Thöa baïn,

 

Niết-bàn

TT. Thích Đức Thắng

                           NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

 

Số tháng 12 - 2001

PHẬT GIÁO THỪA THIÊN - HUẾ

                                Source :Đạo Phật Ngày Nay

Căn c trên tuyên b Pht: Sarvam śūnyam (Mi vt đều không), vn đề Niết-bàn (Nirvāna), đã được các b phái nêu ra đặt vn đề tr li sau khi Ngài qua đời; theo đó Niết-bàn được trình bày theo dng s đắc ca h, và cũng t đó mi tranh lun v nó cũng như các giáo lý khác tr nên gay gt hơn. Niết-bàn, vn đề hin hu hay không hin hu, có (bhāva) hay không (abhāva), ti thế gian (laukika) này hay vượt ra khi thế gian (lokottara); mt vn đề làm ny sanh ra mi s tranh lun, càng ngày càng gay gt gia Hu b hay còn gi là Nht thiết hu b (Sarvāsti-vādin) và Kinh b còn gi là Kinh lượng b (Sautrāntika). Chính vì phương tin đối tr căn cơ, nên giáo  pháp cha bnh ca đức Pht được Ngài nói ra có đến vô lượng để cha tr có ngn y cơ bnh do ba dc phin não sinh ra. Vì tính cách đa dng và phc tp ca con bnh, nên thuc đối tr cũng tu thuc vào tính phc tp đa dng ca con bnh mà cho, ging như con bnh thế gian (thế gii) ch cho năm th m chng hn, ni trong cách chp th năm th m bnh và cách cho thuc cũng đã là đa dng ri. Vì khi mum cha con bnh chp th vào năm th m, không hn là ch có mt cách cha tr mà trước hết phi xem đến cách chp th đó liên h câu hu đến độc nào nng, đến độc nào nh, trong ba độc hay nhng câu hu khác ngoài ba độc, mà tu theo đó đức Đạo sư cho thuc ch không phi ch có mt phương thuc duy nht để tr chúng. Cho nên vic cha lành bnh, gii thoát mi đau kh cho bnh nhân, cho bnh nhân rt nhiu khía cnh, sau khi ngài dit độ, đã b nhng người đi sau ng nhn, ch vì nhng người đi sau không hiu được thâm ý ca ngài, cho nên giáo nghĩa ca nhng li dy đó b xuyên tc mt cách trit để và có h thng. H đã biến giáo lý phương tin mà đức Đạo sư đã dùng để đối tr căn bnh hu lu ca chúng sanh, đáng lý s b vượt qua, thành giáo lý cu cánh, và h chp cht vào chúng coi như là mt thc hu cn  phi đạt đến để th đắc. T đó Hu-Vô được h biến thành nhng th nhãn hiu tuyên truyn cho lp trường ca h. Qua đây, giáo lý ca Ngài đã biến thành mt th lun lý nhân qu. T đó, h t đặt nn tng cho mt cu cánh ngoài ba cõi này, cn phi vươn ti, đó chính là mt th Niết-bàn thc hu không tưởng. Trong khi chính đức Pht ch trương mt Niết-bàn không ngoài ba cõi, như kinh Rohitassa[1][1] đã dy: " Ti ch nào, bch Thế tôn, không b sanh, không b già, không b chết, không có t b (bt dit), không có sanh khi (bt sanh), chúng con có th đến để thy, để biết, để đạt đến ch tn cùng ca thế gii không?". Đức Pht tr li :

            "Này hin gi, ta tuyên b rng : ti ch nào không b sanh, không b già, không b chết, không có t b đời này, không có khi đời khác, thi không có th đi đến để thy, để biết, để đạt đến ch tn cùng ca thế gii. Nhưng này hin gi, trong cái thân dài độ my tc này, vi nhng tưởng, nhng tư duy ca nó, ta tuyên b v thế gii tp khi, thế gii đon dit, v con đường đưa đến thế gii đon dit." thuc Pāli tng.

Và cũng trên lp trường này, trong kinh 1307[2]. Tp A Hàm thuc Hán tng, mà chúng tôi s gii thiu dưới đây qua bn dch ca người viết, cùng hiu-chú ca Thượng To Thích Tu S, s nói lên con đường đi đích tht ca đức Pht đã tng đi, đã tng sng, để ch dy li cho chúng ta, nhng người đi sau noi theo.

Tôi nghe như vy:

Mt thi đức Pht vườn Cp Cô Độc, rng cây K-đà, nước Xá-v. By gi, có Thiên t Xích Mã,[3] tướng mo tuyt vi, vào lúc cui đêm, đến ch Pht, đảnh l sát chân Pht, ngi lui qua mt bên; t thân to ánh sáng chiếu khp vườn Cp Cô Độc, rng cây K-đà. Lúc này Thiên t Xích Mã kia bch Pht:

Thưa Thế tôn! Có th vượt qua biên tế thế gii, đến ch không sinh, không già, không chết chăng?

Pht đáp Xích Mã:

Không th vượt qua biên tế thế gii, đến ch không sinh, không già, không chết được.

Thiên t Xích Mã bch Pht:

L thay! Thế tôn khéo nói nghĩa này! Như nhng gì Thế tôn đã nói: Không th vượt qua biên tế thế gii, đến ch không sinh, không già, không chết được. Vì sao thưa Thế tôn! Vì con t nh kiếp trước tên là Xích Mã, làm Tiên nhơn ngoi đạo,[4]  đắc thn thông, lìa các ái dc.[5]   Lúc đó, con t nghĩ: Ta có thn túc nhanh chóng như vy, ging như kin sĩ, dùng mũi tên nhn trong khonh khc bn xuyên qua cây đa-la, có th lên mt núi Tu-di và đến mt núi Tu-di, ct bước nh nhàng t bin Đông đến bin Tây. Lúc y con t nghĩ: Nay ta đạt được thn lc nhanh chóng như vy, hôm nay có th tìm đến biên tế ca thế gii được chăng? Nghĩ vy ri lin khi hành, ch tr khi ăn, ngh, đại tiu tin, và gim bt ng ngh, đi mãi đến mt trăm năm, cho ti khi mng chung, rt cuc không th vượt qua biên tế thế gii, đến nơi  không sinh, không già, không chết.

Pht bo Xích Mã:

Nay Ta ch dùng cái thân mt tm để nói v thế gii, v thế gii tp khi, về  thế gii dit tn, v con đường đưa đến thế gii dit tn.

Này Thiên t Xích Mã! Thế nào là Thế gii? Là ch năm th m.[6]  Nhng gì là năm? Là sc th m, th th m, tưởng th m, hành th m, thc th m, đó gi là thế gii.

Thế nào là sc tp khi ? Là tham ái đối vi hu v lai câu hu vi  tham, h, mê đắm nơi này hay nơi kia.[7]   Đó gi là s tp khi ca thế gii.

Thế nào là thế gii dit tn ? Là tham ái đối vi hu v lai câu hu vi  tham, h, mê đắm nơi này hay nơi kia, đều đon tn, x ly không còn sót, vô dc, vng lng, dt bt, đó gi là s dit tn thế gii.

Thế nào là con đường đưa đến thế gii dit tn ? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến, chánh trí, chánh ng, chánh nghip, chánh mng, chánh phương tin, chánh nim, chánh định. Đó gi là con đường đưa đến s dit tn thế gii.

Này Xích Mã! Biết rõ thế gii, đon tn thế gii; biết rõ thế gii tp khi, đon tn thế gii tp khi; biết rõ thế gii dit tn, chng nhp thế gii dit tn; biết rõ con đường đưa đến thế gii dit tn, tu con đường đưa đến s dit tn thế gii. Này Xích Mã! Nếu T-kheo nào đối vi kh thế gii, hoc biết hoc đon; s tp khi thế gii, hoc biết hoc đon; s dit tn thế gii, hoc biết hoc chng; con đường đưa đến s dit tn thế gii, hoc biết hoc tu, thì này Xích Mã! Đó gi là đạt đến biên tế thế gii, qua khi ái thế gii.

By gi Thế tôn nói k lp li:

Chưa tng do đi xa,

Mà đến biên thế gii;

Chưa đến biên thế gii,

Trn không hết biên kh.

Vì vy nên Mâu-ni,

Biết biên tế thế gii;

Khéo rõ biên thế gii,

Các phm hnh đã lp.

Đối biên thế gii kia,

Người giác tri bình đẳng;

Đó gi hnh Hin thánh,

Qua b kia thế gii.

Sau khi Thiên t xích Mã nghe nhng gì Pht nói, hoan h, tu h, đảnh l sát chân Pht, lin biến mt.

Qua bn kinh này đã cho chúng ta mt cái nhìn đặc trưng v Niết-bàn, v thế gii ca không sinh, không già, không chết, mà mi người trong chúng không ai là người không ước ao mong mun đạt đến nơi đó. Nhưng nơi đó là nơi nào? Phi chăng là nơi ngoài thế gii ba cõi này? Như Thiên t Xích Mã đã tng hi, và đã tng kinh nghim, đã tng kinh qua trong quá kh khi hi v: Có th vượt qua biên tế thế gii, đến ch không sinh, không già, không chết chăng? Khi mà nhng thc mc v cuc sng nhân sinh vũ tr, lúc nào cũng ám nh s hãi bi cái kh trước mt mun tìm cách thoát ra nó; nhưng qua kinh nghim sng, qua kinh nghim đã tng tri, bế tt vn hoàn bế tt như Thiên t Xích Mã đã tng b ra mt trăm năm chy đôn chy đáo c vượt qua biên tế thế gii để tìm đến nơi không sinh, không già, không chết, lúc còn làm Tiên nhơn, cui cùng vn không thoát khi biên tế thế gii này. Chúng ta ai li không có nhng thc mc và nhng ước mong như Thiên t Xích Mã, nhưng nhng thc mc và mong ước kia Thiên t Xích Mã đã tng thc hin nó bng nhng hành động, nhưng nhng hành động này vn không thành tu được ch vì phương pháp thc hành trên nn tng cơ bn đã sai lm như đức Pht đã dy:

Không th vượt qua biên tế thế gii, đến ch không sinh, không già, không chết được. Ch vì chính chúng ta đã quên ngay đến s hin hu ca chính chúng ta trên thế gii này, mà vong thân hướng ngoi tìm cu; nhưng theo đức Pht thì:

Nay Ta ch dùng cái thân mt tm để nói v thế gii, v s tp khi thế gii, v s dit tn thế gii, và con đường đưa đến s dit tn thế gii. Ngay trong cuc sng hin ti này, ngay trong thế gii này, ch không đâu xa hết. đây, đức Pht ch gii hn cái thân này để nói v nhân qu thế gian và xut thế gian qua t Thánh đế, mà đó con người được đánh giá như là mt hin tượng đủ để có th hoàn thành mt thế gii qua năm th m; chúng được coi như là mt kết qu, được hình thành bi nhng tp khi ca sc được câu hu vi ái, tham, h để phát sinh ra nhng h ly nhim trước trói buc trong quá kh. Trong hin ti, đối vi v lai nếu nhng tp khi ca sc được câu hu vi ái, tham, h để phát sinh ra nhng h lu nhim trước trói buc và làm nhân tp khi cho chúng trong v lai, mà hình thành nhân qu thế gian, thì đó là cách hình thành nhân qu thế gian theo chiu lưu chuyn. Và ngược li cũng trong cái thân này, đối v lai, nếu sc hin ti không câu hu vi ái, tham, h để phát sinh ra nhng h ly nhim trước trói buc, thì đã thoát khi mi h lu nhim trước, đã dt sch hết mi th vô minh phin não, không còn ham mun, dt bt mi th, tr thành vng lng tch tnh, không còn có ái, tham, h hin hu đây na, đó là s dit tn thế gii; và để đạt được trng thái vng lng tch tnh ca kết qu này, thì phương pháp để sc không câu hu vi ái, tham, h na là cn phi tu tp  tám Thánh đạo, con đường đưa đến s dit tn ca thế gii, chúng là nhân hin ti để đưa đến qu trong v lai như đức Pht đã dy. Đó chính là s hình thành ca nhân qu xut thế gian theo chiu hoàn dit.

Khi chúng ta đã biết rõ thế nào là thế gii, thế nào là thế gii tp khi ca nhân qu thế gian và, biết rõ thế nào là thế gii dit tn, thế nào là con đường đến thế gii dit tn ca nhân qu xut thế gian. Tiếp đến, trên nguyên tc nhân qu nhm loi b đi nhng di hi ca sc khi câu hu vi ái, tham, h để ri phát sinh ra nhng h ly nhim trước trói buc sau đó. Trước hết phi đon tn thế gii và s tp khi ca chúng, sau đó mun chng đạt đến trng thái vô dc vng lng dt bt, dt sch không còn gì hết, thì phi tu tp theo con đường để đưa đến thế gii dit tn. Nhưng đến đây cũng ch là nhng định nghĩa mt cách lý thuyết v thế gii qua năm th m để nói lên cái nhân qu bt toàn có th thay đổi được bi nhng n lc theo lưu chuyn hay hoàn dit ca nh đế mà thôi. Đức Pht dy tiếp:

Này Xích Mã! Biết rõ thế gii, đon tn thế gii; biết rõ thế gii tp khi, đon tn thế gii tp khi; biết rõ thế gii dit tn, chng nhp thế gii dit tn; biết rõ con đường đưa đến thế gii dit tn, tu con đường đưa đến s dit tn thế gii.

Biết rõ thế gii đây chính là biết như tht v năm th un, biết rõ v năm th un tp khi, để đon tn chúng. Năm th un hin hu ca mi chúng ta trong hin ti, nó là mt kết qu tt yếu va mang hình thc biu hin ca nhân quá kh, va làm nhân tố  tích cc cho mt cái qu nào đó trong tương lai. Như vy khi chúng ta nói v hin hu ca chúng là nói đến s liên h nhân qu ba đời ca quá kh - hin ti - tương lai (chúng thuc dng phân đon sinh t). Trong s hin hu sinh-t này, chúng nói lên được liên h nhân qu t sinh đến t, giai đon này chúng ta va là người th qu ca quá kh, va là k to nhân cho v lai. Và cũng vì l đó cho nên khi chúng ta biết rõ cái qu hin ti ca nhân quá kh chúng là năm th un, thì cũng trong hin ti chúng ta to nhân cho v lai bng cách đon tn năm th un vng này để không có cái nhân vng cho v lai na, nghĩa là không sinh ra qu vng cho v lai; khi qu vng v lai không sinh, thì nhân v lai cũng không sinh, và c như vy vòng xích nhân qu vng s b dit. Đến đây năm th un không sinh ra na, khi năm th un đã không sinh, thì có gì để dit, nên không dit.

Vy Niết-bàn chúng s hin hu ngay trong cõi này, ngay trong xác thân này, nếu ai gii thóat được mi trói buc đau kh ca tp khi, ca đon dit, bng cách không khi tâm điên đảo, phân bit chp trước đối vi cuc sng, thì người đó s đạt được Niết bàn ngay trong cuc sng này. T nhng ng nhn sai lm như vy, cho nên nhng gì đức Pht đã phương tin dy  cho chúng ta con đường  đi đến gii thoát, thì h đã biến chúng  thành con đường nô l trói buc.

Niết-bàn cùng thế gian

Không có tí phân bit

Thế gian cùng Niết-bàn

Cũng không tí phân bit.

V Năm un nhân duyên, tướng ca chúng đứng v mt dng mà nói, thì chúng là tướng sanh dit biến đổi liên tc qua li, và gi chúng là thế gian. Nhưng đứng v mt tánh mà nói, thì cu cánh ca chúng là Không, Tch dit, không chp th, đó là Không tướng (nghĩa này đã nói trên). đây, vì tt c các pháp chng sanh chng dit cho nên thế gian cùng Niết-bàn không có s phân bit và ngược li Niết-bàn cùng thế gian cũng không có s phân bit nào. Li na,

Tht tế ca Niết-bàn,

Cùng tht tế thế gian;

C hai tht tế đó,

Không my may sai bit.

 C hai tht tế Niết-bàn và thế gian, không có bt c my may sai bit nào c. Vì sao ? Vì khi chúng ta tìm kiếm tht tế cu cánh ca chúng, thì cu cánh ca chúng là bình đẳng. Do đó, mi tìm kiếm đều không th đạt được, ch vì chúng không có bt c my may sai bit nào.

Tht ra trong giáo pháp ca Ngài, đức Pht đã phương tin dùng hai hình thc Nhân qu và Duyên  khi, để mt mc đối tr v nhân qu ti phước, và mc khác gii phóng nhng phương tin đó qua duyên khi để hoàn thành Trung đạo gi danh tr v Không tánh. Đó là con đường gii thoát tht s như chính trong kinh Xà d, h Bali đã dy : Chánh pháp còn buông b hung chi là phi pháp. Nhưng đối vi h, điu này không quan trng nên đã b h b qua. Trong khi đó, h không biết rng chính h đã phn bi li đức Pht qua lp trường chp th tà kiến thuc nhân qu nh nguyên. H quên đi pháp Trung đạo duyên khi, mà trong sut cuc đời, đức Pht đã n lc xin dương chúng. Đức Pht chưa bao gi ch trương ly Hu-Vô làm lp trường chính để đưa chúng sanh đến gii thoát c, mà ngài ch trương: Mi vt đều không ( Sarvam sùnyam) nhm ph định có và không ca các pháp và xin dương t tánh Không, cũng là m bày cho mt hướng đi vượt thoát, đó là Trung đạo qua tướng gi danh. Chính vì Không này mà các nhà Tiu tha sau này, đã quan nim sai lm v nó, để đẻ ra mt cái t tánh thc hu nào đó ca các pháp, mà phn li chính quan đim ca đức Pht. Cũng chính vì mun khôi phc li con đường đi ca đức Pht, ngài Long Th B tát mi viết ra b lun Trung quán, nhm xin dương con đường Trung đạo mà đức Pht đã tng đi, đã tng sng vi nó. Ngài Long Th bo cái Không đây không phi là cái không ca không đối lp vi cái có, mà là cái KHÔNG ca :

            Các nhân duyên sanh pháp               

            Ta nói tc là Không

            Đó cũng là gi danh                                

            Cũng là nghĩa Trung đạo.

           

đây, mi vt đều Không, được quan nim như là mt cu cánh để phá hy tt c mi quan đim sai lm v các pháp. Qua đó Bát Bt được ngài s dng như là mt ph định tuyt đối cho phương pháp lun ca ngài, nhm trit tiêu mi chp th có-không (nh nguyên), va xây dng lý duyên khi hin tướng qua Trung đạo gi danh để hin Th duyên khi Tánh Không ca chúng như trong bài k trên đã nói.


[1]Tăng chi 1 trang 406-408, bn dch ca H.T. Thích Minh Châu.

[2] Tap A-hàm 49,  kinh s 1307, Đại 2, tr. 259. Tham chiếu,  Bit dch Tp A-hàm, Đại 2, No 100(306); Tăng nht A-hàm 8, Đại 2, No 125(43.1), tr.756. Pali, Aguttara, A. iv. 45. Rohita.

[3] Pali: Rohitasso devaputto.

[4] Pali: Rohitasso nāma isi ahosi bhojaputta, có v n s tên là Rohitassa, con trai ca Bhoja.

[5]Pali: vehāsagamo, đi trong hư không.

[6] Cũng nói là năm th un. Pali: pañca-upādānakkhandha.

[7]Cf. M.i. tr. 48: tahā ponobhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī,  khát vng tn ti trong đời v lai, cùng có mt vi h và tham; ươc vng tái sinhh ch này hay ch kia.

http://www.buddhismtoday.com/nghiencuuphathoc/12-2001/nietban.htm