Những Bài Giảng
Tóm Tắt
Của Khóa Thiền Minh
Sát Mười Ngày
Thích Minh Diệu dịch
Trang nhà Quảng Đức.com
|
Mục Lục a. Những khó khăn ban đầu b. Mục đích cho vấn đề thiền định này c. Tại sao sự phấn khởi được chọn như là điểm khởi đầu. d. Bản chất của tâm e. Lý do về những khó khăn và cách khắc phục chúng f. Những nguy hiểm cần phải tránh a. Định nghĩa phổ quát về tội và phước b. Bát thánh đạo: giới và định Bài
giảng ngày thứ ba b. Kalaapaa: bốn yếu tố c. Ba đặc tính: vô thường, bản chất huyển hóa của Ngã, và khổ. d. Sự thể nhập qua thực tại hiển nhiên a. Những câu hỏi liên quan đến vấn đề làm sao để thực hành thiền Vipassana b. Qui luật về giáo lý nghiệp quả c. Sự quan trọng của hành động thuộc về tâm d. Bốn sự tập hợp của tâm:sự hiểu biết (ý thức), sự nhận thức, sự cảm thọ , sự phản ứng e. Duy trì tỉnh thức và xả là phương cách đoạn trừ khổ a.Tứ thánh đế: khổ đế, nnguyên nhân của khổ, sự đoạn diệt khổ và con đường đoạn diệt khổ b. Chuổi mắc xích của sự sinh khởi có điều kiện a.Tầm quan trọng của sự phát triển tỉnh thức và niệm xả đối với các cảm thọ b. Bốn yếu tố và mối quan hệ của chúng với cảm thọ c. Bốn nguyên nhân của sự sinh khởi một sự việc d. Năm hạ phần kiết sử: tham, sân, và hôn trầm thân và tâm, trạo cử, nghi ngờ a.Tầm quan trọng của sự xả ly đối với các cảm thọ thô và tế b. Sự duy trì tỉnh thức liên tục c. Năm người bạn (năm lực): niềm tin, nổ lực, chánh niệm, thiền định , trí tuệ a. Qui luật của số nhân và sự ngược lại của nó b.
Qui luật của sự đoạn trừ c.
Sự xả ly là sự an lạc tối
thượng d.
Sự xả ly có thể làm cho chúng ta
sống một đời sống của hành
động chân thật e.
Bằng sự duy trì xả ly, chúng ta xác
định một tương lai hạnh phúc cho
chính chúng ta a.
Sự áp dụng phương pháp vào
đời sống hàng ngày b.
Mười ba la mật (param ) Bài giảng của ngày
thứ mười Bài giảng của ngày
thứ mười một |
ĐÔI
LỜI GIỚI THIỆU VỀ KHÓA THIỀN
MƯỜI NGÀY [^]
Trước khi nói về phương pháp
và lợi ích của thiền Minh Sát Tuệ,
chúng ta cần điểm qua một số vấn
đề liên quan đến “pháp môn
thiền định” Phật giáo. Gần
đây, dường như pháp môn thiền
của Phật giáo bị lãng quên và
không còn đóng vai trò quan trọng trong
đời sống tu tập của tu sĩ. Ðây
là một trong những nguyên nhân khiến cho
Phật giáo bị biến dạng và mất
đi sức mạnh nội tại. Ðiều
đáng buồn nhất là một số tín
đồ cũng như tu sĩ Phật giáo không
biết gì về pháp môn thiền định
Phật giáo lại phát biểu mang tính
võ đoán và sai lầm rằng: “Tu
thiền sẽ bị điên hoặc tẩu hoả nhập
ma”. Ở đây người dịch xin xác
quyết rằng, tu tập đúng phương
pháp thiền Phật giáo, hành giả
không bao giờ bị những điều tai hại
như vậy. Nếu ai tu thiền bị điên hoặc
tẩu hoả nhập ma, chắc chắn người
đó đã tu lạc pháp hoặc tu theo
thiền định của ngoại đạo chứ
không phải của Phật giáo, vì tu tập
thiền Phật giáo, sớm hay muộn người
đó sẽ loại trừ được tâm
loạn động, vô minh. Nhiều thống kê
hiện nay cho biết rõ pháp môn thiền Minh
Sát Tuệ của Phật giáo đã
giúp rất nhiều người giải toả
những tâm bệnh căng thẳng, đạt được
tâm bình thản và an lạc trong cuộc
sống. Ngoài ra, thiền Minh Sát Tuệ còn
mang lại nhiều lợi ích khác cho
người hành thiền và tha nhân.
Ở đây, người dịch đứng
trên lập trường giáo lý của
đạo Phật xin trình bày một vài
nhận thức cá nhân về giáo lý
thiền của Phật giáo, đặc biệt
là thiền Minh Sát Tuệ.
Không ai từ chối sự thật là
đức Phật Thích-ca đã chứng quả
chánh đẳng chánh giác dưới cội
Bồ-đề nhờ tu tập thiền quán.
Và chứng tích rõ ràng hơn là kinh
điển được ghi lại trong cả hai
truyền thống: Phật giáo Nguyên thuỷ
dựa vào năm bộ Nikāya (Pañca-nikāyā)
và Phật giáo Phát triển dựa vào
bốn bộ A-hàm (Āgama) đều nhấn
mạnh thiền định là pháp tu căn
bản nhất để loại trừ mọi tập
khí phiền não của thân và tâm. Cụ
thể hơn nữa, khi đọc vào những
bản kinh, chúng ta thấy chư vị đệ
tử của đức Phật thành tựu thánh
quả từ quả Tu-đà-hoàn đến
quả A-la-hán hầu như đều nhờ
vào việc tu tập thiền định.
Thiền định mang lại kết quả an
lạc, hạnh phúc ở nhiều mức độ
khác nhau ngay trong hiện tại chứ không
phải mong cầu kết quả viễn vong ở
tương lai. Ðiều cốt yếu nhất của thiền
định Phật giáo là tu tập nơi
thân và tâm chúng ta. Thân và tâm
này là đầu mối của luân hồi
đau khổ và cũng là công cụ
để giải thoát khổ đau. Không ai
hoặc quyền lực nào đủ khả năng
và thẩm quyền can thiệp vào đau khổ
cũng như giải thoát của chúng ta.
Chính chúng ta làm chúng ta đau khổ
và cũng chính chúng ta tu tập để
giải thoát.
Tu tập thiền Minh Sát Tuệ dựa vào
nền tảng tu tập của Giới, Định
và Tuệ. Tuy nhiên, nét đặc trưng
của thiền Minh Sát Tuệ là duy trì
tâm tỉnh giác và bình thản để
quán sát những cảm thọ sinh khởi
trên thân mà không phản ứng lại.
Nhờ quán sát như vậy, hành giả
sẽ loại trừ dần các tập khí
quá khứ và hiện tại đồng thời
chứng nghiệm thực tại vô thường,
khổ và vô ngã của các hiện
tượng trong thân và tâm. Chỉ có
thực nghiệm này mới có thể giúp
hành giả đoạn trừ tập khí
phiền não và đạt được giải
thoát.
Hiện nay, Phật giáo ở Ấn độ
chỉ là một tôn giáo thiểu số so
với Hin-du giáo, tuy nhiên điều đáng
mừng nhất là phương pháp thiền Minh
Sát Tuệ được áp dụng rộng
rãi ở quốc gia này. Ngay cả các
trường huấn luyện cảnh sát, các
nhà tù lớn và những bệnh viện
tâm thần đều có những khoá tu
tập thiền Minh Sát Tuệ định kỳ cho
các cán bộ, tù nhân và bệnh
nhân. Các trung tâm thiền Minh Sát Tuệ
cũng phát triển rộng rãi ở Thái Lan
và Miến Điện. Rất nhiều người
bản xứ và ngoại quốc tham gia những
khoá tu thiền Minh Sát Tuệ và nhiều
người sau khoá tu đã ở lại trung tâm
để phục vụ cũng như tiếp tục tu
tập. Nhiều trung tâm thiền Minh Sát Tuệ do
người ngoại quốc trực tiếp hướng
dẫn.
Ðiều này cho thấy rằng thiền Minh
Sát Tuệ không phải là pháp môn
chỉ dành riêng cho giới tu sĩ Phật
giáo mà đây cũng là pháp môn
phổ cập cho mọi người. Ở nước ta,
phương pháp tu tập thiền định của
Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay
dường như chỉ giới hạn cho giới
xuất gia và bị ảnh hưởng phương
pháp thiền Trung Quốc và Nhật bản hay
còn gọi là Tổ Sư thiền. Phương
pháp thiền Nguyên Thuỷ hay Như Lai thiền
không được quan tâm và hành
trì nhiều. Khuyết điểm lớn là
giới Phật tử Việt nam không được
khuyến khích tu tập thiền định và
không có những trung tâm để cho Phật
tử cũng như bất cứ ai từ bất cứ
tôn giáo nào muốn tham dự đều
có thể tham dự được. Một
điều làm chúng tôi luôn thao thức,
trăn trở, đó là làm thế nào
để hình thành những trung tâm tu tập
thiền Minh Sát Tuệ trên đất nước
Việt Nam của chúng ta. Phật giáo Việt Nam
được xem có nguồn gốc gần 2000
năm lịch sử, có hệ thống tổ
chức từ trung ương đến địa
phương, có nhiều tu sĩ và Phật
tử, thiết nghĩ chúng ta nên cố gắng
tập trung mở rộng truyền bá thiền Minh
Sát Tuệ vì hạnh phúc và an lạc
vô cùng tận cho bản thân, gia đình
và xã hội.
Bản nguyên tác tiếng Anh “The Discourse
Summaries” được dịch sang tiếng
Việt là “Những Bài Giảng Tóm
Tắt của Khoá Mười Ngày Tu Tập
Thiền Minh Sát Tuệ” do Thiền sư Goenka
thuyết giảng trong thời gian Ngài hướng
dẫn Thiền sinh tu tập thiền Minh Sát Tuệ
khóa mười ngày. Nhìn qua họa
đồ giảng dạy của khoá tu mười
ngày, chúng ta thấy hành giả
được hướng dẫn tu tập từng
bước, tịnh tiến. Nội qui và thời
khóa biểu thực hành mỗi ngày,
đặc biệt nhất là phải giữ im
lặng (tịnh khẩu) tối đa trong chín
ngày cùng với việc thọ trì tam quy,
ngũ giới được xem như là nền
tảng của giới cho khóa tu. Mỗi ngày
ngồi thiền mười giờ, trong ba ngày
rưỡi đầu hành giả chủ yếu
thực tập phương pháp tịnh chỉ tâm
thức (phương pháp định tâm) qua
việc theo dõi hơi thở ra vào giúp
hành giả dừng lại vọng niệm và
đồng thời tập nhận ra cảm thọ quanh
vùng mũi. Sáu ngày rưỡi còn
lại là thời gian hành trì thiền Minh
Sát Tuệ (Vipassana), thực tập tuệ quán
các cảm thọ sanh khởi trên toàn
thân với tâm chánh niệm và xả ly.
Tập sách mỏng bao gồm mười một
bài pháp giảng giải những khúc mắc
cho hành giả trong suốt khoá tu được
xem như là cẩm nang quý báu. Nhận
thấy sự cần thiết và hữu ích
của tập sách, chúng tôi đã cố
gắng chuyển sang Việt ngữ để giúp cho
những vị đang tìm hiểu hoặc đã
tiếp cận với pháp môn thiền
định Phật giáo đặc biệt thiền
Minh Sát Tuệ xác định đúng
đắn và vững tin vào con đường tu
tập của mình.
Nhân dịp phiên dịch tập sách
này, chúng tôi có cơ hội ôn
lại và hiểu thêm về phương pháp
hành trì thiền Minh Sát Tuệ. Chúng
tôi dịch trung thành với nội dung của
mười một bài giảng và ghi chú
cần thiết những phần trích dẫn liên
quan đến Kinh, Luật và Luận nếu có
trong mười một bài giảng. Ngoài ra
có những đoạn trong nguyên bản quá
cô đọng hoặc một số thuật từ
khó hiểu, chúng tôi có giải thích
bổ sung thêm phần trong ngoặc để
người đọc dễ hiểu hơn. Khi bắt tay
vào dịch tập sách này, người
dịch nhắm đến mục đích chủ
yếu là giới thiệu đến chư vị
Phật tử cũng như những ai muốn tìm
hiểu phương cách sống tự điều
phục tâm mình ngõ hầu mang lại lợi
ích cho bản thân cũng như mọi
người. Bản thân người dịch và
một số vị Tăng ni đồng tu học ở
đây (Ấn độ) đã tham gia vài
khóa tu mười ngày thiền Minh Sát
Tuệ (Vipassana). Trong những ngày tu tập miên
mật, tất cả chúng tôi đều cảm
nhận được sự an lạc, thoát khỏi
những căng thẳng của thân cũng như
tâm thức. Nhận thấy rõ giá trị
đích thực của pháp môn tu tập
thiền Minh Sát Tuệ, chúng tôi mong mỏi
mọi người nên tham gia các khoá tu
hoặc ngắn ngày hoặc dài ngày nếu
tại địa phương có các trung tâm
thiền Minh Sát Tuệ. Dù đứng
trước thời đại khoa học văn minh,
vật chất phát triển, đạo đức con
người đang biến chuyển theo đà suy
thoái, người biết thực hành thiền
định vẫn không bị mất đi tính
tự chủ, đời sống tinh thần cũng
như vật chất của gia đinh vẫn luôn
ổn định, và sống và xây dựng
một xã hội hạnh phúc, an lạc.
Nhờ sự khuyến khích và giúp
đỡ tận tình của quí bạn hữu
trong việc sửa bản thảo, bản dịch mới
được tương đối hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, dù cố gắng hết mình vẫn
không tránh khỏi sai sót trong lúc phiên
dịch, chúng tôi xin hoan hỷ đón nhận
mọi góp ý của quí độc giả.
Mọi công đức phiên dịch này xin
hồi hướng cho vạn loại chúng sanh
được hạnh phúc, sớm quay về chân
lý giác ngộ và giải thoát.
Trường Đại Học Pune -
Ấn Độ, 23 – 5 – 2001.
Tỳ Kheo Thích Minh Diệu
Cẩn chí
Lời
Nói đầu [^]
Thiền sư S.N. Goenka đã phát biểu
rằng: "Giải thoát chỉ có thể
đạt được qua tu tập chứ không
phải qua bàn luận." Tham dự khóa tu
thiền Minh Sát Tuệ là một cơ hội
để thực hiện những bước tiến
cụ thể hướng đến giải thoát.
Người tham gia một khoá tu như vậy sẽ
học được cách giải tỏa tâm
căng thẳng và những thành kiến sai
lầm khuấy nhiễu sự yên tĩnh trong
dòng sống thường ngày. Nhờ việc tu
tập này, chúng ta bắt đầu khám
phá ra một lối sống bình an, sáng
tạo, hạnh phúc trong mỗi sát na.
Đồng thời chúng ta cũng thăng tiến
đến mục đích tối thượng,
mục đích mà nhân loại luôn khao
khát đạt đến: đó là tâm
an tĩnh, giải thoát mọi triền phược khổ
đau và giác ngộ viên mãn.
Nếu chỉ tư duy hoặc cầu mong thì
chúng ta không thể nào đạt
được thiền định này. Chúng ta
cần phải tu tập từng bước để
đạt đến mục đích cao thượng.
Vì lý do này, mỗi khóa tu thiền Minh
Sát Tuệ luôn đề cập đến
phương pháp hành trì thực tiễn. Tu
tập Minh Sát Tuệ không chấp nhận
hành giả bàn luận về triết lý hay
tranh luận trên lý thuyết, cũng như
những vấn đề không liên quan đến
kinh nghiệm bản thân. Hành giả
được khuyến khích để tìm ra
giải đáp về những thắc mắc của
mình càng nhiều càng tốt. Trong khi tu
tập, vị thầy hướng dẫn những gì
cần thiết, nhưng sự chỉ dẫn này
còn tùy thuộc vào việc thực hành
của mỗi người: chúng ta phải tự
chiến đấu với bản thân và tự
giải thoát.
Ngoài yếu tố quan trọng đã
được trình bày, vẫn còn có
một số vấn đề cần được
giảng giải để hỗ trợ cho khoá tu.
Thế nên mỗi buổi tối của khoá
tu, Ngài Goenka đều giảng một bài
pháp để giúp quý vị hiểu rõ
những kinh nghiệm thực tập của ngày
hôm đó, và làm sáng tỏ
phương pháp tu tập dưới nhiều
khía cạnh khác nhau. Ngài khuyên rằng
không được xem những bài giảng
này như để tiêu khiển về mặt tri
thức hoặc tình cảm.
Mục đích của những bài giảng
này cốt yếu giúp hành giả hiểu
những gì cần phải thực hành và
tại sao phải thực hành như vậy,
để có thể thực hành đúng theo
hướng dẫn và sẽ thành tựu kết
quả tốt. Đó chính là mục
đích của việc trình bày các
bài giảng này trong hình thức cô
đọng.
Mười một bài giảng này giúp
chúng ta có cái nhìn bao quát về
lời dạy của đức Phật. Tuy nhiên,
việc tiếp cận lời dạy không mang
tính học thuật hay phân tích. Thay vào
đó, những bài giảng được
trình bày như một động lực, một
tổng thể nối kết với nhau để
tháo gỡ cho hành giả. Tất cả những
khía cạnh khác của các bài giảng
mà chúng ta đã thấy, nói lên
một sự nhất quán cơ bản: đó
là thể nghiệm thiền định. Thể
nghiệm này là tia sáng bên trong dẫn
đến một đời sống chân thật
và làm giá trị của giáo pháp
rực sáng.
Không có kinh nghiệm này chúng ta
không thể nắm bắt được ý
nghĩa trọn vẹn của các bài thuyết
giảng, hay giáo pháp của đức Phật
dạy điều gì. Tuy thế, điều này
không có nghĩa là giáo pháp không
thể được đánh giá trên
phương diện tri thức. Hiểu biết
trên lãnh vực tri thức có giá trị
như một nhân tố trợ giúp cho việc
thực tập thiền định, mặc dù tự thân
thiền định là một tiến trình
vượt qua những giới hạn của tri thức.
Vì lý do trên, những bài giảng
tóm tắt này được soạn, trình
bày những điểm tinh yếu ngắn gọn
của mỗi bài giảng. Ngài Goenka đã
giảng những bài pháp này mục
đích chính yếu là tạo ra nguồn
cảm hứng và hướng dẫn cho các
hành giả đang thực tập phương
pháp thiền Minh Sát Tuệ. Đối với
những người tình cờ đọc những
bài giảng này, hy vọng rằng chúng
sẽ là niềm khuyến khích họ tham gia
một khóa thiền Minh Sát Tuệ và
để kinh nghiệm những gì đã
được trình bày ở đây.
Những bài giảng này không nên xem
như là một cẩm nang tự thực hành
thiền Minh Sát Tuệ, một hướng dẫn
thay thế cho khóa thiền 10 ngày. Thiền
định là một vấn đề rất hệ
trọng, đặc biệt phương pháp thiền
Minh Sát Tuệ, nó liên quan đến những
cấp độ sâu thẳm của tâm thức.
Thiền Minh Sát Tuệ không thể
được thành tựu một cách dễ
dàng hay ngẫu nhiên. Muốn học đúng
phương pháp thiền Minh Sát Tuệ duy
chỉ có cách tham gia một khóa tu chính
thức, ở đó có môi trường
thích hợp và có người hướng
dẫn đầy đủ kinh nghiệm giúp
đỡ cho người hành thiền. Nếu ai
đó không để ý đến lời
khuyến nhắc này và cố gắng tự
mình thực hành thiền Minh Sát Tuệ qua
việc tự đọc sách, bản thân
người ấy phải gánh lấy hoàn
toàn mọi sự không may, nguy hiểm.
Thật may mắn, hiện nay, những khóa
thiền Minh Sát Tuệ theo sự hướng dẫn
của Ngài Goenka được tổ chức
định kỳ ở nhiều nơi trên thế
giới. Chương trình tu học của các
khoá thiền Minh Sát Tuệ đều có
thể liên hệ đến bất cứ trung tâm
nào được ghi vào danh sách ở trang
cuối của cuốn sách này.
Những bài giảng tóm tắt này
chủ yếu dựa vào các bài giảng
của Ngài Goenka tại Trung Tâm Thiền Minh
Sát Tuệ, bang Massachusetts thuộc Mỹ Quốc trong
suốt tháng 8 năm 1983. Ngoại trừ bài
giảng ngày thứ 10 là dựa vào bài
giảng tại Trung tâm vào tháng 8 năm 1984.
Trong thời gian Ngài Goenka xem qua và đồng
ý cho tài liệu này xuất bản, Ngài
không có thì giờ để kiểm tra
văn bản kỹ lưỡng, vì vậy, có
thể người đọc gặp một vài
lỗi và khiếm khuyết. Những sơ sót
này không phải do vị Thầy, cũng không
phải của giáo pháp, mà là trách
nhiệm của chính tôi. Tôi rất vui
lòng đón nhận sự phê bình,
điều này giúp tôi chỉnh lại
những thiếu sót trong văn bản.
Nguyện cầu tác phẩm
này giúp ích cho nhiều người trong
việc tu tập giáo pháp.
Nguyện cầu tất cả
chúng sanh đều hạnh phúc.
William Hart
---o0o---
Những bài pháp của đức Phật và chư đệ tử mà Ngài Goenka trích dẫn, đều được rút từ Tuyển Tập về Luật (Vinaya-piṭaka) và Tuyển Tập về Kinh (Sutta-piṭaka) thuộc kinh điển Pāli. (Mặc dầu trong vài trường hợp, một số trích dẫn có mặt trong cả hai tuyển tập, nhưng ở đây chỉ trình bày những tham khảo thuộc Tạng Kinh). Ngoài ra, một vài trích dẫn khác được rút ra từ hậu văn học kinh điển Pāli (post-canonical Pāli literature). Trong những bài thuyết giảng này, Ngài Goenka giải thích các đoạn kinh phần lớn chú trọng đến cách lý giải hơn việc phiên dịch từng từ Pāli. Mục đích là nhằm trình bày phần cốt lõi của mỗi đoạn trích trong ngôn ngữ bình dị, nhấn mạnh mối quan hệ của nó đến sự hành trì thiền Minh Sát Tuệ.
Những chỗ có đoạn trích Pāli xuất hiện trong hình thức tóm tắt, Ngài Goenka sử dụng đoạn văn ngắn gọn này để giải thích cho bài pháp. Phần sau của tập sách là những đoạn Pāli đã được phiên dịch ra tiếng Anh, nhằm bổ sung cho việc chuyển dịch các đoạn trích được chính xác hơn, những việc làm trên vẫn chú trọng đến quan điểm của người hành thiền.
Trong các bài giảng tóm tắt, việc sử dụng các thuật ngữ Pāli đều được giữ nguyên hình thức số ít. Khi nào những thuật ngữ này cần phải sử dụng theo hình thức số nhiều thì chúng được viết theo phong cách số nhiều của Pāli; ví dụ: số nhiều của saṅkhāra là saṅkhārā, của kalāpa là kalāpā, của parama là paramā.
---o0o---
Mục Lục | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13
| Thư mục Tác Giả |
---o0o---
Source: www.buddhismtoday.com
Trình bày: Mỹ Hạnh
Cập nhật : 01-02-2002