NHỮNG
YOGA TÂY TẠNG VỀ GIẤC MỘNG VÀ GIẤC NGỦ
Nguyên
tác: The Tibetan Yogas of Dream and Sleep
Nhà Xuất Bản Snow Lion Ithaca, New York, 1998
Việt dịch: Đương
Đạo - Nhà Xuất Bản Thiện Tri Thức, 2000
Source:
Thư viện Hoa sen
MỤC
LỤC
Lời
nói đầu
Dẫn
nhập
Nhận
những giáo lý
PHẦN MỘT: BẢN TÁNH CỦA GIẤC
MỘNG
1 Giấc
Mộng và Thực Tại
2 Kinh
Nghiệm Khởi Lên Như Thế Nào
Vô minh
Những Hành Động và Kết Quả
:
Nghiệp và những Dấu vết của
Nghiệp
Nghiệp Tiêu Cực
Nghiệp Tích Cực
Giải thoát những Xúc Tình
Những Che Ám của Thức
Những Dấu Vết Nghiệp và
Giấc Mộng
Sáu Cõi của Sanh Tử Luân Hồi
Cõi Địa Ngục
Cõi Quỷ Đói
Cõi Thú
Cõi Người
Cõi Bán-Thiên
Cõi Thiên
Tại sao là Xúc Tình ‘Tiêu Cực”
3 Thân Thể
Năng Lực
Những Kinh Mạch và Khí Prana
Những Kinh Mạch (Tsa)
Khí (Lung)
Khí Nghiệp
Ba Loại Khí Nghiệp
Khí Trí Huệ
Hoạt Động của Khí
Quân Bình Khí
Khí và Tâm Thức
Những Luân Xa
Con Ngựa Mù, Người Cỡi Què
4 Tóm Tắt
: Những Giấc Mộng Khởi Lên
Như Thế Nào
5 Những
Hình Ảnh từ Tantra Mẹ
Việc Dạy những Ẩn Dụ
PHẦN HAI : NHỮNG LOẠI VÀ NHỮNG CÁCH
SỬ DỤNG GIẤC MỘNG
1 Ba Loại
Giấc Mộng
Những Giấc Mộng Sanh Tử
Những Giấc Mộng của sự Sáng
Tỏ
Những Giấc Mộng Tịnh Quang
2 Những
Sử Dụng Giấc Mộng
Kinh Nghiệm Trong Mộng
Hướng Dẫn và những Khuyên
Nhủ
Dự Đoán
Những Giáo Lý trong Giấc Mộng
3 Khám Phá
sự Thực Hành Chošd
4 Hai Mức
Độ của sự Thực Hành
PHẦN BA: SỰ THỰC HÀNH YOGA GIẤC
MỘNG
1 Cái Nhìn
Thấy, Hành Động, Giấc Mộng, cái Chết
2 An
Định : Samatha
Samatha cưỡng bách
Samatha tự nhiên
Samatha tối hậu
Những Chướng Ngại
Dao động
Hôn trầm
Giải Đãi
3 Bốn
Thực Hành Căn Bản
Một : Thay Đổi những Dấu
Vết Nghiệp
Hai : Dẹp Bỏ Bám Nắm và Ghét Bỏ
Ba : Làm Mạnh Ý Định
Bốn : Trau Dồi Trí Nhớ và Nỗ
Lực Hoan Hỷ
Kiên Trì
4 Chuẩn
Bị cho Ban Đêm
Chín Hơi Thở Tịnh Hóa
Guru Yoga
Thực hành
Che Chở
5 Thực
Hành Chính
Đem Tỉnh Giác vào Kinh Mạch Trung
Ương
Tăng Cường Sự Sáng Tỏ
Làm Mạnh Sự Hiện Diện
Phát Triển sự Không Sợ Hãi
Tư Thế
Tập Chú Tâm Thức
Trình Tự
6 Sáng Sủa
Minh Bạch
Phát Triển tính Linh Hoạt Mềm Dẻo
7 Những
Chướng Ngại
Mê Vọng
Lỏng Lẻo
Tự Phóng Dật
Quên
Bốn Chướng Ngại theo Shardza
Rinpoche
8 Kiểm
Soát và Tôn Trọng những Giấc Mộng
9 Những
Thực Hành Đơn Giản
Tâm Tỉnh Thức
Sửa Soạn cho Đêm
10 Hội
Nhập
PHẦN BỐN: GIẤC NGỦ
1 Giấc
Ngủ và Rơi Vào Giấc Ngủ
2 Ba Loại
Giấc Ngủ
Giấc Ngủ của Vô Minh
Giấc Ngủ Sanh Tử
Giấc Ngủ Tịnh Quang
3 Thực
Hành Giấc Ngủ và Thực Hành Giấc Mộng
PHẦN NĂM: SỰ THỰC HÀNH YOGA GIẤC
NGỦ
1 Dakini Salgye
Du Dalma
2 Thực
Hành Sơ Bộ
3 Thực
Hành Giấc Ngủ
Đi vào Giấc Ngủ
4 Tiglé
5 Tiến
Bộ
6 Những
Chướng Ngại
7 Những
Thực Hành Hỗ Trợ
Đạo Sư
Dakini
Hành xử
Cầu Nguyện
Làm Tan Biến
Triển Nở và Thu Rút
8 Hội
Nhập
Hội Nhập của Tịnh Quang với
Ba Độc
Hội Nhập với Những Chu Kỳ
Thời Gian
Thống Nhất Bên Ngoài
Thống Nhất Bên Trong
Thống Nhất Bí Mật
Ba Sự Thống Nhất : Kết Luận
9 Sự
Tương Tục
PHẦN SÁU: NHỮNG BỔ SUNG
1 Bối
Cảnh
2 Tâm thức
và Rigpa
Tâm thức Ý niệm
Tánh giác bất nhị : Rigpa
Rigpa Nền Tảng và Rigpa Con
Đường
3 Nền
Tảng : Kunzhi
Tâm thức và vật chất
4 Biết
5 Nhận
biết tánh Sáng Tỏ và tánh Không
Quân Bình
Phân Biện
6 Cái Ngã
7 Nghịch
Lý của cái Ngã Vô Tự Tánh
Những Lời Cuối
PHỤ
LỤC : PHÁC HỌA VỀ NHỮNG THỰC HÀNH YOGA GIẤC
MỘNG
Thuật Ngữ
Cuốn sách này được đề
tặng cho Namkhai Norbu Rinpoche, ngài đã là một nguồn
cảm hứng lớn lao trong đời tôi,
cả trong cách tôi chỉ dạy cho
những người khác
lẫn trong sự thực hành của chính
tôi.
Một
câu nói nổi tiếng ở Tây Tạng, “Người ta
cần giải thích dòng phái và lịch sử để
cắt đứt nghi ngờ về sự chính thống
của giáo lý và sự trao truyền.” Bởi thế, tôi
bắt đầu cuốn sách này với một câu
chuyện ngắn về cuộc đời tôi.
Tôi
sinh ra vừa sau khi cha mẹ tôi đi khỏi Tây Tạng.
Những điều kiện sống khó khăn và cha mẹ
tôi gởi tôi vào một trường nội trú Thiên Chúa
giáo, nơi họ hy vọng tôi được chăm sóc.
Cha tôi là một lama* Phật giáo, mẹ tôi là một
người thực hành đạo Bošn*. Một thời
gian sau, cha tôi qua đời. Cuối cùng mẹ tôi tái hôn
với một người là lama đạo Bošn. Cả ông
và mẹ tôi đều muốn tôi sống trong nền
văn hóa của tôi, và khi tôi mười tuổi, tôi
được nhận vào tu viện chánh của
đạo Bošn ở Dolanji, Ấn Độ, và thọ
giới thành một nhà sư.
Sau
khi sống ở tu viện một thời gian, tôi
được Lopon (Thầy trụ trì) Sangye Tenzin Rinpoche
công nhận là tái sanh của Khyungtul Rinpoche, một học
giả, vị thầy, tác giả và thiền sư nổi
tiếng. Vị ấy được biết tiếng
như một nhà chiêm tinh bậc thầy và nổi tiếng
ở miền tây Tây Tạng và miền bắc Ấn
Độ như một vị thuần hóa những ma
quỷ và hồn linh hoang dã. Vị ấy cũng
được quần chúng công nhận như là một nhà
chữa bệnh với những khả năng huyền
thuật. Một trong những người đỡ đầu
của vị ấy là vua xứ Himachal ở bắc Ấn
Độ. Nhà vua này và bà vợ, không có con, đã thỉnh
Khyungtul Rinpoche chữa cho họ, và ngài đã làm
được. Đứa con ấy bây giờ là Thủ
Tướng của Himachal Pradesh, Virbhardur.
Khi
tôi được mười ba tuổi, bổn sư
từ ái của tôi, Lopon Sangye Tenzin, một người
hiểu biết và chứng đắc sâu rộng, sửa
soạn dạy một trong những giáo lý quan trọng và bí
truyền nhất của cổ phái Nyingma và của
đạo Bošn : Đại Toàn Thiện (Dzogchen), dòng
khẩu truyền Zhang Zhung (Zhang Zhung Nyan Gyud*). Dù tôi còn
nhỏ, cha ghẻ của tôi viếng thăm Lopon Rinpoche và
xin cho tôi được chấp nhận học giáo lý,
điều này sẽ diễn ra mỗi ngày trong suốt ba
năm. Lopon từ ái chấp thuận, nhưng yêu cầu
tôi, cùng với những học trò đến sau khác,
phải kể cho ngài nghe một giấc mộng đêm hôm
trước khi khóa học bắt đầu, để
ngài xác định sự sẵn sàng của chúng tôi.
Một
số học trò không nhớ giấc mộng nào,
điều đó được xem là một dấu
hiệu của chướng ngại. Lopon bắt họ
phải bắt đầu với những thực hành
tịnh hóa thích hợp và hỗn khóa học cho tới khi
mỗi học trò đều có một giấc mộng.
Những giấc mộng của những học trò khác
được xem là những chỉ dẫn rằng họ
cần làm những thực hành riêng biệt để
tự sửa soạn học giáo lý – chẳng hạn, làm
những thực hành để mạnh thêm sự nối
kết với những hộ pháp.
Tôi
mơ thấy một chiếc xe buýt chạy vòng quanh nhà
của thầy tôi, dù thực ra không có con đường
nào ở đấy cả. Trong giấc mộng,
người lái xe buýt là bạn của tôi và tôi đứng
cạnh nó, phân phát những cái vé cho những người
trên xe. Những chiếc vé là những mảnh giấy có
viết chữ A Tây Tạng lên đó. Lúc ấy là năm
thứ hai hay thứ ba của tôi ở Dolanji, khi tôi
mười ba tuổi, và khi ấy tôi chưa biết
chữ A là một biểu hiện ý nghĩa chính yếu
của những giáo lý Đại Toàn Thiện. Thầy tôi
không hề nói gì về giấc mộng, đó là cách làm
của thầy. Ngài bình luận chút ít về điều gì
là tốt, nhưng tôi thì vui vẻ vì được
chấp nhận học những giáo lý.
Trong
những truyền thống Tây Tạng, thường là
những giấc mộng của học trò được
vị thầy dùng để xác định có thích hợp
hay không cho học trò nhận một giáo lý riêng biệt.
Dầu cho việc này xảy ra trước khi tôi bắt
đầu nghiên cứu và thực hành yoga giấc mộng,
thì sự cố ấy cũng là sự bắt đầu
quan tâm thích thú của tôi với những giấc mộng.
Nó gây ấn tượng mạnh mẽ với tôi giấc
mộng được đánh giá trong văn hóa Tây Tạng
là lớn lao thế nào và thông tin từ vô thức
thường có giá trị hơn thông tin từ ý thức
như thế nào.
Sau
ba năm học, gồm nhiều cuộc nhập thất
thiền định với đồng bạn cũng
như nhiều cuộc nhập thất một mình, tôi vào
Trường Lý Luận thuộc Tu viện. Chương
trình học thường kéo dài chín đến mười
ba năm. Chúng tôi được học những môn như
văn phạm, Sankrit, thơ, chiêm tinh, nghệ thuật và cũng
học những môn riêng : ngữ nguyên học, vũ trụ
học, kinh (sutra*), tantra* và Đại Toàn Thiện. Trong
sự tu hành ở tu viện, tôi được trình bày cho
một số giáo lý và trao truyền về giấc mộng,
cái quan trọng nhất căn cứ trên những bản
văn của Zhang Zhung Nyan Gyud, Tantra Mẹ và của Shardza
Rinpoche.
Tôi
đã làm tốt trong việc tu hành và khi mười chín
tuổi, tôi được mời bắt đầu
dạy cho người. Cùng khoảng thời gian đó tôi
viết và xuất bản một tóm tắt tiểu sử
của Đức Shenrab Miwoche*, vị sáng lập
đạo Bošn. Về sau tôi trở thành hiệu
trưởng Trường Lý Luận và giữ chức
vụ này trong bốn năm, và đã rất say mê trong
việc hình thành và phát triển trường. Năm 1986, tôi
nhận cấp bậc Geshe, cấp bậc cao nhất trong
giáo dục tu viện của Tây Tạng.
Năm
1989, nhận lời mời của Hội Đại Toàn
Thiện của Namkhai Norbu Rinpoche ở Ý, tôi du lịch qua
Tây phương. Dù tôi không có chương trình giảng
dạy, tôi được những thành viên của hội
mời giảng. Một hôm tôi phân phối những mảnh
giấy có viết chữ A Tây Tạng trên đó. Đúng vào
lúc ấy giấc mộng từ mười lăm năm
trước, trong đó tôi phân phát cũng tờ giấy
như vậy cho người trên xe buýt trở lại
với tôi. Chuyện này như thể đánh vào đầu
tôi.
Tôi
ở lại Tây phương và năm 1991 được
học bổng của Rockefeller Fellowship để nghiên
cứu tại Đại học Rice. Năm 1993, tôi
xuất bản cuốn sách đầu tiên của tôi ở
Tây phương, Những Kỳ Diệu của Tâm Tự
Nhiên (lời đề tựa của Đức Dalai Lama),
trong đó tôi cố gắng trình bày những giáo lý
Đại Toàn Thiện (Dzogchen) trong một cách thức
trong sáng và giản dị. Năm 1994 tôi được cho
một trợ cấp từ Quỹ Quốc Gia cho những
Khoa Học Nhân Văn để theo đuổi nghiên
cứu về những phương diện luận lý và
triết lý của truyền thống Bošn, hợp tác với
giáo sư Anna Klein, Trưởng khoa nghiên cứu Tôn giáo,
ở Đại Học Rice.
Như
thế mặt học giả của tôi đã tiếp
tục biểu hiện, tuy nhiên thực hành luôn luôn quan
trọng hơn, và suốt cả thời gian này tôi đã
chuyên chú vào giấc mộng và thực hành giấc mộng.
Sự lưu tâm của tôi không chỉ về lý thuyết.
Tôi đã tin sự minh triết của những giấc mộng,
bị ảnh hưởng từ thời nhỏ tuổi
bởi những kinh nghiệm giấc mộng của
những vị thầy của tôi và của mẹ tôi và
bởi sự sử dụng những giấc mộng trong
truyền thống Bošn, và tôi đã thực hành yoga giấc
mộng một cách mãnh liệt suốt mười năm
qua. Mỗi đêm khi tôi vào giường, tôi cảm thấy
tự do. Sự bận rộn của ban ngày chấm
dứt. Một số đêm sự thực hành thành công và
một số đêm thì không, và như thế cho đến
khi sự thực hành rất tiến bộ. Tuy nhiên,
gần như tôi đi ngủ mỗi đêm với ý
định hoàn thành thực hành giấc mộng. Chính
từ kinh nghiệm riêng của tôi với sự thực
hành, cũng như từ ba bản văn tôi dẫn ra
ở trên, mà những giáo lý trong sách này có được.
Những
Yoga Tây Tạng về Giấc Mộng và Giấc Ngủ sinh
ra từ những chỉ dạy miệng tôi đã
đưa ra ở California và New Mexico vài năm
trước. Nhiều cái không chính thức nhưng góp
phần vào những giáo lý đã được giữ.
Những chữ có đánh dấu hoa thị trong lần
đầu xuất hiện có thể được tìm
thấy trong thuật ngữ cuốn sách.
Yoga
giấc mộng là một chỗ nương dựa hàng
đầu trong việc phát triển sự thực hành
của tôi và cái ấy đã đúng cho nhiều, rất
nhiều đạo sư và yogi* của Tây Tạng. Thí
dụ, tôi luôn luôn có ấn tượng với câu chuyện
của Shardza Rinpoche, một đạo sư vĩ
đại Tây Tạng, khi chết vào năm 1934, đã
đạt được thân thể ánh sáng (jalus*), một
dấu hiệu chứng đắc hoàn toàn. Trong đời
ngài, ngài có nhiều học trò thành tựu, viết nhiều
bản văn quan trọng, và làm việc cho lợi lạc
của xứ sở ngài sống. Khó mà tưởng
tượng làm thế nào ngài đã có năng xuất
như vậy trong đời sống bên ngoài, hoàn tất
nhiều nhiệm vụ và những kế hoạch lâu dài vì
lợi lạc của những người khác, và còn có
thể hoàn thành sự chứng đắc như vậy qua
thực hành tâm linh. Ngài có thể làm như thế bởi vì
ngài không phải là một người viết sách trong
một phần của ngày, một vị thầy trong một
phần khác, và một hành giả trong một vài giờ còn
lại. Tất cả cuộc đời ngài là thực
hành, dù ngồi thiền định, viết, dạy hay
ngủ. Ngài viết rằng thực hành giấc mộng là
quan trọng trung tâm trong hành trình tâm linh của ngài và không
thể thiếu cho sự chứng đắc của ngài.
Điều này cũng có thể là đúng với chúng ta.
Chúng
ta tiêu dùng một phần ba cuộc đời mình
để ngủ. Bất kể chúng ta làm gì, những hành
động của chúng ta là thiện hay bất thiện, dù
chúng ta là những kẻ sát nhân hay những bậc thánh, tu
sĩ hay kẻ phóng đãng, mỗi ngày đều chấm
dứt như nhau. Chúng ta nhắm mắt và tan biến vào
bóng tối. Chúng ta làm như vậy không có gì sợ hãi, ngay
cả khi mọi sự mà chúng ta biết như là “cái tôi”
biến mất. Sau một khoảng thời gian ngắn,
những hình ảnh khởi lên và cảm thức về
bản ngã cũng khởi lên với chúng. Chúng ta lại
hiện hữu trong cái thế giới có vẻ vô biên
của giấc mộng. Mỗi đêm chúng ta tham dự vào
những cái huyền diệu sâu thẳm nhất ấy,
chuyển từ một chiều kích của kinh nghiệm
qua một chiều kích khác, mất cảm thức về
cái ngã và lại tìm thấy nó, và tuy nhiên chúng ta coi mọi
sự đó là dĩ nhiên. Chúng ta thức dậy buổi sáng
và tiếp tục trong cuộc đời “thực”,
nhưng trong một nghĩa nào, chúng ta vẫn đang
tiếp tục ngủ và mộng. Những giáo lý nói với
chúng ta rằng chúng ta có thể tiếp tục mãi mãi ở
trong trạng thái mộng mị hư vọng này, ngày qua
đêm, hay thức dậy với chân lý, với sự
thật.
Khi
chúng ta dấn thân vào những yoga giấc mộng và yoga
giấc ngủ, chúng ta trở nên thành phần của
một dòng phái dài. Qua nhiều thế kỷ, những
người đàn ông và đàn bà đã từng làm cùng
những thực hành này, đương đầu với
những nghi ngờ và chướng ngại như chúng ta,
và đã nhận được những lợi lạc mà
chúng ta có thể có. Nhiều lama cao cấp và nhiều yogi
thành tựu đã lấy yoga giấc ngủ và yoga giấc
mộng làm những thực hành hàng đầu, và qua chúng
đã đạt đến chứng ngộ. Suy nghĩ
về lịch sử này và nhớ lại những
người đã hiến trọn đời mình cho
những giáo lý – những tổ tiên tâm linh của chúng ta,
họ truyền lại cho chúng ta những quả của
sự thực hành của họ qua những giáo lý này –
sẽ làm phát sanh niềm tin và biết ơn vào truyền
thống.
Một
số vị thầy Tây Tạng có thể cho là lạ lùng
khi tôi dạy những thực hành này cho người Tây
phương, những người chưa làm những
thực hành sơ khởi nhất định hay chưa có
những hiểu biết nhất định. Theo truyền
thống những giáo lý được giữ gìn như
những lời dạy bí mật, vừa như một
biểu hiện của sự tôn kính vừa như một
sự bảo vệ khỏi bị pha lỗng vì hiểu
sai của những hành giả chưa được
chuẩn bị. Chúng không bao giờ được dạy
công khai hay ban cho một cách thoải mái, mà được
giữ gìn cho những cá nhân đã sửa soạn
để nhận lãnh chúng.
Những
thực hành vẫn hiệu quả và giá trị như bao
giờ, nhưng những điều kiện hoàn cảnh
trong thế giới đã thay đổi, và thế nên tôi
đang cố gắng làm một cái gì khác. Tôi hy vọng
rằng bằng cách dạy cái gì có hiệu quả, một
cách công khai và đơn giản, truyền thống sẽ
được bảo tồn tốt hơn và nhiều
người hơn sẽ có thể được lợi
lạc từ đó. Nhưng quan trọng là phải tôn
trọng những giáo lý, cả trong việc bảo vệ
chúng lẫn trong việc làm tiến thêm sự thực hành
của chúng ta. Xin hãy cố gắng nhận sự trao
truyền trực tiếp những giáo lý này từ một
vị thầy chính thức. Là tốt khi đọc
những yoga này, nhưng tốt hơn nếu nhận
sự trao truyền bằng miệng, nó tạo ra một nối
kết mạnh mẽ hơn với dòng phái. Cũng như
sẽ dễ dàng đương đầu với
những chướng ngại trên con đường khi có
một vị thầy kinh nghiệm có thể nhận
dạy chúng và giúp đỡ cởi dẹp chúng. Đây là
một điểm quan trọng chớ nên quên.
Cuộc
đời làm người của chúng ta là quý giá. Chúng ta có
thân tâm nguyên vẹn, với đầy đủ tiềm
năng. Chúng ta có thể đã gặp những vị
thầy và đã nhận những giáo lý, và chúng ta có cuộc
đời tự do để theo con đường tâm
linh. Chúng ta biết sự thực hành là thiết yếu cho
hành trình tâm linh cũng như cho nguyện vọng giúp
đỡ những người khác của chúng ta. Chúng ta
cũng biết cuộc đời qua nhanh và cái chết thì
chắc chắn, tuy nhiên trong cuộc sống bận
rộn chúng ta thấy khó thực hành nhiều như chúng ta
muốn. Có lẽ chúng ta thiền định một hay hai
giờ một ngày, nhưng lại để hai mươi
hai giờ kia tiêu mất trong phóng dật và lắc lư
trên những ngọn sóng của sanh tử*. Thế mà luôn
luôn có thì giờ để ngủ ; một phần ba
cuộc đời chúng ta tiêu xài vào giấc ngủ có
thể dùng để cho thực hành.
Một
chủ đề chính của cuốn sách này là qua thực
hành chúng ta có thể trau dồi tỉnh giác lớn lao
hơn suốt mỗi khoảnh khắc của đời
sống. Nếu chúng ta làm thế, tự do và linh hoạt
mềm dẻo liên tục tăng trưởng và chúng ta ít
bị sự cai trị bởi những lo toan và phóng
dật thói quen. Chúng ta khai triển một sự hiện
diện vững chắc và sống động cho phép chúng
ta chọn lựa khéo léo thiện xảo hơn những
đáp ứng với bất cứ cái gì sanh khởi,
những đáp ứng làm lợi lạc tốt nhất cho
những người khác và chính cuộc hành trình tâm linh
của chúng ta. Cuối cùng chúng ta khai triển một
sự liên tục của tỉnh giác cho phép chúng ta duy trì
tỉnh giác trọn vẹn trong giấc mộng cũng
như trong đời sống lúc thức. Bấy giờ
chúng ta có thể đáp ứng với những hiện
tượng mộng theo những cách sáng tạo và tích
cực và có thể hoàn thành những thực hành khác nhau
trong trạng thái mộng. Khi chúng ta hoàn toàn phát triển
khả năng này, chúng ta sẽ tìm thấy rằng chúng ta
sống cuộc đời thức và mộng với
thoải mái, tiện dụng, sáng tỏ và hân thưởng
lớn hơn, và chúng ta cũng sẽ tự chuẩn
bị để đạt đến giải thoát trong
trạng thái trung ấm (bardo*) sau cái chết.
Những
giáo lý cung cấp cho chúng ta nhiều phương pháp
để cải thiện phẩm tính của đời
sống bình thường. Điều ấy tốt, vì
cuộc đời này thì quan trọng và xứng đáng.
Nhưng luôn luôn sự sử dụng tối hậu
những yoga này dẫn chúng ta đến giải thoát. Vì
mục đích đó, cuốn sách này sẽ được
hiểu như là một cẩm nang thực hành, một
hướng dẫn vào những yoga của những
truyền thống Phật giáo và Bošn Tây Tạng, chúng dùng
những giấc mộng để đạt đến
giải thoát khỏi mộng tưởng điên
đảo của đời sống bình thường và
dùng giấc ngủ để tỉnh dậy khỏi vô
minh. Dùng cuốn sách theo lối này, bạn nên có một
mối liên hệ nối kết với một vị
thầy đạo hạnh. Bấy giờ, để làm
vững chắc ổn định tâm thức, hãy làm những
thực hành an định (samatha, TT : zhiné*) trong Phần Ba.
Khi bạn cảm thấy sẵn sàng, hãy bắt đầu
những thực hành sơ bộ và tiêu tốn một
số thì giờ với chúng, hội nhập chúng vào
đời sống bạn. Rồi hãy bắt đầu
những thực hành căn bản.
Không
có gì phải hấp tấp. Chúng ta đã lang thang, lặn
lội trong những ảo tưởng của sanh tử
từ thời vô thủy. Chỉ đọc cuốn sách
khác về tâm linh và rồi quên nó thì chỉ thay đổi
chút ít trong đời sống. Nhưng nếu chúng ta theo
những thực hành này đến chỗ cuối cùng
của chúng, chúng ta sẽ tỉnh dậy với bản
tánh bổn nguyên của chúng ta, nó là tự thân giác ngộ.
Nếu
chúng ta không thể giữ hiện diện trong giấc
ngủ, nếu chúng ta mất mình mỗi đêm, chúng ta có
cơ may nào để tỉnh thức khi cái chết
đến ? Nếu chúng ta đi vào những giấc
mộng của chúng ta và tương tác với những hình
ảnh của tâm thức như thể chúng là thực,
chúng ta không nên hy vọng được tự do trong
trạng thái sau cái chết. Hãy nhìn vào kinh nghiệm của
bạn trong những giấc mộng để biết
bạn sẽ sống như thế nào trong cái chết. Hãy
nhìn vào kinh nghiệm của bạn khi ngủ để khám
phá bạn có được tỉnh thức hay chưa.
Cách
tốt nhất để nhận những giáo lý tâm linh
truyền miệng hay được viết ra là “nghe, tóm
kết và kinh nghiệm”, đó là, hiểu một cách trí
thức cái được nói, tóm kết ý nghĩa của
nó, và áp dụng nó trong thực hành. Nếu sự học
được tiếp cận theo lối này, tiến trình
học là liên tục và không ngừng, nhưng nếu nó
dừng lại ở mức độ trí thức, nó có
thể trở thành một rào cản cho thực hành.
Khi
nghe hay nhận những giáo lý, người học trò
tốt thì giống như một bức tường
phủ keo : hạt cỏ ném vào đó đều dính vào
đó. Một học trò dở thì giống như một
bức tường khô : cái gì ném vào cũng rơi tuột
xuống sàn. Khi những giáo lý đã nhận
được, chúng cần phải không bị mất
đi hay phung phí. Học trò cần phải giữ lại
những giáo lý trong tâm thức mình, và làm việc với
chúng. Những giáo lý không được thâm nhập với
hiểu biết thì giống như những hạt cỏ
ném vào bức tường khô ; chúng rớt xuống sàn và
bị quên lãng.
Đi
đến những kết luận về ý nghĩa của
những giáo lý thì giống như bật đèn trong một
phòng tối : cái bị che dấu trở nên sáng rõ. Nó là kinh
nghiệm “a ha !” khi bậc công tắc lên và mọi sự
được hiểu ra. Nó khác với cái hiểu ý
niệm giản đơn ở chỗ nó là cái gì chúng ta
biết hơn là cái gì chúng ta chỉ nghe. Thí dụ, nghe nói về
những cái gối vàng và đỏ trong một buồng thì
giống như có một cái hiểu trí thức về chúng,
nhưng nếu chúng ta vào buồng khi tối, chúng ta không
thể nói cái gối nào là màu gì. Tóm kết ý nghĩa thì
giống như bật đèn lên : bấy giờ chúng ta
trực tiếp biết màu đỏ và màu vàng. Giáo lý không
còn là cái gì chúng ta chỉ có thể lập lại, nó là
phần của chúng ta.
“Áp
dụng trong thực hành” nghĩa là chuyển cái đã
được hiểu một cách ý niệm – cái đã
nhận được, suy nghĩ và làm thành ý nghĩa –
thành ra kinh nghiệm trực tiếp. Tiến trình này
tương tự với việc nếm muối. Muối
có thể được nói đến, bản chất hóa
học của nó được hiểu và vân vân, nhưng
kinh nghiệm trực tiếp chỉ có khi nó
được nếm. Kinh nghiệm ấy không thể
nắm bắt một cách trí thức và không thể
truyền đạt bằng lời. Nếu chúng ta cố
gắng giải thích nó cho ai đó chưa hề nếm
muối, họ sẽ không hiểu cái mà chúng ta đã kinh
nghiệm. Nhưng khi chúng ta nói về nó cho người
đã có kinh nghiệm, bấy giờ cả hai bên
đều biết chuyện ấy là gì. Cũng như
thế với những giáo lý. Cách nghiên cứu chúng là
thế này : nghe hay đọc chúng, nghĩ về chúng, tóm
kết ý nghĩa, và tìm thấy ý nghĩa trong kinh nghiệm
trực tiếp.
Ở
Tây Tạng những da thuộc mới được
phơi dưới ánh mặt trời và chà với bơ cho
mềm hơn. Hành giả cũng như tấm da mới,
bền và cứng với những quan điểm chật
hẹp và ý niệm khô cứng. Giáo pháp thì giống như
bơ, được chà qua thực hành, và mặt trời
như kinh nghiệm trực tiếp ; khi cả hai
được áp dụng hành giả trở nên mềm và
dễ uốn nắn. Nhưng bơ cũng được
cất trong các bao bằng da. Khi bơ được
để trong một cái bao vài năm, da của cái bao
trở thành cứng như gỗ và không biết bao nhiêu
bơ mới để có thể làm mềm nó. Người
nào để nhiều năm nghiên cứu những giáo lý,
trở thành nhiều trí thức mà ít kinh nghiệm thực
hành, thì giống da thuộc cứng ngắc ấy.
Những giáo lý có thể làm mềm tấm da cứng
của vô minh và sự bị quy định, nhưng khi
chúng được cất vào trí óc và không được
chà xát vào hành giả với thực hành và làm ấm với
kinh nghiệm trực tiếp, người ấy có thể
trở nên khô cứng trong cái hiểu trí thức. Bấy
giờ những giáo lý mới sẽ không làm mềm dịu
y, không thấm vào và thay đổi y. Chúng ta phải coi
chừng không chất chứa những giáo lý như chỉ
là cái hiểu ý niệm vì sợ rằng cái hiểu ý
niệm trở thành một cản ngại cho trí huệ.
Những giáo lý không phải là những ý tưởng
để sưu tập, mà là con đường để
đi theo.