Chị Đào gốc người Trà Vinh, một tỉnh nhỏ êm đềm và cổ
kính, ảnh
hưởng nền văn hóa Khờ Me nên có rất nhiều ngôi chùa Miên
mái
cong vút, và những vị sư áo vàng trẻ tuổi. Nhà chị có
vườn tược,
ở bên kia cầu Long Bình, đường đi ra Đầu Bờ có những
thửa ruộng
mênh mông, bát ngát sải cánh cò bay.
Chị là vợ một người lính, theo anh rời Trà Vinh về quê
chồng ở Vũng Liêm, nơi có món nem chua nổi tiếng. Sau
khi chồng tử trận, chị tìm được một việc làm cho cơ quan
dân sự Mỹ. Tuy chỉ là chân lau chùi, dọn dẹp văn phòng
nhưng đến cuối tháng Tư năm 75, chị cũng hối hả chạy
theo đám nhân viên sở Mỹ vào được sân bay Tân Sơn Nhứt,
nhét lên chiếc C130 như cá hộp, đi một lèo qua đảo Guam.
Lúc chiếc phi cơ như con cá mập bay vút lên trời, để lại
quê hương một vùng lửa đạn, chị Đào ngó quanh không thấy
ai cười, chỉ là những đôi mắt hoe đỏ và những tiếng khóc
rấm rứt vì không biết chừng nào mới quay về quê cha đất
tổ.
Sau nhiều thủ tục giấy tờ, mẹ con chị gồm bà mẹ ba mươi
mấy tuổi với ba đứa con dại, được rời đảo vào đất liền,
sống thêm một thời gian nữa trong một trại tỵ nạn ở vùng
California, dưới những lều bạt mà mỗi đêm nghe tiếng gió
thổi phần phật bên ngoài, chị Đào lại bật lên khóc rưng
rức. Mấy đứa con còn bé dại, đứa con gái lớn năm ấy mới
chín tuổi, còn hai đứa bé, một gái một trai, đứa lên bảy
và đứa lên sáu. Chúng nó còn nhỏ dại, ăn chưa no lo chưa
tới, nên không làm sao nghĩ nổi được nỗi buồn của mẹ
chúng. Ngày ngày mẹ con xếp hàng rồng rắn đi lấy thức ăn,
ngó quê người lại nhớ tới quê mình xa lăng lắc ở bên kia,
cha mẹ anh em ở đó không biết ra sao sau cuộc đổi đời,
chị Đào không làm sao nuốt nổi chén cơm nấu nhão như
cháo, ăn với thịt hộp của Mỹ.
Chồng chị đi lính đã chết trận bốn năm rồi, từ lúc thằng
con út mới hai tuổi. Số tiền tử tuất của chồng quá ít
ỏi, chỉ xoay quanh cái đám ma đã thấy hết phân nửa. Bởi
vậy chị đành gửi con cho mẹ chồng lo, rồi tìm việc làm
nuôi lũ con thơ. Hồi chồng chị còn sống, chị Đào cũng
mấy khi được gần gũi anh, vì đơn vị hành quân liên miên,
toàn những nơi đèo heo hút gió. Thỉnh thoảng anh về
phép, vợ chồng đầm ấm, vui vẻ được mấy ngày, anh lại ra
đi để chị cứ thắc thỏm trông chờ lần về phép tới.
Kỳ phép cuối cùng anh về thăm vợ con, ai biết được rằng
lại là lần cuối cùng vợ chồng, cha con được gần gũi
nhau. Người ta nói rằng kẻ sắp chết thường hay có nhiều
điềm gở. Mãi tới khi anh ấy chết đi chị Đào mới nhớ rõ
nét mặt buồn đăm đắm của anh khi ôm đứa con út vào lòng,
hai con mắt anh lờ đờ như say thuốc, nhìn vào một nơi
nào đó mà sau này chị cho là anh đã linh cảm thấy bóng
dáng tử thần. Nếu đôi mắt là cửa sổ của linh hồn, thì
đôi mắt anh ngày hôm ấy đúng là biểu hiện cho sự buồn
thảm và ly biệt. Mấy ngày phép anh đưa vợ con đi chơi
đây đó, thăm họ hàng, bè bạn, dẫn con đi ăn uống thỏa
thuê, làm như anh chỉ còn có chút thời gian ngắn ngủi đó
thôi để bước hẳn qua thế giới bên kia. Bởi vậy khi mẹ
con đã an ổn trên xứ người, lòng chị vẫn lấn quấn mãi
ngôi mộ của chồng còn nằm trong nghĩa trang Quân Đội.
Mẹ con chị Đào ở trong trại tỵ nạn ít lâu thì được một
người Mỹ già tốt bụng, trong Hội từ thiện của nhà thờ,
đón về một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang New Hampshire,
vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Ở đây, lần đầu tiên mẹ con chị
được thấy những rừng thông bạt ngàn, núi non trùng trùng
điệp điệp, chiếc quạt gió trên nóc những mái nhà kho
chứa cỏ khô cho gia súc, vào mùa Đông tuyết phủ trắng
những con đường quanh co dọc theo thung lũng đầy gió hú.
Thị trấn nhỏ, đồi núi mênh mông, nhà cửa thưa thớt, nối
tiếp nhau chỉ là những cánh rừng và đồi cỏ chập chùng,
nóc chuông nhà thờ với cây thánh giá cao lêu nghêu trên
vòm trời đầy mây trắng. Chị Đào suốt ngày ủ ê ngó cảnh
mùa Đông quê người, tìm mỏi mắt không thấy một bóng
người đi qua đi lại. Mấy đứa nhỏ chưa hiểu bao nhiêu,
riêng chị khóc hoài khóc hủy, đôi mắt lúc nào cũng mòng
mọng những giọt nước mắt chỉ chực rơi xuống khi có ai
hỏi han tới.
Sao lúc ấy chị nhớ nhà quá đỗi. Ăn những miếng bánh mì
khô khan với thịt nguội, chị bắt nhớ tộ cá kho tiêu ở
quê nhà, nhớ mùi khô nướng, nhớ tộ canh chua, nhớ mắm
kho cà tím với đầy một rổ rau tươi, những món tầm thường
ấy sao bây giờ nó quý hơn cao lương mỹ vị. Quê hương giờ
đây đối với chị đã ngàn trùng xa cách, chị nghĩ mãi vẫn
không hình dung ra được con đường nào để trở về, bởi vì
ngồi trên máy bay chị chỉ nhìn thấy toàn mây trắng và
mây trắng...
Mấy đứa nhỏ được tới trường để đi học, buổi sáng đã có
xe "school-bus" đến đón tận nhà. Chỉ ít lâu sau cả ba
đứa bắt đầu xí xô xí xào nói tiếng Anh với nhau, chúng
nó gọi chị bằng "Mom" thay cho tiếng "Má ơi!" quen
thuộc. Thời gian qua mau, con chị gần như không xử dụng
tiếng Việt nữa, cả cái thị trấn đìu hiu này chắc chỉ có
mình gia đình chị là người Việt. Rồi từ đấy chị ít có
thì giờ gần gũi con, mỗi lần nói với con những câu nói
thân quen ở quê nhà, chúng thường giương mắt ra nhìn mẹ.
Không có người đồng hương ở đây, tiếng Việt bỗng nhiên
hiếm hoi từ đấy, chị Đào thường ao ước có lúc nào gặp
được một người Việt Nam, nói cho thỏa hết những tâm sự
đầy ắp trong lòng chị. Gặp một người có khuôn mặt Á
Đông, chị mừng hết lớn, nhưng khi bập bẹ được vài câu
tiếng Anh để hỏi nhau, người kia lắc đầu quầy quậy, chị
lại thất vọng đến não nề khi không có ai nói lại cho chị
nghe thứ tiếng nói quê mùa, giản dị của quê hương.
Chị Đào phải tập làm quen với đời sống của nước Mỹ. Chị
tới cơ quan từ thiện, vừa học nghề vừa học chữ, buổi
chiều chị đến phụ dọn dẹp cho một cửa hàng tạp hóa nằm
ven con đường xe cộ xuyên bang đi lại tối ngày, chị chỉ
mong gặp một người Việt, để hỏi thăm về quê hương xứ sở.
Có lần chị gặp một người đàn ông Việt Nam lái xe đi qua
chốn khỉ ho cò gáy này, dừng lại mua mấy thứ lặt vặt,
chị mừng quá gần như muốn khóc, nhưng người đàn ông
không ân cần lắm với chị. Hình như ông ta không tha
thiết lắm với một người phụ nữ Việt Nam, mà nét quê mùa
hình như vẫn còn đọng lại trong dáng vẻ cũng như tiếng
nói. Nào ai biết được cái mơ ước giản dị trong lòng chị,
chỉ là được gặp gỡ hàn huyên với một người cùng xứ sở,
được nói lại ngôn ngữ mẹ đẻ dù chỉ bằng một câu rất giản
dị như "Trời đất quỷ thần thiên địa ơi!"
* * *
Sau mười năm ở bên Mỹ, chị Đào đã tương đối hòa nhập
được với phong tục và cách sống của người Hoa Kỳ. Chị đã
biết lái xe để đưa con đi học, đi nhà thờ và thỉnh
thoảng đi thăm mấy vùng lân cận. Mùa Lễ Tạ Ơn hay Giáng
Sinh, chị và các con đến nhà những người Mỹ trong vùng
để dự lễ Tạ Ơn và ăn gà Tây với họ. Ăn gì thì ăn, uống
gì thì uống, chị Đào vẫn thấy không có món "soup" nào
ngon bằng món hủ tíu Trà Vinh, bánh nào ngon bằng thứ
bánh tét thơm lá dứa của miền quê chị. Mỗi lần bước qua
đầu Xuân, nhớ không khí Tết ở quê nhà, trong chị lại dằn
vặt một nỗi nhớ mung lung. Khi chỉ còn một mình ngồi
trong nhà, ngó ra rặng thông xanh ngắt chập chùng lượn
theo những đồi núi nối tiếp nhau, chị vẫn thường hay
thổn thức khóc một mình.
Mẹ con chị quanh quẩn trong khu thị trấn nhỏ bé, chỉ
loanh quanh mấy tiệm tạp hóa, cây xăng, khu chợ nhỏ và
đi tới nhà thờ mỗi ngày chủ nhật là hết đất. Qua sinh
hoạt ở nhà thờ, chị được giới thiệu với một người Mỹ góa
vợ đã trọng tuổi. Đời sống ông này cũng ảm đạm như mùa
Đông miền Bắc, loanh quanh luẩn quẩn với cuốn Kinh Thánh
và mấy Hội Từ Thiện. Sáng chủ nhật cả nhà ăn mặc đẹp đẽ
đi nhà thờ, sau đó kéo nhau tới một tiệm ăn của người
Trung Hoa ở một thành phố kế bên, nhưng những món ăn của
họ vẫn không mang lại cho chị mùi vị của những món ăn
của quê hương. Có lần, mẹ con chị được ông chồng Mỹ đưa
qua Canada thăm xứ sở của rừng phong vào một mùa thu.
Phong cảnh thật đẹp với những rừng phong đầy lá vàng lá
đỏ, thành phố cổ kính có ngôi nhà thờ bằng đá xám, còn
vùng thôn quê của họ thì bằng phẳng như miền đồng bằng
Cửu Long quê chị, nhưng chỉ nhiều hồ mà không thấy được
giòng sông uốn khúc quanh những vườn cây ăn trái.
Mãi tới hôm ông chồng Mỹ đưa mẹ con chị xuống khu
China-Town ở Boston, chị mới có dịp tìm lại được những
thực phẩm Việt Nam mà lâu rồi chị không thấy. Chuyến về
chị mua đủ thứ, gần hết số tiền lương trong tháng của
chị. Nước mắm, nước tương, bún tàu, tôm khô, bánh tráng,
hủ tíu ... Còn một món chị không quên, đó là mấy bao gạo
thơm Thái Lan, hàng thùng bún khô, măng khô để chị ăn
dần trong nhiều tháng. Lão chồng Mỹ thấy chị ướp mấy
khúc cá tươi với chút nước mắm nước màu, rồi kho riu riu
trên bếp ngoài garage, ngó chị hít hà với vẻ mặt sung
sướng, ông ta đã phải lái xe bỏ đi chơi loanh quanh một
lát vì không chịu nổi cái mùi quái dị ấy. Chị nấu một
nồi cơm gạo tám, ăn với rau luộc và cá kho khô suốt một
tuần lễ mà chưa đã thèm. Chỉ hiềm một nỗi cả nhà không
có ai ăn với chị những bữa cơm đầy hương vị quê hương
ấy, chị vẫn thấy đời như thiếu vắng điều gì. Hóa ra chị
thèm tiếng cười tiếng nói mang không khí quê mình, trong
căn nhà trống trải lao xao tiếng lá mận reo trước khoảng
sân nắng. Sự thiếu vắng ấy khiến chị vẫn hay bần thần
ngó trời hiu quạnh ngoài khu thung lũng mỗi khi chiều
xuống, rồi lầm bầm nói một mình những câu tiếng Việt mà
lâu rồi không ai nói với chị.
Mùa Đông năm đó trời rét và tuyết đóng dầy hơn mọi năm,
cả thị trấn nhỏ bé này như đóng băng giữa vùng tuyết
trắng. Chị Đào một hôm đi làm về, bánh xe bị trơn trợt
tông vào một gốc cây ven đường. Tuy may mắn không nguy
hiểm tới tính mạng, nhưng ảnh hưởng cột sống và gãy
xương chân nên từ đấy chị đi đứng không còn ngay ngắn
như xưa. Chị được chính phủ cấp dưỡng tiền tàn tật, cuộc
sống vì thế càng hiu quạnh hơn, bên cạnh ông chồng già
suốt ngày dạy chị học Kinh thánh, thú vui của những ngày
còn lại. Chị cố dạy cho ông chồng Mỹ vài câu tiếng Việt
ngăn ngắn, nhưng khi ông nói, giọng lơ lớ khiến chị bật
cười, vả lại xung quanh toàn người Mỹ, ông đâu có hứng
để mà học tiếng Việt của vợ.
Mấy đứa con lớn dần lên, đứa lớn còn lõm bõm hiểu những
câu tiếng Việt mẹ nói, nhưng hầu như nó không thể trao
đổi được với mẹ lối tâm tình của người đàn bà Việt Nam
quê mùa. Chị cứ cô đơn với thế giới của mình, dù bên
cạnh đã có lão Mỹ già hủ hỉ, và đàn con ba đứa nay đã
lớn khôn.
Đứa con gái năm ấy đã học xong Trung học, nó thường hay
theo bạn bè đi chơi những thành phố khác, tình cờ gặp
được thằng bạn trai người Á châu, bèn dẫn về giới thiệu
với gia đình. Mới ngó thấy thằng nhỏ chị mừng hết lớn,
vì khuôn mặt Á Đông khiến chị nghĩ ngay nó là người
Việt. Chừng hỏi tới thì mới biết thằng này là con của
một chủ nhà hàng gốc Tàu Hồng Kông, ngang hông Chợ Lớn,
nó cũng chỉ bập bẹ vài câu tiếng Việt rồi lại xổ tiếng
Anh như gió. Dù gì thằng Tàu này cũng có nét giống Việt
Nam, chị không kỳ thị nhưng nếu hai đứa thương nhau
thiệt tình, chị cũng mừng. Hai đứa quen nhau được hai
năm, lúc tính chuyện hôn nhân, chị mừng húm. Đám cưới
xong, hai đứa túi bụi trông coi cái nhà hàng Tàu của ông
bố, kịp đến khi con bé có thai, chị nghĩ ngay tới chuyện
ở nhà trông nom, săn sóc đứa nhỏ theo kế hoạch của chị.
Sự tính toán của chị thật là tội nghiệp. Nó chỉ đơn giản
là được gần gũi một đứa trẻ con, sẽ dạy cháu nói lại thứ
ngôn ngữ của quê nhà mà bao lâu nay chị thèm thuồng được
nghe, được đối đáp, thứ ngôn ngữ ấy như tiếng chim sơn
ca hót réo rắt trong lòng chị. Mai đây khi đứa cháu chào
đời, chị sẽ chăm sóc cháu mình bằng tâm tình một bà
ngoại Việt Nam, sẽ cho cháu ăn, sẽ dạy cháu nói. Chỉ
nghĩ tới lúc đứa cháu biết thỏ thẻ những tiếng gọi Bà,
gọi Mẹ đầu tiên, chị đã rưng rưng nước mắt.
Nào ai hiểu nổi nỗi vui trong lòng người đàn bà Việt Nam
quê mùa đó. Con cái chị ngày một xa dần với bản sắc dân
tộc, chúng nó giờ đây là người Việt hoàn toàn mang tâm
hồn Mỹ, chỉ có chị nghĩ con mình là người Việt, còn
chính con chị cũng nghĩ nó là người Mỹ. Bởi thế chị Đào
quyết tâm tìm cơ hội được săn sóc đứa cháu ngoại, tạo
cho mình một niềm vui ấm áp khi mai này nó lớn lên, mỗi
tiếng khóc tiếng cười của cháu, tiếng nói đầu tiên sẽ
chỉ là tiếng Việt.
Đúng như những điều chị mong mỏi. Vì bận rộn chuyện làm
ăn, đứa cháu ngoại vừa ra đời đã được cha mẹ nó gửi gấm
cho bà ngoại trông nom, săn sóc. Đó là một con bé đầy
nét Á Đông, đôi mắt đen như hai hột nhãn và cái miệng
nhỏ xinh xinh. Chị thương cháu lắm, thương từ tiếng khóc
tiếng cười của cháu. Từ đó mỗi lần cháu khóc, chị Đào
lại có dịp ru cháu bằng những bài ru con dân ca miền
Nam, trong lòng chị lại hiện ra dòng sông ở quê nhà năm
xưa, nhịp cầu tre lắc lẻo đưa chị trở về những con đường
quen có hàng dừa lơi lả, mảnh sân đất đầy bóng nắng dưới
cây mận đỏ. Mùa thu tới, chị ru cháu bài "Gió mùa thu mẹ
ru con ngủ, năm canh chầy thức đủ cả năm", nước mắt chị
cứ tuôn lả chả khi nghĩ tới những ngày còn trẻ, một mình
ở nhà với mấy đứa con thơ khi anh chồng là lính chiến có
mấy khi được ở nhà với vợ con. Suốt một thời thanh xuân
chị chỉ những ngóng chờ và mong đợi, thỉnh thoảng chồng
chị có mấy ngày phép được về thành phố thăm vợ con, đó
là những ngày hạnh phúc ngắn ngủi của vợ chồng chị. Sau
đó, chị còn lại một mình với gánh nặng chăm sóc mấy đứa
con thơ, cộng thêm nỗi lo lắng cho người chồng ngoài mặt
trận.
Ngắn ngủi chỉ có sáu, bảy năm làm vợ lính mà những giây
phút hạnh phúc thật hiếm hoi, nhưng so sánh với ông Mỹ
già trong hiện tại, chị thấy hai thứ hạnh phúc nó khác
nhau một trời một vực. Phải chăng đó là sự khác biệt
giữa văn hóa Đông Tây muôn đời vẫn không thể là hai dòng
sông, hòa vào nhau để cùng chảy ra biển. Mấy vụ đó chị
Đào bù trất, chỉ nghe mấy ông mấy bà nhiều chữ nghĩa nói
với nhau như vậy, để bảo tồn cái gì đó mà họ gọi là Văn
Hóa Dân Tộc. Riêng chị Đào, người đàn bà quê mùa Việt
Nam lạc loài nơi xứ lạ quê người, chỉ cảm thấy tâm hồn
lúc nào cũng hụt hẫng và nhớ nhung những tình cảm thân
thiết của một thời xa lắc.
Đứa cháu ngoại ra đời đã đem lại niềm ấm áp cho trái tim
bà ngoại nó, đó là những ngày cháu bập bẹ những tiếng
nói đầu đời thật dễ thương. Trái tim chị Đào như muốn
nhảy tưng ra khỏi lồng ngực khi con bé thốt ra những
tiếng "bà" tiếng "mẹ" lúc nó khóc, hay khi mẹ nó đi làm
về, con bé đã bất ngờ reo lên những tiếng "mẹ, mẹ" thật
dễ thương. Điều đó khiến con gái chị tuy đã lâu không
nói tiếng Việt, cũng sung sướng nghe lại những tiếng nói
của quê hương từ chính miệng đứa con bé bỏng của nó,
hoàn toàn không ngờ được.
Khi con bé được ba tuổi, hai bà cháu đã có thể trao đổi
những câu tiếng Việt ngăn ngắn, cháu chị đã hiểu được
chút chút những câu chuyện cổ tích bằng tiếng Việt, và
nó đã thỏ thẻ kể lại cho mẹ nó nghe bằng cái giọng đả
đớt rất ngây thơ của một đứa bé ba, bốn tuổi. Từ đây,
đứa con gái Việt Nam vừa làm mẹ bỗng hiểu ra nỗi cô đơn
trong lòng mẹ nó, nỗi thèm thuồng được nói lại thứ ngôn
ngữ thân thương của quê nhà, cũng là niềm hạnh phúc nhỏ
nhoi mà mẹ nó cần thiết còn hơn cơm ăn, áo mặc.
Trong căn nhà cũ kỹ ở một thị trấn nhỏ vùng Đông bắc Hoa
Kỳ, muà hè ngắn hơn mùa Đông vì khí hậu lúc nào cũng
lạnh lẽo, giờ đây đã vang lên thứ tiếng nói réo rắt đầy
âm thanh trầm bổng quê nghèo miền Nam, của một người đàn
bà Việt Nam quê mùa với đứa cháu ngoại bé bỏng của mình
ra đời tại nước Mỹ. Chị Đào đâu phải một người được ăn
học để hiểu được sự bảo tồn văn hóa quê nhà, thế mà chỉ
bằng tấm lòng tha thiết của một người Việt Nam với ngôn
ngữ quê hương, chị đã làm được một việc phi thường, hơn
bất cứ một nhà ngôn ngữ Việt Nam nào nổi tiếng trên đất
Mỹ.
* * *
Sau khi ông Mỹ già qua đời vì bịnh ung thư, chị Đào cũng
làm ma chay và chôn cất ông thật chu đáo theo tâm tình
của người vợ Việt Nam. Dù chỉ gắn bó với nhau do hoàn
cảnh đưa đẩy, chị Đào vẫn quan niệm rằng "một ngày là
tình, hai ngày là nghĩa" như chị đã được cha mẹ ông bà
dạy dỗ hồi còn trẻ. Điều đó khiến những người Mỹ trong
vùng cảm động, họ không dám coi thường người đàn bà Việt
Nam nhỏ bé và quê mùa này, bởi lối hành xử của chị đã
nói lên tư cách một con người có tấm lòng chân thật, ăn
ở có trước có sau. Nếu đem chị Đào so sánh với những
người đàn bà Việt Nam tài giỏi, học cao hiểu rộng khác,
chưa chắc những tấm bằng của họ đã có giá trị bằng tâm
hồn người phụ nữ Việt Nam bình dị này. Chị Đào không
hiểu nhiều về những thứ lắt léo của cuộc đời và sách vở,
nhưng suốt đời chị chỉ đơn sơ sống theo cái đạo làm
người, nhờ thế mà qua những sóng gió cuộc đời, chị lúc
nào cũng "thân tâm an lạc".
Hai đứa con nhỏ lớn lên, học giỏi, đươc học bổng của
trường Đại Học tại Boston, chúng nó đã rời mẹ từ lâu. Vợ
chồng đứa con gái lớn cũng chán nơi khỉ ho cò gáy này,
bàn với chị bán nhà đưa nhau về tiểu bang Massachusetts,
nơi có nhiều người Tàu của nước nó và người Việt của
nước chị. Thế là cả nhà dời New Hampshire, thị trấn nhỏ
với những đồi núi cỏ mượt và thông reo, về mùa Đông
tuyết phủ trắng xóa trên các đồi thông và những mái nhà
mốc thếch màu xám nhạt. Hôm gia đình chị Đào dời đi,
những gia đình người Mỹ quen biết ở nhà thờ đều tới ăn
bữa cơm Việt Nam thật ngon, và vài món ăn Tàu do thằng
rể chị nấu nướng. Họ từ biệt nhau với những giọt nước
mắt, ở đâu cũng vậy mà thôi, hễ đem tình cảm chân thành
mà đối đãi với nhau thì cũng sẽ được đền đáp lại như vậy.
Chị Đào vẫn theo lối Việt Nam, gửi gấm ngôi mộ ông chồng
Mỹ già cho bạn bè của ông chăm sóc, khiến họ lại càng
cảm động. Đời chị tuy không may mắn về đường hôn nhân,
nhưng chị Đào quả là một con người rất đáng khâm phục,
vì mộ của ba mấy nhỏ chôn trong nghĩa trang Quân Đội ở
quê nhà, chị cũng đã gửi tiền về để người nhà lo bốc mộ
đem về quê, xây mồ mả tử tế đẹp đẽ.
Bây giờ đứa cháu ngoại đầu đã lớn bộn, nó đang học
trường Middle-School, mẹ nó đẻ thêm hai đứa em nữa. Chị
Đào nay đã lớn tuổi, vẫn ở nhà trông cháu, vẫn tiếp tục
kế hoạch của một bà ngoại Việt Nam, dạy cho mấy đứa nhỏ
ăn cơm Việt, nói tiếng Việt. Mỗi buổi chiều con lớn đi
học về, nó vẫn không quên chào bà ngoại bằng những câu
tiếng Việt quen thuộc, vẫn đòi ăn hủ tíu do bà ngoại nấu,
vẫn ăn mì xào Quảng Đông với nước tương theo lối của ba
nó. Mấy chị em chơi với nhau, nói với nhau bằng tiếng
Anh pha tiếng Việt, thậm chí khi cãi nhau ồn ào vẫn bị
bà ngoại nó rầy rà bằng tiếng Việt, y như mấy đứa nhỏ ở
Việt Nam. Thằng rể quan niệm thực tế theo lối của người
Trung Hoa, thích thương mại, đối với nó lũ nhỏ biết được
nhiều thứ tiếng càng tốt. Tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng
Hoa, tiếng gì cũng là tiếng, tiếng nào cũng chỉ làm cho
con người gần gũi nhau mà thôi, và nhất là để cơ sở làm
ăn của nó ngày càng phát đạt.