Khách lữ hành quẩn quanh trong sa mạc,đi tìm ốc đảo
của tình yêu.
Chiếc phi thuyền bay tìm quỹ đạo của hành tinh nhân
văn; hinh tượng ấy,phản ánh nhà thơ khám phá ra thơ
của chính mình.Hiểm nghèo hơn khách lữ hành,xác xuất
thấp hơn phi thuyền vào đúng quỹ đạo.Nhà thơ cam
chịu gấp bội lần hơn bất trắc.
Sáng tạo thơ,trước hết nên biết sáng tạo trong hành
vi xã hội của mình.không sáng tạo ra một thân
phận,một cuộc sống có ý nghĩa tự do chọn lựa mối
quan hệ với những thực thể;đừng mơ tưởng việc làm
thơ,vì không sáng tạo được.
Lý Bạch sáng tạo được hành vi đam mê cái đẹp không
bị cuốn hút theo dòng thác thăng quan tiến chức.Dỗ
Phủ sáng tạo ra hành vi nhân văn,sống liêm chính
không a dua theo thế lực hiếu chiến phi nhân.
Cao Bá Quát tự lập chí lớn không cúi lòn trong bộ
máy quan liêu.Nguyễn Du chọn lựa theo nghịch cảnh
từng phiêu dạt trong dân gian…
Những nhà thơ Châu Âu : Apollinair,Valéry,Holderlin…đều
sáng tạo ít nhất một hành vi dữ dội của chính đời
mình.
Mơ ước từ nguyên sơ của loài người vẫn còn
nguyên;nhưng cách thực thi mơ ước ấy sinh ra nhiều
học thuyết,nhiều đạo,nhiều phe phái, nhà thơ không
dễ dàng chấp nhận những cái có sẳn đó.Cái có sẳn đó
còn khoảng cách với ước mơ loài người,có thể đo độ
dài bằng năm ánh sáng.
Sáng tạo hành vi có thuộc tính của tìm cách thực thi
ước mơ loài người là gì ? Không nên hiểu đơn giản là
thơ chọn lựa cách sống, nếp sống theo tiêu chuẩn cũ
vốn có hay do thời cuộc đưa đẩy.Hành vi của nhà thơ
được nhận định là hành vi sáng tạo với điều kiện vừa
cưu mang ước mơ nguyên sơ ,vừa có cách ứng xử độc
đáo.
Người làm thơ biết dùng lời chữ để phản ánh hành vi
sáng tạo của chính mình, hành vi sáng tạo ấy đã trở
thành nỗi ám.Nỗi ám khoét sâu vào tận đáy tâm linh.
Viết hay,không phải chỉ quan sát để mô tả,không là
khoa học thực nghiệm.Viết hay,là phản ánh nỗi ám
chạm cực độ khủng hỏang tận tâm linh. Phải chăng chỉ
có tâm linh mới bắc cầu vào những thực thể và thế sự
? Mọi người hiểu đời bằng sờ, mó, thấy, nghe…chưa
thể trở thành nhà thơ được. Xây dưng chiếc cầu từ
tâm linh đến môi trường sống,thám hiểm hữu thể và
chân không,vật và người,dữ kiện và lịch sử…,phiêu
lưu vào mọi chốn mọi nơi để chờ khoảnh khắc tương
tác xuất hiện lời chữ.
Tâm linh nhà thơ không thể bắc chiếc cầu một lần rồi
thôi.Có lúc chiếc cầu móc vào tĩnh vật,với lá ,hoa,
sỏi đá.Lúc khác lại bắc vào cõi người ta. Đôi khi
còn bắc lên tận đỉnh ảo ảnh của một ngôi sao đã chết
từ trước ngàn năm ánh sáng. Chiếc cầu ấy vừa bền
vững vừa mong manh. Chiếc cầu ấy giữa hai bờ hư thực.
Bi kịch của nhà thơ là tự mình không thể đi qua
chiếc cầu thân phận kia để hòa nhập vào khách
thể.Nhà thơ phải có sức hút lời chữ,tập họp ngôn ngữ
quanh mình;những chữ được cử động băng qua chiếc cầu
tâm linh,khó khăn và nguy hiểm,có chữ dừng lại trên
cầu,cóchữ rơi vỡ giữa mông lung.Biết khi nào những
chữ dũng cảm chiếm lĩnh được khách thể,đi hết qua
chiếc cầu định mệnh kia ?
Nhà thơ hồi hộp,lo âu,hy vọng,cầu nguyện,tự tin…để
theo dõi từng cử động của ngôn ngữ.Nếu ngôn ngữ
không qua được bên kia cầu,người làm thơ đành bất
lực . Song ngôn ngữ của người làm thơ tài năng bền
bĩ , dẻo dai đi qua hết chiếc cầu giữa tâm linh và
khách thể . Lời chữ đến nơi nên thơ sinh thành . Nói
cách khác thơ kết hơp giữa tâm linh , thế sự và
thiên nhiên trong cùng bản thể.
Đối với nhà thơ , thơ là dấu hiệu tồn tại của chính
mình. Muốn tồn tại phải có ý thức nổi dậy sáng tạo.
Nổi dậy sáng tạo dẫn đến chiếc cầu tâm linh và những
chữ cử động băng qua.
2- CHIẾC CẦU TÂM LINH
Chiếc cầu tâm linh được xây dựng bằng hợp chất, trộn
lẫn giữa chủ thể và khách thể.
Hợp chất này có cơ cấu gồm những nguyên tố cuả tâm
hồn nhà thơ kết chặt với những nguyên tố của đối vật
hiện sinh.
Nhờ vậy, chiếc cầu tâm linh mới đủ sức chịu đựng
những âm binh chữ vừa đi vừa quậy phá trước khi chịu
thuần phục là một sinh thể thơ.
Trở lại thời nguyên thủy, khác hẳn với những động
vật chỉ phát triển hình thể, có chân dài để chạy
nhanh, có cổ để ăn đọt cây già,có cánh bay lên… Con
người tập trung phát triển hệ thần kinh ứng phó
thích nghi với thiên nhiên khắc nghiệt. Chính vì vậy
con người có nội giới. Hệ thần kinh phát triển thuở
bình minh loài người là những dây treo chủ chốt để
bắc chiếc cầu tâm linh.
Không nên hiểu, dùng những phạm trù, ý niệm được chỉ
chỉ dạy trong thời đại mới để làm dây treo chiếc cầu
tâm linh sẽ dẫn đến không thơ. Vì âm binh chữ vốn dị
ứng những hệ thống xơ cứng ấy hoặc ngược lại sẽ quậy
phá làm đứt tung những dây treo, chiếc cầu tâm linh
gãy đổ.
Trong cõi thơ, hợp kim chưa phải là chất liệu bền
vững, nên chất liệu của chiếc cầu tâm linh không
đồng nghĩa với sắt thép, sợi thủy tinh... hay một
sản phẩm công nghệ nào do trí thức khoa học tiên
tiến sinh ra. chiếc cầu tâm linh là một thể hòa nhập,
( Có một khái niệm tương đương là từ das Umgreifende
và l'Englobant ).
Nếu diễn đạt bằng nghĩa đen, chiếc cầu tâm linh là
bằng cây tươi, có gốc rễ cả hai bên bờ, hai bờ đều
hút chất dinh dưỡng để nuôi chiếc cầu kỳ diệu kia
biết hóa thân những âm binh chữ trở thành tế bào của
mỗi dòng thơ.
Chiếc cầu tâm linh không đặt ra bờ bên này có được
hay quyết định bờ bên kia, cả hai bờ đều cần thiết
ngang nhau. Sự giải phóng tính chất từ chủ thể và
khách thể đều quyết định tạo ra hòa nhập thể. Cảm
xúc là cảm xúc về một cái gì, và cái gì ấy đến mời
gọi cảm xúc.
Hòn đá đã mời gọi mặt hồ tạo ra hòa nhập thể - sóng
nước.
Chiếc cầu tâm linh ở trong nội gới của nhà thơ - nhà
thơ dù ở thời đại nào, cũng hồn-nhiên-ngây-dại như
trẻ thơ, đúng hơn như con người trong sớm mai nguyên
thủy.
Môi trường trong thơ rất cần hệ thần kinh thuở sơ
khai của con người hơn là cần tư duy già dặn về sau.
Thơ là một cách tiếp cận khác với yếu tính vũ trụ,
với tuyệt đối khác hẳn công cụ khoa học và các lĩnh
vực khác. Bởi vì nhà thơ biết hơn ai hết cần có môi
trường thơ vì sự bất lực của nhiều môi trường trong
cuộc hiện sinh.
Chiếc cầu tâm linh là công cụ của nội giới nhà thơ.
Chiếc cầu tâm linh chưng cất nếp hèm - lời chữ để
thăng hoa lên rượu - thơ. Chiếc cầu là thiết bị nấu
quặng - chữ cho ra tinh thể - thơ. Hơn nữa, chiếc
cầu tâm linh là hai cực trong hồ quang để bùng nổ
ánh sáng thơ, chiếc cầu còn là phi thuyền có tốc độ
ánh sáng đưa lời chữ thám hiểm biên cương vũ trụ...
Nếu không khát vọng vươn lên cái đẹp tuyệt đối,
thiếu tố chất đa cảm - đa tình, không phiêu linh
trong vô thức chi phối và hơn nữa thiếu sáng tạo
hành vi xã hội, nội giới của một người nào ấy chưa
thể trở thành nội giới của nhà thơ - nội giới của
môi trường thơ, nghĩa là không thể xây dựng chiếc
cầu tâm linh.
Chiếc cầu tâm linh - phương thức sáng tạo thơ, nó
không đồng dạng với phương thức khoa học thực nghiệm
hay lý luận thuần lý. Một nguyên lý được khám phá
bằng lý trí ít khi đứng vững mãi, có lúc bị phủ định
và trở thành trường hợp riêng của nguyên lý bao quát
hơn, chính xác hơn. Ngược lại, chân lý trong văn học;
đúng hơn, yếu tính tuyệt đối trong thơ được sáng tạo
một lần và tự tồn tại phát sáng. Đôi khi càng về sau
yếu tính tuyệt đối ấy càng rực rỡ hơn, cao đẹp hơn,
nó chẳng bao giờ bị đẩy vào góc hẹp, khó mà bị bao
phủ. Nên sáng tạo thơ - đồng dạng với "vụ nổ lớn của
vũ trụ", nên người xưa mường tượng nhà thơ là "một
tiểu tạo hóa".
3- LỜI CHỮ GIAO ĐIỂM CỦA TÂM THỨC VÀ TRI THỨC
Tinh thần lẫn vật chất cũng là bản chất của ngôn ngữ
?!
Ấy là kết luận của nhiều nhà ngôn ngữ học thế giới;
triết luận biện chứng vào giữa thế kỷ trước. Nếu chỉ
nói đến vậy, chưa đủ để khám phá về chữ, nhất là lời
chữ của thơ, lời chữ đi qua chiếc cầu tâm linh, chứ
không phải lời chữ giao tiếp hàng ngày. Không thể
biết đầy đủ về thơ nếu không suy đến cùng về lời chữ.
Giới hạn trong phạm vi một cộng đồng cùng một ngôn
ngữ, thì phần vỏ vật chất của chữ quyết định được
lời chữ. Người Việt khi đọc từ " Nhà " đều hiểu được
ý niệm của nó, cũng như người Anh đều cùng một ý
niệm về chữ " House ". Khác biệt giữa vỏ của ngôn
ngữ và ý niệm của nó tùy theo môi trường tồn tại của
lời chữ mà chứng minh mối liên hệ khác nhau. Lời chữ
trong thông tin, trong giao tiếp thì ý niệm và vỏ
ngôn từ là một. Thơ là lời chữ đã qua vực thẳm, vượt
qua được chiếc cầu tâm linh, nên nó không chỉ là ý
niệm ( notion ) mà còn là khái niệm (conception).
Ở đây không nên hoàn toàn phân biệt theo định nghĩa
của triết gia Kant, tạm hiểu ý niệm là sự nhận thức
trước, thừa nhận tiên thiên và phổ quát, còn khái
niệm được công nhận từ một người hoặc nhóm người có
cùng ký ức và kinh ngiệm.
Lời chữ của thơ được cấu tạo bằng khái niệm nhiều
hơn là ý niệm, thậm chí không còn chút ý niệm nào
như lời chữ: "Lá Diêu Bông" (Thơ Hoàng Cầm) ; "Nghĩa
Trang Biển" (Paul Valery), v.v … Yves Bonnefoy nói
rất hay về lời chữ thơ: "Những từ tỏ rõ hư vô của ta,
mở ra một vực thẳm dưới bước chân ta, nhưng cũng đề
xuất cho ta một chốn ở". Chốn ở ấy chính là tài năng
của thi sĩ, là một thực thể của tâm linh được sáng
tạo từ chủ thể (thi sĩ) đến đối vật. Những người làm
thơ nặng về hình thức thường bế tắc và chỉ gặp vực
thẳm không chạm được bờ bên kia, không tìm thây chốn
ở, bởi vì họ chỉ bấu víu vào vô thức.
Thi sĩ phải hướng dẫn lời chữ đi qua chiếc cầu tâm
linh như phù thủy điều khiển âm binh. Muốn điều
khiển thành công phải nắm rõ yếu tính của chiếc cầu
tâm linh ấy. Chiếc cầu chỉ xuất hiện rồi tan biến,
lại có thể xuất hiện nhanh như những tia chớp, chính
xác hơn tan và hợp như những hạt hạ nguyên tử trong
vũ trụ … chiếc cầu tâm linh là một thực thể hòa nhập,
giữa vật chất và phản vật chất, giữa thô mộc và tinh
anh, giữa tự nó ( l'en soi ) và cho ta ( pour moi )
…
Thi sĩ là một con người, mỗi thân xác đều có một
phản thân xác ( phản vật chất ), chúng tương tác lẫn
nhau để kích thích xuất hiện ra vương quốc tâm linh.
Thi sĩ cách biệt với người có nghề nghiêp khác, ở
chỗ phản thân xác thi sĩ có cường độ tương tác lớn
hơn gấp bội.
Ý thức của thi sĩ lúc tập trung hoạt động sẽ được
phản ý thức hỗ trợ tối đa, do đó sự sáng tạo của thi
sĩ không chỉ thuộc lĩnh vực thức ( ý thức, tiềm thức,
vô thức ) mà còn thuộc lĩnh vực đối tác của thức,
sinh ra từ thế giới phản vật chất. Vì thế có những
câu thơ làm rung động lòng người, dù không hiểu trọn
được bằng lý trí ( như thơ của Đoàn Phú Từ ;ca từ
của Trinh Công Sơn; thơ Thanh Tâm Tuyền; Jacque -Prévert;
và rất nhiều bài thơ khác …)
Lời chữ trong thơ luôn là bước nhảy vọt trong tiến
trình ngôn ngữ, là những đột biến độc đáo của một
loài hoa, của sinh vật làm phong phú hành tinh, cao
hơn nữa là một vụ va chạm hạt giữa hư không để khơi
nguồn vũ trụ…
Có ngộ nhận đáng trách, cho rằng thơ cũng phản ánh
như mọi lĩnh vực của hình thái ý thức, có thể tạm
chấp nhận phản ánh, nhưng không thể chữ phản ánh mặt
dễ thấy, mặt thô sơ của tri kiến. Ngay trong khoa
học thực nghiệm, không thể chỉ phản ánh ánh sáng đi
theo đường thẳng vì nó còn là hạt, là sóng, … hoặc
vật chất không chỉ là phạm trù khái quát những vật
thể như là một hạt, cô đặc, bất biến,… theo quan
niệm của thế kỷ 19 trở về trước. Thơ còn nhìn thấy
phía trong của dòng năng lượng nhảy múa không ngừng,
dòng tâm linh trôi qua lại bất tận như dòng máu của
sinh linh.
Thi sĩ là người tiêm thẳng vào tủy sống của mình
những chữ để được sản sinh ra hồng cầu thơ.
Những người làm thơ không có tố chất thi sĩ, không
có tố chất sáng tạo sẽ đưa ra lời chữ sao chép, lắp
ghép bất thành, chỉ là những dòng mô tả, trình báo,
minh họa, … không hơn một chiếc thùng rỗng . Mỗi từ
thơ dù đơn âm, nó chuyên chở trọn bài thơ và mỗi bài
thơ đều có thuộc tính của từng chữ. Bất kỳ một từ,
chữ thơ nào trong một bài thơ hay đều cưu mang vĩnh
hằng, ngược lại chính bài thơ hay ấy lại hư không
như thuở lập địa khai thiên.
Như vậy, lời chữ thơ có thuộc tính tâm linh,được
nhận biết trong trạng thái xuất thần, trạng thái
thiền, vì mỗi từ thơ vừa vĩnh hằng, vừa hư không,
mỗi từ là một lượng tử. Thiền ở đây, được hiểu như
phương pháp tiêp cận, cách chiêm nghiệm đối vật bằng
tâm linh vừa thấy, vừa biết bằng trực cảm, không
phải hiểu biết bằng khoa học thực nghiệm, dứt khoát
không phải dự tính và suy luận theo chủ nghĩa duy lý
. Những học thuyết duy lý thường gây sóng gió vào
cuộc đời. Thi sĩ không sợ phong ba vì đời là một
dòng chảy mà thi sĩ tan trong đó.
Biên tập: Cư sĩ
Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày
: Diệu Tịnh | Sửa văn bản
tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com