sabbadukkhapamocanaị
). Sự nhận chân hay chứng đắc niết-bàn, do đó, được định
nghĩa là sự chấm dứt toàn bộ khổ đau (anto dukkhassa).
Niết-bàn được chứng đạt ngay trong đời sống hiện tại
thông qua sự thực hành toàn hảo đời sống đạo đức, thiền
định và trí tuệ.
Về từ nguyên, thuật ngữ Bắc phạn nirv ?a, tương đương
với từ nibb na trong Pali, bắt nguồn từ tiếp đầu ngữ
nis/nir vốn có nghĩa là "sự phủ định" và từ căn v , có
nghĩa là "rỉ chảy." Do vậy nibb na / nirv ?a dòng chảy
đã chấm dứt, hay trở nên thanh lương."
Trong một ẩn dụ giải thoát, nibb na // nirv ?a được
sánh ví với tình trạng "bị dập tắt" của ngọn lửa, do
nhiên liệu của hiện hữu đã hết sạch (abhava/vibhava).
Niết-bàn không phải là trạng thái diệt tận vĩnh viễn,
lại càng không phải là một cảnh giới siêu nhiên hay
thiên đường của các tôn giáo khác. Không nên hiểu
niết-bàn dưới góc độ của tính siêu nhiên có liên hệ đến
Phạm Thiên hay tiểu ngã (Brahman / tman) như được
trình bày trong kinh điển Áo Nghĩa Thư (Upani?ads), hay
là Thượng đế của các tôn giáo hữu thần. Bởi lẽ, hiểu
niết-bàn bằng các ý niệm của các truyền thống hữu thần,
chẳng hạn tương đương với Phạm Thiên hay tiểu ngã trong
Áo Nghĩa Thư hoặc là thượng đế của các tôn giáo khác hay
là khái niệm Đạo trong Lão giáo v.v… sẽ dẫn đến sự ngộ
nhận cho rằng niết-bàn là siêu nhiên. Niết-bàn vốn khác
hẳn các khái niệm được nêu ở trên, bởi vì niết-bàn không
phải là nguồn gốc của vũ trụ. Sự chứng đắc niết-bàn do
đó không thể bị đồng hóa với sự đồng dạng hay hợp nhất
với nguồn gốc của vũ trụ. Niết-bàn đơn thuần là trạng
thái chấm dứt khổ đau (anto dukkhassa) một cách vĩnh
viễn (ak liko).
Trong kinh điển Phật giáo, niết-bàn được mô tả bằng
nhiều khái niệm và thuật ngữ khác nhau (vevacana), khi
thì phủ định, khẳng định, lúc thì mang tính tâm lý và ẩn
dụ. Trong các mô tả mang tính chất ẩn dụ về niết-bàn,
các khái niệm sau đây là được biết đến nhiều hơn: hòn
đảo (d? pa), hang động (le?a), nơi nương tựa (sara?aị ),
bờ bên kia.
Từ phương diện tâm lý học, niết-bàn được định nghĩa là
trạng thái thanh tịnh của tâm, chẳng hạn như giải thoát
khỏi khổ đau (asokaị ), sự an ổn toàn triệt (khenaị ),
trạng thái thăng bằng của tâm (accutaị padaị ), sự an
tịnh (santaị ), không còn bóng dáng của sợ sệt
(akutobhaya), sự an bình tuyệt đối (param santi), từ
mẫn (avy pajjo), không dao động (acalaị ) trạng thái
vững chắc (akuppa), không thể lay chuyển (asaị h? raị ),
bất động (asaị kuppaị ), nhu nhuyến (nipunaị ), thanh
tịnh (suddhi), sức khỏe toàn hảo ( rogya), trở nên
thanh lương (s? tibh‰ to); về phương diện cảm xúc,
niết-bàn được định nghĩa như sự hạnh phúc (sivaị ), sự
an lạc cao cấp nhất (nibb naị paramaị sukhaị ).
Là một trạng thái chuyển hóa toàn hảo, niết-bàn (nibb
na) được định nghĩa là giải thoát (mutti), giải phóng
khỏi khổ đau (vimutti), giải thoát khỏi mọi ràng buộc
(nibb naị sabbaganthappamocanaị ), sự an ổn tuyệt đối
khỏi sự ràng buộc (yogakkhema), cứu cánh (antaị ), thanh
tịnh (suddhi), sự chấm dứt các lậu hoặc của tâm ( sav
naị khayo / kh? n savo), chấm dứt toàn bộ các phiền não
(kilesa-parinibb na), sự tiêu diệt hoàn toàn các bất
thiện (akusalam‰ la), sự chấm dứt của hữu (bhavanirodho
nibb naị ), sự chấm dứt của sanh tử (j timara?assa
antaị ), giải thoát khỏi các bất tịnh (asankiliỉ ỉ ha),
và giải thoát khỏi các chấp mắc (an laya), v.v. . .
Thỉnh thoảng, niết-bàn cũng được ẩn dụ như một cảnh giới
( yatanaị ) hay được diễn tả bằng một chuỗi từ phủ
định, hoặc chân lý (saccaị ), hay chân lý cao thượng
nhất (paranaị ariya saccaị ), và sự đoạn diệt của thế
giới (loka-nirodha).
II. CÁC
DIỄN TẢ PHỦ ĐỊNH VỀ NIẾT-BÀN
Do bản chất thâm áo, huyền diệu, niết-bàn thường được
Phật mô tả bằng các thuật từ phủ định, chẳng hạn như sự
đoạn diệt tham ái (ta?hakkhaya), thuộc không duyên khởi
(asaị khata), sự chấm dứt các uẩn (nirodha), và không
dính mắc (vir ga). Trong các thuật ngữ phủ định, các từ
đồng nghĩa của niết-bàn có thể liệt kê như sau: vô sanh,
không còn bị sanh (aj ta), không già hay thoát khỏi già
(ajar ), không bệnh tật (aby dhiị ), không đau khổ
(asokaị ) không ô uế (asankiliỉ ỉ haị ), bất tử (amata),
không còn tái sanh (a-punabbhava), không còn trở thành
(abh‰ ta), vô vi (akata), không thuộc duyên khởi (asaơ
khata), hoàn toàn không còn tham luyến (asesavir
ganirodha), không còn tham (aniccha), trạng thái không
còn sợ hãi (akutobhaya), không còn phiền muộn
(akhalita), không còn trở ngại (nirupat pa), không bị
tràn đầy (asamb dha), không còn đối kháng (asapatta),
vô hại (aby pajja), không còn các lậu hoặc (an sava),
không còn mê hoặc (nippapa– ca), chấm dứt sự tái hiện
hữu (bhavanirodho nibb naị ), chấm dứt của sanh và tử
(j timara?assa antaị ), không còn các bất tịnh
(asankiliỉ ỉ ha), không còn các vướng mắc (an laya).
Nếu các nguồn gốc và các động cơ bất thiện (akusala m‰
l ni) được hình thành trên ba phiền não chính là tham
ái (r ga), sân hận (dosa) và vô minh (moha), thì sự
chấm dứt ba nguồn gốc bất thiện này sẽ dẫn đến sự chấm
dứt các phiền não còn lại. Trên cơ sở nầy, niết-bàn được
định nghĩa là sự chấm dứt toàn bộ tham ái (r gakkhaya),
sân hận (dosakkhaya) và vô minh (mohakkhaya), và bản
chất của niết-bàn được diễn tả bằng một ẩn dụ [ngọn lửa]
hoàn toàn bị dập tắt" (s? tibh‰ ta) hay an tịnh
(nibbuta). Niết-bàn là sự đoạn tận tham ái (ta? h
kkhayo).
III. CÁC
GIẢI THÍCH SAI VỀ NIẾT-BÀN
Cần nói rằng các mô tả phủ định về niết-bàn cũng không
tránh khỏi việc hiểu sai và giải thích sai rằng niết-bàn
thuộc về chủ nghĩa siêu việt (transcendentalism). Các
hiểu sai và giải thích sai này được thể hiện rõ trong
tác phẩm Niết-bàn của Phật Giáo và các Nhà Giải Thích
Phương Tây của G.R. Welbon. Phân tích và nghiên cứu kỹ
lưỡng tác phẩm này sẽ giúp chúng ta phân loại các giải
thích sai lầm về niết-bàn thành hai nhóm chính, đó là
lối giải thích niết-bàn theo hướng đoạn diệt luận
(annihilationalist interpretation of nibb na) và lối
giải thích niết-bàn theo hướng siêu việt luận
(transcendental interpretation of nibb na). Lối giải
thích đầu đã đồng hóa một cách sai lầm niết-bàn với sự
đoạn diệt, sự tiêu diệt vĩnh viễn sự sống, trong khi lối
giải thích sau đã lầm đồng hóa niết-bàn với thực tại phi
kinh nghiệm, dẫn tới thường hằng luận hay trở nên đồng
nhất với Phạm Thiên của Áo Nghĩa Thư (Upani?adic
Brahman). Cả hai lối giải thích trên đều sai lầm do
không phản ánh được bản chất thật của bốn chân lý cao
thượng, và nhất là không nắm vững sự phủ định của Phật
giáo về hai chủ thuyết cực đoan thường kiến luận
(sassatav da) và đoạn diệt luận (ucchedav da).
Khuynh hướng giải thích niết-bàn là đoạn diệt của các
học giả phương Tây có thể bắt nguồn từ tác phẩm của giáo
sư H. Oldenberg, "Cuộc Đời, Giáo Pháp và Tăng Đoàn của
Đức Phật (Buddha: His Life, His Doctrine and His Order)
xuất bản vào năm 1882. Theo giáo sư Oldenberg, sự phủ
nhận của Phật giáo về một thực thể bản ngã thường sẽ dẫn
đến kết luận cho rằng niết-bàn là đoạn diệt, cả về
phương diện tự nhiên và logic. Giáo sư Poussin trong tác
phẩm Con Đường Niết-bàn (The Way to Nirv ?a) xuất bản
năm 1917, cho rằng niết-bàn là đoạn diệt "Nirv ?a is
annihilation." Trong số các học giả phương Tây, giáo sư
Bigandet Burnouf và Paul Dahlke là hai đại diện tiêu
biểu đã giải thích niết-bàn là sự đoạn diệt tuyệt đối
"absolute nihilism." Thực ra, quan niệm về niết-bàn như
đoạn diệt đã có từ thời của đức Phật, thậm chí vị
tỳ-kheo đệ tử của Phật tên là Yamaka cũng đã từng nghĩ
tương tự. Kinh điển ghi lại rằng thầy Yamaka đã có lần
hiểu rằng: "Ngay khi thân thể trở về với cát bụi, người
đã nhổ sạch các phiền não lậu hoặc ( sava) sẽ bị đoạn
diệt và không còn hiện hữu sau khi chết." Đáp lại kết
luận sai lầm này, tôn giả Xá-lợi-phất đã giải thích cho
thầy Yamaka rằng Như Lai và những bậc đã giác ngộ không
thể bị đồng hóa với hay tách rời khỏi năm nhóm nhân tính
(pa– cakkhandh ). Do đó, quả là sai lầm khi cho rằng
người giác ngộ trở thành đoạn diệt sau khi chết. Giải
thích niết-bàn là không còn gì là cách giải thích
niết-bàn theo chủ nghĩa đoạn diệt luận. Học thuyết này
đã đánh đồng bản ngã với thân vật lý. Ngay từ ban đầu,
đạo Phật đã phủ bác quan niệm này. Do đó quan niệm cho
rằng niết-bàn là đoạn diệt là không có cơ sở.
Đối lập lại với các quan điểm cho rằng niết-bàn là đoạn
diệt, nhiều học giả đã giải thích niết-bàn là một thực
tại siêu việt tuyệt đối (transempirical reality). Theo
họ, nếu Như Lai hay những người giác ngộ không thể bị
đồng hóa với hay biệt lập khỏi năm nhóm nhân tính, và
siêu việt khỏi bốn khả thể hiện hữu đó là hiện hữu
(hoti), phi hiện hữu (na hoti), vừa hiện hữu vừa phi
hiện hữu (hoti ca na hoti ca) và phi hiện hữu và phi
phi-hiện-hữu (neva hoti na na hoti), thì sự giác ngộ của
các ngài hay niết-bàn phải là một thực tại, siêu việt
khỏi bốn khả thể tính nêu trên. Ba học giả đại diện cho
lối giải thích này là HT. Walpola Rahula (1959), giáo sư
N. Dutt (1960) và giáo sư K. N. Jayatilleke (1963). HT.
Rahula cho rằng:
"Câu trả lời hợp lý nhất cho câu hỏi "niết-bàn là gì?"
là điều này sẽ không bao giờ được trả lời một cách trọn
vẹn và thỏa mãn bằng ngôn ngữ, bởi vì ngôn ngữ của con
người quá nghèo nàn đến độ không thể giải thích được bản
chất thật của thực tại tuyệt đối."
Chủ trương theo lối giải thích tương tự, giáo sư N. Dutt
đã cố gắng đặc tính hóa cho niết-bàn là không thể mô tả
được và không thể tưởng tượng được. Ông viết:
Niết-bàn không thể suy tưởng đến được. Các mô tả về
niết-bàn do đó không thể trở thành tiêu chí. Do vậy, đạo
Phật cho rằng niết-bàn, chân lý cao thượng nhất, chỉ có
thể được thực chứng trong từng cá nhân (paccattaị
veditabbo vi– – ‰ hi = praty tmyavedya); niết-bàn cũng
không thể mô tả được (nippapa– ca) và như thế không cần
phải tốn công để biểu đạt niết-bàn; niết-bàn rất thâm
diệu và không thể truyền đạt từ người này sang người
khác.
Giáo sư K. N. Jayatilleke mặc dù đã có nhiều nỗ lực
chứng minh rằng Phật giáo nguyên thủy không chấp nhận
các nguyên lý không thể minh chứng về phương diện thực
nghiệm cuối cùng cũng phải thừa nhận vài hình thái của
chủ nghĩa siêu nhiên, khi ông cho rằng vấn đề đức Phật
im lặng trước bản chất của Như Lai và sự giác ngộ của
bậc giải thoát là "không phải do có điều gì đó đức Phật
không tuệ tri, nhưng những gì mà ngài biết rằng trong ý
nghĩa siêu việt không thể chuyên chở được qua ngôn từ
bởi lý do đơn giản ngôn ngữ và chủ nghĩa kinh nghiệm
luôn có giới hạn của chúng.
Song hành với phương pháp tiếp cận mang tính Áo Nghĩa
Thư hay Vệ-đàn-đà chẳng hạn như cách của triết gia
Radhakrishnan, các giải thích siêu việt về niết-bàn như
vừa trình bày bên trên cũng không ít thì nhiều mang dấp
dáng của chủ nghĩa thường kiến (sassadav da), một học
thuyết về một bản ngã siêu hình có thực thể thường hằng
bất biến, điều mà đức Phật đã phủ nhận trong suốt cuộc
đời chuyển pháp luân của ngài. Nói cách khác, giải thích
niết-bàn theo khuynh hướng của chủ nghĩa siêu nhiên sẽ
vô tình rơi vào cạm bẫy của chủ nghĩa thường kiến, không
dưới hình thức này thì cũng hình thức khác. Đó là cách
đi trái ngược lại với lời dạy nguyên thủy của đức Phật
về tính vô ngã trong mọi sự vật hiện tượng trong cuộc
đời.
Từ những điều được trình bày sơ lược trên, chúng ta có
thể đi đến kết luận rằng các quy kết cho rằng đức Phật
chủ trương đoạn diệt luận hay cho rằng niết-bàn là một
hình thức đoạn diệt, chỉ là do không phản ánh trung thực
về bản chất của bốn chân lý cao thượng. Niết-bàn nếu là
sự đoạn diệt thì đó là sự đoạn diệt của tất cả dòng chảy
bất thiện của tâm (akusalacitta-kkhaya) và tất cả các
phiền não lậu hoặc (kilesa-kkhaya); hoàn toàn không phải
là sự đoạn tuyệt của hiện hữu, mặc dù người chứng đạt
niết-bàn không còn bị chi phối của chuỗi sanh tử luân
hồi. Đối tượng được đoạn tận khi một hành giả đạt ngộ
niết-bàn là khối khổ đau (dukkha) và các dòng chảy bất
thiện của tâm (akusala cetasika), chứ không phải bản
thân của sự sống (j? vitanirodha), lại càng không phải
sự đoạn diệt con người cá nhân hay thế giới ngoại tại!
IV. CÁCH
GIẢI THÍCH NIẾT-BÀN KHÔNG MANG TÍNH SIÊU NHIÊN
Niết-bàn có thể được giải thích một cách tốt nhất bằng
các kinh nghiệm phi siêu nhiên. Đó là kết luận mang tính
đề nghị của một số học giả nhìn thấy được sự nguy hiểm
trong việc lý giải niết-bàn dưới góc độ siêu nhiên là
cách khác để đặt niết-bàn vào quỹ đạo của chủ nghĩa
thường kiến, hay mang dấp dáng của Phạm Thiên của
Bà-la-môn giáo. Người viết hoàn toàn ủng hộ quan điểm
giải thích này. Giáo sư R. E. A. Johansson (1969: 41-64)
có thể được xem là học giả tiêu biểu cho lối giải thích
niết-bàn tương đối mới mẻ này. Vài năm sau đó giáo sư D.
J. Kalupahana (1976: 82-9) cũng trình bày quan điểm
tương tự rằng niết-bàn nên được tiếp cận từ góc độ phi
siêu nhiên. Ngoài ra, các tiến sĩ A. Tilakaratne (1993:
69-82) và Y. Karunadasa (1994: 1-14), cũng là những học
giả đáng được đề cập đến trong khuynh hướng giải thích
này.
Các bằng chứng văn bản học cho lối giải thích niết-bàn
theo khuynh hướng phi siêu nhiên là các phán đoán liên
hệ đến bản chất của đức Như Lai hay vị A-la-hán sau khi
chết. Các đoạn kinh nổi tiếng và được biết đến nhiều
nhất là các đoạn kinh Cảm Hứng Ngữ 80-1 (Ud na) và Phật
Thuyết Như Vậy 38 (Itivuttaka), cũng như mười câu hỏi
không trả lời (aby kata).
Giáo sư R. E. A. Johansson đã trình bày bốn luận điểm
chính của lối giải thích mang tính siêu nhiên về
niết-bàn và đã tuần tự phủ bác chúng. Luận điểm thứ nhất
là giả định cho rằng con người không thể tiếp cận được
bất kỳ cái gì siêu việt mà không phải phát triển một
giác quan đặc biệt cho mục tiêu này. Johansson lý luận
rằng không có một bằng chứng nào trong kinh điển đề cập
đến một giác quan đặc biệt hay một khả năng huyền học.
Do đó cái gọi là thực thể siêu hình của niết-bàn là
không có cơ sở để đứng vững. Luận điểm thứ hai nhấn mạnh
về bản chất không thể mô tả và tư duy được của tuyệt đối
và các hình thức kinh nghiệm tuyệt đối bằng huyền học.
Johansson nhấn mạnh bản chất thâm áo của niết-bàn dù là
khó nắm bắt được nhưng cũng không vì thế mà niết-bàn
mang thuộc tính siêu hình học. Luận điểm thứ ba là do
các mô tả phủ định về niết-bàn, các nhà giải thích đã cố
gắng nhìn nhận phương diện tuyệt đối của niết-bàn. Theo
Johansson, các mô tả phủ định về niết-bàn là nhằm chỉ ra
trạng thái lý tưởng của niết-bàn như là trạng thái toàn
thiện về đạo đức hay trạng thái ý thức về trí tuệ và sự
xả chấp cao cấp. Luận điểm thứ tư là sự lẫn lộn về cách
đọc nội dung của đoạn mô tả nội dung của niết-bàn ở kinh
Cảm Hứng Ngữ 80 (Ud na). Một trong các lẫn lộn đó là sự
đánh đồng trạng thái diệt tận cảm giác và nhận thức (sa–
– vedayitanirodha, diệt thọ tưởng định) với niết-bàn,
chỉ vì niết-bàn cũng vắng mặt hoạt động của cảm giác và
nhận thức.
Giáo sư Kalupahana tin rằng những gì được đề cập trong
đoạn kinh Cảm Hứng Ngữ không phải cái gọi là các đặc
tính siêu việt của niết-bàn. Đúng hơn là nhằm chỉ ra
tính chất đối nghịch của niết-bàn với luân hồi (saị s
ra). Theo Kalupahana, các nỗ lực và luận điểm giải thích
niết-bàn dưới góc độ chủ nghĩa siêu nhiên trong ngữ cảnh
của Phật giáo nguyên thủy đều tỏ ra sai lầm và thiếu
tương thích. Ông cũng bất đồng với các lối giải thích
mang tính chất của một ý thức siêu việt có thể nhận chân
được bằng tư duy logic, như giáo sư E. Conze đã cố gắng
chứng minh. Tiến sĩ A. Tilakaratne cho rằng nếu
phi-siêu-nhiên không phải là đặc tính trọng tâm của
niết-bàn thì Phật giáo sẽ trở nên đồng hóa với Ấn Độ
giáo, một tôn giáo tin vào tính siêu nhiên của Phạm
Thiên (Brahman), dù tính hiện hữu của Phạm Thiên đó là
bất thật và cũng chưa từng có ai đã từng thấy biết được
mặt mũi thật của Phạm Thiên. Theo Tilakaratne, cả hai
lối giải thích niết-bàn là siêu nhiên hay niết-bàn là
đoạn diệt đều là triệu chứng của cơn bệnh và chỉ có thể
chữa lành với sự chứng đạt được niết-bàn. Ông kết luận
rằng:
Kinh nghiệm về niết-bàn không thể là kết quả của siêu
nhiên hoá cái thực tại thông thường của thế giới. Nó
càng không thể phát sanh từ một Thượng đế siêu nhiên. Nó
cũng không dẫn con người đến cái siêu nhiên. Sự loại trừ
các khả tính này cho thấy rằng, trên nguyên tắc,
niết-bàn không thể liên hệ đến một loại kiến thức không
diễn tả được, thông thường gắn liền với các hình thái
khác của kinh nghiệm tôn giáo. Điều này có nghĩa là kinh
nghiệm tôn giáo của đạo Phật không thể thay thế bằng
định đề bất khả biểu đạt và ngôn dụ.
Đối với giáo sư Y. Karunadasa, các giải thích siêu nhiên
về niết-bàn có thể đã bắt rễ từ đức tin tôn giáo về một
thực tại siêu nhiên và nội tại, cũng như đức tin tôn
giáo đó được các học giả ủng hộ các kinh nghiệm tôn giáo
siêu nhiên, mang cấy vào đạo Phật, một đạo vốn không hề
đồng tình với kinh nghiệm siêu nhiên đó. Karunadasa đã
lý luận rằng nếu có một khái niệm "siêu nhiên" trong
Phật giáo nguyên thủy thì khái niệm đó đã có thể ám chỉ
cho thế giới (loka), hay nói khác hơn sự siêu nhiên của
thế giới, hay nhóm nhân tính tâm vật lý (pa– cakkhandh
, ngũ uẩn), đồng thời cũng ám chỉ cho sự chấm dứt toàn
bộ tiến trình của duyên (paỉ icca-samupp da).
Trên thực tế, vị trí của người giác ngộ sau khi từ bỏ
xác thân, theo đức Phật, không thể được mô tả bằng ngôn
từ của chủ nghĩa thường hằng (sassatav da) hay chủ
nghĩa đoạn diệt (ucchedav da). Mô tả về bậc giác ngộ
sau khi chết từ phương diện hiện hữu (hoti) sẽ có thể
dẫn tới sự đồng hóa về phương diện siêu hình bậc giác
ngộ với nhóm nhân tính tâm vật lý, mà vốn các ngài đã
thoát khỏi chúng. Đồng thời cách giải thích cũng còn dẫn
đến chủ nghĩa thường hằng luận. Trong khi đó, diễn tả
niết-bàn dưới góc độ phi hiện hữu (na hoti), mặt khác,
sẽ dẫn đến sự đồng hóa về phương diện vật lý bậc giác
ngộ với thân thể (r‰ pa), và do đó dẫn đến chủ nghĩa
đoạn diệt luận. Nếu cả hai phương thức lý giải trên đều
không thích hợp thì sự lý giải bao gồm cả hai hiện hữu
và phi hiện hữu (hoti ca na hoti ca) cũng như phủ định
của cả hai (neva hoti na na hoti) cũng trở nên không có
cơ sở để thiết lập hay tồn tại. Cần lưu ý rằng đức Phật
không hề im lặng về bốn định đề có, không, vừa có vừa
không và chẳng phải có chẳng phải không này. Câu trả lời
của ngài về bốn định đề này là "cả bốn trường hợp đều
không thích ứng (na upeti), bất luận câu hỏi có mặt hay
không. Một khi câu hỏi đã không thích ứng thì câu trả
lời sẽ trở nên vô nghĩa. Đó là điều được nói về Như Lai,
một bậc không thể hiểu biết được (na upalabbhati) bằng
chân lý hay thực tại (saccato thetato anupalabbhiyam
ne).
V.
NIẾT-BÀN KHI CÒN SỐNG
Có hai hình thái của bậc giác ngộ, đó là, trong lúc còn
sống và sau khi chết. Do đó, niết-bàn cũng được đề cập
đến dưới hai hình thái (dh tu), đó là, niết-bàn khi còn
sống (kilesa-(pari)-nibb na, hữu dư y niết-bàn) hay còn
gọi là sa-up di-sesa-nibb na/ up di-sesa-(pari)-nibb
na và niết-bàn sau khi chết (khandha-(pari)-nibb na)
hay còn gọi là an-upadi-sesa-(pari)-nibb na. Trước nhất
chúng ta hãy thảo luận về bản chất của niết-bàn ngay khi
còn sống.
Thế nào là niết-bàn khi còn sống? Ở đây một bậc A-la-hán
đã diệt sạch các lậu hoặc của tâm (kh? n savo), đã sống
cuộc đời thánh thiện, hoàn tất những gì cần làm, đã đặt
gánh nặng xuống, đã đạt được đích đến, chặt đứt hoàn
toàn các trói buộc của tái hiện hữu, giải thoát bằng trí
tuệ (sammappa– – vimutto). Ở vị ấy, năm giác quan vẫn
còn. Do còn các giác quan, vị ấy vẫn còn phải kinh
nghiệm qua các cảm giác, khổ đau hay hạnh phúc, thích
hay không thích. Ở vị ấy tham ái (r ga), sân hận (dosa)
và vô minh (moha) đã chấm dứt. Đó là những gì được gọi
là niết-bàn khi còn sống.
Theo nội dung của đoạn kinh trên, niết-bàn khi còn sống
được hiểu là trạng thái của vị A-la-hán đang còn sống;
năm nhóm nhân tính tâm vật lý vẫn còn tồn tại trong suốt
khoảng thời gian từ lúc giác ngộ cho đến lúc nhắm mắt
lìa đời, không còn trải qua đời sống tái sanh nữa. Bậc
giác ngộ như vậy không thể bị đồng hóa với hay tách rời
khỏi năm nhóm nhân tính tâm vật lý, dù là cá thể hay tập
thể. Khi còn sống, do hoạt lực của nghiệp trong quá khứ
phối hợp với các giác quan và các nhóm nhân tính, các
tiến trình tâm vật lý của vị ấy vẫn phải còn hoạt động,
cho đến khi vị ấy lìa khỏi cõi đời. Nhưng nhờ sự chấm
dứt toàn bộ các dòng chảy của các lậu hoặc tâm và các
trói buộc tái hiện hữu, bậc giác ngộ không còn phải tái
sanh nữa. Nói cách khác, một vị A-la-hán với niết-bàn
ngay lúc còn sống là người đã chặt đứt các gốc rễ các
của tham ái (r ga), sân hận (dosa), vô minh (moha), và
giải thoát khỏi luân hồi, bằng trí tuệ ngay trong cuộc
sống hiện tại này.
Ngoài ra, có bốn đoạn kinh mô tả về bản chất của
niết-bàn (nibb na-patisaị yutt ya kath ya), được ghi
chép trong Cảm Hứng Ngữ 80 (Ud na), thường được phần
lớn các học giả trích dẫn và bình luận khi đề cập đến
niết-bàn. Điều quan trọng cần ghi nhận ở đây là cả bốn
đoạn văn đều không đề cập đến tình trạng sau khi chết
của bậc đã giác ngộ, mà chỉ đề cập đến bản chất niết-bàn
ngay trong đời sống hiện tại này.
MÔ TẢ THỨ NHẤT CỦA CẢM HỨNG NGỮ VỀ BẢN CHẤT NIẾT-BÀN
Đoạn mô tả thứ nhất trong Cảm Hứng Ngữ về bản chất của
niết-bàn như sau:
Có (atthi) một cảnh giới ( yatana) nơi đó không có đất,
nước, lửa, gió, không có không vô biên xứ, không có thức
vô biên xứ, không có phi tưởng phi phi tưởng xứ, không
có thế giới này và thế giới bên kia hay cả hai; không có
mặt trời, không có mặt trăng. Đây là điều ta gọi là giải
thoát khỏi đến ( gatiị ) và đi (gatiị ), khỏi hình
thành và phát triển (ỉ hitiị ) và hoại diệt (cutiị );
không có bắt đầu (upapattiị ) không có hình thành; không
có kết quả và không có nguyên nhân. Đó thật ra là sự
chấm dứt của đau khổ.
Theo quy luật nhân quả, cái gì có điều kiện hay duyên
khởi thì cái đó được tạo nên bởi cái khác. Cái khác đó
lại được tạo nên bởi các khác với nó nữa. Như vậy trong
chuỗi tiến trình tương thuộc nhân quả không thể truy
nguyên được nguyên nhân khởi thủy, bởi lẽ rất đơn giản,
nguyên nhân khởi thuỷ không thể hiện hữu trong thực tế
khách quan. Khác hẳn với các hiện hữu nhân quả tương
thuộc, niết-bàn được định nghĩa là không duyên khởi, vô
vi, và do vậy niết-bàn không do bất cứ cái gì hình thành
nên. Ở đây niết-bàn được đặc tính hoá với "sự chấm dứt
của khối đau khổ" (anto dukkhassa), cái không thể bị
đồng hóa với bất kỳ một cái nào của mười hai hiện hữu
tương thuộc, bao gồm, bốn yếu tố của vật chất (mah bh‰
ta-r‰ pa), bốn cảnh thiền vô sắc giới (ar‰ paloka), thế
giới này (loka), thế giới bên kia (paraloka), mặt trời
(suriya), và mặt trăng (canda), bởi vì các hiện hữu
thuộc tính này mang tính duyên khởi và công cụ của những
cái tương thuộc khác (conditioned and instrumental by
inter-others). Nói cách khác, sự vắng mặt của các yếu tố
vật lý và các cảnh giới vô sắc ở đây ám chỉ sự vắng mặt
của tâm vật lý hay nhóm nhân tính trong niết-bàn. Cái
gọi là cảnh giới ( yatana) của niết-bàn không phải là
cảnh giới theo nghĩa đen hay ngôn ngữ học của từ, như
trong trường hợp của mười hai hiện hữu tương thuộc được
nêu ra bên trên. Nó là cảnh giới "nội tại" của tâm thanh
tịnh, nơi mà các sự kiện và giá trị của thế giới khách
quan không còn bóng dáng, hay nơi mà các kinh nghiệm
giác quan của thế giới chủ thể không thể tiếp xúc được;
nơi mà sanh, già, chết, tái sanh và đau khổ không có
chân đứng; và nơi mà chỉ có sự an tĩnh siêu việt thời
gian (ak liko) trong sự vắng mặt hoàn toàn khổ đau ngự
trị. Nếu đây là những gì được hiểu về niết-bàn thì
niết-bàn không thể được tạo nên bởi bất kỳ sự vật hay
chủ thể nào trong thế giới vật chất (r‰ paloka) này,
chẳng hạn như, đất (paỉ havi), nước ( pa), lửa (teja)
và gió (v ya), cũng không thể được tạo nên bởi bất cứ
vật gì trong thế giới vô sắc (ar‰ paloka), như cảnh giới
không vô biên xứ (€ k s na– c yatana), thức vô biên
xứ (Vi– – ?a– c yatana), vô sở hữu xứ (€ ki– ca– –
yatana) và cảnh giới phi tưởng phi phi tưởng xứ (Nevasa–
– n sa– – yatana). Khi đạt đến được sự chấm dứt đau
khổ (anto dukkhassa) thông qua sự diệt trừ tham ái
(ta?h kkhaya), hành giả đạt được niết-bàn, thoát khỏi
mọi trở ngại của thế giới này (loka) hay thế giới bên
kia (paraloka), chẳng hạn như ngày và đêm, sống và chết,
đến và đi, v.v. . . Vị ấy sẽ hoàn toàn giải thoát khỏi
các sợ hãi (akutobhaya). Nói cách khác, niết-bàn không
thể được tạo ra bởi các công cụ, thiết bị, nguyên nhân,
điều kiện, mặc dù không có các trợ duyên thích hợp, con
người không thể chứng đạt niết-bàn. Điều này được HT. W.
Rahula trình bày trong quyển sách nổi tiếng, Những Gì
Phật Dạy (What the Buddha Taught):
Thật là sai lầm khi cho rằng niết-bàn là kết quả tự
nhiên của sự chấm dứt tham ái. Niết-bàn không phải là
kết quả của bất kỳ cái gì. Nếu niết-bàn là kết quả thì
buộc phải có một nhân được tạo ra. Như vậy niết-bàn sẽ
trở thành hữu vi (saị khata), mang tính chất duyên khởi
và bị tạo ra. Niết-bàn không phải là nhân mà cũng không
phải là quả. Niết-bàn vượt khỏi nhân và quả. Điều duy
nhất mà bạn cần phải làm là nhận chân nó. Mặc dù có con
đường để dẫn đến niết-bàn nhưng niết-bàn không phải là
kết quả của con đường. Bạn có thể đến được núi do lần
theo con đường nhưng núi không phải là kết quả của con
đường. Bạn có thể thấy được ánh sáng nhưng ánh sáng
không phải là kết quả của sự thấy của con mắt.
MÔ TẢ THỨ HAI CỦA CẢM HỨNG NGỮ VỀ NIẾT-BÀN
Đoạn kinh thứ hai trong Cảm Hứng Ngữ 80 mô tả về
niết-bàn là một đoạn rất cô đọng nhưng chứa đựng biểu
đạt về bản chất của niết-bàn và mối liên hệ của nó với
tính không thực thể (vô ngã) cũng như con đường dẫn đến
sự chứng đạt niết-bàn. Đặt trọng tâm vào tham ái và
nguồn gốc của đau khổ, trên thực tế đoạn kinh đã đề cập
đến bốn chân lý cao thượng:
Sự nhận chân tính không thực thể [cuả mọi hiện hữu] quả
thật là khó. Chân lý cũng không phải dễ dàng để nhận ra.
Tham ái được tuệ tri đối với người tuệ giác và không còn
gì vướng mắc đối với người đã thấy được [chân lý
niết-bàn].
Nội dung của đoạn văn trên sẽ không rõ ràng nếu ta tách
rời chúng khỏi đoạn mô tả thứ nhất trong Cảm Hứng Ngữ về
bản chất của niết-bàn. Trên thực tế đoạn mô tả thứ hai
này là giải thích phụ thuộc cho đoạn mô tả thứ nhất.
Trong hai câu đầu tiên, khái niệm "không thực thể" của
mọi hiện hữu và "chân lý" là ám chỉ cho niết-bàn. Câu
thứ ba xác định rằng một khi tuệ tri được bản chất của
tham ái, chân lý thứ hai về nguồn gốc của đau khổ, con
người có thể tuệ tri ba chân lý còn lại, đó là sự thật
về hiện thực đau khổ, sự thật về trạng thái chấm dứt đau
khổ và con đường thoát khổ. Khái niệm "không còn" trong
câu cuối không nên được đánh đồng với "cái không còn gì"
(nothingness) hay "cái phi hiện hữu" (non-existence),
bởi lẽ sự đánh đồng như vậy sẽ dẫn đến lối giải thích
ngộ nhận cho rằng niết-bàn là đoạn diệt. "Không còn gì"
ở đây phải được đọc theo cách chua "không còn gì vướng
mắc" hay không còn gì của bóng dáng tham ái và khổ đau,
bởi lẽ, đối với người đã chứng đạt được niết-bàn, tất cả
gốc rễ của tham ái và chấp mắc đã hoàn toàn được nhổ
sạch, đã đến đích của sự chấm dứt đau khổ.
Nếu cách đọc văn bản trên là chính xác thì đoạn văn mô
tả đó có thể được trình bày một cách dễ hiểu như sau:
"Sự chứng đạt niết-bàn thật là khó, cũng giống như sự
tuệ tri được bản chất không thực thể trong mọi hiện hữu.
Đối với người đã chứng đạt niết-bàn, tham ái đã được
chặn đứng và do đó, không còn lại một tí gì của tham ái
hay đau khổ."
Nói cách khác sự chứng đạt niết-bàn vô cùng khó, không
chỉ bởi bản chất siêu việt thời gian và không gian của
niết-bàn mà còn ở sự khó khăn trong việc đạt được sự
chấm dứt toàn bộ khối tham ái khỏi thế giới kinh nghiệm
của tiếp xúc và cảm giác. Một khi làm chủ và diệt sạch
được mấu chốt tiếp xúc - cảm giác và tham ái thì sự
chứng đạt niết-bàn sẽ lập tức hiển hiện.
Một cách đọc khác về đoạn mô tả thứ hai có thể là "nếu
có một thuộc tính của niết-bàn thì thuộc tính đó là tính
không thực thể (vô ngã, anatta). Niết-bàn là vô ngã.
Chân lý này thật là khó để nhận chân. Cách duy nhất để
nhận chân là phải làm chủ và diệt sạch tham ái, nguyên
nhân của đau khổ và luân hồi. Đối với người đã làm chủ
và diệt sạch chúng thì không có gì là khó khăn cả." Nếu
cách đọc như trên được chấp nhận thì nội dung của nó sẽ
đặt trọng tâm vào con đường dẫn đến sự chứng đạt
niết-bàn, cái được mô tả trong đoạn Cảm Hứng Ngữ thứ
nhất như là một cảnh giới siêu việt không gian và thời
gian, thế giới này, thế giới bên kia, thế giới hình thể,
thế giới vô hình thể của thiền định. Con đường (chân lý
thứ thư) dẫn đến trạng thái chấm dứt toàn bộ khổ đau tức
niết-bàn (chân lý thứ ba) nằm ở sự chấm dứt toàn bộ khối
tham ái (chân lý thứ hai) và sự tuệ tri được tính không
thực thể trong mọi hiện hữu dù là tương thuộc nhân quả
hay không.
MÔ TẢ THỨ BA CỦA CẢM HỨNG NGỮ VỀ NIẾT-BÀN
Đây là đoạn kinh được trích dẫn nhiều nhất, khi các nhà
Phật học diễn tả về bản chất của niết-bàn:
Này các tỳ-kheo, có một thứ hiện hữu vốn không được sinh
ra (aj taị ), không bị trở thành (abh‰ taị ), không
được tác tạo (akataị ), không bị điều kiện hóa (asaơ
khataị ). Này các tỳ-kheo, nếu cái không được sanh ra,
không bị trở thành, không được tác tạo và không bị điều
kiện hóa đó mà không có hiện hữu thì rõ ràng là sẽ không
có sự giải thoát khỏi cái được sinh ra, bị trở thành,
được tạo nên và bị điều kiện hóa, như chúng ta từng
chứng kiến. Nhưng này các tỳ-kheo, do vì từng có sự hiện
hữu của cái không được sanh ra, không bị trở thành,
không được tác tạo và không bị điều kiện hóa, nên con
đường thoát khỏi cái được sinh ra, bị trở thành, được
tạo nên và bị điều kiện hóa sẽ được biết đến.
Nếu đau khổ (dukkha) được điều kiện hóa bằng tiến trình
của duyên khởi tương thuộc (paỉ icca-samupp da), thì
niết-bàn, sự chấm dứt khổ đau là phi điều kiện hóa (asaơ
khataị ). Nói khác đi, trong niết-bàn không có tính điều
kiện, tiến trình của tính điều kiện, các sự vật mang
tính điều kiện về thời gian và không gian không thể hiện
hữu trong niết-bàn. Đặc tính vô sanh của niết-bàn chỉ ra
rằng niết-bàn thoát khỏi ngoại diên của thời gian.
Niết-bàn siêu việt tính thời gian (ak liko) hay vượt
khỏi ranh giới của quá khứ, hiện tại và vị lai. Sự sanh
khởi và chấm dứt của các hiện hữu có điều kiện (the
conditioned existents) luôn liên hệ với thời gian, bắt
đầu bằng thời gian và kết thúc với thời gian. Trái lại,
niết-bàn không có liên hệ gì với thời gian. Niết-bàn
không có bắt đầu, do đó, không có sự sanh khởi trong
niết-bàn. Niết-bàn thoát khỏi sự sanh khởi, vắng mặt sự
sanh khởi. Sự sanh khởi của các hiện hữu điều kiện tương
thuộc, trong đó năm nhóm nhân tính tâm vật lý là một,
luôn trong tiến trình chuyển hóa nhân quả tương tục.
Khác với năm nhóm nhân tính, niết-bàn không còn phải bị
vướng mắc vào sanh khởi.
Với tính chất không bị sinh ra hay vô sanh (abh‰ taị ),
niết-bàn không phải trải qua các giai đoạn trưởng thành,
già nua và chết đi, như bao nhiêu hiện hữu tương thuộc
khác. Như một quy luật, cái gì được sanh ra, cái đó phải
trở thành. Niết-bàn không được sanh ra từ cái gì, do đó,
niết-bàn sẽ không bị trở thành cái gì. Không có các hoạt
động xây dựng hay hình thành trong niết-bàn. Hơn hết,
trong niết-bàn không còn mặt mũi của các hoạt động tác
tạo đó. Niết-bàn không phải là cái gì đó được hình
thành, được cấu tạo nên. Niết-bàn thoát khỏi tính tạo
dựng (akata). Nói cách khác, nếu niết-bàn không phải là
những cái được sanh ra, bị trở thành, thì dĩ nhiên rằng
niết-bàn là cái không được tạo nên từ bất cứ vật gì, chủ
thể nào. Theo ý nghĩa này, một vị A-la-hán là người đã
tuệ tri được sự chấm dứt của các tương thuộc tính và là
bậc tuệ tri được niết-bàn.
Cả ba đặc tính của niết-bàn như vừa được trình bày sẽ
tạo nên một đặc tính quan trọng đó là tính phi điều kiện
hóa (asaơ khata). Đặc tính phi điều kiện hóa (asaơ
khata) của niết-bàn có nghĩa là niết-bàn không phải là
cái được đưa vào hiện hữu từ bất kỳ điều kiện nào, cũng
như nó không được nuôi dưỡng từ các hiện hữu mang tính
điều kiện. Sở dĩ như vậy là vì trong đặc tính không bị
sanh ra, không bị trở thành, không được tạo nên,
niết-bàn phải là cái không thuộc tính điều kiện, hay sự
chấm dứt của vòng luân hồi và các hoạt động tạo dựng của
chúng.
Điều quan trọng cần lưu tâm là đoạn mô tả thứ ba trong
Cảm Hứng Ngữ về bản chất của niết-bàn đóng vai trò như
một luận điểm minh chứng cho sự hiện hữu của niết-bàn
thông qua tính khả thể thực tại của sự thoát khỏi vòng
luân hồi. Luận chứng này có thể được trình bày dưới cấu
trúc sau đây: (i) niết-bàn thật sự có hiện hữu, (ii) Nếu
niết-bàn vốn không có hiện hữu thì đã không có con đường
thoát khỏi luân hồi từ trước đến giờ, (iii) do vì có sự
hiện hữu của niết-bàn nên cũng phải có con đường thoát
khỏi luân hồi. Định đề (i) nhằm xác quyết về sự hiện hữu
của niết-bàn. Định đề (ii) như là bằng chứng cho sự hiện
hữu của niết-bàn. Định đề (iii) là sự tái xác định về sự
hiện hữu của niết-bàn từ hai định đề (i) và (ii). Trong
tổng thể của luận chứng, bản chất của niết-bàn được mô
tả bằng các thuật từ vô sanh (aj taị ), không bị trở
thành (abh‰ taị ), không được tạo nên (akataị ) và không
bị điều kiện hóa (asaơ khataị ), vốn là sự chuyển hóa
toàn diện của các hiện hữu tương thuộc nhân quả, những
thứ được sanh ra, bị trở thành, được tạo dựng nên và bị
điều kiện hóa.
MÔ TẢ THỨ TƯ CỦA CẢM HỨNG NGỮ VỀ NIẾT-BÀN
Đoạn mô tả thứ tư cũng không kém phần quan trọng:
Đối với người còn chấp mắc sẽ có tính không vững vàng.
Đối với người không còn vướng mắc, sự không vững đó sẽ
không còn. Một khi sự không vững vàng không còn thì sự
an tịnh sẽ hiện hữu. Khi có sự an tịnh sẽ không có đam
mê. Khi không còn đam mê, sẽ không còn sự đến và đi
[trong luân hồi]. Khi không còn đến và đi thì không còn
chết và tái sanh. Khi không còn chết và tái sanh thì
không còn đời này, đời sau và sự chuyển tiếp giữa chúng.
Đó thật sự là sự chấm dứt của đau khổ.
Theo sau luận điểm chứng minh sự hiện hữu thật của
niết-bàn trong đoạn mô tả trướ?, đoạn mô tả này chỉ ra
còn đường dẫn đến niết-bàn. Như là sự tất yếu của chuỗi
liên nhân, sự mô tả về con đường dẫn đến niết-bàn bắt
đầu từ vấn đề chấp mắc và kết thúc với sự chấm dứt khối
đau khổ, hay niết-bàn. Nó nhằm chỉ ra rằng sự chấm dứt
của khối đau khổ hay sự chứng đạt niết-bàn chỉ có thể
hoàn thành được bằng "không chấp mắc" hay giải thoát
mình khỏi vướng mắc. Sự không vướng mắc dẫn đến sự an
tịnh (tranquillity) ? không đam mê (no-delight) ? không
đến không đi (no-coming-and-going) ? chết đi và tái sanh
(dying-and-being-reborn) ? không còn đời này đời sau và
sự chuyển tiếp giữa chúng
(no-here-and-no-there-and-in-between). Nói khác đi, giải
thoát khỏi chấp mắc sẽ làm cho giải thoát khỏi đau khổ
trở nên hiện thực. Đây là con đường khẳng định dẫn đến
niết-bàn, sự chấm dứt toàn bộ khối đau khổ.
Nói tóm lại, cả bốn đoạn mô tả trong Cảm Hứng Ngữ về bản
chất của niết-bàn khi còn sống trở nên quan trọng và hỗ
tương cho nhau trong việc xác quyết về trạng thái thật
của niết-bàn và con đường dẫn đến niết-bàn. Đoạn mô tả
thứ nhất là một sự khẳng định về trạng thái niết-bàn
siêu việt khỏi ranh giới của thời gian và không gian. Mô
tả bản chất của niết-bàn bằng cách vận dụng lối mô tả
tương phản với cuộc sống trong luân hồi và cuộc sống
trong niết-bàn là cách tốt nhất để giúp cho người đọc
hiểu được niết-bàn. Nếu thế giới vật chất (r‰ pa-loka)
của luân hồi mang tính duyên khởi tương thuộc và được
hình thành bởi các yếu tố đất, nước, lửa, gió, liên hệ
với thời gian, phải chịu sự hình thành, trở thành, biến
hoại và ra đi; thế giới vô hình thể (ar‰ paloka) cũng
không tốt hơn gì. Chính niết-bàn vốn vượt khỏi các điều
kiện đó không còn phải chịu sự chi phối của bắt đầu và
hình thành. Niết-bàn không phải là kết quả của bất cứ
cái gì trong thế giới nhân quả duyên khởi tương thuộc.
Niết-bàn là sự chấm dứt của đau khổ.
Đoạn mô tả thứ hai nhằm chỉ ra con đường dẫn đến sự chấm
dứt đau khổ. Con đường ở đây được mô tả một cách đơn
giản như là sự tuệ tri về tính không thực thể của các
hiện hữu (anatta) trong thế giới này và thế giới bên
kia, và đây cũng chính là con đường dẫn đến sự đoạn diệt
tất cả tham ái, nguyên nhân của đau khổ. Chân lý đơn
giản nhưng hiệu quả này thật là khó nhận chân được.
Đoạn mô tả thứ ba là sự tái xác định của đoạn mô tả thứ
nhất, và giới thiệu thêm vài đặc tính của niết-bàn như
là vô sanh (aj ta), không bị trở thành (abh‰ ta), không
được tạo tác nên (akata) và không bị điều kiện hóa, hay
thoát khỏi mọi điều kiện tương thuộc (asaơ khata). Ngoài
ra, nó còn đóng vai trò của một luận điểm nhằm minh
chứng cho sự hiện hữu thật của niết-bàn song song với sự
hiện hữu của luân hồi. Rất có thể các nhà Phật học Đại
thừa đã vận dụng nội dung này để khẳng định rằng
niết-bàn không khác luân hồi, niết-bàn và luân hồi bất
nhất và bất nhị. Nói khác đi, bất cứ nơi nào có mặt luân
hồi, nơi có sự hiện hữu của niết-bàn. Đau khổ và sự chấm
dứt đau khổ không thể tách rời nhau.
Đoạn mô tả thứ tư là sự tái xác quyết cho đoạn mô tả thứ
hai, nhằm chỉ ra con đường dẫn đến niết-bàn. Con đường
đó như là chuỗi nhân quả của sự chuyển hoá, bắt đầu từ
việc nhận chân được sự nguy hiểm của chấp mắc, tiến tới
không chấp mắc ? an tịnh ? không đam mê ? không tái sanh
và chấm dứt ở sự giải thoát khỏi khối khổ đau.
Tất cả các mô tả này cho thấy rằng niết-bàn chỉ có thể
chứng đạt được khi có sự chuyển hóa tâm một cách trọn
vẹn từ những trạng thái bất thiện đến sự diệt tận các
dòng chảy lậu hoặc của tâm. Sức mạnh của bốn đoạn mô tả
về niết-bàn trong Cảm Hứng Ngữ nằm ở việc vận dụng hai
chân lý thứ ba và thứ tư để khẳng định nhiều lần tính
khả thể chứng đạt niết-bàn ngay trong đời sống hiện tại
này, nếu con người có quyết tâm cao độ và đi đúng con
đường.
VI.
NIẾT-BÀN SAU KHI CHẾT
Phương diện của niết-bàn thường gây tranh luận và bị
hiểu lầm nhiều nhất là vị trí sau khi chết (parammara?
) của bậc đã giác ngộ. Bản chất của bậc giác ngộ và
chứng đạt niết-bàn sau khi chết hay vô dư y niết-bàn
được đề cập rõ trong một đoạn kinh Phật Nói Như Vậy 38
(Itivuttaka):
Thế nào là niết-bàn vô dư y? Ở đây, một vị A-la-hán đã
diệt sạch các dòng lậu hoặc và phiền não (kh? n savo),
đã sống hoàn thành đời sống thánh thiện, thực hiện hoàn
mãn các điều cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã chứng
đạt mục đích, chấm dứt được các trói buộc của tái hiện
hữu, giải thoát bằng trí tuệ. Ở vị A-la-hán như vậy,
trong đời sống này, tất cả các cảm giác không còn tham
luyến nữa, đã hoàn toàn bị dập tắt. Đây gọi là niết-bàn
vô dư y.
Theo đoạn mô tả này, một bậc giác ngộ sau khi xả bỏ thân
xác không còn phải chịu cảnh trở thành hay tái hiện hữu,
vì tất cả các cảm giác hay kinh nghiệm giác quan
(vedayit ni) đã hoàn toàn dừng nghỉ (s? tibh‰ t ni). Ở
đây do sự dừng nghỉ hoàn toàn của các kinh nghiệm giác
quan, bậc giác ngộ sau khi chết thật sự giải thoát khỏi
đau khổ dưới ba hình thái của nó, đó là, j đau khổ vật
lý (dukkha-dukkhat , khổ khổ), k đau khổ do thay đổi
ngược chiều của sự vật (vipari? ma-dukkhat , hoại
khổ), và l đau khổ do các thay đổi tâm lý gây ra (saơ
kh ra-dukkhat , hành khổ). Trong khi đó, đối với vị
giác ngộ lúc còn sống, vị ấy đã thoát khỏi các đau khổ
do các thay đổi tâm lý gây ra, mặc dù còn phải chịu đựng
các đau khổ thuộc dạng vật lý và do thay đổi ngược chiều
của sự vật mang lại, vì các hoạt động giác quan và năm
nhóm nhân tính của vị ấy vẫn còn hoạt động cho đến lúc
tắt thở.
Trong khi thảo luận về niết-bàn như là sự chấm dứt của
luân hồi, kết luận đạt đến thường là bậc giác ngộ không
còn phải bị chi phối của sự tái sanh trong tương lai, do
bậc giác ngộ đã chấm dứt hoàn toàn tham ái (ta? h ),
chấp mắc (up d na) và vô minh (avijj ), những chất
liệu của sanh tử. Một câu hỏi thú vị thường được hỏi
trong trường hợp này là: "đâu là tình trạng sau khi chết
(parammara? ) của một bậc đã giác ngộ, Như Lai hay một
vị A-la-hán?" Có ba cách trả lời cho câu hỏi trên:
Đoạn diệt hẳn.
Có sự tiếp nối hiện hữu, cùng một hình thái hay khác
hình thái.
Bậc giác ngộ sau khi chết vượt khỏi mọi nạn vấn.
Câu trả lời đầu thường được tìm thấy trong những ai
không chấp nhận có tính tương tục của sự không thực thể
(vô ngã) như là đặc điểm thuộc tính của mọi thực tại và
hiện hữu. Lối tiếp cận này thường dẫn đến cách giải
thích niết-bàn là đoạn diệt mất, như chúng ta đã có dịp
nói qua trong phần đầu của bài viết. Đối lập với câu trả
lời thứ nhất, câu trả lời thứ hai dẫn đến cách giải
thích niết-bàn dưới góc độ thường kiến luận, một cách
giải thích cũng không kém phần nguy hại. Đây là cách
giải thích của phần lớn những ai được đào tạo trong
truyền thống Áo Nghĩa Thư, hoặc bất kỳ truyền thống nào
tin vào một linh hồn bất tử và thường hằng bất biến sau
khi chết. Lối giải thích thứ ba xem ra là sự lựa chọn
tốt hơn, nhưng lại dẫn đến cách lý giải niết-bàn dưới
góc độ siêu nhiên luận, vượt khỏi mọi kinh nghiệm và mô
tả của ngôn từ.
Thật ra, câu hỏi trên đã từ xa xưa trở thành chủ đề của
nhiều cuộc đàm đạo giữa đức Phật và các nhà tôn giáo và
triết học cùng thời với ngài, và thậm chí cũng là đề tài
thảo luận trong số quần chúng Phật tử thời bấy giờ. Một
trong các cuộc đàm đạo về vấn đề này được ghi lại trong
bài Kinh Dụ Ngôn về Lửa thuộc Tuyển Tập Các Bài Kinh
Trung Bình (Majjhima-Nik ya, Trung Bộ Kinh). Bài kinh
bắt đầu bằng mười câu hỏi của Vacchagotta và thường được
biết đến là những câu hỏi không được đức Phật trả lời
(avy kata // avy k?ta) bởi vì chúng vô nghĩa về phương
diện nhận thức luận và không thích ứng với mối quan tâm
của ngài về đau khổ của nhân sinh và sự chấm dứt chúng,
về phương diện đạo đức thực tiễn. Bốn câu hỏi đầu liên
hệ đến các ý niệm siêu hình về thế giới (thế giới này là
thường hằng, không thường hằng, vừa thường hằng vừa
không thường hằng, chẳng thường hằng chẳng phải không
thường hằng). Hai câu hỏi kế liên hệ đến bản ngã (linh
hồn đồng nhất với thân thể hay khác biệt với thân thể).
Bốn câu hỏi còn lại đề cập đến tình trạng sau khi chết
của Như Lai, đó là:
1. Như Lai tồn tại sau khi chết (Hoti Tath gato
parammara? ).
2. Như Lai không tồn tại sau khi chết (Na hoti Tath
gato parammara? ).
3. Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết
(Hoti ca na ca hoti Tath gato parammara? ).
4. Như Lai chẳng phải tồn tại chẳng phải không tồn tại
sau khi chết (N"eva hoti na na hoti Tath gato
parammara? ).
Câu trả lời của đức Phật đối với các câu hỏi không trả
lời này là "tất cả chúng đều "không thích hợp" (na
upeti) với tình trạng của bậc giác ngộ sau khi chết."
Thái độ cho rằng cần phải có hiện hữu (hoti), hay không
hiện hữu (na hoti), hay vừa hiện hữu vừa không hiện hữu
(hoti ca na hoti ca) hoặc chẳng phải hiện hữu chẳng phải
phi hiện hữu (neva hoti na na hoti) thường được bám rễ
trong tham ái, dù là cho sự bất tử của năm nhóm nhân
tính hay sự chấm dứt nó, hay bao gồm cả hai, hay loại
trừ cả hai. Đức Phật đã nhổ lên tận gốc tham ái như vậy.
Do đó, không khó khăn gì, ngài nhìn thấy được sự vô ích,
vô nghĩa và không thích ứng của các câu hỏi đó. Dù sao
chăng nữa, điều này đã không làm cho Vacchagotta thỏa
mãn nỗi khát vọng loại câu trả lời theo dạng
"có-hoặc-không." Vacchagotta hoàn toàn tỏ ra bối rối.
Đức Phật thấy rất rõ sự bối rối của Vacchagotta, vì ngài
biết rõ rằng "giáo pháp của ngài sâu kín, thâm diệu, khó
thấy, khó hiểu, khó lãnh hội, an tịnh, siêu tuyệt, vượt
khỏi logic, huyền diệu và chỉ có các bậc trí tuệ thấu
hiểu được." Vacchagotta thật ra không phải là bậc trí
theo nghĩa của thuật từ này, và hơn nữa thật là khó cho
ông một người được hấp thụ một truyền thống khác, một
quan điểm khác, một cách nhìn khác với một mục đích
khác. Vacchagotta, rất có thể đã được huấn luyện nhuần
nhuyễn trong logic của linh hồn bất tử sau khi chết,
không thể chấp nhận bất kỳ ý niệm nào vượt khỏi logic
này (atakk vacara). Để giúp cho ông hiểu được giáo pháp
siêu việt, thâm áo, kỳ diệu, vượt khỏi tầm tay của
logic, đức Phật đã minh hoạ bằng một dụ ngôn về một ngọn
lửa đã bị dập tắt (nibbuto aggi). Thông qua cuộc đối
thoại đầy minh hoạ của đức Phật, cuối cùng Vacchagotta
nhận ra được rằng nếu ngọn lửa cháy lên do vì nguồn
nhiên liệu cung cấp, chẳng hạn như sáp, dầu, củi v.v. .
. thì bất cứ khi nào nguồn nhiên liệu này không còn thì
phương hướng tiêu mất của ngọn lửa đã tắt cũng không
truy ra được là phương đông, tây, nam hay bắc. Cũng vậy,
đức Phật giải thích, các câu hỏi về tình trạng sau khi
chết của bậc giác ngộ, người đã thoát khỏi danh và sắc
(nhiên liệu của tái sanh) cũng trở nên không thích hợp
theo một cách thức tương tự:
Cũng vậy, này Vaccha, hình thể vật chất (r‰ pa) theo đó
người ta nhận dạng ra Như Lai đã được chặt đứt tận gốc
rễ, cũng như cây cau một khi đã bị chặt đứt ngọn không
thể sống lại được. Này Vaccha, Như Lai đã thoát khỏi mọi
áp đặt của hình thể (r‰ pa-saị kh -vimutto). Như Lai
trở nên thâm sâu, không thể đo lường được, không thể
tưởng tượng được (gambh? ro appameyyo duppariyog ho)
cũng như đại dương sâu thẳm. "Khởi lên," "không khởi
lên," "bao gồm cả hai," và "loại trừ cả hai" không thể
ứng dụng được với thân vật lý. (Tương tự, cũng không thể
với cảm giác, ý niệm hoá, khuynh hướng vận hành và thức
phân biệt).
Lối ẩn dụ so sánh "ngọn lửa đã tắt" này cũng được trình
bày cô đọng trong Kinh Tập (Sutta-Nip ta) như sau:
"Cũng như một ngọn lửa bị cơn gió thổi tắt không thể
tính toán được. Cũng vậy, vị A-la-hán thoát khỏi danh và
sắc." Trong kinh điển Nguyên thủy, tình trạng của Như
Lai khi còn sống và sau khi chết được xem là không thể
truy nguyên được. Một trong các đoạn mô tả như vậy là:
"Trong thế giới hữu hình này, này các tỳ-kheo, ta nói
rằng Như Lai không thể suy lường được (ananuvejjo)." Sự
không truy nguyên được Như Lai là do Như Lai đã giải
thoát khỏi năm nhóm nhân tính tâm vật lý và ở ngài khái
niệm về một thực thể linh hồn thường hằng đã hoàn toàn
vắng mặt, trong khi sự nhận dạng chỉ có thể thực hiện
được với sự liên hệ đến cơ sở vật lý (r‰ pa) hay tâm lý
(n ma) hay bao gồm cả hai, hay trong sự ngộ nhận về ngã
tính. Điều này được giải thích rõ trong đoạn Kinh Tương
Ưng dưới đây:
Người đã từ bỏ mọi đo lường,
Người đã chặt đứt dòng tham ái, ở đây, của danh và sắc
[n ma-r‰ pa]. . .
Các thần linh và con người không thể truy ra được sự vận
hành của người ấy
Dù ở đời này, đời sau, trên các cõi trời hay dưới mặt
đất.
Theo nội dung của đoạn trích trên, các ấn định hay hiểu
biết về bậc giác ngộ sau khi chết qua năm nhóm nhân tính
trên nền tảng của bốn khả thể (tứ cú: có, không có, bao
gồm cả hai, loại trừ cả hai) vốn phát sanh từ logic của
niềm tin về một thực thể bản ngã thường hằng, hoàn toàn
vô nghĩa về mặt nhận thức luận, bởi lẽ bậc giác ngộ đã
thoát khỏi hay không còn bị hạn cuộc trong sự đồng nhất
hay dị biệt với năm nhóm nhân tính tâm vật lý. Không chỉ
thế, các giả định về bậc giác ngộ sau khi chết với bốn
khả thể trở nên không thích ứng còn dựa vào sự kiện rằng
bậc giác ngộ thật là "thâm áo, huyền diệu, không thể suy
lường được (gambh? ro appameyyo duppariyog ho) cũng như
đại dương," ngay đó các lý luận logic (atakk vacara) và
các phương tiện nhận thức (pam ?a//pram ?a) đều trở
nên vô dụng hay không thể áp dụng được. Nói đơn giản
hơn, trạng thái sau khi chết của bậc giác ngộ không thể
nhận biết được qua logic hay bất kỳ phương tiện nhận
thức nào. Đây có thể là lý do khác nằm đằng sau sự im
lặng của đức Phật, song song với tính không thích ứng,
vô dụng trong thực tiễn và tính vô nghĩa về phương diện
nhận thức luận của bốn khả thể chỉ định.
Trên cơ sở của lối giải thích này, chúng ta dễ dàng hiểu
được những gì được trình bày trong Kinh Tập (Sutta-Nip
ta) về giới hạn của logic và nhận thức luận trong việc
mô tả tình trạng siêu logic của một vị giác ngộ sau khi
chết: "Không có cách nào để đo lường người đã hoàn tất
đời sống thánh thiện. Không có cái gì theo đó chúng ta
mô tả được người. Một khi tất cả các đặc tính đã được
tháo mở (sabbesu dhammesu sam‰ hatesu), tất cả các cách
mô tả cũng được tháo mở."
Trong Anur dha Saị yutta thuộc kinh Tương Ưng, bốn câu
hỏi khả thể chỉ định về tình trạng của một bậc giác ngộ
sau khi chết được một vị khổ hạnh hỏi. Tôn giả Anur dha
đã trả lời rằng điều kiện của Như Lai sau khi chết không
thể được mô tả liên hệ đến bất kỳ một trong bốn khả thể
chỉ định nào. Tôn giả kết luận rằng sự mô tả chỉ có thể
được tiến hành bằng một phương tiện vượt khỏi bốn tính
khả thể chỉ định. Câu trả lời trên dù sao cũng không làm
thỏa mãn vị khổ hạnh. Bị vị khổ hạnh chế nhạo như một
chú tiểu ngu dốt, tôn giả Anur dha đã đến gặp Phật và
tường trình lại câu chuyện. Đức Phật đã tuần tự phân
tích về đặc tính biến chuyển (vô thường), không thỏa mãn
(khổ), và không thực thể (vô ngã) của từng nhóm nhân
tính tâm vật lý. Cuối cùng Anur dha đã nhận ra được
chân lý vô ngã "cái này không phải là tôi, tôi không
phải là cái này, cái này không phải là bản ngã của tôi."
Đức Phật tuyên bố rằng, "Ngay trong đời này, không thể
hiểu biết được đức Như Lai qua chân lý và thực tại"
(saccato thetato anupalabbhiyam ne), để giúp Arur dha
đi đến kết luận rằng, "Thật là không thích hợp để tuyên
ngôn về tình trạng của Như Lai sau khi chết. . . Sự
tuyên bố nếu có chăng phải thoát khỏi bốn tính khả thể
chỉ định." Để làm rõ vấn đề này, đức Phật trình bày như
sau: "Này Anur dha, xưa cũng như nay, những gì ta tuyên
bố là đâu là đau khổ và đâu là con đường chấm dứt đau
khổ." Điều cần ghi chú từ lời kết luận của đức Phật là
tình trạng sau khi chết của một bậc đã giác ngộ không
thể được mô tả bằng phương tiện của bốn khả thể chỉ
định, lại càng không thể bằng phương tiện của chủ nghĩa
siêu nhiên.
Từ những điều thảo luận trên chúng ta có thể học được
bản chất của bậc giác ngộ là cả ngay lúc sống và sau khi
chết, vị ấy đã diệt trừ toàn bộ các tham ái, khổ đau, vì
khi chấp thủ (up d na) không thể xuất hiện thì không
còn sự tái hiện hữu nữa. Các bậc giác ngộ đã trải qua
một cuộc chuyển hóa toàn diện về tâm, miệng và thân thể,
theo đó, các dòng chảy của lậu hoặc và các động cơ bất
thiện cũng như dính mắc đã hoàn toàn bị nhổ lên tận gốc
rễ. Sự khác nhau duy nhất giữa các vị giác ngộ là khi
còn sống các ngài phải chịu đựng các đau khổ vật lý như
bao nhiêu chúng sanh khác, vì năm nhóm nhân tính và hoạt
động của kinh nghiệm giác quan còn tiếp diễn, trong khi
đó sau khi chết, các kinh nghiệm giác quan đã lặng tắt
hẳn. Điểm cần lưu ý là trong khi phải chịu đựng các đau
đớn về vật lý, bậc giác ngộ không còn các phản ứng cảm
xúc và vướng mắc như trong trường hợp của một chúng sanh
phàm phu (puthujjana). Đây là một trong những giá trị
đạo đức quan trọng mà bậc giác ngộ đã mang lại cho chúng
ta.
VII. TIẾP XÚC VÀ CẢM GIÁC TRONG NIẾT-BÀN
Sự chứng đắc niết-bàn được định nghĩa là sự chấm dứt
toàn bộ khối đau khổ (anto dukkhassa). Ngay trong đời
sống này, từ lúc thành đạo cho đến lúc nhắm mắt lìa đời,
bậc giác ngộ không còn những đau khổ và sầu muộn. Sau
khi chết, khi năm nhóm nhân tính tâm vật lý tan rã, cũng
không có đau khổ dưới ba hình thái, đó là, j đau khổ gây
ra từ thân xác (dukkha-dukkhat , khổ khổ), k đau khổ do
thay đổi ngược chiều của sự vật (vipari? ma-dukkhat ,
hoại khổ), và l đau khổ do thay đổi tâm lý (saơ kh
ra-dukkhat , hành khổ). Điều này không có nghĩa cho
rằng người chứng đạt niết-bàn được thoát khỏi các đau
khổ do thân thể gây ra. Sự chứng đạt niết-bàn thực ra là
sự chuyển hóa toàn diện về mặt nhận thức, cảm xúc và
hành vi cho trở nên trí tuệ viên mãn, đức tính đạo đức
và hành vi cao thượng. Điều vắng mặt chắc chắn đối với
những người đã dứt tận gốc rễ của lậu hoặc và phiền não
là các đau khổ nội tâm (cetasika-dukkha) và những nỗi sợ
hãi. Sở dĩ như vậy là vì, theo định nghĩa cũng như trên
thực tế, đau khổ do tham ái (ta?h ) (như trong công
thức của bốn chân lý), chấp mắc (up d na), vô minh
(moha) (như trong công thức của mười hai mắc xích nhân
duyên, và tất cả các động cơ bất thiện (akusalam‰ la)
(trong các kinh luận về sau) gây nên; do đó, một
A-la-hán không còn tham ái, chấp mắc, vô minh và các căn
bản bất thiện, sẽ không phải chịu đau khổ. Câu hỏi quan
trọng phát sanh là sự tiếp xúc và cảm giác trước môi
trường sống xung quanh của người giác ngộ như thế nào?
Sau khi thành đạo, đức Phật và các bậc A-la-hán không
thể thoát khỏi các tiếp xúc với thế giới bên ngoài, như
được ghi nhận trong Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka), và
như một kết quả logic của sự tiếp xúc đó cũng như do các
cơ năng cảm giác còn hoạt động, các ngài vẫn phải kinh
nghiệm qua các cảm giác hạnh phúc (sukha), đau đớn
(dukkha), dễ chịu (man pa) hay khó chịu (aman pa) của
thân. Sự khác nhau giữa người giác ngộ (arahat) và hàng
phàm phu (puthujjana) trong tiến trình tiếp xúc vốn
không nằm ở số lượng, mà ở chất lượng, nói cách khác ở
cách thức con người quan niệm và phản ứng lại chúng.
Tiến trình kinh nghiệm của người phàm như được mô tả
trong kinh Madhupi?? ika-sutta thuộc kinh Trung Bộ bao
gồm (i) tiếp xúc (phassa) của các cơ quan cảm giác (mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân), đối tượng của chúng (màu sắc, âm
thanh, mùi, vị, vật xúc chạm) và các cảm giác phát sanh
(các cảm giác thấy, nghe, ngửi, nếm, và nhận thức), (ii)
khái niệm hóa bắt nguồn từ cảm giác (vedan ) và chấm
dứt ở khuynh hướng ý niệm hóa giới hạn vào chủ thể, đối
tượng và thời gian. Đoạn kinh ghi chép như sau:
Do sự tiếp xúc của con mắt và vật thể màu sắc, nhận thức
của con mắt (thấy) phát sanh. Sự gặp nhau (saơ gati) của
ba yếu tố này được gọi là tiếp xúc (phassa). Do có sự
tiếp xúc, các cảm giác (vedan ) phát sanh. Cái gì con
người cảm nhận, con người có thể nhận thức được. Cái gì
con người nhận thức được, con người sẽ lý luận về
(vitakketi). Cái gì con người lý luận về, con người bị
ám ảnh về khái niệm. Cái con người bị ám ảnh một cách
khái niệm là nguồn gốc của số lượng các nhận thức và sự
ám ảnh, những thứ dồn con người vào các vật thể mà con
mắt có thể nhìn thấy được, thuộc về quá khứ, hiện tại và
vị lai. [Tương tự với bốn nhóm nhân tính còn lại là cảm
giác (thọ), ý niệm hoá (tưởng), vận hành tâm (hành) và
thức nhận biết (thức)].
Khuynh hướng thông thường trong việc đồng hóa mình với
những gì kinh nghiệm giác quan mang lại là do không nhận
chân bản chất thật của tính không thực thể của nhóm nhân
tính tâm vật lý và các sự vật hiện tượng (dhamm ) trên
thế giới. Con người thường nhận lầm cho rằng nhóm nhân
tính tâm vật lý (dù là đơn lẻ hay tổng thể) là bản thân
mình, là bản ngã của mình. Những cái phát sanh từ sự
tiếp xúc giữa các quan năng cảm giác (căn), đối tượng
giác quan (trần) và các nhận thức phân biệt (thức)
thường bị lầm nhận như là sự đồng nhất của cái ta
(self-identification). Từ đó, đau khổ bắt đầu tìm chân
đứng và khởi sự. Cách chặn đứng đau khổ khỏi sự có mặt
của chúng là huấn luyện mình trong cách thức quan niệm
"trong những gì được thấy chỉ có sự (= hành động) thấy;
trong những gì được nghe chỉ có sự nghe; trong những gì
tưởng tượng chỉ có sự tưởng tượng; trong những gì nhận
thức chỉ có sự nhận thức." Điều này không có nghĩa cho
rằng con người phải trở nên mù, điếc, hay phải huỷ hoại
các giác quan thấy, nghe, ngửi, nếm, biết. Cho đến khi
nào chúng ta còn sống, do hoạt động tự nhiên của các
quan năng cảm giác và nhóm nhân tính tâm vật lý, chúng
ta không thể trốn tránh khỏi các tiếp xúc được. Điều duy
nhất mà chúng ta cần làm là tránh các giải thích hay
phản ứng cảm xúc về các điều kiện cũng như sự xuất hiện
của thực tại. Bất động trước các điều kiện và sự hiện
hữu của các sự vật hiện tượng thông qua sự tiếp xúc của
các giác quan, đối tượng giác quan và các nhận thức phân
biệt, con người trở thành vô chấp, không vướng mắc. Khi
không còn vướng mắc, sự an tịnh sẽ xuất hiện. Khi có mặt
sự an tịnh, sự tham đắm sẽ không còn. Khi không còn tham
đắm, sự đến và đi không còn. Khi không còn đến và đi,
chết và tái sanh không còn. Khi không còn chết và tái
sanh, đời này, đời sau và sự chuyển tiếp giữa chúng biến
mất. Đó thật sự là sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ.
Điều quan trọng ở đây là, đối với kẻ phàm người tục, sự
tiếp xúc gắn liền với các phản ứng và chấp mắc cảm xúc,
và như là kết quả của các phản ứng cảm xúc, nó dẫn đến
lòng tham ái, chấp giữ và chiếm hữu (upadhi), các đối
tượng khoái lạc giác quan (k m‰ padhi), năm nhóm nhân
tính tâm vật lý (khandh‰ padhi), đam mê (kiles‰ padhi)
và chủ ý (abhisaơ kh r‰ padh? ti).
Các tiếp xúc đó đã kéo theo sự ra đời của các loại cảm
giác (vedan ), như cảm giác thân thể (k yika-vedan )
và cảm giác tâm (cetasika-vedan ). Hai loại cảm giác
này mỗi thứ lại được chia thành ba loại, đó là, cảm giác
hạnh phúc (sukha-vedan ), cảm giác đau khổ
(dukkha-vedan ) và cảm giác trung tính
(adukkhamasukha-vedan ). Trong người phàm kẻ tục, luôn
có sự phản ứng hay khuynh hướng đối với các cảm giác
khác nhau. Kinh điển nguyên thủy ghi lại rằng tham dục
hay khuynh hướng tham dục (r ga) nằm ở các cảm giác
hạnh phúc (sukha-vedan ), khuynh hướng không ưa thích
hay từ bỏ nằm ở các cảm giác đau khổ (dukkha-vedan ),
và khuynh hướng vô minh nằm ngay các cảm giác trung tính
(adukkhamasukha-vedan ). Điều này có nghĩa là: luôn có
các vướng mắc về cảm xúc nhằm tương tác lại với mọi cảm
giác xuất hiện từ sự tiếp xúc giữa các quan năng cảm
giác và đối tượng của chúng. Cảm giác hạnh phúc tạo sự
phát sanh của chấp thủ ( laya / up d na) về những sở
hữu (upadhi), vì con người sẽ không thỏa mãn với các sở
hữu và muốn có nhiều thêm, và nhiều hơn những gì đã có
hay đã được. Các cảm giác đau khổ thường kéo theo sự
kháng cự, không ưa, sự không đam mê, sự không thỏa mãn,
sự cưỡng chế, sự giận dữ, sự huỷ hoại, hay sự chống trả
lại v.v. . . Các cảm giác trung tính thường dẫn đến các
thái độ thờ ơ và ngu muội. Như vậy, tham dục (r ga /
lobha), sân hận (dosa) và vô minh (moha) nằm trong nền
tảng của các cảm giác, hạnh phúc, không hạnh phúc, và
trung tính. Chính trong ý nghĩa này đức Phật đã tuyên bố
rằng "cái gì được kinh nghiệm như một cảm giác luôn nối
kết với đau khổ (whatsoever is experienced as a feeling
is associated with suffering).
Sự tiếp xúc và cảm giác mà bậc giác ngộ hình thành với
môi trường sống của các ngài luôn khác với sự tiếp xúc
và cảm thọ của người phàm kẻ tục. Mấu chốt của sự khác
biệt là các bậc giác ngộ đã làm chủ được tâm tư
(cetovasippatta) và điều khiển được các giác quan (sam
hit indriyo), bằng hoạt động của tuệ tri về các sự vật
như chúng đang là (yoniso manasik ra, như lý tác ý).
Đối với các bậc giác ngộ, cảm giác chỉ được nhìn nhận là
cảm giác mà không có kèm theo bất kỳ phán đoán hay phản
ứng cảm xúc nào. Bậc giác ngộ đã tuệ tri hoàn toàn được
bản chất của cảm giác và nhờ vào sự tuệ tri này, sự giác
ngộ được trổ hoa kết trái. Bậc giác ngộ biết được rằng
hiện tượng cảm giác (vedan ), sự xuất hiện của hiện
tượng cảm giác (ayaị vedan samudayo), nguyên nhân dẫn
đến sự xuất hiện của cảm giác (ayaị vedan samudayag
min? ), sự chấm dứt của cảm giác (ayaị vedan nirodho
ti), con đường dẫn đến sự chấm dứt của cảm giác (ayaị
vedan nirodhag min? paỉ ipad ti), sự nguy hiểm của
cảm giác (ayaị vedan ya d? navoti) và sự xuất ly khỏi
cảm giác (ayaị vedan ya nissara?anti). Có nghĩa là đối
với bậc giác ngộ, tất cả các cảm giác xuất hiện, tồn tại
và biến mất một cách song hành với chánh niệm (sati),
tỉnh giác (sampaja– – a) và trí tuệ (pa– – ).
Dù sao đi nữa, trong tiến trình kinh nghiệm, do sự vắng
mặt trọn vẹn tham ái (taơ h ), tham dục (r ga) chấp
mắc (up d na), các hình thái của đau khổ nội tâm đã
được nhổ sạch tận gốc rễ, bậc giác ngộ chỉ kinh nghiệm
qua sự hạnh phúc (sukha) hay đau đớn (dukkha), dễ chịu
(man pa) hay khó chịu (aman pa) của thân thể. Mỗi khi
phải trải qua các cảm giác đau đớn hay khó chịu của
thân, bậc giác ngộ không cảm thấy đau khổ tâm, không có
tức tối, nhăn mặt, xoa đầu, đập ngực hay than thở. Bậc
giác ngộ cảm nhận đơn thuần các cảm giác thân và tâm.
Tất cả các cảm giác bám rễ ở tham dục (r ga) và tham ái
(ta?h ) trong bậc giác ngộ đã bị huỷ diệt. Niết-bàn chỉ
có thể chứng đạt được khi các cảm thọ làm điều kiện cho
sự sanh khởi của tham ái đã chấm dứt. Sự khác nhau giữa
bậc giác ngộ và người phàm là trong người giác ngộ, tham
dục (lobha / r ga), sân hận (dosa) và vô minh (moha)
dính dáng với tiến trình kinh nghiệm giác quan đã hoàn
toàn vắng mặt, trong khi đó khuynh hướng này trở nên
mạnh mẽ và vượt mức làm chủ của người phàm.
Sự khác biệt nữa là bậc giác ngộ đã khắc phục trọn vẹn
thế giới nhị nguyên của kinh nghiệm (aỉ ỉ halokadhamma)
như: được (l bha) và mất (al bha); danh tiếng (yasa)
và tai tiếng (ayasa); khen (pasaị s ) và chê (nind );
hạnh phúc (sukha) và khổ đau (dukkha), trong khi người
phàm vẫn còn bị những thứ kinh nghiệm nhị nguyên này chi
phối và khống chế. Điều này dù sao đi nữa không bao giờ
đồng nghĩa với việc cho rằng bậc giác ngộ sẽ không kinh
nghiệm hay trở nên lãnh đạm với thế giới bên ngoài. Kinh
điển nguyên thủy có đề cập đến cảm giác đau khổ trong vị
A-la-hán do các thay đổi về vật lý, chẳng hạn như đức
Phật bị đau nhức do bị đá xước, hoặc có lúc do ăn không
tiêu, v.v. . . Nói vắn tắt, bậc giác ngộ khác người phàm
ở chỗ các ngài kinh nghiệm thế giới cảm giác với chánh
niệm, tỉnh giác và không có khởi lên bất cứ phản ứng cảm
xúc nào. Điều này được giải thích rõ trong kinh Dh
tuvibhaơ ga-sutta thuộc Trung Bộ. Khi kinh nghiệm qua
các cảm giác đau khổ, hạnh phúc, trung tính, bậc giác
ngộ nhận chân được rằng cái này là vô thường (s anicc
ti paj n ti), không nên dính mắc vào cái này
(anajjhosit ti paj n ti), cái này không phải là đối
tượng để thưởng thức (anabhinandit ti paj n ti). Bậc
giác ngộ thoát khỏi các vướng mắc của cảm giác được kinh
nghiệm (visaị yutto naị vedeti). Khi kinh nghiệm một cảm
giác liên hệ đến thân thể, bậc giác ngộ tuệ tri được
rằng mình đang trải qua cảm giác liên hệ thân. Khi kinh
nghiệm qua một cảm giác cho đến lúc thân thể còn tồn
tại, bậc giác ngộ biết rõ mình đang kinh qua. Đứng trước
cái chết, bậc giác ngộ biết rõ rằng các cảm giác sẽ tắt
lịm đi. Trong bậc giác ngộ, "khuynh hướng chấp thủ về
cảm giác hạnh phúc đã không còn; khuynh hướng kháng cự
lại cảm giác đau khổ đã biến mất; khuynh hướng vô minh
trước các cảm giác trung tính cũng vắng mặt." Thái độ
không chấp thủ trước các cảm giác làm người giác ngộ
khác và siêu việt hơn người phàm kẻ tục (puthujjana).
Cách thức người chứng đạt niết-bàn kinh nghiệm về thế
giới được minh hoạ đặc sắc qua ẩn dụ hoa sen (pu?? ar?
ka). Ở đây, cũng giống như một hoa sen, mặc dù sanh ra
từ bùn nhơ, lớn lên từ bùn, vươn mình lên khỏi bùn lầy
nước đọng, rồi toả hương thơm ngát; đức Như Lai hay bậc
A-la-hán mặc dù sanh ra trong đời ô trược, sống trong
cuộc đời, đã vượt khỏi cuộc đời và không bị đời làm ô uế
(lokena anupalitto). Điều này có nghĩa là trong thế giới
kinh nghiệm của bậc giác ngộ, không còn sự hiện hữu của
chấp mắc, dù là cảm xúc, nhận thức hay hành vi. Đây là
điều được trình bày trong Cảm Hứng Ngữ (Udana), như đoạn
trích sau đây: "Này, B hiya, ông phải huấn luyện bản
thân như sau: trong cái được thấy chỉ có sự (hành động)
thấy; trong cái được nghe chỉ có sự nghe; trong cái được
tưởng tượng chỉ có sự tưởng tượng và trong cái được nhận
thức chỉ có sự nhận thức." Ở đây, chỉ có đơn thuần các
kinh nghiệm về sự kiện, hoàn toàn không có mặt của các
phán đoán giá trị (there is only mere factual experience
without any value judgement). Nó sự thật là tính khách
quan, không có sự xuất hiện của các phản ứng tâm lý và
nhận thức, vì không có dữ liệu giác quan nào được chấp
mắc khi các quan năng cảm giác đã được thu phục. Cách
thức nhiếp phục các chấp thủ cảm xúc và nhận thức này
được xem là sự dẫn đến chấm dứt toàn bộ khối đau khổ.
Nói khác đi, nếu tính cách bản ngã (egocentricity) sự
vướng mắc ( laya) hay chấp thủ (up d na) được tạo nên
bởi các động cơ cảm xúc bất thiện (akusala-cetasika),
thì niết-bàn là giải thoát khỏi các cảm xúc đó. Trong
người chứng đạt niết-bàn, các sợ hãi, lo âu hay sầu muộn
đã hoàn toàn vứt bỏ: "sau khi khắc phục được các âu sầu,
hành giả sẽ giải thoát khỏi chúng và chứng đạt
niết-bàn." Khi các âu sầu đã được nhổ sạch gốc rễ, hành
giả sẽ không còn sợ hãi: "Sẽ không còn nỗi sợ hãi về bất
cứ cái gì đối với vị đã đạt được trạng thái cao nhất,
niết-bàn." Niết-bàn là sự vắng mặt hoàn toàn các động cơ
bất thiện (akusalam‰ la). Khi niết-bàn ngự trị, tham ái
(ta? h ) sẽ bị diệt tận: "Nhờ sự diệt tận các tham ái,
sự ly tham và tịch diệt (niết-bàn) được hiển hiện."
Trong bậc giác ngộ, chỉ còn các động cơ thiện (kusalam‰
la), như lòng thương xót (mett ), lòng cứu khổ (karu?
), chánh niệm (sati), tỉnh giác (sampaja– – a), tuệ tri
sự vật đúng với bản chất của chúng đang là (yoniso
manasik ra, như lý tác ý) và trí tuệ (pa– – ) luôn
luôn hiện hữu và ngự trị.
VIII. NHẬN THỨC TRONG NIẾT-BÀN
Chuyển hóa nhận thức là một trong các đặc tính của bậc
giác ngộ, những người đã chứng đạt được niết-bàn trong
đời này. Tất cả các bất thiện về nhận thức và tâm lý như
tham lam (lobha / r ga), sân hận (dosa), quan điểm sai
lầm (diỉ ỉ hi) và vô minh (moha) đã hoàn toàn mất dạng
trong bậc giác ngộ. Kiến thức về sự nhận chân niết-bàn
thông qua bốn chân lý cao thượng được mô tả như là "bình
minh của nhãn quan vô cấu và thanh tịnh về thế giới hiện
tượng" (virajam v? tamalaị dhamma cukkhuị upap di), và
"sự xuất hiện của mắt, của kiến thức, tuệ tri, trí tuệ
và ánh sáng" (cakkhuị udap di – ?aị udap di pa– –
udap di vijj udap di loko udap di). Kiến thức về
niết-bàn cũng được định nghĩa là sự chứng đạt về thượng
trí (nibb nassa sacchikiriy – yassa adhigamo), một
nhãn quan xuất hiện từ hiện tượng mà trước nay chưa từng
được biết đến (pubbe ananussutesu dhammesu). Có nhiều
thuật ngữ được dùng để mô tả phương diện nhận thức của
niết-bàn, như kiến thức hay tuệ tri (a– – / – ?a/ –
ya), kiến thức viên mãn (pari– – ), kiến thức hay
tuệ tri cao cấp (abhi– – ), trí tuệ (pa– – ) hoặc
tuệ giác (vipassan ). Đây là loại kiến thức về bản chất
thật của các hiện tượng như chúng đang là (yath bh‰
ta-dassana/– ?a). Đó là điều được gọi là nhận thức về
vô thường trong những gì không thường hằng (anicce
aniccasa– – ), nhận thức về đau khổ trong những gì
không thỏa mãn (dukkhe dukkhasa– – ), và nhận thức về
vô ngã trong những gì không thực thể (anatte anattasa– –
).
Trong niết-bàn, hoạt động nhiễm trước của (vi– – ?a)
thức đã chấm dứt. Sự chấm dứt các hoạt động của thức
mang lại sự không sanh khởi của đau khổ. Khái niệm chấm
dứt (nirodha) ở đây nhằm chỉ cho sự "lắng dịu" các nội
dung và chức năng của thức trong mối liên hệ với chấp
mắc (up d na), vốn khác biệt với trạng thái không hoạt
động ở người đã chết. Kinh điển ghi rằng bằng cách làm
lắng dịu ý thức, hành giả sẽ trở nên an lạc và chứng đạt
được niết-bàn. Như vậy sự chấm dứt của thức ở đây cần
phải được hiểu là sự chuyển hóa thức thành trí tuệ (pa–
– / a– – / – ?a / – ?adassana). Trong luân hồi,
thức (vi– – ?a) vào thai mẹ, tạo sự sanh khởi của
tâm-vật-lý (n ma-r‰ pa). Trong niết-bàn, thức không thể
hình thành được (asa?ỉ hite) hoặc an nghỉ (vi– – ?aị
attham agam ), có nghĩa là không có tiến trình nghiệp
nào có thể diễn ra trong niết-bàn, dù là ở hiện tại hay
tương lai. Sự chuyển hóa thức (vi– – ?a) thành trí tuệ
(pa– – ) là sự giải thoát tâm khỏi các lậu hoặc (
savehi citt ni vimucciị su). Khi tâm được thoát khỏi
các lậu hoặc, nội dung của tâm sẽ trở thành tuệ giác (–
?a) hay trí tuệ (pa– – ), một loại kiến thức về sự
được giải thoát: "trong giải thoát, tuệ tri sau đây phát
sanh "ta đã giải thoát" (vimuttasmiị vimuttamh? ti –
naị hoti)."
Trong kinh Mah Vedalla Sutta thuộc Trung Bộ, khi được
hỏi, "cái gì là trí tuệ (pa– – ) và cái gì là thức
phân biệt (vi– – ?a), chúng có liên hệ hay không có
liên hệ? Và đâu là sự khác nhau khả dĩ giữa chúng?" Tôn
giả Xá-lợi-phất (S riputta) đã trả lời với sự "phủ
định." Tôn giả giải thích rằng thức phân biệt (vi– –
?a) có thể hiểu được (pari– – eyya), trong khi trí tuệ
(pa– – ) thì cần phải vun trồng (bh vetabba). Theo
ngài Phật Âm (Buddhaghosa), trí tuệ là trạng thái chuyển
hóa cao cấp của ý niệm hóa / tưởng (sa– – ) và thức
phân biệt (vi– – ?a). Trí tuệ được định nghĩa là loại
tuệ tri cao cấp toàn diện (abhi– – ), kiến thức viên
mãn (pari– – ), kiến thức và nhãn quan (–
?a-dassana) và sự loại trừ hay xóa bỏ u mê (pah ?a).
Trí tuệ là kiến thức của sự nhìn sự vật như chúng đang
là (yath bh‰ ta-dassana), một phương tiện dẫn đến sự
chấm dứt các lậu hoặc ( savakkhaya) và chứng đạt giác
ngộ (bodhi).
Bản chất của thức phân biệt và nhận thức của bậc giác
ngộ được mô tả sống động trong một đoạn kinh của Trung
Bộ. Về thế giới ngoại tại, thức phân biệt của bậc giác
ngộ không còn tình trạng phân tán hay khuếch tán
(bahiddh vi– – ?aị avikkhittaị avisaỉ aị ). Có được ý
thức không phân tán và không khuếch tán là do làm chủ
hoàn toàn các giác quan trong mối liên hệ với thế giới
đối tượng của chúng. Khi bậc giác ngộ nhìn thấy vật thể
bằng mắt, nghe âm thanh bằng tai, ngửi được mùi bằng
mũi, nếm vị bằng lưỡi, xúc chạm vật bằng thân, các ngài
không còn chạy theo các đối tượng giác quan nữa, cũng
không còn vướng bận vào sự thỏa mãn chúng và không bị
các sợi dây thỏa mãn chúng trói buộc.
Đối với thế giới nội tại, thức phân biệt của bậc giác
ngộ không có hình thành (ajjhattaị asa?ỉ hitaị ). Bậc
giác ngộ không còn chạy theo bốn cấp độ thiền của thế
giới sắc thể (r‰ pajjh n ni), không còn bị sự thỏa mãn
về bốn cảnh giới thiền này trói buộc và không bị các sợi
dây thỏa mãn về chúng trói lại. Bậc giác ngộ không còn
bị khuấy động và không vướng mắc vật gì (anup d ya na
paritaseyya). Sở dĩ được như vậy là vì bậc giác ngộ
không còn đồng hóa từng nhóm nhân tính tâm vật lý như
thân thể (r‰ pa), cảm giác (vedan ), ý niệm hóa (sa– –
), sự vận hành tâm (saơ kh ra) và thức phân biệt (vi–
– ?a) với ngã (att ), lại cũng không đồng hóa ngã với
bất kỳ hay toàn bộ năm nhóm nhân tính này. Bậc giác ngộ
không quan niệm năm nhóm nhân tính trong ngã hay ngã
trong năm nhóm nhân tính. Do thái độ này, ý thức của bậc
giác ngộ không bị sự thay đổi trong năm nhóm nhân tính
chiếm cứ và cũng không có các phiền toái khởi lên. Do
không còn bị phiền toái chi phối nên sự không bị ám ảnh
của tư tưởng xuất hiện. Do sự không bị ám ảnh của tư
tưởng xuất hiện bậc giác ngộ không còn sợ hãi, không còn
phiền muộn, không còn mong cầu và không bị chấp thủ chi
phối. Nói khác đi, trong kiến thức niết-bàn thế giới
thực tại được nhìn thấy bằng những cái "đơn thuần"
(matta // m tra) "trong những cái được thấy chỉ đơn
thuần là sự thấy; trong những cái được nghe chỉ đơn
thuần là sự nghe; trong những cái được tưởng tượng chỉ
đơn thuần là sự tưởng tượng và trong những cái được nhận
thức chỉ đơn thuần là sự nhận thức."
Cũng nên ghi chú ở đây rằng ở giai đoạn của thiền thứ tư
(catuttha-jh na) thuộc thiền của thế giới sắc thể (r‰
pajjh n ni), có nhiều lựa chọn đối với thiền giả. Đó
là (i) bốn cấp độ thiền của thế giới vô sắc (ar‰ pajjh
n ni), (ii) năm thần thông (pa– c bhi– – ), và (iii)
ba tuệ giác (tevijj , tam minh) hay sáu tuệ giác hay
lục thông (cha?-abhi– – ). Sự bám víu vào chứng đắc
hai loại đầu hoàn toàn không cần thiết cho chứng đắc
niết-bàn, trong khi đó ba tuệ giác và sáu thần thông
liên hệ đến sự chuyển hóa nhận thức một cách toàn diện
của niết-bàn, vốn thường được đề cập nhiều trong các
kinh điển Nguyên thủy. Sự lựa chọn tốt nhất của các hành
giả ở cấp độ đạt ngộ này là ứng dụng tâm vào tuệ tri về
sự chấm dứt các dòng chảy lậu hoặc ( sav naị khya– –
? ya cittaị abhininn mesiị ). Với chiều hướng này,
hành giả sẽ nhận chân được bản chất thật của lậu hoặc,
nguyên nhân của chúng, trạng thái chấm dứt chúng và con
đường dẫn đến sự chấm dứt này. Với cái thấy như vậy và
cái biết như vậy (thus knowing and thus seeing), tâm của
hành giả sẽ giải thoát khỏi các dòng chảy lậu hoặc của
ái dục (k m savo), của tái hiện hữu (bhav savo) và
của vô minh (avijj savo). Kiến thức tuệ tri "đây là
giải thoát" xuất hiện trong tâm trí của bậc giải thoát.
Bậc giác ngộ tuệ tri "sanh đã tận, đời sống thánh thiện
đã thành, việc cần làm đã làm và không còn trạng thái
sanh tử nữa" Tuệ tri về sự diệt tận các lậu hoặc (
savakkhaya-– ?a) thật ra là kiến thức về bốn chân lý
cao thượng và sự ngộ được tuệ tri này là chứng đạt ba
minh (tevijj / tisso vijj // tisro-vidy h).
Ba tuệ tri hay ba minh là (i) trí tuệ biết rõ về các đời
sống quá khứ, túc mạng thông (pubbeniv s nussati-–
?a-vijj // p‰ rva-niv s ?usm? ti-j– ana-s k?
tkriya-vidy ), (ii) trí tuệ biết rõ sanh và tử của các
chúng sanh, sanh tử trí (cut‰ pap ta-– ?a-vijj //
cyuty-upap da-j– ana-s k? tkriya-vidy ), (iii) trí
tuệ biết rõ về sự chấm dứt trọn vẹn các lậu hoặc, lậu
tận thông ( savakkhaya-– ?a-vijj //
sarava-k?aya-j– ana-s k? tkriya-vidy ). Ba tuệ tri
này lại được mở rộng thành năm thần thông (pa– c bhi– –
) trong một số kinh điển, và ở một số kinh khác, thành
sáu thần thông (cha?-abhi– – ). Sáu thần thông bao gồm
ba tuệ tri vừa nêu cộng với ba thông khác (thường đứng
trước ba tuệ tri) là (i) thần túc thông (iddhividh -–
?a // ?ddhividhi-j– naị ), (ii) thiên nhĩ thông
(dibbasotadh tu-– ?a // divya-? rotraị -j– naị ),
(iii) tha tâm thông (cetopariya– ?a // paracitta-j–
naị ), (iv) thiên nhãn thông (dibbacakhhu-– ?a //
divya-cak?us-j– naị ), (v) túc mạng thông (pubbeniv
s nussati // p‰ rvaniv s nusm?ti), và (vi) lậu tận
thông (€ savakkhaya– ?a // € sravak? aya-j– naị ).
Nói nôm na, đây là các loại "kiến thức trực tiếp đã bỏ
ra sau lưng thế giới vật chất của không gian và thời
gian, hay của nhận thức, của ý niệm hoá, của nhân quả,
của lý luận logic, và do đó chúng là các thần thông đúng
với nghĩa của từ này." Năm thần thông đầu là các phương
thức tuệ tri cao cấp thuộc về thế gian (lokiya abhi– –
), chứng đạt được do vun bồi trọn vẹn con đường định
(sam dhi), trong khi thần thông sau cùng, lậu tận
thông, là phương thức tuệ tri cao cấp thuộc siêu thế
(lokuttara abhi– – ), chỉ chứng đạt được thông qua tuệ
giác thiền (vipassan ) diệt trừ toàn bộ các lậu hoặc (
savakkhaya). Chứng đạt lậu tận thông là chứng đạt
A-la-hán. Như vậy, chỉ có tuệ tri về sự chấm dứt toàn bộ
lậu hoặc thông (€ savakkhaya– ?a // € sravak? aya-j–
naị ) có liên hệ với con đường thánh thiện (ariya-magga)
hay con đường siêu thế (lokuttara-magga) của bậc
A-la-hán. Sự diệt trừ toàn bộ các lậu hoặc (€
savakkhaya), như (i) lậu hoặc tham dục (k m savo // k
m srava), (ii) lậu hoặc tái hiện hữu (bhav savo //
bhav srava), (iii) lậu hoặc quan điểm sai (diỉ ỉ h
sava // d??ỉ srava), (iv) lậu hoặc vô minh (avijj
savo // avidy srava), là chứng đạt niết-bàn. Đoạn kinh
sau đây mô tả rõ điều này: "Sau khi diệt trừ tận gốc rễ
của các lậu hoặc, hành giả bước vào và an trú sự giải
thoát của tâm (ceto-vimuttiị ) và giải thoát nhờ trí tuệ
(pa– – -vimuttiị ), vốn thoát khỏi các lậu hoặc và có
thể được chứng nghiệm ngay trong đời sống này."
IX. NIẾT-BÀN VÀ TRẠNG THÁI KHÔNG CÒN CẢM GIÁC VÀ NHẬN
THỨC
Sự đánh đồng niết-bàn với cấp độ thiền cao nhất, trạng
thái thiền vắng mặt hoàn toàn các cảm giác và nhận thức,
diệt thọ tưởng định (sa– – vedayitanirodha, hay còn
được viết tắt là nirodha-sam patti), thường được thấy
trong các hành giả Bà-la-môn giáo đương thời đức Phật.
Tưởng cũng nên lưu ý đến sự không đề cập trạng thái vắng
mặt cảm thọ và nhận thức (sa– – vedayitanirodha) trong
đoạn mô tả thứ nhất của Cảm Hứng Ngữ 80 (Ud na), trong
mối liên hệ với niết-bàn, trong khi bốn trạng thái thiền
trước nó được đề cập đến. Sự không đề cập này có nghĩa
rằng không thể có sự đồng nhất của niết-bàn với trạng
thái vắng mặt cảm thọ và nhận thức. Nói khác đi, sự vắng
mặt trọn vẹn các cảm thọ và nhận thức không phải là
niết-bàn, mặc dù có vài sự giống nhau giữa hai trạng
thái này. Sự khác nhau quan trọng giữa hai trạng thái
này là trong niết-bàn dòng chảy tham ái (ta?h ) đã vĩnh
viễn khô cạn, trong khi trong trạng thái vắng mặt cảm
giác và nhận thức, dòng tham ái chỉ tạm thời vắng bóng
và còn tùy thuộc vào thời gian (time-bound) và điều kiện
(condition-bound). Lý do chính yếu của sự khác nhau này
là niết-bàn là sự diệt trừ trọn vẹn các dòng chảy tham
ái (ta?h ), trong khi đối với trạng thái vắng mặt cảm
thọ và nhận thức, tham ái còn chân đứng trong các cảm
giác (vedan ) và nhận thức (sa– – ), và điều này kéo
theo rằng tham ái tạm thời không hiện hữu trong sự vắng
mặt của cảm giác và nhận thức nhưng khi cảm giác và nhận
thức xuất hiện, tham ái vẫn còn hiện hữu. Sự khác nhau
quan trọng nữa là trạng thái vắng mặt cảm giác và nhận
thức chỉ có thể được kinh nghiệm bằng thân thể hay đó là
kinh nghiệm của thân thể (k yena sacchikara?? y dhamm
), trong khi niết-bàn được cảm chứng bằng tâm trí tuệ
(pa– – ).
Hơn thế nữa, trong trạng thái vắng mặt cảm giác và nhận
thức (sa– – vedayitanirodha), kinh nghiệm giác quan
như hạnh phúc (sukha), đau khổ (dukkha), dễ chịu (man
pa) hay khó chịu (aman pa) hoàn toàn tan biến, bởi do
không còn sự tiếp xúc (phassa) đối với ý thức về thế
giới ngoại tại. Sự bất động trước thế giới ngoại tại
trong hành giả này là một tiến trình tự nhiên mà cảnh
giới thiền này có thể mang lại. Trái lại, người chứng
đạt niết-bàn, các giác quan vẫn còn hoạt động, do đó
chúng không thể tránh khỏi sự tiếp xúc với thế giới bên
ngoài và do đó người chứng đạt niết-bàn vẫn phải trải
qua thế giới cảm giác với sự chánh niệm (sati) và trí
tuệ (pa– – ) về bản chất vô thường, vô ngã, vị ngọt và
vị xuất ly của chúng, và do vậy, bậc giác ngộ trở nên
bất động trước thế giới giác quan hay kinh nghiệm. Nói
khác đi, người chứng đạt niết-bàn đã hoàn toàn làm chủ
được các giác quan của mình, làm chủ sự tiếp xúc, các
cảm giác đến độ không còn sự tham ái hay chấp thủ nào có
thể xuất hiện được từ các sự tiếp xúc này, trong khi đối
với người chứng được trạng thái vắng mặt cảm giác và
nhận thức do không có tiếp xúc với thế giới ngoại tại
nên cũng không có ý thức về thế giới ngoại tại đó, như
vậy vấn đề "bất động" hay "không bất động" không được
đặt ra.
Sự khác biệt quan trọng khác đó là khi đi, đứng, nằm,
ngồi v.v. . . người chứng đạt niết-bàn hoàn toàn ý thức
và chánh niệm về các hoạt động của các quan năng cảm
giác, làm chủ chúng một cách triệt để, trong khi người
chứng được trạng thái vắng mặt cảm giác và nhận thức
không có ý thức đó, bởi do các giác quan của hành giả
này đã tạm thời ngưng hoạt động. Trong niết-bàn tất cả
các hoạt động của thân, tâm và lời vẫn tiếp tục diễn
tiến với sự chánh niệm (sati), tỉnh giác (sampaja– – a)
và trí tuệ (pa– – ) và hoàn toàn không có vướng mắc (
laya) hay chấp trước (up d na), trong khi đối với
người được trạng thái vắng mặt cảm giác và nhận thức
toàn bộ sự hoạt hành của các căn đã ngừng hẳn cho đến
khi nào vị ấy xuất khỏi trạng thái thiền định này. An
trụ trong trạng thái thiền này, vị hành giả có thể cảm
nhận sự an lạc và định tĩnh của tâm. Mọi náo động và
phiền toái của ấn tượng đã tạm dứt. Nhưng một khi xuất
thiền, vị hành giả chưa chắc đã có thể làm chủ được các
giác quan của mình, do đó, tham ái và chấp thủ vẫn có
thể diễn ra bất cứ lúc nào, và do vậy chiếc xe sanh tử
vẫn còn tiếp tục lăn bánh và tái diễn.
Chúng ta cũng còn có thể tìm thấy sự khác biệt giữa hai
trạng thái này qua đoạn mô tả về bản chất niết-bàn trong
hiện đời ở Phật Thuyết Như Vậy 38 (Itivuttaka). Đức Như
Lai hay các bậc A-la-hán đã chứng đạt niết-bàn trong
hiện đời dù vẫn còn các cảm giác hạnh phúc (sukha), đau
khổ (dukkha), dễ chịu (man pa) hay khó chịu (aman pa)
do các hoạt động tiếp diễn của các giác quan, trong khi
các kinh nghiệm giác quan đó không có mặt trong người
đạt trạng thái vắng mặt cảm giác và nhận thức. Do vậy,
vấn đề làm thế nào để làm chủ các cảm giác đau khổ của
thân không xuất hiện ở vị hành giả này. Trong khi đối
với người chứng đạt niết-bàn, các ngài phải bước vào
trạng thái vắng mặt cảm giác và nhận thức trong một thời
gian nhất định nào đó để khắc phục các khổ thọ của thân
gây ra. Đây là cách thức đức Phật vận dụng trước khi vô
dư niết-bàn tại rừng Ta-la song thọ.
SÁCH THAM KHẢO CHỌN LỌC
Nguyên tác Pàli và các bản dịch tiếng Anh được sử dụng
trong bài này thuộc ấn bản của Hội Kinh Thánh P li
(PTS), như được liệt kê trong bảng viết tắt của tuyển
tập hội thảo này.
Collins, Steven. (1982). Selfless Persons: Imaginary and
Thought in Therav da Buddhism. London: Cambridge
University Press.
Conze, Edward. (1962). Buddhist Thought in India, Three
Phases of Buddhist Philosophy. London: George Allen &
Unwin Ltd.
Dutt, Nalinakasha. (1980). The Spread of Buddhism and
Buddhist Schools. Delhi: Rajesh Publications.
G.R. Welbon (1968). The Buddhist Nirvana and Its Western
Interpreters. Chicago: University of Chicago Press.
Harvey, Peter. (1995). The Selfless Mind: Personality,
Consciousness and Nirvana in Early Buddhism. London:
Curzon Press.
Jayatilleke, K. (1980) Early Buddhist Theory of
Knowledge.
Delhi: Motilal Banarsidass.
Jayatilleke, K. N. (1975).
The Message of the Buddha, ed. by N. Smart. London:
George Allen & Unwin Ltd.
Johansson, Rune. E. A. (1969). The Psychology of
Nirvana. London: George Allen & Unwin.
Johansson, Rune. E. A. (1985). The Dynamic Psychology of
Early Buddhism. London: Curzon Press, 1st Ed. 1979.
Kalupahana, D. J, & Weeraratne, W. G. (1987). Buddhist
Philosophy and Culture, Essays in honour of N. A.
Jayawickrema. Sri Lanka: Na Yayawickrema Felicitation
Volume Committee.
Kalupahana, D. J. (1995b) Nagarjuna"s Moral Philosophy
and Sinhala Buddhism. Sri Lanka: Karunarate & Sons.
Kalupahana, David J. (1975) Causality: The Central
Philosophy of Buddhism. Honolulu: The University Press
of Hawaii.
Kalupahana, David J. (1976). Buddhist Philosophy: A
Historical Analysis. Honolulu: An East-West Centre Book,
the University Press of Hawaii.
Kalupahana, David J. (1987) The Principles of Buddhist
Psychology. Albany: The State University of New York.
Kalupahana, David J. (1994). A History of Buddhist
Philosophy, Continuities and Discontinuities. Delhi:
Motilal Banarsidass, 1st Ed. 1992.
Kalupahana, David J. (1995) Ethics in Early Buddhism.
Honolulu: University of Hawaii Press.
Karunadasa, Y. (1989). Buddhist Analysis of Matter.
Singapore: Buddhist Research Society, 1st Ed. 1967.
Poussin, L. de La Vallée.
(1982). The Way to Nirv ?a. Delhi: Sri Satguru
Publications, 1st ed. 1917.
Radhakrishnan, S. (1977). Indian Philosophy, 2 vols.
Bombay: Blackie and Sons Publishers, 1st Ed. 1927-1930.
Rahula, Walpola. (1978). What the Buddha Taught. London:
The Gordon Fraser Gallery, 1st ed. 1959.
Sobti, H. Singh. (1985) Nibb na in Early Buddhism.
Delhi: Eastern Book Linkers.
Tilakaratne, Asanga. (1993) Nirvana and Ineffability, A
Study of the Buddhist Theory of Reality and Language.
Sri Lanka: The Postgraduate Institute of Pali and
Buddhist Studies, University of Kelaniya.
Welbon, G. R. (1968). The Buddhist Nirvana and Its
Western Interpreters. Chicago: University of Chicago
Press.
Chú thích:
Thỉnh thoảng từ này cũng được sử dụng đồng nghĩa với
pari-nibb na và pari-nibbuta có nghĩa là trạng thái
niết-bàn trong hiện đời, mặc dù trong vài ngữ cảnh thuật
ngữ "pari-nibb na và pari-nibbuta" chỉ được sử dụng để
chỉ cho trạng thái niết-bàn sau khi chết. Xem giải thích
chi tiết ở tác phẩm: S. Collins (1998): 147-51, 193-8.
Dhp. 203.
S. II. 278.
Ud. p. 80.
D.
I.
156, 167; S. II. 18, 34, 115; III. 163; IV. 141; M. III.
286.
So sánh A. I. 8: bhikkhu pan? hitena cittena avijjaị
bhecchati vijjaị upp dessati nibb naị sacchikarissati.
Ud. 80.
S. IV. 368-73 liệt kê hơn 30 đồng nghĩa của niết-bàn.
Các từ này là: cứu cánh, trạng thái vắng mặt các phiền
não, chân lý, bờ bên kia, sâu diệu vi tế, cái khó nhận
ra, cái không bị biến hoại, vững chắc, không còn bị phân
huỷ, vượt khỏi
tỷ giảo, không có sự khác biệt, thật an lạc, bất tử,
tuyệt vời, kiết tường, an nghỉ, diệt tận tham dục sân
hận và vô minh, không còn ái trước, không còn phiền
muộn, ly tham ái, thanh tịnh, giải thoát, không chấp
trước, hòn đảo, hang động, sự bảo vệ, nơi nương tựa và
mục đích sau cùng." Các đồng nghĩa của niết-bàn cũng còn
xuất hiện rải rác ở các kinh D. I. 36; M. I. 163, 173;
A. II. 247; It. 38-9; Sn. 1149; Ud. 80. Các mô tả về
niết-bàn bằng các thuật từ khẳng định và phủ định nhấn
mạnh đến các phương diện tâm lý, chuyển hoá và ẩn dụ.
Trong bài viết này, tác giả không trình bày riêng biệt
phần các thuật từ khẳng định về niết-bàn, trong khi các
thuật từ phủ định về niết-bàn được trình bày một phần
độc lập, do vì tính quan trọng của nó trong việc mô tả
niết-bàn.
Tác giả chân thành cảm ơn học giả R. E. A. Johansson,
nhờ vào sự nghiên cứu nghiên thủy của ông (1969: 106) về
niết-bàn mà bài viết này được ra đời.
S. I. 125, S. IV. 371-2; M. I. 508-9; Dhp. 202-4, Ud.
10; Thag. 35.
S. IV. 371-2.
S. I. 48; S. IV. 174; It. 57.
M I. 167; MLS I. 211.
It. 122; S. IV. 369-70.
Sn. 1086.
S. IV. 370.
S. I. 192; A. II. 24; It. 122; Thag. 289, 510, 831, 912;
Th? g. 135, 333.
It. 122.
S. IV. 370.
Thag. 264.
Sn. 1149; M. I. 167.
S. IV. 369.
S. IV. 372.
M. I. 511; S. III. 32; Sn. 749, 788.
It. 38.
S. IV. 370.
Dhp. 203-4.
S. IV. 372.
S. III. 189.
S. I. 210.
M. I. 511.
S. IV. 368.
S. IV. 372.
It. 38.
It. 38-9.
S. IV. 359.
S. II. 117.
Sn. 467.
M. I. 173.
S. IV. 372.
Xem bốn đoạn mô tả về niết-bàn trong Cảm Hứng Ngữ được
trình bày trong bài viết này.
Ud. 80.
S. IV. 368.
M. III. 245.
S. I. 62.
Xem thêm Walpola Rahula. (1978): 36f.
M. I. 167, 173.
M I. 167; MLS I. 211.
S. II. 42-3, 57; M. II. 265.
S. I. 174.
Ud. 80-1.
Ud. 33.
Sn. 707.
A. II. 24; It. 122.
Trích theo R. E. A. Johansson.
(1969): 45-6.
S. II. 117.
Sn. 467.
M. I. 173.
S. IV. 372.
S. IV. 251: "yo r gakkhayo dosakkhayo mohakkhayo idaị
vuccati nibb naị ."
So sánh S. I. 359; S. V. 9; A. V. 9.
Vin. I. 8; Vin. II. 156. So sánh S. I. 141.
S. III. 190: Ta?hakkhayo hi R dha nibb naị . So sánh
S. IV. 368-72.
G.R. Welbon (1968).
L. V. Poussin (1982): "Thật là an toàn khi chủ trương
rằng niết-bàn là sự đoạn diệt" (It may therefore be
safely maintained that Nirav ?a is annihilation) (p.
117); "Rằng niết-bàn là đoạn diệt bắt nguồn – ít nhất
cho chúng ta – nhưng từ các nguyên lý tổng quát của
triết học Phật giáo và từ các tuyên bố rõ ràng" (That
Nirv ?a is annihilation results-at least for us-but
from the general principles of Buddhist philosophy and
from clear statements" (p. 116).
Trích trong H. S. Sobti (1985): 133.
S. III. 109-115.
S. III. 110-1.
M. I. 484-8.
W. Rahula (1978): 35: The only reasonable reply to give
to the question [what is nibb na?] is that it can never
be answered completely and satisfactorily in words,
because human language is too poor to express the real
nature of the Absolute Truth or Ultimate Reality which
is Nirv ?a.
N. Dutt (1980): 279; R. E. A. Johansson (1969): 44f.
K. N. Jayatilleke (1980): 476: not that there was
something that the Buddha did not know, but that what he
"knew" in the transcendental sense could not be conveyed
in words because of the limitations of language and of
empiricism.
S. Radhakrishnan (1977): 676ff.
R. E. A. Johansson (1969): 42-50.
D. J. Kalupahana (1976): 75.
D. J. Kalupahana (1976): 82.
D. J. Kalupahana (1976): 82; E. Conze (1962): 76f.
A. Tilakaratne (1993): 81. The experience of nirvana
does not come out as a result of transcendending the
ordinary reality of the world. Neither does it derive
from a transcendent God, nor does it lead one to the
Transcendent. The exclusion of these possibilities
indicate that nirvana does not involve, in principle,
the kind of non-verbalizable knowledge usually
associated with the other forms of religious experience.
This shows that the Buddhist religious experience can
not be taken to subscribe to the ineffability thesis.
Y. Karunadasa (1994): 7.
Y. Karunadasa giải thích rất thuyết phục rằng khái niệm
thế giới (loka) vốn có nghĩa là 6 quan năng cảm giác
(the six-fold sphere of sense activity) (S. IV. 39).
Điều này kéo theo rằng danh hiệu "thế gian giải"
(loka-vid‰ ) (D. III. 76; S. I. 62; A. II. 48) sẽ có
nghĩa là "bậc tuệ tri được thế giới của kinh nghiệm giác
quan." Tương tự các thuật ngữ "lokanirodha," and
"lokanta" (A. II. 49) sẽ có nghĩa là "sự chấm dứt thế
giới và sự tận cùng của thế giới" cũng nên được hiểu
dưới ý nghĩa của tâm lý học. (1994: 4).
Y. Karunadasa (1994): 11.
M. I. 486.
Ở S. III. 111-2, S riputta thường dùng phán đoán này để
phủ bác việc Yamaka diễn đạt đức Phật bằng bốn khả thể
chỉ định (tứ cú).
Bản kinh đọc là "dh tu" có nghĩa đen là "yếu tố." F. L.
Woodward đã dịch ra tiếng Anh "conditions, các điều
kiện" (MNPC, II. 143) trong khi đó S. Collins lại thích
dịch nghĩa đen là "yếu tố" (elements), (1998: 149).
Có nghĩa đen là sự chấm dứt toàn bộ các lậu hoặc.
Có nghĩa đen là niết-bàn với năm nhóm nhân tính còn tồn
tại.
Có nghĩa đen là sự tan rã hoàn toàn nhóm nhân tính.
Có nghĩa đen là niết-bàn không còn nhóm nhân tính tồn
tại.
It. 38.
M. I. 140; S. III. 109-115; S. IV. 383ff.
Kết luận này có thể được minh chứng bằng một câu ở cuối
đoạn trích đầu: đây thật sự là sự chấm dứt của đau khổ"
có nghĩa là niết-bàn trong đời sống hiện tại chứ không
phải sau khi chết.
Ud. 80: Atthi bhikkhave tad yatanaị , yattha neva paỉ
hav? na po na tejo na v yo na k s na– c yatanaị
na vi– – ? na– c yatanaị na ki– ca– – yatanaị na
nevasa– – n sa– – yatanaị n yaị loko na paraloka
ubho candimas‰ riy , tad ahaị bhikkhave neva gatiị
vad mi na gatiị na ỉ hitiị na cutiị na upapattiị
appatiỉ ỉ haị appavattaị an ramma?am eva taị , esevanto
dukkhass ti. Tham khảo bản dịch tiếng Anh của R. E. A.
Johansson (1969): 51 với vài thay đổi nhỏ.
S. I. 192; A. II. 24; It. 122; Thag. 289, 510, 831, 912;
Th? g. 135, 333.
W. Rahula (1978): 40. It is incorrect to think that
Nirv ?a is the natural result of the extinction of
craving. Nirv ?a is not the result of anything. If it
would be a result, then it would be an effect produced
by a cause. It would be samkhata "produced" and
"conditioned." Nirv ?a is neither cause nor effect. It
is beyond cause and effect . . . The only thing you can
do is to see it, to realize it. There is a path leading
to the realization of Nirv ?a. But Nirv ?a is not the
result of that path. You may get to the mountain along a
path, but the mountain is not the result, not an effect
of the path. You may see a light, but the light is not
the result of your eyesight.
Tác giả đọc là anattaị , thay vì anantaị như đề nghị
trong bản dịch tiếng Anh về kinh Tăng Chi của Woodward.
Sự rắc rối văn bản ở đây đã làm bối rối các học giả. Xem
R. E. A. Johansson (1969): 53; S. Collins (1998): 166-7.
Ud. 8: Duddasaị anattaị n ma, na hi saccaị sudassanaị ;
paỉ ividdh ta?h , passato natthi ki– cananti.
Ud. 80: Atthi bhikkhave aj taị abh‰ taị akataị asaơ
khataị , no ce taị bhikkhave abhavissa aj taị abh‰ taị
akataị asankhataị , na yidha j tassa bh‰ tassa katassa
sankhatassa nissara?aị pa– – yetha. Yasm ca kho
bhikkhave atthi aj taị abh‰ taị akataị asankhataị ,
tasm j tassa bh‰ tassa katassa sankhatassa nissara?aị
pa– – yati. Đoạn này cũng tái xuất hiện ở It. 37.
Dhp. 383.
Ud. 80: Nissitassa ca calitaị anissitassa calitaị
natthi, calite asati passaddhi , passadhiy sati rati na
hoti, ratiy asati gatgati na hoti, gati-gatiy
asati cut‰ pap to na hoti, cut‰ pap te asati nevidha
na huraị na ubhayamantare, esevanto dukkhass ti.
It. 38. Phần in nghiêng do tác giả nhấn mạnh.
D. III. 216; S. IV. 259; S. V. 56. So sánh Vism. 499.
S. II. 274.
It. 38; S. III. 112.
So sánh D. I. 34, 55; M. I. 140.
So sánh S. III. 215-9.
M. I. 484-8. Mười câu hỏi này cũng tái xuất hiện ở các
kinh sách sau đây M. I. 426-32; M. II. 228-38; S. III.
213-24; 257ff.; S. IV. 374-403; Milin. 144ff. Riêng 14
câu hỏi cùng nội dung, xem Luận Trung Quán, chương
XXVII, XXII và XXV.
M. I. 429-32, 488-9.
M. I. 484-5; Tái xuất hiện ở S. IV. 373-90.
S. IV. 388, 390.
M. I. 487: ghambh? ro hayam . . . dhammo duddaso
duranubodho santo pa?? to atakk vacaro nipu?o pa??
itavedan? yo.
Ctsđd: so dujj no a– – adiỉ ỉ hikena, a– – akhantikena,
a– – arucikena, a– – atrayogena, a– – ath cariyakena.
M. I. 487; M. III. 245; Sn. 232.
M. I. 487-8. Tham khảo bản dịch tiếng Anh của I. B.
Horner, MLS. II. 166. Phần phụ chú của chúng tôi. Cũng
tái xuất hiện ở S. IV. 376f.
Sn. 1074.
M. I. 139-40.
S. I. 112; Sn. 1119; Dhp. 46.
S. I. 12. Tham khảo bản dịch tiếng Anh của P. Harvey
(1995): 230.
So sánh S. III. 35.
Khái niệm này được trình bày rõ ở A. I. 266. Có bốn đặc
tính của niết-bàn có thể so sánh với đại dương (s
gara). Bốn đặc tính đó là: (i) giống như đại dương không
dung chứa tử thi, niết-bàn không dung chứa các lậu hoặc,
(ii) Cũng như đại dương không bị tràn do tất cả các sông
đổ về, niết-bàn không bao giờ bị đầy do số lượng người
tu chứng được, (iii) Cũng như đại dương là nơi cư trú
của nhiều loại chúng sanh lớn, niết-bàn là nơi cư trú
của các bậc A-la-hán, và (iv) cũng như đại dương dợn với
vô vàn các đợt sóng, niết-bàn là dòng chảy của trí tuệ
và giải thoát.
Sn. 1076.
S. IV. 379-83.
Tham khảo thêm S. III. 111-2.
S. IV. 383.
Ud. p. 80.
D. III. 216; S. IV. 259; S. V. 56.
So sánh Vism. 499.
Thag. 707.
It. 38.
Kalupahana (1994: 95-6) cho rằng: "không có sự khác nhau
về mặt số lượng giữa cảm giác của người trong luân hồi
và người đã giải thoát" (there is no qualitative
difference between the feeling of someone who is in
bondage and someone who is freed). Nhưng trong quá trình
giải thích, ông lại thừa nhận có sự khác nhau về số
lượng giữa người chứng và người phàm, khi ông viết:
"trong trường hợp của người đã chứng đạt giải thoát, có
sự vắng mặt của tham, sân và si, những thứ thường là kết
quả trên các kinh nghiệm giác quan" (in the case of a
person who has attained freedom, there is an absence of
the greed, hatred, and confusion that are generally
consequent upon sense experience) p. 96.
. I. 111-2: cakkhu– c vuso paỉ icca r‰ pe ca uppajjati
cakkhuvi– – ?aị ti?? aị saơ gati phasso, phassapaccay
vedan , yaị , vedeti taị sa– j n ti, yaị sa– j n ti
taị vitakketi, yaị vitakkheti taị papa– ceti, yaị papa–
ceti tatonid naị purisaị papa– casa– – saơ kh samud
caranti at? t n gata-paccupanannesu r‰ pesu. Xem thêm
bản dịch tiếng Anh MLS. I. 145, D. J. Kalupahana (1987):
32, và EB. IV. 236.
Ud. 8: tasm tiha te B hiya evaị sikkhitabbaị : diỉ ỉ
he diỉ ỉ hamattaị bhavissati, sute sutamattaị
bhavissati, mute mutamattaị bhavissati, vi– – te vi– –
tamattaị bhavissati. Phương pháp huấn luyện nhận thức
và cảm xúc này cũng còn tái xuất hiện trọn vẹn ở S. IV.
72; KS. IV. 11.
Ud. 80: Nissitassa ca calitaị anissitassa calitaị
natthi, calite asati passaddhi , passadhiy sati rati na
hoti, ratiy asati gatgati na hoti, gati-gatiy
asati cut‰ pap to na hoti, cut‰ pap te asati nevidha
na huraị na ubhayamantare, esevanto dukkhass ti.
SnA. p. 30.
S. IV. 231.
D. III. 216, 275; S. IV. 216, 331.
S. IV. 205.
S. IV. 216: yaị ki– ci vedayitaị taị dukkhasminti.
A. II. 6, 36.
S. V. 2-30; A. I. 11-31; It. 9.
S. IV. 233.
S. IV. 233.
M. III. 124; A. IV. 32.
It. 38. So sánh S. IV. 209.
S. IV. 209: So ekaị vedanaị vediyati k yikaị na
cetasikaị .
Sn. 739: vedan naị khay bhikkhu nicch to parinibbuto.
S. V. 8: Yo kho . . . r gakkhayo dosakkhayo mohakkhayo
idaị vuccati amataị (sự diệt trừ tham sân và si được gọi
là bất tử, nghĩa là niết-bàn)
A. IV. 157; D. III. 260.
Vin. II. 193.
D. II. 127.
M. III. 244-5. Cf. D. I. 46; D. II. 128; S. II. 83; A.
II. 198.
M. I. 303: Sukh ya . . . vedan ya r g nusayo pah
tabbo, dukkh ya vedan ya paỉ igh nusayo,
adukkhamasukh ya vedan ya avijj nusayo pah taboo.
Ud. 8: tasm tiha te B hiya evaị sikkhitabbaị : diỉ ỉ
he diỉ ỉ hamattaị bhavissati, sute sutamattaị
bhavissati, mute mutamattaị bhavissati, vi– – te vi– –
tamattaị bhavissati. Phương pháp huấn luyện cảm xúc và
nhận thức này còn xuất hiện ở S. IV. 72; KS. IV. 11.
Ud. 8; S. IV. 72-3.
Sn. 593: sabbasokaị atikkanto asoko hoti nibbuto.
It. 122: phuỉ ỉ hassa param santi nibb naị akutobhayaị
.
Ud. 3: sabbato tanh naị khay asesavir ganirodho nibb
naị .
Vbh. 373; Dhs. 1448.
S. V. 423.
S. V. 422-6.
M. I. 10
D. V. 422.
Xem chẳng hạn M. I. 175: savakkhaya– ?a, lậu tận
trí.
Xem chẳng hạn M. I. 10: „ yassa adhigam ya nibb
nassa sacchikiriy ya.
D. III. 230; M. I. 10; S. III. 26.
S. V. 144.
A. II. 51-2.
Sn. 734: vi– – ?assa nirodhena natthi dukkhassa
sambhavo.
Xem chẳng hạn M. III. 223; M. II. 265, về vai trò của ý
thức trong chấp thủ.
Sn. 734: vi– – ?‰ pasam bhikkhu nicch to
parinibbutoti.
D. II. 63.
M. III. 223; S. II. 66.
Ud. 93.
S. IV. 20.
M. I. 292.
M. I. 293.
Vism. 369-70.
M. I. 293.
D.
I.
83-4; M. I. 175.
S. IV. 231.
M. III. 223-8.
Ud. 8: tasm tiha te B hiya evaị sikkhitabbaị : diỉ ỉ
he diỉ ỉ hamattaị bhavissati, sute sutamattaị bhavissati,
mute mutamattaị bhavissati, vi– – te vi– – tamattaị
bhavissati. Tái xuất hiện ở S. IV. 72; KS. IV. 11.
D. III. 220, 275; M. II. 105; A. I. 163-5; A. V. 211.
M. IV. 23.
M. IV. 23: Kh? ? j ti vusitaị brahmacariyaị kataị
karan? yaị n paraị itthatt y ti.
S. II. 216.
D. III. 281; A. III. 280.
EB. I. mục từ abhi– – : 97a: direct knowledge which
has left behind the physical world of space and time, or
perception, of ideation, of causality, of logical
reasoning, and is, therefore, psychic in the fullest
sense.
D. III. 230, 276; M. I. 9; S. IV. 257; S. V. 59; Vbh.
373; Dhs. 1448.
D. III. 281; A. III. 19: sav naị khay an savaị
cetovimuttiị pa– – vimuttiị diỉ ỉ he va dhamme sayaị
abhi– – sacchikatv upasampajja viharati.
S. III. 190; Vin. I. 9.
Trong mô thức của chuỗi duyên khởi, tham ái do cảm giác
tạo điều kiện (vedan paccay ta?h ), trong khi trong
trật tự ngược chiều, do chấm dứt của cảm giác, sự tham
ái cũng chấm dứt (vedan nirodh ta?h nirodho).
So sánh S. IV. 209.
D. II. 156.